1.1.2 Các giai đoạn phát triển của ngân hàng điện tử Kể từ khi ngân hàng đầu tiên-WellFargo cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng đầu tiên tại Mỹ, đến nay hệ thống NHĐT trên thế giới đã đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ-TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG MÃ SỐ: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS TRẦN HUY HOÀNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 2M C L C
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1.1 Thương mại điện tử (Electronic commerce hay E-commerce) 5
1.1.1.2 Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking, hay E-banking) 5
1.1.2 Các giai đoạn phát triển của ngân hàng điện tử 6
1.1.3 Các phương tiện giao dịch thanh toán điện tử 8
1.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử 10
1.1.4.1 Ngân hàng tại nhà (Home banking) 10
1.1.4.2 Ngân hàng qua điện thoại (Phone banking) 10
1.1.4.3 Ngân hàng qua mạng di động (Mobile banking-SMS banking) 11
1.1.4.4 Ngân hàng trên mạng Internet (Internet banking) 11
1.1.4.5 Trung tâm cuộc gọi (Call center) 12
1.1.4.6 Kiosk ngân hàng 12
1.1.4.7 Dịch vụ thẻ 13
1.2 TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ BẢO MẬT, CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ, CHỨNG CHỈ SỐ, CHỨNG THỰC SỐ VÀ NGÂN HÀNG LÕI 13
1.2.1 Công nghệ bảo mật 13
1.2.2 Chữ ký điện tử (chữ ký số) 15
1.2.3 Chứng chỉ số (DC), chứng thực số (CA) 16
1.2.4 Ngân hàng lõi (Core banking) 16
1.3 ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 17
1.3.1 Ưu điểm của ngân hàng điện tử 17
1.3.1.1 Về phía khách hàng 17
1.3.1.2 Về phía ngân hàng 18
1.3.1.3 Lợi ích đối với nền kinh tế 19
1.3.2 Nhược điểm của ngân hàng điện tử 20
1.4 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 21
1.4.1 Một số rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử 22
1.4.1.1 Rủi ro hoạt động 22
1.4.1.2 Rủi ro uy tín 23
1.4.1.3 R_i ro pháp lý 24
1.4.1.4 Các r_i ro khác 24
1.4.2 Nguồn gốc của rủi ro 25
1.5 SỰ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 25
1.5.1 Tình hình phát triển ngân hàng điện tử trong khu vực và trên thế giới 25
1.5.2 Các dịch vụ ngân hàng điện tử đang được triển khai trong khu vực và trên thế giới 29
Trang 31.5.2.5 Gửi và thanh toán hóa đơn điện tử (Electronic bill presentment and
payment–EBPP) 30
1.5.2.6 Thẻ trả lương (Payroll Card) 30
1.5.2.7 Ghi nợ được ủy quyền trước (Preauthorized debit) 30
1.5.2.8 Dịch vụ đầu tư (Investment Services) 31
1.5.2.9 Dịch vụ cho vay tự động 31
1.5.2.10 Dịch vụ ngân hàng tự phục vụ 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG I: 31
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TP HỒ CHÍ MINH 32
2.1 NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT CHO SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM ĐỊA BÀN TP.HCM 32
2.1.1 Cơ sở pháp lý 32
2.1.2 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và truyền thông 34
2.1.3 Chứng từ điện tử 35
2.1.4 An toàn dữ liệu 35
2.1.5 Nguồn nhân lực-Công tác đào tạo nguồn nhân lực 36
2.1.6 Trình độ và mức sống của người dân 37
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM ĐỊA BÀN TP.HCM HIỆN NAY 38
2.2.1 Tình hình phát triển d_ch v_ ngân hàng điện tử tại các NHTM TP.HCM hiện nay 39
2.2.1.1 Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) 40
2.2.1.2 Dịch vụ ngân hàng qua mạng di động (Mobile banking) 44
2.2.1.3 Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking) 48
2.1.2.4 Dịch vụ thanh toán thẻ 51
2.1.2.5 Các loại sản phẩm dịch vụ NHDT khác 52
2.2.2 Khảo sát tình hình sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp địa bàn TP.HCM 52
2.2.2.1 Cách thức tiến hành 52
2.2.2.2 Kết quả khảo sát 53
2.2.2.3 Nhận xét, đánh giá 57
2.3 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TẠI CÁC NHTM ĐỊA BÀN TP.HCM 59
2.3.1 Những thuận lợi trong quá trình phát triển dịch v_ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM 60
2.3.2 Những khó khăn trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM 62
2.3.2.1 Khó khăn về vốn 62
2.3.2.2 Khó khăn từ nguồn nhân lực 63
2.3.2.3 Môi trường pháp lý chưa đủ đáp ứng cho hoạt động của E-banking 64
2.3.2.4 Những khó khăn, vướng mắc từ nền kinh tế 65
2.4 Một số tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM 66
2.4.1 Một số tồn tại trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM 66
2.4.1.1 Những tồn tại trong quá trình phát triển công nghệ 66
Trang 42.4.1.3 Hạn chế từ chính chất lượng dịch vụ của các ngân hàng 68
2.4.1.4 Chính sách quản lý rủi ro đối với hoạt động E-Banking còn đang ở những bước đi đầu tiên 69
2.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 72
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỊA BÀN TP.HCM 73
3.1 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 73
3.1.1 Những cơ hội 73
3.1.2 Những thách thức 74
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM ĐỊA BÀN TP.HCM 76
3.2.1 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ, CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG 76
3.2.1.1 Nhóm các giải pháp xây dựng xã hội điện tử (E-society), nền kinh tế điện tử (E-economy): 76
3.2.1.1.1 Xây dựng chính phủ điện tử (E-government-CPĐT): 76
3.2.1.1.2 Phát triển thương mại điện tử 77
3.2.1.2 Hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển NHĐT 78
3.2.1.3 Phát triển hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và Internet 79
3.2.1.4 Tăng cường sự tự nguyện sử dụng E-banking 80
3.2.1.5 Tạo điều kiện cho chứng từ điện tử đi vào cuộc sống 80
3.2.2 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TP.HCM 80
3.2.2.1 Nâng cao năng lực tài chính đối với các NHTM 80
3.2.2.2 Đẩy mạnh liên kết, phối hợp giữa các NHTM 81
3.2.2.3 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng 81
3.2.2.4 Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng điện tử 82
3.2.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 83
3.2.2.6 Đẩy mạnh việc quảng bá, đưa dịch vụ ngân hàng điện tử đến gần hơn với người tiêu dùng 84
3.2.2.7 Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro trong việc cung cấp dịch vụ NHĐT 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 91
KẾT LUẬN 92
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trở thành thành viên thứ 150 của WTO là dấu ấn quan trọng trong tiến trình đổi mới nền kinh tế của Việt Nam, đặt các doanh nghiệp và các định chế tài chính như NHTM đứng trước những cải tổ lớn lao nhằm tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh mới
Hội nhập cũng đồng nghĩa với việc mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức cho hệ thống NHTM, nhất là khi “vòng” bảo hộ cho các NHTM trong nước buộc phải tháo bỏ Cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn bao giờ hết Trong khi, hiện nay lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam có khoảng cách khá xa, từ vài thập kỷ hoặc hơn nữa, so với các nước trong khu vực và thế giới Sự yếu kém và non nớt của ngành ngân hàng Việt Nam với các vấn đề như nợ xấu tồn đọng, dịch vụ ngân hàng đơn điệu, tính an toàn chưa cao, công nghệ lạc hậu, tổ chức cồng kềnh, vốn ít, trình độ quản lý, giám sát chưa hoàn thiêän, đang là những thách thức lớn Thêm vào đó, các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài, những tập đoàn tài chính đa quốc gia dày dạn về kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính khổng lồ, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến…thì để tồn tại và phát triển dù muốn
