7. Phần 1: Tóm tắt đề tài. 3 1.1. Cấu trúc trình bài của đề tài; 3 1.2. Nội dung chính của đề tài; 3 1.3. Nội dung nổi bật, quan trọng nhất của đề tài. 3 Phần 2: 3 2.1. Giới thiệu đề tài. 3 2.1.1. Tên đề tài: 3 2.1.2. Nội dung giải quyết trong đề tài. 3 2.1.3. Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài. 3 2.1.3.1. Mục đích 3 2.1.3.2. Mục tiêu khi thực hiện đề tài. 3 2.2. Nội dung 3 2.2.1. Văn bản ngoại giao 3 2.2.1.1. Khái niệm 3 2.2.1.2. Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam 3 2.2.1.2.1. Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử 3 2.2.1.2.2. Các loại văn bản ngoại giao hiện hành 3 2.2.1.3. Đặc điểm của văn bản ngoại giao 3 2.2.1.4. Mục đích ban hành văn bản ngoại giao 3 2.2.2. Khái quát về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3 2.2.2.1. Đôi nét về Nguyễn Trãi 3 2.2.2.2. Tình hình Việt Nam thế kỉ XV 3 2.2.2.3. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3 2.2.2.4. Nội dung chính của “Quân trung từ mệnh Tập” 3 2.2.2.4.1. Tình yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù. 3 2.2.2.4.2. Sự nhận thức chính xác về chiều hướng thắng bại của ta. 3 2.2.2.4.3. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập”. 3 2.2.3. Phân tích giá trị Văn bản ngoại giao thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3 2.2.3.1. Tiêu chí để gọi “Quân trung từ mệnh Tập” là văn bản ngoại giao 3 2.2.3.2. So sánh Quân trung từ mệnh Tập với văn bản ngoại giao 3 2.2.3.3. Giá trị của “Quân trung từ mệnh tập” đối với Việt Nam thời đó 3 2.2.3.3.1. Tiêu đề chiến đấu rõ ràng “chính nghĩa nhất định thắng gian tà” 3 2.2.3.3.2. Biện pháp chiến đấu thích đáng và hiệu quả chiến đấu cao, đỡ hi sinh xương máu cho hai nước. 3 2.2.3.4. Giá trị ngoại giao của “Quân trung từ mệnh Tập” đối với Việt Nam 3 2.3 Kết luận 3 Tài liệu tham khảo: 3 Phần 1: Tóm tắt đề tài. 1.1. Cấu trúc trình bài của đề tài; Đề tài của nhóm được trình bày theo cấu trúc sau: Đầu tiên là phần mở đầu, tại đây nhóm sẽ nêu ra lý do thực hiện đề tài mà mục tiêu hướng đến là gì. Sau đó đi vào nội dung. Bắt đầu bằng khái niệm văn bản ngoại giao và phân loại các văn bản ngoại giao của Việt Nam, song song với đó là nêu lên đặc điểm của văn bản ngoại giao và mục đích của nó khi được ban hành là gì. Phần tiếp theo là nói về tác phầm “Quân trung từ mệnh tập”, tại đây, sẽ làm rõ những vấn đề như: tác giả, hoàn cảnh lịch sử, tác phẩm và nội dung chính của tác phẩm ví dụ như: lòng yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù, sự thức thời về địch và ta, và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và Lê Lợi. Tại phần cuối cùng, nhóm sẽ trình bày giá trị văn bản ngoại giao của tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”. Trong đó có các nội dung như: tiêu chí để gọi tác phẩm trên là văn bản ngoại giao, so sánh tác phẩm trên với văn bản ngoại giao, giá trị của tác phẩm này đối với Việt Nam xưa và nay. Và kết thúc đề tài bằng kết luận chung của toàn đề tài. 1.2. Nội dung chính của đề tài; Nội dung chính mà nhóm nhắm vào khi làm đề tài này đó là hiểu rõ văn bản ngoại giao là gì?, tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” nói như thế nào và kết hợp của hai vấn đề trên để cho ra giá trị nội dung nổi bật quan trọng nhất của đề tài. 1.3. Nội dung nổi bật, quan trọng nhất của đề tài. Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” Phần 2: 2.1. Giới thiệu đề tài. 2.1.1. Tên đề tài: Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”. 2.1.2. Nội dung giải quyết trong đề tài. 2.1.2.1. Văn bản ngoại giao 2.1.2.2. Khái quát tác phầm: “Quân trung từ mệnh tập” 2.1.2.3. Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” 2.1.3. Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài. 2.1.3.1. Mục đích Khi thực hiện đề tài này, mục đích đầu tiên mà nhóm nhắm tới đó chính là làm sáng tỏ nội dung trong “Quân trung từ mệnh tập”, đây là phần kiến thức lịch sử mà các thành viên trong nhóm nắm chưa vững. Tiếp đó là hiểu rõ được nghệ thuật quân sự, dụng nhân của Nguyễn Trãi và Lê Lợi thông qua hoàn cảnh lịch sử, phong cách ngoại giao khi làm việc với Trung Hoa. Nguyễn Trãi đã thể hiện được cái “thông thái” và “biết người biết ta” như thế nào mà đời sau luôn mến mộ. Và quan trọng nhất là làm rõ giá trị văn bản ngoại giao trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”. 2.1.3.2. Mục tiêu khi thực hiện đề tài. Trả lời được phần lớn nội dung mà nhóm đã định sẵn trước khi bắt tay vào thực hiện đề tài được nêu ở hần 2.1.3.1 bên trên. Trau dồi thêm kỹ năng và kiến thức về văn bản ngoại giao, áp dụng kiến thức học được vào cuộc sống và công việc tương lai, với nền tảng là sự linh hoạt và kiến thức lịch sử, ngoại giao của các vị tiền nhân truyền lại cho hậu thế. Học thêm nhiều kiến thức lịch sử khác mà có liên quan tới đề tài trong khi thực hiện. Ngoài ra còn có nhiều kỹ năng mềm như: xử lí nguồn thông tin, hoạt động nhóm, làm việc với Office và kỹ năng thuyết trình. 2.2. Nội dung 2.2.1. Văn bản ngoại giao 2.2.1.1. Khái niệm Văn bản ngoại giao là tất cả các loại văn bản hành chính, được sử dụng làm công cụ giao tiếp, trao đổi thông tin, ghi nhận thỏa thuận … giữa các bên trong hay ngoài nước để biết hoặc để cam kết thực hiện. 2.2.1.2. Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam 2.2.1.2.1. Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử Các loại văn bản ngoại giao đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Các loại văn bản ngoại giao về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Các nước và giao thương, văn hóa quốc tế. 2.2.1.2.2. Các loại văn bản ngoại giao hiện hành Các loại văn bản ngoại giao về chính trị, lãnh thổ,… Các loại văn bản ngoại giao về tư pháp, lãnh sự, kinh tế, thương mại. Các loại văn bản ngoại giao về lễ tân. 2.2.1.3. Đặc điểm của văn bản ngoại giao Là loại văn bản mang tính chuyên môn dùng trong công tác đối ngoại. Có hình thức đa dạng, nội dung phong phú đề cập đến nhiều vấn đề trong quan hệ đối ngoại: hiếu hỉ, nhân quyền, quan hệ song phương và đa phương…; Đều mang tính chính trị; Gửi và tiếp nhận văn bản đều mang tính đại diện (cho cơ quan, tổ chức hay quốc gia); Người gởi và nhận văn bản có thể không cùng quốc gia, phong tục, văn hóa, phong tục tập quán, quan điểm chính trị… Tính pháp lý và hiệu lực thi hành khác nhau: có văn bản cần phải kí kết hoặc không mà chỉ cần tuyên bố, thông báo hoặc ghi chép diễn biến; có văn bản mang tính bắt buộc thi hành nhưng cũng có những văn bản tùy thuộc vào sự tôn trọng của các bên; Việc ban hành văn bản có thể là đơn phương, song phương hoặc đa phương; Có bố cục chặt chẽ; lời văn, từ ngữ trau chuốt; quan hệ giao tiếp trong văn bản thường dùng ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba; ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Việt, tiếng nước sở tại (hay đang quan hệ) hoặc nước thứ ba; Nội dung và hình thức văn bản được quan tâm đặc biệt vì sẽ ảnh hưởng đến thể diện và quan hệ đối ngoại.
Trang 1Trường đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa: Lịch sử
Chuyên ngành: Quốc tế học
Bộ môn: Nghiệp vụ thư kí văn phòng ngoại giao.
Tên đề tài:
Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO trong tác phẩm
“Quân Trung từ mệnh tập” của tác giả Nguyễn Trãi.
Giảng viên hướng dẫn: Thầy NGUYỄN VĂN KẾT.
