1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO

195 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển từ việc truyềnthụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duytrong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đề tài hoàn thành nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Hóa học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, đặc biệt là nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Xuân Trường.

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân

Trường, thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, đọc bản thảo, bổ sung và giúp đỡ

tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, phòng quản lý Sau Đại học và các thầy cô giáo của trường Đại học sư phạm Hà Nội

đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Đồng thời, tôi trân trọng cảm ơn quý thầy, cô giảng dạy ở khoa Hóa, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã có nhiều ý kiến quý báu và lời động viên giúp tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh các trường THPT Tiên Hưng, THPT Bắc Đông Quan, THPT Nam Đông Quan, THPT

Mê Linh – tỉnh Thái Bình, cũng như quý thầy cô và các em học sinh một số trường ở các tỉnh Hải Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm để hoàn thành luận văn.

Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn luôn quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này!

Tác giả

Hoàng Thị Mỹ Hạnh

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Giả thuyết khoa học 5

9 Những đóng góp của đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Đổi mới phương pháp dạy học 6

1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học 6

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học 6

1.2 Tự học 7

1.2.1 Khái niệm tự học 7

1.2.2 Năng lực tự học 7

1.2.3 Các năng lực tự học cơ bản 8

1.2.4 Các kĩ năng tự học 10

1.2.5 Động cơ hoạt động tự học 11

1.2.6 Các hình thức tự học 12

1.2.7 Chu trình tự học của học sinh 14

1.2.8 Vai trò của tự học 15

1.3 Bài tập hoá học 18

1.3.1 Khái niệm bài tập hoá học 18

1.3.2 Tác dụng của bài tập hoá học 19

1.3.3 Phân loại bài tập hoá học 20

1.3.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hoá học .21

1.3.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hoá học 21

1.3.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hoá học 23

1.3.5 Xu hướng phát triển của bài tập hoá học 24

Trang 3

1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở

trường trung học phổ thông 25

1.4.1 Mục đích điều tra 25

1.4.1.1 Về phía học sinh 25

1.4.1.2 Về phía giáo viên 25

1.4.2 Đối tượng điều tra 25

1.4.3 Mô tả phiếu điều tra 25

1.4.3.1 Phiếu điều tra cho học sinh 26

1.4.3.2 Phiếu điều tra cho giáo viên 26

1.4.4 Kết quả điều tra 26

1.4.4.1 Phiếu điều tra cho học sinh 26

1.4.4.2 Phiếu điều tra cho giáo viên 29

1.4.5 Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra 30

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 33

2.1 Phân tích chương trình hoá học 11 trung học phổ thông nâng cao phần dẫn xuất của hiđrocacbon 33

2.1.1 Mục tiêu chương trình phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao 33

2.1.1.1 Mục tiêu của chương dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol 33

2.1.1.2 Mục tiêu của chương dẫn xuất Andehit – Xeton – Axit cacboxylic 34 2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần dẫn xuất của hiđrocacbon lớp 11 nâng cao 35

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 35

2.2.1 Đảm bảo tính khoa học 35

2.2.2 Đảm bảo tính logic 36

2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 36

2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 36

2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 36

2.2.6 Đảm bảo tính mục tiêu 36

2.2.7 Phù hợp với điều kiện thực tế 37

2.2.8 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 37

Trang 4

2.2.9 Bám sát nội dung dạy học 37

2.2.10 Chú trọng kiến thức trọng tâm 38

2.2.11 Gây hứng thú cho người học 38

2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 38

2.3.1 Bước 1: Nghiên cứu nội dung 38

2.3.2 Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm 38

2.3.3 Bước 3: Sưu tầm, biên soạn 38

2.3.4 Bước 4: Tham khảo ý kiến giáo viên 39

2.3.5 Bước 5: Chỉnh sửa, hoàn thiện 39

2.4 Một số phương pháp xây dựng bài tập mới 39

2.4.1 Phương pháp tương tự 39

2.4.1.1 Tương tự loại 1 40

2.4.1.1 Tương tự loại 2 40

2.4.2 Phương pháp đảo cách hỏi 40

2.4.3 Phương pháp kế thừa 41

2.4.4 Phương pháp xây dựng bài tập cung cấp kiến thức 41

2.4.5 Phương pháp tổng quát 42

2.5 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải 42

2.5.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần dẫn xuất của hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao 43

2.5.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng bài học 50

2.5.2.1 Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon 50

2.5.2.2 Ancol 58

2.5.2.3 Phenol 71

2.5.2.4 Anđehit-xeton 76

2.5.2.5 Axitcacboxylic 86

2.6 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon hoá học 11 nâng cao 98

2.6.1 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học trên lớp 98

2.6.1.1 Sử dụng bài tập khuyến khích học sinh nhìn nhận một vấn đề hay một bài toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau 98

2.6.1.2 Sử dụng bài tập có tình huống nêu vấn đề 99

2.6.1.3 Sử dụng bài tập hướng dẫn học sinh lập sơ đồ hợp thức của quá trình chuyển hóa 100

Trang 5

2.6.1.4 Sử dụng bài tập có nhiều cách giải 100

2.6.2 Hướng dẫn học sinh tự học và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ở nhà 102

2.6.2.1 Hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ở nhà 102

2.6.2.2 Hướng dẫn học sinh tự học 103

Tiểu kết chương 2 105

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 106

3.1 Mục đích thực nghiệm 106

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 106

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 106

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 107

3.2.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 107

3.2.2 Chọn GV thực nghiệm: 107

3.2.3 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 107

3.3.Tiến trình thực nghiệm 108

3.3.1 Trao đổi với giáo viên về việc hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập và phương pháp tiến hành thực nghiệm 108

3.3.2 Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định tính và định lượng .109

3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 109

3.5 Kết quả thực nghiệm 111

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 111

3.5.1.1 Bài kiểm tra lần 1 111

3.5.1.2 Bài kiểm tra lần 2 113

3.5.1.3 Bài kiểm tra lần 3 116

3.5.2 Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập 118

3.5.3 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 121

Tiểu kết chương 3 124

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ với sự tiến bộ không ngừng củakhoa học – công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ về công nghệ thông tin Để kịp thờinắm bắt những tri thức khoa học kĩ thuật tiên tiến, mỗi con người phải không ngừnghọc hỏi, vươn lên tự hoàn thiện mình Trước nhu cầu tất yếu của xã hội, đổi mới vànâng cao chất lượng giáo dục ngay từ nhà trường phổ thông là bài toán lâu nay cácnhà quản lí, các nhà nghiên cứu đang đi tìm lời giải

