Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng là rất cần thiết, sựtích hợp nhiều nguyên tố vi lượng trong một sản phẩm sẽ nâng cao khả năngứng dụng của phân bón.. Sau mô
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác trước đây
SengchanhSINTHAVONG
Trang 2Hà Nội; đồng thời đã bổ sung, đóng góp nhiều ý kiến quí báu giúp tôi hoànthành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, các thầy giáo, cô giáotrong Bộ môn Hóa học Vô cơ - khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm HàNội, cảm ơn Thầy Vanny YANGCHIAMUA – Hiệu Trưởng cùng toàn thêcác thầy giáo, cô giáo Trường cao đẳng Sư phạm KhangKhai đã quan tâm,giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thànhluận văn
Sau cùng tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, độngviên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2014.
Tác giá luận văn
Sengchanh SINTHAVONG
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cuộc khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng tài chính đã ảnhhưởng đến mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Nền sản xuấtnông nghiệp theo đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực, đòi hỏi phải cónhững biện pháp tiết kiệm chỉ phí trong sản xuất nông nghiệp, nhất là việc sửdụng phân bón vì theo điều tra việc sử dụng phân bón như hiện nay là nhiềulãng phí
An ninh lương thực là vấn đề luôn được thế giới quan tâm do sự gia tăngdân số hàng năm trong khi diện tích đất canh tác ngày càng giảm Đề đảm bảonhu cầu lương thực thế giới, cần tăng sản lượng cây nông nghiệp Có nhiềuyếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, trong đóviệc sử dụng hiệu quả phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhấttrong canh tác nông nghiệp hiện đại
Môi trường sống ngày càng ô nhiễm trần trọng do các hoạt động sinhhoạt và sản xuất của con người, hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởngmột phần đến sự ô nhiễm đó Việc phân bón bị rửa trôi hoặc bị dư thừa do câytrồng không hấp thụ hết dẫn đến ô nhiễm đất trồng và môi trường sống
Từ những yêu cầu trên đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà sản xuất phảicó kế hoạch nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các loại phân bón thông minh nhằmmang lại sự phát triên bền vững cho ngành nông nghiệp Một trong số các loạiđang được các nhà khoa học quan tâm hiện nay đó là phân bón qua lá
Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng là rất cần thiết, sựtích hợp nhiều nguyên tố vi lượng trong một sản phẩm sẽ nâng cao khả năngứng dụng của phân bón Một số công trình nghiên cứu cũng đã cho thấy sự cómặt của các nguyên tố đất hiếm, như lantan, xeri, sẽ làm tăng năng suất đáng
kê của cây trồng
Trang 7Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã tìm được các điều kiện thíchhợp đê tổng hợp nên chế phẩm DLH1 chứa các nguyên tố đa lượng, trunglượng và vi lượng.
Hoa Lily là loại hoa mới được nhập nội và trồng ở nước ta chưa lâu, nênquy trình kỹ thuật sử dụng phân bón qua lá và các chế phẩm điều hòa sinhtrưởng cũng chưa được nghiên cứu ứng dụng một cách hiệu quả, gây khókhăn cho người sản xuất hoa ở nước ta Việc nghiên cứu ứng dụng chế phẩmphân bón qua lá cho cây hoa Lily là cần thiết nhằm tăng lợi ích cho nghềtrồng hoa
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng chế phẩm phân bón qua lá cho cây hoa Lily tại Hà Nội” làm đề tài luận văn
của mình, mong rằng nội dung luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trongnghề trồng hoa Lily tại Hà Nội và các địa phương khác
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được quy trình tổng hợp chế phẩm phân bón lá cho cây hoa lily.Đánh giá được khả năng ứng dụng của chế phẩm đã tổng hợp đối với câyhoa lily trồng trong chậu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu, ứng dụng của một số loại phân bón látrên thế giới và ở Việt Nam
- Tổng quan về đặc điêm sinh trưởng và quy trình sản xuất hoa lily ởViệt Nam
- Tổng hợp chế phẩm phân bón lá trong phòng thí nghiệm và xác địnhcác thông số đặc trưng
- Xây dựng quy trình tổng hợp chế phẩm phân bón qua lá
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng chế phẩm phân bón lá cho cây hoa lilytrồng trong chậu
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu liên quan
- Tổng hợp vô cơ
- Sử dụng các thiết bị phân tích vật lý và hóa lý, như: AAS, tán xạ Laserđộng,
- Sử dụng quy trình trồng hoa thực nghiệm Lily của Trung tâm hoa và câycảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội
5 Đóng góp của đề tài
- Đã xây dựng được quy trình tổng hợp chế phẩm DLH1 ổn định với sản
phẩm đạt chất lượng của phân bón lá
- Bước đầu thực nghiệm trên cây hoa Lily trồng chậu đã cho hiệu quả rõ rệtcủa chế phẩm tổng hợp
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần:
- Mở đầu
- Nội dung chính với 3 chương:
+ Chương 1: Tổng quan
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG
Chức năng chính của mỗi nguyên tố thê hiện dưới đây: [5, 9, 12]
+ Tăng sinh trưởng và phát triên của các mô sống
+ Cải thiện chất lượng của rau ăn lá, cỏ khô làm thức ăn gia súc vàprotein của hạt ngũ cốc
Phốt pho:
+ Có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein.+ Là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein, phospho-lipid,coenzim NAP, NATP
+ Là thành phần tất yếu của aminoaxit, ATP
+ Cần thiết cho sự phân chia tế bào, là thành phần của nhiễm sắc thê,kích thích rễ phát triên
+ Cần thiết cho sự phát triên của mô phân sinh, hạt và phát triên của quả,kích thích ra hoa
Trang 10+ Giúp vận chuyên cacbonhydrat, tổng hợp protein, duy trì sự ổn địnhcủa nó.
+ Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết lạnh và mây mù, dovậy nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác của cây
+ Làm tăng độ lớn của hạt và cải thiện chất lượng Quả và rau
Canxi:
+ Là thành phần của màng tế bào dưới dạng canxi pectate cần thiết cho
sự phân chia tế bào được bình thường
+ Giúp cho màng tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thê
+ Hoạt hóa nhiều enzim (như phospholipase, arginine, triphosphata).+ Đóng vai trò là một chất giải độc bằng cách trung hòa axit hữu cơtrong cây
Magiê:
+ Là thành phần cấu tạo của diệp lục tố
+ Là hoạt chất của hệ enzim gắn liến với sự chuyên hóa hydratcacbon vàtổng hợp axit nucleic + Là hoạt chất của hệ enzim gắn liến với sự chuyên hóahydratcacbon và tổng hợp axit nucleic
+ Thúc đẩy hấp thụ và vận chuyên lân của cây
+ Giúp đường vận chuyên dễ dàng trong cây
Lưu huỳnh:
+ Là thành phần của các axit min chứa lưu huỳnh cũng như aminoaxit.+ Liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, biotin, thiamin vàcoenzim A
+ Giúp cho cấu trúc protein được vững chắc
Đồng:
+ Là thành phần của men cytochrome oxydase và thành phần của nhiềuenzim-ascorbic, axit axidase, phenolase, lactase
Trang 11+ Xúc tiến quá trình hình thành vitamin A
Kẽm:
+ Liên quan đến sự tổng hợp sinh học của axit indolacetic
+ Là thành phần thiết yếu của một số men metallo - enzimes-carbonic,anhydrase, anxohol dehydrogenase
+ Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic vàprotein
+ Tăng cường khả năng sử dụng lân và đạm
Sắt:
+ Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp lục tố trong cây
+ Là thành phần chủ yếu của nhiều enzim
+ Đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyên hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến
sự chuyên hóa RNA hoặc diệp lục tố
Mangan:
+ Xúc tác trong một số phản ứng enzim và sinh lý trong cây, là mộtthành phần của pyruvate carboxylase
+ Liên quan đến quá trình hô hấp của cây
+ Hoạt hóa các enzim hên quan đến sự chuyên hóa đạm và sự tổng hợpdiệp lục tố
+ Kiêm soát thế oxyhóa- khử trong tế bào ở các pha sáng và tối
Bo:
+ Ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim
+ Có khả năng tạo thức với các hợp chất polyhydroxy khác nhau
+ Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyên hydratcarbon được dễ dàng
+ Liên quan đến quá trình tổng hợp liqnin
+ Thiết yêu đối với sự phân chia tế bào
Trang 12+ Ảnh hưởng với sự lấy đi và sử dụng Ca của cây trồng, giúp điều chỉnh
tỷ lệ K/CA trong cây
+ Thiết yếu với sự tổng hợp protein trồng cây
Molypden:
+ Xúc tiến quá trình cố định đạm và sử dụng đạm của cây
+ Là thành phần của men khử nitrat và men nitrogenase
+ Cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm cộng sinh ở nốt sần cây họ đậu
Clo:
+ Là thành phần của axit auxin chloindole-3 acetic mà ở các hạt chưachín nó chiếm vị trí của axit indole acetic
+ Thành phần của nhiều hợp chất tìm thấy trong vi khuẩn và nấm
+ Kích thích sự hoạt động của một số Enzim và ảnh hưởng đến sựchuyên hóa hydrat cacbon và khả năng giữ nước của mô thực vật
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN QUA LÁ 1.2.1 Tình hình sản xuất phân bón qua lá
Trong mhững năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiêncứu các loại phân bón qua lá trên các nền phụ gia khác nhau như: phân bónqua lá từ nền dầu hữu cơ, dầu lanh và các loại phân: NPK, urea hay các loạiphân Ca, Mg; phân bón qua lá được bao bọc bằng polyme đường hay dẫn xuấtcủa nó; phân nhả chậm từ những hạt phân được bao bọc bởi nhựa nhiệt rắn vàmột hợp chất kỵ nước; phân bón qua lá từ hỗn hợp dung dịch urea vàfomanđêhit, với các chất nền khô từ nguồn photpho và kali đê tạo nên hỗnhợp những hạt phân đồng nhất NPK; phân urea nhả chậm bọc lưu huỳnh;phân bón qua lá từ đicyanđiamit, 1,4-benzenđiol, axit humic, zeolit, bột kíchthích rễ và nguyên tố vi lượng; phân NPK, phân bón qua lá sử dụng chất kếtdính là Na2SiO3; phân bón qua lá từ hỗn hợp zeolit và ammoni nitrat hayurea vv [1, 2, 3, 4]
Trang 13Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về phân bón bónqua lá như: phân bón qua lá urea-zeolit từ urea và zeolit NaX; phân bón ureavới polyme nền gelatin từ gelatin, urea và ammoni bicromat; phân NPK, phânbón hấp phụ trên nền than bùn; phân bón urea bao bọc bằng tinh bột biến tính
và fomanđehit, vv [8]
Theo thông tin báo cáo của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, tháng 11/2008,khi điều tra 9 doanh nghiệp sản xuất phân bón lá trên 11 tỉnh phía Bắc chothấy các doanh nghiệp sản xuất 27 loại phân bón lá, trong đó dạng lỏng 44,4%(12 loại), dạng rắn 55,6% (15 loại) Tất cả các loại phân bón lá sản xuất rađều được tiêu thụ trên thị trường
Thông tin điều tra 38 doanh nghiệp sản xuất phân bón lá trên 15 tỉnhphía Nam cho thấy số loại phân bón lá do các doanh nghiệp sản xuất ra là
275, trong đó dạng lỏng 57,5% (158 loại), dạng rắn 42,5% (117 loại) Các loạiphân bón lá sản xuất ra được tiêu thụ trên thị trường 227 loại, trong đó dạnglỏng 58,1% (132 loại), dạng rắn 41,9% (95 loại)
Tổng số loại phân bón lá sản xuất của 47 doanh nghiệp trên 26 tỉnh là
302 loại, trong đó dạng lỏng 56,3% (170 loại), dạng rắn 43,7% (132 loại).Các loại phân bón lá sản xuất ra tiêu thụ được 84,1% (dạng lỏng 47,7%, dạngrắn 36,4%) Trong số các loại phân bón lá tiêu thụ được, dạng lỏng chiếm56,7% (144 loại), dạng rắn chiếm 43,3% (110 loại)
Tất cả các loại phân bón lá được điều tra và lấy mẫu đều có trong Danhmục phân bón của Bộ NN&PTNT
Tính đến tháng 12 năm 2012 trong danh mục phân bón được phép sửdụng ở Việt Nam có: tổng số: 7.711 loại phân bón, trong đó có 4.683 loạiphân bón lá, chiếm 60,1% tổng số các loại phân bón
Phân bón lá do các cơ sở sản xuất thường được chia làm 2 dạng chính: [11]
- Sử dụng các chất sinh trưởng giúp cây tăng cường sinh trưởng, từ đó
Trang 14tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng.
