1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

135 903 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 616,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả n

Trang 1

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thanh Thúy người đã

tận tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các thầy cô Bộmôn Tâm lí giáo dục Trường Đại học Hùng Vương đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôihoàn thành nhiệm vụ học tập

Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình ,bạn bè và đồng nghiệp luôn bên tôiđộng viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn,song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mong các thầy, cô giáo, bạn bè,đồng nghiệp đóng góp ý kiến

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hiền

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 6

MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 6

1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1.Một số công trình nghiên cứu về tự học theo hướng tiếp cận NL ở nước ngoài 6

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tự học theo tiếp cận NL ở Việt Nam 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 12

1.2.1 Hoạt động tự học 12

1.2.2 Khái niệm sinh viên 20

1.2.3 Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Sư phạm 20

1.3 Cấu trúc tâm lí và quy trình hình thành năng lực tự học 21

1.3.1 Cơ chế và quy trình hình thành năng lực tự học 21

1.3.2 Các loại hình tự học của sinh viên 22

1.4 Lý luận về tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực 25

1.4.1 Năng lực và mô hình cấu trúc năng lực 25

1.4.2 Đặc điểm của dạy học theo tiếp cận năng lực 30

1.4.3 Tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận NL 32

1.4.4 Tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận NL 37

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực 43

1.5.1 Các yếu tố bên trong 43

1.5.2.Các yếu tố bên ngoài 45

Tiểu kết chương 1 47

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG 48

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 48

Trang 4

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 48

2.1.2 Giới thiệu về quá trình tiến hành nghiên cứu thực trạng tổ chức tự học môn Tâm lý học theo tiếp cận năng lực cho sinh viên trường Đại học Hùng Vương 49

2.2 Kết quả khảo sát 50

2.2.1 Thực trạng hoạt động tự học môn Tâm lí học của SV Trường Đại học Hùng Vương 50

2.2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động dạy họcmôn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực ở trường Đại học Hùng Vương ( Khảo sát giảng viên) 70

Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG 78

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực cho sinh viên Trường Đại học Hùng Vương 78

3.1.1.Quán triệt các nhiệm vụ nghiên cứu của môn Tâm lí học 78

3.1.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức của người dạy và vai trò tự học của người học đối với môn Tâm lí học 78

3.1.3 Đảm bảo tính toàn diện 79

3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 79

3.1.5 Đảm bảo tính hiệu quả và khả thi 80

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 81

3.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học cho sinh viên theo tiếp cận năng lực 81

3.2.1 Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận NL cho SV Sư phạmTrường Đại học Hùng Vương 81

3.2.2.Vận dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm hình thành năng lực tự học cho sinh viên 86

3.2.3 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực hành theo tiếp cận NL(Đã thiết kế được 19 bài tập tình huống) 96

Trang 5

3.2.4 Hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch tự học một cách khoa học 97

3.2.5 Tăng cường hình thức Xemina trong tổ chức tự học cho sinh viên 100

3.2.6 Tăng cường hình thức học tập giải các bài tập tình huống liên quan đến việc hình thành các năng lực DH, GD 101

3.3 Thực nghiệm sư phạm tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực cho SV Trường Đại học Hùng Vương 103

3.3.1 Khái quát về thực nghiệm 103

3.3.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 107

3.3.3 Kết luận chung về thực nghiệm 119

Tiểu kết chương 3 121

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Nhận thức của sinh viên về tự học 50

Bảng 2.2 Nhận thức về mức độ cần thiết đối với việc học tập môn Tâm lí học của sinh viên 51

Bảng 2.3 Nhận thức về mục đích, ý nghĩa của hoạt động tự học môn Tâm lí học .52 Bảng 2.4 Nguồn thông tin để tự học môn Tâm lí học 53

Bảng 2.5 Phương pháp tự học môn Tâm lí học 54

Bảng 2.6 Kĩ năng đọc tài liệu của sinh viên 55

Bảng 2.7.Kĩ năng nghe giảng 57

Bảng 2.8 Kĩ năng ghi chép 58

Bảng 2.9 Kĩ năng sơ đồ hóa bài học 60

Bảng 2.10 Kĩ năng làm việc nhóm 61

Bảng 2.11 Kĩ năng giải quyết vấn đề 63

Bảng 2.12 Kĩ năng Xemina 64

Bảng 2.13 Kĩ năng giải bài tập thực hành 65

Bảng 2.14 Thực trạng tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực 67

Bảng 2.15 Những khó khăn mà SV gặp phải khi tự học môn Tâm lí học 69

Bảng 2.16 Nhận thức về dạy học theo tiếp cận năng lực 70

Bảng 2.17 Nhận thức về tự học theo tiếp cận năng lực 71

Bảng 2.18.Nhận thức về tầm quan trọng của tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận năng lực 71

Bảng 2.19.Các biện pháp phát triển năng lực tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực 74

Bảng 2.20 Những khó khăn mà GV gặp phải khi tổ chức tự học theo tiếp cận năng lực 75

Bảng 3.1: Thống kê kết quả điểm kiểm tra trình độ ban đầu môn Tâm lí học 107

Bảng 3.2: Kết quả phân phối tần suất lũy tích điểm kiểm tra đầu vào môn Tâm lí học 107

Bảng 3.3: Kết quả điểm kiểm tra đầu vào môn Tâm lí học của lớp TN và ĐC theo mức độ nhận thức 107

Trang 7

Bảng 3.4: Phân phối các tham số đặc trưng kết quả kiểm tra đầu vào môn Tâm lí học 108

Bảng 3.5 Phương pháp xây dựng kế hoạch tự học môn Tâm lí học của SV ( Trước thực nghiệm) 110

Bảng 3.6 Phương pháp xây dựng kế hoạch tự học môn Tâm lí học của SV ( Sau thực nghiệm) 110

Bảng 3.7.Phương pháp tự học của SV 112

Bảng 3.8 Kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên 113

Bảng 3.9 Hứng thú và tính tích cực tự học môn Tâm lí học của sinh viên 115

Bảng 3.10: Bảng thống kê kết quả điểm kiểm tra hết học phần môn Tâm lí học 116

Bảng 3.11: Bảng phân phối tần suất lũy tích điểm kiểm tra hết học phần môn Tâm lí học 117

Bảng 3.12: Kết quả điểm kiểm tra hết học phần môn Tâm lí học của các lớp TN và ĐC theo mức độ nhận thức 117

Bảng 3.13: Phân phối các tham số đặc trưng kết quả kiểm tra hết học phần môn Tâm lí học 118

Biểu đồ 3.1: Kết quả điểm kiểm tra đầu vào môn Tâm lí học của lớp TN và ĐC theo mức độ nhận thức 109

Biểu đồ 3.2 Phương pháp xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên 112

Biểu đồ 3.3 Phương pháp tự học của SV ( Sau khi TN) 113

Biểu đồ 3.4: Kết quả điểm kiểm tra hết học phần môn tâm lí học của các lớp TN và ĐC theo mức độ nhận thức 118

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một nền văn minh tri thức của thế kỷ XXI, thế kỷ

mà sự tiến bộ không ngừng của khoa học- công nghệ với những bước nhảy vượt bậcmột năm bằng hàng thế kỷ trước đó, thời kỳ của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốctế…để thích ứng với bối cảnh lịch sử mới, đòi hỏi mọi người ở mọi quốc gia, dântộc, trong mỗi ngành nghề phải có kiến thức sâu rộng, tư duy khoa học khái quát vànăng lực tự đào tạo

Hòa mình vào làn sóng phát triển mạnh mẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coitrọng công tác Giáo dục- Đào tạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNH-HĐH đất nước Điều đó được thể hiện trong nhiều chính sách quan trọng của Đảng

và Nhà nước ta Báo cáo chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - ĐảngCộng sản Việt Nam đã khẳng định các nguồn lực tác động đến sự phát triển của xãhội ta trong giai đoạn hiện nay gồm: Nguồn lực con người; nguồn tài nguyên thiênnhiên; cơ sở vật chất kỹ thuật; các nguồn lực ngoài nước Trong các nguồn lực đó,Đảng ta khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất và đóng vaitrò then chốt Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy sáng tạo, có ýchí và có trí tuệ, biết sử dụng và vận dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại vớinhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng góp phần tác động vào quá trình đổi mớiđất nước

Để phát huy nguồn lực con người, dạy học được xem là con đường giáo dục

cơ bản nhất để thực hiện mục đích của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó tự học

là phương thức cơ bản để người học có được những hệ thống tri thức phong phú vàthiết thực Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, đócũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, được thể hiện qua các câuthành ngữ, tục ngữ "Học một, biết mười", "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn",

"Học thầy không tày học bạn" Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng lên khitạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quátrình tự giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã đượcnhân dân ta luôn coi trọng

Trang 9

Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"; " đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào tự học, tự đào tạo "; " tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh".

Như vậy, đứng trước bối cảnh của thời đại đặt ra nhiệm vụ dạy học hiện nay

là: Dạy cho thanh niên học nắm lấy kiến thức một cách tự lực Như vậy, rõ ràng là

tự học, là đòi hỏi tất yếu khách quan không thể thiếu được trong quá trình học tập [9,56].Phải tạo cho người học có thói quen tự học thường xuyên, tự học suốt đời để

đáp ứng những đòi hỏi của công việc trong tương lai

Dạy học theo tiếp cận năng lực ra đời vào thập niên 1970 tại các nướcphương Tây như một làn gió mới tươi mát làm thay đổi cách nhìn nhận và phươngpháp đào tạo mới đáp ứng yêu cầu của xã hội Tiếp cận năng lực có những ưu điểmnhư sau:

- Cho phép cá nhân hóa người học: Trên cơ sở mô hình năng lực, người học sẽ

bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của mình

- Chú trọng vào kết quả ( outcomes) đầu ra

- Phương pháp đào tạo linh hoạt phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của cá nhân

- Xác định tiêu chuẩn đo lường khách quan kết quả của những năng lực cầnthiết để tạo ra kết quả này

Hiện nay, việc chuyển hình thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ thìviệc tự học, tự nghiên cứu của SV được coi là nhân tố quan trọng, quyết định việcđẩy mạnh chất lượng đào tạo của trường Vì vậy, một trong những hoạt động cầnthay đổi mạnh mẽ nhất chính là hoạt động tự học Tổ chức hoạt động tự học làm saođem lại cho SV những năng lực và kĩ năng nền tảng đáp ứng yêu cầu đào tạo, qua

đó nâng cao khả năng tự trau rồi kiến thức, học suốt đời, nhất là để các em tồn tạiđược trong thế giới việc làm sau này

Thực tế hoạt động dạy và học môn Tâm lí học ở Trường Đại học HùngVương trong những năm vừa qua đã có nhiều thay đổi tích cực.Tuy nhiên vẫn còn

Trang 10

rất nhiều hạn chế:Việc tổ chức tự học cho SV của GV mới chỉ dừng lại ở mức độđộng viên, khuyến khích, nhắc nhở chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu, hướng dẫn cácbiện pháp tự học để đạt được kết quả cao Điều này đã làm hạn chế rất nhiều đếnchất lượng học tập, SV ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu của cơ sở đào tạo,phải mất một thời gian tự đào tạo để rèn luyện bổ sung các kĩ năng hành nghề, kĩnăng sư phạm.

