1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá

308 1,6K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa
Tác giả Vũ Trường Giang
Người hướng dẫn GS - TS Phan Hữu Dật, PGS - TS Hoàng Lương
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Dân tộc học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 308
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá

Trang 1

Đại học Quốc gia hμ Nội Trường Đại học khoa học x∙ hội vμ nhân văn

- ế -

Vũ Trường Giang

Tri thức bản địa của người Thái

ở miền núi thanh Hóa

Luận án tiến sĩ lịch sử Chuyên ngành: Dân tộc học

Trang 2

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ ch−a ®−îc ai c«ng bè bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶

Vò Tr−êng Giang

Trang 3

GS - NGND Đinh Xuân Lâm là người đã động viên, cung cấp nhiều tài liệu, hướng dẫn cách xử lý tư liệu và viết một bài nghiên cứu khoa học

Tập thể các Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên Bộ môn Nhân học và Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn (Đại học quốc gia

Hà Nội) đã tận tình giúp đỡ về chuyên môn, cả trong học tập và nghiên cứu khoa học suốt qúa trình tôi học Đại học, học Thạc sĩ và làm NCS

Phòng Khoa học và sau đại học của Trường Đại học Khoa học xã hội

& nhân văn (Đại học quốc gia Hà Nội) đã giúp đỡ về các thủ tục hành chính trong qúa trình tôi học, viết và bảo vệ luận án

Cán bộ và nhân dân các huyện Thường Xuân, Như Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát; đặc biệt là cán bộ và nhân dân các xã Xuân Lộc, Xuân Chinh, Xuân Lẹ (huyện Thường Xuân), xã Yên Khương (huyện Lang Chánh), xã Kỳ Tân (huyện Bá Thước), xã Hồi Xuân (huyện Quan Hóa), xã Trung Lý (huyện Mường Lát) đã giúp đỡ tôi trong các chuyến đi điền dã ở các địa phương này

Cán bộ và nhân viên phòng tư liệu khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Thư viện quốc gia, Thư viện Viện thông tin khoa học xã hội, Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu văn hóa, phòng lưu trữ Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ban dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp nhiều tài liệu trong qúa trình tôi thực hiện bản luận án của mình

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất của tôi!

Hà Nội, tháng 6 - 2009

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu ……… 5

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu……… 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 7

3 Mục tiêu nghiên cứu.……….……… 15

4 Phạm vi nghiên cứu.……… ……… 15

5 Phương pháp nghiên cứu……….……… 16

6 Nguồn tư liệu………… ……… 16

7 Đóng góp của luận án………… ……… 17

8 Bố cục của luận án……… ……… 17

Chương 1: Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu 18

1.1 Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa……… ………… …… 18

1.2 Người Thái ở miền núi Thanh Hóa……… 19

1.3 Tri thức bản địa……… 31

Chương 2: Tri thức bản địa trong trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 50 2.1 Tri thức trong phân loại và bảo vệ đất trồng trọt… ……… 50

2.2 Tri thức trong lựa chọn giống lúa……… ……… 58

2.3 Tri thức trong kỹ thuật canh tác ……… 59

2.4 Tri thức trong đoán định thời tiết…… ……… 61

2.5 Tri thức về lịch và nông lịch…… ……… 63

2.6 Tri thức trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước…… ………… 70

2.7 Tri thức trong khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng……… 79

Chương 3: Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng 89 3.1 Quan niệm về ốm đau, bệnh tật……… 89

3.2 Quan niệm về nghề thuốc và truyền nghề……… 92

3.3 Tri thức về thuốc nam chữa bệnh……… 97

3.4 Ăn uống dưới khía cạnh dinh dưỡng và chữa bệnh……… 113

Trang 5

Chương 4: Tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội……… 118

4.1 Chế độ sở hữu ruộng đất……… 118

4.2 Thiết chế bản - mường và bộ máy hành chính……… 122

4.3 Tri thức về luật tục……… 132

4.4 Tri thức trong thông tin cộng đồng.……… 155

Kết luận……… 188

Khuyến nghị……… 192

Chú thích……… 194

Danh mục các công trình công bố của tác giả……… 196

Tài liệu tham khảo……… 198

Phụ lục……… 220

Bản đồ địa bàn nghiên cứu… ……… 221

Một số hình ảnh về người Thái……… 224

ảnh một số cây thuốc …… ……… 245

Thống kê danh sách một số cây thuốc và bài thuốc……… 262

Những nghi lễ và kiêng kỵ trong phòng bệnh……… 274

Chữa bệnh bằng ma thuật……… 282

Nghi lễ cầu mưa……… 293

Truyền thuyết về ta leo……… 295

Bảng so sánh một số từ vựng của người Thái ở một vài địa phương…… 297

Danh sách những người cung cấp tư liệu……… 303

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tri thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa, góp phần làm nên bản sắc tộc người Tri thức bản địa có thể coi là tài sản của mỗi tộc người trong qúa trình phát triển, phản ánh mối quan hệ của từng cộng

đồng đối với môi trường tự nhiên và xã hội

Kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia châu á và châu Phi trong những thập kỷ qua cho thấy cách tiếp cận khoa học và công nghệ phương Tây không đủ đáp ứng những quan niệm phức tạp và đa dạng của nông dân cũng như những thách thức về kinh tế, xã hội, môi trường… mà ngày nay chúng ta

đang phải đương đầu Ngược lại, rất nhiều kỹ thuật truyền thống đã đưa lại hiệu quả cao, được thử thách và chọn lọc trong một thời gian dài, có sẵn tại

địa phương, phù hợp với văn hóa và phong tục tập quán của tộc người

Việt Nam là một quốc gia có đa tộc người, nên tri thức bản địa của các tộc người rất phong phú và đa dạng Mặc dù tri thức bản địa của các tộc người mới chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm và cảm nhận, nhưng nhờ được rút ra

từ hoạt động thực tiễn, nên nó có giá trị thiết thực trong xã hội hiện nay của mỗi tộc người Do đó, cần phải coi tri thức bản địa như một nguồn tài nguyên quan trọng và lập kế hoạch nghiên cứu, sưu tầm, phát huy chúng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, sự nghiệp phát triển bền vững ở vùng miền núi và tộc người thiểu số nói riêng

Miền núi Thanh Hóa là địa bàn cư trú của các tộc người Mường, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú Các tộc người này có số lượng dân cư, đặc điểm kinh tế - xã hội - văn hóa nói chung và tri thức bản địa nói riêng có nhiều

điểm khác biệt Với riêng người Thái, việc nghiên cứu về tộc người này đã trở thành một vấn đề mang ý nghĩa quốc tế và được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm ở Việt Nam, các Hội nghị về Thái học do Chương trình Thái học thuộc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa (nay là Viện

Trang 7

Việt Nam học và khoa học phát triển thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) tổ chức vào các năm 1991, 1998, 2002, 2006 và 2009; trên thế giới, các Hội nghị quốc

tế về Thái học được tổ chức trong những thập kỷ gần đây (năm 1981 ở ấn Độ, năm 1984 ở Thái Lan, năm 1987 ở Ôxtrâylia, năm 1990 ở Trung Quốc, năm

1993 ở Anh, năm 1996 ở Thái Lan, năm 1999 ở Hà Lan, năm 2002 ở Thái Lan, năm 2005 ở Mỹ và năm 2008 ở Thái Lan) đã chứng minh điều đó

So với toàn bộ cư dân Thái ở Đông Nam á và Nam Trung Quốc, người Thái ở Việt Nam không nhiều: 1.328.725 người {212, tr 21}, nhưngdo địa bàn

bị chia cắt, lại chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa từ nhiều hướng, cũng như văn hóa của các tộc người cư trú xen kẽ, nên sự khác biệt giữa các nhóm

địa phương là điều không tránh khỏi Nhiệm vụ của giới nghiên cứu khoa học nước ta hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống tất cả các nhóm cư dân Thái trên địa bàn cả nước, cũng như ở các địa phương So với toàn bộ cư dân Thái ở Việt Nam, người Thái ở miền núi Thanh Hóa có nhiều nét tương

đồng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt, nên việc nghiên cứu người Thái ở

đây vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn

Là một người sinh ra và lớn lên ở miền núi Thanh Hóa và là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu Dân tộc học ở Học viện Chính trị - Hành chính khu vực

I, trong nhiều năm qua tôi đã tiến hành nghiên cứu về lịch sử tộc người, kinh

tế, xã hội và văn hóa của người Thái, và có nhiều dịp đi điền dã tại nhiều địa bàn có người Thái sinh sống thuộc miền núi Thanh Hóa Những vấn đề về tri thức bản địa của người Thái trong đời sống tộc người truyền thống cũng như

hiện nay đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “Tri thức bản địa của người Thái ở

miền núi Thanh Hóa” làm luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành

Dân tộc học

Nghiên cứu đề tài này tôi muốn khái quát những tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa, khai thác những giá trị lịch sử, văn hóa mà người Thái đã sáng tạo ra trên chiếc nôi của nền văn hóa dân tộc Qua đó, một mặt phát huy những mặt tích cực, hữu ích của tri thức bản địa; mặt khác, chỉ

Trang 8

ra những hạn chế và việc kết hợp giữa tri thức bản địa với tri thức khoa học hiện đại trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa hiện nay Qua đó giới thiệu nguồn tư liệu khảo sát từ thực tiễn và đề xuất một số ý kiến làm cơ sở bảo lưu các giá trị văn hóa tộc người, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Về tri thức bản địa

