1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa điều tra và công tố - qua thực tiễn thành phố Hải Phòng Luận văn ThS. Luật

106 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận các nội dung: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Hoàn thiện hệ thống pháp luật; Xây dựng hệ thố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN CÔNG HOÀNG

MèI QUAN HÖ GI÷A §IÒU TRA Vµ C¤NG Tè - QUA THùC TIÔN THµNH PHè H¶I PHßNG

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Công Hoàng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU TRA VÀ CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6

1.1 Khái niệm điều tra và công tố trong tố tụng hình sự 6

1.1.1 Khái niệm hoạt động điều tra 6

1.1.2 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố 12

1.2 Khái niệm, nội dung mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và công tố 20

1.2.1 Khái niệm 20

1.2.2 Nội dung của mối quan hệ giữa công tố và điều tra 22

1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (Viện công tố) ở mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng hình sự tranh tụng 24

Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT (VIỆN CÔNG TỐ) TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 29

2.1 Tổ chức, vị trí và nhiệm vụ, quyền ha ̣n của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 29

2.1.1 Cơ quan điều tra 29

2.1.2 Viê ̣n kiểm sát 33

2.2 Đặc điểm và nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và

Trang 4

Chương 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VÀ

CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 59

3.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện mối qua n hê ̣ giữa điều tra và công tố trong tố tụng hình sự trên địa bàn Hải Phòng 59

3.1.1 Thực trạng mối quan hệ giữa điều tra và công tố trong tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 59

3.1.2 Thực trạng mối quan hệ giữa điều tra và công tố trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can 61

3.1.3 Thực trạng mối quan hệ giữa điều tra và công tố trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn 64

3.1.4 Thực trạng mối quan hệ giữa điều tra và công tố trong việc tổ chức hoạt động điều tra, kết thúc điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố 68

3.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 70

3.3 Những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện mối quan hệ giữa điều tra và công tố trong tố tụng hình sự và nguyên nhân 72

3.4 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng quan hệ giữa công tố và điều tra trong tố tụng hình sự 77

3.4.1 Quan điểm chỉ đạo về vấn đề tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra 77

3.4.2 Về hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tăng cường mối quan hệ giữa điều tra và công tố 81

3.4.3 Giải pháp về cơ cấu tổ chức và con người 86

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra CHLB: Cộng hòa liên bang ĐHĐBND: Đại hội đại biểu nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự

THQCT: Thực hành quyền công tố UBND: Ủy ban nhân dân

VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Kết quả thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và

Bảng 3.2: Kết quả khởi tố vụ án của CQĐT và VKS trên địa bàn

Bảng 3.3: Kết quả công tác áp dụng các biện pháp ngăn chặn của

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, công cuộc cải cách tư pháp được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và được đặt trong mọi quan hệ với việc đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được của việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/02/2002 về một

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ngày 02/6/2005,

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu xuyên suốt là xây dựng nền tư pháp trong sạch, bền vững, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Nhằm tạo

sự chuyển biến mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp VKSND được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát (VKS) thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra Xác định rõ nhiệm vụ của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng CQĐT chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của CQĐT chuyên trách Trước mắt, tiếp tục thực hiện

mô hình tổ chức CQĐT theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi

Trang 8

điều kiện để tiến tới tổ chức lại các CQĐT theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận các nội dung: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Hoàn thiện hệ thống pháp luật; Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra…

Theo tinh thần trên, các cơ quan tư pháp nói chung; VKSND và CQĐT các cấp nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, trong đó mối quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa VKSND và CQĐT là một trong những khía cạnh quan trọng trong việc thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)

Tuy nhiên, hiện nay hệ thống pháp luật về hoạt động công tố và hoạt động điều tra, cũng như mối quan hệ giữa hai hoạt động này còn thiếu đồng

bộ, thiếu tính cụ thể, minh bạch, chưa phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp Điều này dẫn đến việc, trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình

sự ở giai đoạn điều tra còn nhiều vấn đề chồng chéo nhau, chưa đảm bảo tốt việc thực hiện đúng các quy định của BLTTHS về điều tra, chưa dẫn đến việc điều tra vụ án nhanh chóng

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ giữa điều tra và công tố - qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận

văn thạc sĩ cao học luật

2 Tình hình nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về cả

lý luận và thực tiễn ở các cấp độ khác nhau đến các vấn đề tổ chức và hoạt

Trang 9

động của cơ quan tư pháp nói chung, hoạt động điều tra và công tố nói riêng… Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu thấy rằng các công trình khoa học tập trung nghiên cứu ở những khía cạnh sau:

- Tác giả Lê Hữu Thể: Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội số 05/2011; Tác giả

Lê Cảm: Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội, số 07/2005; Luận văn Thạc sỹ Luật học với đề tài “Mối quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và VKS trong giai đoạn khởi tố điều tra” của Hoàng Ngô Văn tại mới chỉ đề

cập, nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và VKS

trong giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự; Nguyễn Ngọc Chí: Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp (Tạp chí

chuyên ngành), Hà Nội- 2009 Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Tiến Sơn với đề tài “Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại Học viện Khoa học xã hội Nguyễn Hải Phong (Chủ

biên): Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp (Trong chương trình hợp

tác dự án Jica với đối tác Nhật Bản), Hà Nội- 2014

Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của CQĐT, VKSND nói chung; Đồng thời đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về hoạt động điều tra và công tố trên một

số lĩnh vực cụ thể Mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến mối quan hệ giữa hoạt động công tố và hoạt động điều tra trong điều tra các vụ

án hình sự Tuy nhiên, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những

tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của tác giả

Phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn ở những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến:

Trang 10

Mối quan hệ giữa điều tra và công tố, qua thực tiễn tại thành phố Hải Phòng để làm rõ khái niệm về mối quan hệ, mô hình tố tụng của CQĐT, VKSND

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Nhiệm vụ của luận văn:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

+ Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận về quy định của pháp luật liên quan đến điều tra và công tố

+ Nhận xét, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành

về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và sự phối hợp giữa điều tra và công tố Trên cơ sở đó để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật

về hoạt động điều tra và hoạt động công tố, mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và công tố để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực trạng các quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và công tố Do vậy, đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới các quy định pháp luật về Tố tụng hình sự liên quan đến hoạt động điều tra và công tố

Trang 11

- Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận là học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật Luận văn này sử dụng những phương pháp nghiên cứu là: Phân tích, tổng hợp; phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp so sánh, thống kê và phương pháp khác

5 Tính mới và ý nghĩa của đề tài

Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động điều tra và công tố trong tố tụng hình

sự, cũng như mối quan hệ giữa các hoạt động này theo yêu cầu của cải cách tư pháp Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác lý luận và thực tiễn, ngoài ra còn có thể được sử dụng cho công tác nghiên cứu và giảng dạy

