trường tiểu học...38Bảng 1.2: Bảng ma trận các nội dung quản lý hoạt động chuyên môn của Phòng GD&ĐT và trường tiểu học...42 Bảng 1.3: Bảng ma trận các nội dung quản lý hoạt động chuyên
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Ở nước ngoài 7
1.1.2 Công trình nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 Các khái niệm công cụ 14
1.2.1 Quản lý 14
1.2.2.Quản lý giáo dục 21
1.2.3 Quản lý nhà trường 24
1.2.4 Trường tiểu học và hoạt động chuyên môn 31
1.2.5 Quản lý hoạt động chuyên môn 32
1.2.6 Quan hệ quản lý 34
1.3 Các quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của trường Tiểu học 37
1.3.1 Các quan hệ chỉ huy – chấp hành 37
1.3.2 Các quan hệ hợp tác phối hợp 45
Trang 21.4.1 Phân cấp quản lý trong quản lý giáo dục tiểu học 48
1.4.2 Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của trường tiểu học theo yêu cầu của phân cấp quản lý giáo dục tiểu học 50
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường Tiểu học 51
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 51
1.5.2 Các yếu tố khách quan 51
Kết luận chương 1 52
Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC 53
2.1 Khát quát về địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu thực trạng 53
2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu (tình hình phát triển KT - XH các tỉnh đồng bằng sông Hồng) 53
2.1.2 Hiện trạng phát triển GD - ĐT ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng 59
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 62
2.2 Thực trạng hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học 4 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng 62
2.2.1 Thực trạng lãnh đạo, chuyên viên các Phòng Giáo dục & Đào tạo 62
2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý cấp tiểu học 63
2.2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn của các trường tiểu học 63
Trang 3trường Tiểu học 80
2.3.1 Thực trạng các quan hệ quản lý 80
2.3.2 Phân cấp trong quản lý giáo dục tiểu học của tỉnh Hải Dương 81
2.3.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học 82
2.3.4 Kết quả của mối quan hệ quản lý trong quản lý đối với việc nâng cao chất lượng chuyên môn 82
2.4 Đánh giá chung về thực trạng các biện pháp vận hành quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trường tiểu học 82
2.4.1 Những điểm mạnh và hạn chế 82
2.4.2 Nguyên nhân 84
Kết luận chương 2 85
Chương 3 BIỆN PHÁP VẬN HÀNH QUAN HỆ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN CỦA CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG THEO YÊU CẦU CỦA PHÂN CẤP QUẢN LÝ 86
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 86
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 86
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 86
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 87
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ các biện pháp 87
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 87
Trang 43.3.1 Nhóm biện pháp hành chính - tổ chức 90
3.3.2 Nhóm biện pháp kinh tế 90
3.2.3 Nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục 90
3.2.4.Nhóm biện pháp kỹ thuật 90
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.5 Khảo nghiệm và thực nghiệm các biện pháp 90
3.5.1 Khảo nghiệm các biện pháp 90
3.5.2 Thực nghiệm 90
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 5trường tiểu học 38
Bảng 1.2: Bảng ma trận các nội dung quản lý hoạt động chuyên môn của Phòng GD&ĐT và trường tiểu học 42
Bảng 1.3: Bảng ma trận các nội dung quản lý hoạt động chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trong trường tiểu học 43
Bảng 1.4: Bảng ma trận các nội dung quản lý thực hiện Quy chế chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trong trường tiểu học 44
Bảng 1.5: Bảng ma trận nội dung quản lý và các chủ thể quản lý để xác định quan hệ hợp tác, phối hợp giữa trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học 45
Bảng 1.6: Bảng ma trận các nội dung quản lý hoạt động chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ của các chủ thể quản lý để xác định quan hệ hợp tác và phối hợp trong trường tiểu học 46
Bảng 1.7: Bảng ma trận các nội dung quản lý thực hiện Quy chế chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ của các chủ thể quản lý để xác định quan hệ hợp tác và phối hợp trong trường tiểu học 47
Bảng 2.1: Mật độ dân số các tỉnh đồng bằng sông Hồng 56
Bảng 2.2: Thành phần dân số các tỉnh đồng bằng sông Hồng 57
Bảng 2.3: Quy mô GD - ĐT các tỉnh đồng bằng sông Hồng 59
Bảng 2.4: Quy mô học sinh tiểu học các tỉnh đồng bằng sông Hồng 60
Bảng 2.5 Xếp loại đạo đức của học sinh Tiểu học các tỉnh đồng bằng sông Hồng 61
Bảng 2.6 : Xếp loại văn hoá của học sinh tiểu học các tỉnh đồng bằng sông Hồng 61
Bảng 2.7: Thực trạng biện pháp xây dựng kế hoạch chuyên môn 64
Bảng 2.8: Thực trạng hoạt động chuyên môn của nhà trường 65
Trang 6Bảng 2.11: Mức độ sử dụng các biện pháp kinh tế trong quản lý hoạt động chuyên môn 74Bảng 2.12: Mức độ sử dụng các biện pháp tâm lý - giáo dục trong quản lý hoạt động chuyên môn 77
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh hệ thống giáo dục quốc dân đang có những thay đổitheo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện, vấn đề đổi mới quản lý giáodục nói chung, quản lý trường học (mà bản chất là quản lý các hoạt động giáodục trong nhà trường) nói riêng trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm đốivới các nhà giáo dục và quản lý giáo dục Đổi mới quản lý giáo dục (trong đó
có giáo dục tiểu học) được thực hiện ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địaphương đến các cơ sở giáo dục, ở tất cả các khâu của quá trình quản lý, từ xâydựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá đối với các nội dungcũng như lĩnh vực quản lý khác nhau ở cấp độ hệ thống giáo dục và ở từng cơ
sở giáo dục Trong đó quản lý hoạt động chuyên môn ở các cơ sở giáo dục làmột nội dung quản lý quan trọng Đề cập về vấn đề này, Chiến lược phát triểngiáo dục giai đoạn 2011-2020 của nước ta đã khẳng định: “Tăng cường vàhoàn thiện các qui định về công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn và quản lýchất lượng giáo dục”
Các hoạt động giáo dục là hoạt động đặc thù của nhà trường và giữ vị trítrung tâm trong các hoạt động của nhà trường Chất lượng giáo dục quyếtđịnh uy tín của nhà trường Giáo dục được thực hiện ở cấp độ hoạt độngthông qua hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh Các hoạt độngnày được khái quát trong khái niệm hoạt động chuyên môn ở trường học, vàhoạt động chuyên môn lại được triển khai thực tiễn tại các tổ chuyên môn vàtừng giáo viên
Hoạt động chuyên môn góp phần quan trọng trong việc thực hiện cácnhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường
Vì vậy, quản lý hoạt động chuyên môn là yêu cầu tất yếu và là một trongnhững nội dung quản lý quan trọng trong quản lý trường học
Trang 9Khẳng định tính tất yếu và tầm quan trọng của quản lý hoạt độngchuyên môn của trường học cũng có nghĩa khẳng định sự cần thiết của nhữngnghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn Những nghiên cứu này gópphần làm sáng tỏ các mối quan hệ quản lý xuất hiện và vận hành trong quátrình quản lý hoạt động chuyên môn của nhà trường Đây là những quan hệ
giữa người với người (trên bình diện cá nhân và tập thể) trong quản lý hoạt
động chuyên môn ở trường học Tuy nhiên, các quan hệ quản lý này là gì nétbản chất và tính qui luật của chúng như thế nào vẫn là một “hộp đen” cầnđược khám phá
1.2 Trong khoa học Quản lý giáo dục, quản lý hoạt động chuyên môncủa các trường tiểu học là một trong những vấn đề được nghiên cứu tương đốiphổ biến Tuy nhiên những nghiên cứu về quan hệ quản lý trong quản lýchuyên môn của trường tiểu học lại rất hạn chế và không mang tính hệ thống
1.3 Công tác quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học
đã có nhiều cố gắng song hiệu quả quản lý chưa được như mong muốn, chấtlượng quản lý hoạt động chuyên môn chưa cao Điều này có ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng hoạt động chuyên môn của các trường tiểu học trên địabàn tỉnh Có nhiều nguyên nhân của thực trạng này Một trong những nguyênnhân đó là sự vận hành các quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyênmôn của các trường Tiểu học (quan hệ quản lý giữa Sở Giáo dục & Đào tạo,Phòng Giáo dục & Đào tạo với trường tiểu học; giữa quản lý nhà trường với
Tổ chuyên môn; giữa Tổ chuyên môn với giáo viên …) chưa đảm bảo bản chấtvốn có của nó
Từ những lý do trên, đề tài "Nghiên cứu quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của trường tiểu học" được lựa chọn làm đề tài nghiên
cứu luận án tiến sĩ
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn về quan hệ quản lý trong quản lýhoạt động chuyên môn của trường tiểu học, đề xuất các biện pháp vận hànhcác quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn theo yêu cầu phâncấp quản lý trong quản lý giáo dục hiện nay, góp phần nâng cao chất lượnghoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động chuyên môn của trường Tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trườngTiểu học trong bối cảnh phân cấp quản lý giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Trong bối cảnh tăng cường phân cấp trong quản lý giáo dục hiện nay, cácquan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu họcmặc dù đã được xác lập nhưng chưa được vận hành theo đúng chức năng,nhiệm vụ của từng chủ thể quản lý Nếu xác định được những hạn chế này thì
sẽ đề xuất được biện pháp để vận hành các quan hệ quản lý trong quản lý hoạtđộng chuyên môn của các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu của phân cấptrong quản lý giáo dục hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa lý luận về hoạt động chuyên môn, quản lý hoạt độngchuyên môn và quan hệ quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học.5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ quản lý trong quan hệ quản lýhoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học tại một số tỉnh khu vực Đồngbằng Sông Hồng
Trang 115.3 Đề xuất biện pháp để vận hành các quan hệ quản lý trong quản lýhoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu của phân cấptrong quản lý giáo dục.
