Qúa trình xây dựng tổ chức đảng các cấp từ trung ương đến địa phương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kì 1930-1945
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO HOC VIEN CHINH TRI - HANH CHINH
QUOC GIA HO CHi MINH
TRAN TRONG THO
QUA TRINH XAY DUNG TO CHUC DANG CAC CAP TU
TRUNG UONG, XUUY DEN LIEN TINH UY THOIKY
1930-1945
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 22 56 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2008
Công frình được hoàn thành tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dân khoa học: GS,TS Trịnh Nhu
Phan bién 1: PGS,TS Doan Ngoc Hai
Phan bién 2: PGS,TS Pham Xanh
Phan bién 3: Dinh Thi Thu Ctic
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
Hội trường số 106, nhà A14 Vào hồi 14 giờ, ngày 16 tháng 5 năm 2008
Có thể (ìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 2NHUNG CONG TRINH KHOA HOC CUA TAC GIA DA CONG BO CO LIEN QUAN DEN LUAN AN
Trần Trọng Thơ (1995), “Quá trình khôi phục, củng cố, kiện toàn
tổ chức Đảng ở Trung Kỳ (1939-1945)”, Tạp chí Lịch sử Dang, 63 (5), tr.52-54
Trần Trọng Thơ (1996), “Quá trình khôi phục tổ chức Đảng ở Nam
Kỳ (1940-1945)”, Tap chi Lich sit Dang, 69 (5), tr.17- 19 Trần Trọng Thơ (1997), “Quá trình khội phục, củng cố va phat triển tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ (1939-1945)”, Tạp chí Lịch sử Dang, 81 (8), tr.17-19
Trần Trọng Thơ (2005), “Đồng chí Phùng Chí Kiên đã hy sinh
như thế nào”, 74p chí Xưa & Nay, 244 (9), tr.15-17
Trần Trọng Thơ (2005), “Phương thức xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám”, Tạp chí Lịch sử Đảng, 177 (8), tr.26 -29
Trần Trọng Thơ (2006), “Về sự hình thành Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm1930” Tạp chí Lịch sử Đảng, 188 (7), tr.53-56
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt
Nam, thời kỳ 1930 - 1945 thể hiện đậm nét bản lĩnh cách mạng kiên
cường, sức sống mãnh liệt, trí tuệ sáng tạo, sự trưởng thành vượt bậc
của Đảng về tư duy chính trị, năng lực xác định đường lối cách mạng
gắn kết với phương pháp chỉ đạo thực tiễn sát hợp điều kiện cụ thể
của Việt Nam và xây dựng hệ thống tổ chức Nhờ vậy, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta từng bước trải nghiệm các cao trào đấu tranh cách
mạng, tiến tới đập tan xiêng xích thực dân, phát xít, lật đổ nền quân
chủ thối nát, giành độc lập, tự do, mở đường phát triển cho dân tộc
trong thời đại mới
Hoạt động của Đảng trong 15 năm đấu tranh giành chính quyền
(1930-1945) rất phong phú, có ý nghĩa hết sức to lớn về lý luận và
thực tiễn đã thu hút nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, song đến nay,
vẫn còn nhiều vấn đề, nhất là công tác xây dựng tổ chức cấp Trung
ươns, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ chưa được làm sáng tỏ hoặc chưa được luận
giải thấu đáo
1.2 Trong diéu kiện hoạt động bí mật, chưa nắm chính quyền,
phải đối phó với sự đánh phá ác liệt của đối phương, việc xây dựng tổ
chức Đảng cấp Trung ươne, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ có một vị trí đặc
biệt quan trọng đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của toàn
Đảng và sự thành bại của cách mạng Nhờ xây dựng tổ chức cấp
Trung ương, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ, Đảng đã tạo dựng được hệ thống tổ
chức, cơ sở Đảng rộng khắp trên mọi địa bàn, gắn chặt với quần
chúng, khi thời cơ đến, kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
1.3 Xây dựng Đảng về tổ chức là điều kiện không thể thiếu bảo
đảm cho Đảng thống nhất ý chí và hành động, là nhân tố bảo đảm các
mặt lãnh đạo của Đảng Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta
xác định nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức là
nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta Để thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao năng
lực, sức chiến đấu của Đảng, cần thiết phải nghiên cứu, đúc kết, vận
dụng những kinh nghiệm lịch sử về xây dựng Đảng nói chung, về xây dựng tổ chức và cán bộ, trong đó có những kinh nghiệm về xây dựng các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thời kỳ 1930- 1945