Cho đến nay các, kết quả nghiên cứu lý thuyết về tri thức bản địa ở Việt Nam mới chỉ là một phần, một chương hoặc một bài của cuốn sách, một bài đăng trên tạp chí chuyên ngành, tổ chức hội thảo khoa học về vấn đề này… Có thể kể đến các tác giả với những công trình nghiên cứu sau:

Hoàng Xuân Tý - Lê Trọng Cúc (chủ biên): "Kiến thức bản địa của

đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên"

(236) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Các khái niệm và vai trò của kiến thức bản địa; 2 Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong một số lĩnh vực cụ thể Cuốn sách là một tài liệu tham khảo tốt trong nghiên cứu về tri thức bản địa

Ngô Đức Thịnh: "Tri thức dân gian và phát triển" (197) Bài viết trình

bày các nội dung: 1 Khái niệm tri thức dân gian; 2 Các loại tri thức dân gian của các tộc người; 3 Vai trò của tri thức dân gian; 4 Bảo tồn tri thức dân gian

Ngô Đức Thịnh: "Thế giới quan bản địa" (205) Bài viết trình bày các

nội dung: 1 Khái niệm tri thức bản địa; 2 Các lĩnh vực của tri thức bản địa; 3 Những nghiên cứu trường hợp…

Dưới góc nhìn nhân học - văn hóa, hai bài viết của tác giả Ngô Đức Thịnh trình bày tương đối đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên quan của tri thức bản địa

Hoàng Hữu Bình: "Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững miền núi Việt Nam" (17) Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Khái

niệm tri thức địa phương; 2 Tri thức địa phương trong bảo vệ môi trường và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 9

Phạm Quang Hoan: “Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” (97) Bài viết trình bày các nội dung: 1 Tầm quan trọng của tri

thức địa phương; 2 Quan niệm về tri thức địa phương; 3 Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phương (tri thức truyền thống) của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong đời sống xã hội đương đại” (98) Bài viết trình

bày các nội dung: 1 Tại sao cần nghiên cứu tri thức địa phương; 2 Tri thức địa phương là gì; 3 Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Phạm Quang Hoan: "Tri thức địa phương về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi Việt Nam" (99) Bài viết trình

bày các nội dung: 1 Quan niệm về tri thức địa phương; 2 Tri thức địa phương

về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Dưới góc nhìn nhân học - văn hóa, ba bài viết của tác giả Phạm Quang Hoan trình bày tương đối đầy đủ về khái niệm, nội hàm và các lĩnh vực liên quan của tri thức bản địa nói chung, tri thức bản địa của các tộc người thiểu số

ở Việt Nam

Hà Đình Thành "Tác động của tri thức dân gian" (180) Bài viết của

tác giả trình bày các nội dung: 1 Khái niệm và vai trò của tri thức dân gian; 2 Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam; 3 Tác động của tri thức dân gian trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên môi trường

(Mông ký Slay chủ biên): "Cung cấp tri thức địa phương một hướng tiếp cận mới trong giáo dục cho học sinh dân tộc" (133) Bài viết của tác giả

trình bày các nội dung: 1 Quan niệm về tri thức địa phương; 2 Tri thức địa phương với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; 3 Một số nguyên tắc lựa chọn nội dung tri thức địa phương; 4 Các môn học với việc chuyển tải kiến thức địa phương

Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền tổ chức Hội thảo tri thức bản địa (143) Các tham luận trình bày: phương pháp

Trang 10

nghiên cứu, đánh giá tri thức bản địa; tài nguyên sinh vật và sự chia sẻ lợi ích; ngăn ngừa việc chiếm dụng văn hóa vật thể, bảo vệ tri thức cổ truyền, tri thức bản địa; y học dân gian và tri thức bản địa trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của một số tộc người thiểu số…

Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo Vai trò của tri thức bản địa trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường ở các cộng đồng dân tộc thiểu số (144) Các tham luận trình bày: Mối quan hệ giữa văn hóa và môi

trường; một đôi nét về khái niệm tri thức bản địa; tri thức bản địa - những bước thăng trầm; tri thức bản địa trong bảo vệ môi trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của một số tộc người thiểu số…

Trần Bình: “Tri thức địa phương, tiềm lực phát triển đất nước” (23)

Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Quan niệm và nội hàm của tri thức địa phương; 2 Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội

Nguyễn Duy Thiệu: “Tri thức bản địa nguồn lực quan trọng cho sự phát triển” (188) Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Quan niệm về

tri thức bản địa; 2 Tri thức bản địa của một số tộc người trong khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, sản xuất nông nghiệp…

Lê Văn Khoa: "Tri thức bản địa" (112) Bài viết của tác giả trình bày các

nội dung: 1 Quan niệm về tri thức bản địa; 2 Đặc điểm của tri thức bản địa

Nguyễn Thanh Thự: "Một vài suy nghĩ về việc giảng dạy tri thức bản

địa" (208) Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Suy nghĩ về khái

niệm tri thức bản địa; 2 Sự cần thiết phải giáo dục tri thức bản địa; 3 Nội dung và phương pháp giảng dạy

Trần Hồng Hạnh: "Tri thức địa phương - tiếp cận lý thuyết" (89) Bài

viết của tác giả trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn tài liệu ở trong và ngoài nước, trình bày đầy đủ và có hệ thống các nội dung: 1 Khái niệm tri thức địa phương; 2 Tri thức địa phương và cư dân địa phương; 3 Tri thức địa phương

và bối cảnh; 4 Phân loại tri thức địa phương

Trang 11

Vũ Trường Giang: “Về tri thức bản địa và phát triển” (67) Bài viết của

tác giả trình bày các nội dung: 1 Khái niệm tri thức bản địa; 2 Tầm quan trọng của tri thức bản địa trong phát triển

Nguyễn Thị Thu Hà: “Tri thức bản địa - những bước thăng trầm” (85)

Bài viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Tri thức bản địa và những đặc

điểm chung; 2 Tri thức bản địa và những bước thăng trầm

Bùi Hoài Sơn: “Một đôi nét về khái niệm trị thức bản địa” (161) Bài

viết của tác giả trình bày các nội dung: 1 Sự phát triển khái niệm tri thức bản

địa; 2 Mối quan hệ giữa tri thức bản địa và khoa học

2.2 Về người Thái

Cho đến nay có nhiều nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu về người Thái đã được xuất bản Trong phạm vi của đề tài luận án,

kể các tác giả và những công trình nghiên cứu sau:

R Robert: “Notes sur les Tày dèng de Lang Chánh (Thanh Hóa - An

nam)” (264) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Điều kiện địa lý; 2 Hoàn cảnh xã hội và vật chất; 3 Thần thánh ma quỷ; 4 Những trường hợp chính của cuộc sống; 5 Các thầy mo; 6 Tín ngưỡng và các loại lễ; 7 Tinh thần nhân dân; Phần cuối của cuốn sách là phụ lục về bản đồ, hình vẽ, truyền thuyết, bảng thống kê… Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo

có giá trị khi nghiên cứu về người Thái ở miền núi Thanh Hóa nói riêng, ở khu vực Bắc Trung bộ nói chung

Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” (240) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Truyện kể bản mường; 2

Lai lịch dòng họ Hà Công, Lệ mường và luật mường; Phần cuối của cuốn sách

là phụ lục được lập rất công phu, chú thích về địa danh, những khái niệm chung về xã hội Thái, cách tính lịch của người Thái đen… Cuốn sách là một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về người Thái

Tô Sỹ Hòa: “Đôi nét về nông nghiệp ruộng nước của người Thái xã Vạn Xuân - huyện Thường Xuân - tỉnh Thanh Hóa” (95) Đây là luận văn cử nhân

Trang 12

chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về hoạt động nông nghiệp ruộng nước và những nghi lễ nông nghiệp của người Thái…

Nguyễn Doãn Hương: “Truyền thống thuỷ lợi và những nghi lễ liên quan đến thuỷ lợi của người Tày Dọ ở Vạn Xuân, Thường Xuân, Thanh Hóa”

(104) Đây là luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn, nội dung chính của luận văn trình bày về kỹ thuật xây dựng hệ thống thuỷ lợi cổ truyền, vai trò của thuỷ lợi trong canh tác nông nghiệp, những nghi

lễ liên quan đến thuỷ lợi của người Thái…

Cầm Trọng: “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” (217) là cuốn sách

nghiên cứu công phu, nghiêm túc và tương đối toàn diện về người Thái Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam; 2 Các loại hình kinh tế; 3 Ruộng đất và xã hội; 4 Bản mường; 5 Một số nét khái quát về tôn giáo, nghệ thuật, văn học; 6 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, xã hội người Thái không ngừng phát triển Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về người Thái

Cầm Trọng: “Mấy vấn đề về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” (219) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Sự

xuất hiện hình thái hôn nhân đầu tiên; 2 Hệ thống thân tộc và các hình thái xã hội sơ khai; 3 Sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cổ truyền Cuốn sách

là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về người Thái

Đặng Nghiêm Vạn và cộng sự: “Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu” (242) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Lịch sử; 2 Bản

làng; 3 Phong tục; 4 Hội lễ; 5 Văn học; 6 Nghệ thuật; 7 Phần phụ lục trình bày về lệ mường, truyện cổ, tục ngữ…

Hoàng Anh Nhân (chủ biên): “Văn hóa truyền thống mường Ca Da”

(139) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Truyền thuyết và cổ tích; 2 Truyện thơ, trường ca, trò diễn, dân ca; 3 Một số luật lệ… của người Thái ở mường Ca Da (nay thuôc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa)

