Lời nói đầu Để giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất nước nhà thì ở bất kỳ quốc gia nào, chủ trương, phương pháp, chiến lược ngoại giao luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để có được nền độc lập như hôm nay, Đảng và Nhà nước, nhân dân ta ngoài sự chiến đấu ngoan cường, mạnh mẽ trước kẻ thù xâm lược, còn hoạch định ra những đường hướng ngoại giao hợp lý, biết người biết ta để phân hóa, cô lập kẻ thù. Và mặt trận ngoại giao – một mặt trận không tiếng súng đã là một phần quan trọng trong lá chắn bảo vệ Tổ quốc. Nền ngoại giao thế kỷ XX mang đậm dấu ấn sâu sắc của những chủ trương, phương pháp, chiến lược ngoại giao thông minh, hợp tình, hợp lý của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện rõ ràng nhất trong 3 bản Hiệp định: Hiệp định Sơ bộ, Hiệp định Genève và Paris. Những tinh hoa, nghệ thuật ngoại giao đã được nước ta kế thừa, tích lũy và phát huy cao độ trong 3 bản Hiệp định này và chắn chắn sẽ tiếp tục được rèn giũa, đúc kết, cải tiến cho phù hợp với thời đại hơn nữa. Nhóm 5 được phân công nghiên cứu những chủ trương, phương pháp chiến lược ngoại giao trong 3 bản Hiệp định quan trọng trên của nước ta vào thế kỷ XX. Chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề rất thời sự, hấp dẫn và có tính thực tiễn cao trong thời đại mới của nước ta – thời đại hội nhập quốc tế với những chuyển biến sâu sắc, quan trọng trong sự kết nối các quốc gia với nhau và Việt Nam là một bộ phận hữu cơ trong mắt xích quan hệ đó. Do vậy, tìm hiểu nội dung, giá trị của 3 bản Hiệp định trong việc thể hiệ chủ trương, chiến lược cũng như phương pháp ngoại giao là tối quan trọng trong việc học tập bộ môn Quốc tế học. Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, phân tích các nguồn tài liệu để có được bài thu hoạch tốt nhất, song những sai sót là điều khó tránh khỏi. Nhóm 5 rất mong nhận được những sự đóng góp chân tình, mang tính xây dựng từ Cô và các bạn. Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn.
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH NG Đ I H C S PH M TP.H CHÍ MINH ẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH ỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Ư ẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Ồ CHÍ MINH
KHOA L CH S ỊCH SỬ Ử
L P QU C T H C 3B – NHÓM 5 ỚP QUỐC TẾ HỌC 3B – NHÓM 5 ỐC TẾ HỌC 3B – NHÓM 5 Ế HỌC 3B – NHÓM 5 ỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Ngoại giao Việt Nam trong thế kỷ XX
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Thanh Thanh
Trang 2Lời nói đầu
Để giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất nước nhà thì ở bất kỳ quốc gia nào, chủ trương, phương pháp, chiến lược ngoại giao luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng Để có được nền độc lập như hôm nay, Đảng và Nhà nước, nhân dân ta ngoài sự chiến đấu ngoan cường, mạnh mẽ trước kẻ thù xâm lược, còn hoạch định ra những đường hướng ngoại giao hợp lý, biết người biết ta để phân hóa, cô lập kẻ thù Và mặt trận ngoại giao – một mặt trận không tiếng súng đã là một phần quan trọng trong lá chắn bảo vệ Tổ quốc
Nền ngoại giao thế kỷ XX mang đậm dấu ấn sâu sắc của những chủ trương, phương pháp, chiến lược ngoại giao thông minh, hợp tình, hợp lý của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện rõ ràng nhất trong 3 bản Hiệp định: Hiệp định Sơ bộ, Hiệp định Genève và Paris Những tinh hoa, nghệ thuật ngoại giao đã được nước ta kế thừa, tích lũy và phát huy cao độ trong 3 bản Hiệp định này và chắn chắn sẽ tiếp tục được rèn giũa, đúc kết, cải tiến cho phù hợp với thời đại hơn nữa
Nhóm 5 được phân công nghiên cứu những chủ trương, phương pháp chiến lược ngoại giao trong 3 bản Hiệp định quan trọng trên của nước ta vào thế kỷ XX Chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề rất thời sự, hấp dẫn và có tính thực tiễn cao trong thời đại mới của nước ta – thời đại hội nhập quốc tế với những chuyển biến sâu sắc, quan trọng trong
sự kết nối các quốc gia với nhau và Việt Nam là một bộ phận hữu cơ trong mắt xích quan
hệ đó Do vậy, tìm hiểu nội dung, giá trị của 3 bản Hiệp định trong việc thể hiệ chủ trương, chiến lược cũng như phương pháp ngoại giao là tối quan trọng trong việc học tập bộ môn Quốc tế học.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, phân tích các nguồn tài liệu để có được bài thu hoạch tốt nhất, song những sai sót là điều khó tránh khỏi Nhóm 5 rất mong nhận được những sự đóng góp chân tình, mang tính xây dựng từ
Cô và các bạn.
Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn
Trang 3và âm mưu tiến ra miền Bắc lật đổ chính quyền nhân dân của ta Trước tình thế nguy nannày, Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 được ký kết là một bước đi phù hợp với sách lược củachính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc bấy giờ.1
Theo Hiệp ước Postdam năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc, các nước ĐồngMinh sẽ tiến hành vào giải giáp quân đội của các nước phát xít tại các thuộc địa bị chúngchiếm đóng Tại Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công trên cả nước,Việt Nam đã giành lại được độc lập từ tay đế quốc Nhật Như vậy, theo tinh thần Hiệpước Postdam trước đó, tại miền Bắc nước ta quân Tưởng sẽ vào giải giáp quân đội Nhật,tương tự tại miền Nam là quân Anh
Sau độc lập, chính quyền non trẻ của nước VNDCCH được thành lập và lập tức bắt tayvào việc giải quyết những khó khăn trước mắt, vấn đề xây dựng và cũng cố chính quyềnnhân dân, giệt giặc đói giặc dốt được khẩn trương thực hiện; bên cạnh đó, việc từng bướctheo dõi và đối phó với âm mưu của Tưởng và Pháp cũng là một vấn đề quan trọng.Sau khi tái chiếm được miền Nam, thực dân Pháp đã có ý định chiếm luôn miền Bắc,nhưng trở ngại lớn nhất của chúng là vấp phải một lực lượng kháng chiến mạnh củachính quyền VNDCCH (ở miền Nam thực dân Pháp vẫn chưa thể dập tắt được phongtrào kháng chiến của nhân dân ta), đồng thời chúng phải đối mặt với 20 vạn quân Tưởngđang giải giáp quân đội Nhật tại đây
Tại Trung Quốc, lực lượng quân cách mạng đang tấn công quân Tưởng trên khắp nhiềunơi trong cả nước, tình thế buộc quân Tưởng phải rút quân tại Bắc Đông Dương về đểcũng cố lực lượng Tại miền Bắc Việt Nam, mặc dù chình quyền mới thành lập đang gặpphải nhiều thử thách lớn, nhưng tinh thần chiến đấu lúc nào cũng rất cao Nhận thấy được
1 Theo trang báo sinh viên Đại học An Giang http://enews.agu.edu.vn/
Trang 4tình hình lúc này, chính phủ Pháp quyết định dùng giải pháp chính trị, thương lượng vớiquân Tưởng và tìm cách điều đình với chính phủ VNDCCH để quân Pháp đưa quân ramiền Bắc trong “hòa bình”.