Luận văn phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về khai niệm, vị trí, vai trò; hoàn thiện pháp luật về hoạt động điều tra và công tố, mối quan hệ giữa hai hoạt động này Đưa ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong mối quan hệ giữ điều tra và công tố Từ đó đưa ra đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động điều tra và công tố trong Tố

tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa điều tra và công

tố trong tố tụng hình sự

Chương 2: Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (Viện

công tố) trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam

Chương 3: Thực trạng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về mối quan hệ

Trang 12

Chương 1

MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU TRA

VÀ CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm điều tra và công tố trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm hoạt động điều tra

Điều tra là hoạt động có mục đích trong việc phát hiện ra sự thật khách quan phục vụ nhu cầu trong đời sống của con người Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động phát hiện tội phạm, người phạm tội Hoạt động điều tra được nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào chính sách hình sự, trình độ, cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nước cũng như quan điểm chính trị của quốc gia đó

Quan điểm thứ nhất, cho rằng “hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng có nội dung phát hiện, củng cố, thu giữ các thông tin thực tế nhằm mục đích thu thập chứng cứ” [21] Quan điểm này chưa thể hiện được của hoạt động nhận

thức để làm chuyển hóa thông tin Đây chỉ là các hoạt động trong việc nhận thức như: hỏi và các phương pháp khác do pháp luật tố tụng hình quy định

Quan điểm thứ hai, cho rằng “hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nhằm thu thập, củng cố và kiểm tra chứng cứ” [60] Quan điểm này xác định

rõ điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ và theo đó chứng cứ đã tồn tại từ trước, sẵn có trước khi con người thực hiện cuộc điều tra như vậy là bỏ qua quá trình thực hiện của con người, CQĐT chỉ thực hiện việc thu lượm chứng

cứ có sẵn Quan điểm trên chưa đề cập đến chủ thể của hoạt động điều tra và coi chứng cứ là những cái có trước khi thực hiện các hoạt động điều tra, khác với việc thực hiện hoạt động điều tra luôn luôn mang tính sáng tạo, tìm tòi của chủ thể điều tra

Trang 13

Quan điểm thứ ba, cho rằng “điều tra là một dạng hoạt động phát hiện, nghiên cứu, củng cố, ghi nhận, thu giữ các chứng cứ của điều tra viên theo quy định của luật” [9] Quan điểm này không chỉ ra được hoạt động cụ thể

nào để có được chứng cứ Giống như quan điểm thứ hai, đã thừa nhận chứng

cứ có trước khi tiến hành các hoạt động điều tra và đã làm mất đi tính tích cực sáng tạo của của hoạt động điều tra mà chỉ là một phương pháp mang tính tìm kiếm đơn lẻ Hai quan điểm này không phân biệt được sự khác biệt giữa khách thể được phản ánh thông qua các hoạt động điều tra tức là các dấu vết của tội phạm để lại và sản phẩm của hoạt động điều tra là các chứng cứ Tuy nhiên quan điểm này khác với quan điểm thứ hai là về mặt chủ thể của hoạt động điều tra chỉ là điều tra viên

Nhìn chung của các quan điểm trên đã nêu được nội dung bản chất của hoạt động điều tra là hoạt động, khám phá, phát hiện, thu thập, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án Điểm khác nhau giữa các quan điểm trên là đưa

ra đối tượng mà hoạt động điều tra hướng tới, thừa nhận điều tra viên là chủ thể của hoạt động điều tra Tuy nhiên vẫn chưa giải quyết được vấn đề là chứng cứ

có sẵn hay không, phạm vi chủ thể của hoạt động điều tra là những ai

Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau

về hoạt động điều tra như: Từ điển Luật học thì, "Điều tra là công tác trong

tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ" [8, tr.75]

Hiện nay quan điểm được sử dụng nhiều ở Việt Nam thì cho rằng điều tra là hoạt động của CQĐT trong điều tra các vụ án hình sự Điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do một CQĐT thực hiện Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội

Trang 14

Cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ ràng giữa chức năng của CQĐT với hoạt động điều, đồng nhất giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, coi hoạt động điều tra gồm các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra; nhìn nhận về hoạt động điều tra mang tính cục bộ, phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Trong thực tiễn hoạt động điều tra được tiến hành xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự để xác định

sự thật khách quan của vụ án

Cách hiểu như vậy về hoạt động điều tra là chưa toàn diện, đầy đủ thiếu tính bản chất của hoạt động điều tra Quan điểm này chỉ ghi nhận CQĐT là chủ thể duy nhất có thẩm quyền được thực hiện các hoạt động điều tra Điều này mâu thuẫn với quy định của BLTTHS về thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra BLTTHS 2003 quy định rõ về thẩm quyền thu thập chứng cứ:

Để thu thập chứng cứ, CQĐT, VKS và tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề

có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án [35, Điều 65, Khoản 1]

Từ đó dẫn đến việc nhìn nhận hoạt động điều tra là chỉ bao gồm một

số hành vi về điều tra như "việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện việc bắt, tạm giữ người khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, thực hiện lệnh khám xét " [1, tr 50-51], chưa phân biệt hoạt động điều tra với các hoạt động tố

tụng hình sự khác

Cách hiểu thứ hai cho rằng hoạt động điều tra là hoạt động của CQĐT, VKS và tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Điểm khác biệt của quan điểm này so với quan điểm thứ nhất là nhìn nhận việc chủ thể của

Trang 15

hoạt động điều tra rộng hơn Tuy nhiên, cách hiểu này vẫn nhầm lẫn giữa các hoạt động của CQĐT với hoạt động điều tra; giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của CQĐT và VKS

Về mặt quy định của pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý về “hoạt động điều tra” và cũng chưa được giải thích mang tính pháp lý bởi Cơ quan có thẩm quyền trong việc giải thích pháp luật Các BLTTHS, chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra Một số giải thích không chính thức như đã nói trên đây chưa đủ để có một nhận thức đúng về hoạt động điều tra

Mặc dù hoạt động điều tra đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động điều tra được các cơ quan tố tụng hình sự thực hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra Vì vậy, mà đã đồng nhất hoạt động điều tra với các hoạt động khác của CQĐT, bó hẹp phạm vi chủ thể, phạm vi thời gian của hoạt động điều tra Tại Việt Nam hoạt động điều tra chưa được các chuyên gia nghiên cứu một cách sâu sắc, nên có nhiều cách hiểu, cũng như nhận thức khác nhau về hoạt động điều tra

Nhìn từ góc độ lý luận mang tính phản ánh thì hoạt động điều tra được xem là một hoạt động nhận thức Ngay trong giai đoạn đầu tiên của hoạt động điều tra là thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ đây chính là hoạt động mang tính nhận thức của con người Hoạt động chứng minh nhằm phản ánh những

gì xảy ra trong quá khứ, thì hoạt động thu thập chứng cứ lại phản ánh những khách thể mang tính hiện tại, hiện hữu Đây là một đặc điểm của việc thu thập chứng cứ, mặt khác nếu chúng ta không dựa vào lý luận nhận thức thì không