Xuất phát từ những cơ sở nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tổchức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực cho sinh viên TrườngĐại học Hùng Vương”

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng cách tiếp cận năng lực vào tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí họccho SV Trường Đại học Hùng Vương nhằm phát triển năng lực tự học cho SV,góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo, đồng thời tạo ra nguồn nhân lực chủ động, sángtạo, có khả năng thích ứng trong cuộc sống hiện đại

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động học tập môn Tâm lí học của SV Trường Đạihọc Hùng Vương

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí họctheo tiếp cận năng lực cho SV Trường Đại học Hùng Vương

4.Giả thuyết nghiên cứu:

Nếu đề xuất được những biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm líhọctheo tiếp cận năng lực phù hợp với đặc điểm môn học và trình độ của SV sẽ pháttriển năng lực tự học cho SV, hình thành năng lực tương ứng với nghề một cáchnhanh chóng và bền vững

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức tự học cho SV theo tiếp cận năng lực 5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng tự học và thực trạng tổ chức tự học môn Tâm líhọc theo tiếp cận năng lực cho SV Trường Đại học Hùng Vương

Trang 11

5.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí họctheo tiếp cận năng lựccho SV Trường Đại học Hùng Vương đồng thời thực nghiệm

sư phạm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của biện pháp

6 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các biện

pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học cho SV Trường Đại học HùngVương theo tiếp cận năng lực và tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm chứng một

số biện pháp trong tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực

- Khách thể điều tra:+ 110SV thuộc 4 khoa trong trường Đại học Hùng

Vương, bao gồm các khoa: Khoa Giáo dục tiểu học và mầm non, Khoa Xã hội vàNhân văn, Khoa Khoa học tự nhiên, Khoa Ngoại ngữ

+ 10 GV của Bộ môn Tâm lý giáo dục Trường Đại học Hùng Vương

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp phân tích,tổng hợp, hệ thống hóa; Phương pháp minh họa; Phương pháp mô hình hóa để xâydựng cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận năng lực

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát các hoạt động tự học của sinh viêntrong quá trình học tập môn Tâm lí học

7.2.2 Phương pháp điều tra viết: Sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin về nhữngvấn đề có liên quan đến tổ chức tự học của sinh viên Trường Đại học Hùng Vươngtheo tiếp cận năng lực

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các giảng viêngiảng dạy môn Tâm lí học để có thêm thông tin tin cậy, đảm bảo tính khách quancho các kết quả nghiên cứu Đặc biệt xin ý kiến đóng góp cho những đề xuất biệnpháp nhằm tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học có hiệu quả, xây dựng bài tậptheo tiếp cận năng lực

Trang 12

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi

và hiệu quả của các biện pháp tổ chức hoạt động tự môn Tâm lí học theo tiếp cậnnăng lực cho SV Trường Đại học Hùng Vương

7.2 6 Nhóm phương pháp hỗ trợ:Sử dụng phương pháp thống kê toán học, chươngtrình phần mềm SPSS và Exel để xử lý số liệu nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quảkhảo sát và thực nghiệm

8 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động tự môn Tâm lí học cho SV

theo tiếp cận năng lực

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động tự học và thực trạng tự học theo

tiếp cận năng lực môn Tâm lí học của SV Trường Đại học Hùng Vương

Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động tự môn Tâm lí học theo tiếp cận

năng lực cho SV Trường Đại học Hùng Vương

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1.Một số công trình nghiên cứu về tự học theo hướng tiếp cận NL ở nước ngoài.

Tự học là một vấn đề được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhauquan tâm nghiên cứu, đặc biệt là các nhà khoa học sư phạm Ngay từ thời cổ đại,vấn đề tự học đã được các nhà giáo dục quan tâm.Ở phương Đông, Khổng Tử( 551-479TCN) nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại rất coi trọng và đề caovai trò tự học Trong dạy học ông luôn đòi hỏi học trò phải tích cực suy nghĩ, phảihuy động sự chủ động sáng tạo trong học tập Ông đã từng nói: “ Bất phẫn, bất khả,bất phì, bất phát Cử nhất ngung tam dĩ bất ngung phản, tắc bất phục dã” có nghĩalà: Kẻ nào không tức giận vì không muốn biết thì không cho hiểu thông; không cốgắng bày tỏ ý kiến thì chẳng giúp cho phát triển được Một vật mà có bốn góc chỉ

cho một góc mà không suy ra ba góc còn lại thì chẳng dạy cho[24, Tr20].Như vậy,

theo Khổng Tử thì thầy giáo chỉ giú học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác

thì học trò phải tự tìm ra Ở phương Tây, Socrat ( 469- 399 TCN) cho rằng:Kiến thức là nghệ thuật của sự ham thích và ông khẳng định ông ham thích sự thông thái.

Muốn học tập phải xuất phát từ chính bản thân, phải có nhu cầu và phải tự học Câu

châm ngôn nổi tiếng Hãy tự biết mình [24, Tr8] của ông là một định hướng có giá

trị to lớn trong giáo dục mọi thời đại, con người phải biết mình đang có những gì,cần có những gì mà tìm tòi, khắc phục, bù đắp, bổ sung

Khi giáo dục trở thành một khoa học thực sự và người đặt nền móng cho sự

ra đời và phát triển của nhà trường hiện đại chính là nhà sư phạm vĩ đại người Tiệp

Khắc: Jan Amos Komenxki (1592- 1670), ông đã từng khẳng định “Không có khát vọng học tập, không có khát vọng suy nghĩ thì không thể trở thành tài năng” [37, Tr 6] Đến thế kỷ XVIII - XIX nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J.Rutxo (1712-

1778), IG.Petxtalogi (1746- 1827) và K.Đ.Usinxki (1824- 1870) đã nhấn mạnh đến

Trang 14

tính tích cực học tập và tính độc lập sáng tạo của học sinh Conxtantin ĐmitrevicUsinxki (1824- 1890)…đều nhấn mạnh tới cách thức học tập bằng sự tích cực tìmtòi, khám phá của bản thân giành lấy tri thức Những tư tưởng đó tiếp tục được cácnhà giáo dục sau này phát triển thành các phương pháp dạy học tích cực, phát huy

tính tích cực chủ động của người học Trong tác phẩm Tự học như thế nào của

N.A.Rubakin ( 1862- 1946) được Nguyễn Đình Khôi dịch, nhấn mạnh vai trò vàthái độ tích cực tự học của học sinh Muốn học có hiệu quả thì nhà giáo dục phảigiúp cho người học có động cơ đúng đắn trong tự học Rubakin kết luận rằng: hãymạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời đó chính là phươngpháp tự học Tuy nhiên chỉ có động cơ thôi là chưa đủ, mà người học phải có kỹnăng tự học [ 36]

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học- kỹ thuật vào những năm cuối của thế

kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã tạo ra áp lực đòi hỏi phải gia tăng năng suất lao động.Tri thức nhân loại không ngừng tăng lên mạnh mẽ Vì vậy, người ta nhận ra rằngviệc giảng dạy theo kiểu thầy truyền đạt tri thức tới người học sẽ không đem lại kếtquả cao, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội.Trước sức ép về nguồn lao độngbuộc các nhà giáo dục phải suy nghĩ về cách dạy và cách học như thế nào sao chohiệu quả đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động Thầy giáo bây giờ phải đóng vaitrò người tổ chức, hướng dẫn học sinh cách học hiệu quả DH phải dựa trên sự phântích nghề để khám phá ra những quy tắc, những cách thức tốt nhất giúp cho việc họcngày càng hiệu quả Mọi người nhất trí và chú trọng tập trung vào chủ đề chính: “Học tập và nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ” (Weinberger 1998trang 78).Chính vì vậy mà mô hình năng lực đã ra đời để thực hiện nhiệm vụ trên

Đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX ở Bắc Mĩ, mô hình năng lực được phát triểnmạnh mẽ, đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện được xem như là phươngtiện gắn kết những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo

Đào tạo theo cách này, không dùng thời gian quy định cho khóa học mà dùng lượng

kiến thức, kỹ năng theo tiêu chuẩn chuyên môn đã được quy định(standard ofProfession) cho một nghề làm đơn vị đo Thời gian này, hầu hết các nhà nghiên cứu ở

Trang 15

Bắc Mĩ đã thừa nhận rằng: Giáo dục đào tạo dựa trên năng lực có gốc rễtrong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên có đặc điểm là tạo ra các sản phẩm giống nhau theo khuân mẫu đã định, hơn nữa chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có nét độc đáo, dễ định ra chuẩn mực và đào tạo theo những chuẩn mực đón[56].