Nghiên cứu “Quá trình xảy dựng tổ chức Đđng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến các liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945” để phản ánh hiện thực xây dựng tổ chức, nhân sự các cấp uỷÿ đó, soi tỏ thêm đặc điểm, tổ chức, hoạt động của các cấp bộ Đảng, của các nhân vật lịch sử của Đảng trong quá trình vận động cách mạng trước khi trở thành một đảng cầm quyền; đúc kết kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ tổ chức Đảng để cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho công tác xây dựng tổ chức Đảng hiện nay; bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, hiệu chỉnh những nhận định sai lạc, thiên kiến về vai trò lãnh đạo của Đảng thời kỳ 193)- 1945
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2.1 Ngay từ thập kỷ 30 thế kỷ XX, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng
đã công bố nhiều bài viết trên báo chí của Quốc tế Cộng sản, của Đảng Cộng sản Đông Dương phản ánh truyền thống đấu tranh và các cơ quan lãnh đạo của Đảng Từ năm 1960, thực hiện chủ trương tăng cường công tác tổng kết kinh nghiệm và viết Lịch sử Đảng của Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960), nhiều công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng được tiến hành Những công trình nghiên cứu của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (nay là Viện Lịch sử Đảng), đặc biệt là tác phẩm Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sơ thảo), Tập
I (1920-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, khi đề cập đến vấn đề tổ chức Đảng đã nêu lên chủ trương chỉ đạo của Đảng và nhân sự ở một vài hội nghị Trung ương
Một số chuyên khảo về công tác tổ chức của Đảng, như Trung tâm nghiên cứu về tổ chức, Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930- 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 trong khi trình bày quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác tổ chức qua các thời kỳ đã đề cập đến việc xây dựng các cấp uỷ Đảng, tuy nhiên chưa đi sâu nghiên cứu về tổ chức Đảng cấp Trung ương, xứ uỷ
và liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945
2.2 Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước đã biên soạn và xuất bản lịch sử đảng bộ địa phương Những công trình này
Trang 43
đã đề cập một số nét về tổ chức Đảng cấp xứ uy, lién tinh uy thoi ky
1930-1945, song còn tản mạn
2.3 Một số công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc, như Viện Lịch
sử Đảng, Lịch sứ Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995 ; một số chuyên khảo về đấu tranh cách mang
trong các nhà tù đế quốc, như Sơn La, Hỏa Lò, Buôn Ma Thuột, Côn
Đảo đã phản ánh ở những mức độ khác nhau về nhân sự, tổ chức
Đảng cấp Trung ương, xứ uỷ thời kỳ 1930-1945
2.4 Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học về các
lãnh tụ của Đảng, hồi ký của nhiều đồng chí lão thành cách mạng
cũng phản ánh một số khía cạnh về bộ máy tổ chức của Đảng ở cấp
Trung ương và cấp xứ trong thời kỳ 1930-1945, như Ban Nghiên cứu
Lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh- Tiểu sử và Sự
nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980; Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên
của Đảng, mội tấm sương bất điệt (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004; Lê Hồng Phong, người cộng sản kiên cường (Hồi ký),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo
xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002; Trường Chỉnh, một nhân cách lớn, một nhà
lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002
2.5 Một số công trình do các cơ quan nghiên cứu nước ngoài
tiến hành, như Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia, Lịch sử Đẳng Nhân dân Cách mạng Campuchia, biên
soạn, 1990; Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Lịch sử Đđng Nhân dân Cách mạng
Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 đã bước đầu phản ánh
về công tác tổ chức của hai xứ Đảng bộ Cao Miên và Ai Lao thời kỳ
1930-1945, song chưa đi sâu nghiên cứu và luận giải thấu đáo về co
quan lãnh đạo cấp xứ của 2 Đảng bộ thời kỳ này
Một số cơ quan trấn áp của chính quyền thuộc địa, khi tìm kiếm
kế sách đàn áp phong trào cộng sản Đông Dương đã tìm hiểu lịch sử
hình thành và cấu tạo của tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương Đáng
chú ý là tài liệu ComfribuHion à Ì lHsfoire des mouvemenfs poliiques
