Từ thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ IX Chính quyền đô hộ phương Bắc đã tổ chứcđắp La Thành sau gọi là thành Đại La cóquy mô lớn nhất trên miền đất Hà Nội cổ.Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LONG BIÊN
TRƯỜNG THCS VIỆT HƯNG
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
Tìm hiểu Lịch sử địa phương
Môn học chính: Lịch sử Môn học tích hợp: Địa lý, Văn học và Tin học
Thông tin về học sinh:
1 Nguyễn Hằng Nga
Ngày sinh: 6/5/2001 Lớp: 8A1
2 Âu Thùy Linh
Ngày sinh: 21/6/2001 Lớp: 8A1
Địa chỉ: Tổ 4, Kim Quan, Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội
Điện Thoại: 043 8272193
Email: c2viethung@longbien.edu.vn
Trang 2
BÀI DỰ THI
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
1 Tên tình huống: Tìm hiểu lịch sử địa phương
- Vậy thì bọn mình học thử bằng môn Lịch sử trước nhé !
- Được, tớ đồng ý Hãy cùng tìm hiểu về chính nơi mình ở nào !
2 Mục tiêu giải quyết tình huống
- Vận dụng kiến thức liên môn để tìm hiểu về nơi mình sinh sống để qua đóthêm yêu mến và hiểu biết về địa phương
3 Tổng quan về nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
- Tin học: Sử dụng thành thạo Word và tìm kiếm thông tin trên mạng
4 Giải pháp giải quyết tình huống:
Tìm hiểu, tra cứu tư liệu, hình ảnh liên quan đến địa phương thông qua mạnginternet và các tư liệu ở phường Việt Hưng
5 Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống
Trang 3+ 18 huyện: Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ);
Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ,Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ) và MêLinh (từ Vĩnh Phúc)
- Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trang 4I Điều kiện địa lý và lịch sử hình thành và phát triển của Hà Nội
1 Điều kiện địa lý
Vị trí địa lý: Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đônggiáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình vàPhú Thọ
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thếthuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mốigiao thông quan trọng của Việt Nam
Khí hậu: Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc
điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đônglạnh, mưa ít
Địa hình: Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Địa
hình đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đôngcủa Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông
Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địaphận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức
Sông ngòi và hồ đầm: Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc:
sông Đà và sông Hồng Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn cócác sông: sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích,sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Bùi Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều.Những hồ nổi tiếng ở Hà Nội như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm,
hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu, hồ Kim Liên,…
Với điều kiện vị trí địa lý như vậy ngay từ thời xa xưa khi Lý Công Uẩnchọn định đô ở Thăng Long - Hà Nội có điều kiện phát triển về kinh tế, văn hóa,giáo dục và an ninh quốc phòng
Hồ Tây – Hà Nội
Trang 52 Lịch sử hình thành và phát triển Hà Nội
2.1 Quá trình hình thành.
Khoảng 2 vạn năm trước Người nguyên thủy sinh sống
Thời kì băng tan
(Khoảng hơn vạn năm trước)
Cư dân nguyên thủy rời Hà Nội di chuyểnlên vùng núi phía Bắc
Thời kì biển lùi
(Khoảng 4 nghìn năm trước)
Vùng đất Hà Nội được bồi đắp, cư dân cổquay trở về đồng bằng châu thổ sông Hồngsinh sống
Năm 208 Tr CN An Dương Vương đã lên thay thế Hùng
Vương và chuyển từ Việt Trì về Cổ Loa(nay thuộc Đông Anh) lập nước Âu Lạc
Thời kì Bắc thuộc
(Năm 679)
Nhà Đường đổi nước ta thành An Nam, đặt
đô hộ phủ tại Tống Bình (gồm huyện TừLiêm, Hoài Đức, Gia Lâm, Đông Anh vàvùng nội thành Hà Nội bây giờ)
Từ thế kỉ thứ VIII đến
thế kỉ thứ IX
Chính quyền đô hộ phương Bắc đã tổ chứcđắp La Thành ( sau gọi là thành Đại La) cóquy mô lớn nhất trên miền đất Hà Nội cổ.Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra
thành Đại La và đổi tên là thành ThăngLong (rồng bay) trở thành kinh đô của nướcĐại Việt, trung tâm chính trị, kinh tế,văn hoá lớn nhất của cả nước
2.2 Chặng đường phát triển
a) Thăng Long thời Lý – Trần.