Trang 13

Trong các kỷ yếu/sách (229, 230, 231, 247) của 5 Hội thảo khoa học

về Thái học có nhiều bài viết của nhiều tác giả cũng có đề cập đến các khía cạnh khác nhau về tri thức bản địa của người Thái

Cầm Trọng - Phan Hữu Dật: “Văn hóa Thái Việt Nam” (224) Nội

dung của cuốn sách trình bày: 1 Văn hóa của người Thái ở Việt Nam; 2 Văn hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam á; 3 Văn hóa Thái - một loại hình văn hóa thung lũng; 4 Văn hóa Thái - một loại hình văn hóa kỹ thuật tiền công nghiệp; 5 Văn hóa thiết chế xã hội; 6 Hệ thống tư tưởng và tri thức; 7 Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở miền Bắc Việt Nam Có thể nói

đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, trình bày văn hóa của người Thái Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về văn hóa của người Thái ở Tây Bắc

Vi Văn An: “Thiết chế xã hội truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An” (4) Đây là luận án Tiến sĩ Sử học, chuyên ngành Dân tộc học, nội

dung chính của luận án trình bày: 1 Người Thái ở Nghệ An; 2 Quan hệ xã hội; 3 Chế độ ruộng đất; 4 Tổ chức hành chính và bộ máy quản lý bản mường; 5 Sự biến đổi của thiết chế xã hội bản mường

Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng: “Luật tục của người Thái ở Việt Nam”

(199) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Người Thái và luật tục Thái; 2 Các văn bản Luật tục Thái ở Tây Bắc Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu phương thức tổ chức và quản

lý xã hội của người Thái

Vũ Trường Giang: “Hệ thống truyền thông cổ truyền của người Thái ở miền Tây Thanh Hóa” (54) Đây là luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Dân tộc

học, nội dung chính của luận văn trình bày: 1 Truyền thông biểu tượng; 2 Truyền thông âm thanh…

ạttha nantachukra: “Các giá trị văn hóa vật chất của người Thái ở

miền núi Nghệ An” (11) Đây là luận án Tiến sĩ Sử học, chuyên ngành Dân tộc

Trang 14

học, nội dung chính của luận án trình bày: 1 Khái quát về người Thái ở Nghệ An; 2 Hệ thống công cụ sản xuất; 3 Hệ thống thuỷ lợi; 4 Về ăn, mặc, ở; 5 Các phương tiện vận chuyển, đi lại; 6 So sánh về tính đồng nhất và khác biệt trong văn hóa vật chất của người Thái ở Nghệ An và người Thái ở Thái Lan

Vũ Thị Hoa: “Lễ hội cầu mùa của người Thái Tây Bắc Việt Nam”

(94) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Khái quát về người Thái ở Tây Bắc;

2 Những lễ nghi và lễ hội liên quan đến nông nghiệp của người Thái; 3 Lễ nghi và lễ hội nông nghiệp Thái với tín ngưỡng và nghệ thuật truyền thống

Nguyễn Nghĩa Thìn (chủ biên): “Thực vật học dân tộc: cây thuốc của

đồng bào Thái Con Cuông, Nghệ An” (193) Nội dung của cuốn sách trình

bày: 1 Hệ thống các cây thuốc; 2 Sử dụng cây thuốc; 3 Tính hiệu quả; 4 Các bài thuốc truyền thống; 5 Những cây thuốc quý và những cây thuốc mới phát hiện Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu y học cổ truyền và thực vật học dân tộc của người Thái

Vương Anh: “Tiếp cận văn hóa bản Thái xứ Thanh” (12) Nội dung

của cuốn sách trình bày: 1 Từ cội nguồn tộc người Thái, 2 Vào kho tàng văn hóa phi vật thể, 3 Tiếp tục phát triển đời sống văn hóa, xây dựng môi trường xã hội - nhân văn ở bản Thái xứ Thanh

Lê Huy Dũng: “Tín ngưỡng dân gian của người Thái ở Thường Xuân, Thanh Hóa” (41) Đây là luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội

dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và vai trò của các hình thức tín ngưỡng dân gian trong đời sống của người Thái…

Hoàng Thị ánh: Tìm hiểu tục lệ cưới xin của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (15) Đây là luận văn cử nhân chuyên

ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và các nghi lễ trong hôn nhân của người Thái…

Khổng Minh Hằng: “Tìm hiểu tri thức về bảo vệ môi trường của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (90) Đây là luận

văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày

Trang 15

quan niệm về môi trường và các tri thức tộc người trong bảo vệ môi trường của người Thái

Vũ Phương Nga: “Các phong tục tập quán về sinh đẻ và nuôi con cái của người Thái ở xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” (146) Đây

là luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về các phong tục tập quán về sinh đẻ và nuôi con cái của người Thái

Cao Văn Thanh (chủ biên): “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái vùng núi Bắc Trung bộ hiện nay” (179) Nội dung của

cuốn sách trình bày: 1 Giới thiệu về người Thái và văn hóa truyền thống của người Thái; 2 Thực trạng văn hóa truyền thống của người Thái; 3 Bảo tồn và phát huy truyền thống của người Thái…

Vi Văn Biên: “Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An” (16) Nội dung của cuốn sách trình bày: 1 Khái quát về tộc người Thái ở

Thanh Hóa và Nghệ An; 2 Văn hóa ẩm thực; 3 Làng bản - nhà cửa; 4 Trang phục; 5 Công cụ lao động và phương tiện vận chuyển; 6 Đôi nét về văn hóa vật chất của người Thái ở Bắc Trung Bộ và người Thái ở Tây Bắc…

Ngoài ra, trên các Tạp chí khoa học như: Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Văn hóa dân gian, Nghiên cứu Đông Nam á, Văn hóa nghệ thuật, Nguồn sáng dân gian, Dân tộc và thời đại… cũng đã đăng tải nhiều bài viết về kinh

tế, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán… của người Thái Riêng trên Tạp chí Dân tộc học, tôi đã thống kê đến nay có khoảng 80 bài viết về người Thái, trong đó có một số bài đề cập tới tri thức bản địa của người Thái trên một số lĩnh vực cụ thể của các tác giả: Vi Văn An (9); Hoàng Cầm (26); Lâm Minh Châu (27); Vũ Trường Giang (56), (57), (65), (68), (69)…

Từ những cuốn sách, luận án, luận văn, bài viết… về tri thức bản địa

và về người Thái vừa trình bày có thể rút ra một nhận xét sau:

Thứ nhất, nghiên cứu về tri thức bản địa là một nghiên cứu "trẻ" ở Việt

Nam nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học thuộc các

Trang 16

chuyên môn khác nhau như dân tộc học, văn hóa học, tài nguyên môi trường, sinh học, nông nghiệp, lâm nghiệp…

Thứ hai, các kết quả nghiên cứu đã đạt được những thành công nhất

định về lý thuyết; đồng thời, khẳng định vai trò quan trong của tri thức bản địa trong phát triển bền vững

Thứ ba, những kết quả nghiên cứu thể hiện tinh thần làm việc nghiêm

túc của các tác giả, là tài liệu tham khảo tốt trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách

Thứ tư, nhiều nội dung trong tri thức bản địa của người Thái về hoạt

động sản xuất nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, về cây thuốc, về luật tục, về truyền tin… đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và trình bày trong nhiều công trình

Thứ năm, hiện nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Phác họa một cách tương đối hệ thống về tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa

3.2 Phân tích giá trị và vai trò của tri thức bản địa trong đời sống của người Thái dưới góc nhìn bản sắc văn hóa tộc người

3.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức bản địa của người Thái trong giai đoạn hiện nay

Trang 17

Luận án tiến hành nghiên cứu diện tại nhiều xã có người Thái cư trú ở miền núi Thanh Hoá và nghiên cứu điểm là hai xã Yên Khương (huyện Lang Chánh) và Xuân Lẹ (huyện Thường Xuân)

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận án này, tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trên nền tảng lý luận đó, sử dụng phương pháp điền dã Dân tộc học là điền dã, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn, thảo luận nhóm… Trong chừng mực nào đó, chúng tôi còn áp dụng một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu tham dự (PR: Participating Research), phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA: Participatory Rural Appraisal)… Khi áp dụng PRA, chúng tôi thực hiện các yêu cầu:

- Thái độ làm việc: Tự nguyện, kiên nhẫn ngồi lắng nghe để người dân

được trình bày những điều họ làm hoặc cách thức mà họ lựa chọn, để từ đó hiểu được tại sao họ lại làm như vậy

- Hình thức làm việc: Đa dạng, đơn giản, cụ thể để người dân có thể trình bày những tri thức của họ một cách dễ dàng và đầy đủ

- Đánh giá: Dùng những thông tin nhìn thấy được, công khai các thông tin để đối tượng nghiên cứu tham gia thảo luận theo nhóm, giúp đưa ra các

đóng góp tương đối thống nhất của người dân địa phương đối với các thông tin

mà người nghiên cứu muốn thu thập

6 Nguồn tư liệu

Thực hiện luận án này, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu chính sau đây:

Thứ nhất, tư liệu điền dã về người Thái tôi thu thập được trong nhiều

năm qua ở các huyện Như Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát… thuộc miền núi Thanh Hóa

Thứ hai, kế thừa những thành tựu nghiên cứu về người Thái ở Việt

Nam nói chung, ở miền núi Thanh Hóa nói riêng của các nhà nghiên cứu đi trước ở trong và ngoài nước

