1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về trưng cầu dân ý kinh nghiệm thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam

103 724 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trưng cầu ý dân/phúc quyết referendum là quá trình mà người dân bỏ phiếu quyết định đồng ý hay không đồng ý về những vấn đề của Nhà nước, thường là các vấn đề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Minh Tuấn

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Nhã Phương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 0

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRƯNG CẦU DÂN Ý 6

1.1 Khái niệm trưng cầu dân ý 6

1.2 Vị trí, vai trò của trưng cầu dân ý 12

1.3 Phân loại trưng cầu dân ý 14

1.3.1 Phân loại theo tiêu chí hình thức 14

1.3.2 Phân loại theo tiêu chí nội dung 16

1.4 Quy trình, thủ tục Trưng cầu dân ý 17

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 27

2.1 Trưng cầu dân ý ở một số nước phát triển 27

2.1.1 Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ 27

2.1.2 Trưng cầu dân ý ở Pháp 34

2.1.3 Trưng cầu dân ý ở Nga 37

2.2 Trưng cầu dân ý ở một số nước Châu Á 40

2.2.1 Trưng cầu dân ý ở Nhật Bản 40

2.2.2 Trưng cầu dân ý ở các nước Đông Nam Á 43

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở VIỆT NAM 49

3.1 Quy định về Trưng cầu dân ý trong các Hiến pháp 49

3.2 Pháp luật về Dân chủ trực tiếp 58

3.2.1 Tham gia đóng góp ý kiến khi Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhân dân 58 3.2.2 Thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở 62

3.3 Xây dựng luật trưng cầu dân ý 69

Trang 5

3.3.1 Sự cần thiết ban hành luật trưng cầu dân ý 69

3.3.2 Các yêu cầu của luật trưng cầu dân ý 72

3.3.3 Đề xuất các kiến nghị xây dựng luật trưng cầu dân ý 75

KẾT LUẬN 87

PHỤ LỤC 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy định về Trưng cầu dân ý bắt buộc và không bắt buộc trong các

bang của Thụy Sỹ tính đến tháng 12/2004 30 Bảng 2.2 Khảo sát về quy định Trưng cầu dân ý ở một số nước Châu Á 47

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trưng cầu ý dân/phúc quyết (referendum) là quá trình mà người dân bỏ phiếu quyết định (đồng ý hay không đồng ý) về những vấn đề của Nhà nước, thường là các vấn đề liên quan đến chính trị quan trọng của quốc gia như sửa đổi Hiến pháp, tham gia liên minh, quyết định các vấn đề lớn liên quan đến quyền làm chủ của người dân… Trong xã hội hiện đại, trưng cầu ý dân là một chế định pháp luật tồn tại trong nhiều hệ thống chính trị khác nhau ở các châu lục.Cho đến nay đã có 101 nước trên tổng số 190 nước có quy định về trưng cầu ý dân

Theo Hiến pháp hiện hành, “Nhân dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước

tổ chức trưng cầu dân ý” (Điều 53) Để thực hiện quyền hiến định quan trọng

này, Hiến pháp tiếp tục quy định: “Quốc hội quyết định việc trưng cầu dân ý”

(Khoản 14 Điều 84) Những quy định trên của Hiến pháp hiện hành có cơ sở từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, trong đó khẳng định việc sửa đổi Hiến pháp

phải được quyết định bằng trưng cầu dân ý: “Những điều thay đổi khi đã được

Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” Việc tham gia bỏ

phiếu trưng cầu dân ý là một quyền dân chủ trực tiếp được Hiến pháp quy định, phản ánh bản chất của nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân

Mặc dù được tuyên bố trong Hiến pháp, nhưng thực tiễn cho thấy nhân dân chưa bao giờ thực hiện quyền biểu quyết trong các cuộc trưng cầu dân ý Thực tiễn này xuất phát từ nhiều lý do, mà trước hết phải kể đến bối cảnh khó khăn của những giai đoạn giành và giữ chủ quyền trong hai cuộc chống giặc Mỹ

và Pháp Bước sang giai đoạn độc lập hoàn toàn, trong thời kỳ đầu của giai đoạn

tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tập quyền, nhà nước quản lý xã hội theo phương thưc tập trung, bao cấp, các quyền tự do dân chủ trực tiếp còn chưa được thực sự được chú trọng Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới mở rộng dân chủ, đặc biệt là dân chủ trực tiếp, trưng cầu dân ý trở thành một vấn đề quan trọng được

Trang 8

2

quan tâm từ cả phía học giả lẫn chính trị Tuy vậy, việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vẫn chưa diễn ra, có nguyên nhân chính xuất phát từ các hạn chế của quy định Hiến pháp hiện hành về trưng cầu dân ý, theo đó Hiến pháp không quy định rõ về nội dung, quy trình trưng cầu dân ý, mà lại trao cho Quốc hội quyết định việc trưng cầu dân ý Quyền hiến định này của người dân không được thực thi khi Quốc hội không tổ chức trưng cầu dân ý cho người dân biểu quyết

Ngoài những vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự vô hiệu quy định này như quyền dân chủ trực tiếp vẫn chưa thực sự được đề cao, Quốc hội thiếu thực quyền, thì sự thiếu vắng một đạo luật quy định về trưng cầu dân ý cũng được nêu như là một trong những rào cản về mặt pháp lý cho việc thực thi trưng cầu dân ý trên thực tế Rõ ràng, việc tuyên bố trong Hiến pháp quyền tham gia trưng cầu dân ý đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ bảo đảm thực hiện quyền

đó Trước hết, Quốc hội phải ban hành luật trưng cầu dân ý quy định các quy tắc quy định quy trình, thủ tục để các cơ quan nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý và người dân thực hiện quyền tham gia biểu quyết

Trong các thảo luận sửa đổi Hiến pháp gần đây, nhiều người quan tâm đến quy định Hiến pháp về trưng cầu dân ý Nhiều đề xuất đề nghị quy định rõ các vấn đề trưng cần dân ý thay vì trao quyền cho Quốc hội quyết định việc trưng cầu dân ý Các tranh luận tập trung xoay quanh vấn đề trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp, bởi quyền lập hiến là quyền thuộc về nhân dân, nên việc sửa đổi Hiến pháp phải do nhân dân quyết định

Từ những phân tích ở trên, việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về trưng cầu

dân ý Kinh nghiệm thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam” là hết sức cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở Việt Nam, hầu như chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào

về trưng cầu dân ý Vấn đề này chỉ mới bắt đầu được đặt ra khi chúng ta có chủ trương xây dựng Luật Trưng cầu dân ý trong thời gian gần đây Một số ít công trình nghiên cứu gần đây như:

Trang 9

2.2 Hội thảo khoa học

-Hội thảo Trưng cầu dân ý- Những vấn đề lý luận và thực tiễn do Hội

Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013

- Hội thảo quốc tế về Luật Trưng cầu ý dân của một số nước và kinh

nghiệm cho Việt Namdo Hội Luật gia Việt Nam phối hợp Chương trình phát

triển của Liên hợp quốc UNDP tổ chức tại Hà Nội ngày 17-18/11/2014

Nhìn chung, mỗi công trình trên thường đi sâu nghiên cứu một mặt hoặc một vấn đề cụ thể nào đó của trưng cầu dân ý như: khái niệm trưng cầu dân ý; bản chất, nội dung và yêu cầu cơ bản của trưng cầu dân ý; Chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về trưng cầu dân ý; các hình thức trưng cầu dân ý…Cho đến nay một số công trình nghiên cứu đã cung cấp cho khoa học nhiều

Trang 10

4

tư liệu quý về trưng cầu dân ý, song chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu tổng quát những vấn đề cơ bản về pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý trên thế giới và ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật trưng cầu dân ý ở nước ngoài và Việt Nam, đưa ra những đóng góp, đề xuất để hoàn thiện pháp luật trưng cầu dân ý

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ những vấn đề cơ bản về trưng cầu dân ý;

- Đánh giá pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở một số nước điển hình trên thế giới;

- Đánh giá pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở Việt Nam, đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý, đặc biệt trong việc xây dựng Luật Trưng cầu dân ý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật trưng cầu dân ý ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.Qua đó chỉ ra những hạn chế còn tồn tại của pháp luật trưng cầu dân ý ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp xây dựng Luật Trưng cầu dân ý

Phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứupháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trưng cầu dân ý;Trưng cầu dân ý ở một số nước điển hình có giá trị tham khảo cho Việt Nam: một số nước phát triển (Thụy Sỹ, Pháp, Nga); một số nước Châu Á (Nhật Bản, các nước Đông Nam Á); Phương hướng giải pháp

nhằm xây dựng Luật Trưng cầu dân ý

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp kết hợp

lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, luật học so sánh và khảo sát thực tế để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn

Trang 11

5

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật trưng cầu dân ý ở Việt Nam cũng như nước ngoài, qua đó có cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng trưng cầu dân ý ở Việt Nam hiện nay Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và xây dựng Luật Trưng cầu dân ý trong thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Về kết cấu của luận văn, ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương;9 tiết