hay không phải có một sự “thay da đổi thịt” thật sự trong bản thân mỗi ngân
hàng
Để không bị tụt hậu so với thế giới, các ngân hàng Việt Nam cần hoàn thiện những nghiệp vụ truyền thống, nhanh chóng phát triển các ứng dụng ngân hàng hiện đại, cải tiến, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của mình… Và sự ra đời của dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhiều
Trang 6tiện ích- Dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt nam trong một vài năm gần đây
chính là một trong những nổ lực đáng ghi nhận
Tuy nhiên, sự mới mẻ của dịch vụ ngân hàng điện tử với thị trường Việt Nam, cùng với sự non trẻ về kinh nghiệm, nguồn vốn hạn hẹp, công nghệ hạn chế… của các ngân hàng đã khiến cho việc ứng dụng các dịch vụ này còn đơn điệu, hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Con đường hoàn thiện, mở rộng và phát triển, đưa những tiện ích này đến tay người sử dụng còn lắm chông gai Và TP.HCM, tuy là Trung tâm kinh tế thương mại lớn nhất nước, nơi có thị trường dịch vụ tài chính ngân hàng phát triển hơn hẳn so với các địa phương khác song việc ứng dụng mảng dịch vụ này cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ Trong khi, sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài trên địa bàn thành phố ngày càng nhiều, cạnh tranh mỗi lúc một gay gắt hơn, nhất là về mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ bởi đây vốn là một ưu thế rất lâu đời của các ngân hàng nước ngoài Nguy cơ các NHTM trong nước bị chiếm lĩnh thị phần là rất lớn
Xuất phát từ thực tế đó, với mong muốn hoàn thiện và phát triển mảng dịch vụ ngân hàng điện tử để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp các ngân
hàng thương mại địa bàn TP.HCM vững bươc hội nhập, tôi chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại địa bàn TP.HCM” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình Dẫu rằng hết sức cố gắng, song tôi hiểu rằng, luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót, và do vậy, luôn cần phải có những ý kiến đóng góp, bổ sung hay phản biện của tất cả bạn đọc
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích tổng quát tình hình thực tiễn phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM hiện nay Từ đó, đánh giá những thuận lợi và khó khăn cũng như những thành quả và tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển mảng dịch vụ này Mục đích chính của đề tài là tìm ra những giải pháp thiết thực để đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM địa bàn TP.HCM trong thời gian tới
3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu mảng dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM tới tháng 05/2009
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: thu thập và sử lý thông tin từ 2 nguồn đó là: dùng dữ liệu nội bộ của một số ngân hàng như ACB, Đông Á, VIB…và dùng dữ liệu thu thập được từ các nguồn sách báo, các phương tiện truyền thông, thông tin kinh tế, thương mại
Phương pháp thăm dò:Phỏng vấn trực tiếp khách hàng giao dịch, khảo sát thực tế một số ngân hàng đang cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử; Điều tra thông qua bảng câu hỏi với hai đối tượng khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM nhằm thu thập thông tin, ý kiến đóng góp Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp…
Trang 85 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương I, lý luận chung về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử Phần này giới thiệu tổng quan về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử, phân tích ưu nhược điểm của ngân hàng điện tử, những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động ngân hàng điện tử Bên cạnh đó, chúng ta cũng đi vào tìm hiểu sự phát triển mảng dịch vụ này tại một số nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay
Chương II, trước khi đi vào tìm hiểu thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại địa bàn TP.HCM Chương II trình bày những yếu tố mà tác giả cho là thực sự cần thiết cho sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử đối với các ngân hàng trên địa bàn thành phố Để có một cái nhìn khách quan và toàn diện hơn, đề tài tiến hành khảo sát tình hình thực tế cung cấp và sử dụng mảng dịch vụ này Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá khoa học về những thuận lợi, khó khăn và tồn tại để làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển ở chương III
Chương cuối là một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện và mở rộng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại địa bàn TP.HCM
Trang 9CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
Trong nền kinh tế điện tử, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự thâm nhập của công nghệ thông tin, điện tử viễn thông vào ngành tài chính ngân hàng đã tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới với hàm lượng công nghệ cao, trong đó có dịch vụ ngân hàng điện tử Loại hình dịch vụ này đã được hình thành và phát triển ở một số nước trên thế giới từ năm 1995 Ở Việt Nam dịch vụ này chỉ mới xuất hiện một vài năm gần đây tại một số ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Thương mại điện tử (Electronic commerce hay E-commerce)
Theo tài liệu đào tạo về TMĐT của Microsoft “TMĐT là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết nối người bán và người mua Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh.” Nói chung, TMĐT là một khái niệm dùng để chỉ quá trình mua và bán một sản phẩm (hữu hình) hoặc dịch vụ (vô hình) thông qua một mạng điện tử (electronic network), phương tiện trung gian (medium) phổ biến nhất của TMĐT là Internet
1.1.1.2 Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking, hay E-banking)
E-Banking là một dạng của TMĐT ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch Hiểu theo nghĩa
Trang 10rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông Cụ thể, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng một cách nhanh chóng thông qua kênh phân phối điện tử (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại bàn, điện thoại di động…) Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn
tại dưới hai hình thức: Ngân hàng trên Internet, hoàn toàn dựa vào môi trường mạng Internet để phát triển; Ngân hàng trên Internet dựa trên cơ sở ngân hàng truyền thống hiện có để phát triển
1.1.2 Các giai đoạn phát triển của ngân hàng điện tử
Kể từ khi ngân hàng đầu tiên-WellFargo cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng đầu tiên tại Mỹ, đến nay hệ thống NHĐT trên thế giới đã được phát triển qua 4 giai đoạn sau:
Đồ thị 1.1 : Bốn giai đoạn phát triển của ngân hàng điện tử
Trang 11Brochure-ware (giới thiệu dịch vụ ngân hàng qua website) : là hình thái đơn giản nhất của ngân hàng điện tử Hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử đều thực hiện theo mô hình này Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về ngân hàng, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc…, thực chất ở đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền thống như báo chí, truyền hình… mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, đó là các chi nhánh ngân hàng
E- commerce (thương mại điện tử): Trong hình thái thương mại điện tử, ngân hàng sử dụng internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán… Internet ở đây chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm vào để tạo sự thuận lợi thêm cho khách hàng Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này