5.4 Khảo nghiệm và thực nghiệm một số biện pháp đã đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của các trườngTiểu học tỉnh được giới hạn trong phạm vi quản lý của Phòng Giáo dục vàĐào tạo đối với các trường tiểu học và những quan hệ quản lý trong quản lýhoạt động chuyên môn tại trường tiểu học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khát quáthóa tài liệu để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyếtcho vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học (bằng phiếu hỏi)
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trang 127.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp sơ đồ hóa
8 Những luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1:
Quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của trường tiểuhọc có mối quan hệ mật thiết với tính chất của hoạt động quản lý chuyênmôn, cơ cấu bộ máy quản lý và cơ chế quản lý giáo dục tiểu học nói chung,quản lý hoạt động chuyên môn của trường tiểu học nói riêng
9 Đóng góp mới của đề tài luận án
9.1 Thiết lập cơ sở lý luận của việc xác lập mối quan hệ quản lý trongquản lý hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học theo yêu cầu của phân cấpquản lý trong quản lý giáo dục tiểu học
9.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ quản lý trong quan hệ quản lýhoạt động chuyên môn của các trường tiểu học hiện nay
9.3 Đề xuất các biện pháp vận hành các quan hệ quản lý trong quản lýhoạt động chuyên môn của các trường tiểu học theo yêu cầu của phân cấpquản lý trong quản lý giáo dục tiểu học
10 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận ángồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ quản lý trong quản lý hoạt độngchuyên môn của trường Tiểu học
Chương 2: Thực trạng quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyênmôn của các trường Tiểu học
Chương 3: Biện pháp vận hành quan hệ quản lý trong quản lý hoạt độngchuyên môn của các trường Tiểu học theo yêu cầu phân cấp quản lý trongquản lý giáo dục hiện nay
Trang 14lý có thể được khái quát như sau:
Tùy theo các trường phái quản lý, vấn đề quan hệ quản lý được quanniệm và khai thác khác nhau Có thể điểm qua một số quan điểm cơ bản:
- Quan điểm quản lí giáo dục hiệu quả
Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thế kỉ XX với nội dung cơbản là vận dụng các quan điểm, các phương pháp và kĩ thuật của quản lí kinh
tế vào lĩnh vực quản lí giáo dục Theo đó, hiệu quả của quản lí giáo dục đượcxác định bằng tác động của quản lí trong việc làm thay đổi hiệu số giữa đầuvào và đầu ra của giáo dục Theo quan niệm này, quan hệ quản lí là đối tượngcần được tác động để vận hành hiệu quả trong quá trình làm cho hiệu số giữađầu vào và đầu ra của hệ thống quản lý giáo dục phải đạt giá trị cực đại
- Quan điểm quản lí giáo dục hiệu lực
Quan điểm quản lí giáo dục này ra đời vào những năm 20 của thế kỉ XXvới nội dung cơ bản là dựa trên cơ sở lí luận của tâm lí học, sư phạm học vậndụng các phương pháp của chúng vào quản lí giáo dục để tác động đến conngười trong các hệ thống giáo dục Với quan niệm, tác động quản lí được coi
là có hiệu lực khi tác động đó giải quyết được những vấn đề nảy sinh trongthực tiễn quản lí Những vấn đề này thường liên quan đến con người Do vậy,
Trang 15các quan hệ quản lý là những quan hệ giữa con người với con người trong quátrình quản lý Là quan hệ giữa con người với con người nên cần chú trọng đếnviệc đạt các mục tiêu giáo dục trong quản lý.
- Quan điểm quản lí giáo dục đáp ứng
Ra đời vào những năm 60 của thế kỉ XX, quan điểm này coi trọng vai tròcủa chính trị đối với giáo dục và quản lí giáo dục Do vậy, quản lí giáo dụcphải đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của chính trị Các quan hệ quản lýphải được xây dựng trên những nền tảng chính trị nhất định và thiết thực phục
vụ cho các mục tiêu chính trị
- Quan điểm quản lí giáo dục phù hợp
Quan điểm này ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX Nội dung cơbản của quan điểm là nhấn mạnh mối quan hệ giữa giáo dục và văn hoá Theo
đó, các quan hệ quản lí trong quản lí giáo dục vừa phải vận hành theo tính quyluật của giáo dục, vừa tuân thủ tính quy luật của văn hóa Quản lí giáo dục làphải vận hành được các quan hệ quản lý nhằm đạt mục tiêu làm cho giáo dụcphát triển trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá
Ở Liên Xô của, các tư tưởng về quản lý giáo dục bắt đầu được chú ýđến và phát triển từ những năm 20 của thế kỷ XX Đây là giai đoạn “bùng nổquản lý” trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tại đất nước này
Trong thời kỳ này, vấn đề về “hoạt động kỹ thuật xã hội” được nêu lênthường xuyên hơn và kiên định hơn trong nghiên cứu lí luận của các nước xãhội chủ nghĩa Vào năm 1920, tại Maxkova đã thành lập Viện Trung ương cácnhà tổ chức giáo dục quốc dân Đây là Trung tâm nghiên cứu khoa học vềgiáo dục đầu tiên trên thế giới nghiên cứu các vấn đề về quản lí giáo dục
Những năm hoạt động đầu tiên của Viện này đã được đánh dấu bằngviệc xác định các quan điểm trong lĩnh vực quản lí giáo dục Quan niệm đầutiên dành cho nhà sư phạm với yêu cầu nhà sư phạm phải có hiểu biết về đối
Trang 16tượng đặc biệt của mình Họ cần biết sử dụng thiết thực và hợp lý các quy luậtxây dựng các mối quan hệ, xây dựng tập thể giáo dục và học tập ở nhóm lứatuổi khác nhau và ở từng môi trường giáo dục khác nhau Nói cách khác, họphải là kỹ thuật viên cho sự nghiệp của mình, kỹ thuật viên thiết kế hợp lý cácquan hệ về giáo dục xã hội.