Sự ra đời và phát triển của nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật cùng với sựphát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại nên tạo thành một guồngquay là làm thế nào để tạo ra sản phẩm là nguồn nhân lực có chất lượng cao.Vì vậy,người ta nhận thấy rằng đào tạo truyền thống theo hệ bài- lớp; khóa học niên chếnhiều khi đã không đáp ứng được nhu cầu của xã hội Nhiều nước, nhiều ngành

nghề đã thực hiện nguyên tắc Cần gì học nấy không nhất thiết phải học hoàn chỉnh

một nghề Người học có nhu cầu đến đâu thì học đến đó không quy định cứng nhắc

về thời gian, hình thức học tập mềm dẻo và linh hoạt

Các mô hình NL đã được phát triển rộng khắp trên thế giới với Hệ thống chấtlượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (Vocatioal – NVQS) ở Anh và xứ Wales.Khung chất lượng quốc gia của New(NewZealand Qualifications Framework), cáctiêu chuẩn năng lực được tán thành, khẳng định bởi Hội đồng đào tạo quốc giaAustralia về đào tạo (Training Board- NTB), và Hội đồng thư ký về những kỹ năngcần thiết phải đạt được ( The Secretary is Commission on Achieving Necessary –)

và những tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia ( The National Skill Standards) ở Mỹ, các bộ

NL này được coi là các bộ năng lực kinh điển Nổi bật hơn là cả là bộ năng lựcSCANS của Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được Ở đó người

ta đưa ra 5 nhóm NL cần thiết mà người lao động ở thế kỷ XXI phải có và nhàtrường phải tạo ra ở người học bao gồm:

- Năng lực tổ chức các nguồn lực (năng lực lập kế hoạch và phân bổ thờigian, tài chính, nguyên vật liệu, phương tiện và nhân lực)

- Năng lực hợp tác trong lao động

- Năng lực khai thác và sử dụng thông tin

- Năng lực thông hiểu những mối quan hệ nội bộ

- Năng lực làm việc trong môi trường đa dạng về kỹ thuật [67], [68]

Trang 16

Nghiên cứu tự học, chúng tôi rút ra một số nhận xét: Tự học là cần thiết đốivới tất cả mọi người, như một chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ XXI- thế giới của nềnkinh tế tri thức, là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.Vấn đề

tự học đã được các học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau như:Phát huy tính tích cực học tập ở người học, sử dụng kỹ thuật DH, ápdụng công nghệ thông tin, DH theo dự án, tổ chức tự học theo tiếp cận NL …

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tự học theo tiếp cận NL ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về việc giáo dục tinh thầntự giáchọc tập đã được đề cập đến khá nhiều

Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất, một nhà giáo, một nhà sưphạm thực thụ, một tấm gương sáng về mọi mặt, trong đó có tấm gương về tự học.Người đã dạy: Phải học suốt đời ngay cả khi đã đi làm việc [10].Với phương châm

“ Về cách học phải lấy tự học làm gốc”, “ Về cách dạy thì phải tránh lối dạy nhồi sọ”,“ Về học tập tránh lối học vẹt” [ 33,44].

Vào những năm 80, nhóm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đãhoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục về hệ đào tạo sư phạm vừa học, vừalàm và đã đưa ra phương pháp dạy học hiện đại phù hợp với thực tiễn nước ta hiện

nay là dạy- tự học [39].

Bằng kinh nghiệm tự học của bản thân và những kết quả nghiên cứu cả trênphương diện lý luận lẫn thực tiễn của GS.TSKH Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, tácgiả đã phát hiện nhiều vấn đề về tự học đáng để chúng ta quan tâm như: Tự học làkhả năng vốn có của mỗi con người, khả năng này tiềm ẩn trong mỗi con người, cácdạng tự học như tự học không có thầy hoặc có thầy nhưng không giáp mặt thầy –

“Tự học có hướng dẫn qua tài liệu in”, tác giả đã thử nghiệm quy trình đào tạo giáo viên theo hướng này: “Đào tạo giáo viên theo hướng vừa học vừa tập làm giáo viên”, các điều kiện để tự học có hướng dẫn thành công và những khó khăn, trở

ngại khi tự học có hướng dẫn và những biện pháp khắc phục… Tuy nhiên, trong cáccông trình nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đầu tư nghiên cứu dạng “tự học” tronghoạt động “từ xa” – học mà không có thầy hướng dẫn trực tiếp Trong khi đó, đốitượng học này ở nước ta còn rất ít so với đối tượng học có sự hướng dẫn trực tiếpcủa thầy giáo

Trang 17

Tác giả Lê Khánh Bằng khi nghiên cứu về phương pháp DH ở đại học đã đềcập đến việc tổ chức công tác tự học cho học sinh Tác giả đã đi sâu vào một số biệnpháp cụ thể như: Nghe giảng, ghi chép, đọc sách, giúp đỡ riêng, nghiên cứu vạch kếhoạch và tổ chức lao động trí óc cho học sinh.

Tác giả Trần Bá Hoành đã nhấn mạnh ý nghĩa của kỹ năng tự học trong đào

tạo sinh viên: “Nói tới phương pháp học thì cốt lõi phải nêu được kỹ năng học tập Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện đúng và giải quyết hợp lý những vấn đề đặt ra… tác dụng chỉ đạo học của hoạt động dạy bị hạn chế do người dạy thiếu hiểu biết sâu sắc về hoạt động học Vì những lý lẽ trên, dạy cách học phải trở thành một bộ phận quan trọng trong đào tạo của trường Sư phạm” [21].

Một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học thì tínhtích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vị trí rất quan trọngđối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học Các tác giả Nguyễn Ngọc Bảo,

Hà Thị Đức, Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên… trong các công trình nghiên cứuđều cho rằng: Kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt nhằm giúp người thầy điềukhiển, điều chỉnh hoạt động dạy của mình, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học củatrò, đồng thời giúp người học tự điều khiển hoạt động tự học, nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học

Nghiên cứu về kĩ năng tự học của SV đã được các tác giả Hà Thị Đức, TrịnhQuang Từ, Nguyễn Thị Tính…công bố trong các công trình nghiên cứu của mình.Các tác giả đã phân tích các kĩ năng tự học như: Kĩ năng lập kế hoạch tự học, kĩnăng nghe và ghichép bài giảng, kĩ năng đọc sách, kĩ năng thảo luận…Song các kĩnăng tự học của SV chưa được nghiên cứu đầy đủ, cụ thể và hệ thống ở từng giaiđoạn, từng công đoạn của hoạt động học tập - nhận thức mang tính nghiên cứu của

SV trong hoạt động dạy học Vì thế, chưa chỉ ra cách triển khai hoạt động DH ở trênlớp nhằm thúc đẩy hoạt động tự học và hoàn thiện các kĩ năng tương ứng

Học độc lập là khái niệm mà tác giả Đặng Thành Hưng đã đề cập đến trong

công trình nghiên cứu của mình Học độc lập là nhu cầu của người học ngay từ khi

Trang 18

còn ngồi trên ghế nhà trường và nếu nhu cầu này phát triển tốt thì độc lập này của người học sẽ là con đường bảo đảm nhất, hiệu quả nhất việc học thường xuyên, học suốt đời của học [12] [13] [14] [15].

Luận văn tiến sĩ của Nguyễn Thị Tính về đề tài “ Các biện pháp tổ chức tự học môn Giáo dục học cho SV các trường ĐHSP”, đưa ra kết luận: Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao Tựhọc môn học mang tính đặc thù của bộ môn Nghiệp vụ sư phạm, vì vậy tự học môn học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và hình thành tình cảm, thái độ nghề nghiệp của SV dưới vai trò chủ đạo của cán bộ giảng dạy môn học Tự học có thể diễn ra ở trên lớp, hoặc trong quá trình tự học ở nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa.Ba khâu này có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau không thể tách rời Nó bổ sung kết quả cho nhau [35].

Trong luận văn tiến sĩ “Biện pháp hoàn thiện năng lực tự học môn học cho

SV đại học sư phạm theo quan điểm Sư phạm tương tác”, tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh cho rằng: Tự học của sinh viên là bộ phận cốt lõi của học, là một thành phần của DH.Tự học của SV ở trên lớp là quá trình SV tự lực giải quyết nhiệm vụ học tập

do GV đề ra trong các tình huống dạy học ở trên lớp Tự học phản ánh tính chủ động, tích cực, độc lập và tự chủ nghiên cứu của SV trong quá trình học tập dưới

sự hướng dẫn của GV [32].

Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Xuân Tiến với đề tài “ Tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục học cho SV trường đại học Đồng Nai theo tiếp cận năng lực thực hiện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ’ Trong nghiên cứu này tác giả đã trình

bày các vấn đề lí luận và thực tiễn cũng như những biện pháp về vấn đề tổ chức tựhọc cho SV Sư phạm Đại học Đồng Nai trong học môn Giáo dục học theo hướngtiếp cận năng lực thực hiện [12]

Mới đây năm 2012, tác giả Nguyễn Đức Giang đã nghiên cứu luận văn thạc

sĩ“Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trường ĐHSP Hà Nội theo hướng tiếp cận năng lực”, tác giả đã kết luận: Tự học theo NL là phương thức tự học dựa chủ yếu vào tiêu chuẩn quy định cho một nghề và tiêu chuẩn dạy học theo tiêu chuẩn

Trang 19

nghề nghiệp đó Các tiêu chuẩn đầu ra được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình tự học,lập kế hoạch, tổ chức tự học và đánh giá kết quả tự học [106].

Những bài báo viết về năng lực đăng trên tạp chí giáo dục trong thời gian gần

đây có thể kể đến là: Tác giả Trịnh Xuân Thu với 2 bài viết là: “Đào tạo theo năng lực thực hiện- cơ sở cấu trúc học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo học chế tín chỉ” và “ Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên công nghệ theo năng lực thực hiện”; Tác giả Lê Thùy Linh với “ Thiết kế mục tiêu dạy học môn Giáo dục học theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện”; Tạp chí Quản lý giáo dục có đăng bài viết

“ Vận dụng mô hình năng lực trong phát triển chương trình đào tạo đại học chính quy ngành Quản lý giáo dục” của PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền.

