Nhà nước quản lí pháp luật và không nhừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 1ViÖn nhμ n−íc vμ ph¸p luËt
NguyÔn thÞ minh hµ
Ph¸p ®iÓn ho¸ ph¸p luËt vÒ ban hμnh v¨n b¶n
quy ph¹m ph¸p luËt
Trang 2
danh mục những công trình của tác giả đ∙ công bố liên quan đến luận án tiến sĩ
1 Nguyễn Thị Minh Hà (2006), "Vị trí của văn bản quy phạm pháp
luật trong hệ thống pháp luật", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
5/2006, tr 32-35
2 Nguyễn Thị Minh Hà (2006), "Về quy trình ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân các cấp", Tạp chí Thanh tra
số 5/2006, tr 16 - 18
3 Nguyễn Thị Minh Hà (2006), "Sửa đổi, bổ sung quy định về hiệu
lực của văn bản quy phạm pháp luật", Tạp chí Dân chủ pháp luật
số 8/2006, tr 17 - 20
Trang 31.Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 1992 khẳng định Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật
và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 12) Từ đó xác
định mục tiêu xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và toàn diện là yêu cầu cơ bản để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Văn kiện của
Đảng đã xác định đường lối phát triển của hệ thống pháp luật đến năm 2020, đó
là việc "hoàn thiện pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành và công bố văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả trung ương và địa phương" Do đó, cần phải chấn chỉnh lại hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ
sở trật tự hoá các quy định pháp luật về ban hành hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước Một trong những giải pháp quan trọng để đạt
được mục tiêu đó là việc tiến hành pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Hiện nay, khoa học pháp lý của nhiều nước trên thế giới
đang dành nhiều sự quan tâm để nghiên cứu về quan điểm và cách thức tiến hành pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam, quan niệm về pháp điển hoá pháp luật cũng tồn tại khá nhiều ý kiến khác nhau Từ thực trạng pháp luật, từ tính cấp thiết do Đảng và Nhà nước đặt ra, và trên cơ sở nghiên cứu về lý thuyết pháp điển hoá như là một phương diện hoạt động quan trọng của Nhà nước, tác giả
đã chọn đề tài nghiên cứu: "Pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật" làm luận án tiến sỹ luật học, chuyên ngành Luật Nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số công trình và hội thảo khoa học nghiên cứu về hai lĩnh vực mà đề tài luận án hướng tới Đó là pháp điển hoá pháp luật và hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Về việc nghiên cứu khoa học về pháp điển hoá đã có những hội thảo: Hội
thảo "Thẩm định văn bản pháp luật, rà soát văn bản, hệ thống hoá và pháp
điển hoá" tại Nhà Pháp luật Việt- Pháp, Hà Nội năm 1999, trong đó có các bài viết "Hệ thống hoá, pháp điển hoá văn bản pháp luật", "Tổ chức công tác pháp
điển hoá ở Pháp" của Ông Goulard, Thẩm phán Tham Chính Viện của Pháp
Gần đây, năm 2006, Viện Khoa học Pháp lý tổ chức Hội thảo "Kinh nghiệm so
sánh pháp điển hoá của một số nước trên thế giới", trong đó có các bài viết
"Vài nét về pháp điển hoá ở Việt Nam", Ths Cao Xuân Phong, "Pháp điển hoá
- một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam", TS Lê Hồng Sơn,
Ths Hoàng Văn ánh, "Kinh nghiệm của các nước đối với vấn đề thu thập, rà
soát và hệ thống hoá luật hiện nay" của Ông John Bentley, Chuyên gia pháp
luật quốc tế - Dự án VIE/98/001, "Quan điểm của Canada về pháp điển hoá, kỹ
thuật và kinh nghiệm" của Ông Bill Neison, Giáo sư danh dự Đại học Luật
Victoria Các bài viết trong những cuộc hội thảo trên chủ yếu trình bày các quan điểm và cách thức tiến hành pháp điển hoá ở Việt Nam và một số nước
trên thế giới Tháng 7 năm 2006, Tạp chí Luật học có đăng bài viết "Mấy vấn
đề lý luận về pháp điển hoá" của GS.TS Lê Minh Tâm, trong đó đã thể hiện
Trang 4những quan điểm sâu sắc của Giáo sư về một số vấn đề tiến hành pháp điển hoá Tuy nhiên, các cuộc hội thảo khoa học và những công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến sự cần thiết và cách thức tiến hành pháp điển hoá pháp luật một lĩnh vực quan trọng là ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước
Về việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy
phạm pháp luật có các đề tài nghiên cứu cấp Bộ như: "Đổi mới và hoàn thiện
quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội" (năm 2001) do ông Vũ Mão làm chủ nhiệm, "Nâng cao chất lượng của các dự án luật, pháp lệnh qua hoạt động thẩm tra" của PGS.TS Trần Ngọc
Đường, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 2003, "Xây dựng luận cứ khoa
học của chiến lược lập pháp ở nước ta" của GS TSKH Đào Trí úc, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 1/2000, "Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật", TS Hoàng Thị Ngân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/ 2003,
"Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân", Luận án Tiến sỹ Luật học (1995) của
TS Lê Văn Hoè, "Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay", Luận
án Tiến sỹ Luật học (2004) của TS Hoàng Văn Tú Đặc biệt, cuốn sách chuyên
khảo của Văn phòng Quốc hội "Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của
