Trong xã hội hiện đại, GDĐT luôn là lĩnh vực được coi trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đây được coi là lĩnh vực chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần to lớn vào việc bảo đảm sự phát triển KTXH một cách bền vững.
Trang 1HỒ CHÍ MINH
BÙI HỒNG QUANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY
NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Đặng Ngọc Lợi
2 TS Nguyễn Hữu Thắng
Phản biện 1: PGS,TS Nguyễn Hữu Tài
Phản biện 2: PGS,TS Ngô Trí Long
Bộ Tài chính
Phản biện 3: TS Trần Thị Thu Hà
Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Hội trường 106B, nhà A4 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào hồi ngày tháng … năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, GDĐT luôn là lĩnh vực được coi trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Đây được coi là lĩnh vực chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần to lớn vào việc bảo đảm sự phát triển KT-
XH một cách bền vững Mục tiêu của GDĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới dành được chính quyền, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm và chú trọng đặc biệt đến lĩnh vực GDĐT Cùng với khoa học và công nghệ, GDĐT được coi là quốc sách hàng đầu Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: Tăng cường đầu tư vào phát triển con người thông qua phát triển mạnh GDĐT, khoa học và công nghệ Đảm bảo nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Với nhận thức con người là nhân tố quyết định cho sự phát triển, vừa là động lực, vừa là mục đích của sự nghiệp cách mạng, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói: Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Tuy trong điều kiện đất nước còn khó khăn, nhưng những năm qua, Nhà nước ta đã coi đầu
tư cho GDĐT là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển: đầu tư cho sự nghiệp GDĐT tăng lên đáng kể; năm 2005, chi cho GDĐT chiếm 18% tổng chi NSNN; đã huy động được nhiều nguồn vốn khác để phát triển GDĐT… Những cố gắng đầu tư đó đã giúp cho cơ sở vật chất của Ngành được cải thiện, góp phần quan trọng trong việc nâng cấp hệ thống trường học, tăng cường trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, nâng cao đời sống cán bộ giáo viên
Trên thực tế, việc đầu tư cho GDĐT đòi hỏi những khoản tiền rất lớn
Do đó, Đảng ta đã xác định: dành tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hoá phát triển GDĐT; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho GDĐT’’ Quán triệt quan điểm đầu tư cho GDĐT là một loại đầu tư cho phát triển, Nhà nước ta đã ngày càng tăng cường đầu tư, tăng tỷ trọng chi NSNN cho GDĐT, đồng thời ban hành các chính sách thích hợp nhằm huy động các nguồn đầu tư trong nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc tế, kể cả nguồn vốn vay ưu đãi của nước ngoài thuộc nguồn vốn ODA để phát triển GDĐT
Có thể nói, việc tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay
Trang 4này để đầu tư cho GDĐT trong bối cảnh hiện nay là một trong những giải pháp quan trọng giúp cho việc tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng dạy và học
Với ý nghĩa quan trọng đó, Nhà nước luôn luôn coi trọng công tác quản
lý, sử dụng nguồn vốn ODA phục vụ phát triển KT-XH nói chung và vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT nói riêng Ngay từ Hội nghị đầu tiên các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (tháng 11/1993), Chính phủ đã tuyên bố quan điểm của mình về vấn đề quản lý và sử dụng vốn ODA: Điều quan trọng là nguồn vốn bên ngoài phải sử dụng có hiệu quả Chính phủ nhận trách nhiệm điều phối và sử dụng vốn vay, viện trợ nước ngoài, với nhận thức sâu sắc rằng nhân dân Việt Nam là người phải gánh chịu cái giá phải trả cho sự thất bại nếu nguồn vốn này không được sử dụng có hiệu quả Kể từ đó cho đến nay, khung pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy để quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA nói chung và vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT nói riêng ngày càng được hoàn thiện
Tuy nhiên, đây là vấn đề mới mẻ và phức tạp, nên QLNN đối với nguồn vốn này còn bộc lộ một số hạn chế, trở ngại như: khung pháp luật và