- Không chứa các chất sinh trưởng mà chỉ dựa vào nguyên tố khoáng vilượng, đa lượng được phối hợp trộn theo một tỉ lệ hợp lí giúp cây trồng sinhtrưởng ổn định một cách tự nhiên
Nguyên tắc chung trong công nghệ sản xuất phân bón lá hiện nay là: [7]
* Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu khoáng
Bước 1: Tổng hợp các thành phần đa lượng:
- Tổng hợp K3PO4: 3KOH + H3PO4 → K3PO4 + 3H2O
- Tổng hợp (NH4)NO3: NH3 + HNO3 → (NH4)NO3 + H2O
- Phối trộn dung dịch K3PO4 và (NH4)NO3 trong bê trung hoà, pH đạt 6,5
Bước 2: Tổng hợp các thành phần vi lượng, bao gồm: Tổng hợp phức
EDTA của các muối: MgSO4.7H2O, MnSO4.5H2O, CuSO4.5H2O, ZnSO4 vàFeSO4.7H2O
Bước 3: Phối trộn phần đa lượng và vi lượng.
Bước 4: Kiêm tra tiêu chuẩn chất lượng và đóng gói.
Các bước này được biêu diễn bằng sơ đồ sau:
Trang 15Quy trình sản xuất phân bón lá của các cơ sở liên doanh với nước ngoàicũng tương tự, chỉ khác ở phương thức điều chỉnh các thông số kỹ thuật Cácloại phân bón lá được sản xuất bằng quy trình công nghệ trong nước hoặc liêndoanh có thê bổ sung thêm hoặc không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng.
* Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ
Trang 161.2.2 Tình hình sử dụng phân bón qua lá
Theo Bùi Quang Lanh [4] từ những năm 60 của thế kỉ trước, nông dânmiền Bắc đã sử dụng phân bón hoá học Ban đầu mới có phân đạm sử dụngphối hợp với phân chuồng đã đưa năng suất lúa từ 1 tấn/ha/vụ lên 2 tấn/ ha/vụ Khi nông dân biết sử dụng thêm phân lân thì năng suất thì năng suất lúađược tăng lên 3 -3,5 tấn/ha/vụ và khi biết sử dụng thêm phân Kali thì năngsuất lúa tăng lên 5-7 tấn/ha/vụ Như vậy: Đạm, lân và kali là những yếu tốchính hạn chế năng suất cây trồng, nếu cây trồng được bón đủ, bón cân đốivới đạm, lân, kali và bón đúng kĩ thuật thì năng suất tăng đột biến Kết quảnghiên cứu cũng cho thấy, cây trồng không chỉ cần đạm, lân, kali mà còn rấtnhiều chất dinh dưỡng khác như vôi, magiê, lưu huỳnh, silíc, sắt, bo, kẽm,đồng, chất hữu cơ, vv sẵn có trong đất và được bổ xung hàng năm bằngnguồn phân chuồng Quá trình canh tác hàng ngàn đời nay làm chất dinhdưỡng cần thiết ngày càng cạn kiệt mặt khác cuộc cách mạng về giống hiện
Trang 17nay cho ra đời nhiều loại giống cây trồng năng suất cao, đòi hỏi sử dụng nhiềuchất dinh dưỡng, nếu chỉ bón đạm, lân, kali hay NPK thông thường thì câytrồng không phát huy năng suất và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Tuynhiên trong thực tế không phải người nông dân nào cũng sử dụng phân bónđúng kĩ thuật, nên có nhiều người đầu tư thâm canh cao nhưng năng suất, chấtlượng nông sản lại giảm do bón không cân đối, không đúng thời điêm Việcsử dụng phân bón qua lá sẽ khắc phục được các nhược điêm trên Theo ChuThị Thơm và cộng sự [8] thì phân bón qua lá là một tiến bộ kĩ thuật đượcdùng nhiều trong thời gian gần đây Tuy vậy, bón phân qua lá không thê hoàntoàn thay thế được 100% bón phân qua đất Các loại phân bón qua lá là nhữnghợp chất dinh dưỡng, có thê là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vilượng, được hoà tan trong nước và phun lên cây đê cây hấp thu Đây là cáchbón phân mới được phổ biến trong những năm gần đây, bởi vì thông thườngphân được bón vào đất và được cây trồng hấp thu qua rễ.
