Ph ạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp sử dụng trang mạng xã hội vào quá trình dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, hướng dẫn phương pháp tự
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNTT: Công nghệ thông tin
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, loài người đã chứng kiến sự bùng nổ công nghệ thông tin phát triển như vũ bão tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong khoa học và công nghệ Đó là sự thay đổi bộ mặt của thế giới đưa con người bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học công nghệ thông tin, kỷ nguyên tiến bộ xã hội Tất cả những điều này khiến chúng ta có điều kiện để tìm tòi tri thức mới, phương pháp mới, khoa học mới tạo nên con người mới
Những thành tựu này, đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu Để diễn đạt bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, người ta đã nói đến một thời đại sự bùng nổ thông tin và công nghệ đổi mới nhanh đến mức chóng mặt Đó chính là nền tảng khoa học công nghệ của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đã làm thay đổi
và đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức tổ chức và hoạt động của hầu hết các lĩnh vực mà trước hết và chủ yếu lại chính là giáo dục và đào tạo Tri thức mới được tạo ra với cấp số nhân, được phổ biến nhanh và rộng đến mức không hình dung được lại có thể lưu giữ khối lượng khổng lồ bằng những phương tiện vô cùng gọn nhẹ và việc tìm kiếm sử dụng dễ dàng Trong bối cảnh ấy, kiến thức chuyên môn cụ thể rất nhanh lạc hậu, cái mới luôn có cái mới hơn thay thế trong một thời gian ngắn Đã xuất hiện và trở nên rất phổ biến các lớp học khoa học công nghệ thông tin, thư viện điện tử, các chương trình đào tạo từ xa, hội nghị trực tuyến Cho đến hôm nay việc tìm kiếm thông tin, kiến thức và giao lưu qua mạng đã trở nên phổ biến hơn `rất nhiều so với việc đọc sách, báo giấy trước đây
Trang 4Hội đồng quốc tế về Giáo dục của UNESCO do Jacques Delors chủ trì
đã khẳng định: “Học tập suốt đời nổi lên như là một trong các chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ 21” Vậy việc học rất là quan trọng trong suốt cuộc đời học
để biết, để làm, để tự khẳng định mình Các nước, có nền khoa học phát triển đã tiến hành xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo dục của mình và tạo ra sự chuyển biến tương đối rõ từ dạy kiến thức chuyên môn sang dạy cách tự học Việc học tập không chỉ được thực hiện ở nhà trường mà có thể ở nhà hoặc ở bất cứ đâu Cơ hội học tập không chỉ dành cho lứa tuổi cắp sách đến trường mà với bất cứ ai Triết lý xã hội học tập, học suốt đời dần hình thành Với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tin các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú thì rất nhiều kiến thức trước đây người thầy cần rất nhiều thời gian và công sức để dạy và trò phải vô cùng vất vả để nhớ thì đến nay chỉ cần biết nó có thể dùng vào việc gì, còn những chi tiết, cả những thao tác để tính toán
để tìm ra kết quả chỉ cần một thao tác là xong Trí tuệ con người được dùng vào việc sáng tạo, những kiến thức cần nhớ đã có sự trợ giúp của máy tính hay một thiết bị gọn nhẹ mà bất cứ một trí nhớ siêu việt nào cũng không thể
so sánh được
Bên cạnh đó, sự tha hóa đạo đức trong xã hội ngày càng trầm trọng đang tạo nên những bức xúc, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải điều chỉnh theo hướng tăng mạnh việc trang bị tảng nền văn hóa, kỹ năng sống và các giá trị đạo đức cho người học Chưa bao giờ yêu cầu dạy làm người cấp bách như hiện nay Tuy nhiên, bất cứ nền giáo dục nào cũng lại chịu sự chi phối rất mạnh của văn hóa dân tộc và những bệ đỡ tư tưởng xuất phát từ những ý thức hệ khác nhau nên trong một thời gian dài từng tồn tại sự khác biệt rất xa về cấu trúc hệ thống giáo dục và cấu tạo chương trình Quá trình toàn cầu hóa diễn ra như một xu thế không thể cưỡng lại, từ các nước Châu Âu cho đến Bắc Mỹ đều tiến hành xem xét lại hệ thống giáo dục của mình và tiến hành rất nhiều điều chỉnh mang tính cải cách
Trang 5Đổi mới giáo dục đào tạo, phải được xem là xu thế mang tính toàn cầu Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó Với ý nghĩa này, công cuộc đổi mới giáo dục đào tạo ở Việt Nam không phải chỉ là vấn đề của riêng nước ta mà phải thực sự cả trong môi trường quốc tế Để phát triển giáo dục, cũng như đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với khoa học công nghệ tại Nghị quyết
TW II (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên” Chỉ thị 58 CT/TW của Bộ Chính trị, quyết định
81/2001/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, và Chỉ thị 29/2001/ CT/BGD &
ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã xác định mục tiêu tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục 2001-2005, góp phần nâng cao nhận thức vai trò của công nghệ thông tin trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xác định rõ vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo tất yếu sẽ lập ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, hình thức giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục trong nhà trường Việt nam
Những phương pháp truyền thống phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cho người học, như máy thu ghi lại tri thức thầy cô giảng nên không thể phát huy được tư duy sáng tạo.Tình trạng đó luôn gây ra sự quá tải từ chương trình.Người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống, học cách tự học và thực tế giáo dục và đào tạo là việc dạy và học gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học Đặc biệt sự bùng nổ công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi phương pháp giáo dục Đó là, người học
có cơ hội trau dồi kiến thức bằng nhiều thông tin trên các trang mạng rất có ích lại chi phí rẻ thuận tiện cho quá trình học tập Hiện nay số lượng sinh viên,giảng viên các trường cao đẳng, đại học sử dụng mạng internet, mạng xã
Trang 6hội chiếm số lượng đông đảo và là nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động dạy và học của giáo dục Nhưng bên cạnh đó lượng thông tin trên các trang mạng quá nhiều và hỗn tạp giữa đúng và sai gây cho người học khó khăn tiếp nhận tri thức đó mà làm lệch lạc tư tưởng Vì vậy việc khai thác và xử lý thông tin đó có lợi, có hại cho người học luôn là vấn đề giải quyết giáo dục đại học Vì vậy giáo dục cần có sự đổi mới phương pháp dạy học cũng như đưa phương pháp hiện đại vào quá trình học tập phù hợp xu thế chung Các
trường cao đẳng, đại học nước ta môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là giáo dục bắt buộc vì môn này giúp cho người học hiểu được
chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân
giàu,nước mạnh,dân chủ,công bằng,văn minh” Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin có tính lý luận trừu tượng, khái quát cao đòi hỏi
người học phải tự học là chính để tiếp thu tri thức Người học không chỉ học trên lớp mà tìm đến các trang mạng để học tập Các trang mạng thì lượng thông tin rất phong phú trên trang mạng internet, mạng xã hội để cho người học trao đổi tìm tòi tri thức nhưng với lượng thông tin phong phú đa dạng từ các trang mạng đó yêu cầu sinh viên phải xử lý đâu là nguồn tri thức chính thống đâu là tri thức không chính thống ảnh hưởng tư tưởng nhận thức không đúng chủ trương đường lối nhà nước
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng, Đại học” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các tài liệu công trình nghiên nước ngoài cũng như trong nước, chưa có đề tài nghiên cứu đưa mạng xã hội vào dạy học mà chỉ đề cập đến CNTT nói chung Trong khi đó, mạng xã hội là một mảng nhỏ của CNTT Có thể nói, ngành CNTT ra đời là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học -
Trang 7kỹ thuật hiện nay Việc nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào giáo dục và đào tạo
đã được thực hiện ở nhiều quốc gia và khu vực như: Bắc Mỹ, Tây Âu… Ở các nước Đông Á, công nghệ thông tin và truyền thông có một vị trí quan trọng trong chương trình đổi mới giáo dục
Một số quan niệm, yêu cầu và thao tác của việc sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học nói chung, bao gồm CNTT, đã được đề cập trong nhiều công
trình nghiên cứu đã được công bố, đáng kể nhất là: Đề án “Tin học cho mọi người”(Informatique pourtous) - Pháp, 1970; Chương trình MEP (Microelectronics Education Program) - Anh, 1980; Các chương trình và phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi NSCU (NationalSoftware - Cadination Unit) - Australia, 1984; Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây dựng phần mềm tin học”, các nước châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Malaysia, 1985; Hội thảo quốc tế lần 2 về “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục - đào tạo”, tổ chức tại Hà Nội, 2004 Các đề tài, nội