Trang 18

Thứ ba, khai thác các tài liệu lưu trữ tại phòng Tư liệu khoa Lịch sử -

Trường Đại học KHXH & nhân văn Hà Nội, thư viện Viện Dân tộc học, Viện

Nghiên cứu văn hóa, Viện Thông tin khoa học xã hội, Thư viện quốc gia,

phòng lưu trữ thuộc Văn phòng UBND tỉnh, Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa…

7 Đóng góp của luận án

7.1 Bổ sung tài liệu thành văn về tri thức bản địa của người Thái ở

miền núi Thanh Hóa

7.2 Xác định giá trị và vai trò của tri thức bản địa của người Thái đối

với việc phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi Thanh Hóa, góp phần hoạch

định và thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong vùng

7.3 Những kết quả nghiên cứu của luận án trong một chừng mực nhất

định sẽ bổ ích cho các nhà quản lý về công tác dân tộc và văn hóa

8 Bố cục của luận án

Luận án có 305 trang, bao gồm cả phần phụ lục, bản đồ, ảnh, bảng

thống kê, danh sách người cung cấp tư liệu…

Ngoài phần mở đầu 13 trang, phần kết luận 4 trang, nội dung chính

của luận được chia thành 4 chương

Chương I Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu

Chương II Tri thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và

bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Chương III Tri thức bản địa về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ

cộng đồng

Chương IV Tri thức bản địa trong tổ chức và quản lý xã hội

Trang 19

Chương 1 Tổng quan về địa bμn, tộc người vμ vấn đề nghiên cứu

1.1 Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa

Miền núi Thanh Hóa là một khu vực rộng lớn với diện tích 7.893 km2

(chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh), có địa thế núi non hiểm trở với hệ thống bắc sông Mã là núi đá vôi tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn và kết thúc bằng dãy Tam Điệp, có độ cao giảm dần từ 1.500 mét đến 100 mét, đỉnh cao nhất là Bù Luông (1.667 m) thuộc địa giới 2 xã Thanh Sơn (huyện Bá Thước) và Phú Xuân (huyện Quan Hóa); hệ thống nam sông Mã gồm các dãy phiến thạch, grannít chạy từ Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Thường Xuân sang Như Xuân… có độ cao trên dưới 1000 mét, đỉnh cao nhất là Bù Chó (1.122 m) thuộc xã Xuân Mỹ (huyện Thường Xuân) Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì

đây cũng là khu vực của vùng rừng mưa nhiệt đới với hệ sinh thái phổ tạp Vì vậy, thảm thực vật và quần động vật ở đây rất phong phú, tạo điều kiện cho cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông, đặc biệt là ở các thung lũng đầu nguồn hoặc phụ lưu các sông lớn như mường Ca Da (huyện Quan Hóa), mường Khoòng, mường ống (huyện Bá Thước), mường Đèng (huyện Lang Chánh), mường Chiếng Ván (huyện Thường Xuân)

Miền núi Thanh Hóa có hai hệ thống sông chính là sông Mã và sông Chu Sông Mã bắt nguồn từ huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên), qua huyện Sông Mã (tỉnh Sơn La), huyện Xiềng Khọ (tỉnh Hủa Phăn, Lào) và chảy vào huyện Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thuỷ… (tỉnh Thanh Hóa) Sông Mã có chiều dài 512 km (phần chảy trên đất Thanh Hóa dài 242 km), lưu vực rộng 28.400 km2 (thuộc Thanh Hóa là 9.000 km2), có các nhánh chính tại miền núi là sông Luồng, Sông Lò, Suối Sim, Suối Quanh và Sông Chu Sông Chu bắt nguồn từ Lào, qua huyện Quế Phong (tỉnh Nghệ An) và chảy vào huyện Thường Xuân… (tỉnh Thanh Hóa) Sông Chu dài 300 km và có các nhánh chính là sông Khao, sông Đặt, sông Đằn và sông Âm

Trang 20

Hai hệ thống sông Mã và sông Chu qua đất Lào và Việt Nam đã tạo ra những thung lũng với những cánh đồng màu mỡ thuận lợi cho việc trồng lúa nước, là con đường chuyển cư chính của người Thái từ Việt Nam sang Lào và ngược lại, đồng thời là cầu nối cho qúa trình giao lưu văn hóa, trao đổi kinh tế của các tộc người cư trú ở vùng lưu vực trong lịch sử cũng như hiện tại

Rừng vốn là thế mạnh của miền núi, nhờ có điều kiện nhiệt đới ẩm thuận lợi, rừng cây xanh tốt quanh năm với hệ sinh thái phổ tạp Trong rừng chứa đựng một tiềm năng lớn về kinh tế với các loại gỗ quý như Đinh, Lim, Sến, Lát, Pơ mu… Một loại cây khác phổ biến và có giá trị kinh tế cao là cây luồng cùng bạt ngàn nứa, vầu, song, mấy Núi rừng ở đây còn hội tụ một quần thể động vật như voi, hổ, gấu… và một kho tài nguyên trong lòng đất như vàng, chì, thiếc…

Miền núi Thanh Hóa có 11 huyện với 220 xã, trong đó có 102 xã đặc biệt khó khăn (diện chương trình 135), hai huyện vùng cao biên giới Mường Lát, Quan Sơn có 23 xã thì 100% số xã trong diện chương trình 135 Đây cũng

là khu vực giữ vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm sự ổn định, phát triển không chỉ riêng cho vùng mà còn cho cả tỉnh; là vùng giàu tiềm năng, có nhiều thế mạnh: đất đai phát triển nông nghiệp, nghề rừng, khoáng sản, thuỷ

điện, thương mại cửa khẩu, du lịch…

1.2 Người Thái ở miền núi Thanh Hoá

Theo tổng điều tra dân số ngày 1 - 4 - 1999, miền núi Thanh Hoá có các tộc người thiểu số là Mường, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú cư trú Dân

số của tộc Thái là 210.908 người, cư trú tập trung ở 8 huyện miền núi và một

số xã miền núi, trung du của các huyện đồng bằng

Bảng 1.1: Dân số các tộc người thiểu số ở miền núi Thanh Hóa

Trang 21

Đến thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, do bị sức ép của người Hán, một bộ phận người Thái thiên di nhiều đợt theo nhiều hướng dọc theo các con sông lớn xuống vùng Đông Nam á lục địa Cùng lúc đó, họ gặp phải cuộc thiên di của những nhóm tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Tạng - Miến từ Tây Nam Trung Quốc tràn về Đến đây các nhóm Thái ngành phía Tây cộng cư với tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Môn - Khơ me đã làm chủ miền này từ trước Tuy ở một thế yếu kém hơn, đến những thế kỷ đầu sau Công nguyên, tổ tiên người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu quốc ở thượng lưu sông Mêkông, ở vùng thượng Đông Dương tới vùng giáp ranh tỉnh Vân Nam, vùng thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam Trong giai đoạn này, Tây Bắc nói chung và

Điện Biên Phủ nói riêng là đường chuyển tải văn hóa từ ấn Độ qua Việt Nam với những ảnh hưởng của đạo Bà La Môn và Phật giáo Ngược lại, cũng qua

Trang 22

đây các cư dân bản địa ở Đông Dương đã chuyển sang ấn Độ và Tây Nam Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình {241, tr 17}

Cuộc thiên di lớn thứ hai của tổ tiên người Thái diễn ra bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên cùng sự lớn mạnh của nhà nước Nam Chiếu, Đại Lý và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XIII - XIV, kết thúc vào thế kỷ XV, nhờ sự suy yếu của những nhà nước Môn - Khơ me tại

Đông Dương và sự suy yếu hay thất bại trước quân Mông - Nguyên của những nhà nước Tạng - Miến Kết quả là một loạt quốc gia Thái được thiết lập ở Tây

Đông Dương, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào, Thái Lan…

Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái thần phục triều đình phong kiến Việt Nam (Lý, Trần, Lê sơ…) và được phép cai quản các lãnh địa cát cứ của mình Mỗi vùng thường có một mường trung tâm và các mường phụ thuộc

do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ương đứng đầu

Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này đã rất lớn:

“năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống (có thể phiên âm từ Ngu Háu (Rắn Hổ mang - biểu tượng của người Thái đen) và Ai Lao đều vào triều cống

Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi…” {46, tr 247}

Cộng đồng người Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành Thái trắng (Tay khao) và Thái đen (Tay đăm) rất độc đáo mà không thấy có ở các nhóm Tai khác của miền Nam Trung Quốc một số quốc gia ở khu vực

Đông Nam á lục địa

ở miền núi Thanh Hóa, người Thái có hai nhóm tự gọi là Tày và Tày

Dọ Nhóm tự gọi là Tày phân bố chủ yếu ở các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh…; nhóm tự gọi là Tày Dọ tập trung chủ yếu ở các huyện Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng “Danh xưng Tày Dọ có thể có mối liên hệ với các địa danh Mường

Xo (Lai Châu), Mường Do (Vân Nam - Trung Quốc) xưa kia” {74, tr 41} TS

Vi Văn An cho rằng “Dọ” có nghĩa là tạm, chẳng hạn “dú dọ” (ở tạm) Rất có thể “Dọ” là để chỉ những bộ phận Thái mới chuyển cư đến, lúc đầu chỉ xin ở

Trang 23

tạm, sau đó mới định cư lâu dài” {2, tr 53} Sau này, TS Vi Văn An đính chính lại: "Dọ" là cố định, "Nhài" là di chuyển(1)

Lý giải về tên gọi của các nhóm Thái ở hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ

An, nhà dân tộc học Mạc Đường cho rằng:

Sau khi thiên di vào Việt Nam, nhiều nhánh người Thái đã phân chia cư trú ở các vùng rừng núi Bắc Trung bộ theo từng khu vực nhỏ ngăn cách khác nhau, họ đã dùng tên địa phương, tên sông núi nơi họ cư trú và những đặc điểm trang sức để gọi thành những tộc danh phức tạp khác nhau Đó là nguyên nhân tồn tại nhiều tộc danh trong các chi tộc Thái ở miền núi Bắc Trung bộ…” {51, tr 24}

Cùng với tên gọi, nguồn gốc và lịch sử cư trú của người Thái ở miền núi Thanh Hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng:

Người Thái ở mường Ca Da đã từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào đi dọc sông Mã mà xuống vùng Quan Hóa Khi đã định cư vững chắc, người Thái Ca Da lại tiếp nhận nhiều đợt di cư sau này của những người đồng tộc theo con đường truyền thống mà cha ông họ đã đi {79, tr 16}

Theo nghiên cứu của TS Khăm Pheng Thíp muntaly: Người Phu Thay

ở Hủa Phăn hiện nay có nguồn gốc chủ yếu và trực tiếp là từ Tây Bắc Việt Nam và miền Tây Thanh Hóa di cư đến và trải qua nhiều đợt, đông nhất là thời kỳ thế kỷ XVIII và XIX {111, tr 28 - 31}

Người Phu Thay dọc sông Nặm Má (sông Mã) xung quanh thị xã Xăm Nửa, huyện Hủa Mương, vùng Nặm Nơn cho biết cách đây 8 - 9 đời (khoảng

200 năm) những người Thái đen từ mường Muổi (Thuận Châu - Sơn La) đã

đến vùng mường ẹt, mường Xòn Một bộ phận khác ở Mường Xăm, Mường Pua, Xiềng Khọ, Mường Xòn lại nói tổ tiên họ vốn từ mường Ca Da (Quan Hóa - Thanh Hóa) chạy giặc sang Lào

Người Thay Đeng (Thái Đỏ) ở mường ó, huyện Hủa Mương cho biết nguồn gốc của họ ở Việt Nam sang Theo họ một số từ mường Ca Da (Quan

Trang 24

Hóa - Thanh Hóa) đầu tiên đến vùng Xiêng Men, sau đó đi vào mường ó Người Thay Đeng (Thái Đỏ) ở Sốp Hao huyện Xiêng Khọ lại có nguồn gốc từ mường Khoòng (Bá Thước - Thanh Hóa), mường Ca Da (Quan Hóa - Thanh Hóa) và mường Mun (Mai Châu - Hòa Bình) đến

Nói hầu hết người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn đều là người Thái ở Việt Nam di chuyển sang, nhưng trong qúa trình thiên di của tộc người này đã có một bộ phận theo con đường ngược lại PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho biết:

ở mường Ca Da (nay là đất các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm… huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa), dòng họ quý tộc Lò Khăm cũng có nguồn gốc từ mường Bua, mường Xà của đất Lào thiên cư đến Dòng họ này khi cúng người chết đều đưa linh hồn về Lào Đặc biệt hơn, xưa kia trong dịp Tết Nguyên đán dòng họ Lò Khăm vẫn phải cho người con dâu cả ăn mặc, búi tóc theo kiểu người Lào Phạm vi bảo lưu tập tục ở

đây tuy chỉ còn ở người con dâu đầu nhưng nó lại là chi tiết rất lý thú nhắc nhở về nguồn gốc của một dòng họ lớn ở vùng này {75, tr 34} Người Thái ở mường Khoòng, cụ thể là dòng họ Hà Công đã từ Mai Châu (Hòa Bình) di cư vào đã được 5 - 6 đời Người Thái các vùng trên đều thừa nhận tổ tiên chung với Thái - Mai Đà (Mai Châu, Đà Bắc), thường hay đi

đám ma, nhận họ hàng ở Hòa Bình

Người Thái ở mường Chiếng Ván (nay là đất các xã Vạn Xuân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ… của huyện Thường Xuân), cụ thể là dòng họ Cầm Bá đã từ Lai Châu di cư vào ở rể cho một chi họ chuyên về tế lễ đền từ (gọi là chi ông

Đăm; còn một chi nữa chuyên lo lễ nghi thờ trời gọi là ông Mường) đã sống ở

đây từ trước Hai chi ông Đăm và ông Mường thấy rể có chữ nghĩa lại tháo vát mới đoàn kết lại cùng nhau tổ chức mường ít nhất dòng họ Cầm Bá đã ở Chiếng Ván là 14 đời {79, tr 16}

Người Thái ở mường Đèng có nguồn gốc rất phức tạp Khảo sát thực tế của chúng tôi (tháng 8/1995, tháng 7 - 8/2006) tại vùng này đã được đại diện một số dòng họ cho biết về con đường di cư của tổ tiên như sau:

Trang 25

Ông Lò Văn Piêng (78 tuổi, nông dân ở bản Tứ Chiềng, xã Yên Khương) kể: tổ tiên là người Kinh ở vùng Lược (huyện Thọ Xuân), cách đây khoảng 6 - 7 đời do túng thiếu nên di cư đến mường Đèng sinh sống, rồi di cư sang Lào được tạo mường Quyên do không có con trai nên gả con gái, cho ở

rể và hưởng toàn bộ tài sản Sau đó lại trở về sinh sống tại mường Đèng Tạo mường Đèng chặt cây đè chết người nên bị phạt vạ rất nặng đã được tổ tiên của ông Lò Văn Piêng giúp đỡ tiền bạc để nộp phạt Vì việc này nên được tạo mường Đèng cấp ruộng, đày tớ và cho mang họ Lò của tạo

Ông Lò Văn May (50 tuổi, thầy thuốc ở bản Tứ Chiềng, xã Yên Khương kể: tổ tiên ở mường Lò (Nghĩa Lộ), cách đây 5 - 6 đời do chạy giặc

Cờ Vàng đã di cư vào mường Khoòng, sau đó mới đến định cư ở mường Đèng

Ông Ngân Văn Ninh 65 tuổi, thầy cúng ở bản Tứ Chiềng, xã Yên Khương) kể: tổ tiên ở mường Kỳ (huyện Bá Thước) di cư đến mường Đèng đã

được 4 đời

Ông Lò Văn Thanh (53 tuổi, nông dân ở bản Bôn, xã Yên Khương) kể:

tổ tiên từ Quỳ Châu (Nghệ An) di cư đến mường Đèng đã được 5 đời

Ông Hà Đức Thiện (50 tuổi, Bí thư Đảng uỷ xã Yên Khương) kể: tổ tiên là người Kinh ở huyện Tĩnh Gia di cư sang Lào, rồi sau đó mới đến mường Đèng đã được 4 - 5 đời và đã bị Thái hoá hoàn toàn

Ông Vi Văn Thông (50 tuổi, Chủ tịch UBND xã Yên Khương) kể: tổ tiên từ huyện Con Cuông (Nghệ An) di cư đến mường Đèng đã 4 - 5 đời

Đối với người Thái ở miền núi Thanh Hóa (và cả miền núi Nghệ An),

sự phân biệt Thái trắng, Thái đen không rõ ràng như ở Tây Bắc Do vậy, việc xác định nhóm Thái nào ở Thanh Hóa và Nghệ An tương đồng với Thái trắng

và nhóm Thái nào tương đồng với Thái đen ở Tây Bắc là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa khoa học Có hai ý kiến khác nhau về vấn đề này:

1 PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng:

Bộ phận tự nhận là Tày Dọ ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ

là một và bộ phận này tương đồng Thái trắng ở Tây Bắc; các nhóm Tày,

Trang 26

Tày Mường ở Thanh Hóa và Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An tương

đồng Thái đen ở Tây Bắc {82, tr 25}

1.2.2 Các đặc điểm về kinh tế

Cũng giống như những người đồng tộc của mình ở Tây Bắc, người Thái ở miền núi Thanh Hoá là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vùng thung lũng, nên đặc trung cơ bản của người Thái là những cư dân thung lũng

và nền văn hóa Thái, dưới góc độ địa - văn hoá, có thể gọi là văn hóa thung lũng Trong sản xuất nông nghiệp, tuy người Thái đã biết sử dụng cày nhưng phương thức canh tác cơ bản vẫn là dùng trâu quần ruộng Bên cạnh đó, hệ thống thuỷ lợi “làm thay đổi dòng chảy”: Mương, Phai, Lốc, Cọn được xây dựng và sử dụng từ lâu đời Hệ thống thuỷ lợi theo phương pháp thủ công này

đã đạt trình độ cao và trở thành một trong những hệ thống thuỷ lợi điển hình của khu vực Đông Nam á

Bổ sung cho nguồn lương thực do canh tác ruộng nước đưa lại, đồng bào tiến hành canh tác mương rẫy với các loại cây lương thực như lúa, sắn, ngoài ra còn trồng rau, đậu, bầu bí Chu kỳ canh tác loại nương này từ 3 - 4 năm Sản phẩm rau rừng, các loại thủy sản tương đối sẵn và là nguồn thức ăn

bổ sung rất quan trọng Vì thế, trước đây vườn nhà chưa được chú trọng, chỉ

có những “vườn treo” làm bằng các máng gỗ treo ở “chồ” của nhà sàn để trồng thêm cây gia vị

