1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tổ chức dạy học tích hợp liên môn chủ đề dòng điện không đổi nguồn điện nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh

39 2,9K 44

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 342,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘITRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU--- SẢN PHẨM DỰ THI GIÁO ÁN TÍCH HỢP MÔN VẬT LÝ Năm học 2014 – 2015 TÊN ĐỀ TÀI TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHỦ ĐỀ “DÒNG ĐIỆN KHÔ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU -

SẢN PHẨM DỰ THI GIÁO ÁN TÍCH HỢP MÔN VẬT LÝ

Năm học 2014 – 2015

TÊN ĐỀ TÀI

TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHỦ ĐỀ “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI – NGUỒN ĐIỆN” NHẰM PHÁT HUY TĨNH CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA

HỌC SINH

Họ và tên giáo viên: Tô Thị Như Quỳnh

Đơn vị: Tổ Vật lý - Trường THPT Nguyễn Siêu

Trang 2

Hà Nội, Tháng 1 năm 2015

PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI

Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội

Trường THPT Nguyễn Siêu

Địa chỉ: Phố Trung Kính - Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội

Giáo viên môn Hóa: Lê Minh Thực

Giáo viên môn Sinh – Kĩ thuật nông nghiệp: Nguyễn Thị Duyên

Giáo viên môn Kĩ thuật công nghiệp: Nguyễn Văn Điểm

Giáo viên môn Địa lý: Nông Thị Chiến

Giáo viên môn Tin học: Nguyễn Văn Ban

Trang 3

PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN

I Tên hồ sơ dạy học

Tiết 11-12 DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI – NGUỒN ĐIỆN

II Mục tiêu dạy học

Học xong chủ đề này học sinh đạt được các mục tiêu sau:

1 Kiến thức:

*Kiến thức trọng tâm của bài học :

- Nêu được định nghĩa dòng điện, chiều quy ước của dòng điện, các tác dụng của dòngđiện khi chạy qua vật dẫn

- Phát biểu được định nghĩa và viết biểu thức của cường độ dòng điện, định nghĩa dòngđiện không đổi

- Nêu được điều kiện để có dòng điện

- Phát biểu định nghĩa và viết được biểu thức tính suất điện động của nguồn điện Giảithích được sự tồn tại của suất điện động đó

- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của pin điện hóa và acquy

* Kiến thức liên hệ thực tiễn:

- Trình bày được vai trò quan trọng của năng lượng điện đối với đời sống, đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội; nêu được tình hình năng lượng điện của thế giới, tình trạng ô nhiễmmôi trường đang đe dọa sức khỏe và cuộc sống của con người Nêu được các biện pháp sửdụng an toàn và tiết kiệm điện

- Nhận thức được nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu toàn cầu

là do sản xuất và sử dụng năng lượng điện chưa hợp lí

- Nêu được những phương án sản xuất điện từ những nguồn năng lượng sạch (sinh học,gió, Mặt trời, sóng ) đang dần thay thế cho các nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạnkiệt và những nhiên liệu gây ô nhiễm môi trường

Trang 4

- Vận dụng kiến thức liên môn: vật lý, sinh học, công nghệ kỹ thuật, hóa học, ngoại ngữ để

thiết kế một nguồn điện từ nhiên liệu sạch phục vụ sinh hoạt hoặc sản suất.

2 Kĩ năng:

- Học sinh có kĩ năng tiến hành và quan sát thí nghiệm

- Vận dụng kiến thức của bài học giải thích được hiện tượng thực tế, trong nghiên cứu khoa học để thiết kế được một số nguồn điện từ nhiên liệu sạch

- Kĩ năng tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn, xử lí thông tin từ các dạng khácnhau (hình ảnh, bảng biểu, đồ thị,…) để rút ra kết luận (Về tầm quan trọng của năng lượngđiện, các hình thức và lĩnh vực sử dụng năng lượng điện, các nguồn năng lượng điện, sựcạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch, vấn đề môi trường sinh thái liên quan đến sảnxuất và sử dụng năng lượng điện, sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả,…

- Học sinh được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, trình bày và bảo vệ sản phẩm nghiên cứu khoa học trước tập thể

- Kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, nghiên cứu khoa học

+ Kiến thức vật lý: hiện tượng quang điện trong, chất bán dẫn khi nghiên cứu và thiết kếnguồn điện Pin Mặt trời; cảm ứng từ khi nghiên cứu và thiết kế máy phát điện sử dụngnhiên liệu gió, từ sự rơi dưới tác dụng của trọng lực, dinamo