Kinh đô Thăng Long được xây dựng thành hai khu riêng biệt: Khu thành vàkhu thị Khu thành gồm có Đại nội, Cấm thành, Hoàng thành Đây là nơi ở, làmviệc của vua chúa hoàng tộc và được canh phòng cẩn mật Khu thị bao gồmxóm làng nông nghiệp, phố phường công thương nghiệp và hệ thống bến chợ.Vòng thành thứ ba bao bọc khu thành và khu thị là thành Đại La
Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thànhmột trung tâm chính trị - kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước Dấu
ấn Thăng Long thời Lý còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắcnhư: Chùa Diên Hựu ( chùa Một Cột), tháp Báo Thiên, đền Hai Bà Trưng, đềnBạch Mã, đền Linh Lang… Thăng Long đã cùng cả nước sáng tạo nên nền vănminh Đại Việt, lập chiến công phá Tống, bình Chiêm với hai nhân vật tiêu biểu
là Lý Thường Kiệt và Ỷ Lan
Trang 6Chùa Một Cột
Rồng thời Lý
Trang 7Thăng Long thời Trần về quy mô, cấu trúc không khác kinh đô thời Lý làmấy Nhà Trần chỉ tận dụng những cơ sở có từ trước rồi tu bổ, sửa sang thêm.Tuy nhiên khu vực dân cư được mở mang quy hoạch lại chặt chẽ Thăng Long
đã có 61 phường với sự phát triển nhanh của các làng nghề thủ công và chợ búadân gian, thu hút được nhiều lái buôn nước ngoài Trong vòng 30 năm (1258-1288) Thăng Long đã bị đế chế Mông Nguyên ba lần xâm chiếm, cả ba lần kinhthành đã thực hiện thành công kế hoạch “vườn không nhà trống”, góp phần vàonhững chiến thắng vang dội của quân dân nhà Trần
b) Đông Đô - Đông Quan - Đông Kinh thời nhà Hồ - thuộc Minh - Lê sơ
Năm 1400 Nhà Hồ lên ngôi, lập kinh đô mới ở Thanh Hóa
(gọi là Tây Đô), Thăng Long được đổi tên thànhĐông Đô
Năm 1406 Nhà Minh sang xâm lược Đại Việt, thành Đông
Đô thất thủ, bị đổi tên là thành Đông Quan, nơiđặt bộ máy chính quyền đô hộ quận Giao Chỉ.Ngày 29/4/1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, nhà Lê khôi phục quốc
hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô
Năm 1430 Nhà Lê đổi tên Đông Đô thành Đông Kinh Bên
trong Cấm thành, nhà Lê đã cho xây dựng và bốtrí nhiều cung điện Bên ngoài Hoàng thành, khudân cư phố phường tiếp tục phát triển và đượcquy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức, VĩnhXương, gồm 36 phường Cư dân 36 phường gồm
cả nông dân, thợ thủ công, thương nhân,với những phố chợ buôn bán tấp nập
c) Thăng Long thời Lê - Trịnh
Năm 1527 Mạc Đăng Dung lập ra nhà Mạc, Đông Kinh trở lại tên gọi
Thăng Long
Năm 1592 Quyền lực rơi vào tay họ Trịnh, triều Lê chỉ tồn tại trên danh
nghĩa Tình hình chính trị thay đổi, quy hoạch Thăng Longcũng có những nét mới Dù tình hình chính trị có nhiều biếnđộng nhưng Thăng Long vẫn có mặt phát triển phồn vinh vớitên gọi quen thuộc là Kinh kì hay Kẻ Chợ.Quan hệ ngoạithương, kinh tế hàng hoá mở rộng với một mạng lưới chợ lớnnhỏ dày đặc
Trang 8Năm 1786 Quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài lật đổ chúa Trịnh, Nguyễn
Huệ trao chính quyền lại cho vua Lê Thăng Long chứng kiếnđám cưới của Ngọc Hân công chúa với Nguyễn Huệ
Cuối năm
1788
Kinh thành Thăng Long bị quân Mãn Thanh xâm lược
Năm 1789 Quang Trung tiến quân ra Bắc giải phóng Thăng Long
Thăng Long lúc này là thủ phủ của Bắc thành
d) Hà Nội thời Nguyễn và Pháp thuộc.