Trong xu thế toàn cầu hoá, mục tiêu của giáo dục Việt Nam đến năm 2020 làđổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dânchủ hoá và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện,gồm giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, đảmbảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân

Về cách học, khuyến khích học sinh lấy tự học là chính, học tập một cách chủ động

và sáng tạo Nghị quyết kỳ họp lần 2, BCH Trung ương Đảng khóa VIII trong phần

IV "Những giải pháp chủ yếu" nêu ra: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo củangười học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vàoquá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho họcsinh” Luật giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tíchcực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học nănglực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Khoản 2Điều 5)

-Tuy nhiên trong thực tế, những điều đó chưa được thực hiện tốt; còn nhiềuyếu kém và thậm chí xa rời mục tiêu, hạ thấp yêu cầu học tập đến mức chỉ còn quantâm đến điểm số mà không chú ý đến chất lượng Bên cạnh đó, do thời gian dạy họcmôn hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết và giảibài tập phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao chưa được nhiều, khôngphải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức

mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy, việc tự học ở nhà của HS là rất quan trọng vàcần thiết Do đó, việc hình thành và rèn luyện cho người học sự hiểu biết, tâm thế

Trang 9

chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo, tự điều khiển quá trình học tập của bản thân,phát huy năng lực tự học; từ đó tạo nên cuộc cách mạng về học tập là việc làm cấpthiết của các nhà giáo dục

Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành việc đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS và bồi dưỡng phương pháp họctập mà cốt lõi là tự học để họ tự học suốt đời

Một trong những phương pháp hỗ trợ HS tự học môn hóa học ở trường THPT

là sử dụng HTBT BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyểntải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất

Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO ”.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

* Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới

Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thếgiới Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

 “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tác giả

đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học

 Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” của Adam Khoo do Trần ĐăngKhoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản Với cuốn sáchnày, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo củacon người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới

* Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Ở nước ta, truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu họccủa nhân dân ta Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từnăm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương đểmọi người noi theo Người từng nói “Còn sống thì còn học” và “Về cách học phảilấy tự học làm cốt” hay “Tự học là một cách hành động”

Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết, một số cuốnsách về tự học như:

Trang 10

PGS.TS Đỗ Xuân Thảo và Lê Hải Yến có bài viết: “Đọc sách hiệu quả-Một kỹ năng quan trọng để tự học thành công” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 198 năm 2008

PGS.TS Nguyễn Văn Bản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho HS” đăng trên

Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009

Cuốn “Học và dạy cách học” do GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB

ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viếtmột cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”

* Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn hóa học [2], [8], [9], [14]

Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải

có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng TN, năng lựckhái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo

Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành hóa họcnghiên cứu về vấn đề hỗ trợ học sinh tự học và sử dụng hệ thống BTHH ở trườngTHPT ở các khía cạnh, mức độ khác nhau như:

1 Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng HTBT hóa học bồi dưỡng

học sinh khá giỏi lớp 10 THPT (ban nâng cao), Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP

Hà Nội

2 Lê Văn Dũng (2001), Phát triển tư duy cho HS thông qua BTHH, Luận án tiến sĩ.

ĐHSP Hà Nội

3 Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của

HS qua BTHH vô cơ lớp 11- Ban KHTN, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Hà Nội.

4 Đỗ Văn Minh (2007), Xây dựng HTBT hoá học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong

bồi dưỡng HS giỏi ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Hà Nội.

5 Nguyễn Thị Ngà (2010), Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo

mođun phần kiến thức cơ sở hoá học chung – chương trình trung học phổ thông chuyên hoá học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh, Luận án tiến sĩ.

ĐHSP Hà Nội

6 Lê Như Nguyện (2009), Rèn trí thông minh cho học sinh thông qua việc giải bài

tập trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Vinh.

7 Nguyễn Thị Tâm (2004), Xây dựng HTBT về cách xác định CTPT hợp chất hữu

cơ trong chương trình hoá học THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP Huế.

Trang 11

8 Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng HTBT hoá học gắn với thực

tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP

Tp.HCM

9 Vũ Anh Tuấn (2006), Xây dựng HTBT hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi

dưỡng HS giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ ĐHSP Hà Nội.

Như vậy, việc sử dụng hệ thống BTHH phần dẫn xuất hiđrocacbon (hợp chất hữu cơ có nhóm chức) hóa học 11 nâng cao hỗ trợ việc tự học cho HS vẫn chưa được

quan tâm đúng mức Điều đó gây trở ngại lớn cho HS khi học phần này Do đó, xâydựng và sử dụng HTBT hỗ trợ việc tự học cho HS phần dẫn xuất hiđrocacbon hóahọc 11 nâng cao là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuấthiđrocacbon (hợp chất hữu cơ có nhóm chức) hóa học 11 nâng cao nhằm nâng caochất lượng dạy và học bộ môn Hóa học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ việc tự học cho HS

trong quá trình dạy học

- Tuyển chọn, xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon

hóa học 11 nâng cao trường THPT

- Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả.

- TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp

đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuấthiđrocacbon hóa học 11 nâng cao

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

* Các phương pháp nghiên cứu lí luận

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạyhọc hóa học và các tài liệu liên quan đến đề tài

Trang 12

- Truy cập thông tin liên quan đến đề tài trên internet.

- Phân tích và tổng hợp các tài liệu đã thu thập được

* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi

halogen-Ancol-8 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT hỗ trợ HS tự học phần

dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy họchóa học hiện nay ở trường THPT

9 Những đóng góp của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong quá trình tự học

của HS thông qua việc tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống phần dẫn xuấthiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao để hỗ trợ HS tự học

- Đề xuất cách lựa chọn các dạng BTHH, nội dung và phương pháp để hỗ trợviệc tự học của HS; giúp HS rèn luyện các kĩ năng giải BTHH góp phần nâng caochất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

- Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình học hóa học ở trườngTHPT

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đổi mới phương pháp dạy học

1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới

WTO ngày 11.01.2007, tức là đã trực tiếp tham gia tích cực vào quá trình toàn cầuhóa, hội nhập quốc tế Như vậy, những yêu cầu của nền kinh tế tri thức, xã hội trithức và vấn đề toàn cầu hoá cũng trực tiếp tác động đến kinh tế, xã hội cũng như thịtrường lao động của Việt Nam

Với mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhậpvới các nước trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi giáo dục nước nhà phải tạo nênnhững sản phẩm giáo dục mới với thương hiệu “made in Vietnam” có uy tín

Đó là những con người lao động có tính sáng tạo, thích ứng với mọi sự phát triển nhanh và đa dạng của xã hội Điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển.

