Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu lập luậntrong địa hạt truyện cười Việt Nam hiện đại – một thể loại gần gũi với đời sốngđương đại lại không thể không được coi là văn chư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRỊNH THỊ ANH ĐÀO
TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
DƯỚI GÓC ĐỘ LẬP LUẬN
C huyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số : 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Kim Phượng
Trang 2 TRỊNH THỊ ANH ĐÀO
TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
DƯỚI GÓC ĐỘ LẬP LUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Trang 3HÀ NỘI, NĂM 2014 LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo giảng viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, những người đã tận tình chỉ dạy em trong suốt thời gian học tập vừa qua, giúp em có được những kiến thức bổ ích.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Trần Kim Phượng – Phó Giáo sư tiến sĩ, giảng viên tổ Lí luận ngôn ngữ - người đã truyền cho em niềm say mê ngôn ngữ, gợi mở và tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Học viên
Trịnh Thị Anh Đào
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3 Đóng góp của luận văn 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 10
1.1 Lập luận 10
1.1.1 Khái quát về lập luận 10
1.1.1.1 Khái niệm lập luận 10
1.1.1.2 Sự xuất hiện của lập luận trong các loại hình diễn ngôn 11
1.1.2 Cấu trúc của lập luận 16
1.1.2.1 Kết luận 16
1.1.2.2 Luận cứ 18
1.1.2.3 Các chỉ dẫn lập luận 18
1.1.2.4 Quan hệ lập luận 21
1.1.3 Lẽ thường – cơ sở của lập luận 23
1.2 Truyện cười 25
1.2.1 Tiếng cười 25
1.2.2 Các thủ pháp gây cười trong truyện cười 26
Chương 2 CẤU TRÚC LẬP LUẬN TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 28
2.1 Kết luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại 28
2.1.1 Các loại kết luận 28
Trang 52.1.1.1 Kết luận bị bỏ trống 28
2.1.1.2 Kết luận hàm ẩn 34
2.1.1.3 Kết luận tường minh 37
2.1.2 Vị trí của kết luận 39
2.1.2.1 Kết luận đứng đầu lập luận 40
2.1.2.2 Kết luận đứng cuối lập luận 44
2.1.3 Hiệu lực ở lời của kết luận 47
2.1.3.1 Kết luận có hiệu lực ở lời trực tiếp 48
2.1.3.2 Kết luận có hiệu lực ở lời gián tiếp 49
2.2 Luận cứ trong truyện cười Việt Nam hiện đại 51
2.2.1 Các loại luận cứ 51
2.2.1.1 Luận cứ tường minh 51
2.2.1.2 Luận cứ bị bỏ trống 54
2.2.1.3 Luận cứ hàm ẩn 55
2.2.2 Sự sắp xếp, tổ chức luận cứ 56
2.2.2.1 Các luận cứ có quan hệ đồng hướng lập luận 57
2.2.2.2 Các luận cứ có quan hệ nghịch hướng lập luận 58
2.3 Các chỉ dẫn lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại 61
2.3.1 Tác tử lập luận “chỉ” 62
2.3.2 Tác tử lập luận “những” 64
2.3.3 Kết tử lập luận “vì” 64
2.3.4 Kết tử lập luận “nhưng” 66
2.3.5 Kết tử lập luận “nếu… thì…” 67
2.4 Cách thức tổ chức lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại 69
2.4.1 Lập luận đơn 69
2.4.2 Lập luận phức 69
2.4.2.1 Lập luận bao gồm 69
Trang 62.4.2.2 Lập luận song song 70
Chương 3 CƠ SỞ LẬP LUẬN VÀ MỘT SỐ THỦ PHÁP GÂY CƯỜI DO VI PHẠM QUY TẮC CỦA LẬP LUẬN LÔ-GIC TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 73
3.1 Lẽ thường – cơ sở lập luận của truyện cười Việt Nam hiện đại 73
3.1.1 Các loại lẽ thường 73
3.1.1.1 Lẽ thường hàm ẩn 73
3.1.1.2 Lẽ thường được cố định hóa thành những thành ngữ, tục ngữ hay những lối nói quen thuộc 78
3.1.2 Một số thủ pháp gây cười bằng vi phạm quy tắc vận dụng lẽ thường 81
3.1.2.1 Thủ pháp gây cười bằng lí lẽ ngược chiều 81
3.1.2.2 Thủ pháp gây cười bằng vận dụng sai lẽ thường 83
3.2 Một số thủ pháp gây cười do sự vi phạm quy tắc của lập luận lô-gic .84 3.2.1 Thủ pháp gây cười do sự vi phạm các nguyên lí cơ bản của tư duy 84
3.2.1.1 Thủ pháp gây cười do vi phạm nguyên lí đồng nhất của tư duy 86
3.2.1.2 Thủ pháp gây cười do vi phạm nguyên lí phi mâu thuẫn của tư duy 99
3.2.1.3 Thủ pháp gây cười do vi phạm nguyên lí bài trung của tư duy 102
3.2.1.4 Thủ pháp gây cười do vi phạm nguyên lí lí do đầy đủ của tư duy 103
3.2.2 Thủ pháp gây cười do sai lầm trong suy luận 106
3.2.2.1 Thủ pháp gây cười do sai lầm trong suy luận diễn dịch 106
3.2.2.2 Thủ pháp gây cười do sai lầm trong suy luận quy nạp 116
3.2.2.3 Thủ pháp gây cười do sai lầm trong suy luận tương tự 117
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nếu quá trình lao động chân tay hình thành nên những tín hiệu ngôn ngữ đầutiên thì quá trình lao động trí óc giúp ngôn ngữ phát triển đến độ phong phú vàthành thục như ngày nay Theo chúng tôi, một trong những dấu hiệu đánh dấu sựphát triển của ngôn ngữ là lập luận Biết lập luận là chúng ta biết dùng ngôn ngữ đểdẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà ta
muốn Do đó, “lập luận là nghệ thuật thể hiện năng lực hoạt động ngôn ngữ, là
cách thức phát triển trí tuệ, là hòn đá mài sắc tư duy, là vũ khí đánh đổ mọi sai lầm” [17, 2].
Chúng ta có thể tìm thấy lập luận ở mọi nơi trong đời sống hàng ngày, từ lờimặc cả của những người buôn bán ngoài chợ, cho đến lời giảng dạy của cô giáo haytrong lời bào chữa của luật sư,… Càng ngày, lập luận càng tham gia thiết thực vàocuộc sống Trong đó, có một địa hạt lập luận không chỉ thể hiện tư duy sắc sảo vànăng lực hoạt động ngôn ngữ của người nói mà còn tạo ra nguồn giải trí vui vẻ, thú
vị như một thứ vitamin bồi bổ cho cuộc sống, đó là “lập luận trong truyện cười hiện đại”.
Xã hội ngày càng phát triển, sự cạnh tranh và áp lực càng nhiều thì con ngườicàng cần lắm những tiếng cười vui Truyện cười hiện đại phát triển nhanh cũng vì lẽ
đó Nó đã cung cấp một món ăn tinh thần lành mạnh, giàu giá trị giải trí và khôngthể thiếu trong cuộc sống hàng ngày Đọc truyện cười, chúng ta không chỉ đượccười vui sảng khoái, xả được bao “stress” từ bộn bề cuộc sống mà còn phát hiện racách tư duy, lập luận thông minh, hài hước của tác giả truyện cười Từ sự yêu thíchtiếng cười hiện đại và trăn trở cắt nghĩa thủ pháp tạo nên tiếng cười, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Truyện cười Việt Nam hiện đại dưới góc độ lập luận” Đề tài hi vọng
đóng góp một hướng khai thác truyện cười Việt Nam hiện đại tương đối mới, qua
đó, tìm thêm những thủ pháp gây cười mới, mở rộng hướng tìm kiếm thi pháptruyện cười nói chung và truyện cười Việt Nam hiện đại nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu lập luận
Văn chương là một địa hạt chứa rất nhiều lập luận Chúng ta có thể tìm thấylập luận trong những câu tục ngữ, danh ngôn rất ngắn gọn, lập luận trong truyện ngụ
Trang 8ngôn, truyện cười, văn xuôi trung đại, văn xuôi hiện đại… thậm chí nhiều bài thơcũng có lập luận Đã có nhiều công trình nghiên cứu chung hướng đi “lập luận”,
tiêu biểu như: Tìm hiểu các dạng lập luận trong tục ngữ (luận văn của Vũ Thị Hà,
ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2005 ), Tìm hiểu lập luận trong danh ngôn (trên ngữ liệu tiếng Việt) (luận văn của Nguyễn Thị Bình, ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2012), Tìm
hiểu lập luận của nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (luận
văn của Nguyễn Lệ Hằng, ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2008), Bước đầu tìm hiểu lập
luận trong kịch của Nguyễn Huy Thiệp (Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thu
Trang, ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2007), Lập luận trong một số văn bản nghị luận
văn học của Nguyễn Tuân (luận văn của Dương Thị Thanh Thủy, Đại học Sư phạm
Hà Nội, năm 2011), Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu lập luậntrong địa hạt truyện cười Việt Nam hiện đại – một thể loại gần gũi với đời sốngđương đại lại không thể không được coi là văn chương
Nói về lập luận, chúng tôi muốn đề cập tới một cuốn sách đã khơi nguồn cảm
hứng để chúng tôi thực hiện đề tài này đó là cuốn Phương pháp biện luận – thuật
hùng biện của tác giả Triệu Truyền Đống (Nguyễn Quốc Siêu dịch, NXB Giáo dục
Hà Nội, năm 1999) Xuất phát từ nhiều góc độ trong đó có lập luận, Triệu TruyềnĐống đã đưa ra một thống kê (có dẫn chứng) về các phương pháp biện luận Trongbốn phương pháp chính có nhiều phương pháp nhỏ:
- Biện luận thắng bằng lô-gic (có 47 phương pháp nhỏ)
- Biện luận thắng bằng nghệ thuật ngôn từ (có 70 phương pháp nhỏ)
- Biện luận thắng bằng mưu chước (có 42 phương pháp nhỏ)
- Biện luận thắng bằng vạch trần ngụy biện (có 117 phương pháp nhỏ)