Bón phân qua lá phát huy được hiệu lực nhanh Tỷ lệ cây sử dụng chấtdinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 90% chất dinh dưỡng bónqua lá, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50%
Bón qua lá tốt nhất là các đợt bón bổ xung, bón thúc đê đáp ứng nhanhcác nhu cầu dinh dưỡng của cây Đặc biệt là giúp cây chóng phục hồi sau khibị sâu bệnh, bão lụt gây hại, hoặc là khi trong đất vì những lí do khác nhau bịthiếu chất dinh dưỡng một cách đột ngột
Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tế sản xuất cho thấy
là bón phân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất và phẩmchất nông sản, tăng giá trị thương phẩm của nông sản hàng hoá Như người taphun urê lên lá với nồng độ 0,5-1,5 % Tuy nhiên phần lớn các loại phân bónqua lá là những hỗn hợp các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng ở dạng hoàtan trong nước Đê nâng cao hiệu quả của phân bón qua lá, người ta thường
Trang 18bổ xung các chất kích thích sinh trưởng cây, các phi tohocmon, các ezim vào.Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều loại phân bón qua lá Trongđó có những loại do các xí nghiệp trong nước sản xuất như HVP301 N,Comix; HB101, Biofact, BK104, CSF002, HUMID Các loại phân bón qua lánhập từ nước ngoài có Atomix, Đặc đa thu, Lục thuỷ thần, Open all
Phân bón lá thường được bán dưới dạng lỏng, tuy vậy vẫn có một dạngbột như Thần nông, Thiên nông, nhập từ Thái Lan Khi sử dụng phân bónqua lá cần chú ý: Hoà loãng phân theo đúng tỉ lệ được ghi trên bao bì Khi độẩm không khí thấp, đất bị hạn nặng thì không nên dùng phân bón lá vì dễ làmrụng lá
Không nên nhầm lẫn giữa phân bón lá với chất kích thích sinh trưởng.Bởi vì chất chất kích thích sinh trưởng chỉ phát huy được tốt khi cây có đầy
đủ chất dinh dưỡng, nếu không cây có thê bị thiếu chất dinh dưỡng dẫn đếnnhững hậu quả xấu đén sinh trưởng và phát triên của cây Vì vậy, khi trongphân bón lá có chất kích thích sinh trưởng thì các chất dinh dưỡng đã có sẵntrong phân, cho nên 2 loại chất sẽ phát huy tác dụng của nhau Nếu chỉ dùngriêng chất kích thích sinh trưởng thì phải bổ xung thêm phân bón cây mới đủdinh dưỡng đê tăng trưởng Phân bón qua lá có thê là các loại phân đơn như
N, P, K, Cu, Zn vv
Theo tác giả Nguyễn Hạc Thuý [12], không nên sử dụng phân bón lá khicây đang ra hoa, lúc trời đang nắng Vì vậy sẽ làm rụng hoa, quả và làm giảmhiệu lực của phân bón
Lá là cơ quan duy nhất thực hiện được quang hợp, tạo ra năng suất, đồngthời cũng là cơ quan có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cho cây Phân bónqua lá có thê có nguồn gốc hoá học hoặc hữu cơ Phân bón qua lá có nguồngốc hoá học thường là các chất vi lượng
Ngoài đạm, lân, kali và vi lượng, cây trồng còn cần những chất dinh
Trang 19dưỡng hữu cơ khác như vitamin, đạm hữu cơ (protein), các chất kích thíchsinh trưởng vv đê sinh trưởng và phát triên Các chất này có cấu tạo phân tửlớn và phức tạp hơn đạm, lân và kali, do vậy, rễ không hấp thu được mà chỉcó lá mới hấp thu được.
Đê bổ xung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương phápbón phân hữu cơ, phân chuồng hoai mục kết hợp với các loại phân khoáng,người ta còn áp dụng phương thức bón phân qua lá đê tạo điều kiện cho câytrồng hấp thu dinh dưỡng, dễ dàng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng vàphát triên tốt Theo Vũ Cao Thái [26], đã nhận định, bón phân qua lá là mộtgiải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây trồng Khả năng hấp thudinh dưỡng qua lá được phát hiện vào đầu thế kỉ XIX bằng phương pháp đồngvị phóng xạ cho thấy cây trồng ngoài bộ phận lá, các bộ phận khác như thân,cành, hoa, trái đều có thê hấp thu được chất dinh dưỡng Mặt khác, theo tácgiả trên cho rằng diện tích lá của cây bằng 15-20 lần diện tích đất do tán chephủ, do đó nhận được dinh dưỡng bằng phun qua lá được nhiều hơn
Trong những năm 90 của thế kỷ trước, châu Âu đã chế tạo và sử dụngrộng rãi các loại phân phức hữu cơ Ưu điêm của loại phân bón lá phức hữu
cơ là: Nhờ khả năng tạo phức giữa các axit anim với các kim loại như Cu++,
Zn++, Mo++, Ni++, Mn++, Mg++,Ca++ mà ta có thê đưa cùng một lúc hầu hết cácnguyên tố vi lượng, đa lượng và trung lượng trong các cấu tạo của phức chất.Cấu trúc dạng phức tạo khả năng bền vững cho các phân tử do đó khả năngbảo quản cất giữ được lâu bền, cũng nhờ có cấu trúc dạng phức hữu cơ nênđộ pH ổn định tuyệt đối Các axit amin trong cấu trúc của phân bón lá có tácdụng cung cấp trực tiếp dinh dưỡng trực tiếp cho cây và tham gia ngay vàoviệc tổng hợp và kích thích khả năng sinh tổng hợp Protein trong cây, kích thích
sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác [36] Cũng nhờ có các ưu điêm trên, hiệusuất đồng hoá của cây đối với các loại phân bón lá này cao hơn so với các loại
Trang 20phân bón lá khác, phân bón được chế tạo ở dạng dễ bảo quản [11].
