1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số phương pháp tạo tình huóng học tập phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học vật lý THCS

11 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 118 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Mục tiêu nhiệm vụ của việc dạy học vật lý ở trường phổ thông có những thay đổi sâu sắc so với nhà trường truyền thống trước đây. Để đảm bảo thực hiện thắng lợi của mục tiêu đó cần có sự đổi mới đồng bộ toàn diện công tác giáo dục : Từ nội dung đến phương pháp dạy học, trang thiết bị dạy học, trường lớp, kiểm tra thi cử. Những đổi mới đó phải dựa trên những thành tựu mới nhất của tâm lí dạy học, giáo dục học và có một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt các hoạt động đa dạng của nhà trường . Trong nhà trường truyền thống đã tồn tại lâu đời ở nước ta và trên thế giwois là dạy học theo kiểu giảng giải minh họa , nhồi nhét, trong đó giáo viên giữ vai trò trung tâm quyết định ( từ nội dung dạy học đến cách thức truyền thụ kiến thức, kỉ năng, đánh giá kết quả). Cách dạy học như thế đã có những thành công nhất định trong việc giới thiệu cho học sinh những tinh hoa văn hóa nhân loại, nhiều nhất là làm được như những người đi trước đã làm. Thông thường là kém hơn vì thành tựu khoa học của nhân loại do hàng trăm, hàng ngìn nhà khoa học lỗi lạc trên thế giới tạo nên trải qua hàng trăm năm lao động cật lực. Nhưng học sinh trong thời gian ngắn ngủi trên ghế nhà trường phải học được tất cả những cái đó để dạt đến trình đọ hiện đại của khoa học thì đó là một việc làm quá sức không thực tế . Rõ ràng kiểu dạy truyền thống không phù hợp: dạy không phải để chỉ để tiếp thu mà điều quan trong là để phát triển, áp dụng được vào cuộc sống, đạt được một phẩm chất mới ở mức độ cao hơn. Như vậy một chiến lược dạy học mới là: ‘ Dạy học bằng hoạt động thông qua hoạt động tích cực, tự lực của học sinh’. Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học là tổ chức, hướng dẫn tạo điều kiện cho học sinh thực hiện tốt những hoạt động học tập, giúp đỡ học sinh khi cần thiết, nhưng không làm thay. Dạy học thực chất là dạy học sinh tự lực hoạt động nhận thức, dạy học sinh cách tự học. Để kích thích và duy trì hứng thú nổ lực của học sinh, giáo viên cần phải chuẩn bịh tạo ra những tình huống học tập kiểu tình huống có vấn đề. Học sinh đứng trước tình huống này sẽ xuất hiện trong óc mâu thuẩn cần nhận thức, nhu cầu hứng thú hận thức, sự tò mò muốn tìm hiểu, xây dựng cái mới. Quá trình học tập sẽ là sẽ là quá trình nối tiếp của các tình huống có vấn đề từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ bộ phận đến toàn bộ, mở rộng dần vùng phát triển. Xuất phát từ những lí do trên Tôi đã chọn viết đề tài này. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Mục đích nghiên cứu đè tài này là tìm ra một số cách thức đặt vấn đề khi vào bài học để phát huy tính tích cực, chủ dộng, hứng thú học tập của học sinh đối với môn vật lí ở cấp THCS.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Mục tiêu nhiệm vụ của việc dạy học vật lý ở trường phổ thông có những thay đổi sâu sắc so với nhà trường truyền thống trước đây Để đảm bảo thực hiện thắng lợi của mục tiêu đó cần có sự đổi mới đồng bộ toàn diện công tác giáo dục : Từ nội dung đến phương pháp dạy học, trang thiết bị dạy học, trường lớp, kiểm tra thi cử Những đổi mới đó phải dựa trên những thành tựu mới nhất của tâm lí dạy học, giáo dục học và có một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt các hoạt động đa dạng của nhà trường Trong nhà trường truyền thống đã tồn tại lâu đời

ở nước ta và trên thế giwois là dạy học theo kiểu giảng giải minh họa , nhồi nhét, trong đó giáo viên giữ vai trò trung tâm quyết định ( từ nội dung dạy học đến cách thức truyền thụ kiến thức, kỉ năng, đánh giá kết quả)