Tiếp đó là quan điểm về vấn đề sử dụng các phương pháp thực nghiệmtrong lĩnh vực giáo dục Từ quan điểm này, ở nước Nga đã xuất hiện cáctrường phổ thông thực nghiệm điển hình và các phòng lý luận dạy học nhằmthực hiện sự ứng dụng thực nghiệm trong lĩnh vực xã hội và giáo dục Trongtrào lưu này, những nghiên cứu về lĩnh vực quản lí giáo dục bị hạn chế và sau
đó đã hoàn toàn chấm dứt về mặt thực tiễn
Những năm 60 của thế kỹ XX, một lần nữa người ta lại bắt đầu dành sựchú ý đặc biệt đến vấn đề quản lí giáo dục trong văn hóa sư phạm bởi đòi hỏicủa các vấn đề giáo dục, bởi sự phát triển và bổ sung lí luận bằng hàng loạtnhững quan điểm đối với quản lí và những thành công nhất định của thực tiễnquản lí giáo dục
Trong các nghiên cứu về quản lí giáo dục ở Liên Xô cũ trong giai đoạnnày, vấn đề quan hệ quản lí được nghiên cứu theo 3 hướng chính:
Thứ nhất, nghiên cứu các quan hệ quản lí trong quản lí quá trình giáodục (ở một số tác giả là quá trình giảng dạy, giáo dục hay quá trình hình thànhnhân cách học sinh)
Thứ hai, nghiên cứu quan hệ quản lí trong quản lí các cơ quan giáo dục(đầu tiên là trường học)
Thứ ba, nghiên cứu quan hệ quản lí trong trong quản lí các hệ thống(các chương trình, kế hoạch) giáo dục liên bang, khu vực và thị chính
Lục đầu, các nghiên cứu chỉ đề cập đến các vấn đề quản lí quá trìnhgiáo dục Các nghiên cứu về vấn đề quản lí trường phổ thông với những quan
Trang 17hệ quản lí trong quản lí trường phổ thông được triển khai mạnh mẽ vào nhữngnăm 80, còn những nghiên cứu về quan hệ quản lí trong quản lí hệ thóng giáodục liên bang, khu vực xuất hiện ở Nga vào những năm 90 của thể kỷ XX.
Một trong những nghiên cứu đi đầu trong nghiên cứu về lý thuyết quản
lí quá trình giảng dạy và các hệ thống sư phạm là V.P Bespalko Tác giả đãnghiên cứu về các lí thuyết trên theo quan điểm điều khiển học Theo đó, cácquan hệ quản lí là những quan hệ có thể điều khiển được theo những phạm trù
và nguyên lí của điều khiển học
Điều khiển học không những được tác giả tuyên bố bằng nền tảng lýluận cho việc xây dựng “lý thuyết quản lý quá trình giảng dạy, mà hơn thếnữa ông gắn kết sự phát triển khoa học sư phạm sau này với lý thuyết chung
về quản lý các quá trình theo lí thuyết của điều khiển học với các nguyên tắcnhư: nguyên tắc mô tả hành vi hệ thống toán học, nguyên tắc “hộp đen”,nguyên tắc mô hình hoá, nguyên tắc quan hệ ngược.v.v
Những nghiên cứu về quản lí giáo dục theo quan điểm điều khiển học, cụthể là điều khiển quá trình giáo dưỡng, giáo dục đã tồn tại trong một thời giandài mặc dù có rất nhiều phê bình
N.G.Alekseev đã phát biểu trong hội đàm “bàn tròn” về các vấn đề giáodục như sau: “Hiện nay vấn đề tương quan về giáo dục tổ chức và tự phát đang
là trọng tâm Giáo dục con người hiện đại đã vượt ra khỏi biên giới của các cơquan giáo dục và đã trở thành tài sản của các phương tiện thông tin đại chúng,của các nhóm môi trường trực tiếp xung quanh, nghĩa là các môi trường khácnhau.v.v Ai và cái gì sáng lập, tính hiệu quả và hiệu quả của hình thái tác độngkhác nhau như thế nào, chúng khác biệt nhau ở điểm nào, phối hợp chúng có thể ởđiểm nào Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra ở đây là tương đối chưa hoàn hảo” Người có đóng góp đáng kể trong nghiên cứu quản lí giáo dục theophương hướng thứ hai là M.M Potasnhik Ông và những người khác nghiên
Trang 18cứu về quản lớ hệ thống giỏo dục đó dỏnh sự chỳ ý đặc biệt đến quan điểmnghiệp vụ trong quản lớ giỏo dục Cỏc chức năng này bao gồm: dự bỏo, lậpchương trỡnh, kế hoạch hoỏ, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, phõn tớch, kớchthớch Khi nghiờn cứu quản lý trường học cũng như thực hiện cỏc chức năng
“quản lý” liệt kờ ở trờn, điều đặc biệt đối với những người bảo vệ quan điểmnghiệp vụ quản lý đó nờu là cỏc tỏc giả cố gắng “làm tối ưu” cỏc chức năngriờng này Có thể khẳng định, những nghiên cứu về quản lý cỏc cơ quan giỏodục chủ yếu ỏp dụng quan điểm chức năng
Trong cỏc nghiờn cứu về quản lớ giỏo dục theo định hướng thứ ba, quan điểm
về chương trỡnh phỏt triển giỏo dục thực tế được giới thiệu lần đầu tiờn và khỏrộng rói Các tác giả của hớng nghiên cứu thứ ba chia quỏ trỡnh phỏt triển giỏodục làm hai phần khụng đồng đều: phần thứ nhất - là tiếp tục tỏi sản xuất nềngiỏo dục hiện nay (mặc dự cú những thiếu sút rừ ràng nhưng dẫu sao tỏi sảnxuất vẫn bảo đảm kết quả nào đấy ở hỡnh thức giỏo dục tối thiểu), cũn phầnthứ hai - đú là bản chất những khu thực nghiệm, nơi mà cỏc quan điểm và tưtưởng mới được hoàn thiện Nhiệm vụ chớnh của khu vực thứ hai là tạo nờncỏc mụ hỡnh đổi mới giỏo dục trong nước cũng như nắm vững cỏc hỡnh thỏigiỏo dục tiờn tiến ở cỏc nước khỏc Quan niệm này khụng chỉ đề cập đến nộidung giỏo dục bờn trong mà cũn cố gắng hiểu được vị trớ và vai trũ giỏo dụctrong hệ thống cỏc mối quan hệ xó hội rộng lớn hơn Như vậy, quan niệm đã
dự kiến được giỏ trị ngang bằng của cỏc hỡnh thỏi tư nhõn, khu vực, liờn bang
và nhỡn thấy sự bảo đảm của quản lý trong việc quy định và thực hiện chiếnlược phỏt triển giáo dục Giỏ trị ngang bằng đú định trước sự khụng đồng nhất
về mặt nguyờn tắc của hệ thống giỏo dục, một mặt là nõng cao tớnh khụng ổnđịnh của nú nhưng mặt khỏc, chớnh sự khụng ổn định hệ thống là nguồn phỏttriển bờn trong của nú Như vậy, khả năng tự phỏt triển của hệ thống đặt nềnmúng cho sự tồn tại cỏc hỡnh thỏi giỏo dục khỏc nhau
Trang 19Tóm lại, những nghiên cứu về quản lí giáo dục dựa trên những cơ sở líluận khác nhau Mỗi cơ sở lí luận này đều có những hạn chế của nó Nghiêncứu các vấn đề quản lý giáo dục sử dụng nền tảng lý luận điều khiển học vềnguyên tắc không phản ánh được bản chất xã hội của nền giáo dục Khi sửdụng quan điểm nghiệp vụ (chức năng) về quản lý giáo dục, c¸c nghiªn cøuthêng tập trung vào việc miêu tả hình thức các chức năng đã được chọn lựa(mô tả đã được các chuyên gia quản lý soạn thảo khá tốt), chứ không phải tậptrung vào việc làm rõ ràng và xúc tích các chức năng đó đối với tình huốngcấp bách của thực tiễn giáo dục LÝ luËn vÒ qu¶n lÝ ph¸t triÓn hÖ thèng gi¸odôc c¸c cÊp gi¶ quyÕt vấn đề “nhà nước - xã hội - cá nhân” trong gi¸o dôc gÆpnhiÒu khã kh¨n trong viÖc gi¶i quyÕt c¸c m©u thuÉn gi÷a nhận thức lý luận vµcác điều kiện thực tiễn, đặc biệt là trong trường hợp chiến lược phát triển củaquốc gia không ổn định.