dung hội thảo tập trung nghiên cứu, trao đổi việc sử dụng CNTT trong giảng dạy và xem đây là nguồn lực quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường cao đẳng, đại học
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu như
“Intructional Technology for Teaching and Learning”của Timothy J Newby
và các cộng sự (1996) đã đề cập đến ba vấn đề chủ yếu: phát triển các ý tưởng
và xây dựng kế hoạch tiến hành các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật theo hướng phát huy vai trò tích cực của người học; đề xuất các biện pháp sử dụng phương tiện kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu
và hình thức dạy học cụ thể; đồng thời, nhấn mạnh vai trò của phương tiện kỹ thuật nói chung, đặc biệt là CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các
hoạt động dạy học Cuốn “Teaching with Technology: Creating Centered-Classrooms” của Judith H Sandholtz (1997), trình bày về dự án
Trang 8Student-ACOT (The Apple Classrooms of Tomorrow) nhằm triển khai các hướng ứng dụng công nghệ máy tính trong giảng dạy theo hướng người học là trung tâm
và những ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục hiện đại; Trong cuốn
“Learning with Technology:A Contrustivis Perspective” (1999), David H
Jonassen và các cộng sự tập trung trình bày những tác động tích cực của công nghệ máy tính đối với cách học của người học Các tác giả đã làm rõ vai trò to lớn của các phương tiện đa truyền thông đối với việc kích thích một cách tích cực các giác quan của sinh viên, giúp mỗi người học có thể phát huy tốt năng lực, sở thích, năng khiếu riêng để tự khám phá và tìm kiếm tri thức…
Những định hướng nghiên cứu và yêu cầu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được đề cập cụ thể hơn trong một số tài liệu được đánh giá
cao, như các cuốn: “Handbook of Research for Education Communication and Technology”củaDavid H Jonassen và nhiều tác giả (1996); “101 Essential List for Using ICT in the Classroom” của George Cole (2006) và nhiều công trình nghiên cứu về Xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy - học của
S.Retalis, T.Leinonen, Maria Ranieri, Gerry White Các tác giả đã đề xuất những ý tưởng, quan điểm khi nghiên cứu các ứng dụng CNTT vào dạy học, đồng thời chỉ ra những điểm có lợi và bất lợi, nên và không nên khi sử dụng CNTT cùng một số dẫn chứng vào dạy học một số môn cụ thể, chủ yếu là các
bộ môn khoa học tự nhiên, trong những điều kiện dạy học khá lý tưởng Các tác giả của hầu hết tài liệu trên đã quan tâm đến việc khai thác các thông tin Multimedia từ các CD-Rom, các trang Web trên Internet có nội dung tích cực nhằm giúp cho sinh viên những cơ hội, điều kiện tiếp cận tri thức tốt hơn và tạo ra những khả năng trao đổi thông tin, nghiên cứu, học tập vừa tiện ích, vừa tích cực giữa giảng viên - sinh viên và giữa sinh viên - sinh viên Ở các nước phát triển, cùng với những phần mềm dạy học chuyên ngành, các phần mềm công cụ luôn được giảng viên và sinh viên quan tâm sử dụng
Trang 9Nhìn chung, các bài viết, tài liệu trên đã đem lại cho chúng tôi những nhận thức và hình dung rõ nét hơn về xu hướng, ý tưởng, biện pháp sử
dụng mạng xã hội trong dạy học nói chung và dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng ở trường cao đẳng, đại học Tuy
nhiên, cần có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể ở nước ta, điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật dạy học, hệ thống mạng internet, mạng xã hội năng lực và thói quen chủ động sử dụng mạng xã hội của giảng viên, sinh viên chưa trở nên phổ biến rộng như các nước công nghiệp phát triển mà các tác giả nước ngoài đã đề cập
2.2 Những tài liệu và công trình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNTT đã được đưa vào trường phổ thông thử nghiệm với tư cách là một môn học Từ những năm cuối của thập niên này, CNTT mới được quan tâm ứng dụng vào dạy học các
bộ môn khác, nhất là sau khi có các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước
và Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề này Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường cao đẳng, đại học ngày
một phong phú hơn Tiêu biểu là các bài: “Một số điểm về cơ sở lý luận dạy học của việc sử dụng máy tính điện tử” của Nguyễn Quang Lạc, Lê Công Triêm,1992; “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí giáo dục” của Trần Kiều, Nguyễn Thanh Lương, 1994; “Công nghệ thông tin với việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường” của Phan Trọng Luận, 1998; “Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin - Xu thế của thời đại” của Quách Tuấn Ngọc, 1999; “Sự hỗ trợ của máy vi tính với hệ thống multimedia trong dạy học” của Lê Công Triêm, 2002; “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam” của Lưu Lâm, 2002; “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục đào tạo ở Việt Nam” của Lê Hồng Sơn, 2002; “Xu thế nghiên cứu thiết kế
và sử dụng thiết bị dạy học mới có ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông” của Nguyễn Thị Kim Thành, Ngô Quang Sơn, 2003; “Ứng dụng
Trang 10CNTT trong dạy học tích cực”, PGS.TS Phó Đức Hoà, TS Ngô Quang
Sơn, NXB Giáo dục, 2008… Các tài liệu, bài viết trên đều khẳng định xu thế tất yếu của việc ứng dụng CNTT trong nền giáo dục hiện đại, đồng thời còn nêu những vấn đề có tính định hướng chung về những nguyên tắc, yêu cầu, quy trình; những mặt tích cực, hạn chế… trong việc sử dụng phương tiện dạy học này Vẫn còn ít bài viết trình bày rõ về những khó khăn cũng như các giải pháp khả thi đối với nhà trường trong việc triển khai các ứng dụng CNTT vào dạy học
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, các nhà phương pháp dạy học trong nước đã tổ chức nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu việc ứng dụng CNTT Song, việc xây dựng các giáo án sử dụng mạng xã hội là chưa có, mới chỉ có các cuộc hội thảo về ứng dụng CNTT hay mạng
internet như: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy”,“Kỷ yếu Hội thảo Khoa học công nghệ”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2001.
Một số tài liệu, bài báo, luận văn về LL & PPDH bước đầu đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học như là một phương tiện kỹ thuật dạy học, đồng thời nêu lên ý nghĩa, tác dụng của nó đối với mục tiêu giáo dưỡng cũng như việc giáo dục tình cảm, rèn luyện các kỹ năng tư duy, kỹ năng thực
hành của sinh viên Những bài viết trong Tạp chí giáo dục: “Nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình phổ thông nhờ sự hỗ trợ của thiết bị và phần mềm dạy học”, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, ĐSVPTP Hồ Chí Minh,
2005 đã thể hiện một bước tiến đáng kể về nhận thức vai trò, ý nghĩa, của việc ứng dụng CNTT và phương pháp tiến hành trong dạy học Các bài viết
đã khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp nội dung, chức năng và đặc trưng bộ môn Tuy nhiên, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu về các sử dụng mạng xã hội trong dạy học phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện dạy học ở trường cao đẳng, đại học hiện nay
Trang 11Các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã bước đầu trình bày một cách khái quát những vấn đề về lý luận và thực tiễn, về vị trí, ý nghĩa, khả năng, biện pháp sư phạm… của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trường cao đẳng, đại học Tuy nhiên, các tài liệu, công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến việc sử dụng mạng xã hội và nhất là vẫn chưa có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như các yêu cầu, quy trình thiết kế và biện pháp sư
phạm cụ thể của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
Nhìn chung, ở những mức độ khác nhau, các giáo trình, tài liệu tham khảo và các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên là những tư liệu quý báu,
là cơ sở rất quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi đi sâu nghiên cứu, giải quyết tốt những mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ cơ sở lí luận và nâng cao khả năng dạy học qua mạng, qua đó giúp cho sinh viên phương pháp tự
học và khả năng khai thác xử lý thông tin học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin qua các trang mạng xã hội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn
Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin.