Tuy đưa ra được rất nhiều phương pháp biện luận (276 phương pháp) nhưngchúng tôi nhận thấy công trình này không nghiên cứu ở một góc độ thống nhất; cácphương pháp chỉ được suy luận từ một dẫn chứng cụ thể nên thường có phần chồngchéo, lặp lại; phần lớn tư liệu là các câu chuyện ứng đối trong sử sách Trung Quốc.Mặc dù vậy, vẫn cần thừa nhận đây là một công trình nghiên cứu tương đối thành
công về biện luận, nó “giúp ích rất nhiều trong giao tiếp ngôn ngữ cho tất cả mọi
người, dù bạn là nhà ngoại giao, chính trị, nhà hoạt động lập pháp, tư pháp hay hành pháp, là đồng chí công an hay bạn là nhà khoa học, là học sinh – sinh viên hay là các thầy – cô giáo Và lẽ đương nhiên, trong thời buổi thương trường quyết
Trang 9liệt này, cuốn sách cũng sẽ là người bạn đồng hành không thể thiếu vắng đối với các thương gia năng động, mong muốn thành đạt” [17, 2] Từ những gợi ý thú vị,
hấp dẫn của cuốn sách và niềm yêu thích truyện cười Việt Nam hiện đại, chúng tôi
đã tổng hợp một số phương pháp dưới góc độ lập luận và dẫn chứng bằng tư liệutruyện cười
2.2 Lịch sử nghiên cứu các thủ pháp gây cười trong truyện cười
Truyện cười hiện đại là một mảng đề tài lí thú với nhiều hướng khai thác đãcho hiệu quả bất ngờ như: dưới góc độ ngữ dụng học, dưới góc độ lô-gic, dưới góc
độ ngữ pháp văn bản hay dưới góc độ ẩn dụ tri nhận…
Năm 2005, cuốn luận văn thạc sĩ Các biện pháp gây cười trong truyện cười
Việt Nam hiện đại (trên quan điểm ngữ dụng học) của Chu Thị Thanh Tâm [39] đã
bao quát khá trọn vẹn truyện cười Việt Nam hiện đại trên quan điểm ngữ dụng học.Lấy tiêu chí đi tìm sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng học, luận văn đã chỉ ra các biệnpháp gây cười trong truyện cười như:
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc chiếu vật, chỉ xuất
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hành động ngôn ngữ
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hội thoại
- Biện pháp gây cười bằng hàm ngôn
Dưới góc độ lập luận, luận văn phân xuất được một số biện pháp gây cười là:
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hiện diện của các thành phầntrong lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc sử dụng chỉ dẫn lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc vận dụng cơ sở lập luận
Trên thực tế, truyện cười hiện đại không chỉ gây cười bằng cách vi phạm cácquy tắc lập luận Nhiều truyện cười tuân thủ và vận dụng chính các quy tắc lập luận
để tạo nên tiếng cười, ví dụ: gây cười bằng kết luận tường minh, kết luận hàm ẩn,gây cười bằng tiền đề sai lầm, tiền đề hàm ẩn, gây cười bằng vận dụng sai lẽ
thường, Luận văn “Truyện cười Việt Nam hiện đại dưới góc độ lập luận” của
chúng tôi sẽ khai thác thêm vấn đề theo hướng này
Năm 2009, cuốn luận văn thạc sĩ Các thủ pháp gây cười trong truyện cười
Việt Nam hiện đại từ góc độ ngữ pháp văn bản của Nguyễn Thị Minh Hà [19] đã
Trang 10nghiên cứu các mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức trong truyện cười ViệtNam hiện đại để tìm ra các thủ pháp gây cười tương ứng Trong đó, thủ pháp gâycười bằng liên kết nội dung có phần thủ pháp gây cười bằng liên kết lô-gic khá liênquan đến phạm trù “lập luận” mà chúng tôi nghiên cứu Tác giả Nguyễn Thị Minh
Hà đã chỉ ra các thủ pháp gây cười bằng liên kết lô-gic là:
- Gây cười từ sự vi phạm các quy tắc lô-gic trình bày
- Gây cười từ sự vi phạm các quy tắc lô-gic sự vật
- Gây cười từ sự vi phạm các quy tắc lô-gic ngữ nghĩa
Luận văn của chúng tôi không đi theo hướng này
Truyện cười Việt Nam hiện đại cũng được tiếp cận ở một hướng đi rất mới đó
là ẩn dụ tri nhận Năm 2011, luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận về giới tính và hàm ý
trong truyện cười về giới tính tình dục của Trần Thị Quế Chi đã tìm ra bức tranh
văn hóa về giới tính tình dục trong truyện cười
Không tiếp cận truyện cười dưới góc độ ngôn ngữ, luận văn thạc sĩ Phương
thức gây cười trong truyện cười thế giới hiện đại dưới góc nhìn lô-gic học của Đặng
Hồng Nhung [33] đã mở rộng nghiên cứu truyện cười thế giới hiện đại và tiếp cậnchúng dưới góc độ lô-gic hình thức Nhờ đó, luận văn đã tìm thêm được những thủpháp gây cười dựa trên các nguyên lí cơ bản của tư duy và suy luận lô-gic Cụ thể là:
- Phương thức gây cười bằng cách vi phạm nguyên lí đồng nhất của tư duy
- Phương thức gây cười bằng cách vi phạm nguyên lí phi mâu thuẫn của tư duy
- Phương thức gây cười bằng cách vi phạm nguyên lí bài trung
- Phương thức gây cười dựa trên suy luận lô-gic
- Phương thức gây cười dựa trên lí lẽ ngược đời
- Phương thức gây cười dựa trên lí lẽ ngụy biện
Những kết quả của luận văn này cũng là cơ sở để chúng tôi ứng dụng triểnkhai phân tích những thủ pháp gây cười trong truyện cười Việt Nam hiện đại vànhận thấy rằng lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại không phải lập luận lô-gic nên nó liên tục vi phạm các quy tắc của lô-gic hình thức như một điều tất yếu
Khai thác truyện cười dưới góc độ lô-gic còn có tuyển tập Tiếng cười thế giới
của tác giả Nguyễn Đức Dân [10] (được coi là cơ sở cho luận văn của Đặng Thị
Hồng Nhung) và cuốn Truyện cười lô-gic của hai nhà giáo trường Đại học Quốc gia
Huế - Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào [25] Đây đều là các công trình có mục đích
Trang 11chính là tổng hợp truyện cười Tuy nhiên, ở phần mở đầu, các tác giả đã thể hiệnquan điểm của mình về truyện cười lô-gic và đúc rút các phương thức gây cườibằng lô-gic Nguyễn Đức Dân nghiên cứu các phương thức gây cười trên hai mốiquan hệ: lô-gic và truyện cười, ngôn ngữ và truyện cười Phan Trọng Hòa và PhanThị Đào gọi tên nghệ thuật gây cười là nghệ thuật “ứng xử” và tìm ra các thủ phápgây cười trên cơ sở phân tích các hình thức ứng xử trong truyện cười là khái niệm,phán đoán, suy luận, chứng minh và bác bỏ
Bên cạnh các công trình công phu như sách, luận văn, một số bài báo trên tạp
chí cũng tiếp cận đối tượng thú vị này Gần đây nhất là hai bài báo Một số thủ pháp
tạo hàm ý gây cười trong truyện cười mang tính nhạy cảm của tác giả Hoàng Kim
Ngọc [31] và Một số yếu tố cơ bản trong gây cười bằng ngôn ngữ của tác giả Trần
Trọng Nghĩa [29] Trong giới hạn bài báo nhỏ, các tác giả cũng có những khám pháthú vị về thủ pháp gây cười trong truyện cười hiện đại
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về tiếng cười nói chung vàtiếng cười dân gian nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam làm cơ sở lí luận chochúng tôi nghiên cứu truyện cười hiện đại Có thể kể đến một số công trình nghiêncứu mĩ học về cái hài của Scorat, V Jankelevitch, Henri Bergson,… hay các cuốn
sách, luận văn về truyện cười dân gian như: Truyện cười dân gian Việt Nam (Trương Chính, Phong Châu biên soạn) [7], Truyện cười và việc phân tích truyện
cười (Đỗ Bình Trị) [44], Cái hài trong truyện cười dân gian (luận án phó tiến sĩ ngữ
văn của Nguyễn Văn Tiêm, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nộinăm 1996) [41],…
Như vậy, nhìn vào lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy đề tài và hướng nghiên
cứu của luận văn “Truyện cười Việt Nam hiện đại dưới góc độ lập luận” chưa có
ai nghiên cứu chuyên sâu Chúng tôi hi vọng trên một phạm vi tư liệu quen thuộcnhưng chưa ngừng phát triển, với một hướng nghiên cứu mới, đề tài sẽ có nhữngđóng góp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn
3 Đóng góp của luận văn
3.1 Về mặt lí luận
Trong luận văn này, chúng tôi đã vận dụng lí thuyết lập luận và lí thuyết lô-gic
để nghiên cứu cách thức gây cười trong truyện cười Việt Nam hiện đại Chúng tôimong muốn đóng góp phần nghiên cứu về lập luận trên ngữ liệu cụ thể là truyện
Trang 12cười Việt Nam hiện đại Đồng thời, đối với văn học, qua đề tài chúng tôi cũng muốngợi mở về một vấn đề khá mới mẻ: thi pháp truyện cười Việt Nam hiện đại.
3.2 Về mặt thực tiễn
Chúng tôi hi vọng luận văn sẽ là nguồn tài liệu bổ ích cho các bạn sinh viên vàtất cả những ai quan tâm tới việc nâng cao phương pháp lập luận, kĩ năng sử dụngthành thạo tiếng Việt, ít nhất cũng ở cách nói gây cười trí tuệ Bản thân tôi, sau khinghiên cứu luận văn, cũng tự nhận thấy kĩ năng vận dụng ngôn ngữ để lập luận củamình có tiến bộ rõ rệt, đồng thời, tư duy về các vấn đề trong cuộc sống có chiềuhướng hài hước, vui nhộn hơn Đó là lợi ích thiết thực và là động lực để tôi nghiên
cứu “một vấn đề khó khiến nhiều người phải “nhăn nhó” như Trần Kim Phượng có nói trong bài báo “Thủ pháp gây cười bằng đánh tráo khái niệm trong truyện cười
Việt Nam hiện đại” [38].