Trang 16

thể giải thích được các quy luật hình thành chứng cứ và kết quả của hoạt động điều tra phụ thuộc vào yếu tố nào Cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng

cứ để chứng minh sự thật khách quan của vụ án đã xảy ra

Các dấu vết, hình ảnh của tội phạm luôn được phản ánh lại trên các khách thể vật chất Dấu vết tội phạm là cơ sở thực tiễn khách quan cho hoạt động chứng minh tội phạm, cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu, xem xét, tìm ra quy luật hình thành sự việc phạm tội, để xây dựng kế hoạch chứng minh tội phạm, để đưa ra cách đánh giá những sự việc diễn ra trong quá khứ của liên quan đến sự kiện phạm tội

Dấu vết của tội phạm không được dùng làm chứng cứ nếu nó không được thu thập theo đúng trình tự thủ tục theo quy định của luật tố tụng Muốn sử dụng, các dấu vết của tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải thu thập, tiếp nhận và phản ánh nó trong hồ sơ vụ án theo đúng quy định của luật tố tụng, sự phản ánh đó phải đúng sự thật khách quan

đã xảy ra trong quá khứ Đây là quá trình hình thành chứng cứ, một quá trình đòi hỏi mang tính khách quan, tuân thủ các quy luật của hoạt động nhận thức Trong quá trình đấu tranh tội phạm không bao giờ có sẵn những lời khai, cũng như biên bản hoạt động điều tra Các vật thể được thực hiện bởi tội phạm phải được Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá để chuyển hóa thành vật chứng theo luật định

Phân tích các quy định của BLTTHS có thể thấy luật ghi nhận nhiều cách thức, biện pháp điều tra khác nhau như: ghi lời khai, nhận dạng, đo vẽ,

so sánh, khám nghiện hiện trường, thực nghiệm điều tra Việc sử dụng biện pháp điều tra nào là tùy thuộc vào khách thể và mục đích điều tra Ví dụ: muốn thu thập dấu vết tội phạm khi thực hiện hoạt động khám nghiệm hiện trường thì phải dùng những thủ thuật, phương pháp nhận thức như quan sát, kết hợp với đo vẽ, so sánh, thực nghiệm để phát hiện và ghi nhận và thu giữ

Trang 17

những thông tin được phản ánh trong các đồ vật và tài liệu Mỗi phương pháp

để phát hiện, tiếp thu và củng cố không phải đối với bất kỳ thông tin nào mà chỉ có thể với những loại thông tin phù hợp với bản chất vật lý của nó Thí dụ phương pháp quan sát không thể phù hợp với những thông tin phản ánh trong trí nhớ của con người Nhưng phương pháp “hỏi” lại phù hợp cho việc nhận thông tin này Như vậy bảy phương pháp, bảy thao tác của nhận thức là: quan sát, hỏi, so sánh, đo đạc, thí nghiệm, mô hình hóa và mô tả trong sự kết hợp với nhau đã tạo thành số lượng lớn các hoạt động điều tra được pháp luật tố tụng hình sự quy định Thậm chí các hoạt động điều tra có chung các phương pháp, thao tác nhưng vẫn khác nhau về mức độ liên kết đặc thù giữa các phương pháp đó, khác nhau về hình thức pháp luật sử dụng cùng một phương pháp đó Từ góc độ bản chất nhận thức của hoạt động điều tra chúng ta có thể định nghĩa hoạt động điều tra là một sự kết hợp các thao tác có tính chất tìm kiếm, nhận thức, xác nhận phù hợp với đặc thù của các dấu vết tội phạm, phát hiện, thu giữ, củng cố một cách có hiệu quả các thông tin có giá trị chứng minh trong các dấu vết đó theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự do các

cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm mục đích thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội

Cách tiếp cận như vậy về hoạt động điều tra là cơ sở có thể cho phép chúng ta làm rõ cơ cấu bên trong của hệ thống cấu thành của hoạt động điều tra, phân loại hoạt động điều tra; phân biệt các hoạt động điều tra giống nhau nhưng có mục đích rất khác nhau (ví dụ như khám nghiệm, khám xét, khám người); làm rõ hơn khả năng phục vụ hoạt động nhận thức của từng hoạt động điều tra, cụ thể trên cơ sở xác định vị trí của nó trong hệ thống các hoạt động điều tra và cho phép thực hiện việc lựa chọn đúng hoạt động điều tra cần thiết trong thực tiễn

Hoạt động điều tra là một công cụ, phương tiện khám phá tội phạm, có

Trang 18

bản chất và nội hàm của hoạt động nhận thức Để nâng cao hiệu quả thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đòi hỏi chủ thể phải nhận thức đúng bản chất, tuân thủ những quy luật hoạt động nhận thức trong việc áp dụng các hoạt động điều tra trong thực tiễn

1.1.2 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố

1.1.2.1 Khái niệm quyền công tố

Quyền công tố là khái niệm gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước Thời kỳ đầu khi nhà nước mới ra đời, trong điều kiện bộ máy nhà nước còn đơn giản và hệ thống pháp luật mới được hình thành, quyền công tố chỉ được

sử dụng trọng phạm vi hẹp để bảo vệ các lợi ích công, như lợi ích của Nhà nước (của giai cấp thống trị) và lợi ích của cả cộng đồng Càng về sau, cùng với

sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật Mặt khác, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể Dần dần, nhà nước nhận thức đầy đủ một cách đầy đủ và rõ ràng rằng, trong nhiều trường hợp, khi có lợi ích cá nhân bị xâm hại thì lợi ích công cũng bị xâm hại hoặc bị đe dọa Bởi vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích các nhân khi chúng bị vi phạm Chính vì lẽ đó, vai trò của công tố ngày càng được đề cao

Ở Việt Nam, Hiến pháp 1980 là bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước

ta đưa ra thuật ngữ "thực hành quyền công tố" khi đề cập đến chức năng của VKSND Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức năm

1981 Song cho đến nay có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về vấn đề này, nhưng khái quát lại thì có một số quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất, đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động

kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND Theo quan điểm này, “công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật” [26]

Trang 19

Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước tự sửa chữa những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế,

xã hội cũng là THQCT [41, tr.22] Nếu hiểu quyền công tố như vậy là chưa chính xác và không phù hợp với qui định của Hiến pháp và các luật Bởi vì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng công tố hoàn toàn độc lập và song song tồn tại

Quan điểm thứ hai cho rằng, “quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (THQCT)” [42] Quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung,

phạm vi quyền công tố và không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này Vì đó chỉ là một trong các quyền hạn của VKS khi THQCT