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp sử dụng trang mạng xã
hội vào quá trình dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, hướng dẫn phương pháp tự học và khai thác và xử lý thông tin trên các
trang mạng xã hội tại Trường Đại học Sư phạm Huế
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài quán triệt phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết là: phân tích và tổng hợp, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, kết hợp phương pháp lôgíc
và lịch sử, phương pháp cụ thể và trừu tượng
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: phương pháp quan sát, phương pháp trao đổi kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê toán học…
6 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào trường cao đẳng, đại học.
- Làm rõ thực trạng việc sinh viên sử dụng mạng xã hội vào học tập
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Đề xuất một số phương pháp dạy để góp phần vào quá trình giúp sinh
viên sử dụng mạng xã hội vào học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
7 Cấu trúc của luận văn
- Bố cục luận văn gồm 3 phần mở đầu , phần nội dung, phần kết luận
và kiến nghị Phần nội dung được chia làm 3 chương 7 tiết như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy môn
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
Chương 2: Quy trình và điều kiện thực nghiệm sử dụng mạng xã hội
vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao
đẳng, đại học
Chương 3: Thực nghiệm sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
Trang 13CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm mạng
Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bùng nổ công nghệ thông tin truyền thông và phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế…
đó là vấn đề được cả nhân loại quan tâm Đặc biệt giáo dục là nơi đào tạo nhân lực cho toàn xã hội nên rất cần chú trọng đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời, phát triển năng lực cốt lõi dành cho sinh viên, sinh viên trong tương lai Chính lý do trên chúng tôi đi tìm hiểu về mạng nơi trao đổi lên kết mọi thông tin và có rất nhiều quan niệm khác nhau về mạng như sau:
Mạng: là hệ thống những đường đan nối với nhau có một chức năng chung
Mạng cục bộ: là toàn bộ mạng các máy tính được liên kết với nhau trong phạm vi xí nghiệp, công ty, hay nói chung trong một phạm vi địa lý hẹp nhất định
Mạng diện rộng: là hai hay nhiều mạng cục bộ nối liên kết với nhau sẽ tạo thành mạng nội bộ, từ đó hình thành nên khái niệm mạng diện rộng WAN (Wide Area Network) hay mạng Extranet
Mạng Internet (thường được đọc theo khẩu hiệu âm tiếng Việt là tơ-nét’’) là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau
Trang 14‘‘in-1.1.1.2 Khái niệm mạng xã hội
Xã hội hiện đại đã kéo theo nhiều xu thế mới phát triển, hội nhập quốc
tế hình thành và liên kết rộng khắp Việc trao đổi thông tin qua mạng xã hội được sử dụng ngày càng tăng nhanh
Khái niệm mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng anh: social network) là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian
The boyd và Ellison định nghĩa mạng xã hội là “các dịch vụ dựa trên web cho các cá nhân xây dựng một hồ sơ công khai trong một hệ thống giới hạn, công khai một danh sách các người dùng khác mà họ đã có mối quan hệ
và xem đi qua các danh sách các kết nối được tạo ra bởi những người khác trong hệ thống của họ” [53]
Khi tìm hiểu về mạng xã hội chúng ta cần quan tâm đến những đặc tính
cơ bản Mạng xã hội trực tuyến được xây dựng và định hướng bởi chính người sử dụng, người dùng sẽ quyết định nội dung của các trang mạng xã hội trực tuyến Sự định hướng nội dung đó được xác định bởi bất cứ ai tham gia vào cuộc thảo luận Đây là những gì tạo nên sự thú vị và tính động mà mạng
xã hội mang lại cho người dùng internet
Ở các trang mạng xã hội, mỗi thành viên đều có một hồ sơ với một trang cá nhân riêng biệt của mình Người dùng có quyền thiết lập các thông tin cá nhân, đăng tải các bài viết và thiết lập tính riêng tư, công khai, bạn bè hoặc công khai trong giới hạn một số thành phần bạn bè của họ
Một đặc tính khác của mạng xã hội hiện đại là sự tương tác Người dùng trên các trang mạng xã hội có thể giao tiếp một cách dễ dàng và tham gia các trò chơi trực tuyến với nhau
Mạng xã hội được xây dựng và duy trì dựa trên các đặt tính của cộng đồng, các nhóm được thiết lập dựa trên sở thích, niềm tin…
Trang 15Cộng đồng trên các trang mạng xã hội trực tuyến là một cộng đồng mở,
ở đó người dùng được thoải mái lựa chọn và phát triển các mối quan hệ của mình Người dùng càng có nhiều mối quan hệ trên mạng, càng thiết lập thêm nhiều các mối quan hệ khác đã có
Một đặc tính độc đáo của các mạng xã hội là yếu tố cảm xúc Trong khi các trang web trước đây đã tập trung vào việc cung cấp thông tin cho khách truy cập, mạng xã hội thực sự cung cấp cho người dùng với cảm giác an toàn chia sẻ thông tin và ý thức rằng không có vấn đề gì là khó khăn, bế tắc, bạn bè của họ luôn ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói bất cứ gì lúc nào
1.1.2 Đặc điểm cơ bản môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học được hình thành và phát triển trên những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, là thế giới quan khoa học Phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động, khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Với ý nghĩa như vậy, nội dung chủ nghĩa Mác - Lênin bao quát các lĩnh vực tri thức hết sức rộng lớn mang nhiều giá trị khoa học và thực tiễn Thế nhưng nếu nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ
áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người thì có thể thấy nội dung chủ nghĩa Mác - Lênin được cấu thành từ ba bộ phận lý luận cơ bản, có mối quan
hệ nhất biện chứng với nhau Đó là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học
Triết học Mác - Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất khoa học và thực tiễn cách mạng
Trang 16Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời phát triển phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
Chủ nghĩa xã hội khoa học là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học và kinh tế chính trị Mác - Lênin vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng
xã hội chủ nghĩa - bước chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản
Ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thể khác nhau nhưng điều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất, đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Ngày nay, có thể nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới là học thuyết khoa học nhất, chắc chắn nhất và chân chính nhất để thực hiện ý tưởng ấy
1.1.3 Vai trò của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Qua trình bày ở phần trên cho thấy,việc lựa chọn và sử dụng mạng xã hội là một vấn đề quan trọng đối với quá trình dạy học Hơn nữa sử dụng mạng xã hội không đơn giản là phải hiểu biết về mạng xã hội mà là biết tổ chức và thực hiện một cách có phương pháp, sử dụng mạng xã hội trong dạy
học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là một phương
pháp rất thích hợp với việc học tập nghiên cứu trong các trường cao đẳng, đại học hiện nay Nó phát huy được tính tích cực hoạt động của sinh viên bởi vì:
Trang 17- Học tập bằng mạng xã hội tạo được môi trường học tập thuận lợi, cởi
mở vì ở đó các thành viên trong lớp trao đổi, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau
- Đồng thời để lĩnh hội những nội dung cơ bản trong bài học, giảng viên có thể hướng dẫn sinh viên cách tìm kiếm thông tin trên mạng internet
Vì vậy sử dụng mạng xã hội tạo ra sự hứng thú, tính tích cực cho mỗi sinh viên trong quá trình học tập
- Trong quá trình học tập sinh viên luôn hào hứng, say mê tập trung chú
ý vào những dữ liệu thông tin mà giảng viên đưa ra dưới dạng những hình ảnh trình chiếu đẹp mắt Từ đó sinh viên kiên trì hoàn thành các bài tập được giảng viên giao, không nản lòng trước những vấn đề khó khăn… Ngoài những biểu hiện trên, giảng viên còn có thể nhận biết được tính tích cực học tập của sinh viên cũng như thấy được vai trò của mạng xã hội thông qua những biểu hiện cử chỉ, nét mặt, ánh mắt khi theo dõi bài giảng
- Sử dụng mạng xã hội cũng giúp cho sinh viên tính sáng tạo, khả quan làm việc độc lập và tự giải quyết các vấn đề khi tự mình tìm kiếm thông tin dưới sự hướng dẫn của giảng viên
- Học tập bằng mạng xã hội sẽ rèn luyện cho sinh viên khả năng chủ động chiếm lĩnh tri thức trong cuộc sống, đó cũng là điều phù hợp với xu thế chung của thời đại ngày nay
Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin sử dụng
mạng xã hội vào dạy học có một vai trò vô cùng quan trọng Do phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay, số tiết dành cho lý thuyết chiếm gần hai phần ba tổng số tiết của môn Vì vậy, việc giảng dạy của giảng viên rất cần đến sự đổi mới để khắc phục tình trạng nhàm chán của sinh viên khi nghe giảng và ghi chép lý thuyết quá nhiều trong giờ học Việc lựa chọn và sử dụng mạng xã hội trong truyền đạt kiến thức hiện nay đang ngày càng tạo ra hứng thú và có vai trò quan trọng nhiều hơn trong quá trình dạy và học cho cả giảng viên và sinh viên
Trang 18Thực tế hiện nay phương pháp dạy học ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Phần lớn giảng viên vẫn sử dụng phương pháp truyền thống: thầy đọc - trò ghi, phương pháp này, biến lớp học trở thành nơi phổ biến kiến thức, còn sinh viên trở thành những máy ghi chép, không phát huy được tính năng động, sáng tạo của người học, làm cho họ thụ động, trì trệ lệ thuộc hoàn toàn vào những gì giảng viên cung cấp Giảng viên chỉ quan tâm đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình truyền đạt hết nội dung quy định trong chương trình, cố gắng làm cho sinh viên nhớ và hiểu những điều giảng viên nói, cách dạy này giảng viên đã hình thành thói quen học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, không chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy - học, không đáp ứng được yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Chính vì vậy, sử dụng mạng xã hội trong quá trình giảng dạy sẽ khắc phục được tình trạng này.