+ Kiến thức môn hóa học: cứu các chất bán dẫn thông dụng dễ kiếm để chế tạo quang điệntrở hay pin quang điện; chất điện phân, sự phân li, phản ứng oxi hóa khử khi nghiên cứuhoạt động của pin, acquy và thiết kế nguồn điện từ chanh, nước muối

+ Kiến thức sinh học: hiện tượng quang hợp của cây xanh, phản ứng hóa học khi quanghợp khi nghiên cứu và thiết kế nguồn điện sinh học từ cây xanh

+ Biết sử dụng công nghệ thông tin: tìm kiếm thu thập thông tin qua mạng internet, kỹnăng sưu tầm, chọn lọc tài liệu, kỹ năng soạn powerpoint

+Kiến thức văn học: vận dụng những kĩ năng thuyết trình, giảng giải, giao tiếp khi giớithiệu sản phẩm, trình bày kiến thức hay một nghiên cứu khoa học

+Kiến thức môn kỹ thuật công nghiệp: tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động của máy phátđiện và từ đó thiết kế một nguồn điện phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất

Trang 5

+ Kiến thức môn ngoại ngữ (tiếng anh): Vận dụng kiến thức đọc hiểu môn tiếng anh đểtìm hiểu tài liệu, tham gia nghiên cứu khoa học.

+ Kiến thức kinh tế học: tính toán chi phí hợp lí nhất cho mỗi sản phẩm khoa học có thểđáp ứng được khả năng kinh thế của người sử dụng (người nghèo, dân tộc vùng cao, vùngsâu, vùng xa )

+ Kiến thức môn Địa lí: tìm hiểu đặc điểm địa lí, khí hậu, điều kiện kinh tế của địa phươngnơi có thể lắp đặt nguồn điện đã thiết kế

3 Thái độ:

Sau bài học, người học:

- Có ý thức và trách nhiệm phải bảo vệ môi trường, sử dụng an toàn và tiết kiệm nănglượng điện

- Những ứng dụng to lớn của vật lý trong đời sống, khoa học, kỹ thuật, từ đó thêm yêuthích môn vật lý

- Yêu thích, say mê sáng tạo và nghiên cứu khoa học

4 Năng lực:

Qua bài học, học sinh được phát triển các năng lực:

- Năng lực chuyên môn: học sinh vận dụng kiến thức liên môn (Lý, Hóa, Sinh, Kĩ thuậtcông nghiệp…) để giải quyết vấn đề, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, nghiên cứu khoahọc của học sinh

- Năng lực phương pháp: với mỗi vấn đề, học sinh lựa chọn và đưa ra phương pháp giảiquyết hợp lý, tối ưu nhất (lên kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ, tiến hành giảiquyết, trình bày kết quả)

- Năng lực xã hội: học sinh được làm việc theo nhóm, từ đó phát triển khả năng giao tiếp

và khả năng trình bày, bảo vệ ý kiến trước tập thể

- Năng lực cá nhân: học sinh có khả năng đánh giá kết quả học tập của cá nhân, có tinhthần trách nhiệm khi làm việc cùng nhóm, cùng tập thể

III Đối tượng dạy học của bài học

Thực hiện dạy cho học sinh lớp 11 nhóm học sinh yêu thích nghiên cứu khoa học

Trang 6

IV Ý nghĩa của bài học

Dạy học tích hợp là một xu thế của toàn thế giới hiện nay, mỗi khoa học không còn

ở trạng thái cô lập mà luôn tạo thành một thể thống nhất cùng với các khoa học khác Đểthực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc dạy học không thể chỉ dừng ở việc giảngdạy ở đơn môn, mà đòi hỏi phải kết hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực khác nhau,lồng ghép các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có của môn học Đặc biệt là vận dụngcác kiến thức liên môn để giúp học sinh giải quyết một số vấn đề thực tiễn

Mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần cũng như hoạt động sản xuất hiện nay đều cầnđến một nguồn năng lượng quan trọng bậc nhất đó là điện năng Nhưng thực tế cho thấyrằng, nhiên liệu hóa thạch sản xuất điện năng đang ngày cạn kiệt dần Vậy chúng ta phảilàm gì? Bài học này giúp cho học sinh nhận thức được ý thức trách nhiệm sử dụng tiếtkiệm điện, ý thức bảo vệ môi trường khi tham gia sử dụng nguồn năng lượng điện, đồngthời phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo của học sinh nhằm tìm ra và thiết kế nhữngnguồn điện sạch, vô tận