Tài liệu này cũng có thể dùng tham khảo cho các bạn đồng nghiệp trong việcnâng cao chất lượng vận dụng hiệu quả và linh hoạt ngôn ngữ, rèn luyện tư duy chohọc sinh trong quá trình dạy học truyện cười hoặc vận dụng truyện cười như mộtngữ liệu trong giảng dạy tiếng Việt
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm ra các thủ phápgây cười trong truyện cười Việt Nam hiện đại và lí giải cụ thể chúng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ củaluận văn là:
- Dựa trên các thành phần của lập luận, các chỉ dẫn lập luận và cơ sở của lậpluận, chúng tôi tiến hành phân tích truyện cười Việt Nam hiện đại đã vận dụng và viphạm quy tắc lập luận như thế nào để tạo nên tiếng cười
- Bằng phép chứng minh phản chứng, chúng tôi nhận thấy lập luận trongtruyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường, không phải lập luận lô-gic,nên nó sẽ vi phạm hầu hết các quy tắc lô-gic Do đó, nhiệm vụ thứ hai của luận văn
là chứng minh truyện cười Việt Nam hiện đại vi phạm một loạt nguyên lí cơ bảncủa tư duy và suy luận lô-gic – những cơ sở của lập luận lô-gic
Trang 135 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là truyện cười Việt Nam hiện đại cóphương thức gây cười bằng lập luận
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyện cười Việt Nam hiện đại là nguồn ngữ liệu rất rộng, phong phú lại liêntục được bổ sung và có thể lẫn với các truyện cười dịch nên chúng tôi lựa chọn 153truyện cười đã được tuyển tập trong 13 cuốn sách và một số truyện cười được lấytrên các trang báo mạng làm tư liệu nghiên cứu Cụ thể là:
1 Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào (2006), Truyện cười lô-gich, NXB Văn học,
Hà Nội
2 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Bệnh nhân và bác sĩ, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội
3 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Cười hài hước thông minh, NXB
Văn hóa thông tin, Hà Nội
4 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Cười hiện đại, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
5 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Cười xưa và nay, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
6 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Nụ cười thầy và trò, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
7 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Nụ cười trẻ thơ, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
8 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Vợ chồng cùng cười, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội
9 Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), Vui cười dí dỏm, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
10 Năm Hồng Mai (sưu tầm và biên soạn) (2011), Truyện cười hiện đại ViệtNam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
11 Lương Kim Nghĩa (sưu tầm và biên soạn) (2003), Kho tàng truyện tiếu lâm,
NXB Thời đại, Hà Nội
Trang 1412 Lương Kim Nghĩa (sưu tầm và biên soạn) (2013), Cười hở mười cái răng,
NXB Thời đại, Hà Nội
13 Lương Kim Nghĩa (sưu tầm và biên soạn) (2013), 109 truyện tiếu lâm,
truyện cười, NXB Thời đại, Hà Nội.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thống kê để tập hợp truyệncười từ các tuyển tập và các trang báo điện tử làm nguồn ngữ liệu phong phú choluận văn
6.2 Phương pháp phân loại
Sau khi có được nguồn ngữ liệu, chúng tôi tiến hành phân loại dựa trên các thủpháp gây cười Cơ sở để phân loại là lí thuyết về lập luận
6.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp giúp chúng tôi tìm ra “cơ chế” trong cáctruyện cười để tiến hành khái quát thành các thủ pháp gây cười trong truyện cườiViệt Nam hiện đại
6.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh giúp chúng tôi tìm ra đâu là cơ chế hay được sử dụng đểgây cười trong truyện cười Việt Nam hiện đại
6.5 Phương pháp hệ thống
Phương pháp tư duy và hệ thống giúp chúng tôi tiến hành khái quát , tổng hợpkết quả phân tích trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn theo một hệthống hợp lí, chặt chẽ
6.6 Phương pháp chứng minh phản chứng
Phương pháp chứng minh phản chứng được chúng tôi áp dụng để chứng minhlập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường
Trang 157 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được chiathành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Trong chương này, chúng tôi xem xét hai vấn đề sau: lí thuyết lập luận và kháiquát về truyện cười
Chương 2 Cấu trúc lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu cấu trúc của lập luận trong truyện cườiViệt Nam hiện đại bao gồm: kết luận, luận cứ, các chỉ dẫn lập luận và quan hệ lậpluận Từ đó, chúng tôi khái quát thành các thủ pháp gây cười bằng cấu trúc lập luận.Chương 3 Cơ sở lập luận và một số thủ pháp gây cười do vi phạm quy tắc củalập luận lô-gic trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu lẽ thường - cơ sở của lập luận trongtruyện cười Việt Nam hiện đại , đồng thời chỉ ra sự vi phạm một loạt các quy tắccủa lập luận lô-gic để tạo ra tiếng cười
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Lập luận
1.1.1 Khái quát về lập luận
1.1.1.1 Khái niệm lập luận
Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” (tập 2), “Lập luận
là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [6, 155].
Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các nội dung phát ngôn như sau:
p; q;… → rTrong đó: p; q;… là các lí lẽ, r là kết luận Các thành phần p, q,… và r có thểđược diễn đạt bằng các phát ngôn u1, u2,…
Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ Luận cứ có thể là một ý kiếncũng có thể là một sự kiện, một nội dung miêu tả Vậy quan hệ lập luận là quan hệgiữa một hoặc một số luận cứ với kết luận Ví dụ sau đây là một lập luận:
(1) Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo bởi địa danh này chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí Bên cạnh
đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa – lịch sử hào hùng của dân tộc.
(Trích “Di sản thế giới tại Việt Nam” – Báo điện tử vietnamtourism.com)
“Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo” là một kết luận Kết luận này được đặt
ở đầu lập luận Tiếp sau đó, người viết đã đưa ra liên tiếp bốn luận cứ để chứngminh cho lập luận của mình:
p là: “địa danh này chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình
thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ”.
q là: “là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên”.
k là: “là nơi tập trung đa dạng sinh học cao”.
l là: “gắn liền với những giá trị văn hóa – lịch sử hào hùng của dân tộc”.
Trang 171.1.1.2 Sự xuất hiện của lập luận trong các loại hình diễn ngôn
Không có diễn ngôn nào không phải lập luận Đơn giản, một diễn ngôn miêu tảcũng không phải chỉ để phản ánh một hiện thực, sự kiện bên ngoài ngôn ngữ bằnglời nói Rất ít khi chúng ta miêu tả chỉ để miêu tả Thông thường, chúng ta miêu tả
là để hướng người nghe đến một điều gì đó nằm ngoài sự vật, hiện tượng được miêu
tả Cái mà thông tin miêu tả hướng tới chính là một kết luận rút ra từ nó Do đó, mộtdiễn ngôn miêu tả cũng tiềm ẩn một lập luận
Lập luận có thể xuất hiện trong một phát ngôn, một diễn ngôn đơn thoại hoặctrong văn bản viết một chiều nhưng cũng có thể xuất hiện trong đoạn thoại Vậy, lẽ
dĩ nhiên mỗi truyện cười ít nhất chứa một lập luận Xét truyện cười sau đây:
(2) TÌNH YÊU BẤT TỬ
- Anh yêu em chứ?
- Yêu như một kẻ cuồng si.
- Và anh có thể chết vì em chứ?
- Tất nhiên là… không Tình yêu của anh là bất tử!
(Cười hở mười cái răng)
Cuộc hội thoại giữa đôi bạn trẻ yêu nhau trên chứa một lập luận Chàng trai đã
khẳng định hai luận cứ: thứ nhất là “(anh yêu em) như một kẻ cuồng si” và thứ hai
là “tình yêu của anh là bất tử” Từ đó, chàng đi đến kết luận: “Không” (Anh không
thể chết vì em)
1.1.1.3 Lập luận và một số khái niệm liên quan
a Lập luận, suy luận và lô-gic
Nếu hình dung lập luận là một quá trình tổng quát bao gồm: cấu trúc lập luận,mối quan hệ của các thành phần trong cấu trúc lập luận, nội dung, cách thức suyluận,…thì nội hàm của khái niệm “suy luận” và “lô-gic” bó hẹp hơn
Theo Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào trong cuốn “Truyện cười logic”,“suy
luận là thao tác tư duy đi từ một hay nhiều phán đoán đã có để suy ra phán đoán mới” [25, 22]
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Suy luận là liên hệ các phán đoán
với nhau để rút ra một hay nhiều phán đoán mới về một chủ đề nào đó” [35, 1125]
Như vậy, suy luận là quá trình nhận thức hiện thực một cách gián tiếp từ mộthay một số phán đoán đã biết chúng ta suy ra phán đoán mới Đây là thao tác tư duy
Trang 18quan trọng để giúp chúng ta giao tiếp linh hoạt, học tập và phát triển tư duy, trí tuệ.Nói cách khác, trong mối quan hệ với khái niệm “lập luận”, suy luận chính là cáchthức tổ chức lập luận, phương pháp lập luận.
Trong quá trình suy luận, chúng ta phải dựa vào các căn cứ khác nhau để cóthể tìm ra kết luận Các yếu tố tham gia và hỗ trợ quá trình suy luận có thể là văn hóa,những hiểu biết về xã hội nói chung trong một cộng đồng, hiểu biết về cá nhân, kinhnghiệm tâm lí xã hội, tri thức khoa học, từ ngữ,… và các thao tác lô-gic Các yếu tốtrên, ngoại trừ thao tác lô-gic, chúng ta có thể tìm thấy trong lập luận đời thường
Cũng theo Phan Trọng Hòa và Phan Thị Đào: “Thuật ngữ lô-gic thường được
dùng với hai nghĩa:
- Nghĩa thứ nhất, chỉ một bộ phận khoa học nghiên cứu các hình thức, các quy luật và các thao tác tư duy, nghiên cứu những điều kiện cần thiết để tư duy tiếp cận với chân lí.
- Nghĩa thứ hai, chỉ những mối liên hệ có tính quy luật giữa các tư tưởng với nhau trong một quá trình suy nghĩ, lập luận” [25, 84]
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm “suy luận” và “lô-gic” chủ yếutrong chương 3 khi phân tích truyện cười Việt Nam hiện đại dưới góc độ vi phạm cácquy tắc của lập luận lô-gic Theo đó, “suy luận” và “lô-gic” là hai vấn đề không thểtách rời nhau, gắn bó và có quan hệ chặt chẽ Suy luận được thể hiện thông qua cácphán đoán, ngôn từ vì vậy khi suy luận người ta phải tuân thủ những quy tắc về lô-gic
và cần diễn đạt suy luận ấy một cách rõ ràng, mạch lạc Lô-gic được vận dụng đểphân tích các vấn đề, các dạng thức ngôn ngữ thành một chuỗi các phán đoán lô-gic
b Lập luận đời thường và lập luận lô-gic
Vấn đề phân biệt lập luận đời thường với lập lập lô-gic đã được Đỗ Hữu Châu
thể hiện rất rõ trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 Xét hai ví dụ sau:
(3)
Đại tiền đề Tất cả trẻ em bảy tuổi phải tới trường
Tiểu tiền đề Năm nay, Minh bảy tuổi
Kết luận Minh phải tới trường
Trang 19Đại tiền đề Hàng hóa càng rẻ thì càng nên mua.