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về trưng cầu dân ý

Chương 2: Thực tiễn trưng cầu dân ý ở một số nước trên thế giới

Chương 3: Pháp luật và thực tiễn trưng cầu dân ý ở Việt Nam

Trang 12

Dân chủ trực tiếp cùng với dân chủ gián tiếp là hai cơ chế chủ yếu để người dân thực hiện quyền lực của mình Nếu như dân chủ gián tiếp là cơ chế

mà người dân thực hiện quyền lực thông qua cơ quan đại diện do mình bầu ra thì dân chủ trực tiếp là cơ chế mà người dân được trực tiếp tham gia các công việc của nhà nước và cộng đồng, không thông qua bất kỳ một khâu trung gian nào

Dân chủ trực tiếp được hiểu theo các truyền thống đó là “sự thể hiện một cách

trực tiếp ý chí của nhân dân về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua một

tổ chức hay các nhân nào thay mặt mình và ý chí đó có giá trị thi hành ngay”[19, tr.15] Theo quan điểm hiện đại, “dân chủ trực tiếp là một phương thức làm chủ của nhân dân khi nhân dân- chủ thể của quyền lực- quyết định hoặc bày tỏ ý chí, nguyện vọng, đề đạt kiến nghị nào đó trong xây dựng nhà nước, trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên”.[19,tr.16]

Dân chủ trực tiếp xuất hiện đầu tiên ở nhà nước Aten cổ đại Khi đó người

ta thường tập hợp số lượng dân chúng tối đa khoảng 5000 đến 6000 người ở một địa điểm để cùng bàn bạc, thảo luận và trực tiếp đưa ra các quyết định về các vấn

đề của đất nước Đó chính là những hoạt động trưng cầu dân ý của người dân vào buổi sơ khai Người ta còn tìm thấy các quy định về trưng cầu dân ý, quy định kết quả của các cuộc trưng cầu dân ý là bắt buộc đối với mọi vương quốc và mọi thần dân trong rất nhiều các Đạo luật cổ như: Đạo luật Valery và Horasy năm 449 TCN, đạo luật Publia năm 339 trước TCN và sau đó là đạo luật Hortensia năm 287 TCN

Trang 13

7

Qua đó có thể thấy, trưng cầu dân ý là một phạm trù có tính lịch sử, xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của dân chủ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong sinh hoạt chính trị, pháp lý của nhiều quốc gia Tới nay, đã có

101 nước trên tổng số 190 nước có quy định về trưng cầu dân ý

- Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ

Chí Minh tái bản lần thứ 13, Nguyễn Như Ý chủ biên thì Trưng cầu được hiểu là

“đưa ra hỏi ý kiến của số đông một cách có tổ chức để thêm căn cứ khi đưa ra

quyết định vấn đề gì”; Trưng cầu dân ý là “hỏi ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định”.[31, tr.1682]

- Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản từ điển Bách khoa phát

hành thì Trưng cầu dân ý là “cuộc hỏi ý kiến của toàn thể dân chúng về một vấn

đề chính trị hay pháp luật bằng cách tổ chức bỏ thăm” [20, tr.1116]

Ở Việt Nam thuật ngữ trưng cầu dân ý tuy không phải mới mẻ, nhưng do

ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau Chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là trưng cầu dân ý; nhầm tưởng việc điều tra xã hội học là trưng cầu dân ý…Vì vậy, để có được một cách hiểu chính

xác nhất về trưng cầu dân ý, trước hết phải phân biệt trưng cầu dân ý với các thuật ngữ khác, như phúc quyết, lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học

* Trưng cầu dân ý và phúc quyết toàn dân

Phúc quyết toàn dân là việc Nhà nước đưa một vấn đề (văn bản pháp luật, quyết định hành chính…) đã được cơ quan nhà nước thông qua ra để nhân dân quyết định lại.Trong khi đó, trưng cầu dân ý là việc Nhà nước đưa một vấn đề quan trọng để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu

Có thể thấy điểm khác biệt lớn nhất giữa phúc quyết và trưng cầu dân ý chính là đối tượng mà chế định này hướng tới, nếu như đối tượng của phúc quyết

là những vấn đề đã được quyết định, nhưng sau nhận thấy cần phải đưa ra để nhân dân biểu quyết lại Trong khi đó, đối tượng của trưng cầu dân ý là các vấn

Trang 14

ý là những vấn đề quan trọng của quốc gia hay của địa phương, ví dụ như thông qua Hiến pháp mới, sửa đổi bổ sung Hiến pháp cũ, chia tách địa giới hành chính… những vấn đề này đều là những vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ người dân, chính vì vậy chủ thể của trưng cầu dân ý rộng hơn rất nhiều so với phúc quyết

Pháp luật Việt Nam, thuật ngữ phúc quyết được sử dụng trong Hiến pháp

năm 1946 ở các Điều 21 “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những

điều liên quan tới vận mệnh quốc gia…”,Điều 32 “Những việc quan trọng đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viện đồng ý” và Điều 70 “Những điều thay đổi khi được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” Tuy nhiên nội hàm của các quy định này lại

giống với trưng cầu dân ý, vì vậy tới bản Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 quyền này được đổi thành trưng cầu ý kiến nhân dân, tới bản Hiến pháp 1992 thì được gọi là trưng cầu ý dân

* Trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân

Trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành của nước ta đã có những ghi nhận về việc trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân Đây là hai hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước có mục đích, yêu cầu gần giống nhau nhưng cách thức tiến hành lại hoàn toàn khác nhau Do vậy về mặt lý luận và hoạt động thực

tế rất cần có sự phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân để đề ra và thực hiện mục đích, yêu cầu của mỗi hoạt động này được đúng đắn và tốt hơn

Trang 15

9

Trưng cầu dân ý là đưa một vấn đề quan trọng của đất nước ra cho toàn dân thảo luận và cử tri biểu quyết, quyết định theo đa số Khi đã đưa một vấn đề nào đó ra trưng cầu dân ý thì các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chỉ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện như là một bộ máy thư ký giúp việc cho cử tri và kiểm phiếu, công bố kết quả chứ không phải là cơ quan tổng hợp, tập hợp ý kiến của cử tri để nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, càng không có quyền bảo lưu ý kiến của mình

Trong khi đó, lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến Những ý kiến đóng góp này chỉ được cơ quan hữu quan tổng hợp, nghiên cứu giải trình, tiếp thu khi chỉnh lý dự thảo để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét

Có thể nhận thấy cả trưng cầu dân ý và lấy ý kiến nhân dân đều là hình thức dân chủ trực tiếp; xét về bản chất, trưng cầu dân ý là một trong những hình thức của lấy ý kiến nhân dân.Tuy nhiên, nội hàm của trưng cầu dân ý hẹp hơn so với nội hàm của lấy ý kiến nhân dân Những việc đưa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét quyết định về một vấn đề cụ thể (như việc có nên xây dựng một công trình hay không) giống như trong trưng cầu dân ý nhưng cũng có thể là việc góp ý để hoàn chỉnh thêm các vấn đề đưa ra lấy ý kiến (như việc lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh) Điểm khác biệt cơ bản giữa lấy ý kiến nhân dân

và trưng cầu dân ý là ở chỗ:

- Thông qua trưng cầu dân ý người dân trực tiếp quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua việc lấy ý kiến nhân dân, ý kiến của người dân chỉ mang tính chất tham khảo với cơ quan nhà nước, việc quyết định về vấn

đề đưa ra lấy ý kiến như thế nào vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan nhà nước

- Đối tượng của việc lấy ý kiến nhân dân là tất cả những người có khả năng và tâm huyết đóng góp ý kiến, không hạn chế bất kỳ một trường hợp nào

dù người ấy có quyền công dân hoặc quyền bầu cử hay không Trong khi đó, đối tượng của trưng cầu dân ý chỉ gồm những người có quyền bầu cử

Trang 16

10

- Hình thức trưng cầu dân ý bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu với câu trả lời đồng ý hay không đồng ý với vấn đề đề đưa ra trưng cầu, còn việc lấy ý kiến nhân dân thường không thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu, người dân góp ý bằng cách thể hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân

* Trưng cầu dân ý và bầu cử

Bầu cửlà hoạt động bỏ phiếu của người dân để chọn ra những cá nhân nắm giữ các chức vụ quan trọng hoặc tham gia vào cơ quan đại diện của mình Bầu cử có thể là bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng địa phương hoặc cũng

có thể là bầu người lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức…

Bầu cử và trưng cầu dân ý có khá nhiều nét tương đồng, đặc biệt là ở quy trình thủ tục thực hiện hai hoạt động này Cả bầu cử là trưng cầu dân ý đều có chung một chủ thể được gọi là cử tri và thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu Tuy nhiên có thể nhận thấy điểm khác biệt cơ bản giữa bầu cử và trưng cầu dân ý ở chỗ:

- Đối tượng của bầu cử hướng tới là chọn lựa ra các cá nhân cụ thể, trong khi đối tượng của trưng cầu dân ý là lựa chọn đồng ý hay không đồng ý một vấn