1.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học

Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số201/2001/QĐ- TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), ở mục5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyềnthụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duytrong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhậnthông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lựccủa mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trongquá trình học tập, ”

Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông được diễn ra theo bốn hướng chủ yếu:

+ Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh

+ Bồi dưỡng phương pháp tự học

+ Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Trang 14

+ Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

Chiến lược phát triển Hoá học Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thời kì 2011 đến 2020 nêu rõ việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học hoá học:

1 Sử dụng rộng rãi, thường xuyên, thành thạo công nghệ thông tin và các phươngtiện kĩ thuật dạy học

2 Hoàn thiện các phương pháp dạy học truyền thống, sử dụng các phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học mới tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được hoạt độngđộc lập, sáng tạo

3 Đổi mới phương pháp học tập của học sinh, sinh viên giúp cho họ có năng lực biếtcách học, biết tự học

4 Biến qúa trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của GV

5 Thay đổi cách đánh giá của thày và của các cấp quản lý giáo dục, không chỉ đánhgiá kiến thức kỹ năng của người học, mà phải đánh giá năng lực, đạo đức của ngườihọc và mức độ đạt được mục tiêu dạy học

Trong các xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng

tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy vàhọc hiện nay

1.2 Tự học

1.2.1 Khái niệm tự học

- Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơbắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiếnthủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi

đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đócủa nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[20, tr.59-60]

Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.

1.2.2 Năng lực tự học [37]

Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng

Trang 15

lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái

độ, động cơ, ý chí,…của người học) chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng.

Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, cầnphải xác định được các năng lực và trong quá trình dạy học, GV cần hướng dẫn và tạo

cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó

1.2.3 Các năng lực tự học cơ bản [23], [37]

Cần bồi dưỡng và phát triển năm năng lực tự học cơ bản sau cho HS:

* Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sựvật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những

lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột,các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khaithông, khám phá, làm sáng tỏ, …Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phảithâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụngnhững hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó,dường như xuất hiện“linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải saunhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết

* Năng lực giải quyết vấn đề

Trong cuộc sống, nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi ngườingày càng trưởng thành, thích nghi tốt hơn và xây dựng cho mình cuộc sống có chấtlượng cao hơn Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết;xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khíacạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận

Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tinphong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đếnvới giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ

Trang 16

những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vàorất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thứccần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức,nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học.

* Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề

Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hìnhthành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rấtnhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đichệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vìvậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng

so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trênlogic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu

* Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)

Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trongthực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thựctiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thunhận thêm kiến thức mới

Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lạilàm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đềlại có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người họcthâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khátđược tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ họctập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mớilàm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp.Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả củahoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêmcác kiến thức được học từ SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họlại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩnăng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình

Trang 17

* Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏiphải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tựđánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luônluôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả hơn

Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giảiquyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi HSphải luôn đánh giá và tự đánh giá HS phải biết được mặt mạnh, hạn chế của mình,cái đúng sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đườnghọc tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá, HS khó có thể tự tin trongphát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tựhọc ở HS Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học

Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS rèn luyện năng lực tự học, tựnghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyềnthụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người hướngdẫn HS nghiên cứu

1.2.4 Các kĩ năng tự học [3]

HS cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau:

- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản,chủ yếu, sắp xếp, hệ thống hoá theo trình tự hợp lí, khoa học

- Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thântrong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm, ở cơ sở thực tế

- Biết vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện họctập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập )

- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép đạt hiệu quảhọc tập cao

- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm, cả khoá học

- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận,tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin

- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin

Trang 18

- Biết lắng nghe và thông tin trí thức, giải thích tài liệu cho người khác.

- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin

- Biết kiểm tra – đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học

- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng

1.2.5 Động cơ hoạt động tự học [20], [22], [23],[25], [37]

Giống như động cơ hoạt động nói chung, động cơ tự học cũng có nhiều cấp độkhác nhau, bắt đầu từ sự thoả mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ, tự khẳng địnhmình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầuhiểu biết, lòng khao khát tri thức và được nảy sinh trong mối quan hệ với đối tượng

tự học

Động cơ có thể có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ những tácđộng bên ngoài và được cá nhân hoá thành hứng thú, tâm thế, niềm tin, của bảnthân Sự nảy sinh động cơ tự học lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm buộc phảihoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy hoạt động tự học của HS

Động cơ có nguồn gốc bên trong: Xuất phát từ logic chính nội dung tri thứckhoa học làm nảy sinh trong HS lòng khao khát hiểu biết sâu sắc, thoả mãn sự tò mò,hoàn chỉnh kiến thức, thử thách năng lực trí tuệ của chính mình

Động cơ tự học không có sẵn mà phải được hình thành dần chính trong quátrình HS ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập Khi bắt tay vào giải quyếtcác nhiệm vụ tự học, mục đích tự học xuất hiện dưới hình thức một biểu tượng chung

về sự hoàn thành nhiệm vụ đó Quá trình giải quyết các nhiệm vụ tự học, biểu tượngban đầu ngày càng được cụ thể hoá, những mục đích bộ phận tiếp theo được hìnhthành, dẫn HS tới mục đích cuối cùng là chiếm lĩnh được tri thức khoa học

Khi động cơ đủ mạnh, tuỳ vào điều kiện của bản thân để lựa chọn hình thức,nội dung và xây dựng kế hoạch tự học thích hợp cho mình Trong quá trình tự học,việc chiếm lĩnh được tri thức sẽ nâng tầm hiểu biết của người học, làm tăng khả năngthích ứng với công việc và cuộc sống, do đó làm nảy sinh tiếp ham muốn nâng caohiểu biết, động cơ học tập được củng cố và nâng lên mức cao hơn

