Đánh giá môi trường chiến lược trong quy hoạch xây dựng, phát triển kinh tế xã hội...cần xem xét các vấn đề môi trường có tác động và ảnh hưởng trong phạm vilớn như sử dụng tài nguyên đấ
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu kết quả trong luận văn là chung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Vũ Văn Thuỵ
1
Trang 2Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự , thầy là người đã đưa ra định hướng và tận tìnhhướng dẫn về mặt khoa học cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Trắc địa Mỏ, khoa Trắc địa
đã chỉ dẫn, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích trong quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến sở kế hoạch đầu tư tỉnh Bắc Giang, sởtài nguyên môi trường tỉnh Bắc Giang, Liên hiệp khoa học công nghệ môi trường vàphát triển bền vững đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã thường xuyênđộng viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2010 Tác giả luận văn
Vũ Văn Thuỵ
2
Trang 33
Trang 44
Trang 55
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, trong thời kỳ đổi mới của đất nước, quá trìnhcông nghiệp hóa và đô thị hóa xẩy ra nhanh chóng và rộng khắp.Hệ thống đô thịhình thành ngày một nhiều và đã trở thành hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế-vănhóa-xã hội Bên cạnh lợi ích, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã gây ra sựbiến đổi tiêu cực nhiều mặt đối với các thành phần tài nguyên-môi trường mà đấtđai là thành phần tài nguyên chịu tác động trực tiếp, biến động sâu sắc và mạnh mẽnhất Mật độ dân số đô thị và các khu công nghiệp ngày càng tăng, quy hoạch kiếntrúc không đồng bộ, quá trình phát triển đô thị mang tính tự phát v.v đã làm choviệc sử dụng tài nguyên đất đai lãng phí, không hợp lý, thiếu tính bền vững Cần cómột nghiên cứu đầy đủ về sự biến động đất đai do quá trình đô thị hóa công nghiệphóa tỉnh Bắc Giang theo thời gian và không gian Những tư liệu, số liệu về sự biếnđộng diện tích, sự biến động sử dụng đất là tài liệu hết sức cần thiết phục vụ đánhgiá môi trường chiến lược( ĐMC) trong đó quan trọng góp phần xác định được cácvấn đề môi trường chính
Đánh giá môi trường chiến lược trong quy hoạch xây dựng, phát triển kinh tế
xã hội cần xem xét các vấn đề môi trường có tác động và ảnh hưởng trong phạm vilớn như sử dụng tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản, rừng ), áp lực phân
bố dân cư, phân bố các hoạt động kinh tế trên lãnh thổ, ảnh hưởng của biến đổi khíhậu, suy thái môi trường Hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ việcxem xét các vấn đề môi trường ngày một dễ dàng hơn và chuẩn xác hơn trong đócông nghệ GIS( hệ thống thông tin địa lý) đang được sử dụng và thể hiện tính ưuviệt Chính vì vậy việc lựa chọn đề tài: “ Nghiên cứu ứng dụng GIS vào đánh giábiến động đất đai tỉnh Bắc Giang phục vụ công tác đánh giá môi trường chiến lược”xuất phát từ tính cấp thiết của thực tế
2. Mục đích nghiên cứu
-Ứng dụng GIS đánh giá biến động đất đai tỉnh Bắc Giang
Trang 7- Kết quả biến động đất đai là tiêu chí đầu vào phục vụ đánh giá môi trườngchiến lược
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu biến động đất đai,
- Phạm vi nghiên cứu không gian : Tỉnh Bắc Giang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đưa ra nhận xét về biến động đất
- Phân tích và xu hướng biến động đất đai
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học
Ứng dụng công nghệ GIS vào đánh giá biến động đất đai Tích hợp cácnguồn dữ liệu về quy hoạch nghành với thông tin biến động sử dụng đất đưa ra biểu
đồ tương quan
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích không gian: Sử dụng GIS( phần mềm ArcGIS) phân tích vàchồng ghép các lớp bản đồ
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý các thông tin, các tài liệu liênquan
- Phương pháp phân tích: Tổng hợp xử lý logic các tài liệu, giải quyết các vấn đềđược đặt ra
6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết tác giả mong muốn thể hiện các vấn đề sau:
- Ứng dụng GIS vào đánh giá biến động đất đai phục vụ công tác đánh giá môitrường chiến lược
- Cung cấp thông tin đầy đủ và nhanh chóng về biến động đất đai phục vụ đánh giámôi trường chiến lược
7 Kết cấu luận văn
Luận văn được xây dựng trên cơ sở 3 chương:
Chương 1: Công nghệ GIS trong công tác đánh giá môi trường chiến lượcChương 2: Đánh giá biến động đất đai bằng công nghệ GIS
Trang 8Chương 3: Biến động sử dụng đất tỉnh Bắc Giang và ảnh hưởng đến địnhhướng phát triển kinh tế xã hội.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9CHƯƠNG 1 CÔNG NGHỆ GIS TRONG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ
MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ( GIS)
1.1.1 Khái niệm và định nghĩa
Theo ESRI (Environmental System Reseach Institute): Hệ thống thông tin
địa lý(Geographic Information System-GIS) được định nghĩa “là một hệ thống bao gồm phần cứng, phần mềm, dữ liệu và con người nhằm thu thập, lưu trữ, cập nhật,
xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin địa lý trên bề mặt trái đất”.
GIS là một thuật ngữ tương đối mới, xuất hiện lần đầu tiên trong các ấnphẩm đương đại xuất bản vào những năm 1960 Mặc dù thuật ngữ còn mới, nhưngnhiều khái niệm và sự hình thành ý tưởng của GIS đã có một truyền thống lâu dài
và xuất hiện khá sớm Cuối thế kỷ 19, ý tưởng về chồng ghép bản đồ (map overlay),
một khái niệm rất quan trọng trong GIS hiện đại, đã được một người Pháp tên làLouis Alexandre Berthier sử dụng cách đây 200 năm Ông là người đã biên tập vàphân lớp một loạt bản đồ để phân tích sự di chuyển của các đội quân trong cuộc
cách mạng Mỹ Một ví dụ nữa, minh hoạ cho ý nghĩa của khái niệm lớp được tiến sĩ
John Snow thực hiện năm 1854 Ông đã phân lớp bản đồ London, để chỉ ra khu vựcxảy ra tử vong do bệnh dịch tả với bản đồ vị trí giếng nước ở thành phố này, phântích mối quan hệ giữa hai tập số liệu này để tìm ra khu vực phát sinh vi khuẩn dịch
tả và dự báo sự lây lan Những ví dụ này đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản, ngàynay vẫn là nền tảng của GIS hiện đại, tức là đưa ra quyết định dựa trên sự phân tíchđồng thời các loại số liệu khác nhau phân bố trên cùng một hệ quy chiếu địa lý Khảnăng và tiện ích của GIS hiện đại phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tốc độ xử lý củamáy tính Trong những năm cuối của thế kỷ 20, nhiều vấn đề bức xúc đã đặt ra vớinhiều quốc gia và các khu vực trên thế giới Đó là vấn đề cạn kiệt tài nguyên, ônhiễm môi trường, bùng nổ dân số, thiên tai, dịch bệnh v.v…Nỗ lực kiểm soát và