Ở Việt Nam, phân bón lá phức hữu cơ Pomior đã được thử nghiệm trêndiện rộng từ năm 1995 ở Yên Hưng (Quảng Ninh), Phúc Yên (Sơn La), YênDũng, Hiệp Hoà (Bắc Giang), Tiên Sơn (Bắc Ninh), Ngọc Lạc (Thanh Hoá),Mỹ Hào (Hưng Yên), Sóc Sơn, Đông Anh, GIa Lâm (Hà Nội), Nghệ An, NhaTrang, Thừa Thiên Huế Trên tất cả các loại cây trồng lúa màu, cây ăn quả,hoa và cây cảnh Ở tất cả các địa phương trên đều cho những nhận xét tốt:năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón vànhân lực, phẩm chất rau và quả đạt chất lượng cao [10]
Qua thực tế phân bón lá phức hữu cơ Pomior có tác dụng cung cấp đầy
đủ và kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho các loại cây trồng ở mọi giaiđoạn sinh trưởng Đặc biệt là ở những giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng củacây trồng như sau khi kết thúc nảy mầm (khi cây có một lá thật), thời kì câytăng trưởng mạnh, thời kì phân hoá mầm hoa, thời kì nở hoa và thời gian thụtinh, thụ phấn hình thành quả Phân bón lá phát huy được hiệu quả mạnh đốivới cây trồng trên đất mặn, đất hạn (thời kì hạn cây không thê hấp thu đầy đủchất dinh dưỡng trong đất có khi được ngừng trệ hoàn toàn) [11]
Phân vi sinh qua lá BioGro là chế phẩm được chiết rút từ vi sinh vật nên
và vì vậy, nó mang nguồn gốc hữu cơ Cũng chính do đây là chế phẩm đượcchiết rút từ vi sinh vật nên tác dụng của nó có thê thấy nhanh hơn (5- 7 ngày)
so với vi sinh vật bón qua rễ Phân vi sinh BioGro bón qua lá giúp cây trồngphát triên nhanh hơn, năng suất cao hơn, rút ngắn thời gian thu hoạch [8] Từtrước đến nay, người ta vẫn phun cho lá các loại phân vi lượng, đa lượng cónguồn gốc hoá học
Phân vi sinh bón qua lá là chế phẩm được chiết rút ra từ vi sinh vật, cungcấp các chất dinh dưỡng hữu cơ, chất kích thích sinh trưởng và các loạivitamin Cây trồng dễ hấp thu phân vi sinh bón qua lá Phân vi sinh bón qua
Trang 21lá BioGro có thê phun cho các loại cây trồng Tuỳ từng loại cây, trong một vụcó thê phun cho nhiều loại cây trồng, Tuỳ từng loại, trong một vụ có thê phunnhiều lần, mỗi lần có thê phun cách nhau 2 tuần.
Với cây lúa, có thê phun 2-3 lần, phun cho luống mạ trước khi cấy 5-7ngày, trước khi trỗ 5-7 ngày
Với cây rau và ngô, từ khi có 3-4 lá, 2 tuần phun 1 lần trong 1.5 tháng đầu.Với cây chè, phun sau mỗi lần hái 10-15 ngày, khi xuất hiện lá non.Cây trong vừơn ươm và cỏ vận động rất thích hợp với phân vi sinh bónqua lá Lá non hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn lá già, mặt dưới hấp thu chấtdinh dưỡng tốt hơn mặt trên của lá [8]
Tại Lâm Đồng, Trung tâm khuyến nông Lâm Đồng đã thử nghiệm vàcho kết quả rất khả quan trên các giống cây trồng Với cây cà chua khi phun
26 ml ĐH1 cho năng suất 614 tạ/ha tăng 13,74% so với đối chứng, phun 36
ml ĐH1 cho năng suất 717,9 tạ/ha tăng 32,99% so với đối chứng Đối với câydâu tây, khi phun 26ml ĐH1 sản lượng đạt1.210 kg/1000m2, tăng 7,07% sovới đối chứng, trong đó tỉ lệ quả loại 1 đạt 52,15% Khi phun 36ml ĐH1 sảnlượng 1.530 kg/1000m2, tăng 35,49% so với đối chứng, trong đó tỷ lệ quả loại
1 đạt 52,15%
Đối với lúa Bắc ưu 64 sau cấy 7 ngày (15/8/1995) toàn bộ diện tích bịngập nặng chỉ còn 1-1,5 % số lá còn lại trên mặt nước Toàn bộ diện tích 5 hađược làm cỏ sục bùn sau khi rút nước, bón 1 sào 10 kg Superlân và phun bổxung 3 lần phân bón lá Pomior Kết quả sau 5 ngày lá non bắt đầu mọc trở lại,sau 8-10 ngày đẻ nhánh rộ và sinh truởng bình thường Số đẻ nhánh bình quân20-22 dảnh /khóm, số dảnh hữu hiệu 8-10 rảnh So với diện tích chung toànhuyện, diện tích lúa Bắc ưu bị ngập nặng được phun Pomior đã tăng năng suất18,1 ta/ha [10] Cũng trong thời gian này Nguyễn Tiến Huy [3], đã thực hiệnthí nghiệm về phân bón lá Sài Gòn VA và Sài Gòn (SAFER) HQ phân bón lácó tác dụng tốt đối với lúa, biêu hiện ở: lá lúa mỡ, màu xanh sáng, dày hơn đối
Trang 22chứng, bụi lúa cứng cáp, bộ lá giữ bền làm cho lúa trỗ tập trung, tỷ lệ lép thấp,
số hạt chắc tăng Năng suất lúa được phân bón lá Sài Gòn tác động chỉ trên10% vụ xuân 1996 ở Hà Tây, nên số tăng tuyệt đối khá cao 800 - 900 kgthóc/ha Đầu tư thêm mỗi ha 30 công phun (mỗi công 10.000 đồng) và 30.000đồng phân bón, vậy đầu tư thêm 1.000 đồng thì thu được 2,4- 2,7 kg/thóc (cũngcó thê nói mỗi công lao động sử dụng phân này đã thu được 200 kg thóc) Đối với lúa Mộc tuyền được phun ở giai đoạn mạ và 2 lần sau cấy: Lúahồi xanh nhanh hơn, đẻ sớm, đẻ khoẻ so với ruộng không phun Bình quân sốnhánh đẻ của lúa Mộc tuyền cấy tái giá là 14-15 dảnh/khóm Ruộng đốichứng không phun chỉ đạt10-12 dảnh/khóm Số nhánh hữu hiệu 8-10 dảnh Sốnhánh hữu hiệu: 6-7 (không phun 4-5) Chiều cao cây cao hơn đối chứng 5-6,5 cm, chiều dài bông dài hơn đối chứng 0,7-1,2 cm, lá to, dày, xanh đậmhơn Lúa có phun Pomior trỗ sớm hơn các trà không phun 4-5 ngày hạt mẩyđều, màu vàng sáng Như vậy trong điều kiện vụ mùa, do lúa cấy trên đấtngập úng, có nước lợ tràn qua, nhiệt độ cao và ẩm độ cao thời gian sinhtrưởng của lúa lại quá ngắn so với yêu cầu của giống (do cấy muộn), phânbón lá Pomior đã phát huy ưu thế mạnh: Cung cấp kịp thời và nhanh chóngcác chất dinh dưỡng đa và vi lượng giúp cho lúa sinh trưởng nhanh, đẻ nhánhtốt rút ngắn được thời gian sinh trưởng, do đó đã trỗ kịp trước khi có nhữngđợt gió mùa đông bắc lạnh tràn về, vì vậy cả lúa Mộc tuyền và lúa Bắc ưu đềucho năng suất cao (so với các diện tích lúa cấy tái giá khác không phunPomior) Kết quả khảo nghiệm của Bùi Thị Hồng Vân [17] của phân bón láKomic BFC 201 vụ lúa mùa 1996 tại HTX Mỹ Hưng - Thanh Oai - Hà Tâycho thấy:
Ở thời kỳ phát triên dinh dưỡng, có phun, chiều cao tăng 5%, cây cứng,bộ lá to dài, màu xanh sáng Khi thu hoạch bộ lá vẫn giữ được màu vàngsáng
Ở thời kỳ đẻ nhánh, lúa đẻ nhanh, gọn tập trung thê hiện rất rõ, số dãnhtăng 8%, tốc độ phát triên dảnh trên ngày tăng 60%
Ở thời kì sinh trưởng sinh thực, thê hiện qua các yếu tố cấu thành năng
Trang 23suất lúa Do phun phân qua lá chiều dài bông lúa tăng 7%, số bông trên khómtăng 7%, tỉ lệ hạt lép giảm 15% so với không phun, năng suất thực thu tăng13%, vỏ hạt lúa màu vàng tươi.