de liIndochine Francaise, 1925-1933, do Chánh mật thấm Dong
4 Dương L Marty tổ chức biên soạn năm 1933 Một số công trình của các nhà nghiên cứu, sử học trên thế giới, như Révolutionaires Vietnamiens et Pouvoir colonial en Indochine cua Daniel Hémery, Nxb Francois Maspero, Paris, 1975; c6 dé cap về các cơ quan lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1930-1945 Những công trình trên không di sâu khảo cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức Đảng cấp Trung ương, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945; chứa đựng nhiều nội dung xuyên tạc, nhiều nhận định sai lệch với thực tiễn lịch sử Nhìn chung, đến nay, nhiều công trình khoa học bước đầu phản ánh và thống nhất khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm, trong chủ trương, trong chỉ đạo của Đảng về xây dựng tổ chức Đảng thời kỳ 1930-1945, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ, đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945 Nhiều vấn đề lịch
sử, nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử liên quan đến tổ chức của Đảng chưa được phản ánh, hoặc nhìn nhận chưa xác đáng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3.1 Muc dich
Nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930- 1945 góp phần phát triển công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, cung cấp thêm một số luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng
về tổ chức hiện nay
3.2 Nhiệm vụ Xem xét, đánh giá những quan điểm, chủ trương và biện pháp xây dựng, khôi phục và phát triển tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uy đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945
Tái hiện, luận giải quá trình xây dựng khôi phục và phát triển tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uy đến liên tỉnh uy thời kỳ
1930 - 1945
Phân tích một cách khoa học những đặc điểm, cách tổ chức, ưu điểm và hạn chế của quá trình xây dựng, khôi phục và phát triển của tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu các quan điểm, chủ trương, biện pháp của
Đảng, Quốc tế Cộng sản và Nguyễn Aí Quốc về xây dựng tổ chức
Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tính uỷ; sự thành lập,
khôi phục, phát triển cơ cấu tổ chức của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Ban Chỉ huy ở ngoài, các xứ uỷ, các liên tỉnh uỷ ở Bắc Kỳ,
Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và tổ chức Đảng ở Cao Miên
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ
Trung ương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ trên phạm vi Đông Dương (Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên), từ 1930 đến 1945
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Co so ly luận
Tác giả luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nguyên tắc xây dựng tổ chức
Đảng kiểu mới của Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm
của Đảng về xây dựng đảng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
5.2 Nguồn tài liệu
Thực hiện luận án, tác giả chủ yếu sử dụng những nguồn tư liệu
sau: các nphị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trunøe ương, của các xứ uỷ
đã được công bố trong Văn kién Dang Toàn tập
Nguồn tài liệu gồm: nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, biên bản của
Trung ương, của các xứ uỷ; các biên bản toạ đàm về vấn đề tổ chức
thời kỳ 1930 - 1945 của các nhân chứng lịch sử; những công văn, chỉ
thị, báo cáo của các cơ quan trấn áp của Chính quyền thuộc địa có
liên quan đến tổ chức Đảng lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung
ương Đảng; Phòng tư liệu Viện Lịch sử Đảng; Ban Tuyên giáo, Ban
Tư tưởng - Văn hoá: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nghệ An, Tác giả cũng
tham khảo những bài nghiên cứu, những hồi ký có liên quan đến đề
tài đã được công bố trong các cuốn sách, các kỷ yếu hội thảo khoa
học, trong các tạp chí
5.3 Phuong pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh; chú trọng áp dụng các phương pháp phê phán sử liệu và phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học Lịch sử Đảng là lấy các văn bản nghị quyết, chỉ thị sốc của Đảng làm cơ sở đối chiếu với sự kiện, nhân vật lịch sử trong thực tiễn để phân tích, đánh giá, qua đó tái hiện quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945