Quốc hội", (năm 2004) đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và
thực tiễn của vấn đề đổi mới quy trình lập pháp, nêu rõ những vấn đề hiện đang tồn tại và đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy trình lập pháp Những công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến việc hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội là chủ yếu Thời gian gần
đây, các cơ quan nhà nước và các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà
nước, cụ thể có các đề án "Hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ", "Đổi mới quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạmp pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ" thuộc Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và
nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt tại QĐ số 909/QĐ-TTg ngày 14/8/2003, bài viết "Công bố và xác
định thời điểm hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân", Nông Quốc Bình, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp số 10/2004, "Vấn đề thẩm định, kiểm tra dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật trước khi trình Chính phủ", Phạm Tuấn Khải, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật số 11/2002 Đặc biệt cuốn sách "Những nội dung cơ bản của Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân" của Vụ Công tác lập pháp (năm 2005) đã đề cập đến thẩm quyền về hình
thức, nội dung và quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm
Trang 5pháp luật hiện nay vẫn chưa có một công trình khoa học nghiên cứu toàn diện quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
Nhìn chung, những công trình khoa học trên đã đề cập đến một trong những vấn đề mà đề tài luận án hướng tới như hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước hoặc nghiên cứu về lý thuyết pháp điển hoá pháp luật, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu việc pháp điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
cận là phương diện hoạt động của cơ quan nhà nước; về pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; về quan điểm, yêu cầu và các giai đoạn tiến hành pháp
điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật Từ đó, luận án nghiên cứu về hoạt động pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam từ năm
1945 đến nay Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luận án xây dựng mô hình một
đạo luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nhằm mục đích trật tự hoá pháp luật trong lĩnh vực này ở cấp độ cao, tạo ra những
điều kiện tốt nhất cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn pháp điển hoá về lĩnh vực này Đặc biệt luận án tập trung xây dựng một mô hình pháp điển hoá với phương pháp xây dựng một đạo luật chung để điều chỉnh toàn diện và thống nhất về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lập trường xuất phát và quan điểm tiếp cận của triết học Mác
Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới, luận án sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin,
tư liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu như các quan niệm, kinh nghiệm tiến
hành về pháp điển hoá pháp luật của các nước trên thế giới, thu thập các dữ liệu
về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước
Phương pháp so sánh luật giữa các giai đoạn lịch sử của Việt Nam từ năm 1945
đến nay, so sánh giữa pháp luật trong nước và pháp luật của nhiều nước trên thế giới để xác định cách thức pháp điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn
bản quy phạm pháp luật Phương pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua kết quả
thống kê, khảo sát, rà soát trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước
6 Đóng góp mới của Luận án
Trang 6Một là, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khoa học trong và ngoài nước,
luận án xây dựng khái niệm về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt, luận án đã đưa ra các yêu cầu của pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đây là căn cứ quan trọng
để đánh giá hoạt động pháp điển hoá trong lĩnh vực này Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu về pháp điển hoá là một phương diện hoạt động quan trọng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Quốc hội), luận án đã làm rõ sự khác nhau giữa hoạt động pháp điển hoá với hoạt động xây dựng pháp luật, giữa hoạt
động pháp điển hoá với hoạt động chỉnh lý Những điểm mới này có ý nghĩa là cơ sở lý luận cho việc tiến hành hoạt động pháp điển hoá trong lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Hai là, trên cơ sở thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan nhà nước ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, luận án đã phân tích và
đánh giá hoạt động này với các tiêu chí về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Từ đó đi đến nhận định về những tồn tại và bất cập của pháp luật hiện hành về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Ba là, luận án đã xác định được nhu cầu tăng cường và quan điểm pháp
điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó kiến nghị giải pháp cơ bản là xây dựng một mô hình đạo luật chung điều chỉnh toàn diện
