Một số mô hình toán tài chính nổi tiếng như: “Mô hình về định giá các tài sản vốn” của W.Sharpe 1964, mô hình Markowitz, mô hình Black – Scholes, mô hình khuếch tán… Tại Việt Nam,nền côn
Trang 1-
NGUYỄN VĂN TRÁNG
ĐẦU TƯ TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH VỚI NHIỀU TÀI SẢN
RỦI RO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2
-
NGUYỄN VĂN TRÁNG
ĐẦU TƯ TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH VỚI NHIỀU TÀI SẢN RỦI RO
Chuyên ngành: Lý thuyết xác suất và thống kê toán học
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ SỞ TRONG TOÁN
TÀI CHÍNH 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản về thị trường tài chính 5
1.1.1.Cấu trúc của thị trường tài chính 5
1.1.2.Mô hình động của giá các loại cổ phiếu và trái phiếu 8
1.1.3.Bài toán phân bổ vốn đầu tư, tính chất không cơ lợi và tính đầy đủ của một thị trường tài chính 10
1.2. Một số khái niệm xác suất trong toán tài chính 14
1.2.1. Quá trình ngẫu nhiên với thời gian liên tục 14
1.2.2. Quá trình chuyển động Brown 16
1.2.3. Martingale với thời gian liên tục 17
1.2.4. Vi phân ngẫu nhiên Itô và công thức Itô 19
CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH ………21
2.1. Mô hình 21
2.1.1. Thị trường vốn 21
2.1.2. Bài toán của nhà đầu tư. 21
2.2. Chính sách tối ưu trong trường hợp không có chi phí giao dịch 23 2.3. Các trường hợp riêng. 25
2.3.1. Trường hợp chỉ có chi phí giao dịch tỉ lệ. 25
2.3.2. Trường hợp chỉ có chi phí giao dịch cố định. 32
Trang 42.6. Phân tích các chính sách tối ưu 69
2.6.1. Các giới hạn tối ưu. 70
2.6.2. Tần số giao dịch 74
2.6.3. Lượng tiền trung bình đầu tư vào cổ phiếu. 81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT MỞ RỘNG 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, đó là nơi diễn ra các hoạt động mua bán những sản phẩm phát hành bởi những cơ sở tài chính như: các công ty, nhà xưởng, ngân hàng, nhà nước…Sự xuất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn trong nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn. Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn. Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các hình thức huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ…-
Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán. Và từ
đó xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu của các loại chứng khoán khác nhau. Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài chính. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Toán học tài chính (Financial mathematics) ra đời hơn 100 năm nay, nhưng đặc biệt phát triển trong thời gian gần đây và ngày càng tỏ ra hữu ích trong thực tiễn đời sống kinh tế của các quốc gia. Nó là một ngành ứng dụng toán học để nghiên cứu thị trường tài chính nhằm phân tích một cách khoa học những sự kiện tăng trưởng, rủi ro, lạm phát, khủng hoảng tài chính, bảo hiểm,
Trang 6tế khác nhau. Hiện nay chúng ta đang chứng kiến một sự cộng tác chặt chẽ giữa các nhà toán học, các nhà kinh tế và các nhà tài chính trong việc ứng dụng các thành tựu toán học hiện đại vào việc nghiên cứu các mô hình kinh
tế, phân tích và thấu hiểu các quy luật chi phối các hoạt động kinh tế, từ đó có những hành động và quyết sách hợp với quy luật. Một số mô hình toán tài chính nổi tiếng như: “Mô hình về định giá các tài sản vốn” của W.Sharpe (1964), mô hình Markowitz, mô hình Black – Scholes, mô hình khuếch tán… Tại Việt Nam,nền công nghiệp tài chính đã có nhiều thành tựu và việc ra đời của thị trường chứng khoán đòi hỏi các nhà quản lý phải có những hiểu biết sâu sắc về các hoạt động cũng như các quy luật chi phối thị trường đó.Toán học tài chính sẽ là công cụ không thể thiếu để các chuyên gia kinh tế
và tài chính điều hành hữu hiệu mọi hoạt động của thị trường này.
Trước đây, các nhà toán học nghiên cứu các mô hình theo kiểu ghép giá và chi phí giao dịch vào làm một. Tức là chi phí giao dịch đã bị tính lẫn vào giá. Tuy nhiên chi phí giao dịch có tính cố định và đã biết còn giá có tính ngẫu nhiên nên điều này dẫn đến việc ghép những thông tin đã biết vào cái chưa biết làm thông tin bị đánh mất. Bây giờ chi phí giao dịch được biết trước nên cần tách riêng chúng ra. Luận văn này làm về một mô hình có tính đến chi phí giao dịch như vậy. Đây là một mô hình giúp ta đưa ra kết quả sâu sắc và xác thực cho bài toán tài chính có tính đến chi phí giao dịch.