Quan điểm thứ ba cho rằng, “quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích cho nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật” [46, tr.69-72] Những người

theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực khác Chẳng hạn tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

dân sự năm 1989 qui định: "VKS có quyền khởi tố vụ án dân sự vì lợi ích chung" [48, Điều 34 khoản 4] hoặc Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 quy định: "VKS có quyền khởi tố vụ án hành chính nếu không

ai khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần" [49, Điều 18] Quan điểm này đã quá mở

rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, dẫn đến sự xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng

Trang 20

khác Quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố với các quyền khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động [41, tr.26]

Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước giao

cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và

áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật qui định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội [7, tr.94]

Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ CQĐT và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều là chủ thể THQCT

Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố bao gồm quyền khởi tố,

điều tra vụ án, quyền truy tố và quyền buộc tội bị cáo trước tòa án [41, tr.27] Quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh nhà nước Do vậy, quyền công tố chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự Chủ thể tham gia vào hoạt động THQCT chỉ bao gồm CQĐT và Viện công tố Riêng quyền truy tố kẻ phạm tội ra tòa và thực hành quyền buộc tội nhân danh nhà nước tại phiên tòa chỉ thuộc về Viện công tố Quyền công tố được sử dụng để bảo vệ không chỉ các lợi ích công mà cả lợi ích của cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại

Quan điểm thứ sáu cho rằng, quyền công tố là sự cáo buộc của nhà

nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự Và, quyền công

Trang 21

tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [22, tr 82-88] Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc về nhà nước, nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau Quan điểm này suy đến cùng cũng giống quan điểm thứ ba vì họ cho rằng quyền công tố được thực hiện trong tất

cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm luật tố tụng hình

sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Quan điểm này vừa quá rộng, vừa không đảm bảo cơ sở thực tiễn

Quan điểm thứ bảy cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước đưa

các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa để xét xử, vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền lực công cộng, quyền đó thuộc nhà nước được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ nhà nước nào cũng phải can thiệp vì đó là môi tường tồn tại của nhà nước, là trách nhiệm xã hội của nhà nước, vì nhà nước nhân danh xã hội để duy trì các xung đột trong vòng trật tự Quyền công tố là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Tòa

án Vì thế, quyền công tố thường gắn với quyền tài phán của Tòa án [20]

Trên đây là một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý riêng của nó, tuy nhiên nhìn từ nhiều góc độ khác nhau các quan điểm trên đã bộc lộ một số bất cập sau:

- Hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, lao động, kinh tế, hành chính

Trang 22

- Hoặc là coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

- Hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Từ những phân tích trên có thể hiểu:

Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Để làm được điều này, cơ quan có chức năng THQCT phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [41, tr.40]

Như vậy quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự "Hoạt động công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ khi phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [50]

Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác

động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó Do xuất phát từ những quan niệm khác nhau về quyền công tố nên nhận thức về quyền công tố cũng có những quan điểm khác nhau:

- Quan điểm đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật thì đối tượng quan quyền công tố là sự tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

- Quan điểm coi quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích nhà

Trang 23

nước, bảo vệ trật tự pháp luật và quan điểm coi quyền công tố là quyền của nhà nước cáo buộc đối với các cá nhân, tổ chức xã hội đã vi phạm pháp luật thì quan niệm đối tượng của quyền công tố là các hành vi vi phạm pháp luật

- Quan điểm coi quyền công tố là quyền nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích nhà nước, lợi ích chung thì quan niệm đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội và những

vụ việc xâm hại đến lợi ích chung trong lĩnh vực dân sự, hành chính, lao động

Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì quan niệm đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Chúng tôi đồng tình với quan điểm này

Nội dung quyền công tố là sự buộc tội đối với những người đã thực

hiện hành vi phạm tội cho nên quyền công tố phải do một cơ quan độc lập đảm nhận thực hiện Ở nước ta, quyền này giao cho VKS và là một chức năng của VKS

Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng: "Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp" [4] cho nên có thể khẳng định rằng quyền công tố chỉ được

thực hiện bởi một cơ quan duy nhất là VKS mà không thể có một cơ quan nào khác có thể thay thế được Chính vì vậy mà, khi kết luận về công tác của ngành kiểm sát đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc

hội nhấn mạnh: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố Bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng hay không, điều

đó chính là VKS phải trông nom, bảo đảm cho tốt" [41, tr.34] Vì vậy, chức

năng THQCT của VKS có phạm vi xuyên suốt bao gồm tất cả các giai đoạn

Trang 24

Phạm vi quyền công tố:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: Phạm vi quyền công tố được giới

hạn từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm, vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người phạm tội ra Tòa và chấm dứt sau khi Tòa xét xử xong và tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật Như vậy phạm vi của quyền công tố chỉ bao gồm hai giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự: truy tố bị can ra trước Tòa và buộc tội bị can tại phiên tòa [59, tr.204]

Quan điểm này đã thu hẹp không chỉ nội dung mà cả phạm vi quyền công tố bởi truy tố người phạm tội ra Tòa và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa chỉ là một trong những quyền năng cụ thể thuộc nội dung quyền công tố, không thể coi là phạm vi quyền công tố

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố bắt đầu từ khi tội

phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án Như vậy

có nghĩa là quyền công tố được thực hiện bởi các Cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [20, tr.142]

Chúng tôi đồng tình với quan điểm, "phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị" [19, tr.53]

1.1.2.2 Khái niệm thực hành quyền công tố

Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định quyền công tố và theo đó là THQCT có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Giải quyết rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung

và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong tố tụng hình sự Điều này cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách các cơ quan tư pháp

Trang 25

Trong các tài liệu pháp lý ở nước ta, chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Khái niệm THQCT, nội dung, phạm vi, mối quan hệ giữa THQCT với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập và chưa rõ ràng Trên thực tế hiện nay có không ít người nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT trên các phương diện như: đối tượng, nội dung, phạm vi Một số ý kiến cho rằng quyền công tố chỉ bó hẹp trong phạm vi truy

tố hoặc buộc tội của VKS trước Tòa án; một số khác lại cho rằng phạm vi quyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; thậm chí có ý kiến cho rằng, THQCT chỉ là sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm

Như đã trình bày ở trên, quyền công tố là quyền thuộc về nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xảy

ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật không bị cáo kháng cáo, kháng nghị Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Để đảm bảo THQCT trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó qui định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng đó được giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm THQCT Theo tinh thần Điều 13 và Điều 23 BLTTHS năm 2003 thì:

Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, VKS được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội VKS THQCT trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng

Trang 26

người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [38, tr.13-17]

Từ những nội dung trình bày trên, có thể hiểu, THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử

1.2 Khái niệm, nội dung mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và công tố

1.2.1 Khái niệm

Mối quan hệ là “sự gắn liền mặt nào đó giữa hai hoặc nhiều sự vật khác nhau khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia”[59, tr.341] Như vậy, mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều sự vật hiện tượng trong xã hội thể hiện ở sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong

sự tồn tại và phát triển Theo quan niệm của triết học Mác-Lênin thì mọi sự vật hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách biệt lập mà có mối quan hệ biện chứng với nhau; chúng tác động lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau trong những điều kiện nhất định Nội dung của mối quan hệ này thể hiện rất đa dạng, phản ánh sự toàn diện của sự vật, hiện tượng Thông thường, trên bình diện triết học được chia thành các nhóm mối quan hệ chính sau: mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa nội dung và hình thức, giữa tất yếu và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng, bên trong và bên ngoài, nguyên nhân và kết quả, giữa các mặt đối lập… Chính vì sự tác động lẫn nhau mà gây nên sự phát triển giữa các sự vật hiện tượng Vì thế, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự cũng không nằm ngoài quy luật đó Mặc dù, ở mỗi một giai đoạn tố tụng hình sự đều có những cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu với những chức năng và nhiệm vụ riêng Tuy vậy, nó vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan điều hành tố tụng khác trong cả tiến trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 27

Quan hệ giữa công tố và điều tra hay cụ thể hơn là quan hệ giữa cơ quan công tố và CQĐT thể hiện ở hai mặt: Quan hệ phối hợp và quan hệ chế

ước Quan hệ phối hợp được hiểu là mỗi cơ quan thực hiện nghiêm chỉnh

chức năng, nhiệm vụ để đảm bảo sự thống nhất, nhịp nhàng khi thực hiện nhiệm vụ chung Với ý nghĩa này thì sự phối hợp là yếu tố thường xuyên không thể thiếu được trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó hoạt động điều tra là một nội dung quan trọng Quan hệ chế ước giữa cơ quan công tố và CQĐT không phải là quan hệ quyền uy, mệnh lệnh, phục tùng Tức là, quan

hệ giữa các cơ quan này không phải là quan hệ chấp hành và điều hành Khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng, yêu cầu đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng

là phải tuyệt đối tuân thủ các quy định trong BLTTHS Nếu vi phạm thì hoạt động tố tụng hình sự bị coi là bất hợp pháp Hậu quả của nó không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng, giải quyết vụ án sai lệch với sự khách quan Chế ước là sự cần thiết để mỗi cơ quan độc lập trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật của cơ quan khác, từ

đó có biện pháp ngăn chặn, khắc phục, sửa chữa

Quan hệ phối hợp và chế ước giữa công tố và điều tra tồn tại đan xen nhau, liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tố tụng thể hiện cụ thể ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Thậm chí trong một số trường hợp nhất định

sự thể hiện cụ thể của mối quan hệ này là rất khó phân biệt Để hoàn thành nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải coi trọng và phát huy cả hai loại quan hệ, thực hiện sự phối hợp và chế ước phải được giới hạn trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định cho mỗi cơ quan Khác với các hoạt động tố tụng dân sự, kinh tế, lao động hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động hết sức khó khăn và phức tạp Nó nhằm vào chứng minh một sự kiện, một hiện tượng đã tồn tại trong quá khứ Vì thế, các cơ

Trang 28

quan tiến hành tố tụng không thể đơn lẻ tự mình mà giải quyết được vụ án Điều đó có nghĩa là quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể trong giai đoạn điều tra là quan hệ giữa công tố và điều tra, là hết sức quan trọng và cần thiết nhằm tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong hoạt động để vụ án được giải quyết một cách nhanh chóng, chính xác, công mình

và đúng pháp luật Tuy nhiên, sự phối hợp đó cũng chỉ ở một giới hạn, mức

độ nhất định trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép Tức là không được thái quá, vì như vậy sẽ xâm phạm tính độc lập tự chủ và sáng tạo của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng

Cơ quan điều tra có mối quan hệ rõ nét với VKS Nội dung của mối quan hệ giữa CQĐT với VKS được xuất phát từ nhiệm vụ chung nhất là thu thập những tài liệu có căn cứ và hợp pháp để chứng minh tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc buộc tội trước Toà án Để làm được nhiệm vụ này hai cơ quan này phải có sự phối hợp với nhau trong quá trình giải quyết

vụ án Đồng thời để tránh những khiếm khuyết, sai lầm có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án giữa hai cơ quan này phải có sự chế ước lẫn nhau đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được tuân thủ đúng pháp luật

Trên cơ sở vị trí, chức năng, quyền hạn trách nhiệm của Viện kiểm sát (cơ quan công tố) và CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự có thể đưa

ra định nghĩa về mối quan hệ này như sau: Mối quan hệ giữa công tố và điều tra là mối quan hệ chế ước, phối hợp lẫn nhau trên cơ sở quy định của pháp luật hướng tới mục đích của TTHS trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả cũng như tôn

trọng và bảo đảm quyền con người

1.2.2 Nội dung của mối quan hệ giữa công tố và điều tra

Mối quan hệ giữa điều tra và công tố thể hiện ở mối quan hệ giữa CQĐT và VKS (Viện công tố) Trong đó, mối quan hệ này tồn tại như một tất

Trang 29

yếu khách quan của quá trình giải quyết vụ án nhưng nội dung mối quan hệ này lại phụ thuộc vào nguyên tắc tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước được xác định trong Hiến pháp và mô hình tố tụng hình sự mối quốc gia Ở những quốc gia, Bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền thì VKS (Cơ quan công tố) là một cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp có chức năng thực hành quyền công tố Để thực hiện quyền công tố Cơ quan công tố có trách nhiệm điều tra, chứng minh tội phạm bằng việc trực tiếp điều tra hoặc chỉ đạo các cơ quan khác thực hiện các hoạt động điều tra Trong trường hợp này, mặc dù không trực tiếp tiến hành điều tra những cơ quan công tố phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các quyết định và hoạt động trong việc điều tra vụ án Cơ quan quan điều tra hoặc những cơ quan khác chỉ được tiến hành các hoạt động điều tra theo sự chỉ đạo của cơ quan công tố Vì vậy, thông thường ở các nước không hình thành CQĐT độc lập mà chỉ có bộ phận điều tra ở cơ quan công tố và những người hoặc bộ phận được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo sự chỉ đạo của cơ quan công tố Một số nước ở cơ quan cảnh sát có những bộ phận được giao tiến hành hoạt động điều tra và người được tiến hành hoạt động điều tra có chức danh cảnh sát tư pháp Tại Trung quốc, mặc dù có thể chế chính trị tương tự như nước ta nhưng cũng không thành lập CQĐT độc lập mà hoạt động điều tra được giao cho những bộ phận ở Bộ công an, Bộ an ninh, Cảnh sát đường sắt… và đặt dưới sự chỉ đạo của VKS Trong trường hợp này mối quan hệ giữa VKS và cơ quan được giao tiến hành hoạt động điều tra là mối quan hệ phụ thuộc, các hoạt động điều tra do các cơ quan khác tiến hành đều phụ thuộc và chịu sự chỉ đạo của cơ quan công tố Mối quan hệ phụ thuộc này thể hiện trên các phương diện sau: (1) Cơ quan công tố có quyền hạn và chịu trách nhiệm hoàn toàn về tất cả các hoạt động điều tra; (2) Cơ quan công tố có thể trực tiếp tiến hành điều tra hoặc việc điều tra được giao cho những cơ quan khác theo qui định