Dưới sự hướng dẫn của giảng viên về nội dung cụ thể nào đó trong bài học, sử dụng mạng xã hội giúp sinh viên nắm sâu thêm kiến thức, làm rõ những kiến thức cơ bản của bài học hoặc cũng có thể là khả năng vận dụng những kiến thức đó để nhận thức những hiện tượng khác nhau của đời sống
xã hội… Từ những vấn đề cụ thể mà giảng viên đưa ra sinh viên sẽ trao đổi, thảo luận và đi đến kết luận để hiểu sâu sắc hơn những kiến thức cơ bản của bài học mới, hoặc khắc sâu và mở rộng hơn những kiến thức đã học
Trong khi sử dụng mạng xã hội, giảng viên không còn là người truyền đạt kiến thức có sẵn, hay phổ biến kiến thức nữa mà là người định hướng đạo diễn cho người tự học tự mình khám phá ra kiến thức, khám phá ra phương pháp tiếp cận kiến thức Nếu để sinh viên tìm kiếm thông tin về bài học để học tập thì đó là việc làm khó khăn Giảng viên sẽ là người nêu ra vấn đề, giới thiệu những địa chỉ trang web liên quan, hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tiếp cận tra cứu thông tin để có thể lựa chọn những nội dung tri thức phù hợp với vấn đề mà giảng viên nêu ra Như thế, không có nghĩa là hạ thấp vai
Trang 19trò của người giảng viên Giảng viên từ chỗ là người thầy bình thường truyền đạt tri thức có trong giáo trình, tài liệu đã vươn lên thành người thầy giỏi chủ yếu dạy cho sinh viên cách tìm kiếm thông tin, cách xử lý những khó khăn gặp phải do thông tin đặt ra Thầy trở thành người hướng dẫn, cố vấn và là điểm tựa cho sinh viên trong quá trình làm việc với công nghệ hiện đại - máy
vi tính Quan hệ giữa thầy và trò trong phương pháp dạy học truyền thống là quan hệ “phục tùng” thầy nói - trò nghe Thầy đọc - trò chép, nhưng với việc
sử dụng mạng xã hội, mối quan hệ thầy trò dựa trên cơ sở tin cậy, tôn trọng và hợp tác lẫn nhau Trong quá trình sinh viên vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu thông tin cùng hợp tác với bạn để củng cố kiến thức đã tìm được chính thầy giáo là người định hướng cho cá nhân người học hành động Đồng thời giảng viên là người đạo diễn, tổ chức lớp Sinh viên tự tìm ra các tri thức mang tính
xã hội, khách quan, khoa học hơn Khi những thông tin mà cá nhân thu được,
có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau, thì lúc này vai trò không thể thay thế được người thầy là phát huy vai trò người trọng tài khoa học Thầy là người kết luận, có tính chất khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể lớp, giúp sinh viên xử lý đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá trình hoạt động học tập
Ngày nay, chúng ta bước vào cuộc cách mạng mới: cách mạng siêu công nghiệp, tương ứng với nó là một xã hội mới đang manh nha - xã hội “cú sốc tương lai” Một xã hội mà “kiến thức là quyền lực” thì các nhà giáo siêu công nghiệp không nên áp đặt giá trị cho sinh viên mà phải biết tổ chức một cách có hệ thống những hoạt động chính thức và bán chính thức nhằm giúp sinh viên tự xác định, thử nghiệm những giá trị của bản thân mình Alvin Toffer nhà tương lai học người Mỹ, trong cuốn : Fetere Shock – 1970 nói “các trường học ngày mai không chỉ dạy thông tin dữ liệu mà còn dạy cách xử lý nó… Học là một cách học” thì sử dụng mạng xã hội trong học tập đã làm được việc đó
Như vậy, khi sử dụng mạng xã hội trong học tập, thầy là người đạo diễn, tổ chức cho trò biết cách hành động và hợp tác với các bạn, tự mình tìm
Trang 20tòi tri thức khoa học và biết cách ứng dụng những thông tin tri thức đó vào thực tế cuộc sống.
1.2 Cơ sở Thực tiễn
1.2.1 Thực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên
lý cơ bản của chủ nnghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
1.2.1.1 Vài nét Khoa Giáo dục chính trị của Trường Đại học Sư phạm Huế
Ngày 4 háng 4 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về việc thành lập Đại học Huế, cũng theo Nghị định này, Đại học Sư phạm Huế trở thành trường thành viên trực thuộc Đại học Huế Để đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, toàn bộ Bộ môn Mác - Lênin (gồm 18 cán
bộ và giảng viên) của trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã được điều chuyển sang trường Đại học Khoa học - Đại học Huế
Ngày 03/02/1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra công văn số 764/KHT cho phép Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế mở ngành đào tạo cử nhân Giáo dục Chính trị Tiếp theo, ngày 19 tháng 2 năm 1997, Giám đốc Đại học Huế ra công văn số 1008/ĐT-ĐHH về việc giao cho Trường Đại học Sư phạm Huế nhiệm vụ đào tạo trình độ cử nhân chuyên ngành Giáo dục Chính trị Ngày 29 tháng 01 năm 2007, sau gần 10 năm kể từ khi chính thức thành lập Bộ môn Giáo dục chính trị tại trường Đại học Sư phạm Huế, Giám đốc Đại học Huế ký Quyết định số 059/QĐ – ĐHH – TCNS thành lập Khoa Giáo dục chính trị trực thuộc trường Đại học Sư phạm Huế Từ năm học 2007 -2008, được sự cho phép của Đại học Huế, khoa Giáo dục chính trị đã phối hợp với Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - Đại học Huế mở thêm ngành đào tạo ghép môn Giáo dục chính trị - Giáo dục quốc phòng Việc nâng cấp bộ môn Giáo dục chính trị lên thành Khoa Giáo dục chính trị và mở thêm mã ngành đào tạo Giáo dục chính trị - Giáo dục quốc phòng không chỉ là sự ghi nhận của Trường Đại học Sư phạm Huế của Đại học Huế đối với những đóng góp của Khoa Giáo dục chính trị cho sự nghiệp đào tạo của trường Đại học Sư phạm Huế cũng như của Đại học Huế trong suốt hơn một thập niên vừa qua,
mà còn thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng của các cấp lãnh đạo vào sự phát triển
Trang 21Khoa Giáo dục chính trị trong giai đoạn cách mạng tiếp theo Sự kiện này đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục chính trị, một thời kỳ phát triển mới đầy thử thách và vinh quang đang chờ đợi ở phía trước.