Trang 101.1.2 Các thành phần của GIS
Phần cứng
Phần cứng của hệ thống GIS bao gồm các loại máy tính và các thiết bị ngoại
vi để nhập dữ liệu, in ấn và truy xuất kết quả Máy tính có thể được nối mạng cục
bộ hoặc internet để chia sẻ thông tin Trong số các thiết bị ngoại vi, bên cạnh máy
in, máy vẽ…, trong trường hợp cần phải chuyển đổi thông tin từ ảnh tương tự, bản
đồ sang dạng số cần có cả máy quét
Phần mềm
Công cụ quan trọng trong công nghệ GIS là các phần mềm tin học Mỗi loạiphần mềm có những chức năng và công dụng riêng Một cách gần đúng, có thể chiaphần mềm GIS ra làm 3 nhóm:
Nhóm phần mềm đồ hoạ(Microstation, Autocad…) Là nhóm các phần mềm
được ứng dụng để biên tập, quản lý, cập nhật và hiện chỉnh các loại bản đồ (tức là cácthông tin không gian) Nhờ sự trợ giúp của các loại phần mềm này, các bản đồ có thểđược chuyển đổi tọa độ, nắn chỉnh hình học, chuyển đổi lưới chiếu v.v
Nhóm phần mềm quản trị bản đồ (Mapinfor, ArcView, MGE…) Là những phần
mềm mà ngoài chức năng đồ hoạ, chúng có khả năng quản trị các thông tin phi khônggian (thông tin thuộc tính); kết nối các thông không gian với thông tin thuộc tính
Trang 11Quy trình xử lý lý
Cơ sở dữ liệu
Thiết bị kỹ thuật P.cứng, P.mềm
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức của hệ thống GIS
Nhóm phần mềm quản trị và phân tích không gian (ArcInfor, ArcView, Softdesk, AcrGIS…) Là các phần mềm mà ngoài khả năng cập nhật và quản lý dữ
liệu chúng có thêm chức năng phân tích không gian
Các phần mềm GIS rất đa dạng có nhiều tính năng khác nhau Các modulphần mềm phải thực hiện được các nhiệm vụ, bao gồm:
• Nhập và kiểm tra dữ liệu
• Phân tích và biến đổi dữ liệu
• Lưu trữ và quản trị dữ liệu
• Hỏi đáp về dữ liệu và tương tác với người sử dụng
Các phần mềm GIS ngày càng được hoàn thiện, phát triển với các chức năng đadạng hơn, thân thiện với người dùng hơn và khả năng quản lý dữ liệu hiệu quả hơn
Dữ liệu
Dữ liệu là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống GIS Dữ liệu được
phân thành 2 loại: dữ kiệu không gian (spatial data) và dữ liệu phi không gian
(non-spatial data) Dữ liệu không gian là thông tin về vị trí của các đối tượng trong thế
giới thực trên mặt đất theo một hệ quy chiếu nhất định (toạ độ)
Trang 12Dữ liệu phi không gian là dữ liệu thuộc tính (attribute) hoặc dữ liệu mô tả
các đối tượng địa lý, dữ liệu này có thể là định lượng hoặc định tính Sự kết nốigiữa dữ liệu không gian và phi không gian là cơ sở để xác định chính xác các thôngtin của đối tượng địa lý và thực hiện phép phân tích tổng hợp trong hệ thống GIS
Con người
Không thể có một hệ thống nào vận hành tốt mà không có sự tham gia củacon người Con người được coi là bộ não của hệ thống Con người thiết kế, thànhlập, khai thác và bảo trì hệ thống
Bốn thành phần nêu trên tạo thành một hệ thống thống nhất hoàn chỉnh Người ta ví rằng: Thiết bị (phần cứng, phần mềm), quy trình xử lý và con người là công cụ điều khiển và vận hành hệ thống, cơ sở dữ liệu là nguyên liệu tạo ra các sảnphẩm của hệ (Hình1.2)
1.1.3 Các chức năng của GIS
Hệ thống GIS thực hiện các chức năng cơ bản sau đây:
• Nhập và biến đổi dữ liệu, kể cả dữ liệu không gian và phi không gian, từ các số liệu
thống kê, bảng biểu, bản đồ, phim ảnh dạng tương tự sang dạng số tạo nguồn thôngtin cho hệ thống
• Quản trị dữ liệu, là chức năng tổ chức, lưu trữ, cập nhật…dữ liệu
• Phân tích dữ liệu, là chức năng quan trọng của GIS, là khả năng kết nối, phân tích
các dữ liệu không gian và phi không gian, phân tích tổng hợp để giải quyết các yêucầu của bài toán
• Hiển thị và truy xuất dữ liệu, cho phép xuất dữ liệu dưới dạng biểu đồ, bản đồ,
bảng biểu…
1.1.4.Mô hình dữ liệu GIS
Mô hình hoá dữ liệu là phương pháp đang được ứng dụng rộng rãi trongnhiều lĩnh vực Nhiều loại phần mềm máy tính và các thiết bị ngoại vi đã trợ giúp,
tạo điều kiện dễ dàng và hiệu quả cho sự phát triển của mô hình hoá dữ liệu Trong lĩnh vực tổ chức dữ liệu các yếu tố tài nguyên-môi trường thì mô hình chồng xếp
được coi là thông dụng nhất Các đối tượng tự nhiên đuợc thể hiện như một tập hợp
Trang 13Líp ® êng phè
Thế giới thực Lớp đường phố Lớp công trình Lớp cư dân
Hình 1.3 Phân lớp thông tin trong mô hình chồng xếp GIS
các lớp thông tin riêng rẽ, tách biệt.Trên cơ sở thu thập,cập nhật từ nhiều nguồn, nhiềuphương pháp khác nhau như: khảo sát, đo đạc ngoại nghiệp, thống kê, bản đồ, ảnhhàng không, ảnh viễn thám vệ tinh, số liệu GPS v.v…các thông tin sẽ được tổ chức
theo các lớp(layer) dưới dạng bản đồ chuyên đề Như vậy, lớp thông tin là các dữ
liệu địa lý về một đối tượng địa lý cần phải thể hiện, lưu trữ và quản lý
Đối tượng địa lý có thể là: sông ngòi, sự phân bố khoáng sản, địa hình, địamạo, hiện trạng sử sụng đất, các đứt gẫy kiến tạo, mật độ dân cư v.v…(Hình 2.13.).Tùy vào mục đích sử dụng, yêu cầu quản lý, các lớp thông tin sẽ được tổng hợp,chọn lọc, khái quát và tổ chức hợp lý để hiệu quả thể hiện của các lớp đạt hiệu quả cao nhất
1.1.4 Cấu trúc dữ liệu
Theo quan điểm topo, tất cả mọi dữ liệu địa lý trên bề mặt trái đất đều có thể
mô hình hoá theo ba thành phần cơ bản đó là: điểm, đường và vùng Cấu trúc dữ
liệu là cách tổ chức, cách cấu trúc dữ liệu thành các hình dạng có thể làm việc trong
máy tính Thực thể không gian có thể cấu trúc theo một trong hai cách: cấu trúcdạng raster hoặc cấu trúc dạng vector
Trang 14Thế giói thực
Raster
Vectoraster
Hình 1.4 Cấu trúc dữ liệu vector và raster
Cấu trúc raster sử dụng lưới điểm để thực hiện và lưu trữ thông tin.Trong
cấu trúc này, điểm được xác định bởi các ô (cell) hoặc ô ảnh (pixel); đường đượcxác định bởi các ô kề nhau theo một hướng, vùng được thể hiện bởi số các ô màtrên đó đối tượng phủ lên
Cấu trúc vector thể hiện toàn bộ thông tin thông qua các phần tử cơ bản là
điểm, đường, vùng, và quan hệ giữa các đối tượng với nhau (Hình 1.4)
Mối liên kết dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính thể hiện thông qua việcđặt dữ liệu thuộc tính vào đúng vị trí của dữ liệu không gian Bằng cách gán các giátrị thuộc tính cho các đối tượng thông qua các bảng số liệu Mỗi bản ghi (record)đặc trưng cho các đối tượng địa lý, mỗi cột của bảng tương ứng với mỗi kiểu thuộctính của đối tượng đó