và thống nhất về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luận án còn kiến nghị giải pháp sửa đổi một số quy định trong các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước
để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam
7 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung thêm lý luận về pháp điển hoá pháp luật, cụ thể là việc đưa ra cách thức tiến hành pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật trong các trường
đại học, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước, các chuyên gia làm công tác xây dựng pháp luật
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Chương 2: Hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 7nội dung cơ bản của luận án
chương 1
Cơ sở Lý luận của việc pháp điển hoá pháp luật
về ban hμnh văn bản quy phạm pháp luật
1.1 Pháp điển hoá pháp luật - một phương diện hoạt động quan trọng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.1.1 Pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá pháp luật
Hệ thống hoá pháp luật là hoạt động nhằm hoàn thiện pháp luật, đưa chúng vào một hệ thống trên cơ sở những phương pháp, cách thức nhất định, bao gồm những nguyên tắc, phương pháp khoa học để xử lý những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, xây dựng và trật tự hoá các văn bản quy phạm pháp luật theo những tiêu chí đã đặt ra Hệ thống hoá pháp luật được thể hiện dưới hai hình thức: tập hợp hoá và pháp điển hoá
*Tập hợp hoá
Tập hợp hoá được thực hiện trên cơ sở tập hợp và sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật theo những căn cứ hoặc lĩnh vực nhất định Đặc trưng của hình thức tập hợp hoá văn bản quy phạm pháp luật không làm thay đổi nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, không bổ sung những quy định mới Từ đặc trưng
đó nên việc tập hợp hoá văn bản quy phạm pháp luật có thể được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, đó có thể là các cơ quan nhà nước, hoặc một nhóm tác giả hoặc một tác giả, hoặc nhà xuất bản khi thấy cần thiết phải sắp xếp những văn bản đó theo một trật tự nhất định
*Pháp điển hoá
Pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá pháp luật được thực hiện ở
cấp độ cao hơn hình thức tập hợp hoá Pháp điển hoá là một hoạt động lớn và phức tạp, hiện nay ở nước ta và trên thế giới còn có nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ hai cho rằng: Các nước thuộc hệ thống luật Ănglô Sắc xông (hệ thống thông luật - common law), với hai nguồn cơ bản của pháp luật
là án lệ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các nước này đã áp dụng pháp
điển hoá pháp luật theo hai hướng: Pháp điển hoá về án lệ dưới hình thức các
Bộ Pháp điển và pháp điển hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Thực chất của công việc pháp điển hoá ở đây là việc cho ra đời, bổ sung, cập nhật thường xuyên các tập án lệ, những tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể đã có tiền
Trang 8lệ theo từng lĩnh vực của đời sống Còn đối với việc pháp điển hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không làm thay đổi nội dung của văn bản gốc và được tiến hành bởi một thiết chế riêng Cách thức pháp điển hoá này chưa phải là việc đưa pháp luật vào một hệ thống nhất định sau khi đã tu chỉnh để đạt đến sự thống nhất Đó chỉ là những giai đoạn, những cấp độ khác nhau của công tác tập hợp hoá.
Quan điểm thứ ba thể hiện đặc trưng ở Trung Quốc, Liên bang Nga và Việt Nam Theo đó, pháp điển hoá là quy trình sau cùng, là giai đoạn cao nhất
của công tác hệ thống hoá pháp luật Nhìn một cách tổng thể, pháp điển hoá là
việc trật tự hoá sâu sắc và toàn diện một lĩnh vực pháp luật hiện hành, trên cơ
sở đó xây dựng một văn bản pháp luật mới (thông thường là một đạo luật) nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản trong việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực
đó, loại bỏ những văn bản pháp luật lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp, nâng sự điều chỉnh của pháp luật lên một tầm cao mới về nội dung và hình thức
nước cao nhất
Từ bản chất của pháp điển hoá pháp luật là hoạt động trật tự hoá pháp luật dưới hình thức ban hành một đạo luật để điều chỉnh toàn diện và thống nhất về một lĩnh vực nào đó, cho nên công việc này phải được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành luật Hiến pháp nước ta quy định chỉ có Quốc hội mới có chức năng và thẩm quyền ban hành luật Từ đó có thể hiểu một cách gián tiếp chức năng ban hành luật của Quốc hội là một thiết chế quan trọng để tiến hành pháp điển hoá pháp luật
Xuất phát từ bản chất, mục đích mà công tác hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật cần được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt việc hệ thống hoá dưới hình thức pháp điển hoá Pháp điển hoá là hình thức
hệ thống hoá pháp luật cao nhất, trong đó thẩm quyền và nội dung tiến hành thuộc về cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Nếu so sánh với hình thức tập hợp hoá, công tác pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá ở mức độ cao hơn hẳn, bởi lẽ hoạt động này luôn luôn là một phương diện hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do đó, Nhà nước cần có một thiết chế rõ ràng