Năm 1802 Gia Long lên ngôi, đóng đô ở Phú Xuân, Thăng Long
vẫn là thủ phủ của Bắc Thành
Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài
Đức do đó Thăng Long cũng được gọi là Hà Nội HàNội lúc này không còn là trung tâm chính trị, nhưngvẫn là trung tâm kinh tế - văn hoá lớn nhất cả nước, cóquan hệ rộng với thị trường trong nước và nước ngoài.Cuối thế kỉ XIX Nhân dân Hà Nội anh dũng chống trả tấn công các
cuộc tấn công của quân Pháp dưới sự lãnh đạo củatổng đốc Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm làHoàng Diệu
Năm 1883 Triều đình Huế kí “ Hiệp ước hoà bình” công nhận
quyền thống trị của Pháp trên cả nước Hà Nội trởthành đất “bảo hộ” thuộc Bắc Kì, đặt dưới quyền caitrị của thống sứ người Pháp
Tháng 7/1888 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội,
đứng đầu là một viên đốc lí
Đầu thế kỉ XX Bộ mặt Hà Nội có nhiều thay đổi Các cơ sở hạ tầng
được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thôngđường bộ, đường sắt, cầu cống Bộ mặt kinh tế của Hànội cũng có nhiều thay đổi Hầu hết các xí nghiệp công
ty lớn của tư sản Pháp đều đặt trụ sở tại Hà Nội Tầnglớp tư sản người Việt được hình thành ở Hà Nội, tầnglớp tiểu tư sản ngày một thêm đông
Trang 9e) Hà Nội từ 1919 - 1975
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp bắt đầu khai thác trên quy mô lớn
ở Đông Dương, bộ mặt Hà Nội cũng có nhiều thay đổi, phố xá ngày càng thêmsầm uất Về tình hình chính trị, ý thức chính trị của các giai cấp ngày càngtrưởng thành Tư tưởng Mác - Lê - nin ngày càng được truyền bá sâu rộng,
Hà Nội trở thành đầu mối của các hoạt động yêu nước Cuối tháng 3 năm 1929,tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ cộng sản đầu tiên của Việt Nam ra đời.Ngày 19-8, nhân dân Hà Nội xuống đường biểu tình, cả Hà Nội rực rỡ trong
cờ đỏ sao vàng Cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát thành phố đã nhanhchóng chuyển thành biểu tình vũ trang Cuộc khởi nghĩa 19-8-1945 ở Hà Nội
đã giành thắng lợi Ngày 30-8 Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội chính thứcthành lập, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm chủ tịch
Ngày 2-9-1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tại quảng trường Ba Đình
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhân dân Hà Nội đã đấutranh anh dũng để bảo vệ thủ đô, góp phần giải phóng đất nước
Tối 19-12-1946, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Hồ Chủ tịch đọc “Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến”, quân dân thủ đô đã nổ súng mở đầu cho cuộc khángchiến toàn quốc Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 10-10-1954, Hà Nộiđón đoàn quân giải phóng về tiếp quản thủ đô
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhân dân thủ đô đã anh dũng chiến đấulập nhiều chiến công xuất sắc, được Bác Hồ gửi thư khen và tặng cờ:
“Quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược” Trong cuộc chiến tranh phá hoạiMiền Bắc lần thứ nhất của Mĩ, quân dân Hà Nội đã bắn rơi 258 máy bay.Trong cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc lần thứ hai của Mĩ, Hà Nội đãanh dũng chiến đấu làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, góp phần vàothắng lợi chung của cả nước, buộc Mĩ phải kí hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973
2.3 Hà Nội trong kỉ nguyên mới
Sau khi thống nhất đất nước, Hà Nội được chọn làm thủ đô của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ năm 1986, khi cả nước bước vào côngcuộc đổi mới, bộ mặt Hà Nội đã có sự thay đổi nhanh chóng Với vai trò là trungtâm kinh tế chính trị văn hoá khoa học của cả nước, Hà Nội phát huy tiềm năngchất xám, tạo những chuyển biến trong các hoạt động văn hoá, văn nghệ , giáodục, khoa học – kĩ thuật
Năm 1999 Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu: Thành phố vì hoàbình Danh hiệu mà Hà Nội đạt được mang một ý nghĩa rộng lớn, góp phần nângcao vị thế thủ đô cũng như của Việt Nam, đánh dấu một bước tiến quan trọngtrong quá trình hội nhập quốc tế
Năm 2006, Hà Nội tổ chức thành công hội nghị Apec, để lại ấn tượng sâuđậm trong lòng bạn bè quốc tế
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, Hà Nội đang nỗ lực hết mình để xâydựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, xứng tầm quốc tế
Trang 10Hà Nội – Xưa và nay
Trang 11II.Dân cư và hoạt động kinh tế của Hà Nội trong quá khứ và hiện tại
1 Dân cư
* Nguồn gốc dân cư sinh sống
Vào thập niên 1940, khi Hà Nội là thủ phủ của Liên bang Đông Dương,dân số thành phố được thống kê là 132.145 người Nhưng đến năm 1954, dân số