Như vậy, tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụngsáng tạo kiến thức kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện vào thực tiễncuộc sống

V.Thiết bị dạy học

5.1.Chuẩn bị của giáo viên:

1 Giáo viên chuẩn bị: phấn, bảng, máy chiếu, mạng internet, thiết bị thí nghiệm

2 Học sinh: nghiên cứu nội dung được phân công theo nhóm

VI Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học (Mục B)

Trang 7

A CƠ SỞ LÝ LUẬN

I SỰ CẦN THIẾT CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP

1 Xu thế của nền giáo dục toàn cầu

Để phát triển nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, bên cạnh việc đầu tư cho sự pháttriển kinh tế một cách trực tiếp, thì việc đầu tư phát triển giáo dục, phát triển trí tuệ là một

sự đầu tư thông minh và có lãi cho mỗi quốc gia Lực lượng lao động chính của xã hội –con người cùng với tri thức và trí tuệ của mình làm cho khoa học ngày càng phát triển như

vũ bão đặc biệt là trong lĩnh vực thông tin (mạng internet) Điều đó đã làm cho việc tiếpthu kiến thức của con người trở nên đơn giản, tiên lợi, dễ dàng hơn bao giờ hết Ngày nayviệc học của con người nói chung và học sinh nói riêng không phải chỉ từ thầy cô giáo nhưnhững năm trước đây, mà có thể tiếp thu kiến thức của nhân loại qua mạng internet nhưbài giảng trực tuyến bằng tiếng Việt (E – learning; truongtructuyen.edu.vn….) hay tiếngAnh (online learning…) với nhiều kiến thức mới nhất, nhanh nhất và kịp thời nhất

Việt Nam trong bối cảnh muốn hội nhập quốc tế cần phải phát triển khoa học vàcông nghệ mạnh mẽ để đưa đất nước thành một quốc gia công nghiệp hóa và hiện đại hóa.Theo đuổi mục tiêu đó, Việt Nam cần xây dựng một nền giáo dục tiên tiến đủ mạnh đểcung cấp nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng với yêu cầu phát triển củađất nước Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo thực hiện kế hoạch triểnkhai nghiên cứu, xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới thực hiện sau năm 2015theo kết luận của Bộ Chính trị tại thông báo số 242 – TB/TW ngày 15/4/2009 Một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch này là Đổi mới hệ thống giáo dục trong đó cónhững vấn đề về đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới các cấp học, bậc học, đổi mới côngtác quản lí giáo dục …

Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, thì người thầy phải tìmcách để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi hơn nữa không chỉ về một môn chuyênngành mà phải thường xuyên nâng cao kiến thức về các môn khoa học (Toán học, Vật Lý,Hóa học, Sinh học…) và các môn xã hội (Văn học, Nghệ thuật, Lịch sử…), đặc biệt chútrọng học ngoại ngữ và công nghệ thông tin khi sống trong một thời đại hội nhập hơn baogiờ hết với các nước trong khu vực Đông Nam Á nói riêng, trên toàn thế giới nói chung.Người thầy phải luôn đổi mới mình bằng việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng

Trang 8

nhu cầu của người học và nhu cầu của thời đại Một trong những phương pháp đổi mới đó

là việc dạy học tích hợp

2 Các môn khoa học là một chỉnh thể thống nhất

Từ khi xuất hiện xã hội loài người, khi tư duy của con người phát triển đến mộttrình độ nhất định, có khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa những tri thức riêng lẻ, rờirạc thành những quy luật chung nhất khi nghiên cứu thế giới quan Và nhiệm vụ của mỗingành khoa học là nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chấttrong bức tranh thế giới quan sinh động đầy màu sắc Bản thân thế giới quan là một chỉnhthể thống nhất, để tìm ra và giải thích được sự vận động và phát triển của các sự vật hiệntượng trong thế giới ấy thì mỗi ngành khoa học không thể tự nghiên cứu cô lập một mình,

mà ngược lại nó đòi hỏi phải có sự kết hợp cùng nghiên cứu giữa các ngành khoa học Từ

đó xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành và hình thành những tri thức liênngành và giao ngành Các ngành khoa học tự nhiên chuyển dần từ tiếp cận phân tích – cấutrúc sang tiếp cận tổng hợp – hệ thống Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới trong