Tại Việt Nam, vào tháng 2/1946, chính phủ Pháp do Jeans Sainteny làm đại diện đã xúctiến việc đàm phán với chính phủ ta Cuộc gặp gỡ diễn ra giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh vàSainteny vào ngày 25/2/1946 vẫn chưa đạt được kết quả khi lập trường giữa ta và Phápchưa đồng nhất Phía ta, Hồ Chủ tịch luôn nêu cao tinh thần độc lập và hợp tác với Pháp,nhưng ngược lại chúng chỉ muốn biến nước ta thành lãnh thổ tự trị lệ thuộc Pháp
Trong khi đó, sau cuộc gặp gỡ tại Trùng Khánh giữa Pháp và Tưởng đã đi đến kết quảcuối cùng Sự kiện này hoàn toàn đúng với nhận định ban đầu của Ban thường vụ Trungương Đảng khi Pháp muốn đưa quân ra miền Bắc thông qua giải Pháp chính trị: “Trướcsau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượngcho tưởng nhiều quyền lợi quan trọng”
Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Trùng Khánh giữa Pháp và Trung Hoa đã được ký kết vớinhững điểm chính sau:
- Quân đội Tưởng rút về nước, vấn đề giải giáp quân Nhật tại Đông Dương sẽ do Phápđảm nhận
- Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa
- Pháp sẽ nhượng cho Tưởng một số quyền lợi tại miền Bắc Việt Nam như cho Tưởngkhai thác một đặc khu tại cảng Hải Phòng, miễn thuế cho hàng hóa của Tưởng vậnchuyển sang miền Bắc Việt Nam
Như vậy, Hiệp ước Trùng Khánh là một sự chà đạp, xúc phạm đối với quyền độc lập dântộc của nước ta lúc bây giờ, đi ngược lại tinh thần của công ước Liên Hiệp Quốc đã đượchơn 50 quốc gia ký kết trước đó
Đứng trước tình thế do Pháp đặt ra vào lúc này, Việt Nam phải chọn một trong haiphương án: đánh hoặc hòa hoãn với chúng
Nếu chọn phương án chiến đấu với Pháp, ta sẽ gặp nhiều bất lợi lớn như bọn phản độngtrong nước vẫn còn nguyên âm mưu chia rẽ chính quyền cách mạng của ta, chênh lệch vềlực lượng giữa ta và địch, vấn đề thiếu thốn lương thực, các lực lượng dân chủ trên thếgiới chưa thể giúp chúng ta… Nếu hòa hoãn, nhân nhượng cho Pháp, ta sẽ đứng trướcnguy cơ bị chúng bội ước khi chúng có đủ thời gian để cũng cố lại lực lượng… Nhưngđây là phương án khả thi nhất đối với hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ
Trang 5Cuối cùng, sau cuộc họp của Ban thường vụ Trung ương Đảng do Hồ Chủ tịch chủ trì đãthống nhất chọn giải pháp “hòa để tiến” Đây là một sách lược ngoại giao khôn khéo,đúng đắn của Đảng ta, phù hợp với xu thế thời đại lúc bấy giờ Hòa với Pháp, ta sẽ thoátkhỏi tình cảnh cùng một lúc đối phó với hai kẻ thù; hòa với Pháp, ta sẽ tranh thủ đượcthời gian để chuẩn bị lượng, xây dựng vững chắc chính quyền, chờ đợi thời cơ để tiến lêngiành thắng lợi cuối cùng.
Tuy chọn hòa hoàn với Pháp, nhưng phía ta phải kiên quyết giữ vững lập trường củamình là độc lập, nhưng đồng thời phải khéo léo để “Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tựquyết của dân ta: chính phủ, quân đội, nghị viện, tài chính, ngoại giao… và sự thống nhấtquốc gia của ta.”
Cuộc đàm phán giữa ta và Pháp diễn ra gay go và căng thẳng, để đạt thống nhất giữa haibên về các điều khoản trong Hiệp định là sự cố gắng và quyết tâm rất lớn của ta Phápbuộc nước ta phải nằm trong Liên hiệp Pháp với “thân phận” là một quốc gia tự trị,nhưng phía ta kiên quyết đưa hai chữ “tự trị” ra khỏi Hiệp định vì điều này vi phạm đến
“quyền được hưởng tự do độc lập” của dân tộc ta
Trong thời gian và tình thế rất khẩn trương, cuối cùng thì giữa hai bên đã thống nhấtđược những điều khoản quan trọng và đi đến ký kết Vào lúc 16 giờ ngày 6/3/1946, tạingôi nhà số 38 Lý Thái Tổ, đại diện của chính phủ ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh và VũHồng Khanh đã ký với chính phủ Pháp do Jeans Sainteny bản Hiệp định sơ bộ dưới sựchứng kiến của nhiều quốc gia khác như Mĩ, Anh, Trung Hoa…2
b Nội dung
16 giờ 30 phút chiều ngày 6-3-1946, Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ Pháp - Việt đã diễn ra tạinhà số 38 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội Nội dung Hiệp định Sơ bộ có những điểm đáng chú ýnhư sau:
- Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự dotrong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện,quân đội và tài chính riêng
- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắcthay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quânNhật Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân
- Pháp đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ về việc thống nhất với Việt NamDân chủ Cộng hòa
2 Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục 2010
Trang 6- Hai bên thực hiện ngưng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán vềchế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và nước ngoài và những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.3
c Ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ
- Làm thất bại âm mưu thâm độc của bọn Tưởng và tay sai, tránh được tình thế bất lợicùng một lúc chống lại nhiều kẻ thù
- Ta mượn bàn tay quân Pháp đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước mà không phí một viênđạn nào
- Buộc Chính phủ Pháp phải công nhận trên pháp lý Việt Nam là một quốc gia tự do
- Kéo dài thêm một thời gian hòa bình quý báu để xây dựng lực lượng, chuẩn bị cuộckháng chiến mà ta biết rằng sẽ không tránh khỏi
- Thể hiện thiện chí hòa bình của ta, tranh thủ thêm sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến
bộ trên thế giới.4