cơ chế chính sách chưa đồng bộ, trình độ và năng lực của bộ máy điều hành vẫn còn nhiều bất cập Điều đó đã làm hạn chế khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài dành cho phát triển GDĐT ở nước ta
Đầu tư cho GDĐT bình quân đầu người ở nước ta hiện còn thấp, chỉ mới bằng 1/10 mức trung bình và 1/100 mức cao của thế giới Trong khi đó, nguồn vốn trong nước rất khó đáp ứng nhu cầu đầu tư cho GDĐT Chính vì vậy, nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho lĩnh vực này không chỉ cần thiết trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài Để sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư GDĐT, khắc phục những hạn chế còn tồn tại, cần phải làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn, nhất là về cơ chế, chính sách, bộ máy quản lý trong lĩnh vực
này Xuất phát từ thực tế trên đây, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước
đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta - Thực trạng và giải pháp’’ làm luận án tiến sĩ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thu hút và quản lý nguồn viện trợ nước ngoài nói chung và nguồn vốn vay ODA nói riêng luôn là chủ đề thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các tổ chức ở cả trong nước và quốc tế,
Trang 5nhất là từ khi xảy ra vụ PMU 18 Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này khá phong phú dưới các giác độ và nội dung khác nhau Trong đó, điểm chung của các công trình này là tập trung làm rõ vai trò, đặc điểm của vốn ODA trong nền kinh tế cũng như đối với một ngành; mô tả, đánh giá quy trình vay vốn giải ngân và sử dụng nguồn vốn này; một số ít công trình đã đề cập đến quản lý vốn ODA nhưng chủ yếu dưới giác độ quản lý sử dụng Đề tài kế thừa chọn lọc các vấn đề lý luận của các công trình nghiên cứu trên để phát triển thành cơ sở lý luận của luận án về QLNN đối với nguồn vốn ODA nói chung và nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT nói riêng
Về đầu tư cho GDĐT, các công trình thuộc lĩnh vực này khá phong phú và có mặt trên hầu hết các thể loại tài liệu như sách, kỷ yếu hội thảo, bài viết trên tạp chí, các đề tài khoa học… Khó có thể liệt kê đầy đủ các công trình thuộc nhóm này bởi khối lượng khá đồ sộ và phạm vi nghiên cứu rất rộng Các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án phải kể đến các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Đây là nhóm công trình đồ sộ về số lượng và nghiên cứu khá toàn diện
về các vấn đề liên quan đến đầu tư cho GDĐT Chẳng hạn như:
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Thị Thu Hà (1993): "Đổi mới
và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân", với
những phân tích khá sắc sảo về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngân sách cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân
- Luận án tiến sĩ giáo dục của tác giả Lê Xuân Trường (2003) với đề tài:
"Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay" đã phân tích có hệ thống cơ sở lý luận của
việc sử dụng hợp lý nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục phổ thông; phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn lực tài chính cho giáo dục phổ thông
ở Việt Nam thời gian qua và xu thế trong thời gian tới Qua đó đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục Với cách tiếp cận, phân tích quản lý tài chính từ chuyên ngành giáo dục học nên những kết luận có giá trị tham khảo ở mức độ nhất định
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Duy Phong (2003) với đề
tài: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà
Nội" đã chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục
phổ thông trên địa bàn Hà Nội Bằng việc hệ thống hoá một số vấn đề lý luận
về giáo dục, cơ chế quản lý tài chính giáo dục, luận án đã đi sâu phân tích
Trang 6thực trạng cơ chế quản lý tài chính giáo dục ở thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện cơ chế này trong giáo dục phổ thông ở Hà Nội Đây là công trình khá hệ thống, đầy đủ với số liệu cập nhật tính đến thời điểm công bố nhưng giới hạn nghiên cứu là giáo dục phổ thông trên phạm vi Thủ đô, hơn nữa, cơ chế tài chính của giáo dục phổ thông
và giáo dục đại học hoàn toàn khác nhau, do đó những kết luận của đề tài chỉ mang tính tham khảo
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đặng Văn Du (2003) với tên đề