Cách dạy học như thế đã có những thành công nhất định trong việc giới thiệu cho học sinh những tinh hoa văn hóa nhân loại, nhiều nhất là làm được như những người đi trước đã làm Thông thường là kém hơn vì thành tựu khoa học của nhân loại do hàng trăm, hàng ngìn nhà khoa học lỗi lạc trên thế giới tạo nên trải qua hàng trăm năm lao động cật lực Nhưng học sinh trong thời gian ngắn ngủi trên ghế nhà trường phải học được tất cả những cái đó để dạt đến trình đọ hiện đại của khoa học thì đó là một việc làm quá sức không thực tế Rõ ràng kiểu dạy truyền thống không phù hợp: dạy không phải để chỉ để tiếp thu mà điều quan trong là để phát triển, áp dụng được vào cuộc sống, đạt được một phẩm chất mới ở mức độ cao hơn Như vậy một chiến lược dạy học mới là: ‘ Dạy học bằng hoạt động thông qua hoạt động tích cực, tự lực của học sinh’ Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học là tổ chức, hướng dẫn tạo điều kiện cho học sinh thực hiện tốt những hoạt động học tập, giúp đỡ học sinh khi cần thiết, nhưng không làm thay

Dạy học thực chất là dạy học sinh tự lực hoạt động nhận thức, dạy học sinh cách tự học

Để kích thích và duy trì hứng thú nổ lực của học sinh, giáo viên cần phải chuẩn bịh tạo ra những tình huống học tập kiểu tình huống có vấn đề Học sinh đứng trước tình huống này sẽ xuất hiện trong óc mâu thuẩn cần nhận thức, nhu cầu hứng thú hận thức, sự tò mò muốn tìm hiểu, xây dựng cái mới Quá trình học tập sẽ là sẽ là quá trình nối tiếp của các tình huống có vấn đề từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ bộ phận đến toàn bộ, mở rộng dần vùng phát triển Xuất phát từ những lí do trên Tôi đã chọn viết đề tài này

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Trang 2

Mục đích nghiên cứu đè tài này là tìm ra một số cách thức đặt vấn đề khi vào bài học để phát huy tính tích cực, chủ dộng, hứng thú học tập của học sinh đối với môn vật lí ở cấp THCS

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và khao học về phương pháp dạy học kiểu nêu vấn đề;

2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng phương pháp dạy kiểu nêu vấn đề đối với môn vật lý ở trường THCS Ba Xa

3 Đưa ra một số cách thức đặt vấn đề vào bài cho phù hợp

4 Rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng bài dạy

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu

2 Phương pháp điề tra

3 Phương pháp đúc rút kinh nghiệm trong những năm giảng dạy

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG

I CƠ SỞ KHOA HỌC , LÝ LUẬN MÀ ĐỀ TÀI VẬN DỤNG

Theo quan điểm mới về dạy học đã được trình bày phần trước thì phương pháp dạy học của giáo viên thực chất là cách thức giáo viên tổ chức hoạt động tự học của học sinh, cách thức hướng dẫn của học sinh, thực hiện các hoạt động học tập và giúp đỡ khi cần đảm bảo cho học sinh có thể thực hiện thành công các hoạt động đó

Như vậy muốn xác địnhđược phương pháp dạy học đúng đắn trước hết giáo viên phải căn cứ vào nội dung học tập xác định rõ ràng những hoạt động mà học sinh phải tự hoạt động để chiếm lĩnh, xây dựng kiến thức, hình thành kỉ năng, phát triển năng lực Căn cứ vào đó giáo viên xác định những hoạt động của mình

để giúp học sinh tự học thực hiện thành công các hoạt động học

Giáo viên căn cứ vào mục tiêu dạy học của chương trình và của từng bài, vào các phương tiện dạy học có trong nhà trường, xác định được loogic của hoạt động nhận thức, con đường tối ưu để chiếm lĩnh kiến thức phù hợp với trình độ của học sinh Trên cơ sở đó định ra những hoạt động cần phải thực hiện