Kể từ lớp sinh viên đầu tiên (11 sinh viên - khoá 1), đến nay Khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại học Sư phạm Huế đã tuyển sinh 16 khoá với nhiều
hệ khác nhau Tổng số sinh viên đã và đang theo học tại Khoa Giáo dục chính trị là 1985 sinh viên thuộc 20 dân tộc đến từ 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam và một số tỉnh, thành phố của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào anh em Trong 10 năm qua, có 1355 sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Giáo dục chính trị Các anh, các chị đang tích cực tham gia công tác trên nhiều vị trí khác nhau, ở nhiều cương vị khác nhau, dù ở nơi giảng đường cao đẳng, đại học, nơi bục giảng trường phổ thông, hay tham gia công tác chính quyền, đoàn thể, hoặc trong lực lượng vũ trang nhân dân … ở cương vị nào các anh, các chị cũng đang nỗ lực hết mình để hoàn hành tốt những nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó
Hơn 10 năm qua, bên cạnh nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị, tập thể cán bộ và giảng viên Khoa Giáo dục chính trị đã phối hợp với Khoa Mác - Lênin (Đại học Khoa học), Khoa Kinh tế chính trị (Đại học Kinh tế) để giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho hàng ngàn sinh viên thuộc các khối không chuyên của trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Ngoại ngữ Huế; Khoa Giáo dục thể chất - Đại học Huế, phối hợp với Đại học Khoa học - Đại học Huế đào tạo các lớp Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm; phối hợp với các Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình, An Giang, Quảng Trị, Khánh Hoà, Đồng Tháp, và Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh(nay là Đại học Sài Gòn) mở các lớp Chuyên tu đào tạo Giáo dục Công dân; tích cực tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ…cho giáo viên cốt cán Giáo dục công dân các Sở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
Trang 22Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Ninh Thuận… Ngoài ra, Khoa Giáo dục chính trị còn phối hợp với Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế trong việc đào tạo hàng ngàn cử nhân Giáo dục chính trị (hệ từ xa)
1.2.1.2 Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học
Để tìm hiểu thực trạng này, chúng tôi tiến hành khảo sát thông qua
phát phiếu điều tra cho 10 giảng viên dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, 60 phiếu của giảng viên bộ môn khác và 268
sinh viên (thuộc các lớp: 3A, 3B, 2A, 2B, 1A, 1B) trong Trường Đại học
Sư phạm Huế
Tìm hiểu nhận thức của giảng viên và sinh viên Trường Đại học Sư phạm chúng tôi đưa ra câu hỏi, với 4 mức độ là: “rất cần thiết - cần thiết - bình thường - không cần thiết” Kết quả thu được như sau:
GV môn Những NLCB Mác-Lênin
Bảng 1.1 Nhận thức các giảng viên bộ môn, giảng viên môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc sử dụng mạng xã hội cho sinh viên
Qua bảng số liệu trên, chúng tôi nhận thấy:
- Từ phía giảng viên: 100% giảng viên môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định việc sử dụng mạng xã hội cho sinh
viên có vai trò rất cần thiết Phần lớn giảng viên các bộ môn khác khẳng định việc sử dụng mạng xã hội là rất cần thiết đối với mỗi sinh viêntrong quá trình
Trang 23học tập ở Trường Đại học Sư phạm Huế Trong tổng số 60 giảng viên được hỏi có 52 giảng viên (86,7%) cho là rất cần thiết, 8 giảng viên (13,3%) cho là cần thiết Như vậy, đại đa số giảng viên đã nhận thức được vai trò quan trọng việc việc sử dụng mạng xã hội trong nhà trường cho sinh viên, từ đó đề ra những hướng đi cho riêng bản thân để có thể tích hợp sử dụng mạng xã hội cho sinh viên thông qua nội dung các bài học
- Từ phía sinh viên: Qua (bảng 1.1) cho thấy, trong tổng số 268 sinh viên được hỏi có 197 em (chiếm 73,5%) đánh giá sử dụng mạng xã hội là “rất cần thiết”, 56 em (20,9%) cho là “cần thiết” Tuy nhiên vẫn có 2 em (chiếm 0,7%) chưa nhận thức đúng đắn nên cho là “không cần thiết” Như vậy, đa số sinh viên đã nhận thức được việc sử dụng mạng xã hội sẽ giúp sinh viên tiếp thu bài học tốt hơn
Nhận xét của giảng viên về sử dụng mạng xã hội cho sinh viên thông qua nội dung các môn học:
Stt Nội dung nhận xét GV bộ môn khác
GV môn Những NLCB Mác-Lênin
Bảng 1.2 Nhận xét của giảng viên về sử dụng mạng xã hội cho sinh viên
thông qua nội dung các môn học
- Đối với giảng viên bộ môn: Đa số giảng viên đều cho rằng việc sử dụng mạng xã hội cho sinh viên trong môn học là “khó” (chiếm 38,3%) và “ rất khó” (33,3%), chỉ có rất ít giảng viên (10,1% ) cho rằng là “ dễ” và “ rất dễ”
- Thực trạng trên cho thấy, việc sử dụng mạng xã hội cho sinh viên thông qua môn học là rất khó do đặc thù môn học, thời lượng kiến thức
Trang 24- Đối với giảng viên bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: Việc sử dụng mạng xã hội cho sinh viên theo đánh giá của bảng
phiếu thu lại thì mỗi giảng viên có nhận thức khác nhau tùy mức độ Với 10 phiếu được hỏi thì có 4 phiếu có câu trả lời: “bình thường”, có 6 phiếu có câu trả lời: “khó” Thực trạng trên cho thấy, việc sử dụng mạng xã hội cho sinh viên thông qua môn học này cũng tùy vào quan niệm, sự nhận thức của từng giảng viên
Từ thực trạng trên, chúng tôi đã tiến hành thăm dò một số ý kiến của sinh viên về việc sử dụng mạng xã hội qua môn học như thế nào Kết quả cho thấy ở một số sinh viên được hỏi cho rằng: Sử dụng mạng xã hội là rất thiết thực và đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin dễ dàng
Từ những quan điểm trên cho thấy, sử dụng mạng xã hội thật sự đem lại hiệu quả cao và thuận lợi thì cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường
Để đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên khi học các môn có kết hợp với việc rèn luyện kỹ năng sử dụng mạng xã hội như thế nào, chúng tôi tiến hành tìm hiểu:
Đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên khi dạy học có sử dụng mạng xã hội
STT Mức độ hứng thú của sinh viên Sinh viên
Bảng 1.3 Đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên
khi dạy học có sử dụng mạng xã hội
Kết quả trên cho thấy, với 268 phiếu thì có 120 phiếu (chiếm 44,8%) cho rằng rất hứng thú học những giờ có sử dụng mạng xã hội, 82 phiếu
Trang 25(chiếm 30,6%) cho là hứng thú, có 59 phiếu (chiếm 22%) cho là bình thường
và 7 phiếu (2,6%) là không thích học những giờ có sử dụng mạng xã hội qua môn học
Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số sinh viên thì đa số các em rất hứng thú và thích học những giờ học mà giáo viên có sử dụng mạng xã hội,
đặc biệt là trong môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Một số Em lớp 3A tâm sự: “Các Em rất hứng thú khi học giờ sử dụng mạng
xã hội vào giảng dạy, ngoài kiến thức có trong sách thì bài giảng sử dụng mạng xã hội giúp cho các em rất nhiều kỹ năng khả năng khai thác và xử lý thông tin tư liệu, tiếp nhận kiến thức mới” Như vậy, sử dụng mạng xã hội vào trong môn học đã đem lại hiệu quả nhất định trong việc trang bị cho các em những bước khởi đầu cần thiết giúp các sinh viên khai thác, xử lý thông tin đạt kết quả cao
Thực trạng trên nói lên rằng, việc sử dụng mạng xã hội qua dạy học
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa làm tốt được
yêu cầu đặt ra Bởi việc sử dụng mạng xã hội vào trong các bài học bên cạnh những thuận lợi còn không ít khó khăn
1.2.2 Sự cần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học
Sự bùng nổ công nghệ thông tin giúp việc truyền đạt, trao đổi thông tin, hợp tác, giao lưu giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp hành tinh diễn ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích, góp phần vào sự phát triển của quyền tự do ngôn luận trên toàn thế giới Chính vì vậy, mạng internet, mạng