tài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở
Việt Nam” đã phân tích khá sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học
Luận án đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tư tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí được xây dựng Luận án cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp tương đối toàn diện và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính đại học ở nước ta Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu công phu với những kết luận sắc sảo, có căn cứ lý luận và cơ sở thực tiễn và là tài liệu tham khảo tốt không chỉ cho các nhà quản lý giáo dục, mà còn cho các nhà nghiên cứu về tài chính
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Phước Minh (2005) với đề tài: "Hoàn
thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam" đã tập trung
nghiên cứu chính sách tài chính cho giáo dục đại học Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho giáo dục đại học trong và ngoài nước, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục
ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học ở nước
ta Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về chính sách tài chính cho GDĐH với hệ thống số liệu cập nhật, những kết luận thuyết phục, hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao và là tài liệu tham khảo quan trọng cho những nhà hoạch định và thực thi chính sách tài chính cho giáo dục đại học
Tuy nhiên, thu hút và quản lý nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT
là lĩnh vực khá hẹp và cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn
đề này Các tài liệu liên quan thường dừng ở các bài phát biểu tại các buổi hội thảo hoặc đề tài cấp bộ với những nội dung mang tính khai phá Đó là Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2004: Vốn ODA với chiến lược phát
triển giáo dục đại học của Việt Nam đến năm 2010 – Thực trạng và giải pháp, do tác giả Vũ Thị Kim Oanh, Trường Đại học Ngoại thương làm chủ
Trang 7nhiệm Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hoá những vấn đề chung về vai trò của ODA trong phát triển giáo dục và đánh giá thực trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam những năm qua Từ đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả hơn vốn ODA cho chiến lược phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2010 Song do mục đích nghiên cứu, công trình này chưa đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT Như vậy, có thể nói, đề tài luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT Trong đó, luận
án tập trung làm rõ các vấn đề về khung pháp lý nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT; cơ chế, chính sách đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu
tư cho GDĐT; bộ máy QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT; mô hình QLDA đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT Các khía cạnh khác liên quan được đề cập chỉ để đảm bảo tính tổng thể nhằm làm rõ những nội dung trọng tâm nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu: vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là đối
tượng quản lý của QLNN Tuy nhiên, nguồn vốn vay nước ngoài là phạm trù rộng, nó bao gồm nhiều hình thức vay, trong đó có cả vay của nhà nước và vay của tư nhân; vay ưu đãi và vay thương mại Trong phạm vi đề tài này, chủ yếu nghiên cứu về nguồn vốn ODA, trong đó có phần vốn vay ưu đãi nước ngoài của nhà nước đầu tư cho GDĐT - loại vốn phải hoàn trả nhưng với lãi suất thấp hơn và trong một giai đoạn dài hơn so với các khoản vay thương mại từ ngân hàng với lãi suất thị trường Vì thế, luận án chủ yếu tập trung khảo cứu và lấy số liệu dẫn chứng về nguồn vốn ODA nói chung và vay ODA nói riêng đầu tư cho GDĐT
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn
về QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT để tìm những giải pháp phù hợp tiếp tục đổi mới QLNN nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, góp phần nâng cao chất lượng GDĐT ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra gồm: Làm rõ cơ
sở lý luận của QLNN đối với các nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