Tiểu tiền đề Chiếc xe này rẻ
Kết luận Nên mua chiếc xe này
Về cấu trúc, dễ nhận thấy, cả lập luận lô-gic và lập luận đời thường đều có cấutrúc tam đoạn luận, bao gồm : một đại tiền đề, một tiểu tiền đề và một kết luận Tuynhiên, chúng khác nhau ở những điểm sau đây :
- Thứ nhất về tính phản lập luận Ở tam đoạn luận lô-gic, kết luận là hệ quả
tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và thao tác suy diễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu
tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu sẽ đúng Kết luận “Minh
phải tới trường” không thể bác bỏ bởi vì tiền đề “tất cả trẻ em bảy tuổi phải tới trường” và tiểu tiền đề “Năm nay, Minh bảy tuổi” đều đúng Ở tam đoạn luận đời
thường thì không như vậy Đại tiền đề không phải là một chân lí khoa học, kháchquan mà là những lẽ thường, những kinh nghiệm sống được đúc kết lại dưới dạng
nguyên lí cho nên chúng không tất yếu đúng Như ví dụ 4, đại tiền đề “Hàng hóa
càng rẻ thì càng nên mua” chỉ là quan niệm chủ quan, bị chi phối bởi cá nhân trong
một hoàn cảnh nhất định Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta còn thấy tồn tại
một số quan niệm khác là : “Của rẻ là của ôi” hay “tiền nào của nấy”,… phản lại
đại tiền đề trên Như vậy, tam đoạn luận đời thường có phản lập luận còn tam đoạnluận lô-gic thì không
- Thứ hai về tính tranh biện Kèm theo hiện tượng có phản lập luận là hiện
tượng trong một lập luận đời thường có thể dẫn ra hàng loạt luận cứ cùng một kết
luận, ví dụ, chúng ta có thể nói : “Chiếc xe này rẻ, chất lượng còn tốt, đăng kí
chính chủ, biển số xe đẹp, rất nên mua!” Giá rẻ, chất lượng còn tốt, đăng kí chính
chủ, biển số xe đẹp là bốn luận cứ cùng dẫn đến kết luận “rất nên mua” Lập luận
lô-gic không như vậy Một kết luận đúng lô-gic thì chỉ cần một luận cứ đúng, khôngthể dẫn nhiều luận cứ cho cùng một kết luận Hai đặc tính phản lập luận và có nhiềuluận cứ gộp lại thành tính tranh biện của lập luận đời thường Lập luận lô-gic nếu đãđúng thì không cần tranh biện
- Thứ ba là tính phi lô-gic Lập luận đời thường có thể chấp nhận những kết
luận có vẻ phi lô-gic Những phát ngôn sau đây là bình thường, không ai cảm thấy
“vô lí”:
(5)
Sp1 : Cơm xong rồi chứ ?
Trang 20Sp2 : Xong rồi ạ Chút xíu nữa thôi ạ.
Nếu trong lập luận lô-gic thì hai phán đoán “xong rồi ạ” và “chút xíu nữa thôi
ạ” không thể cùng đúng, một trong hai phán đoán là sai Nhưng vì đây là lập luận
đời thường nên chúng không hề phủ định nhau mà bổ sung cho nhau trong quan hệđồng hướng lập luận
- Thứ tư là hình thức phát ngôn biểu thị các thành phần trong lập luận.
Trong lập luận lô-gic, các luận cứ và kết luận phải được diễn đạt bằng một mệnh đềtrần thuyết Các phát ngôn ngữ vi của hành vi tái hiện (khảo nghiệm, xác tín, miêutả) mới đảm nhiệm được chức năng làm cái biểu đạt cho các thành phần của tamđoạn luận lô-gic Đóng vai trò cái biểu đạt cho các thành phần của lập luận đờithường, ngoài các phát ngôn trần thuyết còn có thể là phát ngôn ở các hành vi ở lờikhác như : điều khiển, mời, hứa,… Ví dụ :
(6) Sáng bảnh mắt ra rồi, dậy đi !
(7) Ở lại ăn bữa cơm với nhà tôi nhé !
Trong lô-gic học, lập luận lô-gic được gọi là lập luận lô-gic hình thức, còn lập luậnđời thường chính là lập luận lô-gic phi hình thức hay lô-gic ngôn ngữ học
Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu truyện cười Việt Nam hiện đại dướigóc độ lập luận trong ngôn ngữ, tức là lập luận đời thường Chúng tôi nhận thấy lậpluận trong truyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường với các lí do sau:
- Phần lớn lập luận trong truyện cười có tính tranh biện Tính tranh biện thểhiện ở cơ chế gây cười của truyện cười Cơ chế đó chứa đựng các phản lập luận tồn
tại song song Ví dụ: (8) MÀY MÙ À?
Trên đường phố đông đúc có hai chiếc xe hơi đâm đầu vào nhau Một tài xế điên tiết hét lên:
- Mày mù à?
Tài xế kia không chịu kém nói lại:
- Ai nói tôi mù? Chẳng phải tôi đã đâm trúng xe anh rồi đó sao?
(Cười hiện đại – 24h)
Lập luận của anh tài xế bị đâm là:
Mù thì mất khả năng nhìn
Anh mất khả năng nhìn nên đâm phải xe tôi
Anh bị mù à? (Anh mù)
Anh tài xế gây tai nạn đã phản lại đại tiền đề “mù thì mất khả năng nhìn” bằng tiền
đề “mù thì không thể nhắm trúng mục tiêu” để đảo lộn kết luận và gây tranh biện
Trang 21Mù thì không thể nhắm trúng mục tiêu.
Tôi đâm trúng xe anh
Ai nói tôi mù? (Tôi không mù)
Cơ chế gây cười của truyện cười Việt Nam hiện đại có thể tóm lại như sau:một nhân vật trong truyện cười đưa ra một tiền đề, hướng người nghe đến một suyluận nào đó nhưng ngay sau đó một nhân vật khác (hoặc có thể chính là nhân vậtcũ) xuất hiện bẻ ngược hướng suy luận của độc giả để độc giả tiến hành quá trìnhnhận thức lại và suy luận theo một tư duy khác, ngược với tư duy ban đầu Từ xu
hướng nhận thức lại, người đọc sẽ phát hiện ra tiếng cười và đạt khoái cảm thắng
lợi, bùng nổ tiếng cười giòn giã Không có cơ chế ấy thì không có tiếng cười Nói
cách khác, không có tranh biện thì không có tiếng cười, nghệ thuật tranh biện lànghệ thuật gây cười
- Nhìn vào hình thức hai kết luận của hai anh tài xế trong ví dụ trên, chúng tacũng dễ dàng nhận thấy kết luận không phải các câu trần thuyết như lập luận lô-gic
mà là các câu hỏi Hỏi “Anh bị mù à?” nghĩa là tố cáo “Anh bị mù”, hỏi “Ai nói tôi
mù?” nghĩa là khẳng định “Tôi không mù” Truyện cười nảy sinh từ đời sống và phục
vụ có hiệu quả cho đời sống con người nên hình thức phát ngôn trong truyện cười đadạng vừa là kết quả tất yếu của cuộc sống vừa là nỗ lực của các tác giả truyện cườigiúp truyện cười gần hơn với độc giả
- Tính phi lô-gic trong truyện cười Việt Nam hiện đại chính là việc những phát
ngôn phi lô-gic cùng tồn tại hợp lí trong một hội thoại Ví dụ: (9) ĐÀN BÀ SI TÌNH
Ông Nam: Đã có rất nhiều người đàn bà sẵn sàng chết cùng tôi, nên đến bây giờ tôi vẫn phải một mình một bóng.
Ông Hùng: Sao lạ vậy? Thật khó tin!
Nam: Đúng vậy! Khi còn trẻ tuổi, có một nữ sinh sẵn sàng vì tôi mà hi sinh
tính mạng, cô ấy kiên quyết nói: “Nếu anh tiếp tục bám lấy tôi thì tôi sẽ chết!”.
Khi tôi đi làm xa, có một cô gái sẵn sàng đợi tôi đến kiếp sau, cô ta nhẹ nhàng nói với tôi: “Anh muốn trở thành bạn trai của tôi, xin đợi kiếp sau vậy” Khi tôi rơi vào cảnh nghèo khó, có một cô gái muốn cùng tôi nhảy xuống hoàng tuyền, cô ta quắc mắt đỏ lừ nói: “Nếu anh không trả tiền cho tôi, tôi sẽ chết cùng anh”.
(Cười hiện đại – 24h)
Trang 22Câu trả lời của ông Nam chứa các phát ngôn mà trong thực tế không thể tồn tại
cùng nhau trong một tình huống giao tiếp Nếu các phát ngôn “một nữ sinh sẵn
sàng vì tôi mà hi sinh tính mạng”, “cô gái sẵn sàng đợi tôi đến kiếp sau”, “cô gái muốn cùng tôi nhảy xuống hoàng tuyền” gợi người cho người đọc ấn tượng về những
người “đàn bà si tình” mà ông Nam may mắn gặp trong đời thì các phát ngôn kế tiếp
lần lượt ngay sau đó “Nếu anh tiếp tục bám lấy tôi thì tôi sẽ chết”, “Anh muốn trở
thành bạn trai của tôi, xin đợi kiếp sau vậy”, “Nếu anh không trả tiền cho tôi, tôi sẽ chết cùng anh” lại gợi ra những hoàn cảnh vô cùng trớ trêu và những người phụ nữ
kia đang từ chối, yêu cầu, thậm chí đe dọa ông Nam vì những hành vi tiêu cực củaông
Lập luận trong truyện cười đã hợp lí hóa những phát ngôn mâu thuẫn trongthực tế để tạo nên những tình huống gây cười Như vậy, cũng giống như tính tranhbiện, nghệ thuật tạo ra sự phi mâu thuẫn chính là nghệ thuật tạo ra tiếng cười
Với những lí do trên, trong luận văn này chúng tôi tiến hành nghiên cứu truyệncười Việt Nam hiện đại dưới góc độ lập luận đời thường hay còn gọi là lập luậnngôn ngữ
1.1.2 Cấu trúc của lập luận
Khi nói tới các thành phần của lập luận, phần lớn các nhà ngôn ngữ học đềuchỉ nói tới hai yếu tố chính là : luận cứ và kết luận Do mục đích nghiên cứu, luậnvăn muốn đề cập tới tất cả các yếu tố về hình thức của lập luận bao gồm : kết luận, luận
cứ, các chỉ dẫn lập luận, quan hệ lập luận nên chúng tôi gọi chung các yếu tố đó là cấutrúc của lập luận
1.1.2.1 Kết luận
Kết luận là một thành phần không thể thiếu của lập luận Có kết luận là có lậpluận Thậm chí có lập luận chỉ có kết luận, các luận cứ đã bị hàm ẩn và trong hoàncảnh nhất định, người nghe có thể khôi phục lại luận cứ để hiểu toàn bộ lập luận Vídụ: một nhóm bạn trẻ đang chuẩn bị cho chuyến đi mua sắm nhưng bỗng dưng trời
đổ mưa, một người kêu lên: “Tớ không đi đâu” và tất cả đều buồn chán quay trở vào nhà “Tớ không đi đâu” là một kết luận và cũng là một lập luận mà luận cứ đã bị ẩn
đi Dựa vào hoàn cảnh, có thể đưa ra các lí lẽ như sau: trời mưa mà đi mua sắm sẽ
không vui, dễ bị lạc nhau, xe cộ, quần áo có thể bị ướt, thậm chí sau chuyến đi mưa
có thể bị ốm.