6 Đóng góp của luận án 6.1 Về tư liệu
Sưu tầm, hệ thống hoá sử liệu thuộc lĩnh vực quan điểm và thực tiễn xây dựng Đảng về tổ chức thời kỳ 193)- 1945, trong đó có những
sử liệu mới
6.2 Về nội dung Dựng lại quá trình xây dựng, khôi phục và phát triển tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uy đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 Phân tích phương pháp xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uy đến liên tỉnh thời kỳ 1930 - 1945
Đưa ra một số nhận định chung về tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945; nhấn mạnh tính tích cực, chủ động, linh hoạt của các cấp bộ Đảng, vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc; đồng thời, bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm của công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng thời kỳ này
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận án 7.14 Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm toàn diện và sâu sắc hơn
7.2 Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cung cấp thêm luận cứ khoa học, gợi mở những suy nghĩ có thể vận dụng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
8 Bố cục của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 12 tiết.
Trang 67
Néi dung c¬ b{n cña luEn > .n
THANH LAP VA DAU TRANH KHOI PHUC TO CHUC
DANG CAP TRUNG UONG, XU UY, LIEN TINH UY
GIAI DOAN 1930 - 1935
1.1 Những điều kiện và nhân tố tác động đến quá trình
thành lập và khôi phục tổ chức Đảng cấp Trung ương, xứ uỷ, liên
tỉnh uỷ giai đoạn 193 - 1935
1.1.1 Đẳng Cộng sản Việt Nam ra đời, các luận điển của Nguyễn
Ái Quốc và các qui định về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng
Trước sự bế tắc về lý luận, khủng hoảng về đường lối cứu nước
và lực lượng lãnh đạo, Nguyễn Aí Quốc ra đi tìm đường cứu nước và
sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam Sự ra đời của Đảng và các bản
Điều lệ được ban hành trong giai đoạn này là những điều kiện quan
trọne hàng đầu quyết định sự hình thành các cấp uỷ Đảng
1.1.2 Tổ chức Đảng ở các địa phương được thành lap và liên
tục được khói phục Phong trào đấu tranh của nhân dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng
Hệ thống tổ chức Đảng ở các địa phương được gây dựng và
khôi phục giai đoạn 1930 -1935 cùng với phong trào đấu tranh của
nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng cơ quan lãnh
đạo cấp Trung ương, xứ uỷ và liên tỉnh uy thời kỳ này
1.1.3 Quốc tế Cộng sản chỉ đạo, giúp đố Đảng Ảnh hưởng
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Quốc tế Cộng sản và phong trào cộng sản quốc tế có những chỉ
đạo, giúp đỡ quan trọng đối với công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo
Đảng các cấp Tuy nhiên, sự chỉ đạo nặng về tập trung và quan điểm
“#đ” khuynh của Quốc tế Cộng sản có những ảnh hưởng không tích
cực đến công tác tổ chức của Đảng
1.1.4 Chính sách khủng bố của chính quyền thuộc địa
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã phải đương đầu với sự khủng bố
neày càng tăng của thực dân Pháp và tay sai Chính sách đàn áp của
thực dân Pháp gây cho Đảng nhiều tổn thất nghiêm trọng, gây khó
khăn cho công tác xây dựng tổ chức Đảng
8 1.2 Thành lập và khôi phục tổ chức Đảng cấp Trung ương giai đoạn 1930 -1935
1.2.1 Hình thành Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cong san Việt Nam (2-1930- 9-1930)
Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Aí Quốc, Ban Chấp hành Trung lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành, gồm 7 đồng chí, do đồng chí Trịnh Đình Cửu phụ frách chung Phương pháp thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam không giống với “kịch bản” của Quốc tế Cộng sản Trong khi chuẩn bị Hội nghị lập Trung ương chính thức, từ tháng 5 đến tháng 9-1930, nhân sự Trung ương lâm thời có biến đổi, bổ sung một số
uỷ viên thay cho những uỷ viên bị bắt hoặc chuyển công tác 1.2.2 Hội nghị tháng 10-1930 thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
Hội nghị Trung ương (10-1930) quyết định lấy tên Đảng là