2 Hiệp định Genève
a Hoàn cảnh ký kết
Đông Xuân 1953 - 1954 ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao
Tháng 1/1954 Ngoại trưởng trưởng 4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp đã quyết định triệutập Hội nghị Giơnevơ để giải quyết vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương.Hiệp định Genèva về đình chiến sự ở Việt Nam được ký tại Geneva (Thụy Sĩ) ngày20/7/1954 Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên, với sự tham dự của 5 cường quốc thế giới,tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Namcùng hai nước Lào và Cambodia
b Nội dung của Hiệp định
Hội nghị Geneva trải qua 75 ngày với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên toàn thể và 24phiên họp cấp Trưởng đoàn Hội nghị thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (từ 8/5/1954 đến 19/6/1954)
3 Theo trang web của Quốc hội Việt Nam http://www.na.gov.vn/
4 Theo www.vietbao.vn
Trang 7Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, các Đoàn trình bày lập trường của mình về giảipháp cho vấn đề Việt Nam và Đông Dương.
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu cầuphải có đại diện kháng chiến Lào và Campuchia tham dự Ngày 10/5/1954, ông PhạmVăn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là giảiquyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết đồng thời cả ba vấn đề ViệtNam, Lào, Campuchia Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh, Pháp phải thừa nhận quyền dântộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào Quân đội nước ngoài phải rút khỏi
ba nước Đông Dương là cơ sở quan trọng nhất cho chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
ở Đông Dương Trung Quốc, Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt Nam
Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắccho vấn đề đình chiến: (1) Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương, (2) Điềuchỉnh vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đất đổi đất để mỗi bên cónhững vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản lý hành chính và hoạtđộng kinh tế Đại diện các bộ tư lệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện phápngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua
Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm cơ
sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Geneva để nghiên cứuviệc chia ranh giới những khu vực tập trung quân ở Đông Dương Cùng ngày, ĐoànTrung Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn và cùng một lúc ở
ba nước Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các nước trung lập nhưngchưa đề cập tới mặt chính trị của giải pháp
Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghịGeneva ra quyết định: (1) Ngừng bắn toàn diện và đồng thời, (2) Đại diện hai Bộ Tư lệnhgặp nhau ở Geneva để bàn về bố trí lực lượng theo thỏa thuận đình chiến bắt đầu bằngphân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam
Giai đoạn 2 (từ 20/6/1954 đến 10/7/1954)
Trong giai đoạn này, hầu hết Trưởng đoàn các nước về báo cáo, chỉ có Trưởng đoàn ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ở lại Các quyền Trưởng đoàn tổ chức các cuộchọp hẹp và họp tiểu ban quân sự Việt – Pháp Các cuộc họp chủ yếu bàn các vấn đề tậpkết, chuyển quân, thả tù binh, đi lại giữa hai miền.5
5 Theo bài báo Hiệp định Geneva, văn kiện ngoại giao lịch sử, http://vnexpress.net/
Trang 8Tuy nhiên, các cuộc họp hẹp ở Geneva trong giai đoạn này không có tiến triển gì đángkể.
Giai đoạn 3 (từ 11 đến 21/7/1954): Nối lại các cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng
Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Geneva đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay đôi,tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn Các phiên họp chủ yếu thông qua các vănkiện, kể các điều khoản thi hành Hiệp định Cuối cùng là phiên họp toàn thể bế mạc Hộinghị
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia vĩtuyến (Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 về Savanakhet đi Quảng Trị
là con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu vĩ tuyến 18); về thời hạn tổchức tổng tuyển cử và các điều khác của Hiệp định, đặc biệt là Hiệp định về Campuchiaphải ký vào sáng 21/7/1954
Ngày 21/7/1954, Hội nghị Geneva về hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia kết thúc.Hội nghị thông qua các văn kiện
* Các văn bản được ký kết tại Hội nghị
- Ba Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia;
- Một bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị;
- Hai bản tuyên bố riêng của Đoàn Mỹ và Đoàn Pháp ngày 21/7/1954;
- Các công hàm trao đổi giữa Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướngPháp Mendes France
* Những thỏa thuận đạt được tại Hội nghị
Thỏa thuận chung cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia:
- Công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương: độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn viện lãnh thổ của mỗi nước, không can thiệp vào công việcnội bộ của mỗi nước
- Đình chỉ chiến sự trên toàn cõi Đông Dương
- Pháp rút quân khỏi lãnh thổ ba nước Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào vàCampuchia
- Không có căn cứ nước ngoài và không liên minh quân sự với nước ngoài
Trang 9- Tổng tuyển cử ở mỗi nước.