Tóm lại, các nhà Giáo dục học trong và ngoài nước đều xem tự học của SVnhư là một thành phần không thể thiếu được của hoạt động học tập, một bộ phậncủa hoạt động DH mà đỉnh cao của tự học là tự tìm tòi, tự khám phá của SV Cáctác giả đã đưa ra nhiều nguyên tắc, biện pháp, cách tổ chức tự học khá đa dạng và

đã được áp dụng trong thực tiễn dạy học mang lại những kết quả nhất định Tuynhiên, ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về tổ chức tự học theo tiếp cận NL

ở từng môn học cụ thể còn là một vấn đề mới, thiếu bài bản và chưa thống nhất đểthực hiện nhiệm vụ chủ yếu của trường đại học ngày nay là biến quá trình đào tạothành quá trình tự đào tạo

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Hoạt động tự học

Học tập ( tiếng la tinh là studere - có nghĩa là cố gắng) Trong cuộc sống hàngngày người ta có nhiều cách học khác nhau: Cách học thứ nhất là: Học một cáchngẫu nhiên trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Ví dụ: “ Đi một ngày đàng họcmột sàng khôn” Với cách học này thì việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinhnghiệm được thực hiện thông qua những hoạt động khác nhau trong cuộc sống Kếtquả của việc học ngẫu nhiên là người học chỉ lĩnh hội những gì có liên quan trựctiếp với nhu cầu, hứng thú và các nhiệm vụ trước mắt, còn những cái khác thì bỏqua Bằng cách này, chỉ đưa lại cho người học những tri thức tiền khoa học có tínhchất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống, chỉ hình thành cho người học những nănglực thực tiễn do kinh nghiệm hàng ngày đem lại

Trang 20

Cách học thứ hai là có chủ định: có hai hình thức học có chủ định là họcchính thức và học không chính thức Học chính thức diễn ra theo chương trình, kếhoạch được hoạch định trước Đó là sự học có mục đích, có đối tượng và được điềukhiển một cách có ý thức nhằm tiếp nhận tri thức kỹ năng, kỹ xảo và hình thành cảphương pháp chiếm lĩnh chúng Hoạt động học có đối tượng là tri thức, kỹ năng, kỹxảo tương ứng với nó Mục đích của hoạt động học là chiếm lĩnh kinh nghiệm xãhội lịch sử thông qua sự tái tạo của cá nhân người học và vận dụng tri thức đó để cảitạo thực tiễn, cải tạo chính bản thân mình.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về học tập dưới các góc độ khác nhau.Học tập là sự biến đổi vững chắc trong hành vi, hoặc trong năng lực ứng xử theomột cách nào đó Sự biến đổi đó là kết quả của thực hành hoặc của hình thức thểnghiệm khác [7] Trong thực tế học tập làm thay đổi cả nhận thức, hành vi và thái

độ của người học

Nghiên cứu hoạt động học tập dưới góc độ lý thuyết hành vi, tác giả Skinerquan niệm: Học tập là quá trình lĩnh hội kiến thức mới, hoặc kỹ năng mới, sự họctập được xác định bởi những hành động mà học sinh cần phải thực hiện được, cáchhọc là một chuỗi hành động thử và sai [66] Nhưng trong thực tế học tập là hoạtđộng có đích và luôn luôn được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ nhất định…

Đứng trên quan điểm nghiên cứu cấu trúc hệ thống của quá trình dạy học vàmối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc đó, đặc biệt là nghiên cứu mối quan hệ thốngnhất biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và trò với nội dung tri thức khái niệm,

tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: Học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu

sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện [33,36] Như vậy, theo tác giả Nguyễn

Ngọc Quang , học tập là quá trình bao gồm cả hoạt động tự học

Học là hoạt động làm thay đổi kinh nghiệm cá nhân một cách bền vững và cóthể quan sát được nhờ cơ chế lĩnh hội và luyện tập

Học là công việc của người học, do người học không ai thay thế họ và chỉ có

họ mới tạo ra sự thay đổi cho chính mình vì thế mà học hàm chứa tự học

Trang 21

Nghiên cứu hoạt động tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ởđại học dựa trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học và tiếp cận hoạt động, tác

giả Lê Khánh Bằng định nghĩa: Học vềbản chất là quá trình tiếp thu và xử lí thông tin bằng các hoạt động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó mà có được tri thức, kỹ năng và thái độ mới [4,8].Theo tác giả,

học tập là quá trình bao gồm cả quá trình tiếp thu và xử lí thông tin, mục đích củaviệc học tập là nhằm biến đổi nhân cách người học

Nhìn chung, tất cả các tác giả đều có quan điểm chung về học tập là quá trìnhtiếp nhận và xử lí thông tin có định hướng, bản chất của học tập là quá trình tự giác,tích cực, độc lập, tự tiến hành các thao tác trí tuệ và thể lực Như vậy, hoạt động học

là một hoạt động có đối tượng là hệ thống tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo thôngqua sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thực hiện được nếu bản thânngười học chỉ là khách thể chủ động, chịu sự tác động sư phạm của người dạy.Muốn học có hiệu quả đòi hỏi người học phải tự tiến hành hoạt động học tập củamình bằng cả ý chí và năng lực trí tuệ,…để hướng tới làm thay đổi chính mình Nhưvậy, dù ở góc độ nào thì bản thân nó cũng chứa đựng sự tự học Tính tự giác, tínhtích cực, tính độc lập nhận thức là các yếu tố chuẩn bị về mặt tâm lí cho sự tự học

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo đã viết: Bản chất của tính tích cực độc lập nhận thức là

sự chuẩn bị về mặt tâm lí cho sự tự học Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọngcho hoạt động học tập có mục đích, có sự tự điều chỉnh và đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao…tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập cho phép học sinh tự học [3,12] Theo tác giả này cấu trúc của tính tích cực

nhận thức gồm động cơ, năng lực, tổ chức học tập và cả ý chí học tập Còn thànhphần tổ chức học tập bao gồm phương pháp suy nghĩ, phương pháp hành động, kỹnăng tổ chức và tự kiểm tra

Từ những quan niệm nêu trên, chúng tôi đi đến khái niệm về học tập như

sau: Học là quá trình người học tự giác, tích cực độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản thân sự học cũng đã chứa đựng sự tự học.

Trang 22

Khi nghiên cứu phương hướng tổ thức tổ chức tự học, tác giả Trịnh Quang

Từ cho rằng: Tự học là quátrình nỗ lực chiếm lĩnh của bản thân người học bằng các hành động của chính mình, hướng tới mục đích nhất định [40,21] Theo tác giả,

tự học là có mục đích và bằng sức lực của người học

Nghiên cứu hoạt động tự học như một hình thức tổ chức hoạt động dạy học ở

đại học, tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao

và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học

[28] Sự khác biệt về quan niệm tự học nêu trên của các tác giả là do các góc độnghiên cứu khác nhau về tự học, có tác giả nghiên cứu tự học là một hoạt động hoàntoàn độc lập không có sự trợ giúp của thầy Có tác giả lại nghiên cứu tự học là hoạtđộng trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy…Trong thực tế, tự học có thểquan niệm như là một phương pháp dạy học bởi nó liên quan trực tiếp tới cách thứcgiảng dạy của thầy và cách học tập của trò Hiệu quả của hoạt động tự học phụthuộc không nhỏ vào phương pháp dạy của giáo viên

Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng: Tự học là học với sự độc lập vàtích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó Chủ thể người học

tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc cảchân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân Tự học có thể diễn ra

ở trên lớp, chẳng hạn như giải bài tập ở trên lớp, nảy sinh thắc mắc khi nghe giáo viêngiảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích nhận xétcâu trả lời của bạn trong quá trình thảo luận…[2] [19] [28] [36] [38] [43]

Như vậy, mỗi tác giả có một cách trình bày khác nhau về tự học, nhưng

chúng ta có thể hiểu về tự học như sau: Tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động trí tuệ ( quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán…) và các hoạt động thực hành ( khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng học

Trang 23

tập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí của người học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học.

- Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự

tự học, tự học là kết qủa cuối cùng của học

- Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GV và ngay cả khikhông có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Tự học thực hiện qua nhiều bướckhác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau, xử lí thông tindựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá những thôngtin đã thu được để giải quyết các vấn đề cho nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn…Tựhọc có thể diễn ra với các hình thưc sau:

+ Tự học ở mức độ cao [43]: Hoạt động học hoàn toàn độc lập mang tínhchất nghiên cứu, không có sự hướng dẫn, điều khiển của thầy Với hình thức tự họcnày người học hoàn toàn độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình, vai tròchủ thể của người học là nhân tố trọng yếu nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

+ Tự học có sự hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo của thầy nhưng không giápmặt Tự học có hướng dẫn, ngoài tính tự chủ của người học, cần có những tác độngkhách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn để việc học tập đạt kết quả cao ( các bàigiảng trên đài truyền hình, bài học trong các tài liệu hướng dẫn của thầy và trongmáy vi tính…) Trong hình thức tự học này, đòi hỏi người học phải có tính tự giác

và tính tự lực cao, phải tuân thủ theo những chỉ dẫn của thầy Hiệu quả của hoạtđộng học tập ở hình thức tự học trên phụ thuộc vào vai trò của người hướng dẫn vàvai trò tính tích cực chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học

+ Tự học diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếpcủa thầy Với hình thức tự học này, người học có nhiều thuận lợi hơn rất nhiều sovới hai hình thức tự học ở trên Đây cũng là hướng chính mà đề tài tập trung nghiêncứu: Thông qua các biện pháp tổ chức, định hướng, điều khiển, thiết kế, chỉ đạo củathầy nhằm giúp người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học của

Trang 24

mình bằng các hoạt động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh nhằmhoàn thành các nhiệm vụ học tập Kết quả tự học của sinh viên trong hình thức tựhọc này phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và ngườihọc, trong đó vai trò hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo của thầy đóng vai trò quantrọng Yếu tố đóng vai trò quyết định là tính tích cực, tính tự giác, năng lực tự tổchức, tự điều khiển hoạt động của sinh viên Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng củangười thầy trong hình thức tự học này là phải phát huy được tính tích cực, tính tựgiác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của sinh viên, hình thànhphương pháp tự học cho sinh viên để họ có khả năng tự học, tự hoàn thành cácnhiệm vụ học tập.

Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc họcnhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập ( nhậnthức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, các hoạt động giao tiếp, các hoạtđộng thực hành, các hoạt động kiểm tra đánh giá,…) để thực hiện có hiệu quả mụcđích và nhiệm vụ học tập đề ra Hay nói một cách khác tự học là học với sự tự giác

và tích cực ở mức độ cao

Tự học chỉ thực sự diễn ra trong các tình huống sau:

+ Người học phải thực sự có nhu cầu muốn học Nhu cầu tự học phải xuấtphát từ mong muốn làm phong phú thêm sự hiểu biết của mình, để hoàn thiện nhâncách của mình

+ Tự học chỉ được thực hiện thông qua làm việc Nhiều công trình nghiêncứu đã chỉ ra rằng sinh viên chỉ có thể học bằng nghe, bằng quan sát và họ sẽ đượchọc tốt hơn nhiều nếu họ được tham gia tích cực vào quá trình học tập, nếu họ có cơhội để thể nghiệm những gì mà họ đã tiếp thu được trước đó [19,32] Dixtecvec cho

rằng: Hãy bắt buộc học sinh làm việc, làm việc có sáng kiến cá nhân,hãy dạy các

em thấy rằng không thể có ý nghĩa gì khác hơn là phải tiếp thu được cái gì đó bằng chính sức mình, dạy các em độc lập suy nghĩ tìm tòi, thi thố tài năng, phát huy những sức mạnh tiềm năng của mình [19,47].

Trang 25

+ Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề,giải quyết tìnhhuống, giải quyết các nhiệm vụ học tập.Đứng trước tình huống, đứng trước vấn đềbuộc người học phải tích cực suy nghĩ, phải tích cực hành động để tìm ra hướng giải

quyết vấn đề Tác giả Nguyễn Đức Thâm có viết: Muốn học được nhiều thì chủ yếu

là phải tự học, thầy dạy không chỉ dạy tất cả những điểm cần thiết đối với trò.Vì mỗi học sinh có một vốn tri thức riêng,có một trình độ tư duy riêng.Chỉ có tự học mới học được tất cả những điều cần học [34,145]

Trong xu thế phát triển của xã hội ngày nay, với sự tăng nhanh của khốilượng tri thức và thông tin khoa học, sự hiện đại hóa của các phương tiện kỹ thuậtdạy học đã đặt ra yêu cầu soạn thảo nội dung dạy học theo hướng ngày càng đượchiện đại hóa để cập nhật nhanh những thông tin mới của khoa học kỹ thuật Nhữngthông tin cập nhật đó không chỉ bao gồm những sự kiện mà chủ yếu là các nguyêntắc, phương pháp xử lí thông tin và hiện tượng Điều đó có nghĩa là hoạt động dạytrong nhà trường nói chung và đặc biệt trong trường đại học nói riêng cần phảihướng tới cách học, dạy phương pháp học, phương pháp làm việc, giúp sinh viênbiết cách tự nghiên cứu, tự khám phá để giải quyết các vấn đề do nhiệm vụ dạy họcđặt ra Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV là một phương pháp dạy học ởđại học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của SV, phát huy tính tíchcực, tự giác, độc lập, sang tạo của sinh viên trong quá trình nhận thức Trong quátrình tổ chức, hướng dẫn tự học, người thầy cần phải giú đỡ người học nhận thức rõ

họ phải học cái gì? Và học như thế nào? Học để làm gì?

Để làm được yêu cầu trên, trong hoạt động DH, người thầy cần phải giúpsinh viên xác định rõ các mục tiêu học tập, các nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành,hiểu được ý nghĩa của việc hoàn thành các mục tiêu học tập, từ đó xác định nộidung hoạt động học tập, hình thành các hoạt động học tập, các kỹ năng tự kiểm tra,

tự đánh giá bản thân Trong các nhiệm vụ trên nhiệm vụ hình thành hoạt động cho

sinh viên là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, tác giả Phan Trọng Ngọ viết: Hình thành hoạt động học tập cho học sinh là nhiệm vụ cốt cử của giáo viên Vấn đề này là chìa khóa dẫn đến thành công trong hoạt động dạy học Nếu hình thành được hành

Trang 26

động học tập sẽ hình thành được hoạt động học tập…Bất kỳ khái niệm khoa học nào cũng phải được hình thành như hoạt động học tập và cũng đều có thể và trở thành phương tiện để hình thành khái niệm khoa học tiếp theo [30,108].

Hoạt động học tập của SVđược thực hiện bởi một hệ thống những kĩ năng, kĩxảo nhất định Vì vậy, muốn hoạt động tự học đạt hiệu quả cao đòi hỏi người họcphải có kĩ năng tự học Môi trường học tập gồm có môi trường vật chất và môitrường tinh thần do giáo viên tạo ra Ví dụ: giáo viên có thể dùng các phương pháp

“ phá vỡ tảng băng”, “ làm nóng”, “ tấn công não”, sử dụng bài tập tình huống đểtạo hứng thú học tập cho sinh viên, kích thích tính tích cực, tính tự giác học tập của

SV, nhằm phát huy tới mức cao nhất năng lực sẵn có của họ vào việc giải quyết cácnhiệm vụ học tập đề ra Hoặc người học cũng có thể tự tạo cho mình môi trườnghọc tập phù hợp với yêu cầu nội dung môn học

Yếu tố tâm lí là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến kết quả tự học của SV đó lànhu cầu, động cơ và thái độ tích cực của SV Muốn tự học có kết quả cao đòi hỏichủ thể tự học phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu vàhứng thú học tập, phải có sự say mê khoa học, phải nhận thức rõ được mục đích củahoạt động học tập và ý thức một cách đầy đủ về việc học của mình Bên cạnh đó,người học không ngừng hoàn thiện các chức năng tâm lí nhận thức để tiến hànhhoạt động học một cách có hiệu quả dưới sự hướng dẫn và điều khiển của thầy Đó

là các quá trình cảm giác, tri giác, ghi nhớ, tư duy…Đặc biệt là quá trình ghi nhớ và

tư duy bới vì trong quá trình tự học, sinh viên phải tái hiện lại một cách chính xác,khoa học nội dung những thông tin đã tiếp nhận từ nhiều kênh thông tin khác nhau:

Từ tài liệu tự nghiên cứu, từ truyền hình, từ môi trường lớp học, từ mạng Internet…đồng thời phải có khả năng phân tích, so sánh, khái quát nội dung tri thức từ cáckênh thông tin đã nghiên cứu thành một dàn ý hay một bản đề cương tóm tắt Đểhoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượtqua những vật cản hay chướng ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được cácmục tiêu học tập đã đề ra

Trang 27

Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi người học có đầy đủ các phương tiện hỗtrợ cho hoạt động tự học, phương tiện đầu tiên phải kể đến là tài liệu giáo trình, cáctài liệu hướng dẫn tự học và các tài liệu tham khảo khác Ngoài ra còn có cácphương tiện hỗ trợ như băng hình, máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn khác.Phải có địa điểm tự học với các điều kiện cần thiết về vệ sinh học đường để hoạtđộng tự học của SV có hiệu quả Phải có đủ điều kiện cơ sở vật chất cần thiết chosinh hoạt hàng ngày của SV

1.2.2 Khái niệm sinh viên

Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La tinh ( student) có nghĩa là làmviệc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùngnghĩa tương đương với student trong tiếng Anh [45], etudiant trong tiếng Pháp vàCmgenm trong tiếng Nga Sinh viên là để chỉ những người theo học ở bậc đại học

và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông

Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ sinh viên được diễn nghĩa ra là người bước vàocuộc sống, cuộc đời Còn theo từ điển tiếng Việt, khái niệm sinh viên được dùng đểchỉ người học ở bậc đại học Theo quy chế công tác Học sinh- Sinh viên trong cáctrường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo [34] thì: Sinh viên là người đang theohọc hệ Đại học và Cao đẳng

Ta có thể hiểu: Sinh viên là những người đang học tập tại các trường Đạihọc, Cao đẳng- nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội

1.2.3 Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Sư phạm

Theo tác giả Nguyễn Thạc, Phan Thành Nghị [22], sự phát triển tự ý thức làmột trong những đặc điểm tâm lí quan trọng nhất của SV sư phạm Tự ý thức là ýthức về sự đánh giá của con người: về hành động và kết quả tác động của mình;đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức và hứng thú; về tư tưởng vàđộng cơ của hành vi; là đánh giá toàn diện chính bản thân mình và vị trí của mìnhtrong cuộc sống Tự ý thức là một hình thức có ý thức giúp SV có những hiểu biết

và thái độ đối với mình, để chủ động hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội Tự

ý thức của SV được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ vớitính tích cực của nhận thức của SV

Trang 28

Hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, niềm tin và nắm vững cácchuẩn giá trị nhân cách của người giáo viên Đặc điểm này có được là do ảnh hưởngcủa việc giảng dạy và học tập các môn khoa học, quá trình rèn luyện chuyên mônnghiệp vụ sư phạm.

Trong quá trình học tập, SV sư phạm đã tiếp thu những tri thức lí luận gắnliền với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để trở thành cô giáo tương lai Đối với

họ, học tập không những nhằm mục đích tiếp thu kiến thức thuộc chuyên ngành đàotạo mà điều quan trọng hơn, khi tốt nghiệp ra trường, họ trở thành thầy cô giáo thamgia hoạt động giảng dạy, giáo dục học sinh phổ thông bằng chính tri thức chuyênngành mà họ đã tiếp thu được ở đại học Vì vậy, ngoài việc nắm vững, thông hiểu

hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, chuyên ngành, họ còn phải học cách dạy học vàgiáo dục, hình thành phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tình cảm nghề nghiệp

Như vậy, tổ chức hoạt động tự học cho SV sư phạm là quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của thầy nhằm hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, sắp xếp các biện pháp hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người học, giúp họ phát huy tới mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình, thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ học tập đặt ra.