Trang 8GDĐT đặt trong mối quan hệ với nguồn vốn NSNN đầu tư cho GDĐT nói chung; Phân tích thực trạng QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với các nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; đồng thời trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Ngoài ra, tác giả vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng, mô hình hoá, kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn, để thực hiện đề tài
6 Đóng góp mới của luận án
Một là, xây dựng khái niệm QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho GDĐT là sự tác động của các cơ quan QLNN bằng pháp luật, cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển GDĐT, góp phần phát triển KT-XH của quốc gia
Hai là, chỉ rõ QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
GDĐT chịu tác động từ cả phía nước cho vay và nưóc đi vay; vì vậy, QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT cần phải đặt trong mối quan hệ đa chiều đó, trong đó vai trò quản lý của nước tiếp nhận
có vai trò quyết định đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này
Ba là, đánh giá đúng thực trạng QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta từ năm 1993 đến nay; rút ra kết quả đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân Qua đó cho thấy, QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập
Bốn là, đưa ra các quan điểm và phương hướng đầu tư phát triển
GDĐT cũng như giải pháp hoàn thiện QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta trong bối cảnh hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 177 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 mục
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1.1 Vai trò của giáo dục đào tạo đối với phát triển kinh tế
GDĐT là hoạt động không thể thiếu đối với sự nghiệp phát triển
KT-XH của mỗi quốc gia Muốn có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ Sản phẩm của GDĐT là con người, là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trình độ thành thạo, kỹ năng của con người có tác động trực tiếp đến năng suất lao động, việc hình thành
kỹ năng nhất thiết phải thông qua GDĐT Tuy không thể trực tiếp tạo ra ngay
sự tăng trưởng, nhưng về lâu dài, GDĐT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia Qua đó, luận án đã phân tích vai trò của GDĐT
đối với phát triển kinh tế thể hiện ở các mặt chủ yếu như: (i) Nâng cao năng
suất và chất lượng của lực lượng lao động; (ii) Tạo tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Vốn và các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo
Có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại các nguồn vốn đầu
tư cho GDĐT, chẳng hạn như: nguồn trong nước và nguồn ngoài nước; nguồn NSNN và nguồn ngoài NSNN Song tiêu thức phân loại phổ biến mà nước ta cũng như nhiều nước khác hay sử dụng là nguồn NSNN và nguồn ngoài NSNN Trên cơ sở đó, luận án đã phân loại nguồn vốn đầu tư cho
GDĐT bao gồm: (i) Đầu tư từ NSNN; (ii) Đầu tư ngoài NSNN
Trong các nguồn tài chính đầu tư cho GDĐT, NSNN vẫn đóng vai trò
chủ yếu, là nguồn quan trọng đối với sự nghiệp phát triển GDĐT Tuy nhiên, đầu tư cho GDĐT đòi hỏi những khoản tiền rất lớn Vì vậy, các nước chậm
và đang phát triển đều quan tâm tìm các nguồn vốn khác nhau để đầu tư cho GDĐT Ngoài việc huy động vốn từ ngân sách, các nguồn khác từ trong nước, các quốc gia còn phải tranh thủ các nguồn vốn nước ngoài, nhất là nguồn vốn ODA
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài đối với phát triển giáo dục đào tạo
Trang 101.1.3.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn ODA
Có thể hiểu nguồn vốn ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại
và các khoản viện trợ hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn, lãi suất thấp…) của các chính phủ và các tổ chức nước ngoài dành cho các nước đang và chậm phát triển nhằm hỗ trợ sự phát triển của các nước này Tuy nhiên, cần chú ý rằng, nguồn viện trợ phát triển bao gồm phần cho không chiếm khoảng 25% số vốn cung cấp
Đặc điểm cơ bản của vốn ODA là nguồn vốn do các nước và các tổ chức quốc tế tài trợ thông qua hình thức cho vay ưu đãi (chiếm hơn 80% tổng nguồn vốn ODA) hoặc viện trợ không hoàn lại ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Ngoài ra, vốn ODA còn có đặc điểm là đi kèm theo nó thường
có các điều kiện ràng buộc của bên cho vay