xã hội là phương tiện giúp cho mọi người trên toàn thế giới gần gũi nhau hơn, là đòn bẩy giúp phát huy sức mạnh cộng đồng, trong đó có sức mạnh của những người trẻ, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế tri thức
Mạng internet, mạng xã hội đã đóng một phần quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Đào tạo từ xa, học trực tuyến qua mạng, thậm chí là học các
Trang 26chương trình đào tạo của nước ngoài thông qua internet đã không còn mới
mẻ ở nước ta hiện nay Sinh viên có thể học bất cứ lúc nào có thời gian rảnh
và trao đổi trực tiếp với giảng viên trên mạng xã hội, vừa tiết kiệm chi phí vừa tiết kiệm được thời gian Vì vậy, phương thức đào tạo này mang tính cách mạng trong lĩnh vực giáo dục đã mở ra cơ hội học tập cho những đối tượng không có thời gian đến lớp trực tiếp hoặc vừa làm vừa học, cũng là kho kiến thức rộng rãi để cho mỗi người khai thác giúp cho quá trình học tập suốt đời
dễ dàng hơn
Để phù hợp xu thế hội nhập quốc tế, giáo dục cần phải thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại Khi phương pháp dạy học truyền thống rất mất thời gian, chi phí tốn kém mà lượng thông tin và kiến thức quá nhiều nên rất khó khăn để tiếp thu những tri thức mới Vì vậy mạng internet, mạng xã hội ra đời là phương tiện, công cụ rất phù hợp tích hợp giáo dục hiện đại giúp người học tiết kiệm thời gian và chi phí mà vẫn tiếp thu được lượng thông tin tri thức nhanh nhất, mới nhất thông qua việc học tập trên mạng
Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là môn khoa
học trừu tượng và đòi hỏi chính xác, chân thật, sáng tạo Nên việc giảng dạy
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần làm rõ được bản
chất khoa học của nó, do vậy người học cũng cần phải chủ động tìm tòi, và tự học, tự tiếp thu những tri thức mới, để học suốt đời Qua những phân tích trên
khẳng định sự cần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là một yêu cầu cần thiết để nâng
cao hơn nữa chất lượng dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Huế nói riêng và các trường đại học nói chung
Ý nghĩa của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là một yêu cầu cần thiết để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học ở Trường Đại học Sư phạm Huế.
Việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin có thể diễn ra trên lớp học cố định và cũng có thể diễn
Trang 27ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu như trên lớp học ảo (trên mạng) được tập hợp thành nhóm nhỏ hay từng cá nhân.
Viêc học của người học có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ của người dạy, bằng cách trao đổi trực tiếp với người dạy mà không cần mất thời gian gặp mặt trực tiếp
Việc truy cập mạng xã hội thường xuyên có thể trang bị thêm cho người học các thông tin, các kỹ năng về công nghệ và ngoại ngữ nói chung
Việc truy cập mạng xã hội để khai thác, xử lý thông tin môn học trong thư mục điện tử, tài liệu số cũng tạo cho người dạy và người học niềm đam
mê, hứng thú trong học tập và giảng dạy, giúp cho họ có thêm động cơ học
tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Người học có thể chủ động, trong việc xây dựng lộ trình học tập của mình và có thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình
Những bài giảng sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là công cụ quan trọng trong việc giúp
người học thực hành khả năng làm việc nghiên cứu độc lập
Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin có kiến thức
khá trừu tượng và khái quát Liên quan đến nhiều môn khoa học khác, cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Người dạy có thể liên kết các ngành kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bài giảng tận dụng được kho thông tin, hình ảnh khổng lồ trên mạng xã hội giúp người học dễ dàng liên hệ thực tế, thêm nhiều kiến thức về kinh tế, văn hóa xã hội mà trong giáo trình không thể đưa ra hết, giúp chúng ta cập nhật thông tin, tiết kiệm thời gian học, và chuẩn
Trang 28thức về kinh tế, chính trị mới nhất, tránh tình trạng lạc hậu về kiến thức, hạn chế trong cách nhìn nhận.
Như vậy có thể thấy việc xây dựng bài giảng sử dụng mạng xã hội vào
dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là hết sức cần
thiết, có thể ứng dụng cho nhiều môn khoa học khác và cho nhiều đối tượng học tập khác, với các hình thức học tập đa dạng và phong phú
Trang 29độ về công nghệ thông tin và kiến thức mạng xã hội để đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy phát triển giáo dục cũng như nhận thức của sinh vên theo xu thế khu vực và thế giới.
Sử dụng mạng xã hội là một trong những lời giải nâng cao chất lượng giáo dục cho các trường cao đẳng, đại học hiện nay
Các biện pháp quản lý và sử dụng mạng xã hội trong hoạt đông dạy và học là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục các trường cao đẳng, đại học
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NHỮNG
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
2.1 Phương pháp sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luôn tìm cách làm cho hoạt động của mình ngày càng trở nên nhẹ nhàng hơn, đỡ tốn kém về sức lực và thời gian nhưng lại có hiệu quả hơn Nên sử dụng mạng xã
hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần có
những phương pháp giúp quá trình dạy và học đạt kết quả cao hơn bằng những phương pháp sau:
2.1.1 Phương pháp khai thác thông tin
Trong từ điển Tiếng Việt [51] nêu ra: Khai thác là quá trình cá nhân tiếp nhận những tác động của môi trường xung quanh
Vì vậy, mạng xã hội có rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau chính thống
và không chính thống nên dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần phải có phương pháp khai thác thông tin sau:
- Khai thác chủ trương và chính sách có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Khai thác cơ sở lý thuyết có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu
- Khai thác thành tựu đạt được và kết quả nghiên cứu trước đó đã được công bố
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
- Khai thác các số liệu thống kê
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu:
+ Lập danh mục tư liệu trên mạng cần theo hệ thống phân loại phù hợp
để tương thích với hệ thống thông tin tư liệu chung
+ Lập phiếu thư mục: người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra cứu, trong đó ghi rõ: nguồn tư liệu, mã số tư liệu, trang mạng xã hội
Trang 31+ Đọc tài liệu: đọc kỹ, đọc lướt nhanh, tóm tắt, trích ghi, phân tích, đánh giá, phê phán, ghi nhận xét ý kiến các cá nhân Người nghiên cứu cần đọc đầy đủ các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài để làm tổng quan về những thành tựu liên quan đến đề tài.
Để khai thác thông tin, người nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu từ các nguồn trang mạng xã hội khác nhau (tạp chí, báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ, số liệu thống
kê, thông tin đại chúng), phỏng vấn, tiến hành quan sát, tiến hành thực nghiệm
Các tài liệu lý thuyết và thực tế thu nhập được từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau giúp cho người nghiên cứu chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đưa ra Vì mục đích khai thác thông tin là chắt lọc thông tin
chính xác để có thể phục vụ quá trình học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nhanh nhất.
2.1.2 Phương pháp xử lý thông tin
Trong từ điển Tiếng Việt [51] nêu ra: Xử lý là quá trình cá nhân áp dụng những thao tác nhận thức để nghiên cứu, biến những thông tin đã tiếp thu trước đó thành tri thức của bản thân
* Chọn lọc tài liệu, tư liệu, số liệu từ các trang mạng xã hội
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các tài liệu, tư liệu, số liệu.