Nhóm sinh viên thực hiện: (họ và tên, MSSV, SĐT)
6 TRẦN NGỌC THẢO XUÂN K38.608.150
1
Trang 2Phần 1: Tóm tắt đề tài 3
1.1 Cấu trúc trình bài của đề tài; 3
1.2 Nội dung chính của đề tài; 3
1.3 Nội dung nổi bật, quan trọng nhất của đề tài 3
Phần 2: 3
2.1 Giới thiệu đề tài 3
2.1.1 Tên đề tài: 3
2.1.2 Nội dung giải quyết trong đề tài 3
2.1.3 Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài 3
2.1.3.1 Mục đích 3
2.1.3.2 Mục tiêu khi thực hiện đề tài 3
2.2 Nội dung 3
2.2.1 Văn bản ngoại giao 3
2.2.1.1 Khái niệm 3
2.2.1.2 Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam 3
2.2.1.2.1 Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử 3
2.2.1.2.2 Các loại văn bản ngoại giao hiện hành 3
2.2.1.3 Đặc điểm của văn bản ngoại giao 3
2.2.1.4 Mục đích ban hành văn bản ngoại giao 3
2.2.2 Khái quát về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3
2.2.2.1 Đôi nét về Nguyễn Trãi 3
2.2.2.2 Tình hình Việt Nam thế kỉ XV 3
2.2.2.3 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3
2.2.2.4 Nội dung chính của “Quân trung từ mệnh Tập” 3
2.2.2.4.1 Tình yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù 3
2.2.2.4.2 Sự nhận thức chính xác về chiều hướng thắng bại của ta 3
2.2.2.4.3 Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3
2.2.3 Phân tích giá trị Văn bản ngoại giao thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 3
2.2.3.1 Tiêu chí để gọi “Quân trung từ mệnh Tập” là văn bản ngoại giao 3
2.2.3.2 So sánh Quân trung từ mệnh Tập với văn bản ngoại giao 3
2.2.3.3 Giá trị của “Quân trung từ mệnh tập” đối với Việt Nam thời đó 3
2.2.3.3.1 Tiêu đề chiến đấu rõ ràng “chính nghĩa nhất định thắng gian tà” 3
2
Trang 32.2.3.3.2 Biện pháp chiến đấu thích đáng và hiệu quả chiến đấu cao, đỡ hi sinh xương máu cho hai
nước 3
2.2.3.4 Giá trị ngoại giao của “Quân trung từ mệnh Tập” đối với Việt Nam 3
2.3 Kết luận 3
Tài liệu tham khảo: 3
3
Trang 4Phần 1: Tóm tắt đề tài.
1.1 Cấu trúc trình bài của đề tài;
Đề tài của nhóm được trình bày theo cấu trúc sau:
Đầu tiên là phần mở đầu, tại đây nhóm sẽ nêu ra lý do thực hiện đề tài mà mục tiêu hướng đến là gì.Sau đó đi vào nội dung
Bắt đầu bằng khái niệm văn bản ngoại giao và phân loại các văn bản ngoại giao của Việt Nam, song song với đó là nêu lên đặc điểm của văn bản ngoại giao và mục đích của nó khi được ban hành là gì
Phần tiếp theo là nói về tác phầm “Quân trung từ mệnh tập”, tại đây, sẽ làm rõ những vấn đề như:
tác giả, hoàn cảnh lịch sử, tác phẩm và nội dung chính của tác phẩm ví dụ như: lòng yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù, sự thức thời về địch và ta, và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và Lê Lợi
Tại phần cuối cùng, nhóm sẽ trình bày giá trị văn bản ngoại giao của tác phẩm “Quân trung từ mệnh
tập” Trong đó có các nội dung như: tiêu chí để gọi tác phẩm trên là văn bản ngoại giao, so sánh tác
phẩm trên với văn bản ngoại giao, giá trị của tác phẩm này đối với Việt Nam xưa và nay
Và kết thúc đề tài bằng kết luận chung của toàn đề tài
1.2 Nội dung chính của đề tài;
Nội dung chính mà nhóm nhắm vào khi làm đề tài này đó là hiểu rõ văn bản ngoại giao là gì?, tác
phẩm “Quân trung từ mệnh tập” nói như thế nào và kết hợp của hai vấn đề trên để cho ra giá trị nội
dung nổi bật quan trọng nhất của đề tài
1.3 Nội dung nổi bật, quan trọng nhất của đề tài.
Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”
Phần 2:
2.1 Giới thiệu đề tài.
2.1.1 Tên đề tài:
Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”.
2.1.2 Nội dung giải quyết trong đề tài.
2.1.2.1 Văn bản ngoại giao
2.1.2.2 Khái quát tác phầm: “Quân trung từ mệnh tập”
2.1.2.3 Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”
4
Trang 52.1.3 Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài.
2.1.3.1 Mục đích
Khi thực hiện đề tài này, mục đích đầu tiên mà nhóm nhắm tới đó chính là làm sáng tỏ nội dung
trong “Quân trung từ mệnh tập”, đây là phần kiến thức lịch sử mà các thành viên trong nhóm nắm
chưa vững
Tiếp đó là hiểu rõ được nghệ thuật quân sự, dụng nhân của Nguyễn Trãi và Lê Lợi thông qua hoàn cảnh lịch sử, phong cách ngoại giao khi làm việc với Trung Hoa Nguyễn Trãi đã thể hiện được cái
“thông thái” và “biết người biết ta” như thế nào mà đời sau luôn mến mộ.
Và quan trọng nhất là làm rõ giá trị văn bản ngoại giao trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”.