Với việc nghiên cứu như vậy cấu trúc luận văn như sau:
Chương I : Kiến thức cơ sở về toán tài chính
Chương này nhằm trình bày những khái niệm cơ bản về thị trường tài chính, các bộ phận tạo nên thị trường tài chính và lý thuyết hiện đại về toán học ngày nay được áp dụng trong thị trường tài chính. Ngoài ra còn giới thiệu một số
Trang 7Chương II : Đầu tư tối ưu trong trường hợp có chi phí giao dịch Chương này dành cho việc xây dựng một mô hình toán tài chính để giải quyết bài toán đầu tư và tiêu thụ tối ưu với thời gian liên tục cho một nhà đầu
tư phải chịu cả hai loại chi phí giao dịch là: chi phí giao dịch cố định (Constant Absolute Risk Aversion(CARA)) và chi phí giao dịch tỉ lệ (Constant Relative Risk Aversion(CRRA)) trong việc giao dịch (n+1) tài sản bao gồm một tài sản không rủi ro (gọi là trái phiếu(Bond)) và n tài sản rủi ro (gọi là cổ phiếu(Stoke))(n 1). Với mục đích so sánh, trước tiên chúng ta sẽ trình bày một số kết quả về chính sách đầu tư tối ưu trong trường hợp không
có chi phi giao dịch. Tiếp đến ta xét trường hợp chỉ có một loại chi phí giao dịch là chi phí giao dịch tỉ lệ hoặc chi phí giao dịch cố định. Sau cùng chúng
ta trình bày các kết quả về chính sách đầu tư tối ưu trong trường hợp có cả chi phí giao dịch cố định và chi phí tỉ lệ để từ đó đưa ra những phân tích tổng quan nhất cho các chính sách tối ưu trong đầu tư.
Trong nghiên cứu này, kết quả đầu tiên mà chúng ta tìm ra được là chính sách giao dịch tối ưu trong trường hợp nhiều loại tài sản rủi ro phải chịu các chi phí giao dịch cố định và lợi suất của các tài sản rủi ro không tương quan (lợi suất tài sản không tương quan nên chúng ta có thể tách những tính toán
về các loại tài sản rủi ro thành phép tính cho mỗi loại tài sản riêng biệt). Khi
đó chính sách đầu tư tối ưu với mỗi tài sản rủi ro đó là nhà đầu tư giữ lượng vốn đầu tư vào tài sản giữa hai mức cố định đó là hai hằng số mà ta có thể tính toán bằng một công thức rõ ràng. Khi lượng vốn này đạt đến một trong hai ngưỡng nhà đầu tư sẽ giao dịch để đạt mục tiêu tối ưu.
Trang 8Đóng góp thứ hai của nghiên cứu này đó là chúng ta sẽ tiến hành phân tích tổng quan chiến lược kinh doanh tối ưu. Chúng ta cung cấp được một cách thức đơn giản để tính toán các giới hạn của miền không giao dịch và giới hạn mục tiêu. Chúng ta sẽ phân tích những ảnh hưởng của sự ác cảm rủi ro, phí rủi ro và tính dễ biến động trên miền không giao dịch, lượng tiền mục tiêu và tần số giao dịch. Chúng ta cũng rút ra được dạng đóng của sự phân bổ ổn định của lượng tiền đầu tư vào tài sản rủi ro đồng thời ta cũng kiểm tra được lượng tiền trung bình ổn định đầu tư vào tài sản.
Luận văn được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của NCVCC.TS Nguyễn Hồng Hải. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc tới người thầy của mình!
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa Toán-Tin trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên-Đại học Quốc Gia Hà Nội!
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè những người đã động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua!
Do thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo và các bạn chỉ dẫn và góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội,năm 2014 Tác giả Nguyễn Văn Tráng
Trang 9CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ SỞ TRONG TOÁN
TÀI CHÍNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản về thị trường tài chính
Trong phần này chúng ta sẽ trình bày một số khái niệm cơ bản về thị trường tài chính cũng như các kiến thức xác suất cơ sở cần thiết cho việc thiết lập mô hình toán tài chính chúng ta sẽ xây dựng và nghiên cứu trong luận văn này
1.1.1.Cấu trúc của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng các tài sản tài chính thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định.