- So sánh, đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng, thiết thực, có độ tin cậy cao
* Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu
- Quy thành các nhóm tài liệu, số liệu
- Lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng nội dung của từng vấn đề theo một logic nhất định
- Chọn các vấn đề cần đi sâu phân tích
* Phân tích và xử lý các thông tin
Trang 32Đây là giai đoạn cơ bản, quyết định chất lượng của đề tài, vì các tư liệu,
số liệu được xử lý đúng đắn, chính xác có ý nghĩa trong việc xác nhận (chứng minh) hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra
Mục đích của việc phân tích và xử lý thông tin, tư liệu, là tập hợp, chọn lọc và hệ thống hóa các phần khác nhau của thông tin, của tư liệu đã có thể từ
đó tìm ra những khía cạnh mới, kết luận mới về đối tượng Quá trình phân tích, xử lý thông tin, tư liệu là quá trình sử dụng kiến thức tổng hợp của nghiên cứu, là quá trình sử dụng tư duy biện chứng và logic cùng với các phương pháp nghiên cứu khoa học để xem xét đối tượng Quá trình này do trình độ của người nghiên cứu quy định Nội dung và phương pháp xử lý thông tin bao gồm: xử lý thông tin định lượng để phát hiện động thái và quy luật biến động của các tham số, xử lý các thông tin định tính để tìm kiếm các mối quan hệ logic
* Trong quá trình phân tích và xử lý thông tin cần chú ý
- Tôn trọng tính khách quan của sự kiện, con số, người nghiên cứu không được chủ quan áp đặt theo ý đồ của mình
- Cần phát huy tinh thần dũng cảm, mạnh dạn trong nghiên cứu khoa học, bởi vì trong quá trình phân tích, xử lý các thông tin có thể dẫn đến những kết luận, những nhận xét dễ bị phê phán, bác bỏ Trong trường hợp này, người nghiên cứu cần phải thận trọng kiểm tra lại các kết luận của mình, đồng thời phải mạnh dạn phê phán các tư tưởng lạc hậu, lỗi thời và ủng hộ tích cực các
tư tưởng mới, các ý tưởng mới mà các công trình nghiên cứu đã chỉ ra
* Tổng hợp tài liệu
- Bổ túc tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch
- Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những tài liệu cần, đủ để xây dựng chứng cứ
- Sắp xếp tài liệu theo lịch đại, đồng đại và theo quan hệ nhân quả để nhận dạng động thái, tương quan và tương tác của chúng
- Làm tái hiện quy luật là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tài liệu, chính là mục đích tiếp cận lịch sử
Trang 33- Giải thích quy luật: đòi hỏi phải sử dụng các thao tác logic để đưa ra những phán đoán về bản chất các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng.
Phương pháp xử lý là quá trình nhận thức để đưa ra những đánh giá nhận xét nên cần có sự cẩn thận, chính xác về bản chất cũng như nội dung khai thác được
2.1.3 Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
Qua trình bày ở phần trên cho thấy việc lựa chọn và sử dụng phương pháp thảo luận nhóm là một vấn đề quan trọng đối với quá trình dạy học Hơn nữa, sử dụng phương pháp dạy học không đơn giản chỉ hiểu là phương pháp
mà là biết tổ chức và thực hiện một phương pháp Thảo luận nhóm là một phương pháp thích hợp với việc học tập nghiên cứu ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay Nó giúp phát huy được tính tích cực trong hoạt động của sinh viên bởi vì :
- Học tập bằng phương pháp thảo luận nhóm đã tạo được môi trường học tập thuận lợi, cởi mở, vì ở đó mỗi thành viên trong nhóm trao đổi, hợp tác
và giúp đỡ lẫn nhau
- Đồng thời để lĩnh hội những nội dung cơ bản trong bài học, giảng viên có thể chia sẻ sinh viên thành từng nhóm nhỏ và hướng dẫn thảo luận, vì vậy thảo luận nhóm đã tạo ra các nhóm nhỏ có khả năng học tập
- Bằng sự giúp đỡ của các thành viên trong nhóm cụ thể là những sinh viên có trình độ khá, giỏi đối với những sinh viên có trình độ trung bình yếu, kém thì học bằng phương pháp thảo luận nhóm sẽ nâng cao được thành tích học tập của lớp học
- Phương pháp thảo luận nhóm cũng giúp cho sinh viên tính sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và tự giải quyết các vấn đề
- Các thành viên trong lớp học theo phương pháp thảo luận nhóm sẽ có được kỹ năng tổ chức, lãnh đạo, giao tiếp…
Trang 34- Học bằng phương pháp thảo luận nhóm trang bị cho sinh viên khả năng hợp tác trong cuộc sống, đó cũng là điều phù hợp với xu thế chung của thời đại hiện nay.
Với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì
phương pháp thảo luận nói chung và phương pháp thảo luận nhóm nói riêng
có một vai trò vô cùng quan trọng Vai trò này cũng đã được quy định cụ thể trong phân phối chương trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo Cụ thể trong các trường cao đẳng hiện nay, số tiết dành cho Xêmina chiếm một phần hai trong
tổng số tiết của môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Điều đó khẳng định một lần nữa phương pháp thảo luận nhóm có vai trò vô
cùng to lớn trong quá trình dạy và học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên về một nội dung cụ thể nào đó trong bài học, thì thảo luận nhóm giúp sinh viên nắm sau hơn kiến thức, làm rõ những kiến thức cơ bản của bài học hoặc cũng có thể là khả năng vận dụng những kiến thức đó để nhận thức những hiện tượng khác nhau của đời sống
xã hội Dưới những vấn đề cụ thể mà giảng viên đưa ra sinh viên trao đổi, bàn bạc và đi đến kết luận để nắm và hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã học
Mục đích của phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là rèn luyện cho sinh viên những
kỹ năng, kỷ xảo trong lập luận, diễn đạt sự bình tĩnh, mạnh dạn, linh hoạt trong giao tiếp, kĩ năng đánh giá, nhận định và khả năng vận dụng những kiến thức những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội
Mỗi một cá nhân, từ nhỏ đến lớn đều có xu hướng thích sinh hoạt, quan
hệ và làm việc trong các nhóm nhỏ Ở đó họ cảm thấy có hứng khởi, làm việc năng suất và hiệu quả hơn Vì thế có thể nói rằng phương pháp thảo luận
nhóm có một ý nghĩa to lớn trong quá trình giảng dạy và học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện rõ:
Trang 35* Đối với sinh viên
- Thảo luận nhóm là phương pháp rất tốt rèn luyện tư duy logic, về cách đào sâu và trau dồi kiến thức của mình, là trường học về công tác tuyên truyền, là giai đoạn quan trọng trên con đường đi từ kiến thức tới quan điểm, niềm tin
- Thảo luận nhóm cho dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin giúp sinh viên bước đầu biết nêu và giải quyết vấn đề khoa học,
biết phân tích, đánh giá nhận định của người khác và bảo vệ ý kiến của mình với những khoa học vững chắc
- Qua tư duy thảo luận nhóm giúp sinh viên hình thành kỹ năng giao tiếp, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, trao đổi, giúp đỡ hòa nhập cộng đồng Mặt khác, qua thảo luận nhóm sinh viên khắc phục được tính rụt rè, lúng túng khi trình bày quan điểm, nhận xét và bảo vệ quan điểm của mình, rèn luyện thói quen tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và trong nghiên cứu
* Đối với giáo viên:
- Qua thảo luận nhóm trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, giảng viên có điều kiện mở rộng những kiến thức mà
khi lên lớp không có thời gian thực hiện
- Hình thức dạy học này giúp cho giảng viên tìm hiểu được từng sinh viên, kiểm tra được tính hệ thống chiều sâu của sinh viên, tạo điều kiện cho việc phân loại sinh viên một cách chính xác trong quá trình học tập
- Thảo luận nhóm giúp giáo viên có điều kiện uốn nắn những tri thức sai lệch, không chuẩn xác và định hướng kiến thức cần thiết cho sinh viên
- Thảo luận nhóm còn là nơi áp dụng và kiểm nghiệm tính đúng đắn của những phương pháp và phương thức giảng dạy và học tập có tính đặc thù của môn học, cũng như đối với phần chương, mục của bài giảng
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp giúp ích rất nhiều cho
quá trình học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin có sử
Trang 36dụng mạng xã hội Vì quá trình thảo luận nhóm sử dụng mạng xã hội không mất nhiều thời gian cũng như chi phí đi lại cũng như tốn kém mà mọi người vẫn đưa ra được quan điểm của mình thông qua việc lập các nhóm bài thảo luận trên trang mạng xã hội.