2.1.3.2 Mục tiêu khi thực hiện đề tài.
Trả lời được phần lớn nội dung mà nhóm đã định sẵn trước khi bắt tay vào thực hiện đề tài được nêuở hần 2.1.3.1 bên trên
Trau dồi thêm kỹ năng và kiến thức về văn bản ngoại giao, áp dụng kiến thức học được vào cuộc sống và công việc tương lai, với nền tảng là sự linh hoạt và kiến thức lịch sử, ngoại giao của các vị tiền nhân truyền lại cho hậu thế
Học thêm nhiều kiến thức lịch sử khác mà có liên quan tới đề tài trong khi thực hiện
Ngoài ra còn có nhiều kỹ năng mềm như: xử lí nguồn thông tin, hoạt động nhóm, làm việc với Office và kỹ năng thuyết trình
2.2.1.2 Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam
2.2.1.2.1 Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử
- Các loại văn bản ngoại giao đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
- Các loại văn bản ngoại giao về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Các nước và giao thương, vănhóa quốc tế
2.2.1.2.2 Các loại văn bản ngoại giao hiện hành
- Các loại văn bản ngoại giao về chính trị, lãnh thổ,…
- Các loại văn bản ngoại giao về tư pháp, lãnh sự, kinh tế, thương mại
- Các loại văn bản ngoại giao về lễ tân
5
Trang 62.2.1.3 Đặc điểm của văn bản ngoại giao
- Là loại văn bản mang tính chuyên môn dùng trong công tác đối ngoại
- Có hình thức đa dạng, nội dung phong phú đề cập đến nhiều vấn đề trong quan hệ đối ngoại: hiếu
hỉ, nhân quyền, quan hệ song phương và đa phương…;
- Đều mang tính chính trị;
- Gửi và tiếp nhận văn bản đều mang tính đại diện (cho cơ quan, tổ chức hay quốc gia);
- Người gởi và nhận văn bản có thể không cùng quốc gia, phong tục, văn hóa, phong tục tập quán,quan điểm chính trị…
- Tính pháp lý và hiệu lực thi hành khác nhau: có văn bản cần phải kí kết hoặc không mà chỉ cầntuyên bố, thông báo hoặc ghi chép diễn biến; có văn bản mang tính bắt buộc thi hành nhưng cũngcó những văn bản tùy thuộc vào sự tôn trọng của các bên;
- Việc ban hành văn bản có thể là đơn phương, song phương hoặc đa phương;
- Có bố cục chặt chẽ; lời văn, từ ngữ trau chuốt; quan hệ giao tiếp trong văn bản thường dùng ngôithứ nhất và ngôi thứ ba; ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Việt, tiếng nước sở tại (hay đang quan hệ)hoặc nước thứ ba;
- Nội dung và hình thức văn bản được quan tâm đặc biệt vì sẽ ảnh hưởng đến thể diện và quan hệđối ngoại
2.2.1.4 Mục đích ban hành văn bản ngoại giao
- Dùng để thiết lập, duy trì mối quan hệ giữa các đối tác;
- Trao đổi thông tin;
- Thể hiện quan điểm, đường lối, chủ trương…;
- Thỏa thuận về một vấn đề trong quan hệ song phương hoặc đa phương…
2.2.2 Khái quát về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập”
2.2.2.1 Đôi nét về Nguyễn Trãi
a Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp
- Nguyễn Trãi sinh năm 1380 ở Thăng Long Quê ở Nhị Khê, Hà Tĩnh, là cháu ngoại của quan Tưđồ Trần Nguyên Đán
- Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta, chúng tìm mọi cách dụ dỗ ông theo chúng nhưngNguyễn Trãi nhất mực cự tuyệt
- Sau một thời gian dài bị quân Minh nhốt ở Đông Quan, Nguyễn Trãi thoát được và theo Lê Lợikhởi nghĩa, ông chính là người soạn ra Bình Ngô sách Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm đã chứng tỏđược đường lối ngoại giao hết sức khôn khéo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi
6
Trang 7- Sau khi Lê Lợi lên ngôi vua thì một thời gian sau Nguyễn Trãi xin cáo lão, sống ẩn cư nhưng sónggió vẫn đổ ập lên ông và thân tộc với oan án Lệ Chi Viên 1442, mãi đến 1464 mới được vua LêThánh Tông hạ chiếu minh oan cho ông.