Trang 23Kết luận có thể ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc vị trí cuối trong một lập luận, có thể tườngminh hoặc hàm ẩn nhưng luôn là mục tiêu cuối cùng của một lập luận Ví dụ:
(10) Có con học giỏi là một vinh hạnh cho cha mẹ Cho nên dù có nghèo đói đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho con cái được học hành.
(Chính sách ngu dân - HCM)
Trong lập luận này, r đứng sau p, r là một kết luận tường minh
Kết luận có thể ở vị trí đầu, ví dụ như:
(11) Giới học giả quan ngại rằng tranh chấp trên biển Đông có nguy cơ trở thành khủng hoảng toàn cầu (r) do các bên chưa bắt đầu thảo luận các biện pháp nhằm kiểm soát tranh chấp (p).
Kết luận có thể ở vị trí giữa như:
(12) Trời nóng khiến mình không ôn thi được Đã thế lại còn mất điện nữa chứ.
Hai lí do “trời nóng” và “mất điện” là những luận cứ đồng hướng tới lập luận
“mình không ôn thi được” Dường như luận cứ thứ nhất chưa đủ thuyết phục cho
hành vi “không ôn thi được”, người nói phải bổ sung thêm luận cứ thứ hai bằng kết
tử lập luận “đã thế”, “lại còn” để làm gia tăng độ khắc nghiệt của hoàn cảnh khiến
kết luận trở nên chặt chẽ hơn
Ở các ví dụ trên, kết luận được đưa ra một cách tường minh Tuy nhiên, kết
luận cũng có thể tồn tại dưới dạng hàm ẩn Ví dụ: (13) NGHE NÓI
- Nghe nói bạn đã nhận lời lấy anh ta phải không? Anh ta có tình cờ nhắc đến việc đã từng… hôn mình không?
- Không! Anh ấy chỉ nói rằng trước đây có làm nhiều việc rồ dại.
Câu hỏi của Sp1 cho chúng ta luận cứ thứ nhất: Anh ta đã từng hôn Sp1.
“Không” là câu trả lời của Sp2, tuy nhiên đó chưa phải kết luận Chúng ta biết rằng,
kết luận là mục tiêu cuối cùng của lập luận nên câu trả lời của Sp2 thực chất là một
luận cứ thứ 2: Anh ta đã từng làm nhiều việc rồ dại Kết luận hàm ẩn mà Sp2 muốn Sp1 hiểu ra chính là: việc hôn cậu cũng là một việc rồ dại mà chồng mình đã làm
trong quá khứ Tiếng cười bật ra khi người đọc khám phá được kết luận hàm ẩn mà
người vợ gửi đến tình nhân cũ của chồng
1.1.2.2 Luận cứ
Trang 24Trong lô-gic học, luận cứ được gọi là tiền đề (đại tiền đề và tiểu tiền đề trongtam đoạn luận) còn trong lập luận đời thường, luận cứ còn được gọi là lí lẽ Dù là
tiền đề hay lí lẽ hay luận cứ, nội hàm khái niệm luận cứ vẫn chỉ “những căn cứ để
từ đó rút ra kết luận” [2, 322].
Các căn cứ để rút ra kết luận rất đa dạng Có thể chỉ một luận cứ đã đủ sứcthuyết phục cho cả lập luận nhưng có thể cần đến nhiều luận cứ Ví dụ:
(14) Không cho trẻ em tắm ở sông ngòi vì điều đó rất nguy hiểm.
(15) Cô gái ấy ngoan hiền, khuôn mặt dễ coi lại có công ăn việc làm tử tế, chàng trai nào cũng muốn lấy làm vợ.
Mối quan hệ giữa các luận cứ trong một lập luận có thể đồng hướng hoặc nghịchhướng lập luận Điều này sẽ được chúng tôi làm rõ hơn ở phần quan hệ lập luận
Giống như kết luận, luận cứ có thể tường minh hoặc hàm ẩn trong lập luận.Luận cứ tường minh tường minh hóa những căn cứ để rút ra kết luận Luận cứ hàm
ẩn là những luận cứ vì một lí do nào đó có thể vắng mặt trong lập luận nhưng ngườinghe vẫn có thể tự suy ra được và không làm thay đổi hiệu quả lập luận
1.1.2.3 Các chỉ dẫn lập luận
“Chỉ dẫn lập luận là các dấu hiệu hình thức nhờ chúng mà người nghe nhận
ra được hướng của lập luận và đặc tính của các luận cứ trong một quan hệ lập luận” [6, 180].
Các chỉ dẫn lập luận bao gồm các tác tử lập luận, kết tử lập luận và các dấu hiệugiá trị học Tìm hiểu hướng của lập luận cũng như đặc tính của luận cứ trong truyệncười, luận văn lần lượt căn cứ vào các yếu tố trên
a Tác tử lập luận
“Tác tử lập luận là một yếu tố được đưa vào nội dung miêu tả nào đấy sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn có của nó” [6, 180].
Ví dụ: Cùng một nội dung thông tin miêu tả: “7 giờ sáng rồi”, chúng ta sử
dụng các tác tử lập luận khác nhau thì sẽ cho các kết luận hướng về các hành vikhác nhau:
(16) Đã 7 giờ sáng rồi đấy!
(17) Mới có 7 giờ sáng thôi mà!
Ví dụ (16) sử dụng cặp tác tử lập luận đã… rồi khiến cho kết luận thể hiện
quan niệm của người nói về khoảng thời gian 7 giờ sáng là muộn để làm một việc gì
Trang 25đó Do đó, kết luận hướng tới hành vi thúc giục, ra lệnh người nghe cần phải khẩntrương, mau lẹ hành động thật nhanh cho kịp thời gian.
Ví dụ (17) lại sử dụng cặp tác tử lập luận mới… thôi mà khiến cho lập luận hướng về kết luận cứ từ từ, thong thả vì trong quan niệm của người nói “7 giờ
sáng” vẫn còn sớm để thực hiện một điều gì đó.
Với tác tử chỉ và những, so sánh hai phát ngôn sau:
(18) Chỉ có hai cái áo giống nhau thôi à?
(19) Có những hai cái áo giống nhau cơ à?
Ta thấy, tác tử chỉ trong lập luận (18) hướng về thông tin miêu tả “có hai cái
áo giống nhau” là ít so với nhu cầu của người nói đồng thời bộc lộ sự thất vọng của
người nói với nội dung này Ngược lại, tác tử những hướng lập luận (19) về phía kết luận “có hai cái áo giống nhau” là không cần thiết, là thừa đồng thời bộc lộ quan niệm của người nói đối với thời trang là: “thích dùng hàng độc”.
b Kết tử lập luận
“Các kết tử lập luận là những yếu tố (như các liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng từ, trạng ngữ,…) phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận” [6, 184] Ví dụ:
(20) Nếu không có tình yêu thì cuộc sống trở nên vô nghĩa.
Cặp kết tử lập luận nếu… thì… là cặp kết tử nêu giả thiết – kết luận Giả thiết
sau từ “nếu” là luận cứ để hướng tới kết luận sau từ “thì”
Các kết tử lập luận có số lượng rất phong phú Dựa vào các tiêu chí khác nhau,
Đỗ Hữu Châu đã chia kết tử lập luận ra thành các loại: kết tử lập luận hai vị trí vàkết tử lập luận ba vị trí; kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận; kết tửđồng hướng và kết tử nghịch hướng
- Kết tử hai vị trí và kết tử ba vị trí
+ Kết tử hai vị trí là những kết tử nối hai phát ngôn để trở thành lập luận(không nhất thiết phải có thêm một phát ngôn – luận cứ thứ ba - mặc dầu vẫn có thểthêm vào một hoặc một số phát ngôn – luận cứ bổ sung, đồng hướng)
Ví dụ: (21) Hãy dậy sớm (r) vì bình minh rất đẹp (p).
Trang 26Trong lập luận trên, kết tử hai vị trí vì nối hai phát ngôn: “hãy dậy sớm” là kết luận nêu lên một lời khuyên, một lời kêu gọi hành động với “bình minh rất đẹp” là
luận cứ giải thích nguyên nhân dẫn đến kết luận r
+ Kết tử ba vị trí là kết tử đòi hỏi phải có ba phát ngôn mới có thể hình thànhmột lập luận Ví dụ:
(22) Vết thương không sâu lắm, vào phần mềm (p) Nhưng vì bom nổ gần (q),
Nho bị choáng (r) (Lê Minh Khuê - Những ngôi sao xa xôi)
Kết tử nhưng đòi hỏi phải có ba phát ngôn mới tạo thành lập luận Trong đó, hai luận cứ “vết thương không sâu lắm, vào phần mềm” và “bom nổ gần” là hai luận cứ nghịch hướng Kết luận là “Nho bị choáng”.
- Kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận
Căn cứ vào quan hệ giữa kết tử với luận cứ hay kết luận mà các kết luận đượcchia thành kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận
+ Kết tử dẫn nhập luận cứ là kết tử đưa ra một nội dung (hay một hành vi ở
lời) vào làm luận cứ cho một lập luận Thường gặp là các kết tử: vì, tại vì, bởi, tại
bởi, hơn nữa, chẳng những… mà còn, đã… lại,… Ví dụ:
(23) Uống nhiều nước trong mùa hè chẳng những giúp cơ thể giải nhiệt mà
còn làm cho làn da thêm mịn màng.
Kết tử chẳng những … mà còn… dẫn nhập hai luận cứ “giúp cơ thể giải nhiệt”
và “làm cho làn da thêm mịn màng” để khẳng định kết luận: nên uống nhiều nước
trong mùa hè
+ Kết tử dẫn nhập kết luận là kết tử nối một nội dung (hoặc một hành vi) đóng
vai trò kết luận cho lập luận với luận cứ Đó là những kết tử như: thì, vậy, nên, vậy
nên, cho nên, dù thế nào cũng, dù sao cũng,… Ví dụ:
(24) Gia đình là điều tuyệt vời nhất nên hãy về thăm gia đình bất cứ khi nào
bạn có thể.
Kết tử nên dẫn nhập cho kết luận như một lời khuyên “hãy về thăm gia đình
bất cứ khi nào bạn có thể” với luận cứ trước đó “gia đình là điều tuyệt vời nhất”.