Tuỳ theo tính chất, mục đích, điều kiện, khác nhau mà có các loại ODA khác nhau Phân loại đúng ODA sẽ giúp cho việc sử dụng đúng mục đích mục đích và có hiệu quả hơn Theo tính chất, ODA gồm các khoản viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại Theo mục đích, ODA gồm vốn đầu tư phát triển, viện trợ kỹ thuật, tín dụng điều chỉnh cơ cấu, viện trợ nhân đạo và cứu trợ Theo điều kiện, ODA gồm viện trợ không ràng buộc, viện trợ ràng buộc và ràng buộc một phần Theo hình thức, ODA gồm viện trợ theo
dự án và phi dự án
1.1.3.2 Vai trò của nguồn vốn vay nước đối với giáo dục đào tạo
Cũng như một số ngành, lĩnh vực khác, nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng đối với lĩnh vực GDĐT Việc sử dụng vốn ODA đúng mục đích
và có hiệu quả trong GDĐT sẽ tạo nên sự kích thích có ý nghĩa như phương thức đầu tư cho giáo dục có trọng điểm, có mục tiêu, mục đích cụ thể Theo
WB, một USD viện trợ được sử dụng để tài trợ cho các dự án giáo dục có xu hướng làm tăng chi tiêu của chính phủ ở mọi lĩnh vực, ngang với mức một USD của chính phủ thu từ bất cứ một nguồn nào Theo
đó, luận án đã khái quát vai trò của nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GDĐT
như: (i) góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư cho GDĐT; (ii) góp phần nâng
cao trình độ giáo viên và năng lực quản lý ngành GDĐT; (iii) góp phần phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống GDĐT ở các cấp
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay nước ngoài
Mỗi quốc gia khi tiếp nhận nguồn vốn ODA đều phải có cơ chế, chính
Trang 11sách, pháp luật và bộ máy để quản lý – hay còn gọi là QLNN QLNN đối với nguồn vốn ODA là quá trình nhà nước lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA, nhằm đạt được các mục tiêu của nhà nước đặt ra với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện phát triển của đất nước QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là một bộ phận của QLNN về tài chính nói chung và tài chính trong lĩnh vực GDĐT nói riêng Qua phân tích, luận án đưa ra khái niệm QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là sự tác động của các cơ quan QLNN bằng pháp luật, cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường huy động
và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển GDĐT, góp phần phát triển KT-XH của quốc gia
1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về huy động nguồn vốn vay nước ngoài
Kể từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhất quán phương châm huy động nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển KT-XH Trong đó, vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng Qua phân tích cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải huy động vốn từ nước ngoài cho phát triển KT-XH, trong đó coi trọng sử dụng vốn ODA cho lĩnh vực GDĐT Đồng thời, cần phải tăng cường quản lý chặt chẽ việc vay nợ và trả nợ nước ngoài, bảo đảm nghiêm ngặt hiệu quả sử dụng vốn vay, quy định rõ thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ
1.2.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay nước ngoài
Luận án đã phân tích, làm rõ sự cần thiết của QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT dưới cả góc độ của nước cho vay và nưóc
đi vay, trong đó vai trò quản lý của nước tiếp nhận có vai trò quyết định đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này Dưới góc độ nước đi vay, sự cần thiết của QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT vì các lý do chủ
yếu như: (i) do những hạn chế và nguy cơ tiềm ẩn của nguồn vốn ODA; (ii)
nước tiếp nhận dễ bị rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả nguồn vốn ODA; (iii) trình độ và kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA của nước tiếp nhận thường là thấp
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho giáo dục đào tạo
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung QLNN đối với nguồn
Trang 12vốn vay nước ngoài như: tiếp cận theo chức năng quản lý; tiếp cận theo quá trình quản lý Theo chức năng quản lý, QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài bao gồm: tạo lập môi trường pháp luật; xây dựng định hướng chiến lược, kế hoạch; sử dụng các công cụ tổ chức triển khai thực hiện chiến lược,