đề mà cơ quan nhà nước đưa ra

- Bầu cử là việc trao quyền lực (uỷ thác quyền lực) của nhân dân cho người được chọn, đó là việc chuyển hoá ý chí của người dân sang cơ quan đại diện Trong khi đó, trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp thực hiện quyền lực của mình, trực tiếp thể hiện ý chí của mình mà không thông qua bất kỳ một

cơ quan, tổ chức nào khác

- Quy mô của các cuộc bầu cử có thể là trên toàn quốc như tổng tuyển cử toàn quốc bầu đại biểu Quốc hội, ở phạm vi địa phương như bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cũng có khi là bầu người lãnh đạo trong các tổ chức doanh nghiệp Quy mô của các cuộc trưng cầu dân ý thường chỉ có hai mức độ là trưng cầu dân ý trên phạm vi cả nước như là việc thông qua Hiến pháp, pháp luật và trưng cầu dân ý ở địa phương đó là những vấn đề quan trọng của địa phương như sát nhập địa giới hành chính, xây dựng các công trình công cộng…

Trang 17

11

* Trưng cầu dân ý và điều tra xã hội học

Điều tra xã hội học là một hoạt động khảo sát ý kiến người dân về một vấn đề cụ thể hoặc một cá nhân cụ thể trong xã hội.Hoạt động điều tra xã hội học

có thể được thực hiện bởi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cũng có khi chỉ là hoạt động nghiên cứu của một các nhân.Vì vậy mà kết quả của hoạt động điều tra xã hội học chỉ có tính chất tham khảo, không có giá trị bắt buộc đối với cơ quan nhà nước

Trong khi đó, trưng cầu dân ý là hoạt động lấy ý kiến nhân dân thông qua hình thức bỏ phiếu Hoạt động trưng cầu dân ý bắt buộc phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tổ chức và kết quả của cuộc trưng cầu dân ý có giá trị bắt buộc đối với cơ quan nhà nước

Có thể thấy trưng cầu dân ý là một chế định xã hội có cùng tính chất với điều tra dư luận xã hội nhưng ở mức độ cao hơn, nếu xét về mức độ thực hiện chế định dân chủ trực tiếp (Dân chủ được thực hiện dưới hai hình thức là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, trong đó dân chủ trực tiếp là nhân dân bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp quyết định những vấn đề của đời sống xã hội) Trong trưng cầu dân ý thì chủ thể đưa ra vấn đề để trưng cầu luôn là Nhà nước, còn người dân sẽ biểu đạt ý chí của mình thông qua việc bỏ phiếu

Từ những định nghĩa của các cuốn từ điển uy tín, cũng như những phân tích phân biệt giữa trưng cầu dân ý với các khái niệm có liên quan ở trên cho

thấy trưng cầu dân ý có các dấu hiệu đặc trưng sau: donhân dân - chủ thể tối cao

toàn bộ quyền lực nhà nước thực hiện; đối tượng của trưng cầu ý dân là những vấn đề quan trọng mà bản thân các cơ quan nhà nước không thể tự mình quyết định được; được thực hiện dưới hình thức trực tiếp; kết quả của cuộc trưng cầu dân ý có gái trị cao nhất mà không có cơ quan nàocó quyền sửa đổi và có giá trị bắt buộc thực hiện

Từ nhữngdẫn chứng trên, có thể rút ra khái niệm:

Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp, theo đó nhân dântrực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của pháp luật hoặc theo sáng kiến trưng cầu dân ý, thông qua thủ tục bỏ phiếu

Trang 18

12

1.2 Vị trí, vai trò của trƣng cầu dân ý

Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếp nói chung và của trưng cầu dân ý nói riêng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia như thế nào, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trình độ dân trí, trình độ chính trị, trình độ pháp lý, thói quen thực hiện dân chủ của người dân theo từng nước; phụ thuộc vào sự tác động của các quốc gia khác nhau trong khu vực và trên thế giới… Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, khi dân chủ càng phát triển thì càng tạo điều kiện mở rộng và phát huy trưng cầu dân ý Ngược lại, ở đâu và nơi nào quan tâm và chú trọng tới dân chủ trực tiếp cũng như trưng cầu dân ý, thì nơi đó nền dân chủ mới thực sự phát triển và chế

độ chính trị ở đó mới thực sự mang bản chất “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Nói cách khác, dân chủ là tiền đề để thực hiện và mở rộng trưng cầu dân ý;

và ngược lại, trưng cầu dân ý là công cụ, phương tiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển của dân chủ cả về phạm vi và mức độ

Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp nhất Bên cạnh các hình

thức dân chủ khác như: bầu cử, quyền khiếu nại tố cáo, quyền được bàn bạc, quyết định các vấn đề phát triển kinh tế ở địa phương, quyền tự quản ở khu dân cư… thì trưng cầu dân ý được coi là hình thức dân chủ trực tiếp nhất Bởi lẽ, thông qua bầu cử người dân mới bầu ra người đại diện cho mình tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước, mọi tâm tự nguyện vọng của người dân sẽ được biểu đạt thông qua người đại diện, tuy nhiên trên thực tế ý chí của người đại diện

đó lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố do vậy nhiều khi hoạt động của người đại biểu

đó lại không phản ánh được ý chí của nhân dân Trong khi đó, thông qua hoạt động trưng cầu dân ý, công dân thể hiện trực tiếp ý chí của mình đối với các vấn

đề quan trọng của quốc gia thông qua lá phiếu Do đó, những quyết định quan trọng của chính quyền luôn phù hợp và phản ánh được ý chí của người dân Ngoài ra các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân mặc dù được tham gia góp ý vào các hoạt động của cơ quan nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt

Trang 19

13

động của cơ quan nhà nước tại địa phương Tuy nhiên những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân chỉ có tính chất tham khảo đối với cơ quan nhà nước chứ không có tính quyết định đối với hoạt động của cơ quan này Trong khi, kết quả của hoạt động trưng cầu dân ý có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước, không có bất kỳ một cơ quan nhà nước nào có thể làm khác đi kết quả trưng cầu dân ý

Trưng cầu dân ý là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, giúp Đảng và Nhà nước khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế Nhà nước đóng vai trò là chủ

thể tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý còn nhân dân đóng vai trò là chủ thể trung tâm của trưng cầu dân ý Thông qua các cuộc trưng cầu dân ý, mối quan hệ của Nhà nước với công dân cũng được củng cố càng chở nên gắn bó, mật thiết hơn, công dân có điều kiện tìm hiểu, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Nhà nước dễ bao quát được mọi khía cạnh của đời sống thực tiễn, hiểu được ý chí, mong muốn của người dân, qua đó sẽ có những quyết định, sách lược phù hợp với điều kiện xã hội, phù hợp với lòng dân Trưng cầu dân ý giúp Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách, pháp luật, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế, giúp cho đất nước ngày càng phát triển và lớn mạnh Bên cạnh đó, trưng cầu dân ý giúp ngăn ngừa những quyết định được đưa ra vội

vã, thiếu cân nhắc từ phía Nhà nước

Trưng cầu dân ý góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của người dân Trưng cầu dân ý tạo thói quen cho người dân phát biểu chính kiến

của mình về các vấn đề chung của đất nước; đồng thời, đây cũng là bước chuẩn

bị, tạo sự sẵn sàng cho người dân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, đảm bảo tính khả thi cũng như hiệu quả của pháp luật Vì vậy quá trình này

sẽ tạo động lực cũng như là một cơ hội tuyệt vời cho nhân dân tìm hiểu về các vấn đề quan trọng của đất nước, thể hiền quyền cũng như nghĩa vụ của mình đối với đất nước

Trang 20

14

1.3 Phân loại trƣng cầu dân ý

Trong phần này, nghiên cứu sẽ làm rõ các loại trưng cầu dân ý dựa theo các tiêu chí khác nhau: hình thức và nội dung

1.3.1 Phân loại theo tiêu chí hình thức

- Nếu căn cứ vào chủ thể đề xuất của cuộc trưng cầu dân ý thì có thể phân

ra làm hai hoại trưng cầu dân ý là trưng cầu dân ý bắt buộc và trưng cầu dân ý tuỳ nghi

+ Trưng cầu dân ý bắt buộc: là cuộc bỏ phiếu của cử tri được tiến hành

một cách đương nhiên đối với những vấn đề cụ thể mà hiến pháp hoặc pháp luật quy định Trưng cầu dân ý bắt buộc thường chỉ áp dụng đối với các quyết định chính trị rất quan trọng Trưng cầu dân ý bắt buộc thường được áp dụng đối với việc sửa đổi Hiến pháp, bất đồng giữa tổng thống và cơ quan lập pháp, phê chuẩn các điều ước quốc tế, tham gia một tổ chức siêu quốc gia, các vấn đề về chủ quyền quốc gia hoặc tự quyết

Ví dụ: ở Úc, Đan Mạch và Venezuela, tất cả các sửa đổi về hiến pháp đều phải bắt buộc thông qua trưng cầu dân ý; còn ở các nước như Iceland và Peru, trưng cầu dân ý được áp dụng đối với một số trường hợp sửa đổi Hiến pháp nhất định Tại Thụy Sỹ - quê hương của trưng cầu dân ý, một số điều ước quốc tế bắt buộc phải đưa ra trưng cầu dân ý trước khi phê chuẩn và ở Đan Mạch thì việc trao quyền cho các tổ chức quốc tế hoặc tổ chức siêu quốc gia phải được thực hiện thông qua hình thức trưng cầu dân ý.[22, tr.132]

+ Trưng cầu dân ý tuỳ nghi: là cuộc bỏ phiếu của cử tri không theo quy định

của pháp luật mà theo đề xuất của Chính phủ hoặc một số trường hợp theo đề xuất của của các đảng phái Loại trưng cầu dân ý này có nhiều hình thức khác nhau