Hà Nội giảm xuống chỉ còn 53 nghìn dân trên một diện tích 152 km² Có thểnhận thấy một phần rất lớn trong số những cư dân đang sống ở Hà Nội hiện naykhông sinh ra tại thành phố này Lịch sử của Hà Nội cũng đã ghi nhận dân cưcủa thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời gian Ở những làngngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp,thường không có sự thay đổi lớn Nhiều gia đình nơi đây vẫn giữ được gia phả
từ những thế kỷ XV, XVI Nhưng trong nội đô, khu vực của các phường thươngnghiệp và thủ công, dân cư xáo trộn rất nhiều Do tính chất của công việc, nhiềuthương nhân và thợ thủ công ít khi trụ nhiều đời tại một điểm Gặp khó khăntrong kinh doanh, những thời điểm sa sút, họ tìm tới vùng đất khác Cũng cónhững trường hợp, một gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan tỉnhkhác và đem theo gia quyến, đôi khi cả họ hàng
Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ.Vào thế kỷ XV, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông
có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán Nhưng khi nhận thấy họ chính là lựclượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại.Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn làngười Hoa Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, rất nhiều những người Hoa đã
ở lại sinh sống thành phố này Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, vẫn có nhữngngười Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long Theo Dư địa chí củaNguyễn Trãi, trong số 36 phường họp thành kinh đô Thăng Long có hẳn mộtphường người Hoa, là phường Đường Nhân Những thay đổi về dân cư vẫn diễn
ra liên tục và kéo dài cho tới ngày nay
* Dân số
Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế
kỷ gần đây Vào thời điểm năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội,thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km² Đến năm 1961, thànhphố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người Năm 1978,Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136km², dân số 2,5 triệu người Tới năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉcòn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người Trong suốt thập niên
1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăngđều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999 Sau đợt mở rộng địa giớigần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6.233.000 dân và nằmtrong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Theo kết quả cuộc điều tra dân sốngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bìnhnăm 2010 là 6.561.900 người
Trang 12Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số caonhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyệnngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km².
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tâychủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường,Tày chiếm 0,9% Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73% dân số, người Mường0,76% và người Tày chiếm 0,23 %
Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dânnông thôn chiếm 58,1%
2 Hoạt động kinh tế
Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch sử.Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hang Than đã minh chứngcho điều này Tới thế kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố HồChí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ haitrong nền kinh tế Việt Nam Năm 2010, Hà Nội được xếp thành phố toàn cầuloại gamma+
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế HàNội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng GDP bìnhquân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000 là10,38% Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ
470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam Theo số liệunăm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% sovới toàn vùng Đồng bằng sông Hồng Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lựccạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, Hà Nội xếp ở vị trí thứ 36/63 tỉnhthành Năm 2012, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội xếp thứ 51/63tỉnh thành
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có nhữngthay đổi về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành côngnghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông – lâm nghiệp và thủy sản từ 9%giảm xuống còn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thờigian này từ 61,9% xuống còn 58,2% Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tậptrung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là
cơ – kim khí, điện – điện tử, dệt – may – giày, chế biến thực phẩm và côngnghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng,may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng,trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địaphương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệuUSD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diệnnước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp.Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến
Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công tynhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng
Trang 13trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động,các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp củathành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xãhội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của
Hà Nội
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệungười đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động cótrình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu
và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh
tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnhtranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư củathành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấunội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượngquy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũngchưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
Hà Nội ngày nay
Trang 14III Du lịch Hà Nội
Tháp Rùa hồ Hoàn Kiếm
Tháp Rùa Hồ Hoàn Kiếm là một trong những di tích lịch sử thu hút kháchtham quan du lịch bậc nhất ở Hà Nội Hồ Tả Vọng, hồ Hữu Vọng,
hồ Thủy Quân, hồ Lục Thủy, hay hồ Gươm là những tên gọi khác của
hồ Hoàn Kiếm, theo thăng trầm đổi thay của lịch sử, cho đến nay hồ đượcthống nhất được gọi cùng tên với tên một quận của Hà Nội là Hoàn Kiếm
Tháp rùa hồ Hoàn Kiếm
Tháp Rùa nằm ở giữa trung tâm của hồ, được xây dựng khoảng từ giữanhững năm 1884 đến năm 1886 theo kiến trúc Pháp, tháp có ba tầng được xâydựng bằng kiến trúc nhiều cửa mở độc đáo, các cửa đều được xây cuốn đỉnhthon gọn tạo nên nét đẹp cổ xưa cuốn hút giữa lòng thành phố hiện đại
Trang 16Khu di tích Hoàng thành Thăng Long
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, một trong những điểm đến thú vị,khu di tích thuộc địa bàn Phường Điện Biên và Phường Quán Thánh của thànhphố Hà Nội Đây chính là kinh đô của Việt Nam qua ba đời là thời Lý, Trần
và Lê Bên trong khu hoàng thành có chứa đựng nhiều chứng tích lịch sửvăn hóa vô giá, được thể hiện rất rõ qua những kiến trúc từ thời xa xưa
Khu di tích hoàng thành Thăng Long
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, đến nay công trình Hoàng thànhThăng Long đồ sộ vẫn sừng sững phơi mình dưới trời thủ đô, thể hiện được
sự giao thoa văn hóa, truyền thống của người Việt Nam qua các thời kì lịch sử
và gắn bó với nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, đó là lí do vì sao khu di tíchđược UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2010
Trang 17Chùa Một Cột
Là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia, được vinh danh là ngôi chùa
có kiến trúc độc đáo nhất theo tổ chức Kỷ lục Châu Á vào năm 2012, chùa MộtCột cũng là điểm đến không thể bỏ qua khi du khách đã bước chân đến Hà Nội.Theo ghi chép của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, chùa được xây dựng vào năm
1049 dưới đời vua Lý Thái Tông, trải qua nhiều năm chùa được tu sửa nhiều lầncùng chứng kiến những thăng trầm của lịch sử của dân tộc
Chùa có đài liên hoa kết cấu hình vuông, mái lợp ngói thời xưa, bốn mái đắphình rồng cong vút uốn lên và điều độc đáo nhất là toàn bộ ngôi chùa được đặttrên một cột trụ bằng đá, nhìn như một đóa sen đang nở đã tạo nên vẻ đẹp cuốnhút sự hiếu kì của du khách tham quan
Chùa Một Cột
Trang 18Chính lối kiến trúc cổ Châu Âu trên một đất nước Châu Á là Việt Nam đã tạonên điều kì thú cho những ai đam mê nghệ thuật kiến trúc và cho những ai thíchkhám phá nét văn hóa tinh hoa của nhân loại.
Trang 19Cầu Long Biên.
Do Pháp xây dựng vào thế kỉ XIX, từng được mệnh danh là một trong bốncây cầu dài nhất thế giới và là cây cầu tiêu biểu nhất ở Viễn Đông ở thời đó, chođến nay cây cầu vẫn được sử dụng và là chứng tích lịch sử quý giá của nước ta
Cầu Long Biên
Là cây cầu thép bắc qua sông Hồng, cũng như nhiều công trình kiến trúckhác, cầu Long Biên đã chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, chịu sự tànphá nặng nề của bom đạn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ
ác liệt của dân tộc ta Cây cầu không những là di tích mà còn là nhân chứnglịch sử quý báu
Cho đến nay vẻ đẹp của cây cầu mặc dù đã mai một đi theo thời gian nhưng
nó vẫn đủ sức làm say lòng những người đam mê công trình kiến trúc cổ xưa,tuy chưa chính thức được xếp hạng di tích quốc gia nhưng trong lòng mỗi ngườidân Hà Nội nói riêng và người dân cả nước nói chung cầu Long Biên từ lâu đãrất xứng đáng là di tích lịch sử văn hóa