Trang 15Hình 1.5 Mối quan hệ giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Mối liên kết dữ liệu đảm bảo cho mỗi đối tượng bản đồ đều được gắn với cácthông tin thuộc tính và phản ánh đúng hiện trạng, điểm riêng biệt của các đối tượng.Đồng thời qua đó người sử dụng dễ dàng tra cứu, tìm kiếm, chọn lọc các đối tượngtheo yêu cầu thông qua bộ xác định hay chỉ sổ ID (Hình 2.15)
1.1.5 Khả năng phân tích không gian của GIS
Mục tiêu của đề tài là xác định mối quan hệ giữa sự biến động tài nguyên đất
và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa khu vực huyện Quế Võ ngoại thành thànhphố Bắc Ninh Việc phân tích biến động theo không gian và thời gian sẽ được tiếnhành trong hệ thống GIS dựa vào các mô-đul phân tích không gian
Các chức năng xử lý phân tích thông tin địa lý có thể chia thành các nhóm phép tính sau:
• Các phép toán về xử lý cơ sở toán học thông tin không gian
- Chuyển đổi phép chiếu, chuyển đổi hệ quy chiếu (toạ độ), múi chiếu,chuyển đổi tỷ lệ nền địa lý,
- Chuyển đổi giữa các đơn vị đo khác nhau
- Nắn chỉnh hình học, thực hiện việc điều chỉnh hình ảnh bản đồ theo điềukiện hình học để chuyển về đồ hình thực của nó, nhằm loại bỏ các sai số biến dạnghình học nâng cao độ chính xác
ID Thuộc tính 1 Thuộc tính 21
2
Trang 16- Xử lý thông tin bản đồ: Tiếp biên, ghép bản đồ, chồng lớp không gian, lậpbản đồ chuyên đề, phân tích hoặc chồng phủ các vùng
• Các phép toán về chỉnh sửa, chuẩn hoá dữ liệu
- Phép sửa lỗi (CLEAN): Được dùng để sửa các lỗi thường gặp trong quátrình nhập các lỗi bản đồ (có thể là tự động hoặc hiển thị lỗi để thao tác viên sửa), các lỗi
do CLEAN là:
• Đường cắt nhau (Intersection): Các đường bắt buộc phải cắt nhau tại các điểm nút,không được chéo nhau
• Bắt không đúng vị trí: Gồm bắt quá (over shoot), bắt chưa tới (under shoot)
• Đường số hoá trùng lặp nhau nhiều lần (Duplicate)
• Lọc, loại bỏ bớt giá trị điểm tham gia tạo đường khi mật độ quá dày
- Phép toán xây dựng topology (BUILD) có chức năng chạy tự động nhằmxây dựng cấu trúc topology cho các đối tượng không gian dạng Vector
- Các phép toán chuyển đổi: Khuôn dạng dữ liệu khi xuất dữ liệu dạng các hệthông tin địa lý khác
• Các phép phân tích dữ liệu địa lý
Các công cụ về phân tích dữ liệu địa lý chia thành các nhóm chính là hỏi đápCSDL (Database Query), đại số bản đồ (Map Algebra) và các toán tử nội suy bề mặt
- Hỏi đáp cơ sở dữ liệu thường có hai định hướng:
+ Hỏi đáp dữ liệu không gian (Spatial Query)
+ Hỏi đáp dữ liệu thuộc tính (Attribute Query) để trả lời câu hỏi những vị trínào mang thuộc tính này Gồm hai bước, chọn các đối tượng thoả mãn điều kiện tìmkiếm theo từng lớp thông tin riêng rẽ và chồng xếp các đối tượng tìm riêng rẽ trêntừng lớp ra tập các đối tượng thoả mãn toàn bộ các điều kiện chung cho các lớpthông tin
- Đại số bản đồ (Map Algebra): Có thể coi là phần mở rộng của phân tíchkhông gian, là cốt lõi của việc tạo ra các dữ liệu bản đồ mới từ các dữ liệu cũ.Thôngthường nó được dùng để xử lý ảnh số, tính toán, phân tích bề mặt
+ Các phép toán nội suy bề mặt: Bao gồm các phép toán liên quan đến nộisuy địa hình hoặc bề mặt liên tục nào đó trong không gian ba chiều (3D):
+ Nội suy bề mặt địa hình từ các số liệu đầu vào
Trang 17+ Các phép toán giải quyết các bài toán liên quan đến khoảng cách.
+ Các phép toán về tính lân cận
GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản "chỉ và nhấn" và các công cụphân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý và phântích Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả, trong đó có hai công
cụ quan trọng đặc biệt:
1 Phân tích liền kề
GIS có khả năng phân tích những đối tượng bao xung quanh một đối tượng
cụ thể nào đó bằng cách dùng một vùng đệm (Hình 2.16, 2.17, 2.18).Vùng đệm làmột dạng hình học dựa trên đối tượng tồn tại khác (điểm, đường hoặc vùng) mà nó
có thể được GIS tạo ra Đối tượng đệm diễn tả tổng diện tích trong một khoảng cáchnào đó của một feature được cho trước
Hình 1.6 Vùng đệm kiểu điểm
Hình1.7 Vùng đệm kiểu đường
Trang 18Hình 1.8.Vùng đệm kiểu đa giác
Ta có thể dùng GIS để tạo ra những vùng đệm (và sau đó xác định tất cả cácfeature nằm trong một khoảng cách cụ thể Chẳng hạn như ta chọn tất cả các địa chỉtrong vòng một vùng đệm 500 m của một con đường đông đúc và so sánh chúng với
dữ liệu về tác động của bệnh hen suyễn Bằng cách so sánh hai tập hợp dữ liệu, ta
có thể thống kê được những người bệnh suyễn đang sống trong vùng đệm nhiều hơn
là dân số chung Nó cho phép ta phân tích có hay không nhân tố của sự sống gầnnhững con đường đông đúc với nguyên nhân gây ra bệnh hen suyễn
2 Phân tích chồng xếp
Chồng xếp là quá trình tích hợp các lớp thông tin khác nhau.Các thao tácphân tích đòi hỏi một hoặc nhiều lớp dữ liệu phải được liên kết vật lý Sự chồng xếpnày, hay liên kết không gian, có thể là sự kết hợp dữ liệu về đất, độ dốc, thảm thựcvật hoặc sở hữu đất với định giá thuế…Quá trình chồng xếp sử dụng một số bản đồ
để sinh ra thông tin mới và các đối tượng mới Trong nhiều trường hợp topologymới sẽ được tạo lại.Phân tích chồng xếp khá tốn thời gian và thuộc vào nhóm cácứng dụng có tính chất sâu, khi hệ thống được khai thác ở mức độ cao hơn là được
sử dụng cho từng vùng cụ thể hoặc cả nước với tỷ lệ bản đồ phù hợp (Hình 2.19)
Trang 19Hình 1.9.Phân tích chồng xếp.
Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất dướidạng bản đồ hoặc biểu đồ.Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao đổi thông tin địalý.GIS cung cấp nhiều công cụ mới để mở rộng tính nghệ thuật và khoa học của ngành bảnđồ.Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với các báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp vànhững dữ liệu khác (đa phương tiện).Nhờ khả năng xử lý các tập hợp dữ liệu lớn từ các cơ
sở dữ liệu phức tạp, nên GIS thích hợp với các nhiệm vụ quản lý tài nguyên môi trường.Các mô hình phức tạp cũng có thể dễ dàng cập nhật thông tin nhờ sử dụng GIS
1.1.6 Ứng dụng GIS trong các lĩnh vực
Ngày nay, GIS là một công cụ trợ giúp quyết định sự thành công trong nhiềuhoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới Hệ thốngthông tin địa lý (GIS) có khả năng đánh giá hiện trạng của quá trình, các thực thểcủa tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phântích và tích hợp các thông tin được gắn với nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ
sở tọa độ của các dữ liệu đầu vào Do đó, việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý là
Trang 20rất cần thiết, phù hợp với xu thế tin học hóa xã hội và yêu cầu phát triến kinh tế - xãhội của tất cả các quốc gia.