Trưng cầu dân ý được quy định trước mang tính nguyên tắc trong hiến pháp hoặc trong các quy chế về trưng cầu dân ý Như ở Tây Ban Nha, Hiến pháp

quy định: “các quyết định mang tính chất chính trị đặc biệt quan trọng có thể

được đưa ra trưng cầu dân ý để tham vấn và nhà vua có thể tiến hành cuộc

Trang 21

15

trưng cầu dân ý theo đề nghị của Tổng thống sau khi được Hạ nghị viện uỷ quyền”; ở Argentina, Hiến pháp quy định: “cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp đều có quyền khởi xướng việc trưng cầu dân ý”.[22, tr.133]

Trưng cầu dân ý không được quy định trước trong Luật và Hiến pháp.Đó

là một loại trưng cầu dân ý mà mỗi lần cần thực hiện thì cơ quan lập pháp sẽ ban hành một đạo luật riêng để áp dụng trong trường hợp cụ thể đó Ví dụ ở Na Uy, Hiến pháp không có quy định gì về trưng cầu dân ý và cơ quan lập pháp có quyền quyết định có tổ chức trưng cầu dân ý hay không và nếu quyết định trưng cầu dân ý thì cơ quan này sẽ quy định chi tiết việc thực hiện

- Nếu căn cứ vào thời điểm đề xuất thì có thể phân ra là: trưng cầu dân ý trước khi Nghị viện thông qua một vấn đề nào đó; trưng cầu dân ý sau khi Nghị viện thông qua một vấn đề nào đó

+ Trưng cầu dân ý trước khi Nghị viện thông qua một vấn đề nào đó: là

việc trước khi Nghị viện thông qua một đạo luật, chẳng hạn Nghị viện muốn biết

ý kiến của nhân dân về nội dung của đạo luật bằng cách trưng cầu dân ý

+ Trưng cầu dân ý sau khi Nghị viện thông qua một vấn đề nào đó: là khi

Nghị viện thông qua một nghị quyết hay đạo luật nào đó, nghị quyết hay đạo luật

đó cần phải được nhân dân biểu thị ý kiến- thông qua hay không thông qua Ý kiến của nhân dân được thể hiện thông qua trưng cầu dân ý Kết quả trưng cầu dân ý trong trường hợp này là ý kiến cuối cùng, nếu kết quả trưng cầu dân ý cho thấy đa số tán thành thì đạo luật hay nghị quyết được đưa ra trưng cầu dân ý mới

có hiệu lực thi hành, ngược lại nghị quyết hay đạo luật đó sẽ bị huỷ bỏ

Ngoài hai trường hợp kể trên còn có trưng cầu dân ý ngoài hoạt động của Nghị viện là trường hợp một quyết định hay một dự luật được thông qua mà không cần tới ý kiến của Nghị viện một khi Tổng thống muốn thông qua luật nhưng không tin tưởng vào sự ủng hộ của Nghị viện

- Nếu căn cứ vào phạm vi địa lý tiến hành trưng cầu dân ý thì có thể phân loại ra làm hai hình thức:

Trang 22

16

+ Trưng cầu dân ý trên phạm vi cả nước: là cuộc trưng cầu dân ý được

tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của toàn quốc gia với sự tham gia của tất cả các

cử tri trong cả nước

+ Trưng cầu dân ý ở địa phương: là cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành

trong một phạm vi lãnh thổ của một đơn vị hành chính hoặc một số đơn vị hành chính của quốc gia với sự tham gia của cử tri địa phương hoặc của vùng đó

1.3.2 Phân loại theo tiêu chí nội dung

- Nếu căn cứ vào đối tượng đưa ra trưng cầu dân ý thì có thể phân ra làm

những loại như sau:

+ Trưng cầu dân ý về lập hiến: là cuộc trưng cầu dân ý về nội dung của

bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua, có nên hay không nên sửa đổi Hiến pháp hiện hành hoặc về nội dung của Hiến pháp đã được sửa đổi, bổ sung

+ Trưng cầu dân ý về lập pháp: là cuộc trưng dân ý cầu về các đạo luật đã

được Quốc hội thông qua hoặc về sáng kiến của nhân dân đề nghị ban hành một đạo luật hay là cuộc trưng cầu để nhân dân trực tiếp quyết định về việc quốc gia mình có tham gia hoặc không tham gia vào một điều ước quốc tế

+ Trưng cầu dân ý về hành pháp: là cuộc trưng cầu dân ý mà nhân dân

trực tiếp quyết định các vấn đề về quản lý nhà nước như quyết định việc chia, tách, sáp nhập, điều chỉnh những thay đổi khác về địa giới hành chính- lãnh thổ nơi mình sinh sống; hay việc nhân dân tự mình quyết định về một dự án quy hoạch, đầu tư xây dựng công trình liên quan trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng dân cư…

- Nếu căn cứ vào tính chất chất của cuộc trưng cầu dân ý có thể chia ra thành: trưng cầu dân ý bắt buộc và trưng cầu dân ý tham khảo

+ Trưng cầu dân ý bắt buộc: là trưng cầu dân ý mà kết quả của cuộc trưng

cầu dân ý là kết quả cuối cùng, buộc các cơ quan nhà nước phải quyết định theo

mà không thể có quyết định nào khác

Trang 23

17

+ Trưng cầu dân ý tham khảo: là trưng cầu dân ý để biết ý kiến của nhân

dân về một hay các vấn đề nào đó mà Nghị viện sẽ quyết định thông qua Ý kiến của nhân dân trong trường hợp này sẽ được Nghị viện xem xét, có thể sẽ không bắt buộc phải theo

1.4 Quy trình, thủ tục trƣng cầu dân ý

Trưng cầu dân ý cũng giống như bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền của nhân dân tự quyết trong vấn đề thể hiện ý chí của mình là rất quan trọng vì bản chất của trưng cầu dân ý là muốn lấy được ý chí đích thực của người dân Nếu một cuộc trưng cầu dân ý không chặt chẽ về mặt thủ tục sẽ khiến người dân thờ ơ với việc bỏ phiếu, ngược lại nếu thủ tục trưng cầu dân ý quá rườm rà, phức tạp về thủ tục không những làm giảm đi tính kịp thời của quyết định mà còn mất đi ý nghĩa của cuộc trưng cầu dân ý, đồng thời tạo nên rào cản cho việc nhân dân thể hiện ý kiến của mình Do vậy, cần tạo cho hoạt động trưng cầu dân ý được diễn ra theo một quy trình hợp pháp, công khai

và dân chủ Quy trình, thủ tục trưng cầu dân ý là khuân thước, chuẩn mực để người dân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo, đem lại cho cuộc trưng cầu dân ý kết quả khách quan, công bằng nhất và giảm thiểu các khiếu nại, tranh chấp phát sinh từ quá trình thực hiện trưng cầu dân ý

Trình tự tiến hành trưng cầu dân ý gồm các bước sau:

Bước 1: Sáng kiến trưng cầu dân ý

Để tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý, trước hết phải có được sáng kiến trưng cầu dân ý Sáng kiến trưng cầu dân ý là bước đầu tiên của quy trình trưng cầu dân ý, là cơ sở để hình thành một cuộc trưng cầu dân ý trong tương lai, có thể trên phạm vi toàn quốc hoặc địa phương

Sáng kiến trưng cầu dân ý bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau và ở mỗi nước cũng có những quy định không giống nhau một cách tuyệt đối về chủ thể

có quyền trình sáng kiến trưng cầu dân ý Theo quy định của pháp luật một số nước, những chủ thể sau có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu dân ý:

Trang 24

18

- Đối với sáng kiến trưng cầu dân ý trên phạm vi toàn quốc:

+ Nguyên thủ quốc gia

+ Nghị viện (Quốc hội)

+ Chính phủ

+Nghị sĩ (nhóm đại biểu Quốc hội)

+ Công dân (nhóm cử tri)

- Đối với trưng cầu dân ý ở phạm vi đại phương

+ Công dân (nhóm cử tri)

+ Cơ quan dân cử của địa phương

Sáng kiến trưng cầu dân ý gồm hai quyền là trình sáng kiến trưng cầu dân

ý của các cơ quan có thẩm quyền theo luật định hoặc là quyền đưa ra các kiến nghị sáng kiến trưng cầu dân ý của các cơ quan, tổ chức, các nhân và công dân

đề nghị tới cơ quan có thẩm quyền Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế- xã hội ở mỗi quốc gia, mà pháp luật các nước cũng có những quy định khác nhau về vấn

đề này Ở Cộng hoà Pháp, Chính phủ và Quốc hội là hai chủ thể có quyền sáng kiến trưng cầu dân ý, khi hai chủ thể này có sáng kiến trưng cầu dân ý về một vấn đề nào đó thì buộc Tổng thống phải xem xét và quyết định có nên tổ chức trưng cầu dân ý hay không, ở Armenia, sáng kiến trưng cầu dân ý thuộc về Quốc hội Ở một số nước khác, lại quy định nhân dân cũng có quyền nêu sáng kiến trưng cầu dân ý Ở Macedonia, người dân muốn tổ chức trưng cầu dân ý thì phải thu thập được 150.000 chữ ký của cử tri vào bản kiến nghị (khoản 3, Điều 73, Hiến pháp Macedonia 1991) Ở Italia, sáng kiến trưng cầu dân ý của công dân được công nhận khi có 500.000 chữ ký ủng hộ của cử tri Ở Hungary, sáng kiến trưng cầu dân ý được quy định cho các chủ thể như chủ tịch nước, Hội đồng bộ trưởng, Nghị sĩ nếu như có 50 chữ ký đề nghị và cử tri nếu thu thập được ít nhất 50.000 chữ ký (Hiến pháp Hungary năm 1949, bổ sung năm 1990) Ở Việt Nam hiện nay chưa có quy định về chủ thể có quyền sáng kiến trưng cầu dân ý