Trang 27

Người Thái có nhiều kinh nghiệm nuôi cá ruộng, ao cá, đánh chài, lưới… cùng các phương thức đánh bắt cá tập thể rất vui nhộn Việc săn bắn chim thú chưa trở thành một nghề riêng Nó chỉ được tiến hành vào lúc nông nhàn, và bên cạnh việc tăng nguồn thức ăn để cải thiện đời sống còn nhằm mục đích bảo vệ mùa màng

Tuy thủ công chưa trở thành một nghề độc lập, nhưng người Thái trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm rất thành thạo Bên cạnh nghề dệt nổi tiếng của phụ nữ, đàn ông Thái giỏi đan lát đồ dùng trong gia đình bằng mây, tre, nứa và đan cài, lưới để đánh cá ở sông, suối

Các bản trung bình thường có từ 15 - 20 nóc nhà nhưng cũng có những bản lớn lên tới hàng trăm nóc nhà… Nhà cửa trong bản bố trí theo lối mật tập nhưng cũng có đôi nơi bố trí theo kiểu đường phố Tên gọi của bản thường gắn với một sự kiện lịch sử nào đó, người đến lập bản đầu tiên, có khi tên một khúc suối, một cánh đồng, một loại cây… Mỗi bản thường có một nơi nơi thờ cúng và có một nghĩa địa riêng

Mường: Mường là đơn vị hành chính cao nhất trong tổ chức xã hội truyền thống của người Thái Mường lớn tương đương châu, huyện, mường nhỏ tương đương tổng, xã Trung tâm của mường gọi là chiềng với hàm nghĩa trong sáng, đẹp đẽ Đứng đầu mường là tạo mường (thường là các dòng họ Lo Khăm, Cầm Bá, Phạm Bá, Hà Công…), giúp việc cho tạo mường là các chức dịch như tạo cai, mụ, pằn, quyên, đội, hé, ho luông, ho cang… Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong số 40 mường của người Thái, có 4 mường

Trang 28

lớn tiêu biểu cho 4 tiểu vùng của không gian văn hóa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa là mường Ca Da (này là các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Trung Xuân của huyện Quan Hóa), mường Khoòng (nay là các xã Thành Sơn, Thanh Lâm, Cổ Lũng, Lũng Niêm, Lũng Cao của huyện Bá Thước), mường Đèng (nay

là các xã Yên Khương, Yên Thắng của huyện Lang Chánh) và mường Chiếng Ván (nay là các xã Vạn Xuân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ của huyện Thường Xuân)

Gia đình của người Thái ở miền núi Thanh Hóa là gia đình nhỏ phụ quyền Người cha có quyền quyết định mọi việc trong gia đình, kể từ tổ chức sản xuất, phân công lao động đến việc dựng vợ gả chồng cho con cái Gia trưởng cũng là người thay mặt gia đình trong giao tiếp xã hội, tham gia các hoạt động của bản… Trong gia đình Thái mọi người sống hoà thuận với nhau,

vợ chồng cùng nhau làm lụng và nuôi dạy con cái Người chồng đảm đương mọi công việc nặng nhọc ngoài đồng áng và khi cần thiết cũng có thể tham gia nội trợ, chăm sóc con cái… Người vợ chăm lo việc nội trợ, đồng áng, nuôi dạy con cái và dệt vải đảm bảo nhu cầu mặc của gia đình…

Rộng hơn quan hệ gia đình là quan hệ thân tộc Trong xã hội của người Thái sự ràng buộc bởi các quan hệ mà tiếng Thái gọi là “ải noọng”,

“Lúng ta” và “Nhính xao” Đó là các mối quan hệ về phía nội, phía ngoại và những dòng họ mà phía mình có con gái đến làm dâu (hay những dòng họ mà mình có rể)

1.2.4 Văn hoá vật chất

Văn hoá vật chất của người Thái ở miền núi Thanh Hoá đa dạng và có nhiều nét độc đáo, vừa có những nét chung vừa mang tính đặc thù địa phương Nhà ở được cấu tạo theo lối mật tập Nhà ở của người Thái thường làm bằng

Trang 29

Đây là một cách tôn thờ thần nước, cầu mong mưa thuận gió hòa để cây trồng, đồng thời trấn trị thần lửa, ngăn chặn hoả tai {155, tr 36 - 37} Tuy nhiên, người Thái ở miền núi Thanh Hóa không gọi cái khóa nóc

đầu hồi mái nhà là “khau cút” mà gọi là “hủa méo dủ nộc hươn” (đầu mèo ở hồi nhà), một vài nơi giáp Lào lại gọi là “huống trạng” (vòi voi) ở những vùng gần thị trấn, đường giao thông… ngôi nhà sàn của người Thái có xu hướng chuyển sang kiểu nhà đất của người Kinh

áo quần và đồ trang sức của người Thái ở miền núi Thanh Hoá có một

số nét khác biệt so với người Thái ở Tây Bắc áo của phụ nữ có hai kiểu “áo chui đầu” (xửa khóm) và “áo xẻ ngực” (xửa tà hượt); hoa văn của váy (xỉn) chủ yếu trang trí ở chân váy với các hình thêu quả trám, rồng, hươu… Một số xã thuộc các huyện Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa… bộ nữ phục của người Thái đã có ảnh hưởng từ nữ phục của người Mường: khăn đội đầu là khăn trắng chứ không phải piêu, váy đen không có hoa văn ở chân váy… Hầu hết đàn ông Thái đều mặc theo lối của người Kinh Những bộ trang phục cổ chỉ xuất hiện trong các dịp lễ tết, ma chay…

Về ăn, uống, hút: Trước đây người Thái trồng lúa nếp và ăn cơm nếp Hiện nay đồng bào chuyển sang trồng lúa tẻ và ăn cơm tẻ là chủ yếu Cách thức làm chín thức ăn chủ yếu bằng cách “nướng” hoặc “đồ” Đồ uống có rượu (lau) với hai loại: rượu cất (lau siêu) và rượu cần (lau xà) Đàn ông Thái hút thuốc lào, đàn bà ăn trầu đã trở thành một thói quen mang tính truyền thống trong cuộc sống hàng ngày

1.2.5 Văn hóa tinh thần

Người Thái ở miền núi Thanh Hóa có một đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng được thể hiện trong các lĩnh vực: Tín ngưỡng tôn giáo (những biểu hiện tàn dư của tôn giáo nguyên thuỷ, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng phi bản, phi mường…); Các nghi lễ liên quan đến chu trình đời người (trong sinh đẻ, trong hôn nhân, trong tang ma); Các lễ hội (xên bản, xên mường, chơi hang ); Ngôn ngữ và chữ viết; Văn học dân gian, múa và âm nhạc (thần

Trang 30

thoại, truyện cổ tích, tục ngữ, dân ca, dân vũ, âm nhạc…); Tri thức dân gian (các hình thức chữa bệnh; khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên;

đoán định thời tiết, lịch và nông lịch, tổ chức và quản lý xã hội, truyền tin ); Nghệ thuật tạo hình và trang trí dân gian (trang trí dân gian trên trang phục,

đồ trang sức)…

1.2.6 Về các xã được chọn để tiến hành nghiên cứu

Hoàn thành bản luận án này, tôi tiến hành nghiên cứu diện và điểm tại nhiều xã có người Thái cư trú thuộc miền núi Thanh Hóa

Diện nghiên cứu là các xã Xuân Cẩm, Xuân Lộc, Xuân Chinh, Xuân

Lẹ, Tân Thành, Luận Khê, Lương Sơn (huyện Thường Xuân); xã Thanh Phong, Thanh Quân (huyện Như Xuân); xã Yên Thắng, Yên Khương, Lâm Phú (huyện Lang Chánh); xã Kỳ Tân, Ban Công, Cổ Lũng (huyện Bá Thước); xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Phú Lệ (huyện Quan Hóa); xã Sơn Hà, Sơn Điện (huyện Quan Sơn), xã Trung Lý (huyện Mường Lát)

Điểm nghiên cứu là hai xã Yên Khương (huyện Lang Chánh), đại diện cho nhóm người Thái tự nhận là Tày; và xã Xuân Lẹ (huyện Thường Xuân),

đại diện cho nhóm người Thái tự nhận là Tày Dọ

Xã Yên Khương nằm ở phía Tây Nam của huyện Lang Chánh, cách huyện lỵ hơn 40 km, là một xã vùng cao, biên giới, địa hình rất hiểm trở; phía Bắc giáp xã Lâm Phú (cùng huyện), phía Đông giáp xã Yên Thắng (cùng huyện), phía Nam giáp xã Bát Mọt (huyện Thường Xuân), phía Tây Bắc giáp xã Sơn Hà (huyện Quan Sơn), phía Tây Nam giáp huyện Sầm Tớ (cộng hòa dân chủ nhân dân Lào)

Xã Xuân Lẹ nằm ở phía Tây Nam của huyện Thường Xuân, cách huyện lỵ hơn 30 km, là một xã vùng cao, địa hình rất hiểm trở; phía Bắc và

Đông Bắc giáp xã Vạn Xuân (cùng huyện), phía Nam và Đông Nam giáp xã Xuân Chinh (cùng huyện), phía Tây và Tây Nam giáp xã Đồng Văn (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An), một phần phía Nam giáp xã Châu Bính (huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)