Trên cây dứa theo Vũ Quang Vịnh [20], khi phun Pomior nồng độ 0,65đã cho năg suất tăng cao hơn đối chứng phun nước lã 8,37 tấn/ha bằng 100%,vượt năng suất so với phun Komic KF 13,13 tấn/ha bằng 54,48% Năng suấttăng mạnh do 2 yếu tố được tác động bởi Pomior: Cây dứa rất thích hợp vớihình thức bón phân qua lá và Pomior có hàm lượng dinh dưỡng tương đối phùhợp với yêu cầu của cây dứa; yếu tố thứ 2 là khả năng kích thích làm tăng tỷ
lệ ra hoa của dứa Cayen tới 32% so với công thức đối chứng Tác giả cũng đãnghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior đến thành phầnsinh hoá quả dứa Cayen kết quả:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior đến một số chỉ
tiêu phẩm chất của dứa Cayen
Chỉ tiêu
Hàmlượngchất khô(%)
Tỷ lệnước(%)
Tỷ lệbã
(%)
Đườngtổng số(%)
VitaminC(mg/100)
Axit(%)Đối chứng (nước lã) 14,56 86,33 13,6
Kết quả thực hiện mô hình sử dụng phân bón sinh học (NAB) củaTrương Ngọc Long [6] trong thâm canh lúa mùa tại Ba Vì, Hà Tây đã đưa ra
Trang 24đề nghị sử dụng phân sinh học (NAB) cho hiệu quả cao với lúa mùa, có thêthay thế một phần đến thay thế toàn bộ phân hoá học, giảm được chi phí vềphân bón, giảm được chi phí và công phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, lãithuần có thê tăng thêm 1.080.000đ/ha so với bón đơn thuần bằng phân hoáhọc hoặc phân sinh học Nguyễn Tiến Huy [2] sử dụng phân bón lá chế phẩm
EM, nồng độ 1/200, chế phẩm Sài Gòn HQ, chế phẩm MADU, nồng độ 1/400cho dưa chuột, đậu trạch vụ đông năm 1996-1997 cho thấy do bón nhiều phânhoá học, nhất là đạm, dưa chuột, đậu trạch đều có lá mỏng, dễ nhiễm bệnh,quả thương phẩm không đẹp, màu xỉn Sau trồng 30 ngày, dưa chuột và đậutrạch đã có thê bước vào thu hoạch, thời gian thu hoạch 35-40 ngày Khi bắtđầu có quả đậu, bắt đầu sử dụng phân bón lá phun 1 lần rải đều trên mặt ládưa chuột, đậu trạch có tác dụng màu xanh của lá bền đến cuối vụ, ít sâubệnh Thân lá phát triên nhanh, ngọn mập, tỷ lệ đậu quả cao, quả màu tươi,mỡ màng, bán được giá và thời gian quả kéo dài thêm 5-7 ngày Đã tạo ra sựcân bằng dinh dưỡng trong thân, lá cây trồng, nâng cao hiệu quả các loại phân
- Không có bón lót phân hữu cơ và phun 15 ngày một lần
- Không có bón lót phân hữu cơ và phun 15 ngày một lần
- Có bón lót phân lân sông Gianh cùng với phân hữu cơ Sử dụng phân phức
Trang 25hữu cơ Pomior có tác dụng nâng cao độ bền của hoa tự nhiên so với công thứckhông sử dụng từ 2- 4 ngày; đồng thời nâng cao năng suất hoa, tăng tỉ lệ hoa hữuhiệu, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
Chất Kích thích hoạt hoá gen thực vật kỳ nhân (hoạt hoá gen); sản phẩmcủa công ty hữu hạn phát triên khoa học Ưu Thắng Trùng Khánh
Hoạt hoá gen là dạng phân bón có tính hoà tan; hoạt hoá gen lấy việccung cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali cho thực vật làm chính, đồng thời cóphụ thêm axit thực vật mục vàng hoạt tính, nâng cao tính hiệu quả của chấtdinh dưỡng
Khi phun vi lượng cho cây đậu tương và lạc trên đất Mai Sơn- Hà SơnBình ở giai đoạn 3 lá, 5 lá và 7 lá đã ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng,phát triên của cây (tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng chiều cao cây, diệntích lá, tăng chiều cao cây, diện tích lá và năng suất cũng như chất lượng(năng suất tăng từ 13,8-20,2%, protein và lipit tăng so với đối chứng) BùiHồng Vân [18] đã sử dụng chế phẩm qua lá trong nước là phân Sài Gòn Safer(HQ và VA) được chiết xuất từ các hợp chất hữu cơ, vi lượng và Khuyếnnông 301 trên vụ lạc xuân giống Trạm Xuyên tại HTX Xa La, thị xã Hà Đôngthì phân qua lá đã tác dụng rõ cây phát triên nhanh thân cây to, lá dày màuxanh sáng, ít sâu bệnh so với không phun Số qủa chắc/cây chênh lệch khôngđáng kê Số quả 2 nhân trên cây tăng rõ Phân qua lá trong nước sản xuất bộithu từ 15,8% đến 18,9%