Ta thấy được Nguyễn Trãi sống trong một thời đại đầy biến động, chính những biến động đó đã tôiluyện nên một người anh hùng, một quân sư, một nhà thơ lớn của dân tộc
- Ngoài sự nghiệp chính trị thì sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi cũng khiến người đời sau phải
ngưỡng mộ, ông chính là tác giả của Bình Ngô đại cáo- một tác phẩm được xem như là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, hay là một số tác phẩm khác như Bình Ngô sách, Quốc âm thi tập,
Ức trai thi tập,
2.2.2.2 Tình hình Việt Nam thế kỉ XV
a Cuộc xâm lược của nhà Minh và sự thất bại của nhà Hồ
- Tháng 11/1406 lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh huy động một lực lượng lớn gồm 20vạn quân cùng với hàng chục vạn quân phu do tướng Trương Phụ cầm đầu đã tràn vào biên giớinước ta
- Ngày 22/1/1407 sau khi đánh bại quân nhà Hồ ở Đa Bang, quân Minh chiếm Đông Đô – ThăngLong Quân nhà Hồ lui về cố thủ ở Tây Đô
- Tháng 4/1407 quân Minh tấn công vào Tây Đô, Hồ Qúy Ly chạy vào Hà Tĩnh và bị bắt vào tháng6/1407
b Sự đô hộ của nhà Minh ở nước ta
Chính sách đô hộ phong kiến vô cùng độc ác và dã man: thực hiện chính sách vơ vét triệt để, chínhquyền tăng thuế ruộng đất, tất cả các ngành buôn bán đều bị đánh thuế; nhiều phụ nữ, trẻ em, dânphu, đào hát bị bắt đem về Trung Quốc; thủ tiêu quá khứ, thủ tiêu lịch sử, thủ tiêu văn hóa; cướpruộng đất, biến ruộng đất thành đồn điền; chia rẻ dân tộc và đàn áp tàn bạo các phong trào Hai mươinăm đô hộ của nhà Minh làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, nhân dân rơi vào cùng cực, đất nước rơivào thời kỳ khủng hoảng
c Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427)
- Trong bối cảnh khó khăn, nhiều cuộc nổi dậy chống quân Minh đều bị thất bại Đầu năm 1416 Bộchỉ huy cuộc khởi nghĩa được thành lập ở Lũng Nhai gồm 19 người, đây là tiền đề bước đầu chocuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau này
- Ngày 7/2/1418 Lê Lợi dựng cờ Khởi nghĩa Lam Sơn, những năm đầu lực lượng còn yếu nên hay bịđàn áp
- Cuối năm 1421 nhà Minh huy động 10 vạn quân càn quyét nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi tạm hoãnphong trào, quân Minh dụ hòa Lê Lợi để làm nhụt chí nghĩa quân
7
Trang 8- Những năm 1424 – 1426, Nghĩa quân giải phóng Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và tiến quân raBắc Đến năm 1427 cuộc khởi nghĩa kết thúc hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 20 năm đô hộ của nhàMinh ở nước ta.
Sau khi nắm quyền lực, nhà Minh luôn có ý định xâm lược nước ta Sau nhiều lần do thám thì đếnnăm 1406 nhà Minh chính thức xâm lược nước ta Từ năm 1407 nước ta bị nhà Minh đô hộ, nhândân cơ cực, lầm than dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng đều gặp thất bại Trong bối cảnhđó Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa Lam Sơn và năm 1418, trãi qua nhiều khó khăn, gian khổ và đếnnăm 1427 cuộc khởi nghĩa hoàn toàn giành thắng lợi
2.2.2.3 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập”
Quân trung từ mệnh tập là tập sách gồm những thư từ do Nguyễn Trãi viết cho các tướng lĩnh quân
Minh như Sơn Thọ, Phương Chính, Thái Phúc, Vương Thông, Và viết cho bọn Việt gian ĐỗTrung, Lương Nhữ Hốt Ngay sau khi Nguyễn Trãi cùng gia tộc bị tru di, những thư từ nói trên cũngkhông còn nữa Đến năm 1480 sau khi Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, TrầnKhắc Kiệm mới sưu tầm những thư từ của Nguyễn Trãi viết cho quân Minh từ khoảng năm 1423 –
1427 Quân trung từ mệnh tập còn lại đến nay chỉ có 46 bài trong đó có một “tờ tấu cầu phong”, một tờ “chiếu khuyến dụ hào kiệt” và một “tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần”.
Có thể nói phần lớn các tư tưởng triết học, chính trị, quân sự của Nguyễn Trãi đã nói lên khá cụ thể
trong “Quân trung từ mệnh tập” Toàn bộ tập văn sắc sảo này như một cái thòng lọng vô hình mà
mỗi bức thư là một cái nút Cái thòng lọng vô hình ấy trải qua thời gian diễn biến theo mặt trận quânsự mà quấn chặt dần quanh cái cổ tham vọng bá quyền của quân giặc
Sở dĩ “Quân trung từ mệnh tập” không bị xóa mờ bởi thời gian là vì nó cũng là một “giá trị chân
chính”, một “cống hiến thật quý cho thời đại và con người” Đó là một tập thư “địch vận” củaNguyễn Trãi gởi cho giặc Minh, một tập thư mang tiếng nói anh hùng của cả một thời đại chốngngoại xâm, giải phóng dân tộc Đó là tấm gương phản chiếu một cách trung thực những đoạn đườngđầy gian nan nhưng cũng đầy triển vọng của nghĩa quân, và những chặng đường bại vong nhục nhãcủa quân địch Xuyên qua nội dung tác phẩm, không những ta thấy được chủ trương, đường lốichiến thuật và chiến lược của nghĩa quân Lam Sơn mà đồng thời cũng thấy được cái tình cảm yêunước thương dân nồng cháy, cái tư tưởng nhân nghĩa chói lòa, cái ý chí giải phóng dân tộc thiết thacủa người anh hùng Nguyễn Trãi