Ở các nước Phương Tây, nghiên cứu về quản lí giáo dục sớm tiếp cậnvới những thay đổi của mô hình quản lí phân cấp nói chung Vấn đề quan hệquản lí được nghiên cứu trong môi trường phân cấp quản lí về giáo dục
Các nghiên cứu về phân cấp quản lí giáo dục đã xác định cụ thể các vấn
đề như: mục tiêu phân cấp, lý do và lợi thế của phân cấp trong quản lí giáodục; rủi ro của phân cấp; các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp
Trong nghiên cứu về phân cấp quản lí, vấn đề quan hệ quản lí được xácđịnh tương ứng với từng mô hình phân cấp Ví dụ, trong mô hình phân cấpkiểu nhà trường tự chủ, người ta hay đề cấp đến các loại quan hệ quản lí như:quan hệ tự chủ - tham dự và quan hệ tự chủ - tham dự - chịu trách nhiệm v.v
1.1.2 Công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về quan hệ quản lí trong quản lí giáo dục ởnước ta còn hạn chế và chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu vềvấn đề này
Trang 20Tác giả Trần Kiểm, Bùi Văn Quân có đề cập quan niệm về quan hệ quản
lí với tư cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lí giáo dục, từ đóxác định các kiểu quan hệ quản lí trong quản lí giáo dục và đặc trưng củaquan hệ quản lí giáo dục
Tác giả Nguyễn Tiến Hùng đề cập đến vấn đề vè quan hệ quản lí trongnhững nghiên cứu về phân cấp quản lí giáo dục
Những nghiên cứu về quan hệ quản lý trong quản lý hoạt động chuyênmôn của trường tiểu học được thực hiện theo các hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó xácđịnh nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nóichung và trong quản lý hoạt động chuyên môn nói riêng Hướng nghiên cứunày được thể hiện trong các công trình nghiên quản lý nhà nước về giáo dụccủa các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Vũ Ngọc Hải, Phan Văn Kha, ĐặngQuốc Bảo, Bùi Minh Hiền
Thứ hai, nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn dưới góc độquản lý tác nghiệp tại trường học, trong đó xác định vị trí, vai trò, chức năng,nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trường học như Hiệu trưởng, phó hiệutrưởng, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên Hướng nghiên cứu này được thựchiện ở một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Trần Kiểm; Bùi VănQuân, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Hai hướng nghiên cứu nêu trên đã bước đầu xác định cụ thể vị trí, vaitrò chức năng của các chủ thể quản lý tham gia vào quản lý hoạt động chuyênmôn ở trường học Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý này đượcthể hiện trong quan hệ quản lý như thế nào vẫn chưa được thiết lập cụ thể vàchưa được phân tích một cách kỹ lưỡng
Thời gian gần đây, trong xu hướng thực hiện phân cấp quản lý và tăngcường vai trò tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường học, vấn đề quan hệ quản
Trang 21lý trong giáo dục cũng được quan tâm nghiên cứu Đáng chú ý cho hướngnghiên cứu này là công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Minh Hiền vàNguyễn Xuân Hải về phân cấp quản lý trong giáo dục Trong công trình này,các quan hệ quản lý được xem xét theo tinh thần của phân cấp quản lý tronggiáo dục Tuy nhiên, những quan hệ quản lý trong từng hoạt động nội dungquản lý cụ thể chưa được các tác giả đề cập.
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Quản lý
Cuộc sống của con người là dòng chảy của các hoạt động Quản lí gắnliền với cuộc sống, với hoạt động của con người, vì thế nó rất đa dạng vàphức tạp Nhận thức của con người về quản lí vì thế cũng rất phong phú
Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản
lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của lí luậnchủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tácgiả nước ngoài như (6): Frederich Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol(1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz… và một sốtác giả Việt Nam như: Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc,Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân…
Các nghiên cứu về quản lí có thể được khái quát theo những khuynhhướng như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí
thuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năngcủa những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuậtv.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý làtác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao động tất
yếu trong các tổ chức của con người Theo đó, "Quản lý là sự tác động liên
Trang 22tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chứcquản lý) lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phươngpháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự pháttriển đối tượng"; "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thểquản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành vàđạt được mục đích của tổ chức"; “ Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trìnhtích hợp với nhau: Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lý" Quá trình "quản"bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" baogồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đưa hệ thống vào thế phát triển.Nếu chỉ lo việc "quản" tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến "lý" tổchức đó sẽ rơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định Như vậy quản lý chính làhoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến mộttrạng thái mới có chất lượng mới cao hơn” (7)
Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các
chức năng quản lí được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướngnày, "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra cáccông việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng cácnguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định"; "Quản lý là quá trìnhđạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạchhóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra"
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nộidung cơ bản của quản lí được đề cập đến trong các quan niệm trên là: 1/ Quản
lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao độngquản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hànhphát triển; 2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội;3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp
Trang 23nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con người,trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trungtâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý.
Do tính đa dạng của quản lí nên việc đưa ra một định nghĩa khái niệmđược sử dụng chung cho nhiều lĩnh vực là một việc khó khăn Do vậy, cầnthiết phải có sự khu biệt phạm vi mà khái niệm quản lí phản ánh từ đó để địnhnghĩa khái niệm này một cách chính xác Điều này đòi hỏi phải có sự thốngnhất một số vấn đề sau:
i) Mặc dù quản lí là đa dạng, phức tạp nhưng có thể khái quát những
lĩnh vực quản lí cơ bản sau:
+ Quản lí giới vô sinh Ví dụ: quản lí nhà xưởng, hầm mỏ, thiết bị, đồdùng dạy học
+ Quản lí giới sinh vật Ví dụ: quản lí vật nuôi, quản lí cây trồng
+ Quản lí xã hội Ví dụ: quản lí sản xuất –kinh tế, quản lí xã hội – chínhtrị, quản lí đời sống tinh thần
ii) Các lĩnh vực quản lí nêu trên được xác định theo đối tượng tượng
quản lí Đối tượng quản lí mặc dù rất đa dạng nhưng con người luôn được xácđịnh là đối tượng cơ bản, chính yếu của quản lí Nói con người là đối tượng
cơ bản của quản lí vì con người có quan hệ với tất cả các đối tượng quản líkhác, hơn nữa, quản lí các đối tượng đó, xét cho cùng là vì con người và docon người Quản lí là do con người và vì con người
iii) Khẳng định con người là đối tượng cơ bản của quản lí phải đồng
thời nhấn mạnh rằng, con người sống và hoạt động trong những nhóm, những
tổ chức nhất định (từ đây gọi chung là tổ chức) Như vậy, dạng quản lí cơ bản
là quản lí xã hội, trong quản lí xã hội, quản lí con người và hành vi của của
con người là chính yếu Một cách khái quát, quản lí nói chung (hay nói đến quản lí) là quản lí các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con người trong các tổ chức đó.