Trang 31

Dân cư truyền thống của hai xã Yên Khương và Xuân Lẹ có 100% là người Thái Hoạt động kinh tế chính của hai xã là sản xuất nông nghiệp, lúa nước là cây trồng chủ đạo, có trồng thêm sắn và một số cây hoa màu khác; ngoài ra, người dân còn trồng quế, khoanh nuôi bảo vệ rừng ; cơ sở hạ tầng

và y tế, giáo dục còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn

Bảng 1.2: Số liệu khái quát về hai xã Yên Khương và Xuân Lẹ

Số liệu khái quát về 2 xã Xã Yên Khương Xã Xuân Lẹ

Bình quân thu nhập/người/năm 1.320.000 đồng 2.040.000 đồng

Nguồn: UBND hai xã cung cấp năm 2006

Bảng 1.3: Số bản và số hộ của 2 xã Yên Khương và Xuân Lẹ

TT Các bản của hai xã Số hộ Số khẩu

Trang 32

1.3.1 Khái niệm tri thức bản địa

Thuật ngữ “tri thức bản địa” được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979 Sau đó, thuật ngữ này được Brokensha

và D.M.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục được sử dụng, phát triển cho đến ngày nay {236, tr 12}

Về nguồn gốc ra đời của thuật ngữ: sau khi chủ nghĩa thực dân bị phá sản trên phạm vi toàn thế giới vào cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 của thế kỷ

XX, thì các nước ở thế giới thứ 3 (á, Phi, Mỹ la tinh) mới giành được độc lập dân tộc, bắt đầu xây dựng lại đất nước Trải qua một thời gian, các dự án phát triển kinh tế - xã hội đã không thành công hoặc đạt được hiệu quả thấp, rõ rệt nhất là ở các quốc gia thuộc châu Phi Nguyên nhân không phải do thiếu vốn hay thiếu chuyên gia, mà chỉ vì theo mô hình và kinh nghiệm của châu Âu, không chú ý đến đặc điểm văn hóa, kinh tế truyền thống của dân tộc Từ đó người ta mới nhận thức rằng muốn phát triển kinh tế - xã hội nếu chỉ dựa vào khoa học hiện đại thì không đủ, mà phải bổ sung bằng các tri thức bản địa và kết hợp hai loại tri thức đó cho sự phát triển

Khác với “tri thức hàn lâm” (Academic Knowledge) được hình thành chủ yếu qua các nhà thông thái, được hệ thống hoá và truyền lại qua học vấn

và sách vở Tri thức bản địa được hình thành, tồn tại và phát triển trong qúa

Trang 33

trình lao động sản xuất, ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội của mọi thành viên trong cộng đồng, được bổ sung, hoàn thiện dần dần, được truyền từ

đời này sang đời khác thông qua nhiều hình thức như kinh nghiệm, ca hát, câu

đố, tập tục, thói quen… Giữa tri thức bản địa (tri thức địa phương) và tri thức khoa học có sự khác biệt {17, tr 51}

Bảng 1.4: So sánh sự khác nhau giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học Các lĩnh vực

tri thức Tri thức bản địa Kiến thức “khoa học”

1 Phạm vi

• Linh thiêng và thế tục cùng đồng hành; bao gồm cả siêu nhiên

• Hội nhập toàn thể, dựa vào hệ thống

• Được lưu giữ thông qua truyền miệng và trong các thực hành văn hoá

• Chỉ tính tới thế tục; loại trừ siêu nhiên

• Phân tích hay quy giản, dựa vào các tập hợp nhởcủa cái toàn thể

• Được lưu giữ thông qua sách vở và máy tính

• Giải thích dựa vào ví

dụ, kinh nghiệm và tục ngữ

• Được coi là tiếp cận gần nhất đến chân lý

• Chân lý được tìm thấy từ

sự lý giải của con người

• Giải thích dựa vào giảthuyết, lý thuyết và quy luật

3 Mục đích

• Trí tuệ lâu dài

• Thực tế cuộc sống và tồn tại

• Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương

Trang 34

• Học thông qua cách sống, trải nghiệm và làm

• Dạy thông qua ví dụ, làm mẫu, tôn giáo và kểchuyện

• Được kiểm nghiệm thông qua các tình huống thực tế

• Học thông qua giáo dục chính thức

• Dạy thông qua sách giáo khoa

• Được kiểm nghiệm giảtạo trong các kiểm tra

Nguồn: trích từ Alan, R Emery and Associates (1997) Guidelines for Environmental Assessments and Traditional Knowledge Dẫn lại theo {161}

Về mặt lý thuyết, trong phạm vi những công trình mà tác giả luận án

đã được tiếp cận, có thể kể các tác giả và những công trình nghiên cứu sau:

Louise Grenier: "Working with Indigenous Knowledge: A Guide for Researchers" (Làm việc với kiến thức bản địa: một chỉ dẫn cho nhà nghiên cứu) (259) Nội dung chính của cuốn sách trình bày: 1 What about

Indigenous Knowledge (Kiến thức bản địa là gì); 2 Protecting Intellectual Property Rights (Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ); 3 Developing a Research Framework (Sự phát triển một tổ chức nghiên cứu); 4 Data Collection (Sưu tầm tư liệu); 5 Case Studies (Nghiên cứu trường hợp); 6 Assessing, Validating, and Experimenting with IK (Đánh giá, công nhận và thử nghiệm cùng tri thức bản địa)

Trong bài: "Sự phát triển của tri thức bản địa, một ngành nhân học ứng dụng mới" (152), Paul Sillitoe đã đề cập đến các nội dung: 1 Những quan điểm

địa phương và nghiên cứu khoa học; 2 Khoa học, công nghệ và tri thức bản địa:

sự bổ sung cho nhau; 3 Diễn giải tri thức bản địa cho phát triển: những vấn đề trên giao diện chung; 4 Tăng cường sự giao lưu giữa các bên hữu quan; 5 Trao quyền cho ai qua sự tham dự của người dân; 6 Những vấn đề của kỳ vọng

Simon Brascoupe' and Howard Mann: "A Community Guide to Protection Indigenous Knowledge" (Một chỉ dẫn cộng đồng cho việc bảo tồn

tri thức bản địa) (251) Nội dung chính của cuốn sách trình bày: 1 What is

Trang 35

Indigenous Knowledge? Why does It need Preservation and Protection (Tri thức bản địa là gì? Tại sao cần phải duy trì và bảo tồn tri thức bản địa; 2 How can Indigenous Knowledge be Preserved and Protected: A community Development Model (Tri thức bản địa được bản tồn và gìn giữ như thế nào: Một hình mẫu phát triển cộng đồng)

Trong cuốn: "Recording and using Indigenous Knowledge: A manual"

của The International Institute of Rural Reconstruction (Edit by Everlyn Mathias) (cuốn sách này được dịch và xuất bản tại Việt Nam 2 lần tại cùng

Nhà xuất bản Nông nghiệp Lần 1 do Viện Kinh tế sinh thái tổ chức dịch với tên gọi: "Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa" (248) Lần 2 do Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng tổ chức dịch với tên gọi:

"Phương pháp thu thập và sử dụng kiến thức bản địa") Qua hai lần dịch, nội

dung của cuốn sách đều cơ bản giống nhau và trình bày ngắn gọn, cụ thể những vấn đề liên quan đến tri thức bản địa, bao gồm các phần: 1 Kiến thức bản địa với sự nghiệp phát triển; 2 Các phương pháp ghi chép và đánh giá; 3

Đánh giá kiến thức bản địa; 4 Những trường hợp nghiên cứu cụ thể; 5 Những câu hỏi hướng dẫn; 6 Các từ viết tắt và định nghĩa

Trong bài: "Les droits de propriété intellectuelle sur savoir des communautés ethniques" (Quyền sở hữu trí tuệ về tri thức của các cộng đồng

tộc người) của álvaro Zerda - Sarmiento, Clemente Forero - Pineda (14) trình bày các nội dung chính: 1 Tri thức của các cộng đồng tộc người ngày càng

được khai thác vào mục đích thương mại trong lĩnh vực dược học và nông nghiệp; 2 Đề xuất những nguyên tắc nhằm bảo vệ các tri thức cổ truyền của người bản địa

Trong bài "Indigenous Knowledge and Development - a postcolonial caution) (Tri thức bản địa và phát triển - Sự cẩn trọng hậu thuộc địa) của John

Briggs và Joanne Sharp (108) trình bày các nội dung: 1 Tri thức bản địa; 2 Lắng nghe tiếng nói khác; 3 Tri thức của những tri thức bản địa; 4 Tri thức bản địa về môi trường; 5 Định vị tri thức bản địa…

Trang 36

Về định nghĩa tri thức bản địa và vai trò của nói đối với sự phát triển trong xã hội đương đại cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau Warren D

Micheal định nghĩa: tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt Charles F Keyes cho rằng, hệ thống tri thức truyền

thống được coi là các tư tưởng thực nghiệm Tư tưởng thực nghiệm là cách con người phát triển các ý tưởng, khái niệm và thái độ để thực hiện các hoạt động hằng ngày Tư tưởng thực nghiệm thúc đẩy các nhu cầu cấp thiết của cuộc sống như sản xuất lương thực, thực phẩm, tổ chức không gian cư trú, chữa bệnh, duy trì các mối quan hệ xã hội Một số nhà khoa học cho rằng tri thức

địa phương (tri thức bản địa) bao gồm cả kiến thức hiện đại mà người dân ứng dụng và sau đó thích nghi với xã hội của họ Đó là những thông tin về các kiểu loại và chức năng khác nhau được phát triển trong qúa khứ và tiếp tục được cải thiện và thích ứng trong bối cảnh mới {99, tr 36}