E-business (kinh doanh điện tử): Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía người quản lý (back-end) đều được tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác Giai đoạn này được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở ngân hàng và các kênh phân phối như chi nhánh, mạng internet, mạng không dây… giúp cho việc sử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng đựơc nhanh chóng và chính xác hơn Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa ngân hàng, đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý…
E-bank (Enterprise): Chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh
Trang 12doanh và phong cách quản lý Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt
1.1.3 Các phương tiện giao dịch thanh toán điện tử
+ Tiền điện tử (tiền số) – Digital Cash: Tiền điện tử được hiểu là các bản tin hay thông báo (message) điện tử, các bản tin này có giá trị như tiền, không thể dễ dàng giả mạo, được xác thực bởi các tổ chức cho phép sử dụng tiền điện tử, và có thể được gửi an toàn cho ngân hàng và các tổ chức khác Về cơ bản, tiền điện tử là một bản tin thanh toán, luôn đính kèm một chữ ký số, có chức năng thanh toán, trao đổi hoặc lưu trữ có giá trị như tiền giấy Tiền điện tử cho phép người sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng hoặc sử dụng các dịch vụ nhờ truyền đi các con số từ máy tính này tới máy tính khác Người muốn sử dụng tiền điện tử gửi yêu
cầu tới ngân hàng Ngân hàng sẽ phát hành một bức điện được ký phát bởi mã cá nhân (private key) của ngân hàng và được mã hoá bởi khoá công khai (public key) của khách hàng. Nội dung bức điện bao gồm thông tin xác định người phát hành, địa chỉ Internet, số lượng tiền, số sêri, ngày hết hạn Ngân hàng sẽ phát hành tiền với từng khách hàng cụ thể Khách hàng cất giữ tiền điện tử trên máy tính cá nhân Khi thực hiện một giao dịch mua bán, khách hàng gửi tới nhà cung cấp một
thông điệp điện tử được mã hoá bởi khoá công khai của nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ Nhà cung cấp dùng khóa riêng của mình để giải mã thông điệp đồng thời
kiểm tra tính xác thực của thông điệp thanh toán này với ngân hàng phát hành
cũng bằng mã hoá công khai của ngân hàng phát hành và kiểm tra số sêri tiền
Trang 13Tiền điện tử có hai đặc tính ưu việt so với tiền giấy nhờ chữ ký số, đó là tính an toàn và không từ chối Nhờ đó mà tiền điện tử đã mở ra cơ hội cho các thị trường mới và các ứng dụng mới như thương mại điện tử, chính phủ điện tử, thanh toán điện tử… Đây là tiền đề để xây dựng nền kinh tế số hoá Tiền điện tử được bắt đầu sử dụng từ những năm cuối của thập kỉ 90, nhưng loại tiền này vẫn còn quá ít
so với việc sử dụng thẻ tín dụng
+ Séc điện tử- Digital Cheques: Là một loại “séc ảo”, cho phép người mua thanh toán bằng séc qua mạng Internet Người mua sẽ điền vào form (nó giống như một quyển séc được hiển thị trên màn hình) các thông tin về ngân hàng của họ, ngày và trị giá của giao dịch; Sau đó gửi thông tin đó tới một trung tâm giao dịch để xử lý và kết thúc giao dịch Séc điện tử có nội dung giống như séc thường chỉ khác
biệt duy nhất là séc này được ký điện tử (tức là việc mã hoá thông điệp bằng mật mã cá nhân của người ký phát séc) Khi ngân hàng người thụ hưởng thực hiện nghiệp vụ nhờ thu séc, họ sẽ đánh dấu lên thông điệp điện tử và việc thông điệp
này được mã hoá bởi mã hoá công khai của ngân hàng phát hành séc sẽ là cơ sở
cho việc thanh toán
+ Thẻ (Ví điện tử-Stored Value smart Card): Đây là một loại thẻ nhựa gắn với một bộ vi xử lý (micro-processor chip) Người sử dụng thẻ nạp tiền vào thẻ và sử dụng trong việc mua hàng Số tiền được ghi trong thẻ sẽ được trừ lùi cho tới zero Lúc đó, chủ sở hữu có thể nạp lại tiền hoặc vứt bỏ thẻ Ví điện tử được sử dụng trong rất nhiều các loại giao dịch như ATM, internet banking, home banking, telephone banking hoặc mua hàng trên Internet với một đầu đọc thẻ thông minh
kết nối vào máy tính cá nhân
Trang 141.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử
Dịch vụ NHĐT hiện nay được các ngân hàng cung cấp qua các kênh chủ yếu như: Internet banking, Home banking, Phone banking, Mobile banking, Call Center, Mail banking, Fax banking, Video banking, WAP banking, ATM…
1.1.4.1 Ngân hàng tại nhà (Home banking)
Với dịch vụ này, khách hàng giao dịch với ngân hàng tại nhà, tại cơ quan…thông qua mạng nội bộ (intranet) do ngân hàng xây dựng riêng mà không cần đến ngân hàng Thông qua Home banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, thanh toán điện tử, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo nợ, báo có, hủy bỏ việc chi trả séc… Home banking được xây dựng dựa trên một
trong hai nền tảng: hệ thống các phần mềm ứng dụng (Software Base) hoặc công nghệ web (Web Base) Thông qua hệ thống máy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và khách hàng
1.1.4.2 Ngân hàng qua điện thoại (Phone banking)
Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động Phone banking được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài của dịch vụ Khách hàng nhấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trước, để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài Khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ như: truy vấn thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, truy vấn thông tin tài khoản, thông tin về dịch vụ ngân hàng, thanh toán hoá đơn và dịch vụ hỗ trợ khách hàng, các thông báo mới nhất … Những dịch vụ
Trang 15này được thực hiện mọi lúc mọi nơi Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên Hiện nay qua Phone banking, thông tin được cập nhật, khác với trước đây chỉ có thông tin của cuối ngày hôm trước Khi đăng ký sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ được cung cấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản Và có thể đăng ký sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau
1.1.4.3 Ngân hàng qua mạng di động (Mobile banking-SMS banking)
Mobile banking-SMS banking là những kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ thống mạng điện thoại di động Đây là quy trình thông tin được mã hoá, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động của khách hàng Khách hàng chỉ cần đăng ký để trở thành thành viên chính thức bằng việc cung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán Sau đó, khách hàng được cung cấp một mã số định danh (ID) Mã số này không phải số điện thoại và nó sẽ được chuyển thành mã vạch để “dán” lên điện thoại di động, giúp cho việc cung cấp thông tin khách hàng khi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn tại các thiết
bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung ứng dịch vụ Cùng với mã số định danh, khách hàng còn được cấp một mã số cá nhân (PIN) để xác nhận giao dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ yêu cầu
1.1.4.4 Ngân hàng trên mạng Internet (Internet banking)
Đây cũng là một trong những kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng rất tiện ích “mang ngân hàng đến bất cứ nơi đâu vào bất kỳ lúc nào mà bạn muốn”. Với máy tính kết nối internet, khách hàng có thể chuyển tiền, thanh toán trên mạng cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này, gởi đến ngân hàng những thắc mắc, những góp ý và được trả lời sau một thời gian nhất định Các ngân hàng cũng có thể cung cấp thêm một số dịch vụ khác như chuyển đổi