2.2.2.4 Nội dung chính của “Quân trung từ mệnh Tập”
2.2.2.4.1 Tình yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù.
Những bức thư mà Nguyễn Trãi viết cho kẻ địch không phải chỉ là những điều suy nghiệm thuần lítrí mà còn ẩn chứa những tình cảm cháy bỏng, tha thiết với đất nước, nhân dân Việt Nam Dù rằngtrong tập văn luận chiến, lí lẽ là chủ đạo, phương pháp lập luận là quan trọng nhưng thấm trongtừng câu văn Ức Trai là một ước vọng quật ngã kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập tự do cho đấtnước Với Nguyễn Trãi, yêu nước trước hết là nỗi thương xót muôn dân phải chịu cảnh đọa đầy dưới
sự thống trị hà khắc của quân giặc Trong nhiều trang thư, ông đã thống thiết nói lên điều đó: “
Song không làm cho nước đã diệt được phục hưng, dòng đã tuyệt được kế nối, mà lại muốn cùng
8
Trang 9binh độc vũ, khiến người vô tội liền năm thiệt mạng dưới gươm đao, dân hiền lành liền năm dầm gan ở ngoài nội cỏ Lẽ nào bụng dạ bực nhân nhân quân tử lại như thế ư?” 1 Những câu hỏi ông đặt
ra cho người đối diện, kẻ nắm giữ biết bao sinh mạng con người như xoáy sâu vào tâm can y, khiến
y không thể thờ ơ: “Nước các ngươi trước đây nhân khi họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng thương dân
đánh kẻ có tội, kì thực làm việc bạo tàn, lấn cướp nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn nơi làng quê không được sống yên Lòng nhân nghĩa mà lại thế
là một nhà quân sự, chính trị, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn Chính vì thế, yêunước với ông còn là niềm tự hào về giá trị văn hiến vững bền của dân tộc Sang xâm chiếm nước ta,giặc Minh đã tàn bạo thi hành rất nhiều chính sách nhằm đồng hóa dân tộc ta, đốt phá mọi của cảivăn hóa, tinh thần của người Việt Nam ta.Vì thế ta phải khẳng định rõ ràng với chúng rằng trình độvăn minh của ta không thua kém gì bọn chúng và dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền văn hiến ấy đếncùng Nguyễn Trãi đặc biệt nhấn mạnh đến truyền thống văn hóa tinh thần riêng biệt của Đại Việt,
độc lập với nền văn hóa Trung Quốc Trong thư dụ hàng thành Bắc Giang ông khẳng định: “Nước
An Nam ta tuy xa ở ngoài Ngũ Lĩnh mà danh tiếng là nước thi thư Những bậc trí mưu tài thức chẳng đời nào thiếu vắng”3 Ý định dập vùi mọi truyền thống tốt đẹp của nước ta thực sự chỉ là ảotưởng của quân giặc mà thôi Nền văn hiến của dân tộc ta không chỉ được khẳng định qua nhữnglời Nguyễn Trãi nói trong thư mà còn được khẳng định qua chính những gì mà nghĩa quân Lam Sơnvà Nguyễn Trãi thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh chống xâm lược Đó chính là vẻ đẹp của nhữngcon người dũng cảm, kiên cường nhưng cũng rất khoan dung, nhân ái Họ thông minh và cũng rấthiền hòa Họ biết trọng chữ “tín”, biết đem tấm lòng thành thực đáp lại với thành thực, biết yêuchuộng hòa bình, biết tự hào về truyền thống đấu tranh quật cường của dân tộc
Tấm lòng yêu nước của Nguyễn Trãi trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm không thể khônggắn với việc tố cáo tội ác của giặc Nguyễn Trãi đã đem đối lập giữa cái đẹp của dân tộc ta với cáixấu xa của quân địch, cái nhân nghĩa sáng ngời của ta với cái phản nhân nghĩa của chúng, cái tínnghĩa mà ta thực hiện với cái bất tín mà chúng đã làm, cái chân thành, cao thượng của ta với cái giảtrá, thấp hèn của chúng…Ý nghĩa tố cáo kẻ thù nhờ thế càng thêm sắc cạnh, thêm đanh thép, thêmhùng hồn
Ngay từ bức thư mở đầu, dưới danh nghĩa là thư xin hàng, bằng giọng văn mang tính phân trần, kể
lể Nguyễn Trãi đã chất vào đó nỗi căm hờn oán giận về tội ác quân giặc gây ra đối với dân ta: “Nhữ
Hốt liền báo với quan quản binh cùng nội quan Mã Kỳ, vô cớ dẫn quân đến đánh úp bọn chúng tôi, chẳng kể trẻ hay già đều bị chém giết bắt bớ Họ hàng tôi tan tác, vợ con tôi chia lìa Lại khai quật