đó các bộ môn ngày càng thâm nhập vào nhau, trong đó ngày càng cần những nhóm làmviệc đa môn và đòi hỏi con người phải làm việc đa năng Nếu từ khi còn nhỏ học sinhquen với việc tiếp cận các khái niệm một cách rời rạc, học sinh có nguy cơ sau này tiếp tụcsuy luận theo kiểu khép kín Những công trình nghiên cứu Quốc tế đã chứng tỏ trên thếgiới có bao nhiêu người được gọi là “những người mù chữ chức năng” Tức là nhữngngười đã lĩnh hội kiến thức ở trường học nhưng không có khả năng sử dụng những kiếnthức đó vào cuộc sống hằng ngày Và những người này rất khó có thể tìm được một chỗđứng trong một xã hội đang phát triển như vũ bão

Trước vấn đề đó, mỗi quốc gia luôn trăn trở đâu sẽ là hướng đi phù hợp với xu thếphát triển của thời đại cho nền giáo dục nói chung và cho các trường phổ thông nói riêng?

Đối với nước Việt Nam chúng ta, để theo kịp với xu thế phát triển của thời đại, xây

dựng một nền tri thức tiên tiến thì câu trả lời đối với mỗi giáo viên phải là Dạy học tích hợp Hiện nay Bộ Giáo dục - Đào tạo đã và đang chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy

học, kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phù hợp với năng lực của học sinh và phát huytính tích cực, tự học, sáng tạo của học sinh

II DẠY HỌC TÍCH HỢP LÀ GÌ?

Trang 9

Tháng 9/1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ củaUNESCO, đã tổ chức tại Varna (Bungari) "Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoahọc" Hội nghị này đặt ra 2 vấn đề:

- Dạy học tích hợp là gì?

- Vì sao phải dạy học tích hợp?

Tiếp theo, UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo giáo viên để dạy học tích hợp tháng4/1973 tại Đại học tổng hợpMaryland

1 Dạy học tích hợp là gì?

a Theo UNESCO

UNESCO định nghĩa Dạy học tích hợp là "một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí

khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quámạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực KH khác nhau" (Hội nghị phối hợptrong chương trình của UNESCO, Paris 1972)

Cần lưu ý rằng định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận (approach) các khái niệm vànguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung UNESCO đã chú ý trước hết đếnviệc giảng dạy khoa học ở cấp tiểu học và cấp sơ trung (THCS) và việc đào tạo giáo viêncho hai cấp học này vì ở các nước đang phát triển đa số trẻ em chỉ có điều kiện học hết haicấp học này Trong bối cảnh như vậy, việc giảng dạy khoa học không thể chỉ xem là việctrang bị các kiến thức mở đầu, chuẩn bị cho các cấp học trên mà còn là kết thúc, chuẩn bịcho đời sống trưởng thành

b Theo Hội nghị tại Maryland 4/1973

Dạy học tích hợp bao gồm cả việc Dạy học tích hợp với công nghệ học (technology).Khoa học và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động của loài người có đặc trưng khác nhau vàliên quan với nhau Hoạt động khoa học (a) đáp ứng nhu cầu muốn được hiểu biết về các

sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan hướng vào sự giải thích, dự đoán, tìm ra cácmối liên hệ nhân - quả Hoạt động công nghệ (b) hướng vào việc không ngừng tìm kiếmnhững phương pháp mới, hoàn hảo hơn để thoả mãn nhu cầu đạt những mục tiêu mongmuốn Nếu (a) đặc trưng bởi quá trình tìm tòi, phát hiện tri thức mới, đi từ đơn nhất đếncái chung thì (b) đặc trưng bởi quá trình nhận định, lựa chọn giải pháp, đi từ nguyên tắcchung để giải quyết vấn đề cụ thể

Trang 10

Một trong những bài học cơ bản của giáo dục các khoa học là phải chỉ ra sự phụ thuộc

lẫn nhau giữa hiểu biết và hành động Dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ

nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại Rất tiếc là hiện nay trong giáo dục phổ thông người ta

thường tách (a) và (b), coi trọng (a), xem nhẹ (b)

c Theo Xavier Roegiers

Cũng theo hướng tích hợp dạy học các khoa học với công nghệ, gắn học và hành,Xavier Roegiers cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thứcsang phát triển ở học sinh các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là kháiniệm cơ sở" của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration) Theo XavierRoegiers, sư phạm tích hợp (SPTH) là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn

bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể có dự tínhtrước những điều kiện cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập saunày hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy SPTH tìm cách làmcho quá trình học tập có ý nghĩa