Trang 16ngoại tệ, đăng ký mở thư bảo đảm tín dụng (L/C), chuyển tiền ra nước ngoài, đăng ký sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác… Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng, thực hiện giao dịch, truy vấn những thông tin cần thiết, thông tin được cung cấp cụ thể đến từng chi tiết Khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng Với tính chất bảo mật không cao bằng Home banking hoặc Kiosk-banking, Internet-banking đòi hỏi quá trình xác nhận giao dịch phức tạp hơn và phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu
1.1.4.5 Trung tâm cuộc gọi (Call center)
Với Call center, khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào đều có thể gọi về một số điện thoại cố định tại trung tâm để được cung cấp mọi thông tin về dịch vụ ngân hàng mà mình muốn Dịch vụ này thực hiện được là nhờ cơ chế quản lý dữ liệu tập trung của ngân hàng Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng Tuy nhiên, với Call center ngân hàng phải cử người trực 24/24 giờ
1.1.4.6 Kiosk ngân hàng
Là sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất Trên đường phố sẽ đặt các trạm làm việc với đường kết nối Internet tốc độ cao Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng nhận cá nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống ngân hàng phục vụ mình Đây cũng là một hướng phát triển đáng lưu tâm cho các nhà lãnh đạo các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 171.1.4.7 Dịch vụ thẻ
Thẻ là công cụ để quản lý tài khoản cá nhân, có thể thực hiện được tất cả các chức năng cơ bản của tài khoản như nạp tiền, rút tiền, chuyển khoản, nhân chuyển khoản, thanh toán Nhưng tính chất chính của thẻ là sự linh hoạt và khả năng mở rộng rất nhiều ứng dụng, hiện nay hầu hết các loại thẻ trên thị trường đã đưa vào một số tiện ích mở rộng như sau: Thanh toán hàng hóa-dịch vụ; Thanh toán trực tiếp hoặc tự động các dịch vụ điện, nước, điện thoại, Internet, phí bảo hiểm ; Mua các loại thẻ trả trước, thanh toán phí dịch vụ trực tiếp trên máy ATM Hiện có rất nhiều loại thẻ ngân hàng như thẻ ATM, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ đa năng, thẻ từ, thẻ chip Ngoài ra, có thể kể thêm các dịch vụ NHĐT khác như: WAP Banking (giao dịch ngân hàng qua WEB trên điện thoại di động);
Mail banking, Fax Banking, Video Banking
1.2 TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ BẢO MẬT, CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ, CHỨNG CHỈ SỐ, CHỨNG THỰC SỐ VÀ NGÂN HÀNG LÕI
Trong nền kinh tế tri thức, vấn đề giao dịch điện tử được coi là chìa khóa cho sự phát triển dịch vụ trong các lĩnh vực TMĐT, chính phủ điện tử, NHĐT Mấu chốt để thực hiện thành công giao dịch điện tử là chữ ký điện tử (chữ ký số), xác thực chữ ký điện tử, chứng chỉ số (Certificate Authory-CA) và ngân hàng lõi (core banking) cũng như việc tổ chức quản lý, cấp phát chữ ký điện tử là những nội dung đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện giao dịch điện tử
1.2.1 Công nghệ bảo mật
Có nhiều phương pháp để giải quyết vấn đề xác thực và bảo mật giao dịch
an toàn như: Sử dụng bàn phím ảo, phương pháp mật khẩu một lần (One Time Password), xác thực hai phương thức (Two Factor Authentication), hay dùng thiết
Trang 18bị khóa phần cứng (Hardware Token), thẻ thông minh (TTM) có chữ ký số (PKI Smartcard) Các NH lớn trên thế giới thường sử dụng các giải pháp xác thực và
an toàn giao dịch dựa trên hạ tầng khóa công khai (PKI) cùng với sự tham gia của Hardware Token (TTM tích hợp sẵn đầu đọc cổng USB) hay thẻ thông minh (PKI
Smartcard)
SET (Secure Electronic Transaction): là một giao thức bảo mật do Microsoft phát triển, SET có tính riêng tư, được chứng thực và rất khó thâm nhập nên tạo được độ an toàn cao, tuy nhiên, SET ít được sử dụng do tính phức tạp và sự đòi hỏi phải có các bộ đọc card đặc biệt cho người sử dụng
SSL (Secure Socket Layer): là công nghệ bảo mật do hãng Nescape phát triển, tích hợp sẵn trong bộ trình duyệt của khách hàng, đó là một cơ chế mã hóa (encryption) và thiết lập một đường truyền bảo mật từ máy của ngân hàng đến khách hàng (https) SSL đơn giản và được ứng dụng rộng rãi
Mã hóa đường truyền: Mã hóa thông tin là chuyển thông tin sang một dạng mới khác dạng ban đầu, dạng mới này gọi chung là văn bản mã hóa Việc mã hóa được thực hiện dựa trên một tập các quy tắc mà thực thể gửi và nhận quy ước sử dụng, tập các quy tắc đó gọi là mật mã
Bức tường lửa (firewall): là kỹ thuật được tích hợp vào hệ thống để chống lại sự truy cập trái phép nhằm bảo vệ các nguồn thông tin nội bộ cũng như chống lại sự xâm nhập vào hệ thống của một số thông tin không mong muốn (như virus) Cũng có thể hiểu rằng firewall là một cơ chế để bảo vệ mạng tin tưởng khỏi các mạng không tin tưởng (ví dụ như Internet), bảo vệ một hệ thống mạng riêng hoạt động trong một môi trường mạng chung
Trang 191.2.2 Chữ ký điện tử (chữ ký số)
Trong giao dịch truyền thống, khi khách hàng giao dịch với ngân hàng, trước hết, họ được yêu cầu khai báo họ, tên, xuất trình CMND/Passport nhằm kiểm tra thông tin để xác thực khách hàng Khi thực hiện giao dịch, khách hàng được yêu cầu ghi vào giấy và ký tên, việc làm này nhằm đảm bảo khách hàng không thể từ chối giao dịch mà mình đã yêu cầu thực hiện đồng thời đảm bảo nội dung giao dịch mà khách hàng yêu cầu được toàn vẹn Để giao dịch trên mạng được đảm bảo thì chữ ký điện tử phải đảm bảo được các yêu cầu như thực hiện một giao dịch truyền thống Chữ ký điện tử là công cụ điện tử ký vào tài liệu điện tử mà có tác dụng xác thực tính trung thực của tài liệu điện tử đã ký Khi đưa chữ ký điện tử vào một văn bản nào đó đồng nghĩa rằng người thực hiện đã ký, chấp nhận nội dung trên văn bản đó Chữ ký điện tử có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như username, password hoặc nhấn nút submit Theo điều
21, Luật giao dịch điện tử “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký”. Đặc điểm của chữ ký điện tử là không gắn liền một cách vật lý với tài liệu được ký; được kiểm tra bằng các thuật toán kiểm tra chữ ký được công bố công khai, người dùng đều có thể kiểm tra được; Bản sao của thông báo được ký số là đồng nhất với bản gốc Do vậy, cần phải có phương pháp để ngăn chặn thông báo đã được ký số được sử dụng lại Phương pháp ký lên các thông báo gồm 2 phần là ký (được giữ bí mật) và kiểm tra chữ ký (được công khai) và nó được gọi là lược đồ chữ ký điện tử
Trang 201.2.3 Chứng chỉ số (DC), chứng thực số (CA)
Chứng chỉ số (Digital certificate) là tài liệu số được gắn với khóa công khai (public key) được dùng để nhận dạng ra đúng người (hay máy) đã gửi (hoặc nhận) dữ liệu điện tử. Chứng chỉ số được phát hành bởi thành viên thứ ba (Certificate Authory- CA), là một tổ chức cung cấp những thuật toán và quản lý chữ ký điện tử (Ví dụ như Verisign, e-Trust), chuyên cung cấp, xử lý và chứng nhận chữ ký điện tử trong các giao dịch trên mạng Chứng chỉ số phải đảm bảo các quy tắc:
Tính duy nhất ( trên toàn thế giới); Xác thực được nguồn gốc (đảm bảo không bị giả mạo); Xác thực được thông tin cá nhân; Đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu
1.2.4 Ngân hàng lõi (Core banking)
Thuật ngữ Core banking bắt nguồn từ giới ngân hàng Ấn Độ, đề cập đến