1) Các cá nhân: trong hoạt động tài chính của họ có một vấn đề trung tâm
đó là các vấn đề về tích lũy vốn và tiêu dùng. Gắn liền với vấn đề này có bài toán tối ưu về tiêu dùng và tích lũy (bài toán về phân bổ đầu tư). Dựa trên nguyên lý của Von Neumann – Morgenstern về sự hoạt động hợp lý của các
Trang 102) Các hãng : đó là một tổ chức có đất đai, nhà máy, công xưởng và các
loại tài sản có giá trị khác như chợ, các phát minh… Hoạt động của các hãng
là tổ chức, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh để đạt lợi nhuận cao nhất.
3) Các cấu trúc trung gian ( cấu trúc về các phương diện tài chính): đó là
các ngân hàng công thương, ngân hàng tín dụng, các hãng bảo hiểm…
4) Thị trường các chứng từ có giá trị: đó là tập hợp các thị trường có tổ
chức để mua bán, trao đổi những chứng từ (các hợp đồng) đã được tiêu chuẩn hóa như: trái phiếu (bonds), cổ phiếu (stocks), quyền lựa chọn (options), các hợp đồng trong tương lai (futures) … Như sau này ta sẽ thấy thị trường trái phiếu và thị trường các quyền lựa chọn là hai thị trường quan trọng nhất. Dựa trên các thị trường này các hãng có thể tăng vốn của họ để phát triển sản xuất kinh doanh, các cá nhân có cơ hội và phương tiện để hoạt động tài chính.
Ngoài các chức năng hoạt động của nó, thị trường các chứng từ có giá trị đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin về giá cổ phiếu, lãi suất, các chỉ số tài chính… có thể sử dụng được trong các lĩnh vực kinh tế, các cá nhân có thể sử dụng các thông tin đó để thực thi các quyết định về các
dự án đầu tư về phương diện tài chính.
Người ta quan tâm đến các hoạt động trong thị trường các chứng từ có giá trị. Vì vậy ta cũng nên tìm hiểu về các loại chứng từ đó.
a) Trái phiếu: đó là một loại hợp đồng dài hạn được phát hành bởi chính
phủ, các ngân hàng, các công ty tín dụng và các thể chế tài chính khác với mục tiêu là tích lũy vốn.
Trang 11Như thường lệ các trái phiếu có liên quan đến các loại chứng từ có giá trị dài hạn có lãi suất xác định hoặc lãi suất thay đổi. Một ví dụ về trái phiếu đó
là tín phiếu kho bạc. Ở các nước phương Tây còn có các loại trái phiếu sau đây: trái phiếu kho bạc, trái phiếu của các hãng lớn, zero coupon bonds,…
b) Cổ phiếu: đó là một loại chứng từ có kỳ hạn được phát hành bởi các
hãng nhằm tích lũy vốn. Giá của một loại cổ phiếu được xác định như trạng thái hiện hành của thị trường vốn cũng như hoạt động sản xuất tương ứng của hãng.
Người sở hữu cổ phiếu nói chung có quyền tham gia vào các hoạt động của hãng theo nguyên tắc “số phiếu bầu = số tiếng nói” và được hưởng cổ tức.
c) Quyền lựa chọn hoặc hợp đồng về quyền lựa chọn: đó là một loại
chứng từ có giá trị mà người sở hữu nó có quyền mua hoặc bán một tài sản nào đấy ( ví dụ: cổ phần của một công ty ) theo các điều khoản đã ghi trên hợp đồng.
Quyền lựa chọn được chia làm hai loại: loại Châu Âu và loại Châu Mỹ.
- Quyền lựa chọn loại châu Âu có thời hạn kết thúc xác định (gọi là thời hạn đáo hạn).
- Quyền lựa chọn loại châu Mỹ cho phép người sở hữu có quyền mua hoặc bán tại thời điểm bất kỳ trước hoặc ngay tại thời hạn đáo hạn. Hiện nay quyền lựa chọn loại Châu Mỹ chiếm đa phần trong các loại hợp đồng về quyền lựa chọn.
Trang 12- Quyền lựa chọn bán (put option) : cho phép người sở hữu bán một loại tài sản nào đấy (cổ phiếu hoặc trái phiếu… ).
- Warrant là một loại chứng từ có giá trị được phát hành bởi các hãng về một loại cổ phần đặc biệt nào đấy để thay đổi cái hiện có. Người sở hữu hợp đồng này có thể mua một số các tài sản nào đấy đã thỏa thuận trước với một giá trị nhất định tại thời điểm bất kỳ trước một thời điểm xác định.
- Hợp đồng tương lai (future) về việc mua hoặc bán một tài sản nào đấy tại một thời điểm nhất định trong tương lai theo một giá đã thỏa thuận.
- Voucher: đó là điều khoản về tiền tệ của nhà nước cho phép người sở hữu
có quyền mua một cổ phần tùy ý theo quy định của nhà nước.