Trang 24Với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con người, hoạt động củacon người, có thể định nghĩa khái niệm quản lí như sau:
Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động.
Quan niệm trên nhấn mạnh những khía cạnh sau của quản lí:
1/ Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản líthực hiện Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạtđộng quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã
xảy ra Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính Thứ nhất, tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ hai,
khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực
Cần lưu ý rằng, nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượngquản lí nhưng không đồng nhất hoạt động tác động đến đối tượng quản lí vớihoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực Rất nhiều hoạt động tác động đến đốitượng quản lí cần đến điều kiện là nguồn lực Khai thác, tổ chức và thực hiệnnguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tácđộng của chủ thể đến đối tượng quản lí được thực hiện có hiệu quả
2/ Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí Điềunày được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản
lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định Tuy nhiên, nhữngtác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức củachủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình và ýthức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan đó Mức độ
Trang 25thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ thống mục tiêu
do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan khẳng định mức độcủa tính khoa học, nghệ thuật của quản lí
3/ Quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong vàbằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như trongviệc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức
Thay đổi là thuộc tính của vật chất Bản thân tổ chức thay đổi và môitrường của nó luôn luôn biến động tạo ra tính “không chắc chắn” đối với tổchức Do vậy sự thay đổi cũng phải được quản lí và sự thay đổi cần phải đượcthực hiện một cách tự giác Đứng trước những biến đổi của môi trường, để tạokhả năng thích ứng của tổ chức với môi trường, chủ thể quản lí phải chủ độngtạo ra sự thay đổi đối với tổ chức của mình Khi chủ thể thực hiện sự thay đổimột cách tự giác, đó là những hành động (rộng và bao quát hơn là hoạt động)mang tính cải tiến, canh tân, đổi mới, cải tổ, cải cách và cách mạng đối với tổchức của mình Những tác động của chủ thể nhằm tạo ra sự thay đổi của tổchức được định hướng bởi mục đích chung của quản lí Mục đích của quản línói chung là nhằm duy trì, nhằm ổn định và phát triển tổ chức Tuỳ theo thực
tế của tổ chức mà các cấp độ mục đích nêu trên được xác định một cách cụthể Với một tổ chức có nguy cơ tan dã, thông thường, mục đích trước mắtcủa chủ thể quản lí là giữ cho tổ chức đó tồn tại (duy trì) Khi đã giữ được tổchức, cần phải ổn định tổ chức đó Sự ổn định tổ chức phải hướng đến pháttriển tổ chức đó lên một trình độ cao hơn
Việc phân định các cấp độ mục đích quản lí theo trình tự nêu trên có ýnghĩa tương đối Trong nhiều trường hợp, chủ thể quản lí phải đồng thời thựchiện các mục đích này một cách đồng thời bởi trình độ phát triển của các bộphận của tổ chức là khác nhau và sự phát triển của tổ chức theo thời giankhông phải bao giờ cũng tuần tự theo các mức độ của sự phát triển
Trang 26Mục đích quản lí được cụ thể hoá bởi các mục tiêu quản lí Mục tiêuquản lí được hiểu là các trạng thái cần và có thể có của tổ chức trong nhữnggiai đoạn nhất định được xác định theo tình thế của tổ chức và mối quan hệgiữa tổ chức và môi trường Trạng thái cần có là trạng thái mà tổ chức phảiđạt được để có thể tồn tại và phát triển Trạng thái có thể có là trạng thái mà
tổ chức có thể đạt được hoặc không đạt được tuỳ thuộc vào khả năng và mức
độ huy động các nguồn lực của tổ chức
4/ Quản lí luôn tồn tại với tư cách là hệ thống Hệ thống quản lí đượctạo bởi nhiều thành tố, nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khiphân tích hệ thống quản lí là:
+ Chủ thể quản lí: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổchức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướngđích, có chủ định đến đối tượng quản lí Chủ thể quản lí có thể là cá nhânhoặc tập thể
+ Đối tượng quản lí: là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dướinhững tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lí Đối tượng quản lí
là con người (cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng lànguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện)
Đối tượng quản lí bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lí xácđịnh Khách thể quản lí là cơ sở khách quan của đối tượng quản lí (cụ thể hơn
là cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lí) Ví dụ: hệ thống giáo dục quốcdân là khách thể của quản lí giáo dục, từ đó những yếu tố như tài chính, nhânlực có thể trở thành đối tượng của những chủ thể quản lí giáo dục xác định
Trong quan hệ với chủ thể quản lí, đối tượng quản lí luôn là cái khách quan,thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lí Đối tượng quản lí nằm ở khách thểquản lí, đối diện với chủ thể quản lí Chủ thể quản lí và đối tượng quản lí luôngắn liền với nhau (với những hoạt động cụ thể được tiến hành trong quản lí),cùng một lúc xuất hiện hoặc cùng một lúc biến mất Cá nhân chỉ là chủ thểquản lí một cách đích thực khi anh ta có đối tượng cho mỗi hoạt động quản lí
Trang 27của mình Những cái gì thuộc khách thể quản lí đã khiến cá nhân ấy trở thànhchủ thể quản lí cũng lập tức trở thành đối tượng hoạt động quản lí của anh ta.Khi cá nhân chưa xác định được đối tượng quản lí, đương nhiên quản lí chưadiễn ra, và cá nhân đó chưa phải là chủ thể quản lí Như vậy, chỉ có nhữngyếu tố nào đó của khách thể quản lí tham gia vào hoạt động, có tác dụng động
cơ hoá (chứa đựng mục đích quản lí) một cá nhân (tập thể) nào đó thì nó mớitrở thành đối tượng quản lí
+ Cơ chế quản lí: là phương thức vận động hợp qui luật của hệ thốngquản lí, mà trước hết là sự tác lẫn nhau một cách hợp qui luật trong quá trìnhquản lí Theo nghĩa này, cơ chế quản lí bao hàm cả những yếu tố của công cụ,như phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt,khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổchức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra Cơ chế quản lí có vai trò quantrọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với qui luật khách quancho hoạt động quản lí Cơ chế quản lí có tác động trực tiếp đến việc xác lập vàvận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí, đến việc địnhhướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức
Có nhiều cách phân loại cơ chế quản lí Xét theo hình thức thể hiện, cơchế quản lí gồm hai loại:
+ Cơ chế hình thức: là những qui định thành văn có tác dụng địnhhướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ chức Vídụ: Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước mà tổ chức phải tuân thủ; điều lệ, nộiqui của tổ chức mà các thành viên của tổ chức phải tuân theo
+ Cơ chế phi hình thức: là những qui định bất thành văn những có tácdụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổchức Ví dụ: phong tục, tập quán, truyền thống và tiền lệ của tổ chức
Hệ thống quản lí vận hành theo cả hai loại cơ chế này, trong đó cơ chếhình thức có vai trò chủ đạo Là chủ đạo vì cơ chế hình thức được xác lập mộtcách chính thống, được đảm bảo bởi quyền lực của nhà nước và của tổ chức
Trang 28(ví dụ: những vấn đề như mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi quyền lực, tính chấtmối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lí trong một kế hoạch nào đó của
tổ chức phải tuân thủ những theo những qui định đã được xác định trong cácvăn bản pháp qui của nhà nước cũng như những văn bản chính thống của tổchức Đó là sản phẩm của kết quả nhận thức và khái quát qui luật khách quanthành những luận điểm hướng dẫn hoạt động của con người và tổ chức) Tuynhiên, trong những trường hợp cụ thể, cơ chế phi hình thức cũng phát huy vaitrò không nhỏ Vì thế, trong quản lí, chủ thể quản lí phải quan tâm và vậndụng có hiệu quả cả hai loại cơ chế này, đảm bảo sự kết hợp giữa “phép vua và lệlàng” một cách có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, với tình huống của tổ chức
1.2.2.Quản lý giáo dục
Theo khái niệm quản lí đã trình bày, có thể định nghĩa khái niệm quản
lí giáo dục như sau: Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục
Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy:
- Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội, vì thế nó có đầy đủcác đặc điểm của quản lí nói chung, quản lí xã hội nói riêng
- Do tính đặc thù của quản lí giáo dục mà những đặc điểm của quản lígiáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lí xã
hội khác Chẳng hạn: i) Tính chất quản lí nhà nước được thể hiện rõ nét trong
quản lí giáo dục ngay cả với quản lí tác nghiệp tại trường học và các cơ sở
giáo dục; ii) Đối tượng chủ yếu của quản lí là con người, nhưng quản lí con
người trong quản lí giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn luyện, giáo dục conngười, tạo dựng cho họ có khả năng thích ứng được với các vai trò xã hội mà
họ đã và sẽ đảm nhận…
Trang 29- Khi xem xét quản lí giáo dục với tư cách là hệ thống, có thể nhận thấy:+ Khách thể của quản lí giáo dục tổng thể là hệ thống giáo dục quốcgia + Đối tượng của quản lí giáo dục tổng thể là tất cả những thành tố của hệthống giáo dục như nhân sự, chương trình giáo dục, hoạt động giáo dục,người học, nguồn lực giáo dục và học liệu, môi trường giáo dục và cơ sở giáodục, các quan hệ giáo dục.