Trang 30

của pháp luật; (3) Các cơ quan khác được giao tiến hành hoạt động điều tra phảI theo yêu cầu và chỉ đạo của cơ quan công tố; (4) Cơ quan công tố không cần phảI làm bản kết luận điều tra và không có thêm quyền ra quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung; (5) Hoạt động và kết quả điều tra gắn liền với hoạt động truy tố của VKS

Ở những nước có hệ thống CQĐT độc lập với VKS thì chức năng điều tra được giao hẳn cho CQĐT thì mối quan hệ giữa CQĐT và VKS lại có nội dung khác Đó là mối quan hệ giữa hai cơ quan có chức năng riêng biệt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự, thể hiện ở hai phương diện: (1) Mối quan hệ phối hợp trong quá trình giảI quyết vụ án Do VKS và CQĐT là những cơ quan độc lập có chức năng tố tụng khác nhau nhưng cùng hướng tới mục đích chung của tố tụng hình sự nên việc phối hợp là yêu cầu tất yếu; (2) Mối quan hệ chế ước: Quá trình tố tụng đòi hỏi bên cạnh việc phát hiện nhanh chóng, chính xác tội phạm nhưng đồng thời phải bảo đảm không làm oan người vô tội, không được vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người nên giữa các cơ quan này cần phải có mối quan hệ chế ước Quan hệ chế ước giữa VKS và CQĐT không những bảo đảm để pháp luật được thi nghiêm chỉnh trong quá trình giải quyết vụ án mà còn đảm bảo để công lý được thực thi góp

phần giải quyết vụ án khách quan, công bằng

1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (Viện công tố) ở mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng hình sự tranh tụng

Lịch sử tố tụng hình sự đã có nhiều mô hình tố tụng hình sự khác nhau Tuy nhiên, có hai mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu mang tính phổ biến ngày nay được đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng, đó là: mô hình tố tụng hình

sự tranh tụng và mô hình tố hình sự xét hỏi Mỗi loại mô hình tố tụng hình sự này có bản chất, đặc điểm và thủ tố tụng khác biệt trong quá trình giải quyết

Trang 31

vụ án Sự khác biệt về mô hình tố tụng hình sự đã làm nên sự khác nhau trong cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở mỗi quốc gia để thự hiện mục đích, chức năng và nhiệm vụ của tố tụng trong việc chứng minh, xử lý tội phạm Bên cạnh đó, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước khác nhau cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Nghiên cứu cơ quan tiến hành tố tụng một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới cho thấy ngoài những nét chung giống nhau thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở các hệ thống pháp luật, các mô hình tố tụng hình sự còn có nhiều khác biệt và do đó mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

hình sự cũng khác nhau

- Ở những nước mà quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền thì tòa án là một thiết chế độc lập cả về tổ chức và hoạt động Theo đó, tòa án là đại điện cho nhánh quyền lực tư pháp, đối trọng và kiểm soát quyền lập pháp và hành pháp Sự độc lập của tòa án trước hết đòi hỏi cả

hệ thống tòa án với tư cách là một thiết chế, cũng như từng thẩm phán khi giải quyết các vụ việc phải có khả năng thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp của mình mà không chịu ảnh hưởng của các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Vì vậy, trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng khác dường như chỉ chỉ có quan hệ chung của hệ thống các cơ quan nhà nước chứ không có mối quan hệ tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như trong mô hình tố tụng kiểu như của Việt Nam

- Qua nghiên cứu mô hình cơ quan công tố một số quốc gia điển hình cho thấy, tuỳ theo từng truyền thống pháp luật và đặc điểm tổ chức bộ máy của từng quốc gia mà vị trí, cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan công

tố có những nét chung giống nhau đồng thời cũng mang những nét đặc thù riêng Những nét chung giống nhau là đều nhân danh Nhà nước truy tố hình

Trang 32

sự và nhân danh công quyền giải quyết một số việc dân sự để bảo vệ lợi ích công Khác với Thẩm phán khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Công tố viên khi hành xử quyền công tố phải tuân theo pháp luật và mệnh lệnh của cấp trên

Những nét đặc thù riêng trong tổ chức thực hiện quyền công tố chủ yếu

là vị trí của cơ quan công tố thuộc nhánh quyền lực nào (hành pháp, lập pháp,

tư pháp), nguyên tắc tổ chức, hoạt động và vai trò của cơ quan công tố trong hoạt động điều tra

Ở một số nước chuyển đổi như Trung Quốc, Liên bang Nga, VKS vẫn

là một cơ quan độc lập với Chính phủ và Tòa án Ở Trung Quốc, Viện trưởng VKSNDTC do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên

tắc song trùng trực thuộc, các VKSND địa phương vừa do VKSND cấp trên,

vừa do Đại hội đại biểu nhân dân địa phương lãnh đạo VKSND không chịu

sự tác động từ phía các cơ quan hành chính nhưng chịu sự giám sát của ĐHĐBND địa phương và cơ quan này có quyền bầu, bãi miễn Viện trưởng VKSND cùng cấp

Tại Liên bang Nga, Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang (giống Thượng nghị viện) bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Phó Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng kiểm sát trưởng Tổng kiểm sát trưởng có quyền trực tiếp bổ nhiệm, miễn nhiệm các Kiểm sát viên, Dự thẩm viên VKS trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS các địa phương VKS Liên bang Nga được tổ

chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành,

các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng Kiểm sát viên cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Tổng kiểm sát trưởng; thực hiện các thẩm quyền của mình độc lập với chính quyền địa phương

Trang 33

Tại một số nước như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, về hình thức, Viện Công tố trực thuộc Bộ Tư pháp, nhưng Bộ

Tư pháp chỉ quản lý về mặt nhân sự và quản lý hành chính đối với Viện Công

tố, đưa ra những hướng dẫn chỉ đạo chung đường lối truy tố tội phạm mà không có quyền can thiệp vào công việc cụ thể của các Công tố viên Viện công tố được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống

nhất trong ngành, độc lập với các cơ quan chính quyền Các Công tố viên chịu

sự lãnh đạo của Công tố viên cấp trên trực tiếp và thống nhất chịu sự lãnh đạo của Tổng công tố trưởng Việc bổ nhiệm chức danh công tố các cấp thì có sự khác nhau Chẳng hạn, ở Cộng hoà Pháp các Công tố viên trưởng do Nội các

bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, các Công tố viên gọi là Thẩm phán buộc tội do Hội đồng Thẩm phán tối cao đề nghị Bộ trưởng Bộ