Nhờ những khả năng phân tích và xử lý đa dạng, kỹ thuật GIS hiện nay đượcứng dụng phố biến trong nhiều lĩnh vực, được xem là “công cụ hỗ trợ quyết định”
(decision - makỉng support tool)trong đó nhiều lĩnh vực như:
* Khí tượng thuỷ văn
Trong lĩnh vực này GIS được dùng như là một hệ thống đáp ứng nhanh, phục
vụ chống thiên tai như lũ quét ở vùng hạ lưu, xác định tâm bão, dự đoán các luồngchảy, xác định mức độ ngập lụt, từ đó đưa ra các biện pháp phòng chống kịp thời
vì những ứng dụng này mang tính phân tích phức tạp nên mô hình dữ liệu khônggian dạng ảnh (raster) chiếm ưu thế
* Nông nghiệp- lâm nghiệp
- Ứng dụng GIS trong quy hoạch sử dụng đất:
Ứng dụng GIS trong quy hoạch và sử dụng đất đai tuỳ thuộc vào quy mô vàmức độ khác nhau Có 4 mức độ phân tích: rất khái quát (Mega), khái quát (Macro),trung bình (Meso) và chi tiết (Micro); mỗi mức độ phân tích trong hệ thống GIS căn
cứ vào quy mô diện tích của vùng nghiên cứu Khi phân tích thông tin từ mức Megađến mức Micro, số lượng thông tin đưa vào xử lý sẽ lớn hơn Khả năng tổng hợp vàphân tích sâu thông tin ở một vùng lãnh thổ nhỏ hoặc ngược lại, khái quát ở mứccao hơn cho vùng rộng lớn là ưu điểm của GIS Rõ ràng là bằng ứng dụng GIS,những quy hoạch sử dụng đất đai trên vùng lãnh thổ lớn hay việc xây dựng những
dự án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở các khu vực nhỏ đều có thể được cungcấp một khối lượng thông tin toàn diện - tổng hợp kịp thời và theo yêu cầu; từ cơ sở
dữ liệu được cung cấp việc hoạch định những bước đi cụ thể cần thiết (như điều tra
bổ sung, thu thập mẫu…) nhanh chóng được xác định
Một điều quan trọng về GIS so với bản đồ là GIS có thể thể hiện từng lớpbản đồ của vùng nghiên cứu Không chỉ ở bề mặt mà còn cho thấy tầng đá gốc, loạiđất, thảm thực vật và nhiều vấn đề khác Nó rất hữu ích khi nghiên cứu vùng đấtmới cho sản xuất nông lâm nghiệp, đỡ tốn kém tiền của của nông dân, bởi vì thay vì
Trang 21phải làm thí nghiệm đất tất cả số liệu về cấu trúc đất bên trong đã được lưu trữ trongmáy tính.
- Ứng dụng trong quy hoạch và quản lý sản xuất:
Trong sản xuất nông nghiệp, GIS có thể được sử dụng để dự đoán vụ mùacho từng cây trồng Nó có thể dự đoán bằng cách không chỉ xem xét khí hậu củavùng mà còn bằng cách theo dõi sự sinh trưởng và phát triển cây trồng, và bởi vậy
sẽ dự đoán được sự thành công của mùa vụ GIS có thể giúp tìm và thể hiện nhữngthay đổi của cây trồng trong từng giai đoạn Ví dụ, nếu năm trước số liệu cho thấycây trồng A phát triển rộng và cây trồng đã thành công trong nhiều năm trước đó,những số liệu này có thể được lưu trữ Nếu trong một vài mùa vụ cây trồng khôngphát triển tốt như trước, bằng cách sử dụng GIS có thể phân tích số liệu và tìm ranguyên nhân của hiện tượng đó
Với tính ưu việt của công nghệ GIS và viễn thám, ngành lâm nghiệp đã ứngdụng trong công tác quy hoạch và phát triển rừng, phục vụ công tác thiết kế, khaithác và trồng mới rừng Ngoài ra người ta còn sử dụng GIS trong việc theo dõi,đánh giá diễn biến tài nguyên rừng, xác định vùng thích nghi cho cây lâm nghiệp
Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Việt Nam) đã ứng dụng khá thành công cáccông nghệ GIS, Viễn thám, GPS trong theo dõi diễn biến, đánh giá tài nguyên rừng.Ảnh vệ tinh có độ phân giải cao sau khi được giải đoán, chồng xếp, đối chiếu vớibản đồ rừng đã có, những khu vực nào mâu thuẫn sẽ được xác định để kiểm chứngthực địa với GPS
Các loại dữ liệu phi không gian bao gồm: Tài nguyên đất, khí hậu nôngnghiệp, tình hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất, thuỷ lợi,tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, số liệu thống kê nông nghiệp (năng suất, sảnlượng, diện tích một số cây trồng chính ), thông tin về sâu bệnh và đặc biệt là sốliệu về dân số, lao động nông thôn, kinh tế hộ…
Khuôn dạng chuẩn của dữ liệu –xBase file cho phép tổng hợp, sắp xếp tìmkiếm dữ liệu, đồng thời tương thích với cấu trúc liên hệ dữ liệu thuộc tính trongCSDL GIS và thuận lợi trong kết nối dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian
Trang 22Trong quy hoạch đánh giá phân loại đất, GIS là công cụ trợ giúp nhằm thuthập dữ liệu chuyên đề, xử lý dữ liệu địa lý, tích hợp dữ liệu để xây dựng các bản đồđơn vị đất, mô phỏng kết quả đánh giá đất thông qua các bản đồ thích nghi cho từngloại hình sử dụng đất Mỗi đơn vị đất là một khu vực địa lý khác biệt với các tínhchất về thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn khí hậu.
Để có kết quả khi thực hiện bài toán thích ứng trong môi trường GIS, thườngphải tuân thủ theo qui trình phân tích đa chỉ tiêu gồm: xây dựng bộ chỉ tiêu đánhgiá; lựa chọn các lớp bản đồ phục vụ xây dựng bản đồ đơn vị đất Sau đó đánh giá
và phân loại mức độ thích hợp theo ALES và đưa ra các bản đồ chuyên đề, đâychính là thông tin tổng hợp trợ giúp quá trình lập kế hoạch và ra quyết định
Nghiên cứu khả năng thích ứng của cây trồng cần thu thập các số liệu sinhhọc và phi sinh học liên quan đến cây trồng được lựa chọn quy hoạch tại vùng đất
đó Các yếu tố phi sinh học gồm: số liệu đất được phân thành các mức thích nghi khácnhau, số liệu khí hậu (lượng mưa, sự phân bố mưa; nhiệt độ và tổng tích ôn theo thờigian sinh trưởng…) và các yếu tố sinh học như sâu bệnh, thời gian sinh trưởng và cácyêu cầu sinh học của cây được xác định theo các mức thích ứng khác nhau
Yếu tố kinh tế xã hội của địa phương được xem xét và đưa vào phân tích để
có kết luận tổng thể về tính thích ứng của cây theo quan điểm nền nông nghiệp hànghoá hiện nay
- Ứng dụng GIS trong quản lý bảo vệ thực vật:
Ở một số nơi GIS đang được ứng dụng để theo dõi sự lan tràn của cỏ dại.Với việc kết hợp ứng dụng viễn thám với GIS sẽ cung cấp một cách nhanh chóng,chính xác bản đồ cỏ dại ở các thời kỳ Điều này là rất quan trọng đối với các nhànông học Họ có thể sử dụng các thông tin thu thập được để ngăn ngừa sự lan tràncủa các loài cỏ dại phá hoại mùa màng
Cỏ dại không phải là vấn đề duy nhất GIS có thể giải quyết, thực tế GIS cóthể giải quyết được nhiều vấn đề khác Nhiều dự án đã được thực hiện để theo dõi
sự di chuyển của côn trùng, hoặc sâu bệnh ở Mỹ Nó rất hữu ích như là một biện
Trang 23pháp phòng ngừa tích cực Nếu một loại động vật hay côn trùng nào phá hoại đồngruộng, với GIS nó có thể bị theo dõi và tìm ra dấu vết.