Vật lí học nay ở trường chủ yếu là vật lí học thực nghiệm, để giúp học sinh

có thể bằng hoạt động của bản thân mình có thể tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức vật lý thực nghiwwmj thì tốt nhất là giáo viên tổ chức cho hcoj sinh trải qua các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm như sau:

Giai đoạn 1 Giáo viên mô tả một hoàn cảnh thực tiễn, hay biểu diễn một thí nghiệm và yêu cầu học sinh dự đoán diễn biến của hiện tượng, tìm nguyên nhân hoặc xác lập một mối quan hệ nào đó Tóm lại là nêu lên một câu hỏi mà học sinh chưa biết câu trả lời, cần phải suy nghỉ tìm tòi mới trả lời được Đó chính là giáo viên tổ chức tình huống có vấn đề

Giai đoạn 2 Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh xây dựng một câu dự đoán ban dầu dựa vào sự quan sát, vào kinh nghiệm bản thân, vào những kiến thức đã có … Những dự đoán này có thể còn thô sơ, có vẽ hợp lí nhưng chưa chắc chắn

Giai đoạn 3: Kiểm tra giã thuyết

Giai đoạn 4: Ứng dụng kiến thức

Trang 4

Mỗi tiết học hay một bài học cũng tuân theo trình tự các giai đoạn như vậy Phần mở bài: Gây không khí học tập

Hoạt động này thường chiếm một thwoif gian rất ngắn nhưng vô cùng quang trọng, nhiều khi là tiên đề để giáo viên có được một tiết dạy thành công, học inh có một giờ học hiệu quả

Hoạt động mở bvaif nhằm một số mục đích sau:

- Tạo môi trường thuận lợi cho bài học mới

- Gây hứng thú với bài học mới

- Chuẩn bị kiến thức cho bài học mới

Tùy theo mục tiêu và đặc thù của bài học, tùy vào đối tượng học sinh cụ thể, giáo viên có thể chọn lựa những kiểu bài mới cho phù hợp

II NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Khảo sát trước khi chọn đề tài:

Để có cơ sở cho quá trình nghiên cứu, biện pháp đầu tiên tôi thực hiện là:

“Khảo sát hứng thú của học sinh đối với cách dạy học nêu vấn đề” Tôi dùng 3 câu hỏi trắc nghiệm sau:

Hãy khoanh tròn chữ cái a, b,c,d đứng ở đầu mỗi phương án mà em đồng ý Đối với 2 lớp 7A, 7B ( Tổng số học sinh: 56 em )

Câu 1 Em thích được bắt đầu một tiết dạy học vật lý như thế nào?

a Giáo viên ghi đề bài của bài học lên bảng và đi vào từng phần của bài học ngay

b GV cho đọc qua phần đầu bài sau đó đi luôn vào nội dung từng phần

c GV làm một thí nghiệm nhỏ, kể một câu chuyện liên quan đến bài học Nêu ra vấn đề để học sinh dự đoán, rồi vào nội dung cụ thể

d Một cách dạy- học khác

Câu 2 Em thích giáo viên dạy vật lý theo kiểu nào?

a GV giảng hết nội dung như SGK, học sinh chỉ ngồi nghe và ghi lại lời giảng

b Khi có thí nghiệm thì giáo viên tự làm, học sinh ngồi quan sát, nghe, ghi

và trả lời câu hỏi của giáo viên để đạt được nội dung bài học

c GV chỉ hướng dẫn còn các em tự làm thí nghiệm theo nhóm học tập, thảo luận tìm câu trả lời sau đó giáo viên thống nhất lại, từ đó tìm ra nội dung bài học

d Một cách dạy- học khác

Câu 3 Em muốn được giải quyết vấn đề của bài học theo cách nào?

a GV trả lời luôn vấn đề từ đầu sau đó học chỉ để kiểm tra lại

b Học sinh luôn bị đặt trong tình huống có vấn đề ( tình huống thắc mắc chưa trả lời được ngay) sau đó học sinh cùng nhau thảo luận để giải quyết vấn đề bằng nhiều cách

d Một cách giải quyết khác

Trang 5

Kết quả khảo sát:

Câu trả

lời

Câu hỏi

Qua bảng kết quả trên đa số học sinh đều muốn được trong tình huống có vấn đề để được tìm tòi sáng tạo và học hỏi

Từ thực trạng trên tôi đã tìm ra cách thức đặt vấn đề vào bài học để phát huy tính tích cực , chủ động sáng tạo của học sinh

2 Lựa chọn các phương pháp đặt vấn đề vào bài học phù hợp với môn học- nhằm phát huy tính tích cực chủ động, hứng thú học tập của học sinh trong học tập.