1.3 Cấu trúc tâm lí và quy trình hình thành năng lực tự học

1.3.1 Cơ chế và quy trình hình thành năng lực tự học

Hoạt động bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu và lợi ích, chính nó tạo ra động

cơ hoạt động Trong hoạt động tự học, SV phải nhận thức được nhu cầu và lợi íchcủa việc tự học, có động cơ Từ đó nhận định, phân tích, so sánh, tổng hợp, thốngnhất nguồn thông tin, ý tưởng, hướng giải quyết và đánh giá tự học Động cơ là cơchế tâm lí thứ nhất của tự học Sự tự giác là cơ chế tâm lí đặc thù thứ hai

Quá trình tự học có sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, đó là quátrình tác động tâm lí biện chứng, tương hỗ, tương đồng Từ đó xuất hiện tình cảm, ýchí trong việc giải quyết vấn đề, trong sự đồng cảm, hỗ trợ của các thành viên trongnhóm học tập từ đó hình thành ý thức bản thân mình Cơ chế đồng cảm là cơ chếthứ ba

Trang 29

Tâm lí con người có nhiều cấp độ và phương diện về nhận thức, tư tưởng, ýchí, tình cảm Do đó, tự học phải tạo ra sự đồng thuận, hài hòa giữa các mặt đó, tựgiác hóa quá trình đó, nghĩa là phải hiểu được vấn đề, hiểu được sự cần thiết phảikhai thác và kết hợp được các yếu tố thuận lợi

Tâm lí đám đông hay tâm lí tập thể có tính lây lan và cộng hưởng Trong quátrình tự học, cần có sự làm việc giữa nhiều người với nhau để khách quan hóa kiếnthức cá nhân Cơ chế lây lan là cơ chế tâm lí thứ tư

Từ những cơ chế tâm lí nêu trên, quy trình hình thành năng lực tự học cho SV đượcthực hiện như sau:

-Bước 1: Khơi dậy hứng thú học tập cho SV, tức là SV phải thấy được lợi ích

của việc tự học và hình thành động cơ tự học một cách đúng đắn

- Bước 2: Huấn luyện các quy trình tự học cho SV từ việc lập kế hoạch cho

đến việc đánh giá kết quả tự học Yêu cầu đặt ra cho mỗi SV là phải có sự tự giácthì việc học mới đạt kết quả tốt nhất

- Bước 3: Tổ chức rèn luyện các kỹ năng tự học cho SV Cụ thể là: Cho SV

tự học trên lớp, tự học ngoài lớp theo tổ, nhóm…

- Bước 4: Thực tập, đánh giá quá trình tự học thông qua hình thức quan sát,

theo dõi tiến độ tự học, thông qua bài tập thực hành, bài kiểm tra thường xuyên, bàitập tình huống, xeemina…

- Bước 5:Tổ chức, trao đổi, thảo luận để học hỏi, rút kinh nghệm từ các thành

viên trong nhóm

-Bước 6: Tổ chức đánh giá kết quả và tổng kết kết quả tự học.

1.3.2 Các loại hình tự học của sinh viên.

1.3.2.1.Tự học ở trên lớp của sinh viên

Tổ chức tự học trên lớp cho SV là quá trình GV lựa chọn, sắp xếp các biệnpháp dạy học nhằm hướng dẫn, điều khiển SV tự tổ chức, tự điều khiển hoạt độngnhận thức, hoạt động thực hành, hoạt động giao tiếp, hoạt động kiểm tra, đánh giá,nhằm đạt kết quả tối ưu mục đích và nhiệm vụ môn học đề ra Đây là quá trình người

GV sử dụng hệ thống các biện pháp, phương tiện, môi trường học tập, các mối quan

Trang 30

hệ trong quá trình giảng dạy ở trên lớp, nhằm phát huy cao độ tính tích cực, độc lập,

tự giác, phát huy năng lực tự học của SV; GV phải tăng cường rèn luyện các kỹnăng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp cho SV thông qua các bài tập tình huống; GVphải giúp SV chuyển dần từ phương pháp học tập sang phương pháp tự học, tựnghiên cứu, chuyển dần từ các phương pháp dạy học truyền thống sang các phươngpháp dạy học tích cực như: Nêu vấn đề, làm việc nhóm, tổ chức thảo luận

Tổ chức hoạt động trên lớp cho SV có ý nghĩa to lớn, nó giúp cho người học

ý thức được mục đích, ý nghĩa của môn học, nắm được yêu cầu của từng loại bàihọc, chương học, phần học, trên cơ sở đó giúp họ hình thành được những kỹ năng,

kỹ xảo, những phẩm chất cần thiết phục vụ cho nghề nghiệp tương lai Đồng thời,việc tổ chức tự học trên lớp còn có vai trò định hướng cho hoạt động tự học ngoàigiờ lên lớp của SV

1.3.2.2.Tự học ngoài giờ lên lớp của sinh viên

Tổ chức tự học ngoài giờ lên lớp cho SV là quá trình GV tiến hành thiết kế,sắp xếp các biện pháp dạy học, nhằm sử dụng hay áp dụng các yếu tố, nguồn lực giúp

SV tự lập kế hoạch bài học, hình thành kỹ năng tự học, rèn luyện ý chí tự học, phát triểnmức cao nhất tính tích cực, độc lập trong quá trình tự học, tự nghiên cứu khoa học để thựchiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ giáo dục đề ra

Tự học ngoài giờ lên lớp là sự chuẩn bị hoặc tiếp tục một cách lôgíc cho hình thức

tự học ở trên lớp của SV Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, việc tổ chức tự học này “phảiđược tiến hành trên bốn mặt: nhận thức, cảm xúc, động cơ và siêu nhận thức, nói gọn hơn

là về ba mặt: tâm lý, tư duy và kiến thức Các mặt trên không đứng riêng rẽ, cô lập mà xuất

hiện đồng thời, tác động lẫn nhau trong suốt quá trình học tập” [39] Trong tổ chức tự học

ngoài giờ lên lớp cho SV, GV cần tập trung vào bốn vấn đề chính đó là: tổ chức cho SVlập kế hoạch tự học; hướng dẫn SV kém tự mình lấp chỗ hổng kiến thức và SV khá, giỏiđọc thêm tài liệu tham khảo; hướng dẫn SV nắm chắc khái niệm mới và đi sâu nghiên cứunội dung tài liệu Theo đó, việc tự học của SV phải được tiến hành bằng một số hoạt động

cụ thể như: Tự mình xây dựng và giải các bài tập thực hành môn Tâm lí học, SV tự mìnhcủng cố và đào sâu kiến thức qua việc học ở trên thư viện, thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng, thông qua làm các bài thu hoạch, bài tiểu luận bộ môn

Trang 31

Theo chúng tôi tự học ngoài giờ lên lớp có các hình thức sau:

* Tự học ở nhà: Là hình thức tự học chuẩn bị hay tiếp tục của tự học trên

lớp Chuẩn bị tự học trên lớp, SV phải đọc trước và nghiên cứu sơ bộ nội dung bàihọc trong giáo trình, xác định mục tiêu bài học, nội dung nào cần tập trung, nộidung nào cần ghi đầy đủ, nội dung nào cần ghi tóm tắt, các hoạt động tương ứngcho mỗi phần kiến thức Để làm được điều đó, SV cần xem lại bài cũ để tiếp thu bàimới tốt hơn; nghiên cứu trước nội dung bài mới; đánh dấu những chỗ khó để khinghe giảng sẽ tập trung nhiều hơn vào phần đó và có thể hỏi thêm GV

Sau giờ học ở lớp, SV phải có thời gian tự học ở nhà để củng cố, hệ thốnghóa, đào sâu và mở rộng những tri thức đã lĩnh hội trên lớp để hoàn thiện kiến thức,

kĩ năng và kĩ xảo Từ đó hình thành thái độ và tình cảm nghề nghiệp tích cực, có ýthức trách nhiệm đối với công việc và đối với cộng đồng

Tự học ở nhà của SV khác với tự học ở trên lớp vì nó đòi hỏi bản thân SVphải tự mình tổ chức tự học tập một cách độc lập, tự giác, không có sự dìu dắt,hướng dẫn trực tiếp của GV

Tự học ở nhà của SV là bộ phận không thể thiếu trong quá trình tự học nóiriêng và quá trình học tập nói chung

Muốn SV tự học ở nhà đạt hiệu quả, GV phải là người tổ chức, hướng dẫncách thức cho các em tự học độc lập Tổ chức tự học cho SV bắt đầu từ việc hướngdẫn SV lập kế hoạch tự học cho đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập củachính các em

* Tự học ở thư viện

Thư viện là nơi lưu giữ những tinh hoa trí tuệ của nhân loại kết tinh lại trongcác tài liệu, sách, giáo trình, công trình nghiên cứu…đê các thế hệ kế tiếp sau kếthừa và phát huy nguồn tri thức vốn có, đồng thời phát triển chúng để tìm ra cái mớiđáp ứng yêu cầu thời đại đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của nhân loại

Học ở thư viện là học với tài liệu, không có thầy bên cạnh Học ở thư việnđòi hỏi SV phải cố gắng động não, huy động kiến thức, kĩ năng kinh nghiệm tra cứutài liệu, để khai thác thông tin nhằm giải quyết được vấn đề Như vậy, tự học ở thư

Trang 32

viện có thể mất nhiều thời gian cho một vấn đề hơn so với tự học trên lớp nhưng bùlại SV phải động não và quen dần tác phong làm việc độc lập với sách, đó là nănglực cần thiết cho mọi SV để có thể học suốt đời.

*Tự học với bạn bè

Đây là hình thức tự học thông qua các câu lạc bộ, hội, nhóm, ngoại khóa,…của SV Ngoài việc lĩnh hội kiến thức trên lớp và tự học ở nhà của bản thân, SV cầnphải tham gia học với bạn bè để cùng hỗ trợ, động viên nhau vượt qua những khókhăn Bên cạnh đó, những kiến thức mà cá nhân SV đã tiếp nhận nhưng còn mơ hồhay chưa hiểu thì sẽ có cơ hội để làm sáng tỏ Thông qua ý kiến trao đổi với bạn bè,

SV khách quan hóa kiến thức của mình và từ đó áp dụng vào thực tiễn

1.4 Lý luận về tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lí học theo tiếp cận năng lực

1.4.1 Năng lực và mô hình cấu trúc năng lực

1.4.1.1 Khái niệm năng lực

Năng lực (competency) bắt nguồn gốc từ tiếng La tinh “competentia” Ngàynay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểunhư sự thành thạo, thực hiện của cá nhân đối với một công việc

Năng lực là thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả của các cá nhân bằng hànhđộng, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tính huống khác nhau thuộc cáclĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo vàkinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [11]

Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêucầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt [22]

Dưới góc độ tâm lý, NL là một cấu tạo tâm lý phức tạp, đó là một tổ hợp cácthuộc tính cá nhân phù hợp với các yêu cầu của một hoạt động và bảo đảm cho hoạtđộng đó đạt hiệu quả Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của chủ thể.Dước góc độ GD - ĐT, NL được hiểu là một người nào đó sau khi được GDthì thực hiện những nhiệm vụ và công việc của nghề nghiệp chuyên môn, đảm bảođúng những tiêu chuẩn và yêu cầu đặt ra

Trang 33

Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến

NL, bao giờ người ta cũng nói đến NL thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như

NL toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực giảng dạycủa hoạt động giảng dạy ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu

cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại thì NL nghề nghiệp được cấu thành bởi 3thành tố: Tri thức chuyên môn,kỹ năng hành nghề, thái độ đối với nghề

Như vậy, năng lực là khả năng có sẵn hay có được do trải qua quá trình đào tạo, huấn luyện để thực hiện có hiệu quả một hoạt động nào đó.