Ngoài những hoạt động học tập riêng lẻ cần thiết cho các năng lực đó, SPTH còn tínhđến những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiếnthức, kĩ năng, thao tác đã lĩnh hội một cách rời rạc

SPTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực và mục tiêutích hợp"

2 Tại sao phải dạy học tích hợp?

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học (KH), kĩ thuật (KT) và công nghệ(CN), tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng Ước tính chỉ sau 7 năm khốilượng tri thức đã tăng gấp đôi, nghĩa là đến năm 2007 sẽ gấp 2 lần năm 2000

Không những thông tin ngày càng nhiều mà, với sự phát triển của các phương tiệncông nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thôngtin mới nhất

Tình hình nói trên buộc phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên (GV)

là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ (lí,

Trang 11

hoá, sinh, địa chất, thiên văn…) GV phải biết dạy tích hợp các KH, dạy cho học sinh (HS)cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào cáctình huống của đời sống thực tế.

Từ thế kỉ XV đến thế kỷ XIX, các khoa học tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo

tư duy phân tích, mỗi khoa học tự nhiên (KHTN) nghiên cứu một dạng vật chất, một hìnhthức vận động của vật chất trong tự nhiên Nhưng bản thân giới tự nhiên là một thể thốngnhất nên sang thế kỷ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành, hình thànhnhững lĩnh vực tri thức đa ngành, liên ngành Các khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận

"phân tích - cấu trúc" sang tiếp cận "tổng hợp - hệ thống" Sự thống nhất của tư duy phântích và tổng hợp - đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức đã tạo nên tiếp cận "cấu trúc -

hệ thống' (Structural systemic approach) đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan

hệ giữa bộ phận với toàn thể

Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu, song song với tíchhợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy các KH trong nhà trường phảiphản ánh sự phát triển hiện đại của KH, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các KHnhư là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặt khác, như đã nói ở trên, khối lượng tri thứckhoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do

đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp

III MỤC TIÊU CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP

1 Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàngngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hoà nhập thế giớihọc đường với thế giới cuộc sống

Ví dụ: Khi học xong bài “Định luật bảo toàn công” các em vận dụng vào cuộc sốngthực tiễn: đi xe đạp lên dốc thường nên đi đường vòng để đỡ tốn sức

2 Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bảncần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ

sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo

Trong thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh nhưng không thật sự

có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian Chẳng hạn ởtiểu học, học sinh được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một

Trang 12

bài văn, học sinh biết có bao nhiên centimét trong một kilômét nhưng lại không chỉ rađược một mét áng chừng dài bằng mấy gang tay.

3 Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể Thay vì tham nhồi nhét cho HSnhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vậndụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống saunày làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập

4 Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Trong quá trình học tập, học sinh cóthể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn họcnhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thốngtrong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đadạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làmchủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với mộttình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp

IV PHƯƠNG THỨC TIẾN HÀNH

Ngày nay không còn là lúc đặt vấn đề thảo luận Dạy học tích hợp là cần hay khôngcần, nên hay không nên Câu trả lời là khẳng định cần phải tích hợp các môn học, nhưngthực hiện Dạy học tích hợp như thế nào?

Trước hết phải vượt lên trên cách nhìn quen thuộc về vai trò của từng môn học riêng

rẽ, quan niệm đúng hơn về quan hệ tương tác giữa các môn học Theo d' Hainaut (1977)

có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học

Quan điểm thứ nhất là quan điểm "đơn môn": có thể xây dựng chương trình học tậptheo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cáchriêng rẽ

Quan điểm thứ hai là quan điểm "đa môn": một chủ đề trong nội dung học tập có liênquan với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tụcđược tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung

Quan điểm thứ ba là quan điểm "liên môn": nội dung học tập được thiết kế thành mộtchuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩnăng của những môn học khác nhau

Trang 13

Quan điểm thứ tư là quan điểm "xuyên môn": nội dung học tập hướng vào phát triểnnhững kĩ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trongviệc giải quyết những tình huống khác nhau.

Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn vàquan điểm xuyên môn

Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp môn học được chia thành hai nhóm lớn:

- Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học

- Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau

Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học

hay cuối cấp học Ví dụ: Các môn lí, hoá, sinh vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối nămhoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chung của các khoa học tự nhiên

và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiếnthức

Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm

đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn lí, hoá, sinh vẫn được giảng dạy riêng rẽ, hoặc vìbản chất và lôgíc phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các môn học này do các giáoviên khác nhau đảm nhiệm Tuy nhiên, chương trình có bố trí xen một số chương tích hợpliên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức nhữngmôn học gần gũi với nhau

Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp.

Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc chonhững môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, thường dựa vào một môn học công cụ nhưTiếng Việt Nam Trong trường hợp này môn học tích hợp được cùng một giáo viên giảngdạy

Cách 3 có giá trị chủ yếu ở cấp tiểu học, ở đó các vấn đề phải xử lí thường là những đềtài đơn giản, có giới hạn Ví dụ Bài tập đọc tích hợp kiến thức lịch sử, khoa học, bài toántích hợp kiến thức dân số, môi trường Cách tiếp cận này cố gắng khai thác tính bổ sunglẫn nhau của các môn học theo đuổi những mục tiêu bổ sung cho nhau bằng các hoạt độngtrên cơ sở các chủ đề nội dung

Trang 14

Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích

hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp

Ví dụ: Môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học tích hợp các kiến thức về con người và sứckhoẻ, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội, động vật thực vật, bầu trời và mặt đất.Lên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, hệ thống khái niệm trong các môn họcphức tạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường do một giáoviên được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người tathiên về áp dụng cách 4, tuy có nhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua vì dạy họctích hợp là xu hướng tất yếu, đem lại nhiều lợi ích

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xácđịnh nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình mônhọc ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quanniệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích hợp sẽ mang lạinhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợpgiúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái

độ học tập tích cực đối với học sinh Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về sốlượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một sốchuyên đề dạy học tích hợp Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất vàthiết bị dạy học"

V KẾT LUẬN

Việc tích hợp các môn học sẽ giúp học sinh dễ vận dụng kiến thức vào thực tiễn vìnhững vấn đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất rất ít khi chỉ liên quan tới một lĩnh vực trithức nào đó mà thường đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp các tri thức liên quan tới nhiều mônhọc khác nhau

Ví dụ khi tìm hiểu về chủ đề nguồn điện có thể vận dụng những kiến thức liên quangiữa bộ môn Vật lý, hóa học, sinh học và giáo dục ý thức sử dụng tiết kiệm điện, ý thứcbảo vệ môi trường trong môn Giáo dục Công dân

Trang 15

Việc dạy tích hợp trong nhà trường sẽ làm giảm số đầu môn học, số đầu sách giáokhoa, đổi mới cách kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh, việc bồi dưỡng và đào tạogiáo viên đỡ phức tạp hơn.

Tuy nhiên việc dạy tích hợp không đơn giản, vì dạy học tích hợp đòi hỏi người giáoviên cần có một khối lượng kiến thức tổng hợp phong phú và tổng quát cũng như đủ kĩnăng sư phạm và kĩ năng đa ngành

Ở các nước tiên tiến, giáo viên được lựa chọn từ những sinh viên xuất sắc có đủtrình độ và được học thêm chuyên môn sư phạm Hiện nay ở Việt Nam, giáo viên được tậphuấn để chỉ dạy một bộ môn riêng rẽ theo phương pháp sư phạm truyền thống – mộtphương pháp lạc hậu so với nền giáo dục trên thế giới, bên cạnh đó một số sinh viên cótrình độ xuất sắc không đi theo nghề thầy giáo Mặt khác chương trìnhh học phổ thông của

ta còn nhiều giáo điều, xa rời thực tế, những bài thực hành chưa thực sự cuốn hút học sinhbởi chủ đề thực hành ít liên hệ thực tế hoặc thiếu phương tiện thực hành Bên cạnh đó,việc thi cử của nền giáo dục Việt Nam chưa bắt kịp với xu thế sư phạm hiện đại trên thếgiới Nếu đổi mới phương pháp không đi đôi với việc đổi mới việc kiểm tra, đánh giá họcsinh thì nền giáo dục của nước ta sẽ khó có thể thích nghi với nền giáo dục hiện đại trênthế giới

Trước tình hình đó, để nền giáo dục nước nhà bắt kịp xu thế của thời đại, thì mỗingười thầy phải luôn cố gắng học hỏi, tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm pháthuy tối đa tính chủ động, sáng tạo, tích cực của học sinh, phù hợp với năng lực của họcsinh, đồng thời đổi mối phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh Trong đó có việc đổi mớidạy học theo hướng tích hợp các môn khoa học cần phải phải được mỗi giáo viên thựchiện kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới mà nền giáo dục nước nhà đặt ra