Việc luận cứ hay kết luận có dùng kết tử lập luận hay không còn tùy thuộc vào
vị trí của luận cứ hay kết luận trong lập luận
- Kết tử đồng hướng lập luận và nghịch hướng lập luận
Trang 27+ Kết tử đồng hướng lập luận là những kết tử liên kết các phát ngôn là các luận
cứ đồng hướng với kết luận Đó là các kết tử như: và, hơn nữa, huống hồ, thêm vào
đó, bên cạnh đó, đã… lại, chẳng những… mà còn,…
Ví dụ (23) có hai kết tử chẳng những… mà còn… là hai kết tử đồng hướng lập luận vì chúng hướng hai luận cứ “giúp cơ thể giải nhiệt” và “làm cho làn da thêm
mịn màng” đến cùng một kết luận: “nên uống nhiều nước trong mùa hè”.
+ Kết tử nghịch hướng lập luận là những kết tử liên kết các phát ngôn là cácluận cứ nghịch hướng với kết luận Thuộc về các kết tử nghịch hướng là các từ như:
nhưng, thế mà, thực ra, tuy vậy, tuy… nhưng,… Ví dụ:
(25) Thời tiết Sài Gòn nắng nhưng nhiều gió khiến chúng ta không cảm thấy
nóng như ở Hà Nội.
Kết tử nhưng nối hai luận cứ ngược chiều: “thời tiết Sài Gòn nắng” và “thời tiết
Sài Gòn nhiều gió” để dẫn tới kết luận: “chúng ta không cảm thấy nóng như ở Hà Nội”.
Có thể nói, sự có mặt của kết tử lập luận là một dấu hiệu chắc chắn chứng tỏphát ngôn đang gặp là một lập luận
c Các dấu hiệu giá trị học
Trong lập luận, bên cạnh các tác tử lập luận, kết tử lập luận, các dấu hiệu giátrị học cũng có tác dụng thay đổi giá trị lập luận của các nội dung miêu tả sử dụngchúng làm cái biểu đạt Đỗ Hữu Châu đã tóm lược bước đầu các phương tiệnthường được dùng làm dấu hiệu giá trị học:
+ Các yếu tố của hiện thực được lựa chọn tạo thành nội dung miêu tả
+ Cách sắp xếp, tổ chức nội dung miêu tả cũng có giá trị lập luận
+ Các thực từ dùng để miêu tả
Ngoài ra, các từ đồng nghĩa, các cách dùng từ xưng hô, các biện pháp tu từ như nóiquá, nói giảm,… cũng có thể đóng vai trò dấu hiệu giá trị luận trong các lập luận
1.1.2.4 Quan hệ lập luận
Quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ với nhau hoặc giữa các luận cứvới kết luận Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p, q…được đưa ra để hướng tới một r nào đó Trong một lập luận có từ hai luận cứ trở lên,tồn tại hai kiểu quan hệ giữa các luận cứ: quan hệ đồng hướng lập luận hoặc quan
hệ nghịch hướng lập luận
Trang 28a Quan hệ đồng hướng lập luận
Các luận cứ có quan hệ đồng hướng lập luận với nhau khi cả hai cùng hướngđến một kết luận chung, kí hiệu:
p → r
q → r
Giữa các luận cứ đồng hướng có thể có quan hệ tương hợp với nhau, nghĩa làchúng lập nên một nhóm luận cứ thuộc cùng một phạm trù Ví dụ với ba luận cứ sau:p: khu đất này vuông vắn
q: khu đất này nằm ở hai mặt đường
k: giá cả không chát chúa lắm
Ta có lập luận:
(26) Khu đất này vuông vắn, lại hai mặt đường, giá cả không chát chúa lắm, cậu đặt cọc tiền đi.
Các luận cứ không cùng phạm trù vẫn có thể đồng hướng lập luận với nhau Ví dụ:
(27) Khu đất này vuông vắn, thị trường bất động sản lại đang ấm dần lên, tiền
để trong ngân hàng cũng chả sinh nhiều lời, cậu nên quyết mua mảnh này ngay đi.
Các luận cứ: “khu đất này vuông vắn”, “thị trường bất động sản đang ấm dần lên”,
“tiền để trong ngân hàng không sinh nhiều lời” tuy không cùng phạm trù với nhau nhưng vẫn đồng hướng lập luận, cùng hướng tới kết luận là: “hãy mua mảnh đất này”.
b Quan hệ nghịch hướng lập luận
Các luận cứ p, q nghịch hướng lập luận với nhau khi p hướng tới kết luận r còn
q hướng tới kết luận –r (ở đây r và –r cùng phạm trù, nói khác đi, -r phải là phủ địnhcủa r) Kí hiệu:
p → r
q → -r (hoặc ngược lại)
Ví dụ:
(28) Con bé đó xinh nhưng kiêu lắm.
Ở lập luận này, người nói đưa ra hai luận cứ ngược chiều nhau:
p: con bé đó xinh → r: nên tán nó
q: con bé đó kiêu → -r: không nên tán nó
Ở đây đặt ra vấn đề kết luận sẽ đi theo hướng lập luận nào? Điều đó liên quanđến hiệu lực lập luận của luận cứ Mà hiệu lực lập luận của luận cứ lại liên quan đến
Trang 29vị trí của chúng so với kết luận Tức là luận cứ nào ở gần kết luận hơn sẽ có hiệulực lập luận mạnh hơn, luận cứ nào càng ở xa kết luận thì sự chi phối của nó tới lậpluận càng yếu Do đó, hướng lập luận phụ thuộc vào luận cứ gần kết luận nhất Như vậy, ở ví dụ (28), kết luận cùng hướng với luận cứ q gần nó hơn Lập luận
(28) sẽ có kết luận hàm ẩn là: “không nên tán nó” Nhưng nếu thay đổi vị trí của hai luận
cứ tạo thành lập luận (28’): “Con bé đó kiêu nhưng xinh lắm” thì hướng lập luận lại bị chi phối bởi luận cứ “con bé đó xinh lắm”, do đó kết luận hàm ẩn là: “nên tán nó”.
Đặt ra vấn đề lực lập luận, trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” [2,324], Diệp Quang Ban lấy một ví dụ:
(29) Chiếc đồng hồ này đẹp nhưng không nên mua.
Thông thường luận cứ “chiếc đồng hồ này đẹp” sẽ dẫn tới kết luận “nên mua” nhưng kết luận ở đây là “không nên mua” Rõ ràng tồn tại một luận cứ hàm ẩn có hiệu lực lập luận mạnh hơn và nghịch hướng với luận cứ “chiếc đồng hồ này đẹp”
để hướng tới kết luận “không nên mua” Theo Giáo sư, có thể khôi phục các luận cứ
và kết luận hàm ẩn để tạo thành hình vuông lập luận như sau:
Chiếc đồng hồ này đẹp NHƯNG quá to so với phòng mình
↓ ↓
Nên mua Không nên mua
Việc xác định luận cứ hàm ẩn cho ta thành phần đầy đủ của lập luận trên gồm:
p: chiếc đồng hồ này đẹp quá, q: quá to so với phòng mình, r: không nên mua Mô hình lập luận dạng đầy đủ: p, nhưng q → r (trong đó p → -r, q → r) Nhưng là kết tử
lập luận nghịch hướng lập luận trên cơ sở quan hệ nghịch hướng giữa luận cứ p tườngminh với q hàm ẩn mang lực lập luận hướng tới kết luận r của lập luận đã cho
1.1.3 Lẽ thường – cơ sở của lập luận
Như trên đã phân biệt lập luận lô-gic và lập luận đời thường, nếu tiền đề vàthao tác lô-gic là cơ sở của lập luận lô-gic thì lẽ thường là cơ sở của lập luận đờithường Thuật ngữ “lẽ thường” (tiếng Pháp là topos, số nhiều là topoi) lần đầu được
O Ducrot sử dụng để chỉ các nguyên lí được dùng làm cơ sở để nối kết nội dungnày với nội dung khác tạo nên lập luận đời thường
“Lẽ thường là những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề lô-gic, mang đặc thù địa phương hay dân tộc, có tính chất khái quát nhờ chúng mà chúng ta xây dựng được lập luận riêng” [6, 71].
Trang 30Lẽ thường ở ví dụ (29) là: phải giữ truyền thống gia đình.
Lẽ thường ở ví dụ (30) là: gia đình có người học đại học thì mới ngẩng mặt
lên được với hàng xóm.
Chúng ta có thể được tường minh hóa lẽ thường trong mô hình tam đoạn luậnnhư sau:
(29) p: Xưa nay nhà mình ai cũng đậu đại học
q: Thằng Út phải giữ truyền thống gia đình
r: Kì này, thằng Út phải ráng mà đậu đại học
(30) p: Xưa nay nhà mình chẳng ai đậu đại học
q: Gia đình có người học đại học thì mới ngẩng mặt lên được với làng xóm.r: Kì này, thằng Út phải ráng mà đậu đại học
Các lẽ thường có tính chất là (được xem như là) được mọi người thừa nhận.Nói như vậy không có nghĩa đó là những chân lí quốc tế, luôn luôn đúng và bao giờcũng hợp quy luật khách quan, lô-gic Có những lẽ thường của dân tộc này, địaphương này nhưng lại kì lạ với dân tộc khác, địa phương khác Chẳng hạn như quanniệm khác nhau về các loại vật nuôi trong nhà của người Việt Nam với người châu
Âu Ví dụ một phát ngôn: “Món cầy này ngon thật” rất bình thường ở Việt Nam sẽ
trở thành khủng khiếp với các dân tộc coi chó là thú cưng, là người bạn tin cậy…Bởi vì lập luận dựa trên các lẽ thường, mà lẽ thường không phải bao giờ cũng
là chân lí khách quan cho nên ngay trong một dân tộc, có những lẽ thường tráingược nhau Nếu vận dụng lẽ thường này thì có lập luận này, nếu vận dụng lẽthường khác thì có lập luận khác Câu chuyện sau đây gây cười bởi hai nhân vật đã
có lập luận xuất phát từ những lẽ thường khác nhau Ví dụ:
Trang 31(31) BẮT ĐẦU
Bố : Sao mới vào lớp con đã được điểm 0 ?
Con : Thầy dạy toán con bảo : “Chúng ta phải bắt đầu từ số 0”
(Cười vui dí dỏm)
Câu hỏi của ông bố chứng tỏ quan niệm của ông là “đầu năm học mà bị điểm
0 là học dốt, lười học, đáng trách” Nhưng cậu con trai lại vận dụng một lẽ thường
khác – phép đếm của toán học: “dãy số tự nhiên bắt đầu bằng số 0” Theo quy tắc
đó, việc học tập của cậu là đúng quy luật và không có gì đáng trách Tiếng cười bật
ra trên cơ sở lí lẽ ngụy biện của cậu con trai đối lập với lí lẽ của ông bố
Trong cuốn “Giản yếu về ngữ dụng học” xuất bản năm 1995, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Các lẽ thường của từng dân tộc có thể tìm thấy trong tục ngữ” [2, 39].