- Ứng dụng trong công tác phòng chống cháy và bảo vệ rừng:
Trong ngành Kiểm lâm Việt Nam, công nghệ GIS đã được ứng dụng để:cảnh báo cháy rừng; phân vùng trọng điểm cháy rừng; ứng dụng ảnh viễn thámMODIS để phát hiện sớm cháy rừng
Nhận thức được tầm quan trọng của CSDL, Cục Kiểm lâm đã thiết kế và đưavào sử dụng “CSDL báo cáo thống kê” từ năm 1998 để sử dụng cho toàn ngành.Bản thân CSDL này không liên quan gì đến công nghệ GIS nhưng sự thành côngcủa nó đã trả lời câu hỏi: làm thế nào để trao đổi thông tin nhanh nhất giữa ngườicập nhật dữ liệu và người sử dụng CSDL để phục vụ quản lý một cách hiệu quảnhất? Trang bị và đào tạo cán bộ như thế nào cho phù hợp? Vai trò người “kỹ sưtrưởng” trong thiết kế, điều hành các hoạt động này như thế nào? Và “CSDL báocáo thống kê” của ngành Kiểm lâm đã hoạt động rất tốt ở tất cả các Hạt Kiểm lâm,các Chi cục kiểm lâm tỉnh và Cục Kiểm lâm Nhờ sự thành công của CSDL này,ngành Kiểm lâm đã tiếp tục thiết kế các cơ sở dữ liệu có gắn kết với việc sử dụngbản đồ, hay nói đúng hơn là ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng CSDL phục vụquản lý, bảo vệ rừng
Trong công tác Kiểm lâm, 2 CSDL liên quan đến công nghệ GIS đang đượchoạt động có hiệu quả nhiều năm nay là:
CSDL cảnh báo cháy rừng: Thực tiễn quản lý chỉ đạo công tác phòng cháy,chữa cháy rừng những năm qua, đặc biệt qua hai vụ cháy rừng lớn, tập trung ở KiênGiang và Cà Mau tháng 3 và 4/2002 cho thấy cháy rừng vẫn xảy ra ở nhiều nơi,mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra rất nghiêm trọng Lý do là khi cháy rừng xảy
ra, mặc dù huy động một lực lượng rất đông để chữa cháy nhưng hiệu quả thấp vì
do thiếu lực lượng thường trực chữa cháy rừng chuyên nghiệp, trang thiết bị,phương tiện chữa cháy nghèo nàn, thô sơ; việc chỉ huy, tổ chức chữa cháy còn rấtlúng túng… Vấn đề đặt ra là cần dự báo trước nguy cơ xảy ra cháy rừng và pháthiện sớm các điểm cháy để có phương pháp phòng cháy, chữa cháy rừng luôn là
Trang 24vấn đề cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản lýbảo vệ rừng nói chung.
* Dịch vụ tài chính
GIS được sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính tương tự như là một ứngdụng đơn lẻ Nó đã từng được áp dụng cho việc xác định vị trí những chi nhánh mớicủa Ngân hàng Hiện nay việc sử dụng GIS đang tăng lên trong lĩnh vực này, nó làmột công cụ đánh giá rủi ro và mục đích bảo hiểm, xác định với độ chính xác caohơn những khu vực có độ rủi ro lớn nhất hay thấp nhất Lĩnh vực này đòi hỏi những
dữ liệu cơ sở khác nhau như là hình thức vi phạm luật pháp, địa chất học, thời tiết
và giá trị tài sản
* Y tế
Ngoại trừ những ứng dụng đánh gía, quản lý mà GIS hay được dùng, GIScòn có thể áp dụng trong lĩnh vực y tế Ví dụ như, nó chỉ ra được lộ trình nhanhnhất giữa vị trí hiện tại của xe cấp cứu và bệnh nhân cần cấp cứu, dựa trên cơ sở dữliệu giao thông GIS cũng có thể được sử dụng như là một công cụ nghiên cứu dịchbệnh để phân tích nguyên nhân bộc phát và lây lan bệnh tật trong cộng đồng
* Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là một trong những lĩnh vực ứng dụng rộng lớnnhất của GIS, bởi vì đây là một tổ chức sử dụng dữ liệu không gian nhiều nhất Tất
cả các cơ quan của chính quyền địa phương có thể có lợi từ GIS GIS có thể được
sử dụng trong việc tìm kiếm và quản lý thửa đất, thay thế cho việc hồ sơ giấy tờhiện hành.Nhà cầm quyền địa phương cũng có thể sử dụng GIS trong việc bảodưỡng nhà cửa và đường giao thông.GIS còn được sử dụng trong các trung tâm điềukhiển và quản lý các tình huống khẩn cấp
* Bán lẻ và phân phối
Phần lớn siêu thị vùng ngoại ô được xác định vị trí với sự trợ giúp của GIS.GIS thường lưu trữ những dữ liệu về kinh tế-xã hội của khách hàng trong một vùngnào đó.Một vùng thích hợp cho việc xây dựng môt siêu thị có thể được tính toán bởithời gian đi đến siêu thị, và mô hình hoá ảnh hưởng của những siêu thị cạnh
Trang 25tranh.GIS cũng được dùng cho việc quản lý tài sản và tìm đường phân phối hàngngắn nhất.
* Giao thông
GIS có khả năng ứng dụng đáng kể trong lĩnh vực vận tải Việc lập kế hoạch
và duy trì cở sở hạ tầng giao thông rõ ràng là một ứng dụng thiết thực, nhưng giờđây có sự quan tâm đến một lĩnh vực mới là ứng dụng định vị trong vận tải hànghải, và hải đồ điện
* Môi trường
Xu hướng hiện nay trong quản lý môi trường là sử dụng tối đa khả năng chophép của GIS Sự phát triển của phần cứng làm cho máy tính có nhiều khả nănghơn, mạnh hơn và các ứng dụng GIS cũng trở nên thân thiện hơn với người sử dụngbởi các khả năng hiển thị dữ liệu ba chiều, các công cụ phân tích không gian và giaodiện tuỳ biến Nhờ khả năng xử lý các tập hợp dữ liệu lớn từ các cơ sở dữ liệu phứctạp, nên GIS thích hợp với các nhiệm vụ quản lý môi trường.Các mô hình phức tạpcũng có thể dễ dàng cập nhật thông tin
GIS được sử dụng để cung cấp thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn cho cácnhà hoạch định chính sách Các cơ quan chính phủ dùng GIS trong quản lý các nguồntài nguyên thiên nhiên, trong các hoạt động quy hoạch, mô hình hoá và quan trắc
GIS cũng được sử dụng để đánh giá các sự cố môi trường Các cơ quan chínhphủ và địa phương phải đối phó nhanh chóng với thiên tai, các rủi ro trong côngnghiệp và các sự cố môi trường Thông tin địa lý là những thông tin quan trọng đểđưa ra những quyết định một cách nhanh chóng Các phân tích GIS phụ thuộc vàochất lượng, giá trị và tính tương thích của các dữ liệu địa lý dạng số
Việc chia xẻ dữ liệu sẽ kích thích sự phát triển các nhu cầu về sản phẩm vàdịch vụ GIS Các nguồn dữ liệu tăng thêm nhờ sự kết hợp của GIS với GPS (hệthống định vị toàn cầu) và công nghệ viễn thám, đã cung cấp các công cụ thu thập
dữ liệu hiệu quả hơn
Trang 26GIS là công cụ đắc lực trong quản lý tài nguyên thiên nhiên GIS có thể đượcdùng để tạo bản đồ phân bố tài nguyên, kiểm kê, đánh giá trữ lượng tài nguyên, Những ứng dụng của GIS trong lĩnh vực này là không giới hạn.