một hệ thống phần mềm có khả năng hỗ trợ các nghiệp vụ ngân hàng cơ bản (core) bao gồm các hoạt động như ghi nhận nghiệp vụ phát sinh, theo dõi thẻ tiết kiệm, tính toán tiền lãi, quản lý hồ sơ khách hàng, thanh toán và rút tiền cùng với tất cả các nghiệp vụ ngân hàng khác Hệ thống phần mềm này có thể được cài đặt tại các chi nhánh khác nhau và được kết nối với nhau thông qua các mạng truyền thông dữ liệu như mạng điện thoại, vệ tinh, hoặc Internet Ưu điểm quan trọng nhất của Core banking so với các hệ thống phần mềm nghiệp vụ ngân hàng
trước đó là cho phép người sử dụng có thể xử lý giao dịch trên các tài khoản khách hàng tại bất kỳ chi nhánh nào có cài đặt hệ thống này, bất kể tài khoản đó được mở tại đâu trong nội bộ hệ thống ngân hàng Về mặt kỹ thuật, sở dĩ Core banking
có đặc tính này là nhờ tiến bộ của hai loại công nghệ: công nghệ mạng truyền thông dữ liệu và công nghệ cơ sở dữ liệu Công nghệ mạng truyền thông dữ liệu
cho phép kết nối các máy tính thành một mạng rộng lớn với tốc độ trao đổi dữ
Trang 21liệu ngày càng nhanh, chi phí ngày càng rẻ Trong khi đó, công nghệ cơ sở dữ liệu cho phép tổ chức lưu trữ, khai thác các “kho” dữ liệu tập trung khổng lồ
1.3 ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.3.1 Ưu điểm của ngân hàng điện tử
1.3.1.1 Về phía khách hàng
Nhanh chóng, thuận tiện: Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng chính là sự tiện nghi, nhanh chóng, chính xác và luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được Dịch vụ này đặc biệt thích hợp với những khách hàng là tổ chức có số lượng món thanh toán lớn, có ít thời gian để đi đến trực tiếp giao dịch với ngân hàng, kể cả các khách hàng nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân có số lượng giao dịch với ngân hàng không nhiều, số tiền mỗi lần giao dịch không lớn
Tiết kiệm thời gian và giảm chi phí: với dịch vụ NHĐT, khách hàng tiết kiệm được thời gian và giảm chi phí đi lại, chi phí giao dịch Và hơn nữa, với những tiêu chuẩn chuẩn hoá, khách hàng được phục vụ tận tụy và chính xác thay
vì phải tuỳ thuộc vào thái độ phục vụ khác nhau của các nhân viên ngân hàng
Quản lý tài sản hiệu quả: Tính tiện lợi, nhanh chóng của E-banking sẽ giúp doanh nghiệp biết chính xác, kịp thời tình trạng tài khoản tiền gửi, tiền vay của mình Từ đó, doanh nghiệp có thể đẩy nhanh vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; Khách hàng cá nhân cũng có thể ngồi ở nhà mà vẫn nắm bắt thông tin nhanh chóng, quản lý các tài khoản của mình hiệu quả
Trang 221.3.1.2 Về phía ngân hàng
Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: E-banking giúp NH tiết kiệm đáng kể chi phí cố định mở phòng giao dịch và giảm được số lượng nhân viên Theo đó tất cả các chi phí liên quan đến hoạt động giao dịch, thanh toán, phí kiểm đếm, các chi phí đi lại sẽ giảm thiểu Phí giao dịch E-banking được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao dịch truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăng doanh thu cho ngân hàng Số liệu về phí giao dịch ngân hàng theo một số nghiên cứu tại Mỹ và Châu Âu đã minh chứng cho điều đó:
Bảng 1.1: So sánh phí dịch vụ ngân hàng qua các hình thức giao dịch
Nguồn:* Booz, Allen và Hamilton (1996); ** Forrster Research (tháng 6/2003)
Mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM:
Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ với tốc độ cao và liên tục Điều quan trọng hơn là E-banking còn
giúp NHTM thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”, “vươn tới mọi nơi” mà không
cần mở thêm chi nhánh E-banking cũng là công cụ quảng bá, khuyếch trương thương hiệu toàn cầu của NHTM một cách sinh động, hiệu quả
Phí bình quân 1 giao dịch
Trang 23Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua các dịch vụ của ngân hàng điện tử, các lệnh về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền-hàng Qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Chính nhữngï tiện ích có được từ công nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, dịch vụ Internet đã thu hút khách hàng và giúp ngân hàng có được những khách hàng trung thành Với mô hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực kinh doanh của E-banking là rất cao
Cung cấp dịch vụ trọn gói: Các ngân hàng có thể liên kết với các công ty
bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán
1.3.1.3 Lợi ích đối với nền kinh tế
Dịch vụ NHĐT góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế sản xuất, thương mại, dịch vu…ï phát triển, tạo điều kiện thuận lợi trong các quan hệ kinh tế với các nước khác trên thế giới, góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại điện tử phát triển Tính ưu việt của dịch vụ NHĐT vượt trội so với dịch vụ ngân hàng truyền thống làm thỏa mãn khả năng chi trả cho các nhu cầu kinh tế-xã hội với mọi khoảng cách về không gian ở bất cứ thời điểm nào, giảm chi phí xã hội của việc thanh toán và lưu thông tiền mặt (như chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận
Trang 24chuyển tiền…), mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, kiểm soát các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, tham nhũng…; tăng lòng tin của người dân đối với ngân hàng, với chính phủ, góp phần bình ổn đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho việc huy động vốn, từ đó sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng hiệu quả Theo nghiên cứu được thực hiện tại Estonia (Aarma và Vensel, 2001) khách hàng đến giao dịch trực tiếp tại văn phòng ngân hàng khoảng 1.235 lần trong một tháng, phải xếp hàng chờ đợi 134 giờ Nếu tính ra thì việc giao dịch qua E-banking sẽ tiết kiệm cho nền kinh tế Estonia khoảng 0.93% GDP
1.3.2 Nhược điểm của ngân hàng điện tử
Vốn đầu tư lớn: Để xây dựng một hệ thống E-banking đòi hỏi phải một lượng vốn đầu tư ban đầu khá lớn để phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị, chưa kể tới các chi phí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì và phát triển hệ thống, đổi mới công nghệ trong tương lai Đồng thời, mảng dịch vụ này cũng đòi hỏi nguồn nhân lực kỹ thuật có trình độ để quản trị, vận hành hệ thống…một lượng chi phí mà không phải NHTM nào cũng sẵn sàng bỏ ra đầu tư Chưa kể việc đầu tư ấy có phát huy hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng truyền thông quốc gia, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý; trình độ phát triển kinh tế của các doanh nghiệp và của cá nhân…tức là còn phụ thuộc vào những nỗ lực chung của cả một quốc gia chứ không riêng gì một NHTM nào
Rủi ro cao: Vốn và công nghệ tuy là vấn đề không phải dễ vượt qua, nhưng cũng có thể khắc phục được, vấn đề nan giải hơn là ở chỗ tính an toàn và bảo mật của hệ thống E-banking Rủi ro lớn nhất của dịch vụ ngân hàng điện tử là hệ thống bị xâm phạm, bị giả mạo, lừa đảo trong thanh toán Thực sự, rủi ro
Trang 25trong dịch vụ này là không nhỏ, khách hàng có thể bị mất mật khẩu truy nhập tài khoản từ lúc nào mà chẳng hay biết do bị “Hacker” ăn cắp bằng công nghệ cao Từ đó tiền trong tài khoản của khách hàng bị mất mà không biết tại bản thân mình nhầm lẫn hay tại NHTM Mặt khác, đặc trưng của dịch vụ ngân hàng điện tử khác với dịch vụ ngân hàng truyền thống là nhanh chóng đưa sản phẩm dịch vụ mới ra thị trường, thời gian thử nghiệm ngắn nên nguy cơ xảy ra rủi ro cao
Phụ thuộc vào công nghệ: Giao dịch E-banking được thực hiện trên các hệ thống máy tính, trang thiết bị công nghệ thông tin, mạng Internet Điều này làm tăng sự phụ thuộc vào thiết kế, cấu trúc, liên kết và quy mô hoạt động của các hệ thống công nghệ