Như vậy, động cơ tự học không xuất hiện ngẫu nhiên hay do người khác mangđến mà chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân nhờ các tác độngphù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình tự học có hiệu quả

Trang 19

1.2.6 Các hình thức tự học

Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn, khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học

có thể diễn ra theo 3 cách sau [22, tr.61]:

- Có SGK rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách,qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (như thiếukiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn ) Đó là tự học ở mức cao

- Có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệuhoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướngdẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trongquá trình chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn

- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng nhữnghình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máymóc đặt ngay tại lớp Thầy làm việc hướng dẫn như ở trường hợp 2 Đó là học giápmặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn

Khách quan mà xét thì thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách 1 đếncách 3 Nhưng sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫnnhau Theo cách 1 thì người học gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi gặp chỗ khônghiểu không biết hỏi ai, phải lúng túng loay hoay mất nhiều thì giờ Nhưng điều đóthật đáng quý xét về phương diện chúng đòi hỏi người học phải phát huy nội lực cao

và do đó nội lực phát triển mạnh Cách thứ 3 có nhiều thuận lợi nhất nhưng thuận lợi

đó có thể biến thành khó khăn nếu thầy không cảnh giác với việc làm thay trò (nhữngviệc trò tự làm được) và trò không cảnh giác với việc ỷ lại vào thầy

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang [17] thì việc tự học có thể diễn ra theo 2cách sau:

* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV

- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiếnthức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tựhọc của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập, ví dụ như học bài hay làmbài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ

Trang 20

thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kếtquả học bài, làm bài tập ở nhà của họ.

- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảnggiải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhậnđược sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánhgiá được kết quả học tập của mình

- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xâydựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tracứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máytính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biếthỏi ai

- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV

ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử dụngSGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sựhướng dẫn về phương pháp học

Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày

kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiếnthức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thìbiết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khihọc xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vậndụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoàiviệc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để pháthiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá

Trang 21

kết quả

Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy

định của Bộ GD-ĐT, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ 2,5- 3 tiết/tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu để HShoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời giantiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kĩnăng tự học cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động,ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không

có thói quen tự học Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phứctạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nêndành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó

Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thôngqua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,

tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới nhữngmục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động họccủa HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp, bố trí cáccông việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phươngtiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạtđộng tự học của chính mình

Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếmlĩnh tri thức khoa học đã được quy định thành kiến thức học tập trong chương trình vàSGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện họctập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,

1.2.7 Chu trình tự học của học sinh [20, tr.160-161]

Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:

Trang 22

Thời (1): Tự nghiên cứu

Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, địnhhướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo

ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

Thời (2): Tự thể hiện

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong cáctình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu củamình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo

ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học

Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khithầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửasai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)

1.2.8 Vai trò của tự học [2], [8], [14], [25]

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau:

- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy’- Gibbon

Chính vì vậy ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà

lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS

- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người

- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người

- Tự học khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn

- Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằmphát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng

Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn:

- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đườngquan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn

- “Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy: “Không thầy đốmày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triểnkhả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thể

Trang 23

dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mứcthấp nhất giá thành đào tạo.

PGS.TS Hoàng Anh, PGS.TS Nguyễn Thị Châu đã nêu vai trò của tự họcthành mấy điểm như sau [2, tr.125-126]:

- Tự học là phương thức tạo ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyếtđịnh trực tiếp đến chất lượng học tập của người học

- Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốntri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và côngtác sau này

- Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽrèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ độngtrong công việc

- Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phùhợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn

Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rấtquan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chấtlượng và hiệu quả của hoạt động học tập

- Thứ nhất, tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệptrong tương lai Chính trong quá trình tự học HS đã từng bước biến vốn kinh nghiệmcủa loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điềukiện cho HS hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc trithức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới

- Thứ hai, tự học không những giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng vàhiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thúthói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêmvốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi khôngngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay

- Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp HS

mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp HS hình thành được những phẩm chất trí tuệ

và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn

Trang 24

luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mênghiên cứu khoa học.

- Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí

và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở HS tiềm năng to lớn vốn có của

họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trởngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chấtlượng đào tạo

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tập thể

HS trong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viênkhuyến khích hướng dẫn HS tự học một cách đúng hướng và hiệu quả

Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lựcthúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năngđộng, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội,làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng

tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từcấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu,không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoávốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hànhtrang bước vào cuộc sống

Tổng hợp những ý kiến từ các tài liệu trên, theo chúng tôi tự học có vai trònhư sau:

- Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượngkiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý:học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn

- Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của

sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lạikết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thờigian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

- Tự học là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp củamỗi con người trên con đường lập nghiệp

Trang 25

- Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới

GD-ĐT, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính làcon đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sưphạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông

- Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặcbiệt đối với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiêncứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thíchứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt

- Tự học đang trở thành chìa khóa vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay

1.3 Bài tập hoá học

1.3.1 Khái niệm bài tập hoá học

Theo từ điển tiếng việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm đểvận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học.Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tậpđịnh lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện những phép tínhnhất định

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bàitoán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thứchay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo TN

Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trìnhdạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyếthoạt động Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 11 là một ”bài tập” và ngược lại,đối với HS lớp 11, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là

“bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó

có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “ngườigiải” Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thốngtoàn vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau

- Bài tập là một hệ thông tin chính xác, bao gồm 2 tập hợp gắn bó chặt chẽ,tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu

Trang 26

- Người giải (hệ giải) bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải(các cách biến đổi, thao tác trí tuệ )

Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập

Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài

tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là

nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học

và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn

BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học.

1.3.2 Tác dụng của bài tập hoá học [19], [26]

Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việcthực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phươngpháp dạy học hiệu quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấykiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưngphấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việcnâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người

BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HSvận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứukhoa học

- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng những kiến thức đã học, biến chúngthành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyênnhư M.A Đanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thểvận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”

Trang 27

- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ cóvận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc.

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất

- Rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằng PTHH, kỹnăng tính toán, kỹ năng thực hành

- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểusâu mới hiểu được trọn vẹn) Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, cóthể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS.Khi giải bài tập bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HStăng nên gấp nhiều lần so với một HS giải nhiều bài toán bằng một cách và khôngphân tích đến nơi đến chốn

- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hìnhthành khái niệm, định luật ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực,lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bàitập TN định lượng

- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp họctập hợp lý

- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cáchchính xác

- BTHH có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trungthực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kếhoạch ), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập TN

Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả: không phải một BTHH “hay” thìluôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là “ người sử dụng nó” Làm thếnào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của

bài tập, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH mới thật sự có ý nghĩa.