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHẾN LƯỢC (ĐMC)
1.2.1 Định nghĩa đánh giá môi trường chiến lược
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là một công cụ được sử dụng đểquản lý và bảo vệ môi trường ĐMC còn khá mới mẻ với thế giới và Việt Nam.Khái niệm, định nghĩa về ĐMC hiện tại còn có những khác nhau giữa các nước, các
tổ chức quốc tế tùy theo các cách tiếp cận được lựa chọn Mỗi cách tiếp cận để tiếnhành ĐMC đều có mặt mạnh, mặt yếu riêng mà mỗi nước, mỗi tổ chức quốc tế cònđang ở giai đoạn vừa áp dung, thực hiện vừa tổng kết và đúc rút kinh nghiệm ỞViệt Nam, ĐMC cũng chỉ mới thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, cácnhà quản lý, các cấp, các ngành trong những năm gần đây và mới chỉ được đưa vàothực hiện trong thực tế kể từ sau ngày 01 tháng 07 năm 2006 theo quy định của LuậtBảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2005 Theo đó, cách tiếp cận để tiến hành ĐMCcủa Việt Nam là một trong các cách tiếp cận mà đa số các nước trên thế giới, nhất làcác nước thuộc Cộng đồng Châu Âu, hiện đang áp dụng
Hiện tại, trên thế giới có khá nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau vềĐMC nhưng đa số thống nhất rằng, ĐMC là một công cụ để lồng ghép các vấn đề
về môi trường vào quá trình ra một quyết định mang tính chiến lược, vĩ mô về pháttriển kinh tế xã hội (thường được gọi chung là Quyết định mang tính chiến lược hayQuyết định chiến lược) như: chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chươngtrình… Bằng cách tổng kết khái quát có thể thấy 2 nhóm các khái niệm, định nghĩachủ yếu về ĐMC đại diện cho 2 cách tiếp cận khác nhau
Nhóm thứ nhất, theo cách tiếp cận của đánh giá tác động môi trường (ĐTM)cho rằng: ĐMC là một quá trình đánh giá, dự báo một cách có hệ thống các hậu quả
về môi trường có thể xảy ra của một quyết định có tính chiến lược nhằm đảm bảocho các hậu quả về môi trường đó được nhận dạng một cách đầy đủ, được giảiquyết một cách thỏa đáng và sớm nhất của quá trình ra quyết định mang tính chiến
Trang 27lược cùng với sự cân nhắc đến các khía cạnh về kinh tế và xã hội làm cho quyếtđịnh đó có tính bền vững trong thực tế.
Nhóm thứ hai, theo cách tiếp cận của Đánh giá tính bền vững và cho rằng:ĐMC là quá trình hòa nhập các khái niệm của tính bền vững vào việc ra các quyếtđịnh có tính chiến lược
Sau khi tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước và cân nhắc tới các yếu tốkhả thi thực hiện của mình, Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất (cách tiếpcận dựa theo ĐTM) để đưa ra định nghĩa ĐMC trong Luật Bảo vệ Môi trường 2005như sau: “ĐMC là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của các dự
án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảmphát triển bền vững” (khoản 19 điều 3)
1.2.2 Vị trí của ĐMC trong tiến trình phát triển
Ở mỗi quốc gia trên thế giới, quá trình phát triển kinh tế – xã hội nói chung,phát triển ngành, lĩnh vực nói riêng thường diễn ra theo các giai đoạn khác nhau.Với các công cụ quản lý và bảo vệ môi trường hiện có, người ta đã phân chia quátrình phát triển này ra làm 3 giai đoạn[ ]:
• Giai đoạn 1: Xây dựng và ra các quyết định mang tính chiến lược (chínhsách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình)
• Giai đoạn 2: Xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tư
• Giai đoạn 3: Vận hành các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong thực tế(cơ sở đang hoạt động)
Để quản lý và bảo vệ môi trường, giai đoạn 1 người ta áp dụng công cụĐMC; giai đoạn 2 công cụ ĐTM và giai đoạn 3 kiểm toán Môi trường (KTMT) Vịtrí của các công cụ này được thể hiện trong hình vẽ sau:
Trang 28Hình 1.10 : Vị trí của ĐMC trong thực hiện CQK
1.2.3 Nguyên tắc tiến hành ĐMC.
Lịch sử tiến hành ĐMC của thế giới nói chung còn khá mới mẻ Trong giaiđoạn đầu, ĐMC ở các nước khác nhau đã được tiến hành theo những nguyên tắckhác nhau: có nơi ĐMC được tiến hành theo nguyên tắc sau khi quyết định chiếnlược đã được phê duyệt với mục đích để xem xét lại và điều chỉnh quyết định đó; cónơi ĐMC được tiến hành sau khi việc soạn thảo một quyết định chiến lược đã đượckết thúc với mục đích để phản biện, bổ khuyết cho dự thảo quyết định đó; có nơiĐMC được tiến hành song song với quá trình soạn thảo một quyết định chiến lượcvới mục đích để gắn kết từ đầu các vấn đề môi trường vào quá trình soạn thảo quyếtđịnh này v.v… Bằng thực tế triển khai, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm, đa số cácnước và tổ chức quốc tế liên quan đã thấy rằng, bằng nguyên tắc đi song song,ĐMC mang lại hiệu quả cao nhất và đã chọn nguyên tắc này làm nguyên tắc thựchiện ĐMC của mình
Luật BVMT năm 2005 của Việt Nam quy định việc tiến hành ĐMC theonguyên tắc đi song song, tức là, ĐMC được tiến hành một cách song song với quátrình xây dựng một chiến lược, một quy hoạch, một kế hoạch phát triển kinh tế – xãhội, phát triển ngành, lĩnh vực
1.2.4 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của ĐMC
Với tính chất là một công cụ khoa học, mặt khác, theo cách tiếp cận củaĐTM và theo nguyên tắc đi song song như đã nêu, ĐMC có mục đích chính là: đểgắn kết một cách khoa học nhất các khía cạnh về môi trường vào quá trình ra mộtquyết định chiến lược; dự báo và cung cấp một cách đầy đủ và toàn diện nhất cácthông tin về xu hướng biến đổi môi trường , tác động môi trường có thể xảy ra bởiquyết định chiến lược đó khi được triển khai thực hiện
Bằng nguyên tắc đi song song với quá trình ra một quyết định chiến lược,ĐMC có ý nghĩa hết sức quan trọng là bảo đảm rằng các khía cạnh về môi trường
có thể hỗ trợ một cách có hiệu quả nhất cho từng khâu, từng bước và cho toàn bộ
Trang 29quá trình ra quyết định, góp phần đáng kể làm cho quyết định đó có tính khả thi vàbền vững trong thực tế triển khai.