Như vậy chúng ta đã biết trong các phương án dạy học, dù là môn học naofcungx không có phương pháp dạy học nào là tối ưu, cũng không có phương pháp nào dạy học nào là vạn năng Có phương pháp hợp lí và phát huy được với môn học này, hoạt động này nhưng lại bị hạn chế đối với môn học khác Bởi vậy người giáo viên phải luôn tâm niệm là không được tuyệt đối hóa một phương pháp dạy học nào mà cần phải quan tâm đến việc lựa chọn, phối hợp các phương pháp trong quá trình dạy học cho phù hợp với bài học, môn học cụ thể Có vậy mới phát huy được thế mạnh của từng phương pháp dạy học

Trong việc dạy học môn vật lý cũng có nhiều phương pháp khác nhau Nhưng trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập đến việc lựa chọn, phối hợp các hình thức nêu vấn đề vào bài học của phương pháp dạy học nêu vấn đề thể hiện được đặc trưng của môn vật lý

Để đáp ứng được mục tiêu môn học, giáo viên phải có cách tiếp cận mới, cách dạy học mới, tạo nên một không khí dạy học tập nhẹ nhàng, vô tư, trách cho học sinh cách học vẹt, loại bỏ cách dạy áp đặt, cứng nhắc một chiều Tôi đã đưa

ra một số cách tổ chức tình huống có vấn đề cho phần mở bài của dạy học môn vật lý như sau:

2.1 Bằng thí nghiệm đơn giản để giới thiệu một hiện tượng:

Học vật lí nhất thiết phải có thí nghiệm Đa số kiến thức được rút ra từ thí nghiệm hoặc được kiểm tra lại bằng thí nghiệm Nên trong cách đặt vấn đề này tôi đã vận dụng kinh nghiệm “ Trăm nghe không bằng một thấy” và lấy tiền đề trực quan làm cơ sở để giúp các em thực hiện các hoạt động học tập nhằm khám phá khiêu gợi sự tò mò khoa học… thông qua các hiện tượng quan sát được

Ví dụ 1: Khi dạy bài 21 Nam châm vĩnh cửu ( vật lí 9) Tôi đã chuẩn bị 1 thí nghiệm đơn giản để đặt vấn đề vào bài

Trang 6

Chuẩn bị: - 1 chiếc xe nhựa

- 1 chân đế có mũi nhọn

- 1 kim nam châm có gắn hình nhân ( tay hình nhân có gắn cới cực nam của kim nam châm)

Xe bố trí sao cho học sinh chỉ thấy phần trên của hình nhân

Trước khi tiến hành thí nghiệm giao viên hỏi: Em hãy chỉ ra các phương địa

li ( Đông- Tây- Nam- Bắc )

GV giới thiệu xe có gắn hình nhân

Tiến hành thí nghiệm:

- Cho xe đi các hướng bất kì

HS quan sát

GV: Tay hình nhân luôn chỉ hướng nào?

GV: Quay tròn hình nhân và thả tay ra

GV: Khi đứng yên hình nhân chỉ hướng nào/

GV: Điều gì khiến hình nhân luôn chỉ hướng Nam?