1.3.3 Phân loại bài tập hoá học [8], [26], [38]

Trong nhiều tài liệu về phương pháp dạy học hóa học, các tác giả phân loạiBTHH theo những cách khác nhau dựa trên những cơ sở khác nhau

1 Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, chia BTHH thànhbài tập lí thuyết và bài tập TN

Trang 28

2 Dựa vào tính chất của bài tập, chia thành bài tập định tính và bài tập địnhlượng.

3 Dựa vào nội dung của bài tập chia thành: Bài tập hóa đại cương, bài tậphóa vô cơ, bài tập hóa hữu cơ

4 Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản hoặc phức tạp chiathành bài tập cơ bản hay bài tập tổng hợp

5 Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài chia thành: Bài tập xác định CTPT củahợp chất, tính thành phần % của hợp chất, nhận biết, tách chất, điều chế,

6 Dựa vào chức năng của bài tập chia thành: Bài tập kiểm tra sự hiểu vànhớ, bài tập rèn luyện tư duy khoa học,

7 Dựa vào mục đích dạy học chia thành: Bài tập để hình thành kiến thứcmới; bài tập để rèn luyện, củng cố kỹ năng, bài tập kiểm tra - đánh giá

8 Dựa vào hoạt động nhận thức của HS trong quá trình tìm kiếm lời giảichia thành bài tập cơ bản và bài tập phức hợp

9 Dựa vào phương pháp hình thành kỹ năng giải bài tập chia thành: Bài tậpmẫu, bài tập tương tự xuôi ngược, bài tập có biến đổi và bài tập tổng hợp

10 Dựa vào hình thức kiểm tra - đánh giá, chia thành bài tập trắc nghiệm tựluận (hay bài tập tự luận) và bài tập trắc nghiệm khách quan (hay bài tập trắc nghiệm)

Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt vì trong bất kì loại bài tậpnào của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều bài tậpcủa cách phân loại khác Mỗi cách phân loại bài tập ở trên đều có những mặt mạnh

và mặt yếu của nó, mỗi cách phân loại đều nhằm phục vụ cho những mục đích nhấtđịnh và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn phân loại BTHH

1.3.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hoá học [10]

1.3.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hoá học

Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau:

a) Nghiên cứu đầu bài

+ Đọc kỹ đầu bài.

+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồcho dễ sử dụng)

Trang 29

+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.

+ Viết PTHH có thể xảy ra

b) Xây dựng tiến trình luận giải

Thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xétmột vài các bài tập phụ liên quan Tính logic của bài tập có chặt chẽ hay không là ởgiai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trìnhluận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập Thông qua đó HS không chỉnắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận

để giải bất kỳ một bài tập nào khác

c) Thực hiện tiến trình giải

Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải mộtcách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn làđặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phươngtrình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)

d) Đánh giá việc giải

Trên thực tế ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bàylập luận của mình một cách sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết thúc Như vậychúng ta đã bỏ mất một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học, đó là nhìn lạicách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi Thông qua việc này, HS cóthể củng cố kiến thức, nhận ra sai lầm, tìm được cách tối ưu và phát triển khả nănggiải bài tập của mình Người GV phải hiểu và làm cho HS hiểu: không có một bài tậpnào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn vấn đề để suy nghĩ Từ đó rèn luyện cho

HS cách tư duy tích cực, không ngừng sáng tạo, không ngừng tự tìm tòi, học hỏi

Tuy nhiên, việc vận dụng các giai đoạn trên vào hướng dẫn HS giải mộtBTHH sao cho hiệu quả còn phụ thuộc nhiều vào sự khéo léo, linh hoạt của GV.Việc đặt câu hỏi như thế nào, sử dụng phương pháp dạy học nào và tổ chức các hoạtđộng của HS như thế nào để HS thực hiện tốt quá trình giải (đặc biệt là giai đoạnluận giải) đồng thời nắm chắc cách giải của bài tập để có thể vận dụng vào các bàitập tiếp theo thì chưa được đề cập

Trang 30

1.3.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hoá học

- Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả quá trình nhận thức baogồm “một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và kháiniệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏitương ứng”

- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹ

năng, sẽ trở thành công cụ tư duy của HS.

- Theo M.A Đanilôp “ Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng cómục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động

lý thuyết cũng như thực tiễn Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trênkiến thức Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động mànhững hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kỹ xảo là mức độcao của sự nắm vững kỹ năng Nếu như kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tựkiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là hành động đã được tự động hoá, trong đó sự

tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, nhưmột tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng

- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vậndụng được

+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiếnthức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu mà

HS cần đạt được trong giờ học tập

+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết, đưa được

nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân, dẫn đến có khả năng vận dụng nómột cách linh hoạt và sáng tạo

+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìmđược kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới.Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơncàng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mốiquan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vậndụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng được hình thành vàcủng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao

Trang 31

- Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắncần phải hình thành cho họ kỹ năng vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thứctập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó

là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quátrình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ được nắmvững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy đểgiải quyết các bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữanắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:

1.3.5 Xu hướng phát triển của bài tập hoá học [ 6], [7], [27], [29]

Theo quan điểm thực tiễn và đặc thù của bộ môn hóa học trong định hướngxây dựng SGK mới của Bộ giáo dục và đào tạo (2002) thì xu hướng phát triển chungcủa BTHH hiện nay là:

- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích không nặng về tính toán mà tậptrung vào rèn luyện và phát triển các kĩ năng cho HS, các năng lực tư duy của HS

- BTHH phải chú ý tới việc rèn luyện các kĩ năng, thao tác làm thí nghiệm

- BTHH phải chú ý tới việc mở rộng kiến thức và có sự liên hệ với thực tiễn,

có sự ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn

- Các BTHH định lượng được xây dựng trên cơ sở không phức tạp hóa bởicác thuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học

- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển các bài tập tự luận, tínhtoán sang bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường

- Đa dang hoá các loại bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ

đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm

Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tưduy của HS ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi cótính chất lí thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là những bài tập có tính chấtrèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, độclập của HS