- Không trả thù những người hợp tác với đối phương
- Trao trả tù binh và người bị giam giữ
- Thành lập Ủy ban liên hợp kiểm soát và giám sát quốc tế
· Thỏa thuận riêng với mỗi nước, trong đó, các Hiệp định liên quan đến Việt Nam
Gồm 4 nội dung chính:
- Những điều khoản về đình chỉ chiến sự và lập lại hòa bình: ngừng bắn, tập kết, chuyểnquân được hai bên thực hiện trong thời gian 300 ngày; chuyển giao khu vực, trao trả tùbinh và thường dân bị giam giữ, đổi vùng, vấn đề mồ mả quân nhân hai bên tham chiến
- Những điều khoản về duy trì và củng cố hòa bình ở Việt Nam: Lập giới tuyến quân sựtạm thời ở vĩ tuyến 17 và khu phi quân sự (Sông Bến Hải), vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân
sự tạm thời, không coi là ranh giới chính trị hay lãnh thổ, cấm tăng viện nhân viên quân
sự, bộ đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh khác vào Việt Nam, cấm xây dựng căn cứ quân
sự mới, cấm hai miền không được gia nhập liên minh quân sự nào, cấm sử dụng mỗimiền để phục vụ một chính sách quân sự nào
- Những điều khoản chính trị: Vấn đề tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, Hiệp thươnghai miền vào tháng 7/1955, tổng tuyển cử tháng 7/1956, tự do chọn vùng sinh sống trongkhi chờ đợi, không khủng bổ, trả thù hay phân biệt đối xử với những người đã hợp tác vớiđối phương trong thời gian chiến tranh
- Những điều khoản quy định việc tổ chức thi hành Hiệp định: Ủy ban kiểm soát liênhợp, Ủy ban giám sát quốc tế trung lập
Việc ký Hiệp định này là một dấu mốc quan trọng, một thắng lợi trong công cuộc đấutranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, mở ra giai đoạn mới cho cách mạng Việt Namtiến tới hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.6
6 Theo bài báo Hiệp định Geneva: Thắng lợi to lớn của ngoại giao Việt Nam http://www.vietnamplus.vn/
Trang 10c Ý nghĩa của Hiệp định Genève
Hiệp định là văn bản pháp lí quốc tế, ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của 3 nước ĐôngDương Hiệp định đã đánh dấu thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhândân ta, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Hiệp định cũng buộc Pháp chấm dứt chiến tranh,rút quân về nước Mĩ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng quốc tế hóa chiến tranhxâm lược Đông Dương
3 Hiệp định Paris
a Hoàn cảnh
Đầu năm 1967, sau thắng lợi trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, ta chủtrương mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao Mục tiêu ngoại giao trước mắt là đòi Mĩchấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, coi đó là điều kiện để đi đếnthương lượng ở bàn hội nghị
Năm 1968, sau Mậu Thân 1968 và thắng lợi của ta trong chiến tranh phá hoại II, Mỹ phảithương lượng với tatừ 13/5/1968 (Từ 25/1/1969, giữa 4 bên gồm Mỹ + Việt Nam Cộnghòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa + Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam).Sau nhiều cuộc tiếp xúc, lập trường hai bên quá xa nhau: Việt Nam đòi Mỹ và đồng minhrút quân, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.Ngược lại, Mỹ đòi miền Bắc rút quân và từ chối ký dự thảo Hiệp định dù đã thỏa thuận(10/1972) Tháng 12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào HàNội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm Việt Nam đập tan cuộc tập kích bằng không quâncủa Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải trở lại ký Hiệp địnhPari Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kếtgiữa 4 Bộ trưởng đại diện các Chính phủ tham dự hội nghị
Nói chung hiệp định này chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân
Mỹ (cùng các đồng minh khác) và trao trả tù binh Mỹ mà thôi Hoa Kỳ thực sự muốn rútkhỏi cuộc chiến và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tạo điều kiện cho việc đó.7
b Nội dung chính
Nội dung hiệp định được chia thành chín "chương", nói về các chủ đề về cơ bản giốngnhư trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã thống nhấtvới nhau vào tháng 10 năm 1972 Đó là
7 Theo www.dantri.com.vn
Trang 11- Hoa Kỳ tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được côngnhận bởi hiệp định Geneva.
- Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vịquân sự ở nguyên vị trí Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyếtbởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Việt Cộng.Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùngcác nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa Các bên không được tăng cườngbinh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam ViệtNam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một Hoa Kỳ sẽkhông tiếp tục can thiệp quân sự vào "các vấn đề nội bộ" của Nam Việt Nam
- Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát Các bên tạođiều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng Nhân dân Nam Việt Nam sẽquyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giámsát quốc tế"
- Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình
- Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế và pháiđoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Bắc Việt, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc Giải phóngMiền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập
- Lào và Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữcác căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này
- Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở Bắc Việt Nam
và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh
- Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tếthông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoàbình ở Việt nam
c Ý nghĩa hiệp định Paris
Hiệp định Paris là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao,
là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta trên cả 2 miền đấtnước Hiệp định đã mở ra bước ngoặt mới cho cách mạng Việt Nam, tạo thời cơ thuận lợi
để nhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam
Trang 12II Những nghệ thuật ngoại giao được sử dụng trong các Hiệp định Sơ bộ, Hiệp định Geneva, Hiệp định Paris
1 Chủ trương ngoại giao trọng hòa hiếu, tránh xung đột
Trọng hòa hiếu, tránh xung đột là tôn trọng các mối quan hệ hòa bình hữu nghị giữa nước
ta và các nước khác trên thế giới, hạn chế tính trạng xung đột ngoại giao và quân sự, đặtviệc giữ gìn chủ quyền lãnh thổ lên trên hết
Trong Hiệp định Genève
Thiện chí, tư tưởng yêu chuộng hòa bình, phương châm hoà hiếu trong xử lý các mốiquan hệ quốc tế vốn đã trở thành truyền thống và bản sắc của dân tộc Việt Nam đã đượcĐảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh biến thành nền tảng cơ sở, tạo thành con đường đưađến Hội nghị và Hiệp định Genève năm 1954
Những chuyển biến trong tình hình thế giới đầu những năm 50, đặc biệt là trong quan hệgiữa các nước lớn, cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và ý đồ của Mỹ lợi dụng sự suy yếu củaPháp để tăng cường dính líu và can thiệp vào Đông Dương đã tác động mạnh mẽ đếnchiều hướng diễn biến của cuộc chiến tranh ở Đông Dương Năm 1953, Liên Xô đưa rasáng kiến triệu tập Hội nghị 5 nước lớn (Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ và Pháp) để tìmgiải pháp giảm căng thẳng ở Đông Dương Tháng 2/1954, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giaocác nước: Liên Xô, Anh, Pháp và Mỹ họp tại Béc-lin đã quyết định triệu tập Hội nghịGenève với sự tham gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào tháng 4/1954 để giảiquyết hòa bình ở Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương
Ý tưởng triệu tập Hội nghị Genève về lập lại hòa bình ở Đông Dương được Liên Xô đưa
ra còn trước cả thời điểm thực dân Pháp tiến hành xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ.Nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ lại là nhân tố quyết định đối với diễn biến và kết quảcủa Hội nghị Genève năm 1954 Với Hội nghị Gienève năm 1954, ngoại giao Việt Namvới điểm tựa là thắng lợi quân sự trên chiến trường, đặc biệt là chiến thắng Điện BiênPhủ, để tìm cách chấm dứt cuộc chiến tranh một cách có lợi nhất và vào thời điểm thuậnlợi nhất cho đất nước, đồng thời phát huy tác động và ý nghĩa quốc tế của thắng lợi trênchiến trường Hội nghị Genève là một cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp,cuộc đấu trí ngoại giao đầu tiên của chúng ta với đồng thời nhiều nền ngoại giao lớn trênthế giới
Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị đã tỏ rõ bản lĩnh của những người có chính nghĩa,
đã luôn kiên trì và tỉnh táo, tự chủ và linh hoạt, chủ động tấn công và đề cao thiện chí,