+ Mục tiêu của quản lí giáo dục là phát triển các thành tố của hệ thốnggiáo dục trên các mặt qui mô, cơ cấu và chất lượng của chúng
+ Chủ thể quản lí giáo dục là nhà nước từ trung ương đến địa phương
và cơ quan quản lí, là những người chịu trách nhiệm trước nhà nước về giáodục như các nhà giáo, các cán bộ giáo dục khác, và cả chính người học
Định nghĩa khái quát như trên cho phép xác định những thành tố cơ bảncủa hệ thống quản lí giáo dục, tuy nhiên với tính đa dạng của giáo dục, cầnthiết phải có sự khu biệt phạm vị phản ánh của khái niệm này
Hệ thống giáo dục cũng có đặc trưng như các hệ thống khác, đó là tínhchất “chồng chéo về cơ cấu” Theo đó, cơ cấu của hệ thống giáo dục có thểđược xem xét theo phương diện quản lí, theo trình độ học vấn và bằng cả sựtích hợp của hai phương diện trên Với mỗi phương diện, người ta đều xácđịnh được những phân hệ của hệ thống giáo dục, và những phân hệ nàyđương nhiên cũng phải được quản lí Tình hình này dẫn đến những khó khănkhi đưa ra một định nghĩa chung nhất về khái niệm quản lí giáo dục
Giải pháp cho vấn đề trên là khu biệt khái niệm quản lí giáo dục theophạm vi phản ánh của khái niệm giáo dục Khái niệm giáo dục theo nghĩarộng chỉ giáo dục xã hội với hệ thống giáo dục được phân bổ rộng khắp trongphạm vi lãnh thổ theo những cấp bậc học cụ thể Khái niệm “quản lí giáodục” với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa này là quản lí giáo dục vĩ mô.Theo nghĩa hẹp, giáo dục được giới hạn trong phạm vi trường học và các cơ
sở giáo dục khác với tư cách là phần tử của hệ thống giáo dục Khái niệm
“quản lí giáo dục” với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quản lí giáodục vi mô
Trang 30Như vậy, khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đếnviệc quản lí toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt qui mô, cơ cấu và chấtlượng Đó là quản lí nhà nước về giáo dục Còn khi đề cập đến quản lí giáodục ở cấp độ vi mô, là đề cập đến quản lí tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục màtrường học là hạt nhân Trọng tâm của quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô làquản lí trường học và tất cả các hoạt động, các quan hệ trên – dưới, các hoạtđộng có liên quan đến nhà trường Quản lí tác nghiệp tại trường học là quản lígiáo dục ở cơ sở với trọng tâm là quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục.
Có thể mô tả các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục như hình 1.1
Hình 1.1: Các cấp độ của khái niệm quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục, xét về bản chất là một khoa học và một nghệ thuật trongviệc điều khiển, phối kết hợp các bộ phận, phân hệ và các cá nhân trong phần tửcủa hệ thống giáo dục nhằm đưa hệ thống đạt đến những trạng thái phát triển
VĨ MÔ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
-VỀ GIÁO DỤC
QUẢN LÍ GIÁO DỤC
VI MÔ - QUẢN LÍ TÁC NGHIỆP TẠI TRƯỜNG HỌC/CƠ SỞ GIÁO DỤC
Hệ thống giáo dục với các phân hệ từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học
Quản lí của lãnh đạo nhà trường/cơ sở giáo dục
Quản lí của các tổ chuyên môn
Quản lí của người dạy và người học
Quản lí của nhà nước
từ trung ương đến địa phương
Trường học/cơ sở giáo dục
Hoạt động dạy học và giáo dục
Trang 31mới về chất đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Quản lí giáo dục được thực hiện ở cấp độ vĩ mô và vi mô Trọng tâm củaquản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là quản lí trường học Trọng tâm của quản lígiáo dục vi mô là quản lí hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường và cơ
sở giáo dục Do vậy, có thể biểu đạt một cách khác về bản chất của quản lí giáo
dục như sau: “Quản lí giáo dục, về bản chất là quản lí nhà trường và các hoạt động giáo dục (nghĩa rộng) và các hoạt động khác diễn ra trong nhà trường”.
Xét về phương diện tổ chức – kĩ thuật, quản lí giáo dục nghiên cứu, vậndụng những thành tựu của khoa học, kĩ thuật, công nghệ nhưng chính quản lígiáo dục lại có sự đóng góp không nhỏ đối với những thành tựu này
Xét về phương diện kinh tế – xã hội, giá trị gia tăng do quản lí giáodục đem lại được phân phối rộng khắp hơn, mối quan hệ giữa chủ thể và đốitượng quản lí không chỉ bị ràng buộc bởi lợi ích mà còn bị ràng buộc bởinhững giá trị và chuẩn mực nghề nghiệp - giá trị và chuẩn mực sư phạm Điềunày được lí giải bởi bản chất xã hội của giáo dục Trong chế độ xã hội chủnghĩa, giáo dục không chỉ là phúc lợi mà còn là nghĩa vụ với mỗi công dân.Giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân Quản lí giáo dục mangđậm tính nhân văn
1.2.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ Trung ươngđến địa phương Quản lí nhà trường thực chất là quản lí giáo dục ở cơ sở Mỗinhà trường đều có hiệu trưởng và Hội đồng giáo viên là chủ thể quản lí trựctiếp vận hành hệ thống giáo dục đi đến mục tiêu giáo dục chung Bản chất củaquản lí trường học là quản lí quá trình giáo dục theo nghĩa rộng (quá trình sưphạm tổng thể - quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp) Quátrình quản lí ấy nhằm đưa các hoạt động thực hiện quá trình giáo dục từ trạngthái này sang trạng thái khác để dần đạt mục tiêu của quá trình đó Các hoạt
Trang 32động trong nhà trường bản thân nó đã có tính giáo dục, song cần có sự quản lí
tổ chức chặt chẽ thì mới phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện nội dung
và mục tiêu của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục (nghĩa rộng) được xác định là “một bộ phận của quá trình xã hội hình thành nhân cách con người chỉ bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu
do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn gọi là nhà giáo dục, nhà sư phạm đảm nhiệm Nơi tổ chức quá trình đó một cách có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường”(13)
Quá trình giáo nói trên bao gồm hai quá trình bộ phận là quá trìnhdạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp Quá trình giáo dục triển khaitrên thực tế những chức năng cơ bản sau của giáo dục:
+ Đào tạo huấn luyện con người, truyền đạt kinh nghiệm sống và laođộng cho cá nhân và nhóm
+ Khẳng định và truyền bá ảnh hưởng của hệ tư tưởng (Triết học, Xã hội,Chính trị), chuyển giao văn hóa (khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, đạo đức, tínngưỡng…) như là nhân tố bảo tồn nền văn hóa của loài người hoặc cộng đồng.+ Phát triển loài vừa với tư cách là cộng đồng tự nhiên (quần thể sinhhọc) vừa với tư cách là xã hội có ý thức (quốc gia, dân tộc, giai cấp) và pháttriển cá nhân như là thực thể xã hội – lịch sử cụ thể và đơn nhất (nhân cách).+ Là mục đích của tiến trình phát triển xã hội (mọi nền văn minh đềuhướng tới giáo dục như một mục đích phát triển mặc dù nó coi giáo dục nhưcông cụ và động cơ bên trong của mình)
Khi quá trình giáo dục được xác định về phạm vi, về cấp độ, cấu trúc vànhững hạn định cụ thể về thời gian, không gian, nội dung và tính chất, ta gọi
đó là quá trình đào tạo Vì lẽ đó, đào tạo là cơ cấu, là quá trình quyết định làmcho giáo dục có tính tổ chức, kế hoạch, hướng đích và điều khiển được Đào
Trang 33tạo không chỉ là một chức năng quan trọng mà còn là một thuộc tính cơ bảncủa giáo dục, là hình thức thực thể của giáo dục.