Phụ thuộc vào đối tác thứ ba: Ứng dụng công nghệ thông tin làm tăng tính phức tạp kỹ thuật trong quá trình vận hành, đảm bảo an ninh, mở rộng quan hệ, liên kết với đối tác thứ ba Trong đó, nhiều cấu phần quan trọng của kênh phân phối như Internet, truyền thông và các kỹ thuật công nghệ liên quan khác đều nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp của ngân hàng Do vậy, ngân hàng khó có khả năng kiểm soát kỹ thuật đối với tất cả các sản phẩm, dịch vụ
1.4 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
Hoạt động NHĐT tiềm ẩn không ít rủi ro và những nguy cơ xảy ra tổn thất Với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin thì khó có thể đưa ra được một danh sách đầy đủ tất cả các loại rủi ro Tuy nhiên, về cơ bản các rủi ro này cũng không nằm ngoài rủi ro truyền thống Do vậy có thể chia các rủi ro của hoạt động ngân hàng điện tử thành các nhóm như đối với rủi ro truyền thống theo
cách phân loại của Uỷ ban Basle Trong số đó, rủi ro hoạt động, rủi ro uy tín và rủi ro pháp lý là những rủi ro thường gặp nhất
Trang 261.4.1 Một số rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử
1.4.1.1 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là rủi ro phát sinh từ khả năng xảy ra thiệt hại cho ngân hàng do hệ thống không đảm bảo sự thống nhất và đáng tin cậy cần thiết Trong đó, đảm bảo an ninh là vấn đề cần được quan tâm nhất vì các ngân hàng thường là đối tượng tấn công của những kẻ đột nhập hệ thống điện tử từ bên ngoài hoặc bên trong Rủi ro hoạt động còn có thể phát sinh do nhầm lẫn của khách hàng, do các hệ thống NHĐT được thiết kế hoặc triển khai không hoàn chỉnh Có thể tạm chia rủi ro hoạt động thành các nhóm nhỏ sau:
Rủi ro an ninh: Rủi ro này phát sinh từ khâu kiểm soát tiếp cận vào hệ
thống quản lý rủi ro và các chứng từ quan trọng được lưu giữ tại ngân hàng, thông tin trao đổi giữa ngân hàng với các đối tác Một lỗ hổng an ninh có thể dẫn đến những trách nhiệm pháp lý do bọn lừa đảo cố tình tạo cho ngân hàng, việc để lọt những trường hợp tiếp cận ngoài thẩm quyền có thể dẫn đến những thiệt hại trực tiếp hoặc gây ra các trách nhiệm pháp lý cho khách hàng và các rắc rối khác Các rủi ro do gian lận ngân hàng có thể gặp phải như séc giả, thẻ giả, thanh toán điện
tử giả, ăn cắp dữ liệu tài khoản khách hàng…
Rủi ro thiết kế, duy trì hệ thống: Các hệ thống được lựa chọn có thể không
được thiết kế hoặc triển khai tốt, trong quá trình vận hành có thể bị lỗi gián đoạn hoặc chạy chậm…Việc nhiều ngân hàng dựa vào đối tác thứ ba cũng tiềm ẩn rủi
ro vì bên cung cấp dịch vụ có thể không có chuyên gia cần thiết cho việc cung ứng các dịch vụ mà ngân hàng mong muốn hoặc không cập nhật kịp thời công nghệ của họ, hoặc hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ bị gián đoạn do hệ thống
bị hỏng hay khó khăn tài chính Tốc độ phát triển không ngừng của CNTT lại tạo
Trang 27ra rủi ro hệ thống của ngân hàng có thể bị lạc hậu, các nhân viên ngân hàng không thể hiểu được đầy đủ bản chất của công nghệ mới
Rủi ro do nhầm lẫn của khách hàng: Ngân hàng có thể bị tổn thất khi thiếu
những biện pháp cần thiết để xác nhận giao dịch do khách hàng có khả năng phủ nhận những giao dịch trước đó Trong trường hợp những thông tin cá nhân của khách hàng không được bảo mật, bọn tội phạm có điều kiện tiếp cận được với tài khoản của họ Hậu quả là ngân hàng có thể phải chịu tổn thất tài chính do khách
hàng thực chất không chấp thuận các giao dịch đó
1.4.1.2 Rủi ro uy tín
Rủi ro uy tín là rủi ro dư luận đánh giá xấu về ngân hàng gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận các nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng Nguyên nhân có thể là do có những hành động nhằm tạo ra một hình ảnh xấu về ngân hàng đối với công chúng trong một thời gian dài, cũng có thể phát sinh từ cách mà ngân hàng phản ứng trước các hành động của bên thứ
ba Rủi ro uy tín thường là hệ quả trực tiếp của trạng thái rủi ro cao hoặc các rắc rối ở những nhóm rủi ro khác, nhất là nhóm rủi ro hoạt động Rủi ro uy tín cũng có thể phát sinh khi các hệ thống hoặc sản phẩm không hoạt động như dự kiến và gây ra các phản ứng tiêu cực lan rộng trong công chúng hay một lỗ hổng nghiêm trọng về an ninh, hoặc trong trường hợp khách hàng gặp vấn đề với dịch vụ được cung ứng nhưng không nhận được thông tin cần thiết về qui trình giải quyết trục trặc Ngoài ra, các hành động phi pháp và lừa đảo của bên thứ ba có thể khiến một ngân hàng phải chịu rủi ro uy tín Rủi ro uy tín có thể phát sinh từ các trục trặc lớn của mạng lưới giao tiếp khiến khách hàng gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin tài khoản của họ, từ những tổn thất do nhầm lẫn của một ngân hàng khiến cho khách hàng của một ngân hàng khác có sản phẩm dịch vụ NHĐT tương tự nghi ngờ và mất lòng tin, từ những cuộc tấn công có chủ ý vào ngân hàng Rủi
Trang 28ro uy tín không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng
1.4.1.3 Rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý phát sinh từ những vi phạm, hoặc do không tuân thủ pháp luật, các qui định, các thông lệ đã được xác lập; hoặc qui định không rõ về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên đối với giao dịch Ngoài ra, các ngân hàng tham gia vào hoạt động NHĐT có thể phải đối mặt với các rủi ro pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền riêng tư và công bố về khách hàng Những ngân hàng tăng cường dịch vụ khách hàng bằng cách liên kết website của mình với các trang khác cũng phải đối mặt với loại rủi ro này do kẻ xấu có thể đột nhập, sử dụng các trang web được liên kết để lừa gạt khách hàng và ngân hàng sẽ là đối tượng bị khách hàng kiện Đối với hoạt động ngân hàng đa quốc gia thông qua kênh phân phối điện tử, các ngân hàng có thể phải đối mặt với những yêu cầu pháp lý khác nhau ở những nước khác nhau khi mở rộng các hoạt động NHĐT bán lẻ mới qua Internet ra những nước khác, do không tuân thủ đầy đủ những quy định và pháp luật của các nước, kể cả luật bảo vệ khách hàng, các yêu cầu báo cáo và lưu trữ, qui định về quyền riêng tư và luật chống rửa tiền
1.4.1.4 Các rủi ro khác
Rủi ro chiến lược: Trước áp lực cạnh tranh, ngân hàng có thể quyết định xâm nhập vào một thị trường mới, hoặc cung cấp sản phẩm trực tuyến mới mà thiếu sự nghiên cứu đầy đủ về công nghệ, thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường,… dẫn đến thua lỗ
Rủi ro quốc gia: Khi ngân hàng có quan hệ với nhà cung cấp dịch vụ ở một quốc gia khác, hoặc cung cấp dịch vụ NHĐT qua biên giới thì có thể phải
Trang 29chịu rủi ro quốc gia trong trường hợp các đối tác nước ngoài không thể thực hiện
được các nghĩa vụ nợ của họ do các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội Một số loại rủi ro truyền thống như rủi ro tín dụng, rủi ro khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường cũngcó thể phát sinh từ hoạt động NHĐT
1.4.2 Nguồn gốc của rủi ro
Rủi ro bắt nguồn từ những đặc tính của dịch vụ trực tuyến bao gồm: Thứ nhất, do tốc độ thay đổi nhanh chóng, khó dự báo của công nghệ và dịch vụ khách hàng. Việc các ngân hàng phải đón đầu những công nghệ mới để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về tính tiện lợi, nhanh chóng của dịch vụ ngân hàng điện tử đặt ra nhiều vấn đề về an toàn, bảo mật Vì các biện pháp bảo mật, phòng ngừa rủi ro thường ra đời sau khi công nghệ đang sử dụng bị phát hiện có kẽ hở tiềm ẩn rủi
ro Thứ hai, do đặc tính mở rộng toàn cầu của mạng lưới thông tin điện tử trực tuyến Thứ ba, do tính phụ thuộc ngày càng cao của ngân hàng vào chất lượng dịch vụ kỹ thuật do bên thứ ba cung cấp.