Năng lực khác với kiến thức và kinh nghiệm, song giữa kiến thức và năng lực

có mối quan hệ hỗ trợ qua lại không thể tách rời Năng lực được biểu hiện ở nhiềucấp độ khác nhau, thông thường, năng lực bao gồm: năng lực tái tạo và năng lựcsáng tạo Ở trình độ tái tạo, chủ thể chỉ tiến hành hoạt động có kết quả khi làm theomẫu có sẵn Với trình độ sáng tạo, chủ thể tiến hành hoạt động theo cách thức mớivới hiệu quả cao hơn [14,37,39]

1.4.1.2 Mô hình cấu trúc năng lực

a) Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường cấu trúc năng lực thực hiện baogồm: [11,28]

- Năng lực chuyên môn (Professional competency): là khả năng thực hiện cácnhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, cóphương pháp và chính xác về mặt nội dung Trong đó, khả năng tư duy logic, phân tích,tổng hợp, trừu tượng hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): là khả năng đối với những hànhđộng có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề

- Năng lực xã hội (Social competency): là khả năng đạt được mục đích trongnhững tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phốihợp chặt chẽ với các thành viên khác

- Năng lực cá thể (Individual competency): là khả năng xác định, đánh giáđược những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, xây dựng vàthực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức vàđộng cơ chi phối các ứng xử và hành vi

Trang 34

Các thành phần cấu trúc của năng lực

Mô hình cấu trúc năng lực trên đây được cụ thể hóa trong từng lĩnh vựcchuyên môn nghề nghiệp khác nhau Theo Bernd Meier năng lực giáo viên bao gồmnhững nhóm cơ bản sau: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực đánh giá,chẩn đoán và tư vấn; năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hànhđộng được hình thành trên cơ sở kết hợp các năng lực này [11,29]

Hiện nay, quan niệm về cấu trúc năng lực bao gồm: NL chung (cốt lõi) và

NL chuyên biệt, cụ thể được sử dụng rộng rãi

- Năng lực chung: Là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cho con người có thể sống vàlàm việc bình thường trong xã hội Là năng lực được hình thành và phát triển donhiều môn học khác nhau

* Để xác định năng lực chung cần xác định:

-Yêu cầu phát triển của một đất nước trong một giai đoạn cụ thể đặc biệt làyêu cầu về nguồn nhân lực

- Thực trạng NL của HS nói riêng và người lao động nói chung

- Xu thế quốc tế về phát triển NL cho HS nhằm đáp ứng yêu cầu của thịtrường lao động

* Các năng lực chung cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Khả năng hữu ích của NL đó với tất cả các thành viên trong cộng đồng

- NL đó phải tuân thủ (phù hợp) với các giá trị đạo đức, kinh tế, văn hóa vàquy ước của xã hội

- Nhân tố quyết định là bối cảnh, trong đó các NL sẽ được ứng dụng

NL phương pháp

NL xã hội

NL hành động nghề nghiệp

Trang 35

1.4.1.3.Tiếp cận NL trong đào tạo giáo viên

Ngày nay, việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực tronglĩnh vực GD - ĐT nói riêng rất được quan tâm Điểm trung tâm của những nỗ lựcphát triển nguồn nhân lực được mọi người nhất trí và chú trọng tập trung vào haichủ đề chính: “Học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ” [3].Con đường tốt nhất để thực hiện hai nhiệm vụ trên chính là tiếp cận theo NL thực,cách làm này hiện nay rất phổ biến trên toàn thế giới

Những kỹ năng mà GD theo NL mang lại là các nhóm kỹ năng cốt lõi vànhững kiến thức, thái độ, kỹ năng “mềm” được đòi hỏi bởi nơi làm việc ở thế kỷXXI Những kỹ năng này cần thiết cho sự thành công nghề nghiệp tại tất cả các cấp

độ làm việc và cho sự thành công tại tất cả các cấp độ GD khác nhau Mô hình nàythể hiện 6 kỹ năng khác nhau và được phân thành 6 nhóm:

Nhóm 1: Những kỹ năng về năng lực cơ bản: đọc, viết, tính toán

Nhóm 2: Những kỹ năng truyền đạt: nói, nghe

Nhóm 3: Những kỹ năng về năng lực thích ứng: giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo Nhóm 4: Những kỹ năng phát triển: tự trọng, động viên và xác định mục

tiêu, hoạch định sự nghiệp

Nhóm 5: Những kỹ năng về hiệu quả của nhóm: quan hệ qua lại giữa các cá

nhân, làm việc đồng đội, đàm phán

Nhóm 6: Những kỹ năng tác động, ảnh hưởng: hiểu biết văn hóa tổ chức,

lãnh đạo tập thể

Xuất phát từ lĩnh vực đào tạo nghề, năng lực ngày nay phát triển rộng rãi trongmọi loại hình đào tạo nhằm mục đích chuẩn bị lực lượng lao động cho nền kinh tế cạnhtranh toàn cầu Các học giả, các nhà GD và các nhà tuyển dụng xem đây là cách có ảnhhưởng mạnh mẽ nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng GD, đào tạo và những đòi hỏitại nơi làm việc Những nhà GD sử dụng mô hình năng lực như là những phương tiện để xácđịnh và gắn kết những đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình GD - ĐT

Tiếp cận theo NL có những ưu thế so với các cách tiếp cận khác nên thuậnlợi hơn trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Những ưu điểm đó là:

Trang 36

- Tiếp cận NL cho phép cá nhân hóa việc học: Trên cơ sở mô hình NL, ngườihọc sẽ bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể.

- Tiếp cận NL chú trọng vào kết quả đầu ra;

- Tiếp cận NL tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới những kết quả đầu ra:theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân;

- Tiếp cận NL còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gìcần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả

Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan củanhững NL cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch định chínhsách GD, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh

Năng lực cùng với thị trường lao động và cơ sở đào tạo tạo thành một guồngquay để tạo ra sản phẩm là nguồn nhân lực có chất lượng cao Đây được xem như ba

bộ phận trong cùng một hệ thống có quan hệ khăng khít không thể tách rờinhau

Đối với SV, tốt nghiệp ra trường chưa phải là hết, để thành công trong côngtác thì họ phải cố gắng rất nhiều vì học tại nơi làm việc là sự tiếp tục việc học ởtrường do sự biến đổi của xã hội ngày nay rất nhanh SV sau khi ra trường đi làm,

Thị trường

Lao động

Cơ sở Đào tạo

Năng lực cần tiếp cận (APEC)

Năng lực

Trang 37

các em phải đối mặt với biết bao tình huống thực tế cần giải quyết, các em phải cókhả năng vận dụng linh hoạt kiến thức hết tình huống này đến tình huống khác Vìvậy đòi hỏi SV phải có sự chuẩn bị để thích ứng với môi trường công việc.[30].SCANS đưa ra hệ thống 5 năng lực và 3 phần cơ bản của các kỹ năng cùngnhững phẩm chất cá nhân cần thiết cho thực hiện công việc Chúng bao gồm:Các năng lực : người làm việc cần có để có thể sử dụng một cách hữu hiệu

- Nguồn lực: thời gian, tiền bạc, nguyên liệu, không gian và đội ngũ

- Năng lực hợp tác: làm việc nhóm, dạy người khác, phục vụ, lãnh đạo, đàmphán và làm việc tốt với mọi người đến từ các nền văn hóa khác nhau

- Năng lực thông tin: thu nhận và đánh giá dữ liệu, lập và lưu giữ thông tin,giải thích và truyền đạt thông tin, xử lý thông tin bằng máy tính

- Năng lực hệ thống: hiểu các hệ thống xã hội, tổ chức và kỹ thuật, thực hiệnkiểm tra và điều chỉnh các hệ thống thiết kế hay cải tiến chúng

- Năng lực kỹ thuật: chọn lựa thiết bị hay công cụ, ứng dụng kỹ thuật chonhững hoạt động đặc biệt, những kỹ thuật duy trì và xử lý sự cố

Những kỹ năng nền tảng mà năng lực đòi hỏi:

- Các kỹ năng cơ bản: đọc, viết, tính toán, nói, nghe

- Các kỹ năng tư duy: tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhậnthấy vấn đề, biết cách học và lập luận

- Phẩm chất cá nhân: trách nhiệm cá nhân, tự trọng, thân thiện, tự quản vàchính trực.[31]

1.4.2 Đặc điểm của dạy học theo tiếp cận năng lực.

- Định hướng đầu ra: là đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm vì nó chỉ

ra rằng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất địnhtheo tiêu chuẩn đề ra

- Dạy học theo NL: do có định hướng đầu ra nên DH theo năng lực trước hếtphải xác định được các năng lực mà SV phải nắm vững hay thông thạo Nội dungchương trình DH nên được cấu trúc thành các module để liên kết tất cả các thành

Trang 38

phần kiến thức liên quan trong các nội dung lý thuyết với các kỹ năng để tạo ra mộtnăng lực chuyên môn nhằm thực hiện một công việc nhất định trong nghề.