Trang 25

19

Bước 2: Quyết định trưng cầu dân ý

Một cuộc trưng cầu dân ý có được thực hiện trong thực tiễn hay không phụ thuộc vào quyết định trưng cầu dân ý của chủ thể có thẩm quyền Những vấn

đề được đưa ra trưng cầu dân ý là những vấn đề quan trọng của quốc gia, của địa phương bên cạnh đó việc tổ chức trưng cầu dân ý lại rất tốn kém nên pháp luật các nước chỉ trao thẩm quyền quyết định cho một chủ thể nhất định thông thường là Quốc hội, tổng thống hoặc nguyên thủ quốc gia Ở Pháp, Nga, Ai Cập… chủ thể được trao thẩm quyền quyết định trưng cầu dân ý là Tổng thống; trong khi đó ở các nước như Braxin, Hunggary… thì chủ thể có quyền quyết định trưng cầu dân ý là Nghị viện Ở Việt Nam, theo quy định tại điểm 15, Điều

70 của Hiến pháp 1992 thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định trưng cầu dân ý

Tuỳ theo đặc điểm tình hình, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia và tuỳ thuộc vào nội dung trưng cầu dân ý mà có các quy định khác nhau về thủ tục trưng cầu dân ý Ở các nước mà thẩm quyền quyết định trưng cầu dân ý là Quốc hội thì quyết định đó đều phải thông qua thủ tục bỏ phiếu biểu quyết tại Quốc hội đạt được đa số phiếu Còn ở những nước mà thẩm quyền quyết định trưng cầu dân ý là Tổng thống, thì quyết định đó cũng phải dựa trên

cơ sở đề nghị hoặc đồng thuận của đa số các đại biểu Quốc hội

Bước 3: Công bố trưng cầu dân ý

Sau khi sáng kiến trưng cầu dân ý đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua và quyết định đưa vấn đề đó ra trưng cầu dân ý thì bước tiếp theo chính là công bố trưng cầu dân ý Qua bước này quyết định về trưng cầu dân ý chính thức được thông tin rộng rãi tới nhân dân Công bố trưng cầu dân ý được ban hành dưới hình thức nghị quyết hoặc quyết định

Thời gian công bố trưng cầu dân ý thường được ấn định trước thời điểm

bỏ phiếu một khoảng thời gian nhất định.Khoảng thời gian này là thời gian để người dân tiến hành tìm hiểu, suy nghĩ, cân nhắc để có thể đưa ra những quyết

Trang 26

20

định sáng suốt nhất Tuỳ thuộc vào nội dung, phạm vi của cuộc trưng cầu dân ý

mà mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau về thời điểm công bố trưng cầu dân ý Ở Nga, đối với các cuộc trưng cầu dân ý trên phạm vi toàn quốc thì thời điểm công bố trưng cầu dân ý ít nhất là 60 ngày trước ngày tiến hành bỏ phiếu và ít nhất 45 ngày đối với các cuộc trưng cầu dân ý ở địa phương Ở Slovakia, thì quy định là tối thiểu 15 ngày trước ngày tiến hành bỏ phiếu, còn ở Iren là từ 30 ngày đến 90 ngày trước ngày bỏ phiếu

Thông thường, việc công bố trưng cầu dân ý sẽ được phát trên các phương tiện thông tin đại chúng (công báo, đài truyền hình, đài truyền thanh…) với các nội dung như sau:

- Chủ thể trình sáng kiến trưng cầu dân ý

- Nội dung trưng cầu dân ý bao gồm những câu hỏi mà người dân sẽ phải trả lời trong cuộc trưng cầu dân ý

- Thời gian tổ chức trưng cầu dân ý

- Địa điểm tổ chức trưng cầu dân ý (khu vực bỏ phiếu)

- Cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý

-Văn bản đi kèm với quyết định (dự thảo Hiến pháp, những giải thích về

từ ngữ liên quan đến nội dung câu hỏi trưng cầu dân ý)

Bước 4: Thành lập Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý (hay còn gọi là Uỷ ban trưng cầu dân ý)

Để tổ chức trưng cầu dân ý, các nước thành lập các Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý, đây là một thủ tục pháp lý quan trọng trong quy trình tổ chức trưng cầu dân ý Thông thường ở các nước, tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý được thành lập theo ba cấp:

- Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở trung ương: Có nhiệm vụ lãnh đạo toàn bộ cuộc trưng cầu dân ý

- Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở mỗi quận (đơn vị trưng cầu dân ý): Có nhiệm vụ phối hợp và giám sát hoạt động của các tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý

ở khu vực bỏ phiếu, xác định kết quả bỏ phiếu trong đơn vị trưng cầu dân ý

Trang 27

21

- Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở khu vực bỏ phiếu: Có nhiệm vụ lập danh sách cử tri, tổ chức việc bỏ phiếu trưng cầu dân ý và xác định kết quả kiểm phiếu ở khu vực bỏ phiếu

Mỗi Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý đều được tổ chức theo cơ cấu: Chủ nhiệm Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý, Phó chủ nhiệm Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý và thành viên Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý có thể do bầu hoặc do cơ quan

có thẩm quyền tổ chức trưng cầu dân ý chỉ định, cũng có thể do bốc thăm Ở Slovakia quy định cách thức bốc thăm để chọn Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm của

Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở Điều 12, 13 Luật Trưng cầu dân ý

Tổ chức phụ trách Trưng cầu dân ý được thành lập và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và Luật Trưng cầu dân ý về chức năng nhiệm vụ liên quan đến trưng cầu dân ý như: bảo đảm cho quá trình bỏ phiếu đúng quy định, phát đúng số phiếu, chỉ đạo hoạt động bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu, kiểm phiếu, lập biên bản kiểm phiếu, gửi kết quả trưng cầu dân ý của khu vực bỏ phiếu của mình

Bước 5: Lập danh sách cử tri

Để thực hiện quyền trưng cầu dân ý của mình, công dân phải đăng ký, ghi tên vào danh sách cử tri Việc lập danh sách cử tri không những nhằm mục đích bảo đảm quyền trưng cầu dân ý của công dân mà còn ngăn chặn hiện tượng gian lận trong quá trình diễn ra trưng cầu dân ý Pháp luật một số nước còn căn cứ vào danh sách cử tri đăng ký tham gia bỏ phiếu và số lượng cử tri đi bỏ phiếu để xem xét giá trị của các cuộc trưng cầu dân ý

Hầu hết pháp luật các nước đều quy định công dân có đủ điều kiện tham gia bầu cử thì đều có quyền tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý.Danh sách cử tri

có thể được thành lập bằng hai cách là bắt buộc và tự nguyện

Phương pháp bắt buộc là việc lập danh sách do nhà nước hay tổ chức phụ trách ở khu vực bỏ phiếu lập Thông thường danh sách công dân tham gia trưng cầu dân ý sẽ được lập căn cứ theo danh sách cử tri tham gia bầu cử

Trang 28

Bước 6: Tuyên truyền về vấn đề trưng cầu dân ý

Tuyên truyền là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình trưng cầu dân ý

Vì qua giai đoạn này, cử tri sẽ hiểu rõ hơn vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý, tầm quan trọng của vấn đề đó từ đó định hướng và có những nhận định chính xác

để đưa ra được những quyết định sáng suốt nhất Có thể nói tuyên truyền có vai trò quan trọng đối với chất lượng cuộc trưng cầu dân ý, làm nên sự thành bại của cuộc trưng cầu dân ý

Nguyên tắc tiến hành tuyên truyền là bảo đảm minh bạch, khách quan, đầy đủ của thông tin và tuân theo các quy định của pháp luật (Hiến pháp, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Báo chí, Luật truyền thông…) Không được lợi dụng tuyên truyền trưng cầu dân ý làm sai lệch thông tin, mất đi tính khách quan của vấn đề, hướng người dân hiểu theo những cách có lợi cho mục đích của một nhóm người nhằm lưởng lợi bất chính

Công tác tuyên truyền về vấn đề trưng cầu dân ý được thực hiện dưới sự chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu dân ý, thông qua nhiều kênh tuyên truyền như báo chí, truyền hình, truyền thanh, chính quyền địa phương khu phố…

Thời gian tiến hành tuyên truyền về vấn đề trưng cầu dân ý được quy định

cụ thể trong pháp luật về trưng cầu dân ý của từng nước, và phải được chấm dứt trước ngày bỏ phiếu.Ngoài ra, thời gian và cách thức công bố kết quả thu được qua hình thức thăm dò ý kiến công chúng đối với những câu hỏi đưa ra trong cuộc trưng cầu dân ý cũng được quy định cụ thể trong Luật Trưng cầu dân ý Thông thường thời gian này được ấn định ba ngày trước ngày bỏ phiếu trưng cầu dân ý trên cơ sở thông báo công khai kết quả và tổ chức đứng ra thăm dò ý kiến