1.5 SỰ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.5.1 Tình hình phát triển ngân hàng điện tử trong khu vực và trên thế giới
TMĐT đã, đang và sẽ là một xu thế phát triển tất yếu trên thế giới Trong những thập niên vừa qua, TMĐT đã phát triển nhanh, làm biến đổi sâu sắc các phương thức kinh doanh, làm thay đổi hình thức, nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội đặc biệt là hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng Để thúc đẩy quá trình hội nhập, thu hút khách hàng cũng như giành cơ hội kinh doanh, hầu hết các ngân hàng trên thế giới đã không ngừng tăng cường và đưa ra các dịch vụ tiện lợi, nhanh gọn và được hỗ trợ mạnh mẽ của các công nghệ hiện đại như máy
Trang 30giao dịch tự động (ATM), máy thanh toán tại các điểm bán hàng (POS), mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại, Internet, máy tính cá nhân Mô hình ngân hàng với hệ thống quầy làm việc, những toà nhà cao ốc, giờ làm việc hành chính 7, 8 giờ sáng đến 4, 5 giờ chiều (“brick and mortar” Banking) đang dần được cải tiến và thay thế bằng mô hình ngân hàng mới-NHĐT (“ click and mortar” Banking) NHĐT đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành mô hình tất yếu cho hệ thống ngân hàng trong thế kỷ 21
Tại các nước như Mỹ, các nước Châu Âu, Australia và tiếp sau đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan…các ngân hàng ngoài việc đẩy mạnh phát triển hệ thống thanh toán điện tử còn mở rộng phát triển các kênh giao dịch điện tử (E-banking) như các loại thẻ giao dịch qua máy rút tiền tự động ATM, các loại thẻ tín dụng Smart Card, Visa, Master Card…và các dịch vụ ngân hàng trực tuyến như Internet banking, Mobile banking, Telephone banking, Home banking… Riêng tại Mỹ, việc sử dụng dịch vụ NHĐT trở nên phổ biến rộng rãi, các sản phẩm và dịch vụ NHĐT ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại Từ năm 1999 đến 2003 tỉ lệ sử dụng dịch vụ NHĐT tăng lên đáng kể, thể hiện nhu cầu về loại hình dịch vụ này ngày càng tăng Theo thống kê của Stegman, năm 2001 ở Mỹ có trên 14 triệu khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến Hầu hết các ngân hàng Hoa Kỳ đều nhận thức rõ tầm quan trọng của NHĐT, chỉ tính trong năm 2000, lượng tiền đầu tư nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng điện tử đã là 500 triệu USD
Trang 31Bảng 1.2: Khảo sát tình hình sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử tại Mỹ
(Nguồn: Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ)
Bảng 1.3: Số lượng ngân hàng có mặt trên mạng Internet
Tổng tài sản (triệu USD) Số ngân hàng Có mặt trên mạng
Trang 32Bảng 1.4: Tình hình thanh toán trực tuyến tại Mỹ
(Nguồn: Jupiter Researrch)
Năm 2008, có 4.9 triệu người Mỹ dùng dịch vụ ngân hàng di động Theo dự báo của Tower group, số người sử dụng dịch vụ này sẽ tăng gấp đôi trong năm
2009 (đạt 10 triệu người) và 2013 sẽ có 53.1 triệu người Mỹ sử dụng dịch vụ Mobile banking, 10% khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến đang sử dụng dịch vụ Mobile banking Sự phát triển của smartphone đặc biệt là Iphone đã thúc đẩy dịch vụ Mobile banking ngày càng phát triển mạnh
Ở Anh theo khảo sát của BACS, số người sử dụng dịch vụ NHĐT đã tăng từ 3,5 triệu lên 7,8 triệu trong vòng hai năm Số người thanh toán hóa đơn và chuyển tiền qua Internet hoặc qua điện thoại cũng tăng mạnh Trong năm 2002 đã có 7,2 triệu người thanh toán các loại chi phí và chuyển khoản theo con đường này, tăng 44% so với năm 2001 và đã có tổng cộng 72 triệu lượt thanh toán trực tuyến, trong đó số người sử dụng thẻ tín dụng chiếm hơn một nửa
Tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương dịch vụ NHĐT đã được triển khai rộng rãi tại nhiều nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore… Singapore và Hồng Kông đã phát triển các dịch vụ NHĐT từ rất sớm Tại Hồng
Trang 33Kông dịch vụ NHĐT có từ năm 1990, còn các ngân hàng ở Singapore cung cấp Internet banking từ năm 1997 Internet banking ở Thái Lan hoạt động từ năm
2001 Trung Quốc mới tham gia vào hệ thống ngân hàng trực tuyến năm 2000 nhưng đã có rất nhiều cải cách về chính sách để phát triển lĩnh vực này
1.5.2 Các dịch vụ ngân hàng điện tử đang được triển khai trong khu vực và trên thế giới
1.5.2.1 Dịch vụ cung cấp thông tin về tài khoản
Dịch vụ ngân hàng trực tuyến này cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch trực tuyến như sau: tóm lược về những sản phẩm, dịch vụ đã giao dịch với ngân hàng, xem số dư tài khoản (Account Summary); Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ đã giao dịch (Transaction History); Kiểm tra tình trạng các thẻ ghi nợ, thẻ ghi có (Credit/Debit Card Enquyry); Kiểm tra tình trạng các séc đã phát hành, xem chúng đã được thanh toán hay chưa, bị từ chối thanh toán hay đang trong tình trạng chờ đợi chi trả (Cheque Status Enquyry)
1.5.2.2 Dịch vụ ngân hàng điện toán (Computer Banking)
Là những dịch vụ cho phép khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng bằng cách sử dụng mạng Internet hay Intranet kết nối với máy chủ của ngân hàng để thực hiện, nhận và thanh toán hóa đơn
1.5.2.3 Thẻ ghi nợ (Debit Card)
Thẻ được sử dụng tại những máy ATM hay máy thanh toán tại những điểm bán hàng (Point of sale-POS) cho phép khách hàng sử dụng được bằng cách ghi nợ trực tiếp vào tài khoản của họ
Trang 341.5.2.4 Thanh toán trực tiếp (Direct payment)
Là hình thức thanh toán cho phép khách hàng tự động thanh toán các hóa đơn hay lương, trợ cấp cho nhân viên bằng cách chuyển tiền điện tử Các khoản chi trả được chuyển điện tử từ tài khoản của họ đến tài khoản người thụ hưởng Các mẫu tin về người thụ hưởng có thể được cài sẵn trước hàng tháng nếu cần
1.5.2.5 Gửi và thanh toán hóa đơn điện tử (Electronic bill presentment and
payment–EBPP)
Đây là một hình thức hóa đơn thanh toán được gửi trực tiếp đến khách hàng bằng e-mail hoặc bằng một thông báo trên tài khoản ngân hàng điện tử Sau đó, khách hàng sẽ ra thông báo đồng ý chi trả, việc thanh toán được điện tử hóa trực tiếp từ tài khoản khách hàng
1.5.2.6 Thẻ trả lương (Payroll Card)
Một loại thẻ tích trữ giá trị (stored-value card) được phát hành bởi các doanh nghiệp thay cho việc thanh toán lương trực tiếp, với thẻ lương cho phép người làm công nhận lương trực tiếp tại máy ATM hay sử dụng máy thanh toán tại các điểm bán hàng Lương công nhân được các doanh nghiệp nạp vào thẻ moat cách điện tử
1.5.2.7 Ghi nợ được ủy quyền trước (Preauthorized debit)
Đây là hình thức thanh toán cho phép khách hàng ủy quyền cho ngân hàng tự động thanh toán các khoản thường xuyên, các hóa đơn có tính chất định kỳ từ tài khoản của họ vào ngày cụ thể với một số tiền cụ thể Khoản thanh toán này sẽ được chuyển điện tử từ tài khoản khách hàng đến tài khoản người thụ hưởng
Trang 351.5.2.8 Dịch vụ đầu tư (Investment Services)
Dịch vụ này cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ đầu tư tài chính trực tuyến như đầu tư chứng khoán, mở tài khoản tiết kiệm qua mạng…
1.5.2.9 Dịch vụ cho vay tự động
Với dịch vụ này khách hàng có thể vay tiền của ngân hàng thông qua các máy cho vay tự động ALM (Automated Loan Machines) Việc duy nhất mà khách hàng phải làm là nhập vào máy các thông tin cần thiết và trả lời một số câu hỏi do máy đưa ra
1.5.2.10 Dịch vụ ngân hàng tự phục vụ
Sử dụng dịch vụ này khách hàng sẽ thao tác với các máy giao dịch tự phục vụ, đó là những máy ATM (Automatic Teller Machines) với nhiều chức năng, cho phép khách hàng rút tiền từ tài khoản, nộp tiền vào tài khoản, kiểm tra số dư, chuyển khoản, vay, đầu tư cổ phiếu, mở tài khoản, phát hành Séc, cung cấp cũng như truy cập thông tin…Ở các nước phát triển các máy ATM có chức năng gần bằng một chi nhánh ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG I: Chương I đã nêu khái quát những khái niệm cơ bản, các giai đoạn phát triển cũng như ưu nhược điểm của NHĐT, sự phát triển của dịch vụ NHĐT trong khu vực và trên thế giới Đồng thời, chương I cũng khái quát những rủi ro có thể ảnh hưởng đến hoạt động NHĐT hiện nay Với những tiện ích, ưu điểm vượt trội của mình, dịch vụ NHĐT được xem là thước đo nền văn minh ngân hàng của mỗi quốc gia Dịch vụ NHĐT sẽ là một xu thế phát triển tất yếu của các NHTM trong môi trường hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TP HỒ CHÍ MINH