- Đánh giá trong DH theo NL: đánh giá SV thông qua thành tích của SV theo

hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn được xây dựng theo mục đích DH

Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học định hướng nội dung

và dạy học định hướng kết quả đầu ra:

DH định hướng nội dung DH định hướng kết quả đầu ra Mục tiêu Mục tiêu DH được mô tả không

chi tiết và không nhất thiết phảiquan sát, đánh giá được

Kết quả học tập cần đạt được mô tảchi tiết và có thể quan sát, đánh giáđược; thể hiện được mức độ tiến bộcủa người học một cách liên tục

Nội dung Việc lựa chọn nội dung dựa vào

các khoa học chuyên môn, khônggắn với các tình huống thực tiễn

Nội dung được quy định chi tiếttrong chương trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạtđược kết quả đầu ra đã quy định, gắnvới các tình huống thực tiễn Chươngtrình chỉ quy định những nội dungchính, không quy định chi tiết

PPDH GV là người truyền thụ tri thức, là

trung tâm của quá trình DH HStiếp thu thụ động những tri thứcđược quy định sẵn

GV chủ yếu là người tổ chức, hỗtrợ HS tự lực và tích cực lĩnh hộitri thức Chú trọng sự phát triểnkhả năng giải quyết vấn đề, khảnăng giao tiếp, …

Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây dựng

chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và táihiện nội dung đã học

Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quảđầu ra, có tính đến sự tiến bộtrong quá trình học tập, chú trọngkhả năng vận dụng trong các tìnhhuống thực tiễn

Thứ nhất, GV phải nói rõ những tiêu chuẩn mà SV cần đạt đến Thứ hai, GV

phải cho SV thấy rõ giá trị của những đánh giá xác thực và thẳng thắn đối vớinhững tiêu chuẩn mà SV biết được các em đang ở đâu và cần phải làm gì Nếu chỉdùng điểm số để công nhận và cấp bằng cho SV trong khi các em chẳng có những

Trang 39

kỹ năng cần thiết thì các em không thể tồn tại được trong thế giới việc làm sau này.

Thứ ba, GV thêm các năng lực và các kỹ năng nền tảng vào mọi chỗ trong khung

chương trình học SV thực sự cần điều này và được trải nghiệm những tình huốngkhó ở trên lớp Thực tiễn cho thấy, nếu SV biết cách giải quyết những tình huốngvừa sức thì các em sẽ thích thú, ham học vì đó là sự luyện tập trong những bài tậplớn đầy tính thử thách nhưng vừa sức

1.4.3 Tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận NL

1.4.3.1 Quan niệm về tự học theo tiếp cận NL và tổ chức tự học theo tiếp cận năng lực

Tự học theo tiếp cận NL chú trọng tới kết quả học tập Người học có thể làmđược việc gì trong một tình huống nghề nghiệp nhất định theo tiêu chuẩn đầu ra.Người học được coi là có NL khi có khả năng làm việc một cách tốt như mong đợi

Theo chúng tôi phương thức tự học theo tiếp cận NL có những dấu hiệu cơbản sau:

- Các năng lực cần đạt ở người học được xác định rõ ràng, thẩm định và công

bố trước khi tự học

- Các tiêu chuẩn và điều kiện đánh giá thành tích học được quy định và công

bố cho người học trước khi đánh giá

- Tài liệu tự học trình bày rõ ràng các năng lực cần đạt, phương pháp học tập

để đạt các năng lực đó

- Phương pháp tự học sử dụng chủ yếu định hướng gắn với các tình huốngtrong thực tiễn nghề nghiệp

- Tổ chức tự học dựa trên nhịp độ cá nhân hơn là dựa và thời gian

* Sự khác nhau giữa tự học truyền thống và tự học theo tiếp cận NL

Trang 40

Bảng so sánh tự học truyền thống và tự học theo tiếp cận NL

Nhấn mạnh đầu vào và quá

Nội dung học tập được cấu trúctheo môn học

Nội dung học được cấu trúctheo modul/học phần

GV là chuyên gia/ nhà cung cấpbài giảng

GV là người cung cấp tài liệu,

là cố vấn đáng tin cậy trong tựhọc

Đánh giá kết

quả tự học

Đánh giá thông qua điểm số,các bài kiểm tra viết, vấn đáphoặc thực hành

Đánh giá tự học dựa vào cáctiêu chuẩn NL

Đánh giá trong mối tương quan

so sánh với các SV khác

Đánh giá không so sánh với các

SV, mà so sánh với hệ thốngtiêu chuẩn

Nhấn mạnh tới kiến thức Nhấn mạnh tới các NL

Tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận NL là cách thức tổ chức hoạt động tựhọc dựa trên tiêu chuẩn NL quy định cho một nghề cụ thể Nghĩa là dựa trên sựphân tích nghề (nhiệm vụ - công việc), phân tích các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng

và thái độ hình thành các mục tiêu tự học, từ đó xác định tiêu chuẩn, tiêu chí, điềukiện và năng lực tự học Như vậy, việc hình thành năng lực tự học sẽ được đánh giábằng các yêu cầu của nghề nghiệp cụ thể

Tổ chức hoạt động tự học theo tiếp cận NL phải được thiết kế và thực hiệnsao cho kiến thức tự học ở mức độ cần thiết, đủ để hỗ trợ cho việc hình thành vàphát triển các NL Tài liệu tự học phải thiết kế phù hợp với hệ thống các NL Ngườihọc phải có đủ điều kiện tự học cần thiết, đặc biệt là các điều kiện để người học có thể thực

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức (2000), Tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động dạy học ở trườngtrung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
3. Lê Khánh Bằng (1993), Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1993
4. Lê Khánh Bằng (1999), Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục học hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Khoa Tâm lí - giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trìnhtự học theo quan điểm giáo dục học hiện đại
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1999
5. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Nguyễn Thị Kim Dung, Ngô Thu Dung, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thu Lạc, Nguyễn Thị Hằng (2006), Lí luận giáo dục học Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận giáo dụchọc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Nguyễn Thị Kim Dung, Ngô Thu Dung, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thu Lạc, Nguyễn Thị Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
6. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), Lý luận dạy học hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nxb Đạihọc Sư phạm Hà Nội
Năm: 2014
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Dự án Việt - Bỉ, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Dựán Việt - Bỉ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
9. Cao Danh Chính (2009), “Đánh giá và xác nhận năng lực của người học trong đào tạo tiếp cận năng lực thực hiện”, Tài liệu Hội nghị khoa học nghiên cứu sinh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và xác nhận năng lực của người học trongđào tạo tiếp cận năng lực thực hiện
Tác giả: Cao Danh Chính
Năm: 2009
10. Nguyễn Văn Chung (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận dụngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2010
11. Phạm Khắc Chương (1991), J.A. Comenxki - Nhà sư phạm lỗi lạc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: J.A. Comenxki - Nhà sư phạm lỗi lạc
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
13. Hà Thị Đức (1993), “Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 5/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm
Tác giả: Hà Thị Đức
Năm: 1993
14. Hà Thị Đức (1994), Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên các trường sư phạm, Mã số B29-24-49, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên các trườngsư phạm
Tác giả: Hà Thị Đức
Năm: 1994
15. Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề tâm lý học,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
16. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự học môn Giáodục học cho sinh viên đại học sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2006
17. Trần Văn Hiếu (1999), Xây dựng quy trình làm việc độc lập với sách và tài liệu học tập cho sinh viên, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quy trình làm việc độc lập với sách và tài liệuhọc tập cho sinh viên
Tác giả: Trần Văn Hiếu
Năm: 1999
18. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức (1994), Lí luận dạy học đại học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Sưphạm Hà Nội
Năm: 1994
19. Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Tính (1999), “Hiệu quả của việc dạy tự học trong quá trình dạy học ở đại học”, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số tháng 2/1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của việc dạy tự học trongquá trình dạy học ở đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Tính
Năm: 1999
21. Đặng Thành Hưng (lược dịch) (2000), Một số vấn đề về phương pháp dạy học, Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số vấn đề về phương pháp dạy học
Tác giả: Đặng Thành Hưng (lược dịch)
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học định hướng nội dung - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học định hướng nội dung (Trang 35)
Bảng so sánh tự học truyền thống và tự học theo tiếp cận NL - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng so sánh tự học truyền thống và tự học theo tiếp cận NL (Trang 37)
Bảng 2.1. Nhận thức của sinh viên về tự học - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.1. Nhận thức của sinh viên về tự học (Trang 54)
Bảng 2.2. Nhận thức về mức độ cần thiết đối với việc học tập - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.2. Nhận thức về mức độ cần thiết đối với việc học tập (Trang 55)
Bảng 2.4. Nguồn thông tin để tự học môn Tâm lí học - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.4. Nguồn thông tin để tự học môn Tâm lí học (Trang 57)
Bảng 2.6.  Kĩ năng đọc tài liệu của sinh viên - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.6. Kĩ năng đọc tài liệu của sinh viên (Trang 59)
LC 5. Sơ đồ hóa bài học Bảng 2.6 cho thấy tỉ lệ SV “Đọc lướt để xác định nội dung” chiếm tỉ lệ cao nhất khoa Giáo dục Tiểu học và mầm non 64%,  khoa Xã hội và nhân văn chiếm tỉ lệ cao nhất 60%, khoa ngoại ngữ 53,3%, khoa tự nhiên 40% - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
5. Sơ đồ hóa bài học Bảng 2.6 cho thấy tỉ lệ SV “Đọc lướt để xác định nội dung” chiếm tỉ lệ cao nhất khoa Giáo dục Tiểu học và mầm non 64%, khoa Xã hội và nhân văn chiếm tỉ lệ cao nhất 60%, khoa ngoại ngữ 53,3%, khoa tự nhiên 40% (Trang 60)
Bảng 2.7.Kĩ năng nghe giảng - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.7. Kĩ năng nghe giảng (Trang 61)
Bảng 2.8. Kĩ năng ghi chép - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.8. Kĩ năng ghi chép (Trang 62)
Bảng 2.9. Kĩ năng sơ đồ hóa bài học - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.9. Kĩ năng sơ đồ hóa bài học (Trang 65)
LC 1. Sơ đồ hóa các khái niệm LC 2. Sơ đồ hóa cấu trúc bài học LC 3. Sơ đồ hóa ý chính bài học LC 4 - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
1. Sơ đồ hóa các khái niệm LC 2. Sơ đồ hóa cấu trúc bài học LC 3. Sơ đồ hóa ý chính bài học LC 4 (Trang 65)
Bảng 2.10. Kĩ năng làm việc nhóm - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.10. Kĩ năng làm việc nhóm (Trang 66)
Bảng 2.11. Kĩ năng giải quyết vấn đề - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.11. Kĩ năng giải quyết vấn đề (Trang 68)
Bảng 2.12 Kĩ năng Xemina - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.12 Kĩ năng Xemina (Trang 69)
Bảng 2.13. Kĩ năng giải bài tập thực hành - TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Bảng 2.13. Kĩ năng giải bài tập thực hành (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w