Tư pháp bổ nhiệm Ở Nhật Bản, Viện trưởng Viện công tố do Nội các bổ nhiệm và Nhật hoàng chuẩn y, Nội các bổ nhiệm các Công tố viên cao cấp, còn Công tố viên các địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Hàn Quốc thì Tổng thống, người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, bổ nhiệm Viện trưởng Viện công tố tối cao

Tuy có vị trí, cơ cấu tổ chức khác nhau nhưng về cơ bản Viện công tố các nước đều thực hiện chức năng truy tố hình sự và tại nhiều quốc gia cơ quan công tố còn được giao trách nhiệm nhân danh công quyền tham gia giải quyết một số loại việc dân sự

Trong tố tụng hình sự có ba mô hình phổ biến về vai trò của công tố trong hoạt động điều tra Một là, Công tố chỉ đạo hoạt động điều tra ngay từ

đầu, tức là Công tố viên quyết định mở cuộc điều tra theo trình tự tố tụng, chỉ đạo Điều tra viên thu thập các bằng chứng buộc tội và truy tìm thủ phạm Áp dụng mô hình này là các nước theo truyền thống Châu âu lục địa như: Cộng

hoà Pháp, CHLB Đức… Hai là, Công tố không can thiệp sâu vào quá trình

Trang 34

điều tra, chỉ tư vấn cho Cảnh sát về căn cứ khởi tố vụ án, các vấn đề liên quan đến chứng cứ, tội danh, hướng điều tra Ý kiến của công tố không mang tính bắt buộc đối với Cảnh sát Chủ yếu trên cơ sở kết quả điều tra, cơ quan công

tố xem xét thấy đủ căn cứ thì quyết định đưa vụ án ra tòa, nếu không đủ bằng chứng buộc tội thì trả hồ sơ cho Cảnh sát Mô hình này được áp dụng tại các

nước theo truyền thống án lệ, điển hình như Vương quốc Anh, Thái Lan Ba

là, Công tố không chỉ đạo điều tra, nhưng có nhiệm vụ quyết định tố tụng và

giám sát hoạt động điều tra, điển hình cho mô hình này là các quốc gia theo

mô hình xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc hiện nay

Kết luận: Hoạt động điều tra thường gắn liền với cơ quan công tố cho nên về cơ bản có ba mô hình tổ chức hoạt động điều tra tương ứng với mức

độ ảnh hưởng của cơ quan công tố trong từng lĩnh vực Tuy nhiên, cũng cần khẳng định trong các mô hình tố tụng hình sự, đa phần các nước không tổ chức hệ thống CQĐT riêng mà hoạt động điều tra thường được giao cho các

cơ quan Nhà nước khác thực hiện nhưng dưới sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan công tố, hoặc do cơ quan công tố trực tiếp thực hiện Tính phổ biến trong cách tổ chức hoạt động điều tra này xuất phát từ quan niệm điều tra là một trong những nội dung của quyền công tố, để truy cứu TNHS một người thì cơ quan công tố phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và phải chịu trách nhiệm về tất cả các hành vi tố tụng của hoạt động điều tra Việc tổ chức

hệ thống CQĐT riêng như Việt Nam là những trường hợp biệt lệ

Trang 35

Chương 2

MỐI QUAN HỆ GIƢ̃A CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT

(VIỆN CÔNG TỐ) TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM

2.1 Tổ chƣ́c, vị trí và nhiệm vụ, quyền ha ̣n của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

2.1.1 Cơ quan điều tra

* Tổ chức của Cơ quan điều tra

Các cơ quan điều tra theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra vu ̣ án hình sự năm 2004 gồm có: CQĐT trong Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao

Ngoài ra còn có một số các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành

mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng điều tra đó là Bô ̣ đô ̣i biên phòng , Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an n hân dân, Quân đô ̣i nhân dân Các cơ quan này không phải là cơ quan điều tra nhưng do tính chất của công việc và do yêu cầu phát hiện nhanh chóng, xử lý ki ̣p thời các hành vi phạm tội nên được phép tiến hành một số hoạt động điề u tra trong pha ̣m vi quyền ha ̣n được pháp luâ ̣t qui đi ̣nh

Khi tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra phải tôn tro ̣ng sự thâ ̣t, phải tiến hành một cách khách quan , toàn diện và đầy đủ nhằm phát hiện nhanh chóng , chính xác mọi hành vi pha ̣m tô ̣i, không để lo ̣t tô ̣i pha ̣m, không làm oan người

vô tô ̣i Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp lê ̣nh tổ chức điều tra vu ̣ án hình sự năm 2004, Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên

* Vị trí của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

Xét trên khía cạnh bộ máy nhà nước, thì các CQĐT kể trên, trừ CQĐT

Trang 36

của VKS, nằm trong hệ thống cơ quan chấp hành (Chính phủ) Còn lại các CQĐT nói trên đều thuộc lực lượng vũ trang (Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ), là những lực lượng có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp chung là:

Bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị, xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn có hiệu quả và nghiêm trị mọi loại tội phạm, đảm bảo tốt trật tự, an toàn xã hội [15, tr.40]

Vị trí đặc biệt quan trọng của lực lượng quân đội và công an được ghi nhận trong nhiều văn kiện, tài liệu của Đảng và Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã nói: “Chính quyền nhân dân có hai lực lượng để bảo vệ nó: đó là quân đội và công an Làm công tác chính quyền ở công an hay ở quân đội, đều là đầy tớ cho nhân dân cả, vì chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ” [6, tr.12]

Trong lần khác, Người nói: Nhân dân ta có hai lực lượng Một là quân đội để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình Một lực lượng nữa là công an, để chông kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, v.v còn công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại v.v vì vậy, công việc công an phải thường xuyên, không có từng đợt, từng lúc

Tuy các CQĐT thuộc Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng (trừ CQĐT của VKS), nhưng là những cơ quan không thể thiếu được trong bộ máy nhà nước, thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng là đấu tranh chống các loại tội phạm, đảm

Trang 37

bảo giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của đất nước, nhất là giai đoạn hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang muốn xoá sạch chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam

Xét trên khía cạnh hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp thì các CQĐT chiếm vị trí rất quan trọng Mặc dù CQĐT không có quyền quyết định một người có phải là người phạm tội hay không, nhưng để có chứng cứ chứng

minh tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc ra “Quyết định đề nghị truy tố” hoặc “Quyết định truy tố bị can” trước toà án, cũng như ”Quyết định đưa vụ