Nắm vững kiến thức Vận dụng kiến thức

Trang 32

1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường trung học phổ thông

1.4.1 Mục đích điều tra

1.4.1.1 Về phía học sinh

- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH

- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tốgiúp HS giải thành thạo một dạng bài tập

- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tácđộng đến hiệu quả của việc tự học

1.4.1.2 Về phía giáo viên

- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV

- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạyhọc Hóa học

- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, nhữngkhó khăn gặp phải khi dạy BTHH

- Tìm hiểu về biện pháp tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗtrợ HS tự học, tự làm bài tập

1.4.2 Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng: HS và GV hóa học

- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 40 GV hóa học

ở các trường THPT ở Thái Bình và 30 GV ở các tỉnh khác (GV ở Vĩnh Phúc, HảiDương và học viên lớp cao học LL và PPDH bộ môn Hóa học K22 ĐHSPHN) Sốphiếu thu hồi được là 68 phiếu

- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 756 HS (16 lớp) ở các trường THPTkhác nhau ở tỉnh Thái Bình và tỉnh Hải Dương Số phiếu thu hồi được là 746 phiếu

1.4.3 Mô tả phiếu điều tra

Với mục đích điều tra trên, chúng tôi sử dụng 2 phiếu điều tra: phiếu điều tracho GV và phiếu điều tra cho HS (phụ lục 1, 2)

Trang 33

1.4.3.1 Phiếu điều tra cho học sinh

Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:

a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH (câu 1, 4, 10).b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS (câu 2, 3, 5, 7)

c) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập (câu 6, 8) vàcác yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập (câu 9)

d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học (câu 11, 12, 13).e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học (câu 14, 15).f) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học (câu 16) và cácyếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học (câu 17)

1.4.3.2 Phiếu điều tra cho giáo viên

Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:

a) Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV (câu 2, 3, 4, 5, 6, 7)

b) Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trongdạy học hóa học (câu 1)

c) Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, nhữngkhó khăn gặp phải khi dạy BTHH (câu 8, 9, 10)

d) Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tựhọc, tự làm bài tập (câu 11, 12)

1.4.4 Kết quả điều tra

1.4.4.1 Phiếu điều tra cho học sinh

Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:

a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH

* Số HS thích và rất thích giờ bài tập chiếm 47,6 % Như vậy, gần 1/2 số HS

có thái độ tích cực đối với giờ bài tập Số HS chưa nhận thức được tác dụng của giờbài tập cũng khá cao ( bình thường: 46,4 %; không thích: 6,0 %)

* Nguyên nhân mà HS chưa thích giờ bài tập:

- Thời gian dành cho giờ bài tập ít trong khi đó số lượng bài tập nhiều

- Nhiều dạng bài tập nên GV không thể giải chi tiết hết từng dạng

- Ít có bài tập tương tự từ dễ đến khó

- Bài tập tương tự không có đáp số

Trang 34

- Kiến thức rộng, khó bao quát.

- Bài tập khó, dữ kiện phức tạp nên không biết bài toán thuộc dạng nào

* Có đến 38,9 % HS xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn; 28,9% tham khảo lờigiải trong sách bài tập khi gặp bài tập khó, như vậy HS có nhu cầu xem bài mẫu đểđịnh hướng giải cho bài tập Chỉ có 21,2 % HS tích cực mày mò tìm lời giải và cũng

có số lượng nhỏ hơn HS chán nản không làm ( 11,0 % ) Do đó, việc phân tích, giải

kĩ một bài mẫu cho từng dạng bài tập giúp HS có cơ sở để định hướng giải khi gặpcác bài tập cùng dạng thiết nghĩ là một trong những việc cần thiết khi dạy BTHH

b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS

* Số bài tập mà HS làm được không cao 49,4 %

* Có đến 83,6 % HS không thường xuyên và chưa bao giờ tìm giải bài tậptương tự ở nhà Như vậy, hầu hết HS chưa có thói quen làm bài tập tương tự, rèn kỹnăng giải bài tập ở nhà; do chưa có HTBT tương tự cho HS tự học và chưa có phươngpháp giải cũng như bài giải mẫu giúp HS nắm rõ các bước giải của dạng bài tập đó.Đây có thể là một nguyên nhân khiến số lượng bài tập mà HS làm được còn thấp

c) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tốgiúp HS giải thành thạo một dạng bài tập

* Có đến 34,8 % HS không kịp theo dõi và ghi chép lại bài mẫu của GV ởlớp Như vậy, việc soạn sẵn bài mẫu cho từng dạng là hết sức cần thiết

* Có hơn 50 % HS gặp khó khăn vì thiếu bài tập tương tự, không có bài giảimẫu và các bài tập lộn xộn không theo dạng; ít hơn 50% HS gặp khó khăn vì các bàitập không được xếp từ dễ đến khó và không có đáp số cho bài tập tương tự

* Những yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập xếp theo mức độcần thiết giảm dần là:

1- GV giải kỹ một bài mẫu

2- Em làm các bài tập tương tự

3- Em tự làm lại bài tập đã giải

4- Em từng bước làm quen và nhận dạng bài tập

5- HS xem lại bài tập đã giải

d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

Trang 35

* Tỉ lệ HS đánh giá cao tự học còn thấp (khoảng 59,9%), HS đánh giá caoviệc học thêm hơn là tự học.

* Hầu hết HS (92,9%) đều cho rằng để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặckiểm tra, tự học đóng vai trò quan trọng Tỉ lệ rất cao, ngược lại với tỉ lệ ở câu 11.Như vậy, HS bị áp lực tâm lí, có thể HS đã nhận thức được vai trò của tự học nhưngvẫn dao động, chưa tự tin để chọn tự học thay vì học thêm GV cần giúp HS nhậnthức đúng vai trò của tự học và tạo niềm tin giúp các em tự học

* Lý do HS cần phải tự học

Một lần nữa, câu hỏi này giúp tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò của tựhọc Kết quả thăm dò trên chứng tỏ tỉ lệ HS nhận thức rõ vai trò của tự học chưa cao.Điều này có nghĩa là tỉ lệ HS đã có ý thức tốt về nhiệm vụ học tập, đặc biệt là vấn đề

tự học chưa cao

e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học

* Tỉ lệ HS dành nhiều thời gian để đọc lại bài và chuẩn bị bài trên lớp theohướng dẫn cao hơn tỉ lệ HS dành thời gian để đọc tài liệu tham khảo Như vậy, việc