Tục ngữ là kho tàng các lẽ thường của mỗi dân tộc, đã được cố định hóa bằng hìnhthức ngôn ngữ Tuy vậy, chính trong bản thân tục ngữ cũng có không ít câu tráingược nhau, nghịch hướng về lập luận với nhau Có “không thầy đố mày làm nên”,cũng có “học thày không tày học bạn”, có “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, cũng
có “bán anh em xa mua láng giềng gần”…
Mặc dù khối lượng tục ngữ của mỗi dân tộc là đồ sộ nhưng chưa phải là tất cả
lẽ thường Lẽ thường có số lượng vô hạn và chất lượng muôn hình muôn vẻ Lẽthường chi phối cách suy nghĩ, nói năng và hành động của chúng ta nhiều hơnchúng ta tưởng
tuệ” [18, 366] Theo Đinh Gia Khánh, “Tiếng cười hài hước bật ra là do sức mạnh
nội tại của tâm trí chúng ta, tức là sự phản kháng và sự thắng lợi của tư duy lô-gic với những hiện tượng muốn lọt ra khỏi phạm vi giải quyết của nó” [18, 366].
Trang 321.2.2 Các thủ pháp gây cười trong truyện cười
Người Việt Nam đọc truyện cười là có thể cười ngay được nhưng để lí giải cơchế hình thành tiếng cười thì không phải điều dễ dàng Đã có rất nhiều công trìnhthuộc các chuyên ngành như văn học dân gian, ngôn ngữ học, lô-gic học cố gắngnghiên cứu, tìm hiểu các thủ pháp gây trong truyện cười Việt Nam từ truyền thốngđến hiện đại Tựu trung, có thể nhận xét khái quát là: có rất nhiều thủ pháp gây cườitrong truyện cười Việt Nam hiện đại, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, truyệncười vẫn không ngừng đem đến những kết quả bất ngờ, thú vị, thôi thúc bước chânnhững ai không bằng lòng cười “suông”
Bàn về “thi pháp thể hiện cái hài trong truyện cười dân gian”, luận án “Cái hàitrong truyện cười dân gian” của Nguyễn Văn Tiêm đã chỉ ra một số thủ pháp gâycười trong truyện cười dân gian như sau:
- Thủ pháp gây cười bằng khai thác mâu thuẫn
- Thủ pháp gây cười bằng yếu tố bất ngờ
- Thủ pháp gây cười bằng sử dụng yếu tố tục
- Thủ pháp gây cười bằng tạo nên cái máy móc
- Thủ pháp gây cười bằng ngôn ngữ
Trong ngôn ngữ học, các thủ pháp gây cười đã được khai thác dưới góc độ ngữpháp văn bản, góc độ ngữ dụng học và góc độ hàm ý hội thoại Điều này đã đượcchúng tôi trình bày trong phần “Lịch sử vấn đề” Các thủ pháp gây cười có thể kểtới là:
- Thủ pháp gây cười từ góc độ liên kết hình thức
- Thủ pháp gây cười từ góc độ liên kết nội dung
- Thủ pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc chiếu vật chỉ xuất
- Thủ pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hành động ngôn ngữ
- Thủ pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc lập luận
- Thủ pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hội thoại
- Thủ pháp gây cười bằng hàm ngôn
Dưới góc nhìn lô-gic học, tác giả Đặng Hồng Nhung cũng nghiên cứu hai thủpháp gây cười trong truyện cười hiện đại đó là:
- Thủ pháp gây cười bằng vi phạm các nguyên lý cơ bản của tư duy
- Thủ pháp gây cười bằng suy luận
Trang 33TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, ngoài các lý thuyết chung về lập luận và truyện cười, thànhquả của chúng tôi là đã lựa chọn nghiên cứu truyện cười Việt Nam hiện đại dướigóc độ lập luận đời thường Đó là cơ sở, quan điểm để chúng tôi tiến hành nghiêncứu các chương sau
Từ chương 2, các truyện cười được lấy làm tư liệu phân tích sẽ được chúng tôiđánh số thứ tự từ 1 đến hết để người đọc tiện theo sát tiến trình luận văn
Trang 34Chương 2 CẤU TRÚC LẬP LUẬN TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chúng ta đã nhận định rằng: Cấu trúc của một lập luận đầy đủ bao gồm cácthành phần: kết luận, luận cứ, các chỉ dẫn lập luận và quan hệ lập luận Trong đó,luận cứ và kết luận là hai thành phần quan trọng nhất của lập luận, luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Quan hệ lập luận là mối quan hệ giữa các luận cứ với kết luận.Các chỉ dẫn lập luận là cơ sở hình thức để chúng ta nhận ra định hướng và đặc tínhlập luận của luận cứ
Tìm hiểu lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại trước hết là đi sâu tìmhiểu các thành phần trong cấu trúc của lập luận Qua đó, chúng tôi muốn lí giải cáctác giả truyện cười hiện đại đã sử dụng thủ pháp nào để tạo nên tiếng cười
2.1 Kết luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Sở dĩ kết luận được chúng tôi đưa lên mục tiêu nghiên cứu đầu tiên khi tìmhiểu cấu trúc lập luận trong truyện cười vì trong số 69 tư liệu truyện cười khảo sát,chúng tôi thống kê được 40 truyện cười có tiếng cười bùng nổ ở kết luận (chiếm58%) Mặt khác, do đặc trưng của truyện cười luôn chứa đựng yếu tố bí mật, bấtngờ, phải đến phút chót tiếng cười mới thực sự bùng nổ và bật ra tiếng cười là hếttruyện nên dễ hiểu vì sao số truyện cười gây cười ở kết luận chiếm số lượng lớn
2.1.1 Các loại kết luận
2.1.1.1 Kết luận bị bỏ trống
Chúng tôi cố gắng phân biệt kết luận bị bỏ trống với kết luận hàm ẩn trên tiêuchí cơ bản nhất là sự xuất hiện hay không xuất hiện thành phần kết luận trong diễnngôn truyện cười Trong đó, kết luận hàm ẩn là kết luận có xuất hiện trong lập luậnnhưng không ở dạng tường minh, người đọc phải dựa vào luận cứ, tiền giả định, lẽthường hay các thao tác suy luận để lí giải đến ý nghĩa hàm ẩn của nó Kết luận bị bỏtrống là kết luận hoàn toàn không có mặt trong lập luận Thông thường, người đọcnhờ các thao tác suy luận để tìm ra kết luận bị bỏ trống Xét hai truyện cười sau:
Trang 35(1) SỪNG MỌC TRÊN ĐẦU
Sau khi sinh được cậu con trai có màu da “oẳn tà roằn”, người đàn bà giàu
có viết thư cho chồng đang đi công tác xa :
“Anh yêu, khi con của chúng ta sinh ra, vì không có sữa cho nó, em đành nhờ
bà nhũ mẫu da đen cho bú hộ Và anh có tưởng tượng nổi không, mỗi ngày da của
nó sậm màu hơn một chút”.
Đức ông chồng báo tin này lại cho mẹ đẻ, bà chỉ nói :
“Con ơi, khi sinh con ra, ta cũng không đủ sữa cho con nên ta đành phải nuôi
con bằng sữa bò nên bây giờ sừng nó mới mọc trên đầu con đấy”.
(Truyện cười lô-gic)
(2) MÀU Y PHỤC
- Mẹ ơi, tại sao trong lễ cưới, cô dâu mặc toàn y phục màu trắng ?
- Vì màu trắng là màu của hạnh phúc.
- Bây giờ thì con đã hiểu tại sao chú rể lại mặc toàn y phục màu đen rồi.
(Cười xưa và nay)
Ở truyện cười (1), chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy kết luận của người mẹ
chồng đó là : “bây giờ sừng nó mới mọc trên đầu con đấy” Lí giải ý nghĩa hàm ẩn
của kết luận này liên quan đến việc hiểu ý nghĩa của cụm từ “mọc sừng” và quanniệm văn hóa của người Việt về loài vật con bò Người Việt Nam có cụm từ “mọcsừng” để nói về những đức ông chồng có vợ ngoại tình và các thành ngữ liên quanđến loài vật con bò như “ngu như bò”, “dốt như bò”, “bò đội nón”,… Từ hai tiền giảđịnh đó, người đọc có thể rút ra kết luận hàm ẩn mà bà mẹ chồng gửi gắm trong bức
thư là : “Vợ con đang ngoại tình và con là một thằng ngu mới tin rằng đứa bé da
màu kia là con trai của con”.
Sang truyện cười (2), chúng ta không tìm thấy hình thức kết luận xuất hiện
trong diễn ngôn Ở đây có hai luận cứ : (p) : cô dâu mặc y phục màu trắng tượng
trưng cho hạnh phúc và (q) : chú rể mặc y phục màu đen Truyện cười có hình thức
suy luận một tiền đề Mô hình chung là :
a Mô hình 1:
a → bāБ
Trang 36(Gọi a, b là những mệnh đề khẳng định Từ đó, ā và Б là các mệnh đề đối lập hoặcphủ định Kí hiệu “→” là kí hiệu chỉ phép suy ra của lô-gic, trong ngôn ngữ học, nó đượcdiễn đạt bằng cặp từ quan hệ: “nếu… thì…” )
Nhờ công thức này chúng ta tìm được kết luận đó là : chú rể không hạnh phúc.
Tiếng cười bật ra ở đây vì cách lí giải không chính xác của mẹ và suy luận ngây thơcủa bé
Nhờ suy luận lô-gic, chúng tôi tìm thấy một số công thức để suy ra kết luận bị
bỏ trống trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Mô hình 1 còn được áp dụng để tìm ra kết luận ở một số truyện cười như :
(3) CÙNG TRỜI CUỐI ĐẤT
- Em thân yêu! – Chàng trai nói: Với đôi tay này anh có thể đưa em đến cùng trời cuối đất.
- Vậy thì anh yêu dấu, mai anh hãy cho em đi Vũng Tàu một chuyến.
- Nhưng… nhưng… à… đó có phải là nơi cùng trời cuối đất đâu?
(Vợ chồng cùng cười)
=> Kết luận : Anh không thể cho em đi Vũng Tàu.
(4) CON VỚI CHẢ CÁI
Gia đình đang vui vẻ thì cu Tí chợt hỏi:
- Mẹ ơi, sao bố lại có ít tóc trên đầu quá vậy? (Bố cu Tí bị hói đầu)
- Tại bố con phải suy nghĩ nhiều quá – Bà mẹ nhanh trí trả lời.