Quá trình giáo dục vận hành tại các cơ sở giáo dục (mà trường học là hạtnhân) trong hệ thống giáo dục quốc dân – khách thể của quản lí giáo dục ởcấp vĩ mô
Với cách hiểu như trên về quá trình giáo dục; căn cứ vào khái niệm quản
lí giáo dục, có thể khẳng định: Quản lí quá trình giáo dục là quá trình thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức, thực hiện các nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lí đến các thành tố của quá trình giáo dục nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết trong việc phát triển nhân cách cho người học phù hợp với yêu cầu mà xã hội đặt ra.
Quản lí quá trình giáo dục là trọng tâm, là nét bản chất của quản lí nhà
trường, do vậy, Quản lí nhà trường (Việt Nam) là thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm) trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức, thực hiện các nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lí đến các thành tố của quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục - mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ (14)
Khái niệm trên cho thấy:
- Mục tiêu của quản lí nhà trường là vận hành quá trình giáo dục để duytrì, ổn định và phát triển hệ thống giáo dục sao cho đáp ứng cao nhất với nhucầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, đáp yêu cầu phát triển nhân cách toàndiện cho người học ở mọi cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Chủ thể quản lí nhà trường là chủ thể kép Điều đó có nghĩa, nhàtrường (theo đó là) quá trình giáo dục được quản lí bởi các chủ thể quản língoài nhà trường và của các chủ thể quản lí trong (của) nhà trường Mỗi chủthể quản lí quá trình giáo dục với nội dung xác định
Trang 34- Đối tượng của quản lí nhà trường là các thành tố cấu thành nhà trườngvận động xung quanh trục quá trình giáo dục Do đó, xét đến cùng, đối tượngquản lí nhà trường chính là các thành tố cấu thành quá trình giáo dục vànhững nguồn lực được huy động, sử dụng cho quá trình đó
- Nội dung của quản lí quản lí nhà trường được xác định cho từng loạichủ thể quản lí như sau:
1/ Các chủ thể quản lí bên ngoài nhà trường
Các chủ thể quản lí ngoài nhà trường là các cấp quản lí, quản lí nhàtrường theo trách nhiệm và phạm vi quyền hạn của mình, trong đó các chủ thểquản lí chủ yếu, là các chủ thể nằm trong cơ cấu dọc của bộ máy quản lí giáodục theo phân cấp quản lí
Các chủ thể quản lí này thực hiện các nôi dung quản lí sau:
- Xác định mục tiêu giáo dục cho hệ thống giáo dục và từng phân hệ của
hệ thống đó một cách cụ thể với từng cấp, bậc học làm cơ sở cho việc hoạchđịnh chương trình giáo dục tương ứng
- Hoạch định chương trình giáo dục với tư cách là chuẩn trong giáo dục
để các phân hệ của hệ thống giáo dục và các nhà trường/cơ sở giáo dục củamỗi phân hệ có cơ sở phát triển chương trình và kế hoạch thực hiện chươngtrình giáo dục của mình Ví dụ: ở đại học, sau khi có chương trình khung của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào khung chương trình, các trường xây dựngchương trình cho các ngành đào tạo và lập kế hoạch để triển khai chươngtrình đó Với giáo dục phổ thông, các chương trình giáo dục đã được xác định
cụ thể, các trường không có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình phát triểnchương trình giáo dục Tuy nhiên, xu hướng gia tăng khả năng của các trườngvào quá trình phát triển chương trình giáo dục sẽ được quan tâm triển khaitrong tương lai
Trang 35- Khai thác, sử dụng tổ chức thực hiện các nguồn lực hỗ trợ nhàtrường/cơ sở giáo dục trong việc triển khai chương trình giáo dục thông qua
hệ thống công cụ như chính sách, các nguồn viện trợ theo dự án, theo chươngtrình mục tiêu v.v
- Giám sát và đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục ở nhàtrường và cơ sở giáo dục
2/ Các chủ thể quản lí trong (của) nhà trường
Đây là các chủ thể có vai trò trực tiếp trong quản lí quá trình giáo dục ở
cơ sở Với các chủ thể này, nhà trường trở thành khách thể quản lí đối vớihoạt động quản lí của họ Chất lượng, hiệu quả của chương trình giáo dục,chất lượng của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng quản lí quátrình giáo dục của các chủ thể này
Nội dung quản lí nhà trường của các chủ thể quản lí trong nhà trườngđược xác định với những vấn đề chính sau:
1/ Đảm bảo chất lượng của quá trình giáo dục thông qua 3 hình thức: họctập trên lớp, hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động lao động kĩ thuật hướngnghiệp và dạy nghề
2/ Sử dụng, xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất nhà trường, quản lí tàichính, tổ chức các hoạt động kinh tế phù hợp nhằm đảm bảo hoạt động dạy vàhọc của giáo viên và học sinh
3/ Xây dựng tập thể giáo viên và học sinh, các đoàn thể của nhà trườngđảm bảo 2 mặt chế độ và chính sách nhằm thực hiện nâng cao đời sống vậtchất và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên
4/ Thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá của các cấp nhằm đánh gíakịp thời chất lượng các bộ môn văn hoá của học sinh, chất lượng các hoạtđộng lao động, kết quả hoạt động rèn luyện sức khoẻ, chất lượng giảng dạycủa giáo viên, chất lượng giáo dục, tư tưởng, giáo dục học sinh
Trang 36Chủ thể quản lí trong nhà trường bao gồm: Lãnh đạo nhà trường (Bangiám hiệu nhà trường mà đại diện là Hiệu trưởng), Tổ trưởng chuyên môn vànhà giáo Mỗi chủ thể nói trên khác nhau về vị trí, vai trò trong bộ máy quản
lí của nhà trường nên họ quản lí quá trình giáo dục với nội dung khác nhau
- Lãnh đạo nhà trường (trực tiếp là Hiệu trưởng) thực hiện các nội dung quản lí quá trình giáo dục như sau:
+ Xác định mục tiêu của quản lí quá trình giáo dục tại đơn vị mình Mục tiêuquản lí quá trình giáo dục được cụ thể hoá trong kế hoạch nhiệm vụ năm học, tậptrung vào việc phát triển nhân cách toàn diện của học sinh trong nhà trường
+ Hoạch định kế hoạch giáo dục cho năm học, học kì theo định chuẩncủa chương trình giáo dục và thực tiễn của nhà trường
+ Quản lí nội bộ nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khốiđoàn kết cơ sở hướng đến thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường + Xây dựng môi trường giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường vàcác điều kiện phục vụ cho dạy học và giáo dục của nhà trường
+ Quản lí sử dụng nguồn lực tài chính của nhà trường phục vụ cho hoạtđộng giáo dục
+ Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, sử dụng hợp lí và tổ chức lao độngkhoa học cho giáo viên thông qua sử dụng thời khoá biểu
+ Tạo lập và duy trì tốt mối quan hệ giữa nhà trường gia đình và xã hội.thực hiện dân chủ hoá trong quản lí nhà trường và các hoạt động khác
+ Chỉ đạo phổ cập giáo dục trên địa bàn hành chính của trường mộtcách phù hợp
- Tổ trưởng chuyên môn
Tổ chuyên môn là hạt nhân của mọi hoạt động giáo dục trong nhàtrường Tổ chuyên môn vững mạnh thì nhà tường mới vững mạnh Quản lí ở
Trang 37tổ chuyên môn có tác dụng trực tiếp đối với các hoạt động giáo dục được thựchiện trong phạm vi của tổ và của cả nhà trường Nội dung quản lí quá trìnhgiáo dục ở tổ chuyên môn được xác định như sau:
+ Căn cứ vào kế hoạch năm học, học kì của nhà trường, tổ trưởng chỉđạo xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn
+ Phân công giáo viên giảng dạy theo thời khoá biểu và bồi dưỡng giáo viên.+ Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch hoạt động cá nhân của từng giáoviên và chỉ đạo các hoạt động giáo dục của giáo viên
+ Giám sát, kiểm tra đánh giá các hoạt động của giáo viên và tập thểhọc sinh thuộc phạm vi quản lí của tổ
+ Quản lí trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy học vàgiáo dục trong phạm vi hoạt động của tổ chuyên môn
- Nhà giáo
Nhà giáo thực hiện quản lí quá trình giáo dục một cách trực tiếp thôngqua quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục cụ thể Cá nhân nhà giáo, theophân công của tổ bộ môn có trách nhiệm quản lí các hoạt động giáo dục củamình Nội dung quản lí hoạt động giáo dục của giáo viên bao gồm:
+ Căn cứ vào kế hoạch của tổ chuyên môn, lập kế hoạch hoạt động của
cá nhân
+ Thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục theo thời khoá biểu.+ Quản lí hoạt động của người học trong giờ lên lớp và các hoạt độngkhác được thực hiện ngoài giờ học
+ Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm và các lớp giáo viên thựchiện hoạt động dạy và giáo dục của mình
+ Quản lí các trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy họctheo kế hoạch dạy học và giáo dục của bản thân
+ Thiết lập và duy trì mối quan hệ với các lực lượng xã hội (trước hết là
Trang 38những quan hệ xã hội ngoài nhà trường trong phạm vi lớp học sinh).
Tóm lại, khái niệm quản lí nhà trường cần được hiểu linh hoạt hơn sovới quan niệm hiện nay vẫn coi quản lí nhà trường là công việc của Ban giámhiệu nhà trường Quản lí nhà trường trước hết phải là quản lí của các chủ thểquản lí giáo dục bên ngoài nhà trường Các chủ thể quản lí trong nhà trườngthực hiện quản lí quá trình giáo dục diễn ra trong phạm vi nhà trường củamình Nói một cách chính xác hơn, các chủ thể quản lí trong nhà trường thựchiện quản lí hoạt động giáo dục (hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục theonghĩa hẹp) Trên thực tế, các chủ thể quản lí trong nhà trường không có nhiều cơhội để tác động đến những thành tố của quá trình giáo dục nói chung
1.2.4 Trường tiểu học và hoạt động chuyên môn
vụ công dân và có điều kiện để tiếp tục học lên bậc học cao hơn
1.2.4.2 Hoạt động chuyên môn
Hoạt động chuyên môn của trường tiểu học gồm những nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn
- Tổ chức hoạt động dạy và học
- Tổ chức hoạt động của tổ chuyên môn
- Tổ chức hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh
- Tổ chức công tác kiển tra, đánh giá hoạt động chuyên môn
- Tổ chức các hoạt động giáo dục khác
Trang 391.2.5 Quản lý hoạt động chuyên môn
Quản lý chuyên môn là: Hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạchviệc thực hiện quy chế chuyên môn hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằmlàm cho hệ điều hành theo đường lối, theo nguyên lý giáo dục của Đảng, thựchiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quản lý hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học được thực hiện ở cấp
độ vĩ mô và vi mô
1.2.5.1 Quản lý hoạt động chuyên môn ở cấp độ vĩ mô
Quản lý hoạt động chuyên môn ở cấp vĩ mô là quản lý của các cơ quanquản lý nhà nước về giáo dục đối với hoạt động chuyên môn ở cấp tiểu học.Nội dung quản lý hoạt động chuyên môn ở cấp độ này bao gồm các vấn
đề như:
- Hoạch định mục tiêu, chương trình giáo dục của cấp học
- Hoạch định kế hoạch khung để thực hiện chương trình giáo dục của cấp học
- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của cấp học
- Quy định các điều kiện về nguồn lực để đảm bảo chất lượng giáo dụccủa cấp học
- Kiểm tra đánh giá thực hiện nhiệm vụ năm học của các đơn vị thuộccấp quản lý
1.2.5.2 Quản lý hoạt động chuyên môn ở cấp vi mô
Quản lý hoạt động chuyên môn ở cấp vi mô là quản lý hoạt động chuyênmôn ở cơ sở giáo dục tiểu học mà nòng cốt là trường tiểu học (sau đây gọichung là trường tiểu học)
Với quan niệm về hoạt động chuyên môn đã trình bày và quy định vềQuy chế hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học, có thể hiểu: quản lý hoạtđộng chuyên môn ở trường tiểu học là quản lý các hoạt động chuyên môn vàquản lý việc thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học Theo đó,
Trang 40nội dung chính của quản lý hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học bao gồmquản lý các hoạt động chuyên môn và quản lý việc thực hiện quy chế chuyênmôn với các nội dung cụ thể sau:
Chuẩn bị giáo án:
Đảm bảo soạn đủ số lượng giáo án (1 giáo án/giờ dạy)
- Thể hiện rõ các bước lên lớp trong giáo án;
- Xây dựng đủ kiến thức kỹ năng cơ bản, có liên hệ với thực tế
- Nêu cụ thể công việc trên lớp của thầy và trò
Thực hiện chương trình giảng dạy:
Thực hiện đúng phân phối chương trình và giảng dạy theo đúng nội dungtheo tinh thần đổi mới phương pháp dạy - học
Kiểm tra, chấm và chữa bài:
- Đủ số lượng bài theo phân phối chương trình
- Đề kiểm tra phù hợp với yêu cầu chương trình
- Chấm và chữa bài công bằng, chu đáo
Chấm bài chính xác theo biểu điểm
Khi chấm có chữa bài
Có nhận xét và lời khuyên
Thực hành thí nghiệm - sử dụng đồ dùng:
Đảm bảo thực hành đầy đủ thí nghiệm theo quy định
Sử dụng đồ dùng một cách hiệu quả trong giờ dạy
Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng:
Tham gia bồi dưỡng theo kế hoạch và tự bồi dưỡng thường xuyên
1.2.6 Quan hệ quản lý
Quan hệ quản lí giáo dục là đối tượng của Lí luận quản lí giáo dục Đó
là những quan hệ giữa người với người (trên bình diện cá nhân và tập thể)trong quản lí giáo dục, những quan hệ phát sinh trong sự vận hành của hệ