GV soạn tài liệu hướng dẫn HS theo nội dung đã học ở lớp là hết sức cần thiết

* Những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình tự học

Kết quả thăm dò trên cho thấy GV cần hướng dẫn cụ thể cho việc học tập hơnnữa, soạn thêm tài liệu học tập, tham khảo có hướng dẫn cụ thể để hệ thống hóa kiếnthức và hỗ trợ cho HS tự học

* Những tác động đến hiệu quả của việc tự học

Câu hỏi này giúp tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò của GV và HS trongquá trình tự học Kết quả thăm dò chứng tỏ tỉ lệ HS đã nhận thức được vai trò củaniềm tin và sự chủ động của bản thân chưa cao HS vẫn đánh giá đánh giá cao vai tròcủa sự tổ chức, hướng dẫn của thầy và tài liệu hướng dẫn học tập Chúng tôi thiết

Trang 36

nghĩ giai đoạn giúp các em làm quen với tự học thì việc biên soạn tài liệu hướng dẫncũng như sự tổ chức, hướng dẫn của GV là hết sức cần thiết.

1.4.4.2 Phiếu điều tra cho giáo viên

Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:

* Đa số GV sử dụng thêm HTBT từ mạng internet (80,9%) và sách tham khảo(51,5%) chứng tỏ GV đã chú ý sử dụng thêm các HTBT nhưng tỉ lệ GV tự xây dựngHTBT chưa cao (26,5%)

* GV xây dựng HTBT chủ yếu theo chương (79,4%) và chuyên đề (48,5%),chưa chú ý soạn chi tiết theo từng bài học (29,4%) để HS tiện sử dụng sau khi họcxong mỗi bài học

* Tỉ lệ GV cho đáp số mỗi bài tập để HS kiểm tra sau khi làm bài tập chưacao (51,5%)

b) Cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy họchóa học

* Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học

BTHH được đánh giá quan trọng nhất với xếp hạng số 1, chứng tỏ GV đánhgiá rất cao vai trò của BTHH

c) Tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăngặp phải khi dạy BTHH

* Số bài tập được thực hiện trong một tiết học trung bình là 3,7 bài

* Với mỗi bài tập trên lớp, số HS làm được không cao (53,7%)

* Những khó khăn mà thầy cô gặp phải trong khi dạy BTHH có sự chênh lệch

không nhiều, xếp theo thứ hạng giảm dần sau:

Trang 37

1 Không có HTBT chất lượng hỗ trợ HS tự học.

2 Không đủ thời gian

3 Trình độ HS không đều

d) Biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làmbài tập

* Hầu hết các GV đều cho rằng cần thiết phải xây dựng hệ thống BTHH hỗtrợ HS tự học (98,5%)

* Mức độ cần thiết của các biện pháp xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự

học xếp theo thứ hạng giảm dần sau:

1 Phân dạng và xếp từ dễ đến khó

2 Có hướng dẫn cách giải cho từng dạng, có bài giải mẫu cho từng dạng và

có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và củng cố kiến thức

3 Có đáp số cho các bài tập tương tự

4 Soạn theo từng bài học

1.4.5 Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra

Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy đa phần HS đều nhận ra vai trò cũngnhư lợi ích mà việc tự học mang lại Tuy nhiên, số HS thích giờ bài tập không cao,

HS chưa chuẩn bị kĩ cho tiết bài tập, số lượng bài tập và số HS làm được bài tậpkhông cao; HS chưa có thói quen tìm các bài tập tương tự để giải ở nhà Nguyênnhân chủ yếu là do thời gian dành cho việc theo dõi và ghi chép các bài tập ở lớpchưa đủ, các bài tập xếp lộn xộn, HS không biết nhận dạng, chưa nắm được phươngpháp giải từng dạng, không giải được bài tập dẫn đến chán nản

Việc tự học của HS chủ yếu là học thuộc lại bài trên lớp, nên kiến thức tíchlũy được là hạn chế, kém bền và thụ động, thiếu tự tin trong học tập; đồng thời HSchưa có phương pháp học tốt vì vậy mất nhiều thời gian hoặc học qua loa nên kếtquả học tập đạt được không như mong muốn

Hiện nay có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo, cùng với sự phổ biến rộngrãi của mạng Internet đã tạo ra cho các em một nguồn cung cấp tài liệu khổng lồ.Nhưng điều đó lại gây khó khăn lớn cho các em trong việc phải tìm, lựa chọn, phânloại sách để đọc, để nghiên cứu Vấn đề là các em cần tự học - tự đọc như thế nào vớicác tài liệu đã có để đạt được hiệu quả học tập cao Đó chính là điểm yếu của đa số

Trang 38

HS trong học tập, tự học hiện nay mà GV cần quan tâm để định hướng cách dạy,cách học ở các trường THPT.

HS đã nhận thức được để tự học tốt thì bản thân phải có niềm tin và sự chủđộng Các em đang cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ trong học tập, đó chính là học cái

gì, học như thế nào, làm thế nào để đạt được kiến thức mình muốn có trước khốilượng kiến thức rất lớn, nhiều nguồn thông tin HS mong muốn GV soạn tài liệuhướng dẫn cũng như tổ chức, hướng dẫn cụ thể hơn cho việc học tập, giúp HS từngbước nhận dạng, giải kỹ bài mẫu cho từng dạng và cho các bài tập tương tự để các

em giải thành thạo một dạng bài tập Như vậy, GV cần có tài liệu, văn bản giúp cho

HS cách thực hiện để lĩnh hội kiến thức cho mình Nói khác là GV dạy cho HS cáchhọc để HS tự học, tự thu thập kiến thức chủ động hơn

Hầu hết GV đều nhìn nhận vai trò quan trọng của BTHH trong dạy học hóahọc GV đã chú ý soạn thêm HTBT ngoài bài tập ở SGK và bài tập, chủ yếu soạntheo chuyên đề, chương, chưa có sự phân dạng chi tiết

Khó khăn lớn nhất của GV khi dạy BTHH là không đủ thời gian, do đó số bàitập mà GV phải dạy trong một tiết học khá nhiều (3,7 bài) Một khó khăn không nhỏ

Trang 39

- BTHH: khái niệm, phân loại, quá trình giải BTHH, hoạt động của HS trongquá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH, xu hướng phát triển của BTHH.