Trang 29

23

Bước 7: Bỏ phiếu

Bỏ phiếu là một thủ tục quan trọng, được coi như là tâm điểm của cuộc trưng cầu dân ý Trước khi tiến hành thủ tục bỏ phiếu, các Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý sẽ nhận phiếu trưng cầu dân ý từ bộ phận phụ trách công tác in

ấn và chuyển phiếu bầu Việc chuyển giao phiếu phải được lập biên bản ghi xác nhận thời gian nhận, thời gian chuyển và số phiếu Việc chuyển giao phiếu trưng cầu dân ý phải tuân theo quy định về các thức và thời hạn quy định Thông thường trước khi tiến hành trưng cầu dân ý hai tuần, Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý tại cơ sở phải nhận được phiếu trưng cầu dân ý Trong trường hợp trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp thì phải có dự thảo sửa đổi Hiến pháp đi kèm theo mỗi phiếu bầu

Trước khi bỏ phiếu Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở cơ sở sẽphải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri Cử tri phải tự mình đi bỏ phiếu và phải tuân thủ theo nội quy của phòng bỏ phiếu Thông thường cử tri sẽ được thông báo trước về ngày, giờ, địa điểm bỏ phiếu.Sau khi xuất trình giấy tờ tuỳ thân (Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu…) cử tri ký tên vào danh sách cử tri

đi bầu và được phát một lá phiếu.Sau khi cử tri đánh dấu vào ô đồng ý hoặc không đồng ý với vấn đề đươc đưa ra trưng cầu dân ý, cử tri sẽ trực tiếp bỏ lá phiếu đó vào thùng phiếu đã được niêm phong kín

Trong trường hợp cử tri không thể tự mình viết được phiếu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu

Người vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu

Người vì có lý do chính đáng đúng vào thời điểm bỏ phiếu phải đi công tác, điều trị bệnh… thì sẽ được bỏ phiếu sớm (nhưng thông thường không quá ba ngày) Phiếu đó phải được để trong phong bì dán kín và có chữ ký niêm phong của cử tri

Trang 30

24

đó.Đến ngày bầu cử, phiếu đó sẽ được bỏ vào thùng phiếu dưới sự chứng kiến của

cử tri và các quan sát viên trên cơ sở vẫn còn nguyên niêm phong

Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu

Bước 8: Kiểm phiếu và lập biên bản kết quả bỏ phiếu

Sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc, các tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở khu vực bỏ phiếu lập tức tiến hành việc kiểm phiếu.Việc kiểm phiếu được tiến hành công khai, dưới sự chứng kiến và giám sát của đại diện cử tri và các quan sát viên, phóng viên báo chí

Thông thường, bộ phận kiểm phiếu trước hết phải xác định số lượng cử tri

ở khu vực bỏ phiếu đã tham gia bỏ phiếu, sau đó đối chiếu với số phiếu ở trong thùng phiếu có phù hợp hay không, rồi xác định số phiếu hợp lệ và không hợp lệ Nếu tổng số phiếu trong hòm phiếu phù hợp với với số lượng phiếu mà tổ bầu cử phát ra thì tiến hành kiểm phiếu.Trong trường hợp khác nhau thì phải lập tức báo cho tổ phụ trách trưng cầu dân ý biết và quyết định.Sau khi kiểm phiếu toàn bộ

số phiếu đã được kiểm phải được niêm phong gửi kèm biên bản lên Tổ phụ trách trưng cầu dân ý cấp trên Giai đoạn kiểm phiếu hoàn toàn do các nhân viên của

tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý đảm nhiệm

Lập biên bản và báo cáo về kết quả kiểm phiếu: Sau khi kiểm phiếu xong,

Tổ phụ trách trưng cầu dân ý ở khu vực bỏ phiếu phải lập biên bản kết quả kiểm phiếu Biên bản kết quả kiểm phiếu phải ghi rõ: Số phiếu phát ra; số phiếu thu về; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; tổng số cử tri của đơn vị trưng cầu dân ý, số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, kết quả kiểm phiếu, những khiếu nại do các

Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở khu vực bỏ phiếu đã giải quyết, những khiếu nại do Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở quận giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở trung ương Biên bản thường được lập thành bốn bản, có chữ ký đầy đủ của các thành viên Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý

Trang 31

25

Bước 9: Xác định kết quả trưng cầu dân ý

Kết quả cuộc trưng cầu dân ý được xác định trước hết ở từng Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở khu vực bỏ phiếu.Kết quả này được chuyển lên cho các

Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở cấp trên xem xét, tổng hợp Trên cơ sở những văn bản do các tổ chức phụ trách ở đơn vị trưng cầu dân ý gửi đến, Tổ chức phụ trách trưng cầu dân ý ở trung ương xác nhận tính hợp pháp của cuộc trưng cầu dân ý ở từng đơn vị trưng cầu dân ý rồi công bố kết quả của cuộc trưng cầu dân ý Trong trường hợp cần thiết có thể tuyên bố trưng cầu dân ý lại

Việc xác định kết quả trưng cầu dân ý được thực hiện dưới hình thức văn bản

về các nội dung như: Tổng số cử tri trên danh sách tham gia trưng cầu dân ý, tổng

số cử tri chính thức đi bỏ phiếu, kết quả kiểm phiếu của từng khu vực bỏ phiếu, kết

quả cuối cùng đồng ý hay không đồng ý vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý

Bước 10: Công bố kết quả trưng cầu dân ý

Công bố kết quả trưng cầu dân ý là hoạt động cuối cùng trong quy trình trưng cầu dân ý Giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tuyên bố công khai kết quả trưng cầu dân ý rộng rãi bằng văn bản, trên các phương tiện thông tin đại chúng

Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả trưng cầu dân ý của các Tổ phụ trách trưng cầu dân ý và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Tổ phụ trách trưng cầu dân ý ở trung ương lập biên bản tổng kết toàn bộ cuộc cuộc trưng cầu dân ý Khi đã có quyết định cuối cùng về kết quả trưng cầu dân ý thì tiến hành thủ tục công bố kết quả trưng cầu dân ý Pháp luật các nước cũng quy định khác về thời gian tiến hành công bố kết quả trưng cầu dân ý Có nước thủ tục công bố kết quả trưng cầu dân ý sẽ được tiến hành ngay sau khi có kết quả cuộc trưng cầu dân ý, cũng có những nước dành ra một khoảng thời gian nhất định cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về trưng cầu dân ý rồi mới tiến hành công bố kết quả

Trang 32

26

Kết luận chương 1

Trưng cầu dân ý là một phạm trù có tính chất lịch sử, xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của dân chủ, được sử dụng ngày càng phổ biến trong sinh hoạt chính trị, pháp lý của nhiều quốc gia Ở Việt Nam, từ rất sớm, trưng cầu dân ý đã trở thành một chế định của Hiến pháp 1945 Khi đó, trong bối cảnh đất nước đang rất phức tạp và nguy nan Điều đó đã cho thấy được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề dân chủ nói chung và trưng cầu dân ý nói riêng

Từ những phân tích ở chương I, chúng ta có thể nhận thấy trưng cầu dân ý

có các đặc điểm đặc: Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp mà ở đó người dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định công việc của nhà nước theo trình tự, thủ tục pháp luật; các vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý là những vấn đề quan trọng của đất nước; kết quả của cuộc trưng cầu dân ý có giá trị băt buộc với cơ quan nhà nước và quy trình thủ tục trưng cầu dân ý gần giống với quy trình bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Với những đặc điểm như vậy trưng cầu dân ý chính là hình thức dân chủ trực tiếp nhất trong các hình thức dân chủ

Trưng cầu dân ý, bên cạnh việc phát huy tính dân chủ của người dân thì còn góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của người dân cũng như hạn chế, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế của Đảng và Nhà nước Đó là những điểm quan trọng mà chúng ta đang hướng tơi để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trang 33

27

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở MỘT SỐ NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Trưng cầu dân ý ở một số nước phát triển

Trưng cầu dân ý là sự thể hiện của tư tưởng dân chủ phổ thông mà nhân dân là người làm chủ đất nước có quyền cơ bản trong việc quyết định vận mệnh của mình Những nước phát triển như Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Mỹ, Đức thì việc trưng cầu dân ý không chỉ dừng lại trên phạm vi cả nước mà còn được tổ chức trên phạm vi từng bang, từng địa phương với nội dung trưng cầu dân ý cũng hết sức đa dạng

2.1.1 Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ

Thụy Sỹđược coi là cha đẻ của các chế định trưng cầu dân ý, ở quốc gia này đã có trên 150 năm kinh nghiệm về trưng cầu dân ý Vì vậy, ở đây hoạt động trưng cầu dân ý đi sâu vào thực tiễn, gắn liền với dân chủ trực tiếp

Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ được ghi nhận lần đầu tiên trong bản Hiến pháp năm 1848, quy định quyền của cử tri trong việc ban hành Hiến pháp Đó là quy định chỉ khi nào người dân có ý kiến thì Hiến pháp mới được phê chuẩn hoặc sửa đổi Tuy nhiên do quy định còn sơ sài, chưa cụ thể nên việc áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến khó áp dụng Từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1950, Thụy Sỹ đã trở thành quốc gia nổi tiếng thế giới với các hoạt động trưng cầu dân ý Hiến pháp 1949 được sửa đổi theo sáng kiến của nhân dân Hiến pháp này ra đời có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tình trạng ban hành bừa bãi các sắc luật áp dụng khẩn cấp bằng việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn Năm 1956, người dân Thụy Sỹ đã liên tục được hỏi ý kiến về một số vấn đề khá quan trọng của đất nước như hoạt động của nhà máy thuỷ điện, về chi tiêu tài chính của chính phủ Thụy Sỹ…Cho tới nay, Thụy Sỹ đã tiến hành 532 cuộc trưng cầu dân ý trên tổng số 1140 chiếm gần 47% cuộc trưng cầu dân ý trên toàn thế giới, và được diễn ra chủ yếu trong vòng 30 năm trở lại đây Qua nghiên cứu pháp luật Thụy Sỹ về trưng cầu dân ý có thể chỉ ra một số đặc điểm nổi bật sau:

Trang 34

28

Một là, Pháp luật của Thụy Sỹ, trưng cầu dân ý có hai hình thức là trưng cầu

dân ý bắt buộc và trưng cầu dân ý tuỳ nghi- luôn mang tính rằng buộc (Điều 142 và Điều 159 Hiến Pháp Thụy Sỹ) Trưng cầu dân ý bắt buộc ở Thụy Sỹ là trưng cầu dân ý được Hiến pháp quy định tại Điều 140 đối với các trường hợp sau:

- Sửa đổi toàn bộ hoặc một phần Hiến pháp Liên bang;

- Gia nhập các tổ chức vì lý do an ninh chung hoặc gia nhập các cộng đồng siêu quốc gia (Ví dụ Liên hợp Quốc, EU);

- Khi áp dụng các đạo luật khẩn cấp của Liên bang mà không có cơ sở hiến định cần thiết và điều đó sẽ có hiệu lực dài hơn một năm

Những việc sau đây phải được nhân dân biểu quyết:

- Sáng kiến của công dân nhằm sửa đổi toàn diện Hiến pháp Liên bang

- Sáng kiến của công dân nhằm sửa đổi một phần Hiến pháp Liên bang được giới thiệu như một đề xuất chung và đã bị từ chối tại Quốc hội Liên bang,

và để đạt được một quyết định mà Hội đồng Liên bang (chính phủ),Hội đồng quốc gia và Hội đồng các bang (Quốc hội) đã không đồng ý về việc liệu có sửa toàn bộ bản Hiến pháp hay không

Hiến pháp Thụy Sỹ muốn được sửa đổi, bổ sung thì bắt buộc phải đưa ra trưng cầu dân ý, không có bất kể một chủ thể nào có thể tự ý quyết định vấn đề trưng cầu dân ý về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà không thông qua trưng cầu dân ý Người dân có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu dân ý về việc sửa đổi Hiến pháp khi họ thu thập được 100.000 chữ ký trong vòng 18 tháng, tuy nhiên sáng kiến này sẽ không được thông qua nếu Nghị viện không tán thành

Trưng cầu dân ý tuỳ nghi ở Thụy Sỹ được quy định tại Điều 141 Hiến pháp bao gồm các vấn đề như:

- Luật Liên bang

- Luật khẩn cấp của Liên bang, với thời hạn áp dụng luật quá một năm

- Nghị định Liên bang trùng phạm vi Hiến pháp hay luật pháp đã dự liệu

Trang 35

29

- Một số công ước quốc tế trong đó không giới hạn về thời gian và có thể không bị chấm dứt; mở đường cho việc ra nhập vào một tổ chức quốc tế hoặc có những điều khoản pháp lý quan trọng, hoặc việc thực hiện hiệp định yêu cầu phải có các quy định trong luật liên bang

Theo đó, một đạo luật đã được Nghị viện thông qua vẫn có thể bị xem lại khi người dân thu thập được 50.000 chữ ký trong thời gian 100 ngày kể từ khi Quốc hội thông qua luật đó Nếu có yêu cầu của tám bang trở lên về việc tổ chức trưng cầu dân ý đối với các văn bản luật, hiến pháp thì trưng cầu dân ý cũng phải được tổ chức (Điều 141) Ngoài ra, bằng việc thu thập chữ ký, nhân dân có thể đưa ra sáng kiến tổ chức trưng cầu dân ý về các vấn đề khác Như vậy có nghĩa

là, ngoài những vấn đề bắt buộc phải đưa ra trưng cầu dân ý như sửa đổi Hiến pháp thì ở Thụy Sỹ, mọi vấn đề đề đều có thể được đưa ra trưng cầu dân ý Pháp luật Thụy Sỹ không quy định vấn đề nào đưa ra trưng cầu dân ý, vấn đề nào không được trưng cầu (trừ những vấn đề trái với pháp luật quốc tế)

Trang 36

30

Bảng2.1 Quy định về Trưng cầu dân ý bắt buộc và không bắt buộc trong các

bang của Thụy Sỹ tính đến tháng 12/2004[30, tr.36]

Trƣng cầu dân ý Hiến pháp

Trƣng cầu dân

ý pháp luật Trƣng cầu dân ý tài chính Trƣng cầu dân ý hành chính

Bang buộc Bắt buộc Bắt

Không bắt buộc

Bắt buộc

Không bắt buộc

Bắt buộc

Không bắt buộc

Trang 37

31

Hai là, Pháp luật Thụy Sỹ quy định rất rõ ràng và cụ thể về vấn đề sáng

kiến trưng cầu dân ý, các sáng kiến trưng cầu dân ý phải được một uỷ ban gồm 7 đến 27 thành viên đưa ra- thành viên khởi xướng sáng kiến, họ sẽ chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với sáng kiến mà họ đưa ra Sáng kiến trưng cầu dân ý gồm có hai chủ thể là nhân dân và Chính phủ Về việc sửa đổi Hiến pháp, Hiến pháp Thụy Sỹ quy định cụ thể về yêu cầu và trình tự của các sáng kiến đối với trường hợp: sửa đổi tổng thể Hiến pháp và sửa đổi một phần của Hiến pháp

- Đối với việc sửa đổi tổng thể Hiến pháp Liên bang, Điều 138 Hiến pháp Thụy Sỹ quy định:

1, 100.000 công dân có quyền bỏ phiếu (tương đương với khoảng 2% số

cử tri) có thể đề xuất việc sửa đổi Hiến pháp Liên bang

2, Đề xuất này được trình lên để nhân dân bỏ phiếu chấp thuận

- Đối với việc việc sửa đổi một phần Hiến pháp Liên bang, Điều 139 Hiến pháp Thụy Sỹ quy đinh:

1, 100.000 công dân có quyền bỏ phiếu có thể đề suất việc sửa đổi một phần Hiến pháp Liên bang

2, Sáng kiến của dân chúng về việc sửa đổi một phần Hiến pháp Liên bang có thể dưới hình thức đề nghị chung hoặc hình thức dự thảo được trình bày chuẩn xác

3, Nếu đề xuất không tuân thủ nguyên tắc thống nhất về mặt hình thức, nguyên tắc thống nhất về chủ đề hoặc các quy định bắt buộc của pháp luật quốc tế thì Nghị viện Liên bang sẽ tuyên bố sáng kiến đó là vô hiệu toàn bộ hay một phần

4, Nếu Nghị viện Liên bang chấp thuận một sáng kiến dưới hình thức đề xuất chung thì Nghị viện Liên bang phải chuẩn bị nội dung sửa đổi một phần Hiến pháp theo sáng kiến đó và đưa vấn đề ra toàn dân và các bang bỏ phiếu Nếu Nghị viện Liên bang bác bỏ sáng kiến đó, thì Nghị viện Liên bang phải đưa vấn đề đó ra để dân bỏ phiếu Nhân dân sẽ quyết định việc có đi theo sáng kiến

đó hay không Nếu nhân dân chấp thuận sáng kiến đó thì, thì Nghị viện Liên bang phải chuẩn bị dự thảo phù hợp

Trang 38

6, Nhân dân và các bang sẽ bỏ phiếu đồng thời về sáng kiến và về phần phản dự thảo đó Các cử tri có thể chấp thuận cả hai dự thảo, trong trường hợp chấp thuận cả hai dự thảo, cử tri có thể nêu việc họ đưa dự thảo nào hơn Trường hợp một dự thảo dành được đa số phiếu cử tri và dự thảo kia dành được đa số phiếu của các bang thì không kết quả bỏ phiếu nào được coi là có hiệu lực

Việc kiểm tra độ tin cậy của chữ ký được tiến hành trên cơ sở dữ liệu thông tin về dữ liệu chữ ký của cử tri được lưu trữ ở cấp Liên bang Nếu hợp lệ, văn phòng Thủ tướng Liên bang sẽ ra quyết định về việc trưng cầu dân ý Trong quá trình xác minh tính hợp pháp của các chữ ký, người tổ chức thu thập chữ ký

có thể thay mặt nhân dân rút lại sáng kiến trưng cầu dân ý

Ba là, Những ngày bỏ phiếu quốc gia được ấn định theo các quy định của

Điều 10 Luật Liên bang về các quyền chính trị (FLP) ngày 17 tháng 12 năm

1976 và Điều 2a Nghị định về quyền chính trị (DPR) ngày 24 tháng 5 năm 1978

Bỏ phiếu trưng cầu dân ý Liên bang không được tổ chức trong thời gian diễn ra bầu cử Liên bang, tối thiểu là bốn tháng trước ngày bầu cử.Hiện nay, lịch trưng cầu dân ý cho 20 năm tới đã được xác định và công bố trên mạng Internet.Trong trường hợp có sự thay đổi thì Quốc hội ban hành luật quy định về vấn đề này.Điều nay cho thấy, ở Thụy Sỹ hoạt động trưng cầu dân ý được coi là hoạt động thường niên, tất yếu, là ngày hội của nhân dân