Gật gù tỏ vẻ hài lòng, cu Tí hỏi tiếp:
- Mẹ ơi, vậy còn tại sao mẹ lại có nhiều tóc thế? (Nụ cười trẻ thơ)
=> Kết luận : Mẹ ít suy nghĩ.
(5) CHÍ PHẢI Ạ
Thấy các em trong cơ quan đang đàm tiếu sôi nổi , sếp ghé vào góp vui :
- Có chuyện gì mà rôm rả thế ?
- Dạ, chúng em đang nói chuyện chồng con đấy ạ.
- Thế hả ? Tối thấy xưa nay cứ gái xấu thì lấy được chồng đẹp, còn gái đẹp thì lấy phải chồng cực xấu, có phải vậy không ?
- Chí phải ạ ! Chắc vợ sếp ở nhà đẹp lắm nhỉ ? (Truyện cười lô-gic)
=> Kết luận : Sếp rất xấu.
Trang 37b Có thể tìm thấy kết luận bị bỏ trống trong dạng suy luận tuyển chặt :
Mô hình 2:
a V b Б aPhép suy luận tuyển chặt là thuật ngữ dùng của lô-gic học, chỉ ít nhất mộttrong hai thành phần a hoặc b sẽ đúng, thành phần còn lại chắc chắn sai Trong ngônngữ, phép tuyển chặt diễn đạt bằng quan hệ từ “hoặc… hoặc…” Ví dụ :
(6) MAY QUÁ
Cô vợ trẻ đi làm về trễ, quần áo xộc xệch, hớn hở báo với chồng :
- May quá anh ạ ! Trên đường về nhà, em gặp phải một tên vô lại Nó dí dao vào cổ em và bảo : “Hoặc cho nó yêu hoặc chết”.
- Trời ơi, thế rồi sao ?
- Thì em vẫn còn sống trở về với anh đây này (Truyện cười lô-gic)
(7) CÓ PHẢI ĐÂU
Anh chồng vừa đi làm về thì cô vợ nói:
- Cái công tắc nhà mình bị hỏng, anh sửa lại đi.
- Anh có phải là thợ điện đâu.
Hôm sau cô lại bảo:
- Cái vòi nước bị chảy, cần sửa lại anh ạ!
- Anh có phải thợ sửa nước đâu.
Một hôm anh chồng đi làm về thì thấy vòi nước và công tắc điện đã hoạt động bình thường.Anh hỏi vợ:
- Ai sửa cho mình đấy?
- Em nhờ anh hàng xóm.
- Thế anh ta đòi gì?
- Em hát hoặc cho anh ta hôn.
- Em hát bài gì?
- Em có phải ca sĩ đâu (Truyện cười lô-gic)
Ở truyện cười (6), tên cướp đã đưa ra hai điều kiện : “hoặc cho nó yêu hoặc chết” Đây là hai điều kiện của phép tuyển chặt, tức là chỉ được chọn một trong hai
phương án, không cho phép phương án thứ ba Vậy, khi cô gái trở về hào hứng
Trang 38khoe với chồng về sự thoát chết của mình, tức là cô đã chọn phương án thứ nhất:
“cho nó yêu” Tiếng cười bật ra do sự ngây thơ của cô gái: tuy may mắn thoát chết
nhưng lại thất tiết với chồng, vậy mà còn rất hào hứng khoe
Tương tự ở truyện cười (7), cô gái cũng có hai sự lựa chọn: “Em hát hoặc cho anh ta hôn” Sau khi cô đưa ra luận cứ thứ hai: “Em có phải ca sĩ đâu” tức là “em
không hát” thì người chồng cũng như người đọc có thể suy ra kết luận bị bỏ trống:
“Em cho anh ta hôn” Tuy cùng hình thức lí giải kết luận như ví dụ (6) nhưng kết
luận trong ví dụ (7) là sự chủ động đáp trả của người vợ với thói vô trách nhiệm củađức ông chồng
c Kết luận có thể bị bỏ trống khi mệnh đề lớn là một lời khẳng định hay mộtcâu hỏi cần khẳng định, mệnh đề nhỏ là một dẫn chứng phủ định mệnh đề lớn Kếtluận bị bỏ trống được rút ra chính là sự phủ định mệnh đề lớn Ví dụ:
- Thế thân sinh Nguyễn Du không sáng tác được một tác phẩm tương tự
như vậy sao? (Truyện cười lô-gic) Ông bố trong ví dụ đã khẳng định “ông bố nào cũng làm được nhiều việc trên đời hơn con trai của họ” Nhưng cậu con chỉ cần một dẫn chứng có thể bẻ gẫy
được “chân lí” của bố: cha của Nguyễn Du không sáng tác được tác phẩm tương
đương với Truyện Kiều Từ đó đi đến kết luận đó là: Không phải người cha nào cũng làm được nhiều việc trên đời hơn con trai của họ Tiếng cười bật ra nhờ sự
thắng thế trong suy luận của cậu con nhỏ tuổi Tương tự như ví dụ (8) là ví dụ:
(9) LÀM GÌ CÓ
Trong khi âu yếm nhau, chàng hỏi nàng:
- Trước anh, em đã có đứa con trai nào chưa?
- Làm gì có con trai, em chỉ có hai đứa con gái đang gửi nhà ngoại
(Truyện cười lô-gic)
Trang 39Kết luận hàm ẩn ở đây là: Em ít nhất đã thuộc về một người con trai nào đó.
Kết luận đó có được do dẫn chứng “hai đứa con gái đang gửi nhà ngoại” mà cô gái
vô tình nói ra
d Một số lập luận có kết luận bị bỏ trống khi luận cứ là những biểu thức miêu
tả Người đọc nhờ các biểu thức miêu tả mà có thể rút ra kết luận Ví dụ:
(10) SIÊU NỊNH
- Anh yêu, anh thích một cô gái có đôi mắt như thế nào ?
- Mắt phải đẹp như mắt em, chỉ khác tí chút là có màu xanh.
- Thế mũi cô ấy, anh thích phải thế nào ?
- Phải đẹp như mũi của em, có điều sống mũi cô ấy không được gãy.
- Thế thân hình ?
- Bốc lửa như em, có điều chưa quá 80kg như em.
- Thế còn bộ răng ?
- Phải đẹp và trắng muốt như em, có điều đừng nên ăn đu đủ không cần thìa.
- Hóa ra là anh chê em hả ? Từ nãy tới giờ toàn “có điều”, điều gì ?
- Đâu có, em là thiên thần xinh đẹp, bé bỏng của anh ! Em có tất cả những cái
mà tính ra cả bốn cô cộng lại cũng chưa bằng được
(Vợ chồng cùng cười)
Mặc dù chàng trai luôn khẳng định những điều tốt đẹp về cô gái nhưng quacách miêu tả hài hước của anh ta, người đọc có thể hình dung ra ngoại hình khôngmấy thẩm mĩ của cô gái: màu mắt không đẹp, mũi gẫy, răng hô và rất béo Chândung thật của cô gái là một kết luận mà chàng trai không cần “khiếm nhã” nói ra
e Ví dụ sau đây cũng là một dạng lập luận có kết luận bị bỏ trống:
(11) QUÁ NHIỀU VÀ KHÔNG ĐỦ
Cửa hàng thực phẩm nọ nhận được một cân đường của khách trả lại, ngoài bao bì có dán một tờ giấy, bên trên viết:
“Làm đồ ăn, cát quá nhiều; để xây nhà, cát không đủ”.
(Nụ cười hiện đại – 24h)
Hai luận cứ p: làm đồ ăn, cát quá nhiều và q: để xây nhà, cát không đủ, cùng
hướng về kết luận: Đường quá nhiều cát, không đảm bảo chất lượng.
Việc bỏ trống kết luận khiến người đọc phải sử dụng một số thao tác suy luận
để tìm ra kết luận là một trong những thủ pháp tạo tiếng cười trong truyện cười Việt
Trang 40Nam hiện đại Thủ pháp này giúp cho tiếng cười không đơn thuần chỉ là sự mua vui,giải trí, không phải “cù cho người ta cười”, mà là tiếng cười của trí tuệ thông minh,
lô-gic, của óc phán đoán và suy luận tỉnh táo Chính vì thế, “tiếng cười là một biểu
hiện của thắng lợi trí tuệ” [18, 336].
2.1.1.2 Kết luận hàm ẩn
Truyện cười chứa kết luận hàm ẩn là một đặc trưng cho truyện cười Việt Namnói chung và truyện cười hiện đại Việt Nam nói riêng Vì suy cho cùng, người ViệtNam có thói quen ăn nói hàm ý, cười cũng phải cười cho thật sâu, thật sắc Vị trícủa kết luận hàm ẩn thường nằm ở cuối truyện cười, do đó đi tìm nghĩa hàm ẩn củakết luận chính là đi tìm ý nghĩa tiếng cười Thông thường, nghĩa hàm ẩn được tạonên bởi hai bộ phận là tiền giả định và hàm ngôn
a Truyện cười có kết luận hàm ẩn dựa trên tiền giả định
Trong các truyện cười dạng này, tiền giả định hay các lẽ thường là cơ sở để lí
giải ý nghĩa hàm ẩn của kết luận Ví dụ: (12) NÓI KHÍCH
Hai bà hàng xóm có chuyện xích mích nên hễ cứ gặp nhau là nói khích Một lần, một bà bị chó cắn, bà kia hỏi:
- Thế chị đã tẩy trùng chưa?
- Cần gì, tôi cũng chỉ bị xước da.
- Ấy là tôi nói tẩy trùng cho… con chó kia mà
(Cười vui dí dỏm)
Trong quan niệm của người Việt Nam, chó là loại vật thấp kém và người ta rất
kị đối người (hoặc những thứ cao quý) với chó Nguyễn Khuyến xưa từng có câubình rất đắc về thơ Tú Xương: “Rằng hay thì thật là hay/ Đem trời đối chó lão nàykhông ưa” Mặt khác, còn tồn tại một tiền giả định nữa là: khi bị chó cắn, người tathường phải tẩy trùng vết thương và đi tiêm phòng dại (do sợ con chó bị điên) Lợidụng các lẽ thường ấy, bà hàng xóm đã hạ bệ đối thủ của mình bằng cách tôn “chó”lên hạng cần phải tẩy trùng vì sợ bệnh lây nhiễm từ người Nghĩa hàm ẩn của kếtluận đúng với tính chất một lời “nói khích”, xúc phạm nặng nề thể diện của người
nghe Có thể hiểu là: “Bà mắc bệnh truyền nhiễm và bà không bằng loài chó”.
Tuy nhiên, nhờ cách nói hàm ý và gây cười, sự xúc phạm thể diện đối với ngườinghe đã giảm đi phần nào