Có những bằng chứng rằng cây trồng hấp thu 20% dinh dưỡng từ đất và80% qua lá Tuy nhiên ở đây cần phối hợp bón phân qua lá và qua rễ đê đạtnăng suất cao nhất Khi phun phân qua lá chất dinh dưỡng được hấp thu quakhí khổng (chủ yếu nằm ở mặt dưới lá) Các cơ quan khác, như: Thân, cànhchồi hoa, quả cũng đều có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, có nghĩa là cóthê cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trong quá trình và phát triên của cây
Trang 26Đê bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương thức bónphân khoáng kết hợp phân hữu cơ, xác lá mục, phân xanh , còn áp dụng cácphương thức bón phân ngoài rễ (phun phân qua lá) tạo điều kiện cho cây đậutương hấp thu dinh dưỡng dễ dàng hơn, bổ xung nguồn dinh dưỡng kịp khicây trồng bị trở ngại trong việc sử dụng nguồn dinh dưỡng từ đất hoặc kết hợpvới nguồn dinh dưỡng từ đất tạo điều kiện thuận lợi cho cây đậu tương sinhtrưởng, phát triên tốt nhất
Bón phân qua lá tránh được sự cạnh tranh về thức ăn với các sinh vậtkhác trong đất, sự rửa trôi do mưa bão và hạn hán
Những kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng phân bón lá trêncác loại cây trồng khá tốt Theo Vũ Cao Thái [7], sản lượng tăng trung bình từ
20 - 20% đối với cây lấy lá, 10 - 20% đối với cây lấy quả và 5 -10% đối vớilúa, điều này khá rõ vì lá là cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ và cungcấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua các quá trình sinh lí, sinh hoá vàquang hợp Khi bón phân qua lá tốc độ hấp thu dinh dưỡng nhanh và hiệu quảsử dụng cao, khắc phục được những hạn chế từ việc bón phân vào đất do sựrửa trôi, bốc hơi hay giữ chặt trong đất Hiệu suất sử dụng phân bón vào đấtchỉ đạt 40 - 45% trong khi đó với phương thức bón qua lá có thê nâng hiệusuất sử dụng của cây tới 90 - 95 %, đây là cơ sở hợp lí đê đưa những nguyên
tố vi lượng quý hiếm vào những dạng phân bón lá đê tăng hiệu quả và tiếtkiệm Mặt khác bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những đièu kiện hạnhán hoặc ngập lụt, thời kì khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt Bằngcách này sẽ là con đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng phục hồi Chitosan là một hoạt chất hữu cơ tự nhiên giầu cacbon, về nitơ đượcphối trộn với các nguyên tố khoáng khác dạng chế phẩm dinh dưỡng qua lá.Chitosan có vai trò như một chất kích thích sinh trưởng của cây, khả năngtăng ra chồi, mầm hoa, tăng khả năng chống lại một số nấm và vi sinh vật lý
Trang 27hại Chitosan có mặt ở các bộ phận rễ, lá, hoa và quả của cây mà ở nồng độthấp, nó có tác dụng kích thích hoạt động của các bộ phận trong cây [23].Khi sử dụng chitosan cho cây lúa ở Thái Lan ở nồng độ 20 ppm đã làmtăng sinh trưởng, tích luỹ chất khô; đặc biệt tăng số bông và tăng năng suấtcủa cây lúa Chitosan còn tốt cho cây đậu đỗ; kích thích phân cành và tăngchiều cao cây, tăng chỉ số SPAD (tăng mầu sắc lá) ở nồng độ 0,1- 0,5 %.Nghiên cứu [31] cho thấy: Chitosan xử lý cho cây làm tăng quá trìnhlignin hoá thành tế bào cây và làm tăng sự tích luỹ axit jasmonic có tác dụngđiều hoà gen tự vệ của cây, do đó Chitosan làm tăng tính đề kháng của thựcvật, nhất là đối với các bệnh nấm (mốc sương, phấn trắng ) trên cây cà chua,dưa chuột, chitosan nồng độ thấp tưới cho cây lan làm tăng phân hoá mầmhoa và tăng khả năng kháng virus gây bệnh.