Bằng những phương pháp dạy học trên giúp cho sinh viên cũng như giảng viên có thể dễ dàng khai thác và xử lý thông tin cũng như trao đổi thông
tin nhanh nhất đem hiệu quả trong quá trình học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
2.1.4 Tạo lập tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Để sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin người sử dụng phải đăng ký thành viên thông qua địa
chỉ mail theo hòm thư của từng trường Cụ thể, để khởi đầu, một thành viên trong trường (sẽ là quản trị) sẽ sử dụng địa chỉ email của mình để tạo tài khoản của trường mình trên trang mạng xã hội Sau khi được xác nhận qua email, thành viên này sẽ có thể gửi các lời mời tham gia tới các cá nhân trong trường Các cá nhân trong trường khi nhận được email mời tham gia của người quản trị, sẽ được được cung cấp liên kết dẫn tới trang chủ Tại đây, thành viên của hệ thống sẽ phân biệt thành hai đối tượng là giảng viên và học sinh Để tạo thành các lớp học, đối tượng là giảng viên sẽ có chức năng “Tạo lớp học” với mã lớp riêng Thành viên, sinh viên muốn gia nhập vào lớp nào thì phải có mã của lớp đó
Trang 37Biểuđồ biểu diễn
Hình1.1: Biểu đồ biểu diễn gói đăng ký, quản lý thông tin cá nhân
Như đã trình bày ở tính năng đăng ký, quản lý thông tin cá nhân, tính năng này cho phép các giảng viên tạo và quản lý các lớp học của mình Sau khi đăng ký là giảng viên, giảng viên có thể tạo mã của lớp học và cung cấp cho các sinh viên của mình để đăng ký vào lớp học Mã của một lớp là duy nhất, tuy nhiên không phải cứ biết mã số đó là sinh viên có thể đăng ký là thành viên của lớp học đó Giảng viên có thể chấp nhận hoặc từ chối đăng ký của một sinh viên
Giảng viên có các đặc quyền với lớp học của mình như: tạm đóng cửa lớp học và không có sinh viên nào có thể tham gia thêm trừ khi giảng viên
mở cửa lại lớp Giảng viên cũng có thể loại bỏ sinh viên ra khỏi lớp học của mình, và khi loại bỏ sinh viên đó ra khỏi lớp thì mọi thông tin của sinh viên
đó sẽ mất
Trang 38Hệ thống còn cung cấp cho giảng viên khả năng tạo các nhóm nhỏ trong lớp học để giúp cho việc quản lý làm các bài tập theo nhóm… Ngoài ra
hệ thống cho phép giảng viên khả năng “tạm dừng” một lớp hoặc “xóa” lớp
Qua cách đăng ký tài khoản thì ta thấy các bước sử dụng mạng xã hội
dạy học môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác- Lênin thuận tiện và dễ
dàng
Thông qua sử dụng mạng xã hội thì trao đổi thông tin một cách dễ dàng hơn và mọi bài giảng mà giảng viên muốn truyền đạt đến người học qua giáo điện tử hay bài giảng online hay những clip đều có thể thực hiện một cách nhanh chóng đó là đưa lên trang mạng xã hội
2.2 Quy trình sử dụng mạng xã hội vào thiết kế bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học
2.2.1 Xác định mục tiêu của việc thiết kế
Việc xác định mục tiêu của việc thiết kế là hết sức quan trọng, đó chính
là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của bài giảng Như vậy việc xác định mục tiêu thực chất là trả lời câu hỏi: Học xong bài này, người học cần biết hoặc biết được cái gì? Vậy trước tiên ta phải hướng người học vào quá trình trung tâm của việc dạy học, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, người học đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà người học có được sau bài học Tóm lại, mục tiêu bài học cần được viết rõ ràng, cụ thể, chính xác để người học không cần phải đoán mà vẫn có thể làm được Không nên viết mục tiêu
cơ bản về kiến thức, kỹ năng, thái độ Khi viết ra mục tiêu bài học phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Sát hợp: Mục tiêu phải sát hợp với nhiệm vụ của người học sau khi học, nó bao hàm cả những kiến thức chính, kiến thức phụ phục vụ cho nhiệm
vụ sắp tới của người học
Trang 39Logic: Nội dung của một hay nhiều mục tiêu trong bài học gồm những yêu cầu, mong muốn người học phải thực hiện được Những yêu cầu và tiêu chuẩn đó có mối liên hệ tất yếu, chặt chẽ, trật tự Nghĩa là phải mang tính logic Không thể đặt yêu cầu và tiêu chuẩn xa với điều kiện thực tế.
Chính xác: Việc chọn từ và đặt câu phải rõ ràng, tránh việc có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau
Thực hiện được: các mục tiêu đặt ra phải vừa tầm với người học giúp người học có thể thực hiện được
Đo lường được: Các yêu cầu đặt ra trong mục tiêu phải rõ ràng và có thể định lượng được trong việc lượng giá
2.2.2 Xác định đúng nội dung trọng tâm
Sau khi xác định được mục tiêu học tập người thầy có nhiệm vụ phải xác định cho đúng và đủ nội dung dạy học tức là phải trả lời câu hỏi; dạy cái gì? Mục tiêu dạy học sẽ trực tiếp quy định nội dung dạy học và nội dung dạy học phải phủ kín nội dung học tập
Nội dung dạy học phải bao gồm:
Những nội dung cơ bản: đó là những nội dung đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trong chương trình, khi soạn thảo những nội dung cơ bản này, người thầy cần căn cứ vào nội dung học tập của người học để xác định cụ thể và chính xác hơn nội dung nào là cốt lõi, quan trọng nhất cần nhấn mạnh, nội dung nào người học khó tiếp thu cần tập trung giảng giải cũng như nội dung nào người học có thể tự học, tự nghiên cứu được để từ đó xác định phương pháp dạy học cho phù hợp
Những nội dung cần tham khảo, bổ sung: Căn cứ vào nội dung kiến thức, mục tiêu học tập đối với từng đối tượng người học khác nhau, căn cứ vào điều kiện học tập cụ thể, mà người thầy có thể đưa ra những nội dung bổ trợ cần được nghiên cứu tham khảo
Trang 40Giảng viên có thể yêu cầu người học đọc thêm cuốn sách A, tài liệu B
và các tài liệu khác có thể truy cập thông tin trên mạng, theo những hướng dẫn cụ thể là cần đọc phần nào? Trả lời những câu hỏi nào? Giải quyết vấn đề nào? Để mở rộng thêm kiến thức đã trang bị trong giáo trình Giảng viên cũng
có thể đưa ra một số tình huống, một số bài tập yêu cầu người học phải giải quyết nhằm củng cố, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng cần thiết
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài Từ đó làm rõ thêm các vấn đề trọng tâm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được dễ dàng Cũng cần chú ý việc cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi nội dung cơ bản của bài học mà các tác giả viết sách đã dày công xây dựng
2.2.3 Xây dựng kịch bản cho quá trình thực hiện.
Khi ta đã xác định được mục tiêu của bài dạy, lựa chọn được kiến thức cần thể hiện thì việc tiếp theo là ta phải xây dựng được từng đơn vị cụ thể của một tiến trình dạy học và viết kịch bản hóa bài học nó cũng tương tự như soạn giáo án thông thường, công việc thiết kế càng kỹ lưỡng, càng khoa học bao nhiêu thì kết quả đạt được bấy nhiêu
Để thiết kế một cách có hiệu quả ta cần đi theo trình tự sau:
- Xác định nội dung hoạt động
Khi thiết kế hoạt động người dạy cần trả lời câu hỏi sau: để đạt được mục tiêu của bài học thì cần những hoạt động nào? Mỗi hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu nào? Có vai trò gì? Cách thức tổ chức hoạt động ra sao? Những nội dung nào nên để người học làm việc với cá nhân, nội dung nào nên làm việc theo nhóm lớp?
Với mỗi hoạt động người dạy cần đưa ra những yêu cầu cụ thể để hướng dẫn hoạt động học tập của người học Những yêu cầu này thực chất là những câu hỏi, bài tập hoặc những chỉ dẫn được sắp xếp theo một thứ tự nhất định