HS: Dự đoán

GV: Ghi dự đoán của học sinh vào góc bảng → vào bài mới

Ví dụ 2 khi dạy bài 19: Các chất được cấu tạo như thế nào? ( Vật lí 8)

Tổ chức tình huống học tập:

- GV đưa ra 2 bình chia độ: 1 bình đựng 50 cm3 rượu, 1 bình đựng 50 cm3

nước, gọi học sinh đọc kết quả thể tíh của mỗi bình

- GV ghi kết quả thể tích của mỗi bình lên bảng

- GV: đỗ nhẹ 50cm3 rượu vào bình đựng 50cm3 nước, sau đó dùng que khuấy cho rượu và nước hòa lẫn với nhau

- Gọi học sinh đọc lại thể tích hỗn hợp

- Gọi học sinh so sánh thể tích hỗn hợp và tổng thể tích ban đầu của nước

và rượu

-GV đặt câu hỏi: Vậy thể tích hao hụt của hỗn hợp đó đã biến đi đâu? Bài học này sẽ giúp cho chúng ta trả lời câu hỏi này

2.2 Bằng việc mô tả lại một sự kiện, hiện tượng thật tế.

Trong chương trình vật lí cải cách thì mục tiêu là coi trong những kiến thức mang tính thực tế, có áp dụng vào thực tế đời sống, giảm nhẹ bớt những kiến thức mang tính hàn lâm Như vậy tôi đã lựa chọn việc mô tả lại một sự kiện hiện tượng thực tế liên quan đến bài học để dẫn học sinh vào bài mới với tư tưởng nhẹ nhàng, gần gũi không tạo áp lực

Ví dụ 1 Bài 24: Sự nóng chảy và sự đông đặc ( vật lí 6)

GV gọi học sinh đọc phần mở bài trong SGK

GV Để đúc được một pho tượng đồng hoàn mĩ như vậy, người nghệ nhân phải làm như thế nào?

Trang 7

HS dự đoán: - Nấu chảy đồng

- đổ vào khuôn cho đông lại

GV đồng được chuyển từ thể rắn sang thể lỏng gọi là sự nóng chảy, ngược lại khi đồng đông lại trong khuôn đúc tức từ thể lỏng về thể rắn ta gọi là sự đông đặc Tưởng đơn giản ai cũng làm được nhưng không phải như vậy Để đúc được một sản phẩm đúc hoàn mỹ người nghệ nhân phải hiểu được đặc điểm của sự nóng chảy và sự đông đặc

Vậy sự nóng chảy và sự đông đặc có đặc điểm gì? Nó dược ứng dụng như thế nào trong thực tế Các em cùng nghiên cứu bài học hôm nay

Ví dụ 2 Bài 9: Áp suất khí quyển ( vật lí 8)

GV các em thấy là nước thường chảy xuống Vậy tại sao quả dừa đục 1 lỗ, ống thuốc tiêm bẻ 1 đầu, dốc xuống nước dừa, thuốc không chảy? Để giải thích hiện tượng lạ này chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay

2.3 Bằng một câu chuyện lịch sử dẫn dắt học sinh vào thực tại:

Để kích thích sự tò mò, thôi thúc óc sáng tạo trong mỗi học sinh thì một câu chuyện lịch sử liên quan tới bài học được kể đúng lúc mang lại kết quả không nhỏ

Ví dụ : Bài 20 Nguyên tử phân tử chuyển động hay đứng yên? ( vật lý 8)

Tổ chức tình huống học tập:

GV kể câu chuyện: Năm 1827- Nhà thực vật học người Anh, khi quan sát các hạt phấn hoa trong nước bằng kính hiển vi đã phát hiện thấy chúng chuyển động không ngùng về mọi phía Ông gắn cho chuyển động của những hạt phấn

hoa trong nước là do một “ lực sống” chỉ có ở vật sống gây nên Tuy nhiên sau

đó người ta dễ dàng chứng minh được quan niệm này à không đúng vì có bị “ giã nhỏ” hoặc “luộc chín” các hạt phấn hoa vẫn chuyển động không ngừng Vậy chuyển động của các hạt phấn hoa ở trong nước được giải thích như thế nào? Chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay

Ví dụ 2.Bài 42 Thấu kính hội tụ ( vật lý 9)

Tổ chức tình huống học tập:

GV kể câu chuyện: Dùng băng ( nước đá) để lấy lưa trong cuốn tiểu thuyết

“ cuộc du lịch của viên thuyền trưởng Hát Lê Sát” của Giun-Véc- Nơ, khi đoàn

du lịch bị mất bật lửa, cả đoàn lâm vào cảnh thiếu lửa trong những ngày cực lạnh

ở - 48oC Một thành viên trưởng đoàn, chỉ với chiếc rùi, con dao nhọn và đôi bàn tay, đã lấy một tảng băng, đường kính khoản 30cm chế tạo được một thấu kính hội tụ trong suốt Dưới ánh nắng mặt trời hiếm hoi, ông đua thấu kính đó ra hứng các tia năng lên bùi nhùi, chỉ vài phút sau bùi nhùi bôc cháy

Câu chuyện này được viết trên tiểu thuyết nhưng không phải là hoang đường Thí gnhieemj đốt cháy gỗ bằng một thấu kính băng đã tiến hành thành

Trang 8

công lần đầu tiên ở Anh năm 1763 Vậy thấu kính hội tụ là gì mà lại làm được điều kì diệu đó.Liệu chúng ta có thể tự chế tạo thấu kính hội tụ được không?

2.4 Bằng việc nêu ra một nhu cầu thực tế trong đời sống.

Từ nhu cầu thực tế đời sống, cần thiết phải thay đổi, hay phát minh ra một công cụ mới đáp ứng được nhu cầu thực tế đó Muốn có được những công cụ đó phải vận dụng những kiến thức nào, hay những công cụ đó hoạt động được dựa vào đâu để dẫn dắt học sinh vào nội dung bài học với những câu hỏi rất thực tế đang đặt ra trong đầu cần được trả lời ngay

Ví dụ Bài 12: Sự nỗi ( Vật lí 8)

Tổ chức tình huống học tập:

GV: Các con tàu đi trên mặt biển có nhược điểm là sợ bảo,sợ chìm, hoặc sợ phát hiện từ xa ( đối với công việc caanf bí mật) Vì vậy con người có nhu cầu chế tạo ra một con không sợ bảo, không sợ chìm và người ta đã làm ra được con tàu đó gọi là tàu ngầm Vậy tàu ngầm được thiết kế như thế nào mà có thể chìm hoặc nỗi theo ý muốn? Để trả lời được câu hỏi này cần nghiên cứu bài học hôm nay

Ví dụ 2 Bài 13 Máy cơ đơn giản ( vật lí 6)

Tổ chức tình huống học tập

GV Các em thấy trong thực tế muốn nâng hoặc đưa một vật nặng lên cao bằng sức người thì rất vất vã hoặc có thể có những lúc có ít người hoặc 1 người thì không thể làm được Vì vậy con người có nhu cầu là chế tạo ra các công cụ

để giúp họ mà lại không tốn năng lượng, đó là công cụ đơn giản giúp cho họ làm việc thuận tiện và nhè nhàng hơn

Vậy các công cụ đó là gì nó được cấu tạo như thế nào mà lại tiện ích thế? Chúng ta cùng học bài hôm nay

2.5 Bằng một đoạn hội thoại dẫn đến vấn đề ( Câu hỏi có vấn đề)

Ví dụ Bài 52 Ánh sáng trắng và ánh sáng màu ( Vật lí 9)

Bạn Thanh: Bóng đèn quay lớn có nhiều màu sắc trong các sân khấu, vũ trường , dạ tiệc gồm nhiều bóng đèn nhỏ ghép lại

Bạn Hải: Đó thực ra chỉ có bóng đèn lớn mùa trắng ở giữa còn xung quanh

là các tấm kính màu các loại để thu được các ánh sáng màu khác nhau

Bạn Thanh: Vậy có những cách nào tạo ra được ánh sáng màu?

Bạn Hải: Có nhiêu cách

GV treo bảng phụ có đoạn đối thoại trên lên bảng

GV Bạn Hải nói như vậy có đúng không? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài học hôm nay

Để Thấy rõ được hiệu quả của sự cần thiết phải tạo tình huống có vấn đề khi vào bài học hay đứng trước từng hoạt động dạy học Tôi đư 2 bìa soạn dạy để đối chứng

Trang 9

Bài soạn:

Bài 12: Sự nỗi ( Vật lí 8)

I Mục tiêu

- kiến thức:

Giải thích được khi nào vật nổi, vật chìm, vật lơ lửng

Nêu được điều kiện nổi của vật

Gải thích được các hiện tượng vật nổi trong cuộc sống

- Kỉ năng:

Lamg thí nghiệm, phân tích hiện tượng, nhận xét hiện tượng

II CHUẨN BỊ CỦA HỌC SINH VÀ GIÁO VIÊN:

Mỗi nhóm học sinh

1 cốc thủy tinh to đựng nước

1` chiếc đinh

1 miếng gỗ có khói lượng lớn hơn đinh

1 ống nghiệm nhỏ đựng cát có đậy nút kín

GV Vẽ hình tàu ngầm

SƠ ĐỒ NỘI DUNG DẠY HỌC

III.HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC:

Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ- Tổ chức tình huống học tập

* Kiểm tra bài cũ:

- Lực đẩy Ác si mét phụ thuộc vào những yếu tố nào?

- Nêu hai lực cân bằng

* Tổ chức tình huống học tập:

Cách 1 Dùng đoạn đối thoại như SGK: Đố nhau

A Tại sao khi thả vào nước thì hòn bi gỗ nổi, còn hòn bi sắt lại chìm?

Điều kiện để vật nỗi, vật chìm Phân tích lực tác dụng lên vật

Độ lớn lực đẩy Ấc si mét khi vật nổi trên mặt thoán của chất lỏng

Vận dụng:

Vật nổi, vật chìm trong thực tế Phân tích lực cân bằng

Trang 10

B Vì hòn bi gỗ nhẹ hơn

A Thế tại sao con tàu bằng thép nặng hơn hòn bi thép lại nổi còn hòn bi thép lại chìm?

B: ???

Cách 2 GV đưa ra một nhu cầu thực tế trong đời sống

GV: Các con tàu đi trên mặt biển có nhược điểm là sợ bảo,sợ chìm, hoặc sợ phát hiện từ xa ( đối với công việc caanf bí mật) Vì vậy con người có nhu cầu chế tạo ra một con không sợ bảo, không sợ chìm và người ta đã làm ra được con tàu đó gọi là tàu ngầm Vậy tàu ngầm được thiết kế như thế nào mà có thể chìm hoặc nỗi theo ý muốn? Để trả lời được câu hỏi này cần nghiên cứu bài học hôm

nay.( Sự nổi)

Hoặc như bài: Nam châm vĩnh cữu ( vật lí 9)

I Mục tiêu:

II Chuẩn bị:

III Các hoạt động dạy học

Hoạt động 1: Tổ chức tình huống học tập

GV làm thí nghiệm với hình nhân gắn lên một kim nam châm ( kim nam châm được dặt sao để học sinh không nhìn thấy) Gắn trên 1 xe đồ chơi nhỏ

Tiến hành:

GV cho xe chuyển động theo các hướng bất kì trên bàn giáo viên

HS: Quan sát

GV: Tay hình nhân luôn chỉ hướng nào?

HS: Trả lời ( Hướng Nam)

GV: Quay tròn hình nhân và thả tay ra

GV: Khi đứng yên hình nhân chỉ hướng nào?

HS: trả lời ( Hướng nam)

GV: Điều gì khiến hình nhân luôn chỉ hướng Nam?

GV: Để biết được bí mật nay, chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay:

Nam châm vĩnh cữu

* Kết quả:

Qua phần giảng dạy theo tổ chức tình huống học tập có vấn đề đã tạo cho học sinh có tinh thần học tập tốt hơn, ngay từ đầu các em đã hào hứng tiếp thu, trao đổi thảo luận, tiết học kết thúc học sinh rất thỏa mái vì đã tìm ra được câu trả lời cho vấn đề quan tâm khi giáo viên đưa ra đầu tiết học Học sinh hiểu bài hơn vì qua các tiết dạy Tôi thử cho học sinh kiểm tra nhanh thì đa số học sinh làm bài được

Ngày đăng: 15/07/2015, 14:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ NỘI DUNG DẠY    HỌC - một số phương pháp tạo tình huóng học tập phát huy tính tích cực  chủ động sáng tạo của học sinh trong học vật lý THCS
SƠ ĐỒ NỘI DUNG DẠY HỌC (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w