- Kết quả điều tra thực trạng thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợviệc tự học cho HS trong quá trình dạy học ở trường THPT cho thấy cần có HTBT

hỗ trợ HS tự học để khắc phục những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trìnhgiải BTHH

Qua đó, chúng tôi nhận thấy xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học làmột xu hướng đổi mới đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn hóahọc hiện nay

Trang 40

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT

HIĐROCACBON HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 2.1 Phân tích chương trình hoá học 11 trung học phổ thông nâng cao phần dẫn xuất của hiđrocacbon

2.1.1 Mục tiêu chương trình phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao

Phần dẫn xuất của hiđrocacbon lớp 11 THPT nâng cao gồm 2 chương:

- Chương 8: Dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol

- Chương 9: Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic

Mục tiêu cụ thể của mỗi chương như sau:

2.1.1.1 Mục tiêu của chương dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol

a) Về kiến thức

* HS biết:

- Tính chất vật lí, ứng dụng của dẫn xuất halogen, ancol, phenol

- Tiến hành một số thí nghiệm nghiên cứu tính chất của các dẫn xuất này nhưthủy phân dẫn xuất halogen, glixerol với Cu(OH)2, phenol với dung dịch nước brom

- Vận dụng quy tắc Zai-xép, Mác-cốp-nhi-cốp

* HS hiểu:

- Định nghĩa, phân loại, danh pháp, cấu trúc phân tử của dẫn xuất halogen,ancol, phenol

- Liên kết hiđro liên phân tử

- Ảnh hưởng qua lại giữa các nhóm nguyên tử trong phân tử

- Tính chất hóa học, phương pháp điều chế của dẫn xuất halogen, ancol,phenol

b)Về kỹ năng

- Phân tích đặc điểm cấu tạo phân tử để suy luận, dự đoán tính chất các dẫnxuất halogen, ancol, phenol

- Đọc tên các dẫn xuất đi từ CTCT và ngược lại

- Viết đúng các PTHH thế, tách, oxi hóa

- Giải các dạng bài tập hóa học có liên quan đến nội dung kiến thức trong chương

Ngày đăng: 15/07/2015, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Ngọc An (2007), Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa học 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa học 11
Tác giả: Ngô Ngọc An
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
2. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học đại học ở trường phổ thông và đại học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học đại học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng GV lớp 11 THPT môn hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng GV lớp 11 THPT môn hóa học
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2011), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và GV biên soạn đề kiểm tra, xây dựng câu hỏi và bài tập, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và GV biên soạn đề kiểm tra, xây dựng câu hỏi và bài tập
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
6. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình thay SGK hóa học 11 môn hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình thay SGK hóa học 11 môn hóa học
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung (1999), Phương pháp dạy học hóa học (tập 1), NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 1999
9. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học, NXB Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Đại học Giáo Dục
Năm: 2007
10. Lê Văn Dũng (2001), Phát triển nhận thức và tư duy cho HS thông qua bài tập hóa học, Luận án tiến sĩ, Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhận thức và tư duy cho HS thông qua bài tập hóa học
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 2001
11. Cao Tự Giác (2004), Bài tập lí thuyết và TN hóa học (tập 2 – hoá học hữu cơ), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập lí thuyết và TN hóa học (tập 2 – hoá học hữu cơ)
Tác giả: Cao Tự Giác
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
12. Cao Cự Giác (2000), Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3; NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
13. Adam Khoo (Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch), Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, bạn cũng thế
Nhà XB: NXB Phụ nữ
14. Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thị Liễu
Năm: 2008
15. Trần Trung Ninh, Đinh Thị Nga, Đinh Thị Hồng Nhung (2008), Giải BTHH 11 (chương trình nâng cao), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải BTHH 11 (chương trình nâng cao)
Tác giả: Trần Trung Ninh, Đinh Thị Nga, Đinh Thị Hồng Nhung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
16. Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu (2006), Phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình – SGK hoá học phổ thông (học phần PPDH 2), ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học các chương mục quan trọng trong chương trình – SGK hoá học phổ thông (học phần PPDH 2)
Tác giả: Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu
Năm: 2006
17. Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy học đại cương, Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương, Tập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
18. Quan Hán Thành (2003), Ôn tập và hệ thống hóa nhanh giáo khoa hóa hữu cơ, Sơ đồ phản ứng hóa học, NXB ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập và hệ thống hóa nhanh giáo khoa hóa hữu cơ, Sơ đồ phản ứng hóa học
Tác giả: Quan Hán Thành
Nhà XB: NXB ĐHQG TPHCM
Năm: 2003
19. Lê Trọng Tín (2006), Những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hóa học, Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ CHí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hóa học
Tác giả: Lê Trọng Tín
Năm: 2006
20. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường (1998), Quá trình dạy – tự học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy – tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ phản ứng cháy:  C n H 2n-2  (CHO) 2   (n+2) CO 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Sơ đồ ph ản ứng cháy: C n H 2n-2 (CHO) 2  (n+2) CO 2 (Trang 88)
Bảng 3.1. Các lớp TN và ĐC - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.1. Các lớp TN và ĐC (Trang 113)
Bảng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra lần 1 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra lần 1 (Trang 116)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 (Trang 117)
Bảng 3.5. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.5. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 (Trang 118)
Bảng 3.6. Bảng điểm bài kiểm tra lần 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.6. Bảng điểm bài kiểm tra lần 2 (Trang 118)
Bảng 3.7. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.7. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 (Trang 119)
Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 (Trang 120)
Hình 3.4. Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm bài kiểm tra lần 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Hình 3.4. Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm bài kiểm tra lần 2 (Trang 120)
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 (Trang 120)
Bảng 3.10. Bảng điểm bài kiểm tra lần 3 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.10. Bảng điểm bài kiểm tra lần 3 (Trang 121)
Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 3 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 3 (Trang 122)
Hình 3.6. Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm bài kiểm tra lần 3 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Hình 3.6. Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm bài kiểm tra lần 3 (Trang 123)
Bảng 3.13. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 3 - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.13. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 3 (Trang 123)
Bảng 3.14. Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập - TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG  HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON  HÓA HỌC 11 NÂNG CAO
Bảng 3.14. Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w