Bốn là, về việc tổ chức trưng cầu dân ý: Việc biểu quyết trưng cầu dân ý

được tổ chức tại các điểm bỏ phiếu, một bang có thể có nhiều điểm bỏ phiếu để thuận tiện cho người dân tham gia bỏ phiếu Ngoài ra người dân có quyền bỏ phiếu qua bưu điện, vào năm 2006 Thụy Sỹ đã chấp nhận hình thức bỏ phiếu

Trang 39

33

thông qua điện thoại di động và gần đây Thụy Sỹ đang xây dựng phần mềm bỏ phiếu qua Internet, mới đang trong giai đoạn thử nghiệm Đó là những các tổ chức hết sức linh hoạt để tạo điều kiện để tất cả cử tri đang sinh sống trên và ngoài lãnh thổThụy Sỹ đều có thể tham gia bỏ phiếu mà không tốn quá nhiều công sức, thời gian, tiền bạc…

Hồ sơ phiếu bầu được gửi tới cử tri trước ngày bỏ phiếu tối thiểu là ba tuần và sớm nhất là bốn tuần (Điều 11 Luật Liên bang về các quyền chính trị)

Hồ sơ gồm có: Thẻ cử tri; Bảng tóm tắt nội dung của vấn đề bỏ phiếu, các quy định của pháp luật có liên quan; Phiếu trưng cầu dân ý; Phiếu hỏi về những vấn

đề thuộc nội dung trưng cầu dân ý có liên quan trực tiếp tới bang đó (trong trường hợp trưng cầu dân ý cấp Liên bang)

Năm là, Hoạt động kiểm phiếu tại Thụy Sỹ do các cử tri trực tiếp thực

hiện tại các điểm kiểm phiếu Biên bản kiểm phiếu của các xã được gửi qua Fax đến Bang và từ đây được gửi về Văn phòng chính phủ Liên bang tập hợp Nội dung hoạt động kiểm phiếu bao gồm:

- Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ phiếu trưng cầu dân ý (thẻ cử tri phải có chữ ký, phiếu trưng cầu dân ý phải được trả lời theo một trong hai phương án là

“có” hay “không” và được đóng dấu đã bỏ phiếu

- Kiểm tra sự phù hợp của số thẻ cử tri và số phiếu

- Thống kê các ý kiến đồng ý và không đồng ý

- Lập biên bản kết quả bỏ phiếu

Sáu là, kết quả trưng cầu dân ý được tính theo quá nửa số cử tri tham gia

bỏ phiếu đồng ý hoặc quá nửa số bang (đối với trưng cầu dân ý cấp Liên bang) Không một cơ quan nhà nước hay một cá nhân nào có thể thay đổi được kết quả trưng cầu dân ý Kết quả trưng cầu dân ý được bảo vệ và có cơ chế bảo vệ bằng Tòa hành chính của Liên bang, Tòa hành chính của các bang Kết quả trưng cầu dân ý không bị phụ thuộc vào số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu, Thụy Sỹ quan niệm rằng: trong bất kỳ tình huống nào cũng cần tôn trọng tiếng nói của một bộ phận tích cực chính trị trong số các cử tri Ai không tham gia bỏ phiếu là tự mình tước bỏ đi quyền lợi chính trị của mình

Trang 40

34

2.1.2 Trưng cầu dân ý ở Pháp

Ở Pháp, trưng cầu dân ý không phải là một chế định được thực hiện thường xuyên như ở Thụy Sỹ, tuy nhiên Pháp cũng là một trong những nước có các hoạt động trưng cầu dân ý từ rất sớm Hiến pháp của nền cộng hoà thứ năm

đã được thông qua bằng một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1958 Kể từ đó, một

số cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức theo Điều 11 của Hiến pháp, trao quyền

cho Tổng thống nước Cộng hoà để “trình ra trước cuộc trưng cầu đối với bất kỳ

dự luật nào của chính phủ liên quan đến việc tổ chức các cơ quan công quyền, hoặc những cải cách liên quan chính sách kinh tế hoặc xã hội của quốc gia”

Hiến pháp năm 1793 với những quy định hạn chế về trưng cầu dân ý song đây chính là cơ sở pháp lý diễn ra cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên theo phương thức bỏ phiếu Trưng cầu dân ý ở Pháp xuất hiện sớm trên thế giới nhưng cũng có những giai đoạn vắng bóng.Cho đến nền cộng hoà thứ IV, trưng cầu dân ý dần được xuất hiện lại và trở thành công cụ pháp lý để người dân tham gia quản lý nhà nước Pháp luật về trưng cầu dân ý ở Pháp có những đặc điểm sau:

Một là, quy mô các cuộc trưng cầu dân ý ở Pháp được tiến hành cả ở

hai cấp độ là quốc gia và ở từng địa phương Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động trưng cầu dân ý ở Pháp cho thấy, việc trưng cầu dân ý chính thức diễn

ra trên quy mô toàn quốc nhiều hơn là quy mô địa phương Nguyên nhân được cho là, do ở địa phương việc bày tỏ thái độ thiếu thiện chí của một số đại biểu Quốc hội đã làm cho các hoạt động trưng cầu dân ý không được diễn ra trong một thời gian dài

Hai là, quyền quyết định trưng cầu dân ý có thể do Tổng thống quyết định

theo đề nghị của Chính phủ hay theo đề nghị của hai viện của Quốc hội nhưng chỉ trong phạm vi hẹp các vấn đề theo quy định được sửa đổi tại Điều 11 Hiến pháp 1995 (tổ chức quyền lực công, cải cách chính sách kinh tế - xã hội và công

vụ, phê chuẩn những điều ước quốc tế có khả năng ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan nhà nước) Đối với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, nếu là sáng kiến của Quốc hội hoặc của Tổng thống thì sáng kiến đó sẽ được biểu quyết tại phiên họp chung của Thượng viện và Hạ viện

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Từ điển Hán-Việt, NXB Trường- Thi, Sài Gòn, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán-Việt
Nhà XB: NXB Trường- Thi
2. Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, “Một số vấn đề cơ bản Hiến pháp các nước trên thế giới”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản Hiến pháp các nước trên thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Phạm Văn Các, Từ điển Hán- Việt, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán- Việt
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
5. Chính phủ, Chỉ thị 30/CT-TW ngày 18-2-1998 về Xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 30/CT-TW
6. Chính phủ, Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 11-5-1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở các cơ sở xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 29/NĐ-CP
7. Chính phủ, Nghị định 71/NĐ-CP ngày 8-9-1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở các cơ sở xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 71/NĐ-CP
8. Chính phủ, Nghị định số 79/2003/NĐ- CP về Quy chế thực hiện dân chủ ở các cơ sở xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2003/NĐ- CP
9. Chính phủ, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP
10. Chính phủ, Nghị định số 79/2003/ NĐ- CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 07/7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2003/ NĐ- CP
11. Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN
Tác giả: Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
Năm: 2008
12. Nguyễn Hồng Chuyên, Thực Hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực Hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới
Nhà XB: NXB Tư pháp
13. Trương Thị Hồng Hà, Trưng cầu dân ý Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị- Hành chính Hà Nội, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trưng cầu dân ý Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Chính trị- Hành chính Hà Nội
14. Tô Văn Hoà, Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN; NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
15. Trần Minh Hương, “Luật Trưng cầu dân ý ở các nước Bắc Âu”, Kỷ yếu Hội thảo Trưng cầu dân ý, do Hội luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trưng cầu dân ý ở các nước Bắc Âu
19. Tào Thị Quyên, “Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trực tiếp và trưng cầu dân ý”, Kỷ yếu Hội thảo Trưng cầu dân ý, do Hội luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trực tiếp và trưng cầu dân ý
20.Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB từ điển Bách khoa
21. Nguyễn Duy Lẫm, Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, NXB Đại Học Quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc gia
22. Lê Thị Kim Thanh, “So sánh tổng quan về Luật Trưng cầu dân ý một số nước trên thế giới”, Kỷ yếu Hội thảo Trưng cầu dân ý, do Hội luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh tổng quan về Luật Trưng cầu dân ý một số nước trên thế giới
23. Trần Minh Hương, “Luật Trưng cầu dân ý ở các nước Bắc Âu”, Kỷ yếu Hội thảo Trưng cầu dân ý, do Hội luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 04/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trưng cầu dân ý ở các nước Bắc Âu
24. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết 55 ngày 30-7-1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Khảo sát về quy định Trưng cầu dân ý ở một số nước Châu Á [30, tr.218] - Pháp luật về trưng cầu dân ý kinh nghiệm thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam
Bảng 2.2. Khảo sát về quy định Trưng cầu dân ý ở một số nước Châu Á [30, tr.218] (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w