ĐMC có 2 vai trò chính[ 21]: Một là vai trò biện hộ; tức là nó tạo ra các luận
cứ về môi trường để biện hộ cho một quyết định chiến lược về phát triển Hai là vaitrò lồng ghép, tức là nó tạo ra cơ chế để lồng ghép, gắn kết các vấn đề về môitrường, kinh tế và xã hội vào quá trình ra một quyết định chiến lược
1.2.5 Lợi ích của ĐMC
ĐMC có thể trợ giúp để thực hiện được ý tưởng của sự phát triển bền vữngthông qua việc gắn kết các mục tiêu về môi trường với các mục tiêu về kinh tế và xãhội trong quá trình ra một quyết định mang tính chiến lược
Dựa vào kết quả của ĐMC, người ta có thể chỉ ra các định hướng chính xáchơn, cụ thể hơn cho công tác ĐTM trong giai đoạn xây dựng các dự án đầu tư tiếptheo đối với những ngành cụ thể, những vùng cụ thể, và vì thế công tác ĐTM sẽ cóhiệu quả và chất lượng cao hơn
ĐMC huy động sự tham gia của cộng đồng, tạo thuận lợi để làm gia tăng sựchất nhận của công chúng, của các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủliên quan đối với một quyết định chiến lược được đề ra
1.2.6 Quy trình của ĐMC
Trang 30Hình 1.11: Qui trình thực hiện ĐMC thông thường
Khác với ĐTM, quy trình của ĐMC không có điểm bắt đầu và điểm kết thúc
rõ ràng, không phải lúc nào cũng có trình tự trước sau một cách đơn thuần Đối vớiĐMC, sau mỗi bước tiến hành mà thấy xuất hiện những vấn đề bất ổn thì phải quaylại các bước trước đó để xem xét và đánh giá lại rồi triển khai các bước tiếp theo.Tuy nhiên, với cách tiếp cận của ĐTM, ĐMC thường có các bước chung theo quytrình như sau:
1 Sàng lọc về ĐMC: Tức là phải xác định xem một đề xuất về quyết địnhchiến lược đặt ra có đòi hỏi phải thực hiện ĐMC hay không (ở Việt Nam việc sànglọc này đã được thực hiện theo phương thức “cả gói”, tức là, các đối tượng đòi hỏi
về ĐMC đã được quy định ngay trong Luật BVMT năm 2005)
2 Xác định phạm vi của ĐMC: Tức là phải xác định được phạm vi vềkhông gian và thời gian cần đánh giá, dự báo về môi trường đối với một đề xuất vềquyết định chiến lược
3 Xác định những vấn đề môi trường cốt lõi của ĐMC: Tức là phải xácđịnh được những vấn đề môi trường trọng yếu, cơ bản có liên quan đến một quyếtđịnh chiến lược đã đề xuất
4 Đánh giá sự phù hợp về quan điểm, mục tiêu: Tức là phải xem xét, đốichiếu và đánh giá tính phù hợp của các quan điểm, mục tiêu phát triển đề xuất trongquyết định chiến lược với các quan điểm, mục tiêu về môi trường đã vạch ra trongcác văn bản liên quan của các cấp từ TW tới địa phương để có những đề xuất điềuchỉnh cần thiết;
5 Đánh giá các vấn đề môi trường: Tức là việc dự báo các vấn đề về môitrường (chủ yếu là các tác động tích cực và tiêu cực) có thể xảy ra theo phương ánhoặc theo các phương án phát triển khác nhau đã đề ra;
6 Đề xuất các phương hướng, giải pháp tổng thể về môi trường: Tức là,trên cơ sở xác định được các vấn đề môi trường tiêu cực có thể xảy ra phải đề xuất
Trang 31được các phương hướng, giải pháp tổng thể nhằm khắc phục các vấn đề môi trườngxấu có khả năng xảy ra khi triển khai thực hiện quyết định chiến lược, kể cả việc chỉ
ra phương hướng và yêu cầu về ĐTM cho các dự án đầu tư ở giai đoạn tiếp theo;
7 Viết báo cáo ĐMC: Tức là làm một báo cáo phản ánh toàn bộ quá trìnhtiến hành và kết quả ĐMC của một đề xuất về quyết định chiến lược đề làm căn cứxem xét, phê duyệt quyết định chiến lược đó
1.2.7 Tổ chức thực hiện ĐMC
Theo quy định của Luật BVMT 2005, cơ quan chịu trách nhiệm xây dựngmột chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể nào đó phải thành lập một nhóm côngtác về ĐMC đồng thời với nhóm công tác về xây dựng chiến lươc, quy hoạch, kếhoạch đó Hai nhóm công tác này hoạt động đồng thời với nhau ngay từ đầu của quátrình công tác và thường xuyên cung cấp, trao đổi thông tin cho nhau từ khâu xâydựng quan điểm, mục tiêu cho đến nội dung, biện pháp của chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch để làm sao các khía cạnh về môi trường và phát triển được lồng ghépchặt chẽ và hài hòa vào nhau
1.2.8 ĐMC ở Việt Nam theo luật BVMT năm 2005
1.2.8.1 Đối tượng phải tiến hành ĐMC
Điều 13 của Luật BVMT 2005 quy định các đối tượng sau đây phải tiến hànhĐMC:
1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (CQK) phát triển KT-XH cấp quốc gia
2. CQK phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước
3. CQK phát triển KT-XH của tỉnh, thành phố trực thuộc TW, vùng
4. Qui hoạch sử dụng đất; Bảo vệ và phát triển rừng; Khai thác và sử dụng các nguồntài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng
5. Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm
6. Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh
Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định cụ thể trong Phụ lục 1 của nghị định[21 ]
Trang 322. Báo cáo ĐMC là một nội dung của CQK và phải được lập đồng thời với quá trìnhxây dựng CQK đó.
1.2.8.3 Nội dung báo cáo ĐMC
Nội dung của báo cáo ĐMC được quy định tại Điều 15 của Luật BVMT năm
2005 và cụ thể hóa tại Phụ lục 1.3 của Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18tháng 07 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (thay thế Thông tư số05/2008/TT-BTNMT) Cấu trúc của báo cáo ĐMC bao gồm các chương, mục nhưsau[22 ]:
Mở đầu
Chương 1 Mô tả tóm tắt Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
Chương 2 Xác định phạm vi DMC và mô tả diễn biến môi trường tự nhiên,kinh tế – xã hội vùng thực hiện Quy hoạch
Chương 3 Đánh giá tác động của CKQ tới Môi trường
Chương 4 Tham vấn các bên liên quan trong quá trình DMC
Chương 5 Những nội dung của CKQ đã được điều chỉnh và các giải phápphòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường
Kết luận và kiến nghị
1.2.8.4 Gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo ĐMC
Chủ dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo ĐMC đến cơquan có trách nhiệm tổ chức thẩm định quy định tại khoản 7 Điều 17 của Luật Bảo
vệ môi trường
Số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định được quy định cụ thể trong thông
tư số 26/2011/TT_BTNMT:
Trang 33Điều 5, mục 2, 3, 4 của TT 26/2011/TT-BTNMT quy định như sau:
Hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo DMC chi tiết dưới hình thức báo cáo riêng gồma) Một (01) văn bản đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiếnlược thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 1.1 Thông tư này;
b) Chín (09) bản báo cáo đánh giá môi trường chiến lược chi tiết dưới hìnhthức báo cáo riêng của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được đóng thành quyển vớihình thức trang bìa, trang phụ bìa và yêu cầu về cấu trúc, nội dung thực hiện theomẫu tương ứng quy định tại Phụ lục 1.2 và Phụ lục 1.3 Thông tư này;
c) Chín (09) bản dự thảo văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
d) Trường hợp số lượng thành viên hội đồng thẩm định nhiều hơn chín (09)người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác theo yêu cầu của công tác thẩm định,chủ dự án cung cấp thêm báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và dự thảo vănbản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch so với số lượng tài liệu quy định tại điểm b và
c khoản này
1.2.8.5 Tổ chức thẩm định báo cáo ĐMC[22]
1 Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan tổ chức việc thẩm định có tráchnhiệm thành lập một hội đồng thẩm định gồm ít nhất 07 người với thành phần quyđịnh như sau:
- Đối với các dự án có quy mô quốc gia, liên tỉnh: bao gồm đại diện của cơquan phê duyệt dự án; Đại diện của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đến dự án; Các chuyên gia có kinhnghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án; Đại diệncủa tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm địnhquyết định
- Đối với các dự án quy mô cấp tỉnh: bao gồm đại diện của Ủy ban nhândân cấp tỉnh; Cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường và các ban, ngành cấp tỉnh
có liên quan; Các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nộidung, tính chất của dự án; Đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩmquyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định
Trang 341. Hội đồng thẩm định phải có trên 50% số thành viên có chuyên môn về Môi trường