án ra xét xử”, cần thiết phải tiến hành hoạt động điều tra của CQĐT Vì vậy,

Điều tra là khâu đột phá, là giai đoạn đầu giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình tố tụng hình sự v.v Có thể nói, những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, lam oan người vô tội, v.v , thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra v.v… Vị trí quan trọng của hoạt động điều tra v.v , đối với công tác xét xử không chỉ giới hạn ở số lượng và chất lượng chứng cứ mà CQĐT có thể cung cấp cho toà án, mà thậm chí trong nhiều trường hợp, sự nhận định, đánh giá tội phạm của cơ quan điều tra và của VKS còn quy định cả giới hạn xét xử [5, tr.156]

Có thể khẳng định: hoạt động điều tra của cơ quan điều tra là hoạt động không thể thiếu được trong tố tụng hình sự Toà án muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, CQĐT phải thu thập được những chứng

cứ cơ bản, bao gồm cả những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những chứng cứ xác định tình tiết nặng cũng như những chứng cứ xác định tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can Hay nói cách khác, để giải quyết được vụ án hình sự thì phải có đủ chứng cứ xác định những tình tiết của vụ án hình sự, mà những chứng cứ này phải được thu thập bởi các CQĐT

Trang 38

Từ những điều đã trình bày ở trên, có thể thấy vị trí quan trọng của CQĐT trong bộ máy nhà nước nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói riêng

* Nhiê ̣m vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

Cơ quan điều tra có chức năng điều t ra trong tố tu ̣ng hình sự Trong phạm vi, chức năng của mình , Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các

tô ̣i pha ̣m, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy

đi ̣nh để xác đi ̣nh tô ̣i pha ̣m và người thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i , lâ ̣p hồ sơ đề nghị truy tố ; tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp du ̣ng các biê ̣n pháp khắc phu ̣c, ngăn ngừa

Cơ quan điều tra có những nhiê ̣m vụ, quyền hạn cụ thể sau:

Khởi tố vu ̣ án và khởi tố bi ̣ can: Khi nhâ ̣n được tin báo về tô ̣i pha ̣m, Cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra , xác minh để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vu ̣ án Khi đủ căn cứ để xác đi ̣nh mô ̣t ngườ i đã thực hiê ̣n hành

vi pha ̣m tô ̣i thì Cơ quan điều tra ra quyết đi ̣nh khởi tố bi ̣ can

Tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng điều tra : Trong giai đoa ̣n điều tra , Cơ quan điều tra được phép tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng điều tra theo quy đi ̣nh của phá p luâ ̣t để phát hiê ̣n, thu thâ ̣p, kiểm tra chứng cứ như hỏi cung bi ̣ can, lấy lời khai người làm chứng, khám xét…

Được áp dụng , thay đổi hoă ̣c hủy bỏ các biê ̣n pháp cưỡng chế tố tu ̣ng Trong các trường hợp cần thiết , Cơ quan điều tra được phép áp du ̣ng các biê ̣n pháp cưỡng chế tố tu ̣ng Đó là biê ̣n pháp ngăn chă ̣n (bắt ta ̣m giam , tạm giữ); biê ̣n pháp cưỡng chế tố tu ̣ng nhằm thu thâ ̣p chứng cứ (khám xét , thu giữ…); biê ̣n pháp bảo đảm cho điều tra , truy tố, xét xử, thi hành án khác (kê biê ̣n tài sản , áp giải, dẫn giải…) Cơ quan điều tra được chủ đô ̣ng trong viê ̣c

ra các quyết đi ̣nh áp du ̣ng , thay đổi, hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế tố tụng Trong mô ̣t số trường hợp luâ ̣t đi ̣nh Cơ quan điều tra khi áp du ̣ng các biê ̣n pháp cưỡng chế tố tụng phải được Viện kiểm sát phê chuẩn Quy đi ̣nh này

Trang 39

nhằm bảo đảm cho các biê ̣n pháp cưỡng chế tố tu ̣ng được áp du ̣ng đúng đắn ,

có căn cứ, tránh vi phạm pháp luâ ̣t và xâm pha ̣m đến quyền lợ i ích hợp pháp của công dân

Ra những quyết đi ̣nh tố tu ̣ng cần thiết để giải quyết vu ̣ án : Sau khi điều tra, nếu thấy đủ chứng cứ để xác đi ̣nh tô ̣i pha ̣m và người pha ̣m tô ̣i , Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố Trong những trường hợp

có căn cứ do luật định , Cơ quan điều tra ra quyết đi ̣nh ta ̣m đình chỉ hoă ̣c đình chỉ vụ án Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn được ra mô ̣t số các quyết đi ̣nh khác như quyết đi ̣nh phu ̣c hồi điều tra , quyết đi ̣nh truy nã bi ̣ can , quyết đi ̣nh trưng cầu giám đi ̣nh…

Cơ quan điều tra có nhiệm vụ giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội xã hội chủ nghĩa

2.1.2 Viện kiểm sát

* Tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát

Luật tổ chức VKSND ban hành ngày 02/4/2002 quy định: Hệ thống VKSND gồm có:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các Viện kiểm sát quân sự

Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành VKSND do Viện trưởng lãnh đạo

Viện trưởng VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKS cấp trên, Viện trưởng VKSND địa phương Viện trưởng VKS quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao [37, Điều 30]

Trang 40

Mặt khác, VKSND phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước

cơ quan quyền lực nhà nước Viện trưởng VKSND tối cao chịu trách nhiệm

và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội

và Chủ tịch nước Viện trưởng VKSND địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân

* Nhiệm vụ và quyền hạn của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định:

VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể và các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân Trong phạm vi chức năng của mình, VKS còn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc phòng ngừa tội phạm và giáo dục pháp luật VKS tham gia vào tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự [37, Điều 1]

Trong giai đoạn khởi tố vụ án, VKS thực hành quyền công tố , kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự , bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đề phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ

và hợp pháp VKS có quyền tự mình khởi tố vụ án trong trường hợp luật định; có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố không có căn cứ của CQĐT và các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố; kháng nghị quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ của Hội đồng xét xử

Trong giai đoạn điều tra, VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm việc

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Kết  quả thụ  lý, giải  quyết  tố  giác, tin  báo  về  tội phạm  và - Mối quan hệ giữa điều tra và công tố - qua thực tiễn thành phố Hải Phòng Luận văn ThS. Luật
Bảng 3.1 Kết quả thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và (Trang 6)
Bảng 3.2. Kết quả khởi tố vụ án của CQĐT và VKS trên địa bàn Hải Phòng - Mối quan hệ giữa điều tra và công tố - qua thực tiễn thành phố Hải Phòng Luận văn ThS. Luật
Bảng 3.2. Kết quả khởi tố vụ án của CQĐT và VKS trên địa bàn Hải Phòng (Trang 66)
Bảng 3.3. Kết quả công tác áp dụng các biện pháp ngăn chặn của VKS và - Mối quan hệ giữa điều tra và công tố - qua thực tiễn thành phố Hải Phòng Luận văn ThS. Luật
Bảng 3.3. Kết quả công tác áp dụng các biện pháp ngăn chặn của VKS và (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w