để điều chỉnh về hoạt động pháp điển hoá Thiết chế này thuộc về tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
1.1.3 Những tiền đề cơ bản của pháp điển hoá ở Nhà nước Cộng hoà x∙
hội chủ nghĩa Việt Nam
Với những đặc thù về cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho nên công tác pháp điển hoá muốn thực hiện có hiệu quả phải dựa trên những tiền đề cơ bản mang tính đặc trưng như sau:
Thứ nhất: Sự hiện diện của chính sách pháp luật về lĩnh vực pháp luật cần
pháp điển hoá Đó là những quan điểm, đường lối, chủ trương, định hướng xây dựng và phát triển pháp luật của Đảng Cộng sản Việt Nam về lĩnh vực pháp luật
Trang 9cần pháp điển hoá Nếu không có sự lãnh đạo rõ ràng của Đảng bằng chính sách pháp luật thì việc pháp điển hoá sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, bởi không có sự thống nhất trong phương hướng pháp điển hoá
Thứ hai: Các quan điểm chính thống và phương pháp luận khoa học về
pháp luật Đây là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Triết lý về Nhà nước và pháp luật hiện nay ở Nhà nước ta dựa trên chủ nghĩa Mác-Lê nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh Đó chính là sự kết hợp hợp lý giữa tính truyền thống, tính dân tộc với tính hiện đại, thể hiện là tiền đề tất yếu của quá trình pháp điển hoá pháp luật ở Nhà nước ta Ngoài ra, trong xu thế hội nhập thời hiện đại, chúng ta cũng rất cần thiết tham khảo và tiếp thu kinh nghiệm từ những giá trị khoa học của thế giới để hoàn thiện hơn nữa hệ thống quan điểm và phương pháp luận
luật Các hình thức của pháp luật rất phong phú và đa dạng, đó có thể là đạo luật, bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, các án lệ, các luật tục, các điều ước, tập quán quốc tế…Thực tế ở các quốc gia cho thấy rằng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia hay quốc tế, tất cả các hình thức pháp luật đó đều có sự
ảnh hưởng, tác động đến nhau và đều cần phải tính đến trong cơ chế điều chỉnh pháp luật Cần thiết phải giải quyết vấn đề này trước khi đặt vấn đề về pháp
điển hoá pháp luật
Thứ tư: Kinh nghiệm và kỹ thuật pháp lý Kỹ thuật pháp lý là tổng thể
những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật, trong đó chứa đựng các nguyên tắc khoa học nhằm đảm bảo cho pháp luật có được đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội
Ngoài ra, việc tiến hành pháp điển hoá pháp luật còn dựa trên những điều
kiện rất cần thiết Đó là những điều kiện về tổ chức, điều kiện về cơ sở pháp lý,
điều kiện về tài chính, điều kiện về nguồn nhân lực và các điều kiện khác như
hệ thống thông tin tư liệu, phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại
1.2 Pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trên cơ sở tìm hiểu về các dấu hiệu và thuộc tính của văn bản quy phạm
pháp luật, có thể đưa ra khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật như sau: Văn
bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người
có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống
Văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức pháp luật có nhiều ưu điểm
hơn hẳn so với hình thức pháp luật khác
1.2.2 Nội dung pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 10Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền của cơ quan nhà nước
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp Căn cứ vào nội dung của sự điều chỉnh, pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp
luật bao gồm hai nhóm chế định pháp luật chủ yếu: Nhóm thứ nhất: Nhóm quy
phạm pháp luật liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm thẩm quyền về hình thức văn bản và thẩm quyền về nội dung của văn bản Từ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể sẽ hình thành nên hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật Việt Nam Nhóm thứ hai: Nhóm quy phạm pháp luật liên quan
đến quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền Đây là nhóm quy phạm pháp luật lớn điều chỉnh về quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể pháp luật
1.3 Khái niệm và yêu cầu về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1.3.1 Khái niệm pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật
Pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật là việc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một đạo luật trên cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật đã điều chỉnh về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật; sửa đổi và bổ sung những quy phạm pháp luật để hướng tới điều chỉnh toàn diện, thống nhất, đồng bộ về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước Quá trình pháp điển hoá pháp luật về ban
hành văn bản quy phạm pháp luật cần phải dựa trên những tiêu chí và kỹ thuật pháp lý về pháp điển hoá
1.3.2 Các yêu cầu đặt ra đối với việc pháp điển hoá pháp luật về ban
Tại Chương 1 luận án nghiên cứu ba nội dung chính như sau:
- Tìm hiểu về pháp điển hoá pháp luật là một trong những phương diện hoạt động quan trọng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó thống nhất cách hiểu về pháp điển hoá pháp luật, đồng thời khẳng định hoạt động pháp điển hoá thuộc về thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội
Trang 11- Tìm hiểu pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để từ đó định hình về những nội dung cơ bản của pháp luật đối với lĩnh vực này
- Trên cơ sở tìm hiểu hai nội dung trên, luận án xây dựng khái niệm pháp
điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt luận án
đã đưa ra được các yêu cầu của việc pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm tiêu chí để đánh giá mức độ pháp điển hoá lĩnh vực này trong từng giai đoạn khác nhau ở Việt Nam
chương 2 Hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hμnh văn
bản quy phạm pháp luật ở việt nam từ năm 1945 đến nay
Căn cứ vào các mốc thời gian Nhà nước ban hành những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng để điều chỉnh cơ bản về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tác giả luận án tiếp cận văn bản để tìm hiểu về hoạt động pháp
điển hoá pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988
Thực trạng pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn từ
khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến năm 1988 chủ yếu được quy định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm
1980 Từ những quy định đó có thể đánh giá hoạt động pháp điển hoá pháp luật
về ban hành văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm
1988 như sau:
Thứ nhất: Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có
những quy phạm cụ thể quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Việc quy định
về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong Hiến pháp 1980 cụ thể hơn, tuy nhiên, Hiến pháp 1980 đã có những quy
định một cơ quan nhà nước được giao quá nhiều thẩm quyền ban hành hình thức văn bản quy phạm pháp luật Điều này là không hợp lý và rất khó phân định trong thực tế
áp dụng việc ban hành văn bản để thực hiện quản lý nhà nước
Thứ hai: Trong giai đoạn này đã chú trọng đến quy trình ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, thể hiện ở những quy định về việc thành lập Uỷ ban dự án pháp luật với những nhiệm vụ, thẩm quyền như đưa ra sáng kiến lập pháp, soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và cách thức thông qua văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trong các Luật tổ chức Quốc hội cũng đã xác định rõ ràng các chủ thể có quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác Đây là một bước tiến đáng kể, tạo đà cho sự phát triển trong các giai đoạn tiếp theo
việc thảo luận và thông qua dự án luật như các nghị quyết của Quốc hội phải
Trang 12được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày thông qua luật phải được công bố…
Tóm lại: Giai đoạn này được coi là giai đoạn nhận diện sự hình thành hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo đà cho phát triển về một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ở các giai đoạn sau này
2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 1996
Quá trình xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt
động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn này được thể hiện chủ yếu trong Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh ngày 6/8/1988 của Hội đồng Nhà nước Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh chỉ điều chỉnh về quy trình ban hành luật, pháp lệnh của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước được quy
định tại Thông tư 02/ BT ngày 11/1/1982 của Bộ trưởng Tổng Thư ký Hội đồng
Bộ trưởng hướng dẫn việc xây dựng và ban hành văn bản, quy trình ban hành văn bản pháp quy của Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước và Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội
đồng Bộ trưởng, văn bản pháp quy của Uỷ ban nhân dân tỉnh, văn bản liên cơ quan, thông tư liên Bộ và sau này được thay thế bằng Thông tư số 33/BT ngày 10/12/1992 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về hình thức văn bản và việc ban hành văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước
Có thể đánh giá hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn này như sau: Giai đoạn này đã hình thành rõ nét
về một hệ thống pháp luật điều chỉnh về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật Những quy định pháp luật điều chỉnh về nội dung này đã tạo dựng nên những chất liệu cơ bản mang tính hệ thống để xem xét về việc pháp điển hoá pháp luật về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Mặc dù có rất nhiều ưu điểm hơn hẳn giai đoạn trước nhưng còn chưa đáp ứng được các tiêu chí cơ bản sau:
+ Tiêu chí của pháp điển hoá về tính điều chỉnh toàn diện nội dung và hình thức pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
+ Tiêu chí của pháp điển hoá về nội dung pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải được thể hiện trong một đạo luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành
+ Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện nội dung điều chỉnh chưa đáp ứng
được tiêu chí pháp điển hoá
2.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
Để đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước đã ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996 Năm 2002, Nhà nước ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật năm 2002 chỉ tập trung điều chỉnh hoạt động ban hành văn