mồ mả cha ông tôi mà phơi bày hài cốt”4 Lời tạ tội cũng đồng thời là lời buộc tội giặc Minh từ tođến nhỏ
1 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”
2 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”
3 Trích: “Thư dụ thành Bắc Giang”
4 Trích: “Thư xin hàng”
9
Trang 10Cùng với thời gian, lực lượng nghĩa quân ngày một lớn mạnh, những cuộc đối đầu với kẻ thù do họchủ động đưa lại kết quả nhiều hơn, liên tiếp hơn, thì những lời buộc tội của Nguyễn Trãi trong thư
từ gửi cho tướng giặc cũng thêm phần cứng rắn, quyết liệt hơn: “Bớ nghịch tặc Phương Chính Kể
đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy trí dũng làm vốn Nay bọn bay chỉ chuộng lừa dối, bắt giết kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương là cớ làm sao?”5
Với Nguyễn Trãi, mỗi tên tướng tá, quan lại giặc Minh hiện ra, không phải chỉ là hình ảnh riêng củacá nhân hắn mà còn có ý nghĩa tượng trưng cho cả tập đoàn chủ tớ của đội quân xâm lăng Nguyễn
Trãi mượn tiếng chửi một tên để lên án cả bọn vua tôi nhà Minh: “Nước các ngươi trước đây nhân
khi họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng thương dân đánh kẻ có tội, kỳ thực làm việc bạo tàn.” 6 Tất nhiên,
không vì yêu cầu tố cáo tội ác chung của cả bọn mà người viết bỏ quên hành vi cụ thể của từng tên.Dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, bộ mặt tàn ác đủ vẻ của chúng đều bị phơi bày: Phương Chính thì
cực kì bất nhân, bất nghĩa, giết chóc không ghê tay, nhưng khi thất thế lại “đóng thành bền giữ như
mụ già”; Vương Thông, vừa đa nghi vừa do dự, không biết giữ chữ tín, mưu kế gian trá “ngoài nói giảng hòa mà trong lại mưu kế khác”, Liễu Thăng hữu dũng vô mưu hung ác nhưng lại kiêu căng,
không biết mình biết người
Có thể nói, bao nhiêu bức thư là bấy nhiêu cách Nguyễn Trãi bêu riếu kẻ thù Ông hạ uy thế củachúng bằng cách gieo vào lòng chúng những nghi ngờ về thực chất của tài năng, nhân cách, đạonghĩa, lí tưởng hành động, chiến đấu… của chính chúng Những lời tố cáo của ông rõ ràng mangtính chân thực và tính khái quát cao độ Nó thể hiện một tinh thần yêu nước thiết tha và ý chí quyếttâm chiến đấu đến cùng để giành độc lập cho dân tộc
2.2.2.4.2 Sự nhận thức chính xác về chiều hướng thắng bại của ta.
Từ sự thấu suốt của mình đối với diễn biến của cuộc chiến, Nguyễn Trãi đã đưa ra hàng loạt nhữngluận điểm khẳng định nhận thức đúng đắn của ông về xu thế tất thắng của ta, tất bại của địch Đó cũng chính là điểm mấu chốt làm chỗ tựa cho Ức Trai trong hầu hết các lập luận của ông nhằm
dụ hàng kẻ địch Trong rất nhiều bức thư, ông chỉ rõ tầm quan trọng của việc nắm được thời cơ.Thời, theo Nguyễn Trãi chính là xu thế tất yếu của lịch sử, là một vấn đề của hiện thực khách quanvà con người sáng suốt, thông minh là người có con mắt nhìn thấu những biến chuyển bên trong
của sự vật Nghĩa là phải “thông biến” Để thuyết phục địch có lúc Nguyễn Trãi đứng về phía quyền
lợi chính đáng của tướng Minh mà bàn bạc phải trái, vạch cho chúng con đường đi đúng đắn Ông
hay nhắc đến chữ thời và chữ thế Viết cho Vương Thông, ông nói: “Tôi từng nghe nói Kinh Dịch có
ba trăm tám mươi tư hào, mà cốt yếu ở chữ “Thời” Cho nên người quân tử tùy theo thời thế mà
ứng biến Chữ “Thời” có ý nghĩa to tát làm sao! Ngày trước khi mới sang đánh Giao Chỉ, Tướng
quân vâng mệnh đi đánh kẻ có tội, bấy giờ là một thời vậy
Ngày nay vận trời tuần hoàn, không có gì đi rồi mà không quay trở lại… Bảo là tùy thời ứng biến,
chính là ở chỗ phải lo liệu từ sớm.” (Lại thư dụ Vương Thông) “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ
5 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”.