Trang 16

B TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHỦ ĐỀ “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI – NGUỒN ĐIỆN”

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội và đời

sống của con người trong đó phải kể đến vai trò to lớn của nguồn năng lượng điện – điện

năng Cùng với sự phát triển của trí tuệ loài người thì nguồn nguyên liệu sản xuất điện

năng phong phú và đa dạng Tuy nhiên có một thực trạng là nguồn nhiên liệu hóa thạch

đang dần cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm do chính hoạt động con người gây ra

đã và đang ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của con người Để khắc phục tình

trạng này chúng ta cần phải sáng tạo ra những nguồn điện sản xuât dựa trên nguyên liệusạch, thân thiện với môi trường Chúng tôi chọn chủ đề “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI –NGUỒN ĐIỆN” để tổ chức dạy học tích hợp liên môn để hướng dẫn học sinh tìm hiểuthực trạng đó, từ đó giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ tài nguyên vàhướng đến việc tái sử dụng năng lượng thân thiện với môi trường Đồng thời kích thíchlòng yêu thích say mê nghiên cứu khoa học, phát triển sự sáng tạo của học sinh

II CƠ SỞ TÍCH HỢP

Môn Vật lý: Dòng điện không đổi - Nguồn điện; Dòng điện trong chất bán dẫn; Hiện

tượng quang điện trong - Quang trở - Pin quang điện; Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng;Máy phát điện một chiều, xoay chiều

Môn Hóa học: Sự điện li; Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li.

Môn Sinh học: Nguồn điện sinh học, hiện tượng quang hợp.

Môn Kĩ thuật công nghiệp: Giải thích các ứng dụng của quang điện trở qua các mạch

khuếch đại, mạch điều khiển; tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động và chế tạo nguồn

điện – pin Mặt trời

Môn kĩ thuật nông nghiệp: học sinh vận dụng kiến thức về cây trồng, phương pháp trồng

cây từ đó chế tạo nguồn điện sinh học

Môn Giáo dục công dân: giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Trang 17

Môn Địa lý: Tìm hiểu địa hình, khí hậu, kinh tế, xã hội, dân số, mật độ dân cư tại địa

phương nơi lắp đặt nguồn điện

Môn Tin học: học sinh ứng dụng công nghệ thông tin (internet, phần mềm powerpoint,

word, ) thiết kế sản phẩm nghiên cứu

Môn ngoại ngữ (tiếng anh): Vận dụng kiến thức đọc hiểu môn tiếng anh để tìm hiểu tài

liệu, tham gia nghiên cứu khoa học

III MỤC TIÊU

Học xong chủ đề này học sinh đạt được các mục tiêu sau:

1 Kiến thức:

*Kiến thức trọng tâm của bài học :

- Nêu được định nghĩa dòng điện, chiều quy ước của dòng điện, các tác dụng của dòngđiện khi chạy qua vật dẫn

- Phát biểu được định nghĩa và viết biể thức của cường độ dòng điện, định nghĩa dòng điệnkhông đổi

- Nêu được điều kiện để có dòng điện

- Phát biểu định nghĩa và viết được biểu thức tính suất điện động của nguồn điện Giảithích được sự tồn tại của suất điện động đó

- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của pin điện hóa và acquy

* Kiến thức liên hệ thực tiễn:

- Trình bày được vai trò quan trọng của năng lượng điện đối với đời sống, đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội; nêu được tình hình năng lượng điện của thế giới, tình trạng ô nhiễmmôi trường đang đe dọa sức khỏe và cuộc sống của con người Nêu được các biện pháp sửdụng an toàn và tiết kiệm điện

- Nhận thức được nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu toàn cầu

là do sản xuất và sử dụng năng lượng điện chưa hợp lí

- Nêu được những phương án sản xuất điện từ những nguồn năng lượng sạch (sinh học,gió, Mặt trời, sóng ) đang dần thay thế cho các nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạnkiệt và những nhiên liệu gây ô nhiễm môi trường

Trang 18

- Vận dụng kiến thức liên môn: vật lý, sinh học, công nghệ kỹ thuật, hóa học, ngoại ngữ để

thiết kế một nguồn điện từ nhiên liệu sạch phục vụ sinh hoạt hoặc sản suất.