“Đông Dương Cộng sản Đảng”; chủ trương tổ chức các xứ uỷ để chỉ huy công việc trone mỗi xứ Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm 7 đồng chí, do Trần Phú làm Tổng Bí thư Tháng 3 -1931, Ban Chấp hành Trung ương tổ chức Hội nghị lần thứ 2 đặt nhiệm vụ “chỉnh đốn sức chỉ huy” vào hàng “cần kíp” 1.2.3 Ban Chấp hành Trung ương tan vố Quốc tế Cộng sản thành lập Ban Chủ huy ở ngoài thực hiện nhiệm vụ của Ban Chấp hanh Trung uong (1931-1935)
Hoảng sợ trước cao trào cách mạng 1930-1931, chính quyển thuộc địa thắng tay đàn áp Đảng chịu những thất bại nặng nề, các uỷ viên Trung ương lần lượt bị bắt Đến tháng 4-1931, Ban Chấp hành Trung ương không còn
Thực hiện chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập vào tháng 3 -1934, gồm 3 người do Lê Hồng Phong làm Thư ký Sau khi thành lập, Ban Chỉ huy ở ngoài đã xúc tiến các công tác liên lạc với các nơi trong
xứ, chủ trương khôi phục các xứ uỷ, chuẩn bị Đại hội Đảng
Trang 71.2.4 Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3-
1935) Ban Chap hanh Trung ương được tái lập, tôn tai song song
với Ban Chỉ huy ở ngoài
Đại hội lần thứ nhất của Đảng đề ra nhiệm vụ củng cố và phát
triển Đảng, thong qua Điều lệ mới của Đảng; bầu Ban Trung ương gồm
13 người Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư Đại
hội Đảng lần thứ nhất đánh dấu sự phục hồi về mặt tổ chức của Đảng
Tuy nhiên, sau Đại hội, các uỷ viên Trung ương lần lượt sa lưới mật
thám Pháp, nên đến tháng 9 -1935_ Ban Trung ương không còn
1.3 Xây dựng và tái lập các xứ uỷ, liên tỉnh uý giai đoạn 1930 -1935
1.3.1 Thành lập và khói phục Xứ uy Bắc Kỳ (1930 —1935)
Tháng 12-1930, Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ thành lập Hoạt động
đến cuối tháng 5 - 1931, Xứ uỷ bị vỡ Những đồng chí còn lại khôi
phục Xứ uỷ, nhưng do địch khủng bố, Xứ uy hoạt động đến đầu 1932
thì bị tan vỡ Giữa năm 1933, “Đặc biệt Chấp uỷ Bắc Bắc kỳ” được
hành lập để lãnh đạo các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và các tỉnh duyên
hải Bắc Kỳ, nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban Chỉ huy ở ngoài
Đến đầu 1936, thì đầu mối này kết thúc
1.3.2 Thành lập Xứ uỷ và lên tinh uy 6 Trung Ky (1930-1935)
Tháng 12-1930, Xứ uỷ Trung Kỳ được thành lập Tháng 5-1931,
Xứ uỷ Trung Kỳ bị địch khủng bố Xứ uỷ được củng cố lại nhưng tồn
tại đến đầu 1932 thì bị đánh phá Đầu năm 1934, Ban Địa phương
Chấp uỷ Trung Trung Kỳ được thành lập Tháng 4-1935, Ban Cán sự
Trung Nam được thành lập phụ trách các đảng bộ ở Trung và Nam
Trung Kỳ, hoạt động được vài ngày, bị địch khủng bố và tan vỡ
1.3.3 Thành lập và khói phục Xứ uỷ và các liên tỉnh uỷ ở Nam
Kỳ(1930-1935)
Tháng 2-1930, Ban lâm thời Chấp uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam
lại Nam Kỳ được thành lập làm nhiệm vụ hợp nhất các tổ chức Đảng
ở Nam Kỳ Một số liên tỉnh uỷ, đặc uỷ ra đời Đầu tháng 12-1930, Xứ
uỷ Nam Kỳ được thành lập, hoạt động đến giữa năm 1931 thì bị vỡ
Tháng 4-1932, Xứ uỷ Nam Kỳ được lập lại, hoạt động đến tháng 10-
1932, lại bị địch đánh phá Đầu 1932, Đặc uy Long - Châu - Rạch -
Hà được thành lập, một thời sian sau, bị khủng bố Đầu 1933, Đặc uỷ được lập lại Tháng 3-1933, Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ được tái lập Cuối năm 1933, 2 Địa phương chấp uỷ miền Đông và miền Tây lần lượt được thành lập Đến tháng 12-1933, Xứ uỷ Nam Kỳ bị đánh phá Tháng 2-1934, “lên địa phương Chấp uỷ miền Nam Đông Đương” thành lập lãnh đạo Đảng bộ Nam Kỳ, 4 tỉnh Nam Trung Kỳ
và Cao Miên Tháng 4-1935, “lên địa phương Chấp uỷ miền Nam Đông Dương” giải thể, Xứ uỷ Nam Kỳ được lập lại Cuối tháng 4, đầu thang 5-1935, say ra vu “Deschamps”, Xt uy Nam Ky mot 1an nita lại bị tan vỡ Đến tháng 11-1935, Xứ uy Nam Kỳ được khôi phục 1.3.4 Thành lập và khôi phục Xứ uỷ Ai Lao (1930-1935) Tháng 9-1934, Xứ uỷ lâm thời Ai Lao được thành lập Ra đời chưa được bao lâu, Xứ uỷ bị địch khủng bố Cuối năm 1934, Xứ uỷ được củng cố lại, hoạt động đến thang 5 - 1935 thì bị đánh phá Xứ
uy Ai Lao được tái lập vào tháng 9 -1935
1.3.5 Xây dựng tỏ chức Đảng ở Cao Miên (1930-1935) Đầu năm 1931, một chi bộ Đảng được tổ chức tại Phnôm Pênh Hoạt động đến đầu 1933, chi bộ bị đánh phá Đầu năm 1934, Đặc uỷ Hậu Giang cử cán bộ sang Cao Miên tổ chức chi bộ Đảng ở Phnôm Pênh nhưng đến tháng 5-1935, mất liên lạc và tan vỡ
oR KK
Xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương, xứ uỷ đến liên tinh uỷ siai đoạn này là một chặng đường đấu tranh rất khó khăn và nhiều tổn thất Sự ra đời của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời đầu tiên có vai trò quyết định của Nguyễn Aí Quốc Quá trình xây dựng các cơ quan lãnh đạo trên đây hầu như được đặt dưới sự chỉ đạo và sự giúp đỡ to lớn của Quốc tế Cộng sản Công tác xây dựng các cơ quan lãnh đạo của Đảng giai đoạn này cũng bộc lộ nhiều hạn chế: lệ thuộc nhiều vào Quốc tế, thiếu vững chắc; nhân sự nặng về thành phần
Trang 8II
Chương 2
KHÔI PHỤC VÀ CỦNG CỐ TỔ CHỨC ĐẢNG CẤP
TRUNG UONG, XUUY, LIEN TINH UY GIAI DOAN 1936 - 1939
2.1 Những chuyển biến moi cia tinh hinh cách mạng thế giới và
Đông Dương tác động tới nhiệm vụ khôi phục, củng cố cơ quan lãnh
đạo cấp Trung ương, xứ uý, liên tỉnh uỷ giai đoạn 1936 - 1939
2.1.1 Quốc tế Cộng sản chuyển hướng đấu tranh chống chủ
nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh Mặt trận nhân dân lên câm
quyền ở Pháp
Những chuyển biến của tình hình thế giới, thắng lợi của Mặt trận
nhân dân Pháp, đặc biệt là sự chuyển hướng đấu tranh của Quốc tế
Cộng sản đã tạo những điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng và
phát triển các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ
2.1.2 Đảng Cộng sản Đông Dương chuyển hướng đấu tranh
thực hiện mục tiêu dân sinh, dân chủ
Đảng chuyển hướng đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ Chủ
trương của Đảng đã mở ra cao trào đấu tranh rộng khắp Sự phát triển
của phong trào cách mạng tạo điều kiện, đồng thời đặt ra yêu cầu mới
về việc kiện toàn và phát triển cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp
2.1.3 Một số lượng lớn đẳng viên thoát khỏi nhà tù Tổ chức
Đảng ở các địa phương được khôi phục và phát triển
Đến tháng 10-1937, có 1.532 tù chính trị, phần lớn là chiến sĩ
cộng sản được trả tự do, bổ sung vào đội ngũ lãnh đạo của Đảng các
cấp Đến trước khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, hệ thống tổ
chức Đảng đã được xây dựng ở 52 tỉnh, thành phố, là cơ sở quan
trọng cho công tác khôi phục, củng cố cơ quan lãnh đạo cấp Trung
uong, xứ uy và liên tỉnh uy
2.2 Tái lập và củng cố Ban Chấp hành Trung ương Mối
quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương và Ban Chỉ huy ở
ngoài giai đoạn 1936-1939
2.2.1 Ban Chủ huy ở ngoài làm nhiệm vụ của Ban Chấp hành
Trung uong (9 -1935 — 10 -1936)
Do Ban Chấp hành Trung ương tan vỡ, từ tháng 9-1935, Ban Chỉ
huy ở ngoài “?tực hiện chức năng của Ban Trung ương” Ban Chỉ huy ở
12
ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong công tác, phạm vi lãnh đạo chỉ bó hẹp trong khu vực miền núi phía Bắc Bắc Kỳ
2.2.2 Lập lại và củng cố Ban Chấp hành Trung ương (10-1936- 8-1939)
Ngày 26 -7- 1936, các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên họp hội nghị quyết định phân công đồng chí Hà Huy Tập về Sài Gòn tổ chức Ban Trung ương Ngày I2 - 10 - 1936, Ban Trung ương được tổ chức ở Nam Kỳ do Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư Tháng 3 - 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị mở rộng Hội nghị chú trọng công tác xây dựng Đảng về tổ chức Từ 25 - 8 đến 4- 9 - 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị mở rộng, đặt công tác xây dựng Đảng vào tầm quan trọng hàng đầu trong những nhiệm vụ cần kíp của Đảng Hội nghị củng cố Ban Trung ương, gồm
11 người do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư Trong các ngày
29, 30 - 3 - 1938, Ban Chấp hành Trung ương tổ chức Hội nghị toàn thể kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gồm I1 uỷ viên; đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư Từ giữa năm
1938, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị bắt Ban Chấp hành Trung ương được bổ sung một số đồng chí
Tháng 9 -1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đến Trung Quốc, vừa tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng vừa chuẩn
bị về trong xứ hoạt động
2.2.3 Mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương và Ban Chỉ huy ở ngoài giai đoạn 1936-1939