kế hoạch; thực hiện các chính sách, biện pháp liên quan đến điều tiết nền kinh tế; tổ chức kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện và tổ chức bộ máy Cách tiếp cận theo chức năng quản lý thường được sử dụng để làm rõ nội dung QLNN đối với huy động và sử dụng vốn chung trong quốc gia (ở cấp cao, TW)
Ở cấp bộ, ngành, nội dung QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài thường gắn với quá trình, hoạt động cụ thể về huy động và sử dụng vốn; gắn với các khâu và các bước cụ thể của quá trình xây dựng thực hiện dự án đầu
tư Theo đó, các bước QLDA ODA nói chung và dự án ODA trong GDĐT
nói riêng gồm 6 bước sau: (i) Đề xuất dự án; (ii)Đàm phán, ký kết điều
ước quốc tế khung về ODA (iii) Chuẩn bị dự án (iv); Tổ chức triển khai và thực hiện các chương trình, dự án; (v)Theo dõi và đánh giá dự án; (vi) Nghiệm thu bàn giao công trình
1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với
nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho giáo dục đào tạo
Luận án đã phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT dưới cả góc độ của nước cho vay và nưóc đi vay Những yếu tố ảnh hưởng từ phía các nhà tài trợ
như: Mục tiêu chiến lược cung cấp ODA của nhà tài trợ; Tình hình kinh tế,
chính trị cũng như các biến động bất thường có thể xảy ra ở phía nhà tài trợ; Bầu không khí quốc tế và sự phát triển các mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa hai phía tài trợ và nhận tài trợ Những yếu tố ảnh hưởng từ phía bên
nhận tài trợ như: Sự ổn định của thể chế chính trị; Chiến lược phát triển
GDĐT trong từng thời kỳ; Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thu hút, tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA cho GDĐT; Nhận thức, năng lực và trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, các nhà giáo, các cơ sở GDĐT; Công tác cải cách hành chính tại các cơ quan QLNN, đặc biệt là cơ quan Bộ GDĐT và các cơ quan ngành dọc tại địa phương
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC NGOÀI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Qua nghiên cứu một số kinh nghiệm thành công trong thu hút và quản
lý, sử dụng vốn ODA như của Trung Quốc, Ba Lan, Malaysia, Thái Lan cho
Trang 13thấy: cần phải chuẩn bị tốt dự án xin viện trợ; xác định đúng lĩnh vực đầu tư
ưu tiên; quy định rõ nguyên tắc sử dụng vốn ODA; quy định hạn mức vay và trả nợ hàng năm
Tuy nhiên, việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA có thể xem như con dao hai lưỡi Nếu sử dụng tốt, có hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát kinh tế triển xã hội, ngược lại sẽ trở thành một gánh nặng nợ nần, đẩy các nước này vào thảm cảnh bi đát hơn Bên cạnh thành công, một
số nước đang phát triển cũng đã để lại những bài học đáng nhớ để các nước khác rút kinh nghiệm Có thể nêu ra một số kinh nghiệm chưa thành công
trong sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA như: nhận thức chưa đúng về
nguồn vốn ODA; quản lý nguồn vốn ODA không chặt chẽ, kém hiệu quả
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý vốn vay nước ngoài ở một
số quốc gia, luận án đã rút ra một số bài học như: ODA chỉ là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng chứ không có vai trò quyết định cho sự thành công của một quốc gia trên con đường phát triển Trong quá trình hoạch định sử dụng vốn ODA, các quốc gia cần chủ động xây dựng danh mục các ngành, các địa phương, lĩnh vực sẽ thu hút vốn, đặc biệt cần phải coi trọng hiệu quả
sử dụng vốn ODA hơn là số lượng vốn ODA Khi đã tiếp cận được nguồn vốn, đòi hỏi phải tổ chức bộ máy thực hiện Bộ máy này có chức năng thay mặt Nhà nước quản lý tốt việc tổ chức thực hiện mục tiêu dự án, bên cạnh đó cũng đưa ra được những quy chế chặt chẽ khi sử dụng vốn ODA như việc chi phí hợp lý cho các hoạt động tư vấn, hoạt động khảo sát, lập dự án Công tác kiểm soát là hết sức quan trọng, nó vừa bảo đảm tiến độ, thời gian vừa giảm được lãng phí, thất thoát trong quá trình thực thi
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
2.1.1 Thực trạng giáo dục đào tạo
GDĐT nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định Nhu cầu học tập của nhân dân, trước hết ở GDPT được đáp ứng tốt hơn Các mục tiêu chiến lược về quy mô phát triển ở các cấp học và trình độ đào tạo đạt được kết quả theo chỉ tiêu và kế hoạch đề ra Chính sách xã hội về GDĐT đã được