Ngài Frederico Mayor (nguyên Tổng giám đốc UNESCO) định nghĩa: Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi với thiên nhiên, các dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức khổng lồ về môi trường Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng sự giàu có và đa dạng của hệ sinh hái phức tạp, họ có sự hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động vật, các chức năng của hệ sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản

lý chúng một cách đặc thù và phù hợp ở các cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển, người dân địa phương (có khi là hoàn toàn)

sống dựa vào những sản vật địa phương từ thức ăn, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác Tương thích với

điều đó, kiến thức và quan niệm của người dân về môi trường và mối quan hệ của họ với môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa {161}

Ngân hàng thế giới (World Bank) định nghĩa:

Tri thức bản địa là tri thức địa phương, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực của

Trang 37

cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội

và cộng đồng Tri thức bản địa còn cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương {85}

Louise Grenier định nghĩa:

Kiến thức bản địa là vốn kiến thức duy nhất, truyền thống và của một địa phương, tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể của những người dân bản địa trong một khu vực địa lý nhất định Sự phát triển của

hệ thống kiến thức bản địa trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản lý môi trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn

đối với những con người đã sáng tạo ra chúng Các hệ thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức mới liên tục được bổ sung Các hệ thống này luôn đổi mới trong lòng nó và cũng sẽ tiếp nhận, sử dụng và thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù hợp với điều kiện của địa phương {259}

Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ “tri thức bản địa” (indigenous knowledge), “tri thức địa phương” (local knowledge), "tri thức dân gian" (folk knowledge) đã được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau Lê Trọng Cúc đồng nhất “tri thức địa phương” với “văn hóa truyền thống”; Ngô Đức Thịnh gọi là “tri thức dân gian”, “tri thức địa phương”, “tri thức bản địa”; Hoàng Xuân Tý cho rằng ba khái niệm “kiến thức bản địa”,”kiến thức truyền thống” “kiến thức địa phương” gần đồng nghĩa với nhau; Diệp Đình Hoa gọi là “bản sắc văn hóa tộc người” hay “tri thức tộc người”; Phạm Quang Hoan gọi là “tri thức địa phương”, “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”; Nguyễn Duy Thiệu gọi là “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức của người bản địa”; Trần Bình, Mông ký Slay gọi là “tri thức địa phương”, “tri thức bản

địa”; Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông gọi là “tri thức dân gian”, “luật tục”; Hoàng Hữu Bình, Đặng Thị Hoa, Trần Hồng Hạnh, Trần Hồng Thu, Mai Văn Tùng, Lâm Minh Châu gọi là “tri thức địa phương”;

Trang 38

Hà Đình Thành, Vi Văn An, Trịnh Xuân Hóa gọi là “tri thức dân gian”; Nguyễn Xuân Hồng gọi là “kiến thức bản địa”; Trần Công Khánh, Trần Văn

Ơn, Vũ Trường Giang, Bùi Hoài Sơn, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thị Thu

Hà, Nguyễn Văn Toàn gọi là “tri thức bản địa”…

Từ những cách gọi khác nhau như trên, các nhà nghiên cứu có những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “tri thức bản địa”

Lê Trọng Cúc cho rằng:

Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau Tri thức địa phương được hình thành trong qúa trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên {34, tr 215}

Ngô Đức Thịnh cho rằng:

Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ trong qúa trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong qúa trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội {205, tr 3}

Phan Hữu Dật cho rằng:

Tri thức bản địa là văn hóa tộc người, nhưng không phải là toàn bộ văn hóa tộc người, mà chỉ là bộ phận có ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tộc người hiện nay, khi nó bổ sung cho tri thức hiện đại(2)

Nguyễn Duy Thiệu cho rằng:

Tri thức dân gian là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ

đời này sang đời khác Nó cũng được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống Tri thức

Trang 39

dân gian cũng chỉ tồn tại trong từng điều kiện môi trường cụ thể Bởi thế nó cũng thường được gọi là tri thức bản địa hoặc cụ thể hơn là tri thức của người bản địa (knowledge of indigenous) {188, tr 206, 207}

Trần Công Khánh và Trần Văn Ơn cho rằng:

Tri thức bản địa là hệ thống tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, sức khoẻ, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại một khu vực địa

lý cụ thể Nó được hình thành trong qúa trình sống và lao động của cả cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em Nó được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng miệng {110}

Phạm Quang Hoan cho rằng:

Tri thức địa phương được hiểu ở các cấp độ khác nhau Một là, “tri thức

địa phương” (hay “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những

điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người Cũng có thể coi đó là bản sắc văn hóa tộc người Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các cộng đồng tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định Trong trường hợp này, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người…” {97, tr 87}

Trần Hồng Hạnh cho rằng:

Tri thức địa phương được hiểu là các kiến thức bao gồm cả tri thức bản

địa và tri thức truyền thống, đã được cư dân sống tại một địa bàn cụ thể tích luỹ, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và chịu

Trang 40

sự tác động của kiến thức mới hay hiện đại Để thích ứng với môi trường chuyển đổi, cả về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội, và chính trị, người dân đã tích luỹ những kiến thức vốn có từ lâu đời kết hợp với việc

áp dụng các kiến thức hiện đại vào cuộc sống thường ngày của họ Dần dần thông qua sự kết hợp này, các kiến thức mới cũng được người dân

địa phương hóa cho phù hợp với điều kiện môi trường sống của họ và trở thành các kinh nghiệm của họ Do đó, tri thức của người nông dân luôn ở trạng thái động, thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của người dân địa phương cũng như trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác” {89, tr 28}

John Ambler cho rằng:

Tri thức địa phương có thể được phân biệt làm hai loại chính Một loại

có thể được gọi là “tri thức kỹ thuật” Một loại khác liên quan đến các tên gọi như: “luật lệ địa phương” hoặc là “phong tục” hay tục lệ Thuộc

về một số tri thức kỹ thuật của người vùng cao có sự hiểu biết chi tiết về chế độ ẩm trong vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt,

về chọn giống, về các loài động vật và thực vật Thuộc về tục lệ không chỉ giới hạn trong các quy tắc sinh hoạt như cưới xin, thừa kế, ma chay

và nếp nhà truyền thống Tục lệ còn đóng vai trò quan trọng hơn trong nhiều hoạt động xã hội có tác động đến quản lý tài nguyên thiên nhiên

đại phương Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau như: nguồn nước nào được phân phối cho hệ thống tươi tiêu ở vùng cao, ai được phép hoạt động ở khu rừng nào, bao nhiêu súc vật có thể chăn thả ở những

đồng cỏ riêng, kỹ thuật canh tác nào được chấp nhận.” {107}

Trong một nghiên cứu của Mugabe, ông đã chỉ ra sự khác biệt giữa tri thức bản địa và tri thức truyền thống Theo Mugabe: tri thức bản địa là tri thức

được duy trì và sử dụng bởi một nhóm người dân, những người tự nhận là người bản xứ của một địa phương dựa trên cơ sở kết hợp sự khác nhau về văn hóa và sự chiếm giữ lãnh thổ trước tiên liên quan tới số dân mới di cư đến

Ngày đăng: 11/04/2013, 19:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: So sánh sự khác nhau giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 1.4 So sánh sự khác nhau giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học (Trang 33)
Bảng 2.2: Phân loại đất theo địa hình - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 2.2 Phân loại đất theo địa hình (Trang 56)
Bảng 2.4: Một số giống lúa truyền thống của ng−ời Thái - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 2.4 Một số giống lúa truyền thống của ng−ời Thái (Trang 60)
Bảng 2.6: Hệ đếm can chi của người Thái ở xã Yên Khương - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 2.6 Hệ đếm can chi của người Thái ở xã Yên Khương (Trang 65)
Bảng 2.7: So sánh cách tính “giờ” của ng−ời Thái - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 2.7 So sánh cách tính “giờ” của ng−ời Thái (Trang 66)
Bảng 2.8: So sánh cách tính tháng của ng−ời Thái - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 2.8 So sánh cách tính tháng của ng−ời Thái (Trang 67)
Bảng 3.4: Các bộ phận của động vật đ−ợc sử dụng làm thuốc - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 3.4 Các bộ phận của động vật đ−ợc sử dụng làm thuốc (Trang 102)
Bảng 3.5: Công dụng của d−ợc liệu trong chữa bệnh - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 3.5 Công dụng của d−ợc liệu trong chữa bệnh (Trang 103)
Sơ đồ 3.1: các yếu tố cơ bản quy định tác dụng của thuốc {153, tr 64} - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Sơ đồ 3.1 các yếu tố cơ bản quy định tác dụng của thuốc {153, tr 64} (Trang 105)
Bảng 3.7: Một số bài thuốc từ động vật và các loại khác - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 3.7 Một số bài thuốc từ động vật và các loại khác (Trang 112)
Bảng 3.8: Một số bài thuốc liên quan đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng 3.8 Một số bài thuốc liên quan đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ (Trang 113)
Sơ đồ 4.1: Thiết chế bản - mường của người Thái ở mường Ca Da - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Sơ đồ 4.1 Thiết chế bản - mường của người Thái ở mường Ca Da (Trang 130)
Sơ đồ 4.2: Thiết chế bản - mường của người Thái ở mường Đèng - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Sơ đồ 4.2 Thiết chế bản - mường của người Thái ở mường Đèng (Trang 131)
Sơ đồ 4.5: Thiết chế bản - mường của người Phu Thay - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Sơ đồ 4.5 Thiết chế bản - mường của người Phu Thay (Trang 132)
Bảng so sánh một số từ vựng của ng−ời Thái - Tri thức bản địa của người thái ở miền núi Thanh Hoá
Bảng so sánh một số từ vựng của ng−ời Thái (Trang 300)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w