Ban Chấp hành Trung ương trong xứ và Ban Chỉ huy 6 ngoai bất đồng về quan điểm lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, thể hiện trên 3 điểm về phương pháp tỔ chức, hình thức tổ chức và cách thức lãnh đạo của Đảng với các đoàn thể quần chúng Mâu thuẫn giữa 2 cơ quan có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do Quốc tế Cộng sản áp đặt và kéo dài vai trò của Ban Chỉ huy ở ngoài trong khi Ban Chấp hành Trung ương đã được lập lại Hiện tượng 2 “Trung ương” đã ảnh hưởng bất lợi đến sự đoàn kết, thống nhất và sự lãnh đạo cách mạng Sau khi đồng chí Lê Hồng Phong về trong xứ hoạt động, Ban Chỉ huy ở ngoài tồn tại làm đầu mối liên lạc với quốc tế Ngày 25-10-
1938, cơ quan Ban Chỉ huy ở ngoài Ban bị cảnh sát Hồng Kông phát
Trang 9hiện và đánh phá Đầu 1939, đồng chí Phùng Chí Kiên đến Côn Minh
lập ra “Hải ngoại chỉ huy ban” để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Chỉ huy
ở ngoài “Hi ngoại chỉ huy ban ” là cơ sở để đông chí Nguyễn Ái
Quốc bắt liên lạc và chuẩn bị trở về nước hoạt động
2.3 Khôi phục và phát triển các xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn
1936-1939
2.3.1 Khôi phục và củng cố Xứ uỷ Bắc Kỳ (1936-1939)
Tháng 8-1936, "1W ban sáng kiến” được thành lập, làm nhiệm vụ
của Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ Tháng 5 - 1937, Xứ ủy Bắc Kỳ lâm thời
được lập lại Tháng 9 năm 1937 Xứ ủy Bắc Kỳ chính thức được tổ
chức Thực hiện chủ trương của Trung ương, cuối tháng 11-1937,
Liên Xứ uỷ Bắc Kỳ-Bắc Trung Kỳ được thành lập lãnh đạo các Đảng
bộ ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ Tháng 4 -1938, Liên xứ uỷ Bắc Kỳ -
Bắc Trung Kỳ giải thể Xứ uỷ Bắc Kỳ được lập lại
2.3.2 Thành lập các liên tỉnh uỷ và khôi phục Xứ uỷ ở Trung
Kỳ (1936 - 1939)
Đầu năm 1936, một số đồng chí thoát khỏi nhà tù đế quốc trở về
trực tiếp lãnh đạo các tính khu vực Trung Trung Ky Cuối năm 1936,
Ban Cán sự liên tỉnh Ngãi - Bình - Phú được thành lập Đầu tháng 4 -
1938, Xứ ủy Trung Kỳ được lập lại Xứ uỷ thành lập các cơ quan để
lãnh đạo các tỉnh liền kề: Liên Tỉnh uỷ Thanh - Nghệ - Tĩnh (5-
1938); Ban Cán sự Nam Trung Kỳ (5 - 1939); Ban Cán sự liên tỉnh
Ngãi - Bình- Phú mở rộng thành Ban Cán sự Nam - Ngãi - Bình - Phú
2.3.3 Củng cố Xứ uỷ và thành lập các liên tỉnh uỷ ở Nam Kỳ
(1936-1939)
Tháng 12- 1936, Xứ uỷ Nam Kỳ được củng cố lại Từ đầu tháng
2- 1937, Đảng bộ Nam Kỳ tiến hành cơ cấu lại hệ thống tổ chức
Đảng trong xứ Đến năm 1938, hệ thống của tổ chức Đảng bộ Nam
Kỳ gồm thành 4 Liên tỉnh bộ và 1 Khu bộ do 4 Liên tinh uy va 1 Khu
uỷ lãnh đạo
2.3.4 Xây dựng cơ quan lãnh đạo ở Ai Lao (1936-1939)
Đầu năm 1936, địch khủng bố, Xứ uỷ bị tan vỡ Hội nghị Trung
ương (3 - 1938) giao cho Xứ ủy Trung Kỳ khôi phục cơ quan lãnh
đạo ở AI Lao, nhưng do cơ sở Đảng ở AI Lao bị đánh phá nên chủ trương trên không thực hiện được
2.3.5 Gay dựng lại tổ chức Đảng Cao Miên (1936-1939) Sau khi cơ sở Đảng ở Cao Miên bị vỡ, Trung ương Đảng có chủ trương xây dựng tổ chức Đảng ở Cao Miên, song không đạt kết quả
2K OK OK
Tranh thủ những điều kiện thuận lợi, Đảng Cộng sản Đông Dương chuyển đổi một số phương pháp hoạt động và tổ chức của Đảng, chú trọng xây dựng các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, xứ
uỷ, liên tỉnh uỷ Đảng chủ động hơn trong công tác xây dựng cơ quan đầu não của Đảng Công tác xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ươns, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ giai đoạn này cũng còn một số hạn chế:
sự tồn tại của 2 “Ïrung ương”, có xu hướng thiên về hoạt động công khai nên bộc lộ về tổ chức
Chương 3
BẢO VỆ, KIÊN TOÀN TỔ CHỨC DANG CAP TRUNG UONG,
XU UY, LIEN TINH UY GIAI DOAN 1939 — 1945
3.1 Cục diện chính trị mới ở Đông Dương và nhiệm vụ kiện toàn các cấp uỷ Đảng từ Trung ương, xứ uý đến liên tỉnh uý giai đoạn 1939-1945
3.1.1 Đảng Cộng sản Đông Dương đặt nhiệm vụ giải phóng dán tộc lên hàng trước tiên của cách mạng, xúc tiến chuẩn bị các điều kiện khởi nghĩa giành chính quyền
Chủ trương cứu nước của Đảng đã khơi dậy cao trào cứu quốc sôi động, tạo điều kiện và đặt ra yêu cầu phải bảo vệ, kiện toàn, nâng cao sức chiến đấu và đòi hỏi các cơ quan lãnh đạo của Đảng xác lập một phương thức tổ chức sát hợp, đủ sức lãnh đạo nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Trang 1015
3.1.2 Chính sách và hành động đàn áp của chính quyền thuộc
địa gây ra những tổn thất lớn của Đảng
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, chính quyền thuộc địa
tập trung đánh phá Đảng Sự khủng bố của kẻ thù gây nên những khó