Cũng trong nghiên cứu này cho thấy chitosan ở nồng độ 0,1% - 0,5%phun cho cây lúa có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu với môitrường bất thuận (Stress) làm tăng sự tích luỹ protein tự vệ
1.3 TỔNG QUAN VỀ HOA LILY
1.3.1 Nguồn gốc và phân loại hoa lily [19]
1.3.1.1 Nguồn gốc
Lily là tên gọi chung của tất cả các cây loài lilium, họ liliaceae, bộ phụcủa thực vật một lá mầm Đặc trưng của loài này là thân ngầm dưới đất có rấtnhiều vảy bao bọc lại nên người ta gọi là loài hoa bách hợp
Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại lily nhất và cũng là trung tâm,nguồn gốc lily trên thế giới Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng
460 giống, 280 biến chủng (chiếm trên tổng giống hoa lily trên thế giới),trong đó có 136 giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra Nhật Bản, HànQuốc có 110 giống trong đó có 30 giống mang đặc trưng của nước này HàLan có khoảng 320 giống, trong đó 80% là các giống do chính Hà Lan tạo ra
Trang 281.3.1.2 Phân loại
Hoa lily (Lilium regale) là loài thực vật bậc cao có hệ thống phân loạinhư sau:
Ngành Thực vật hạt kín (Angiospermatophyta)
Lớp Loa kèn (Liliopsida) hay lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae)Phân lớp Loa kèn (Liliidae)
Liên bộ Loa kèn (Lilianae)
Bộ Loa kèn (Liliales)
Họ Loa kèn (Liliaceae)
1.3.2 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới [15]
Năm 1997, Hà Lan có 356 ha lily, đứng thứ 2 trong tổng diện tích hoacắt trồng bằng củ (sau Tuylíp) Sở dĩ hoa lily được phát triên mạnh trongnhững năm gần đây là do người Hà Lan đã tạo ra rất nhiều giống mới có hoađẹp, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao Ngoài ra còn do kỹ thuật điều khiênhoa phát triên nhanh có thê ra hoa quanh năm Một nguyên nhân nữa là do có sựđầu tư cơ giới hoá trong việc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành, vì vậy đãlàm hiệu quả kinh tế từ việc trồng hoa lily cao hơn hẳn trước đây
Hiện nay, Hà Lan mỗi năm trồng 18.000 ha hoa lily, trong đó xuất khẩu70% Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắt và cũng là một trongnhững nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á (mỗi năm khoảng
500 triệu USD) Nhật cũng là nước sản xuất hoa lớn, diện tích sản xuất hoanăm 1992 của nước này là 4.600 ha với 36.000 hộ, sản lượng đạt 900 tỷ Yên,trong đó hoa cúc chiếm vị trí thứ nhất, tiếp đó đến hoa hồng và hoa cẩm
chướng, hoa lily đứng ở vị trí thứ 4, trong đó có 2 giống lily là Star-Gager và Casa-Blanca không những được ưa chuộng ở Nhật Bản mà còn nổi tiếng trên
thế giới
Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát triên nghềtrồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc lớn nhất khu vực Đông Bắc
Trang 29Á Theo thống kê năm 2002, Hàn Quốc có 15.000ha trồng hoa với 12.000 ngườitham gia, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989, trong đó lily làloại cây có hiệu quả kinh tế cao nhất trong số các loại hoa ở Hàn Quốc.
Kênia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và là nước xuất khẩu hoatươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, nước này có tới 3 vạn trang trại với hơn
2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa cẩm chướng, hoa lily, hoa hồng Mỗinăm nước này xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD trong đó riêng hoa lilychiếm 35%
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độcanh tác còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản; năm 2001 nước này đã có
490 ha trồng lily, trong đó xuất khẩu lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD Hà Lan
là nước có công nghệ tạo giống và trồng lily tiên tiến nhất hiện nay Mỗi năm
Hà Lan tạo ra từ 15-20 giống mới, sản xuất 1.315 triệu củ giống lily, cung cấpcho 35 nước khác nhau trên toàn thế giới Ngoài các nước kê trên còn nhiềunước trồng lily lớn khác như: Italia, Mỹ, Đức, Mêhicô, Côlômbia, Israen
1.3.3 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam [15]
Hoa Lily mới được đưa vào trồng ở nước ta từ mấy năm gần đây ở ĐàLạt, Hà Nội, Sơn La Từ năm 2003 một số công ty TNHH kinh doanh hoa ởmột số địa phương ở miền Bắc đã bắt đầu nhập nội giống của các công ty của
Hà Lan, gián tiếp qua các công ty ở Côn Minh Trung Quốc Đà Lạt là nơi thửnghiệm trồng hoa Lily đầu tiên ở nước ta, và đã có hoa Lily xuất khẩu sangNhật, Indonesia, Malaisia và Campuchia Ước tính hiện nay Đà Lạt có khoảnggần 5 ha canh tác trồng hoa Lily cả bên ngoài trời và trong nhà Polifilm.Riêng Mộc Châu năm 2009 trồng trên 6 ha trong nhà mái che Tại Sơn La,một số doanh nghiệp tư nhân đã nhập giống từ Côn Minh Trung quốc trồngthử nghiệm hoa Lily tại Mộc Châu, xã Ngọc Chiến huyện Mường La, chothấy tỉnh Sơn La có nhiều vùng có thê phát triên tốt cây hoa Lily đê phục vụ
Trang 30tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Kết quả trồng thử nghiệm ở một số địaphương cho thấy muốn trồng hoa Lily có hiệu quả còn rất nhiều vấn đề cầngiải quyết trong các khâu kỹ thuật, cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị.Chỉ tính tại Hà Nội hoa Lily được trồng hàng vạn cây tại Trung tâmnghiên cứu phát triên hoa – Viện Nghiên cứu rau quả Hà Nội Tại đây, trongsản xuất hoa Lily chủ yếu mới chỉ dừng ở việc sử dụng phân bón gốc thôngthường NPK của các công ty cung ứng trên thị trường Theo đánh giá củanhiều tác giả, việc bổ sung dinh dưỡng thông qua lá sẽ giúp cây hấp thu nhanhcác chất cần thiết trong giai đoạn phân nhánh, ra nụ và hoa.
Nhu cầu thị trường về hoa nói chung và đặc biệt là hoa Lily nói riêngngày càng tăng do loại hoa này có độ bền tương đối lâu và hương sắc quyếnrũ Điều này dẫn đến giá thành hoa Lily thương phẩm vào dịp Tết Nguyênđán có giá từ 50.000-80.000 đồng/cành, đặc biệt dịp Ngày Nhà giáo Việt Namcó lúc lên đến 150.000đ/cành 5 tai, đem lại thu nhập cao cho người trồng hoa.Hiện nay ở Việt Nam trồng phổ biến một số giống lily sau (các giốngnày đã được Viện Nghiên cứu Rau quả khảo nghiệm, kết luận phù hợp điềukiện Việt Nam):
- Dòng lily thơm:
+ Giống Sorbonne (chu vi củ 14/16, 16/18, 18/20, >20cm): Cao 100cm, có 3-7 hoa, hoa màu hồng nhạt, lá nhỏ, thời gian sinh trưởng 95-100ngày (giống được công nhận chính thức 5/2009)
85-+ Giống Acpulco (16/18, 18/20): Cao 95-110cm, có 4-7 hoa, hoa hồngđậm có đốm chấm đỏ, lá to, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày (giống đượccông nhận tạm thời 5/2006)
+ Giống Tiber (16/18, 18/20): Cao 80-100cm, có 4-6 hoa, hoa hồng nhạt,
lá nhỏ, thời gian sinh trưởng 85-100 ngày (giống được công nhận tạm thời5/2006)