6 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”.
10
Trang 11biết rõ thời thế mà thôi Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời thất thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại chuyển nguy Sự thay đổi ấy chỉ trong khoảnh khắc trở bàn tay mà thôi” “Tôi nghe: Cái điều đáng quý ở người tuấn kiệt là ở chỗ biết thời thế, hiểu sự biến mà thôi”7.
Phân tích thời và thế, Nguyễn Trãi nêu rõ rằng, lúc trước khác, bây giờ khác Lúc trước quân Minhmượn danh diệt nhà Hồ là kẻ cướp ngôi, phục hồi nhà Trần là triều đại chính thống cho nên tạmthời có thể thành công
Bây giờ ở lại chiếm đóng, thống trị, vơ vét, bóc lột lại là một việc làm phi nghĩa để mất lòng dân.Cho nên nếu không sớm rút lui sẽ bị tiêu diệt Lúc trước, quân Lam Sơn còn ở thế yếu mà quânMinh còn chẳng làm gì nổi nữa là bây giờ quân Lam Sơn đã có phần lớn đất đai Hơn nữa, binh línhtrong quân Minh lại chán nản, nhiều nơi đã đầu hàng Nếu còn ngoan cố, trì hoãn không chịu rútquân thế tất thua to Đó là nội dung các bức thư gửi cho Vương Thông khi viên tướng này tuy còncó nhiều quân nhưng đã nao núng Nguyễn Trãi nhận xét tình hình và tính toán hộ tướng giặc như
sau: “Nay tính hộ các ông thì có sáu điều phải thua Nước lũ mùa hạ chảy tràn, cầu sàn, rào lũy sụp
lở, củi cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm Đó là điều phải thua thứ nhất Xưa Đường Thái Tôn bắt Kiến Đức mà Thế Sung phải ra hàng Nay các con đường, cửa ải xa xôi hiểm trở đều bị binh lính và voi chiến của tôi đồn giữ, nếu viện binh có đến, thì cũng muôn phần tất phải thua; viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt Đó là điều phải thua thứ hai Quân mạnh ngựa khỏe nay đều đóng cả
ở biên giới phía Bắc để phòng bị quân Nguyên, không rỗi nhìn đến miền Nam Đó là điều phải thua thứ ba Luôn luôn động binh đao, liên tiếp bày đánh dẹp, dân sống không yên, nhao nhao thất vọng Đó là điều phải thua thứ tư Gian thần chuyên chính, bạo chúa giữ ngôi, người cốt nhục hại nhau, chốn cung đình sinh biến Đó là điều phải thua thứ năm Nay tôi dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc Còn quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt, tự chuốc bại vong Đó là điều phải thua thứ sáu” 8.Một mặt vạch con đường sáng cho tướng giặc, một mặt Nguyễn Trãi lại nêu cái lẽ tùy thời thôngbiến cho tướng giặc có thể dựa vào đó để rút quân mà bớt xấu hổ Đó cũng là một cách thông cảm
với sĩ diện của tướng sĩ “Thiên triều” Ông viết: “Nay trộm tính giùm các ông, chẳng gì bằng cùng
Thái Đô đốc đem quân về nước là hơn cả… Kinh Dịch có câu: “Cùng thì biến, biến thì thông” Các ông không nghĩ đến điều đó, lại cứ khư khư ôm giữ cái tiểu tiết của Trương Tuần, Hứa Viễn, ta e sĩ tốt của các ông ngày đêm thiết tha mong về, lại thêm cơm cháo chẳng no, bệnh tật lây lan, dẫu ông muốn đánh với giữ, đã dễ ai theo”9 Từ lí lẽ cho đến thái độ, những bức thư của Nguyễn Trãi đều cósức thuyết phục mạnh mẽ
Nguyễn Trãi rất chú ý đến đối tượng, đến kẻ đọc thư của mình Đối với những tên ra mặt hung hăngnhư Phương Chính, Mã Kỳ thì từ cách xưng hô cho đến nội dung và lời văn thường có tính chất đảkích không thương tiếc Trái lại đối với những hạng người có thể tranh thủ được như Thái Phúc vàtướng sĩ cấp dưới, thì từ cách xưng hô cho đến nội dung và lời văn đều có tính chất ôn tồn trọng
7 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”.
8 Trích: “Lại thư dụ Vương Thông”
9 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”.
11