2 Kĩ năng:

- Học sinh có kĩ năng tiến hành và quan sát thí nghiệm

- Vận dụng kiến thức của bài học giải thích được hiện tượng thực tế, trong nghiên cứu khoa học để thiết kế được một số nguồn điện từ nhiên liệu sạch

- Kĩ năng tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn, xử lí thông tin từ các dạng khácnhau (hình ảnh, bảng biểu, đồ thị,…) để rút ra kết luận (Về tầm quan trọng của năng lượngđiện, các hình thức và lĩnh vực sử dụng năng lượng điện, các nguồn năng lượng điện, sựcạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch, vấn đề môi trường sinh thái liên quan đến sảnxuất và sử dụng năng lượng điện, sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả,…

- Học sinh được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, trình bày và bảo vệ sản phẩm nghiên cứu khoa học trước tập thể

- Kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, nghiên cứu khoa học

+ Kiến thức vật lý: hiện tượng quang điện trong, chất bán dẫn khi nghiên cứu và thiết kếnguồn điện Pin Mặt trời; cảm ứng từ khi nghiên cứu và thiết kế máy phát điện sử dụngnhiên liệu gió, từ sự rơi dưới tác dụng của trọng lực, dinamo

+ Kiến thức môn hóa học: cứu các chất bán dẫn thông dụng dễ kiếm để chế tạo quang điệntrở hay pin quang điện; chất điện phân, sự phân li, phản ứng oxi hóa khử khi nghiên cứuhoạt động của pin, acquy và thiết kế nguồn điện từ chanh, nước muối

+ Kiến thức sinh học: hiện tượng quang hợp của cây xanh, phản ứng hóa học khi quanghợp khi nghiên cứu và thiết kế nguồn điện sinh học từ cây xanh

+ Biết sử dụng công nghệ thông tin: tìm kiếm thu thập thông tin qua mạng internet, kỹnăng sưu tầm, chọn lọc tài liệu, kỹ năng soạn powerpoint

+Kiến thức văn học: vận dụng những kĩ năng thuyết trình, giảng giải, giao tiếp khi giớithiệu sản phẩm, trình bày kiến thức hay một nghiên cứu khoa học

+Kiến thức môn kỹ thuật công nghiệp: tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động của máy phátđiện và từ đó thiết kế một nguồn điện phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất

Trang 19

+ Kiến thức môn ngoại ngữ (tiếng anh): Vận dụng kiến thức đọc hiểu môn tiếng anh đểtìm hiểu tài liệu, tham gia nghiên cứu khoa học.

+ Kiến thức kinh tế học: tính toán chi phí hợp lí nhất cho mỗi sản phẩm khoa học có thểđáp ứng được khả năng kinh thế của người sử dụng (người nghèo, dân tộc vùng cao, vùngsâu, vùng xa )

+ Kiến thức môn Địa lí: tìm hiểu đặc điểm địa lí, khí hậu, điều kiện kinh tế của địa phươngnơi có thể lắp đặt nguồn điện đã thiết kế

3 Thái độ:

Sau bài học, người học:

- Có ý thức và trách nhiệm phải bảo vệ môi trường, sử dụng an toàn và tiết kiệm nănglượng điện

- Những ứng dụng to lớn của vật lý trong đời sống, khoa học, kỹ thuật, từ đó thêm yêuthích môn vật lý

- Yêu thích, say mê sáng tạo và nghiên cứu khoa học

4 Năng lực:

Qua bài học, học sinh được phát triển các năng lực:

- Năng lực chuyên môn: học sinh vận dụng kiến thức liên môn (Lý, Hóa, Sinh, Kĩ thuậtcông nghiệp…) để giải quyết vấn đề, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, nghiên cứu khoahọc của học sinh

- Năng lực phương pháp: với mỗi vấn đề, học sinh lựa chọn và đưa ra phương pháp giảiquyết hợp lý, tối ưu nhất (lên kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ, tiến hành giảiquyết, trình bày kết quả)

- Năng lực xã hội: học sinh được làm việc theo nhóm, từ đó phát triển khả năng giao tiếp

và khả năng trình bày, bảo vệ ý kiến trước tập thể

- Năng lực cá nhân: học sinh có khả năng đánh giá kết quả học tập của cá nhân, có tinhthần trách nhiệm khi làm việc cùng nhóm, cùng tập thể

IV ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC

Thực hiện dạy cho học sinh lớp 11 nhóm học sinh yêu thích nghiên cứu khoa học

Ngày đăng: 15/07/2015, 12:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w