và các lĩnh vực liên quan đến nội dung dự án Người trực tiếp tham gia lập báo cáoĐMC không được tham gia hội đồng thẩm định
2. Việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định thực hiện theo Quy định về tổchức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC, Hội đồng thẩm định báocáo ĐTM ban hành kèm theo Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ban hành ngày 18tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại chương 4
3. Tổ chức, cá nhân có quyền gửi yêu cầu, kiến nghị về BVMT đến cơ quan tổ chứchội đồng thẩm định báo cáo ĐMC và cơ quan phê duyệt dự án; Hội đồng và cơquan phê duyệt dự án có trách nhiệm xem xét các yêu cầu, kiến nghị trước khi đưa
ra kết luận, quyết định
4. Kết quả thẩm định báo cáo ĐMC là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án
5. Trách nhiệm tổ chức việc thẩm định báo cáo ĐMC được quy định như sau:
- Bộ TN và MT tổ chức thẩm định báo cáo ĐMC đối với các dự án do Quốchội, Chính Phủ, Thủ thướng chính phủ phê duyệt
- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức thẩm định báocáo ĐMC đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của mình
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo ĐMC đối với dự ánthuộc thẩm quyền quyết định của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Thời hạn thẩm định báo cáo ĐMC: Đối với các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệtcủa Thủ tướng Chính Phủ, Chính Phủ; Quốc hội, thời hạn thẩm định báo cáo ĐMCtối đa là 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; Các dự án còn lại, thờigian thẩm định báo cáo ĐMC tối đa là 30 ngày làm việc
2. Kết quả thẩm định báo cáo ĐMC được thể hiện dưới dạng biên bản phiên họp củaHội đồng thẩm định theo mẫu quy định tại phụ lục 1.9 của Thông tư 26/2011/TT-BTNMT
1.2.8.6 Gửi báo cáo kết quả thẩm định báo cáo ĐMC[22]
Báo cáo kết quả thẩm định kèm theo bản sao biên bản của hội đồng thẩmđịnh báo cáo ĐMC được gửi như sau:
Trang 35- Bộ trưởng Bộ TN & MT gửi Thủ tướng Chính Phủ, Chính Phủ, Quốc hội
để làm căn cứ phê duyệt CQK
- Cơ quan chuyên môn về BVMT của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính Phủ báo cáo Bộ trưởng, Thứ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan có thẩmquyền phê duyệt dự án…
- Cơ quan chuyên môn về BVMT cấp tỉnh báo cáo UBND cấp tỉnh
Điều 8, thông tư 26/2011/TT-BTNMT quy định:
Cơ quan tổ chức việc thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược cótrách nhiệm gửi hồ sơ kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược chocấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, bao gồm:
a) Một (01) văn bản báo cáo kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trườngchiến lược thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 1.9 Thông tư này;
b) Một (01) bản sao văn bản của chủ dự án giải trình về việc tiếp thu ý kiếncủa cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
Thời hạn gửi hồ sơ báo cáo kết quả thẩm định chậm nhất là mười lăm (15)ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đãđược chỉnh sửa, bổ sung kèm theo văn bản giải trình của chủ dự án
1.3 ỨNG DỤNG GIS TRONG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNGCHIẾN LƯỢC
1.3.1 Gis trong việc xác định phạm vi ĐMC
Phạm vi của ĐMC phụ thuộc vào đồ án quy hoạch hoặc các dự thực hiệnĐMC trong đó phạm vi của ĐMC trong quy hoạch chủ yếu là khu được quy hoạchnhư trong phạm vi hành chính tỉnh, thành phố, vùng lập quy hoạch nhằm xác định,
xét các vấn đề môi trường có phạm vi tác động lớn, bao gồm: sử dụng tài nguyên(đất đai, nguồn nước, khoáng sản, rừng, cảnh quan ); áp lực phân bố dân cư, phân
bố các hoạt động kinh tế trên lãnh thổ (công nghiệp, nông nghiệp, du lịch ); môitrường lưu vực sông; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đói nghèo, suy thoái môitrường, thiên tai, lũ lụt; Đánh giá hiện trạng các nguồn gây ô nhiễm lớn (vùng đôthị, vùng công nghiệp, vùng khai thác khoáng sản ), các vùng bị suy thoái môitrường, các vùng bảo tồn sinh thái cảnh quan Xác định các nội dung bảo vệ môitrường của quy hoạch ở quy mô vùng (cấp nước vùng, giao thông vùng, xử lý chất
Trang 36thải liên đô thị, bảo vệ môi trường lưu vực sông ) và đưa ra các dự báo xu hướngcác vấn đề môi trường do tác động của phân bố đô thị, dân cư, các hoạt động kinh
tế, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật trong vùng; nêu các vấn đề môi trường đã và chưađược giải quyết trong đồ án quy hoạch Đánh giá sự thống nhất giữa các quan điểm,mục tiêu của quy hoạch xây dựng và các quan điểm, mục tiêu về bảo vệ môi trường;
dự báo, so sánh tác động môi trường của các phương án quy hoạch
Hình 1.12: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010
1.3.2 Gis trong việc xác định những vấn đề môi trường cốt lõi
Việc xác định các vấn đề cốt lõi và xem xét xem nó sảy ra tại vùng nào làđiều quan trọng Đây chính là tiền đề để tiến hành cho các bước tiếp theo Sau khicác vấn đề môi trường và các mục tiêu môi trường đã được xác định, việc cần tiếnhành đối với kỹ thuật GIS là thể hiện các vấn đề môi trường đó lên bản đồ một cách
Trang 37trực quan nhất Gis giúp đánh giá và xác định được nguồn tài nguyên thiên nhiêncùng những vấn đề môi trường như: lũ lụt, sạt nở, khô hạn…
Hình 1.13: Bản đồ tài nguyên rừng của huyện Tủa Chùa
Trang 38Hình 1.14: Bản đồ phân vùng khí hậu tỉnh Lai Châu
1.3.3 Gis trong việc phân tích xu hướng vấn môi trường
Việc phân tích xu hướng môi trường là một cách để xác định những tác độngđến môi trường của các hoạt động kinh tế xã hội Việc phân tích này thường dựa và
dữ liệu nền nhiều năm trước đó đề xây dựng một đường cong Trong toán học,đường cong này có thể tăng lên như đối với các thông số môi trường tại một dòngsông, tại một khu đất… và cũng có thể giảm xuống như diện tích rừng phòng hộ, sốlượng các loài động thực vật…
Nhưng khi ứng dụng GIS, toàn bộ các thông tin đó được thể hiện bằng màusác và không gian Việc đưa lên bản đồ này xu hướng các vấn đề cần cập đến cácbản đồ có trong bước trước đây, đó là bước xác định các vấn đề môi trường cốt lõi.Nên lấy các thông tin từ bước này làm nền tảng, sau đó tùy theo sự phân tích các xuhướng đó trong tương lai mà ta có thể dùng màu khác đi để phân biệt
Trang 39Hình 1.15: Bản đồ phân vùng khô hạn huyện Mường Tè
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI BẰNG CÔNG NGHỆ GIS
2.1.TÀI NGUYÊN ĐẤT
2.1.1 Tổng quan về tài nguyên đất
Có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa, khái niệm như thế nào đất, là tài nguyênđất, tuy nhiên theo quan điểm của mình tác giả chỉ đề cập đến định nghĩa đất củaDocusaev - nhà thổ nhưỡng học người Nga bởi đây là định nghĩa đầy đủ, hoàn
chỉnh và chính xác Theo ông "Đất là một vật thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, là sản
pham tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi và địa hình địa phương''.
Đây là định nghĩa đầu tiên và cũng là định nghĩa phản ánh xác thực nguồngốc hình thành đất Đất được xem như một vật thể sống, vì trong nó chứa nhiều visinh vật, nấm tảo, côn trùng đất, các động thực vật bậc cao Cũng chính vì bản tínhsống của đất, mà đất được xem như nguồn tài nguyên tái tạo và là nguồn tài nguyên
vô cùng quý giá
2.1.2 Vai trò của đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống củacon nguời và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp[ ] Đặc điểm đất đaiảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp.Vai trò của đấtđai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm
tư liệu sản xuất ngày càng tăng Chính điều này đòi hỏi cần phải tiến hành nghiêncứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất đai để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp nhằmphát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân
Đất đai là sản phẩm của sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố tự nhiên vàkinh tế - xã hội Địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa mang tính chấtchuyển tiếp, mạng lưới sông ngòi, nguồn nước ngầm khá phong phú, thảm thực vậtkhá đa dạng, phong phú, dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, tình hình kinh tế,
xã hội ổn định đã có nhiều thuận lợi và cũng gây ra không ít khó khăn cho đấtđai.Đất trung du miền núi gồm các loại chính: Đất vàng nhạt trên đá cát, đất đỏ