2.1 NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT CHO SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM ĐỊA BÀN TP.HCM
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Dịch vụ ngân hàng điện tử với việc sử dụng công nghệ mới đòi hỏi khuôn khổ pháp lý mới Xây dựng luật giao dịch điện tử là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành công trong giao dịch điện tử Luật giao dịch điện tử được coi là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc triển khai thương mại điện tử nói chung và giao dịch ngân hàng điện tử nói riêng Cho đến nay, ở
Việt Nam đã ban hành những văn bản pháp luật về giao dịch điện tử như: Luật giao dịch điện tử Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật số 51/2005/QH11–Luật giao dịch điện tử, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2006 Luật gồm 8 chương, 54 điều Tiếp đó, Chính Phủ cũng đã ban hành một số Nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật giao dịch điện tử như:
Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 hướng dẫn thi hành Luật giao dịch
điện tử; Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành
luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số Đây là văn bản rất quan trọng đối với việc đảm bảo an toàn, bảo mật cho các giao dịch điện tử Văn bản này được Bộ Bưu chính viễn thông chủ trì xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển thị trường dịch vụ chứng thực điện tử qua việc thừa
nhận giá trị pháp lý của chữ ký số trong các giao dịch điện tử; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 qui dịnhđ giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan tài chính phải sử dụng chữ ký số và chứng thư số do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung
Trang 37cấp Nghị định gồm 25 điều chia thành 5 chương; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ban hành ngày 08/03/2007: quy định về giao dịch điện tử trong Ngân hàng Đây
là nghị định thứ ba liên tiếp được ban hành trong năm 2007 nhằm hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử Nghị định này tập trung hướng dẫn việc áp dụng Luật Giao dịch điện tử cho các hoạt động ngân hàng cụ thể, bảo đảm những điều kiện cần thiết về môi trường pháp lý để củng cố, phát triển các giao dịch điện tử an toàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng Nghị định gồm 5 chương, 29 điều Thủ
tướng Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 24/08/2007 về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin sớm nhất ở Việt Nam Giao dịch điện tử đã được triển khai trong hoạt động nghiệp vụ ngân hàng từ cuối những năm 90 Quyết định 196/TTg ngày 1/4/1997 và Quyết định 44/2002/TTg ngày 21/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong nghiệp vụ kế toán và thanh toán ngân hàng có thể coi là những văn bản pháp lý đầu tiên liên quan đến giao dịch điện tử
tại Việt Nam Tuy nhiên, chỉ với sự ra đời của Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, khung pháp lý cho lĩnh vực này mới cơ bản được hoàn thành
Trong lĩnh vực ngân hàng là các Quyết định của Thống đốc NHNN như
Quyết định 04/2006 ngày 18/01/2006 về việc ban hành Quy chế an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng ; Quyết định số 35/2006 ngày 31/07/2006 ban hành quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử; Quyết định số 20/2007 ngày 15/05/2007 ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Ngoài ra, các quy định cần thiết cho hoạt động ngân hàng điện tử cũng lần
Trang 38lượt được NHNN ban hành như Quy chế cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký số và chứng thực chữ ký điện tử trong ngành ngân hàng; Quy trình cấp phát, quản lý và sử dụng chứng chỉ số của NHNN; Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng…
2.1.2 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và truyền thông
Với phương châm từng bước đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hoá, tự động hoá phục vụ sự nghiệp đổi mới hoạt động ngân hàng, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có những bước phát triển vượt bậc: phong phú đa dạng về sản phẩm, mang đến cho người sử dụng cả sự tiện và lợi Đến nay hơn 80% nghiệp vụ ngân hàng đã được xử lý bằng máy tính ở các mức độ khác nhau Hầu hết các nghiệp vụ đã được chuyển từ xử lý trên các máy tính đơn lẻ sang phương thức xử lý trên mạng Nhiều nghiệp vụ đã được xử lý tức thời như thanh toán điện tử ngân hàng luồng giá trị cao, giao dịch kế toán tức thời…Một số dịch vụ như ATM, Home banking, Internet banking… đang từng bước được triển khai trên diện rộng Công nghệ thông tin và truyền thông là nền tảng cho sự ra đời của dịch vụ NHĐT, bao gồm công nghệ tính toán và công nghệ truyền thông
- Công nghệ tính toán: Từ cuối năm 1994, đầu năm 1995, Việt Nam bắt đầu triển
khai chương trình quốc gia về CNTT, các công ty tin học hàng đầu thế giới như IBM, Compaq, Digital… bắt đầu tham gia thị trường Việt Nam, số lượng máy vi tính PC nhập khẩu tăng vọt với tốc độ 50%/năm Tháng 11/1997, Việt Nam tham gia mạng internet toàn cầu Dịch vụ Internet đang mở rộng đến từng doanh nghiệp, từng gia đình, từng cá nhân
- Công nghệ truyền thông: là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến
chất lượng của các giao dịch điện tử Năm 1993, Tổng cục Bưu chính Viễn thông
Trang 39VIETPAC) nối 32 tỉnh và thành phố Sau khi đưa vào sử dụng, mạng này tỏ ra không đáp ứng được nhu cầu truyền dữ liệu ngày càng tăng Đáp ứng tình hình đó, Tổng cục Bưu chính Viễn thông đã phát triển mạng toàn quốc VNN (mạng quốc gia đường dài) kết nối Internet và các mạng nội bộ của các cơ quan nhà nước và cá nhân
từ điện tử: “Chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán mà các yếu tố của nó được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử đã được mã hóa mà không có sự thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán” Nghĩa là, chứng từ điện tử phải có đủ các yếu tố quy định cho chứng từ kế toán, đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán và phải được mã hóa bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý, truyền tin và lưu trữ Để chứng từ giấy chuyển sang chứng từ điện tử là công nghệ hoàn toàn mới, không có tiền lệ, mỗi bước chuyển đổi nhỏ trong công nghệ này đều liên quan đến tài sản của nhà nước và của nhân dân
2.1.4 An toàn dữ liệu
Bảng 2.1: Một số hiểm họa an toàn dữ liệu và giải pháp
Trang 40Giao dịch dựa trên các phương tiện điện tử đặt ra các đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn Khi làm việc với thế giới của các máy tính nối mạng, chúng
ta phải đối mặt với các hiểm họa liên quan đến việc bảo mật các luồng thông tin truyền trên đó Phần này không đi vào nghiên cứu kỹ thuật mà mục đích trình bày các kiến thức cơ bản về an ninh dữ liệu trên mạng – một trong những yếu tố quan trọng của dịch vụ ngân hàng điện tử
2.1.5 Nguồn nhân lực-Công tác đào tạo nguồn nhân lực
Các hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi một lực lượng lớn lao động được đào tạo tốt về CNTT và truyền thông để cung cấp các ứng dụng cần thiết, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các tri thức kỹ thuật thích hợp Thiếu các kỹ năng để làm việc trên Internet và các phương tiện hiện đại khác, hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Anh-ngôn ngữ căn bản của Internet cũng là những trở ngại cho việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử Từ năm 2003, nắm bắt được nhu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực về TMĐT, một số trường đại học và
pháp an toàn
Chức năng Mã hóa
đường truyền Dữ liệu bị chặn lại, đọc
trộm hoặc sửa bất hợp
pháp
Mã hóa Mã hóa để ngăn chặn làm
thay đổi bất hợp pháp
Mã hóa đường truyền Người dùng thay đổi đặc
điểm của họ để gian lận
Xác nhận
Xác nhận đặc điểm nhận dạng
Chữ ký điện tử Người dùng bất hợp pháp
trên một mạng truy cập
một mạng khác
Bức tường lửa
Lọc và ngăn chặn các luồng thông tin thâm nhập mạng hoặc máy chủ
Bức tường lửa