khăn lớn trong xây dựng và bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng
3.1.3 Tổ chức Đảng ở các tỉnh, thành liên tục được khôi phục,
củng cố và phát triển
Tổ chức Đảng ở các địa phương nhanh chóng được khôi phục và
phát triển Đây là cơ sở quan trọng cho sự khôi phục, kiện toàn các cơ
quan lãnh đạo cấp Trung ương, xứ uỷ, liên tính uỷ siai đoạn nay
3.1.4 Liên lạc giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế
Cong san bi gidn đoạn Quốc tế Cộng sản giải tán
Do hoàn cảnh chiến tranh, liên hệ giữa Đảng Cộng sản Đông
Dương với Quốc tế Cộng sản bị gián đoạn Tháng 5 -1943, Quốc tế
Cộng sản giải tán
3.2 Kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương giai đoạn 1939 - 1945
3.2.1 Ban Chấp hành Trung ương chủ trương rút vào hoạt
dong bi mat Lap lai Ban Chap hành Trung ương (1939-1941)
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Trung ương Đảng yêu
cầu các cấp bộ Đảng củng cố lực lượng, rút vào bí mật Hội nghị
Trung uong thang 11- 1939 đặc biệt coi trọng công tác xây dung
Đảng Đầu năm 1940, 5 ủy viên Trung ương, trong đó có Tổng Bí thư
bị bất Ban Chấp hành Trung ương tan vỡ Tháng II- 1940, Trung
ương lâm thời được thành lập, đồng chí Trường Chính được “uỷ
nhiệm ” làm Quyền Tổng Bí thư
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương tháng 5 - 1941 đề
cao nhiệm vụ xây dựng tổ chức Đảng Hội nghị bầu Ban Chấp hành
Trung ương chính thức do đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư
Các đồng chí trong “Hải ngoại chỉ huy ban” về nước tham gia Ban
Trung ương, nên cơ quan này không tồn tại nữa
3.2.2 Bảo vệ và kiện toàn Ban Cháp hành Trung ương (1941-1945)
Sau Hội nghị lần thứ 8, một số uỷ viên Trung ương bị bắt hoặc hy
sinh Ban Thường vụ Trung ương tổ chức ra “An toàn khu” để bảo vệ
Trung ương Đứng chân ở “Án foàn khu”, Ban Thường vụ Trung ương
chỉ đạo khôi phục, phát triển hệ thống tổ chức của Đảng bộ Bắc Kỳ;
16
chắp mối liên lạc với Trung Kỳ, Nam Kỳ Tháng 2 - 1943, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương đặt công tác xây dựng Đảng vào tình thế khẩn cấp, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống “A.B” Sau khi đồng chí Hoàng Văn Thụ bị bắt (25- 8-1943), từ tháng 10 - 1943 đến đầu năm 1945, một số đồng chí lần lượt tham gia Trung ương
Ngày 14 - 15 tháng 8 - 1945, Hội nghị toàn Đảng họp tại Tân Trào bổ sung 4 uỷ viên Trung ương Ban Chấp hành Trung ương gồm
10 đồng chí, do đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư
3.3 Cũng cố và tái lập các xứ uý, liên tỉnh uỷ giai đoạn 1939-1945 3.3.1 Củng cố Xứ uỷ và lập các liên tỉnh uỷ ở Bắc Kỳ (1939-1945) Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Xứ uỷ Bắc Kỳ rút vào hoạt động bí mật Từ tháng 12-1939 đến tháng 9 -1940, các liên tỉnh lần lượt được tổ chức Tháng 12-1940, Xứ uỷ lâm thời được chỉ định Lúng túng trước tình hình địch khủng bố, Xứ uỷ lâm thời đã đề ra những chủ trương đấu tranh manh động Trung ương kịp thời phê bình và chấn chỉnh về mặt tổ chức Đầu năm 1944, Liên Tỉnh uỷ Cao
- Bắc - Lạng được thành lập Cuối tháng 3 - 1945, Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng kết thúc hoạt động
Sau ngày 9 -3- 1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ được phân công phụ trách 13 tỉnh, thành phố ở Bắc Kỳ và 3 tỉnh thuộc Đệ tam chiến khu
3.3.2 Khôi phục Xứ uỷ và các liên tình uỷ ở Trung Kỳ (1939 - 1945) Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Xứ uỷ Trung Kỳ phân tán Tháng 2- 1940, Xứ uỷ được củng cố lại Cuối 1940, Liên Tỉnh uỷ Thanh - Nghệ - Tỉnh được khôi phục, tồn tại một thời gian rất ngắn thì bị khủng bố Đến tháng 9- 1941, hầu hết các xứ uỷ viên sa vào tay địch Theo chỉ thị của Trung ương, Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ được lập lại ngay sau đó nhưng hoạt động đến giữa năm 1942, bị đánh phá Sau ngày 9-3 -1945, Trung ương Đảng chỉ định “Uỷ ban thống nhất Đảng Trung Kỳ” để thống nhất Đảng bộ, nhưng không đạt kết quả Trong tháng 6, 7 -1945, cdc tinh 6 Trung va cuc Nam Trung Ky thành lập các ban liên lạc để thống nhất hoạt động Theo chủ trương của Đảng, Xứ uỷ Trung Kỳ được lập lại vào 31- 8 - 1945
3.3.3 Khôi phục Xứ uỷ và các liên tinh uy 6 Nam Ky (1939-1945) Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Xứ uỷ bị tan vỡ Tháng I- 1941, Xứ uỷ Nam Kỳ được lập lại Tháng 3 - 1941, Liên