1.1.2.Mô hình động của giá các loại cổ phiếu và trái phiếu.
Xét một tài sản tài chính S, giá của nó tại mỗi thời điểm t được kí hiệu là
( ) hoặc Giá ( ) biến đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên như các biến động giá cả các sản phẩm khác, các xu hướng tăng trưởng hoặc suy thoái của nền kinh tế thế giới, các diễn biến về nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước, tiềm lực sản xuất, các diễn biến chính trị, các chính sách của nhà nước,các diễn biến tâm lý nhà đầu tư…Ta gom các yếu tố ngẫu nhiên đó của tất cả các sản phẩm tài chính trên thị trường vào một tập hợp cơ bản kí hiệu
Trang 13nhiên và giá trị đo lường khả năng xảy ra của sự kiện A đó chính là xác suất P(A).
Vậy ta có không gian xác suất (Ω,ℱ,P) mà mỗi tài sản tài chính S(t) là một quá trình ngẫu nhiên xác định trên đó: với mỗi t, S(t) còn phụ thuộc vào các yếu tố ngẫu nhiên ω: S=S(t,ω)
Vào năm 1900 trong luận án tiến sĩ “Théorie de la speculation” của mình, L.Bachelier đã chỉ ra rằng sự thay đổi của giá mỗi loại chứng khoán có dạng:
∆ = ( + ∆ ) − ( ) ≈ 0(√∆ ) Đến năm 1923, N.Wiener đã xây dựng quá trình Wiener có tính chất:
Như vậy về trung bình ∆ ≈ (√∆ ) và sau đó Alber Einstein đã nhận xét rằng hiệu quả đã được nhận xét bởi Bachelier tỏ ra hợp lý nếu giá trị chịu tác động của nhân tố ngẫu nhiên Wiener là tổng hợp của vô số tác nhân kinh
tế vô cùng nhỏ bé như mô hình dưới đây:
= ( ) + ( ) ( ). (1) Năm 1965, P.Samuelson theo sáng kiến của L.Savage đã nhận xét rằng nếu giá chứng khoán tuân theo mô hình (1) thì nó có thể âm và điều đó là không phù hợp với thực tế. Vì vậy ông đã đề xuất mô hình chuyển động Brown hình học để mô tả động học của giá:
t t
dS adt bdW
Trang 14ra mô hình di động ngẫu nhiên rời rạc để mô tả động học của dãy giá các chứng khoán:
= (1 + ) ℎ ặ = (1 + ) … (1 + ) trong đó { } là dãy Bernoulli với { = } = ; { = } = 1 − , trong đó à là các giá trị ứng với các trường hợp khi giá chứng khoán lên
( ) = exp − ( ) , ( ) = 1 Cấu trúc giá ( ) phụ thuộc vào quá trình lãi suất ( ), quá trình này thường được giả thiết có cấu trúc khuếch tán sau đây:
( ) = ( , ) + ( , ) Một trong các quá trình lãi suất được đưa ra bởi Vasicek (1977) chính là quá trình Ornstein – Uhlenbeck:
Trang 15(khi biết tất cả các thông tin về thị trường cho đến thời điểm t) ℎ( ) =
ℎ ( ), … , ℎ ( ) , trong đó ℎ ( ) là số lượng tài sản loại mà nhà đầu tư đang giữ. ℎ( ) còn được gọi là danh mục đầu tư.
b)Yêu cầu tài chính và điều kiện để cho thị trường không có độ chênh thị giá:
Để hiểu rõ khái niệm yêu cầu ngẫu nhiên của sự đầu tư ta hãy xét một ví dụ sau:
Trang 16Giả sử một người muốn mua một lượng trái phiếu năm năm với lãi suất 12% một năm để sau năm năm có được số vốn là 10 triệu đồng (đó là mục tiêu cần đạt được) thì người đó phải đầu tư một lượng vốn ban đầu là =
10 /(1 + 0.12) còn nếu người đó muốn đầu tư vào tài sản ( ) chẳng hạn thì vốn ban đầu cần phải thỏa mãn điều kiện (60) = 10 (đơn
vị thời gian là tháng) và khi đó yêu cầu (ngẫu nhiên) của anh ta là (60) (để đơn giản ta giả thiết rằng (0) = 1).
Định nghĩa 1:
1) Một biến ngẫu nhiên không âm H được gọi là một yêu cầu tài chính hoặc quyền tài chính
lược có cơ lợi hoặc có độ chênh thị giá (arbitrage) nếu nó là chiến lược tự điều chỉnh tài chính và hàm giá trị tương ứng với nó có tính chất:
(0) = 0, ( ) ≥ 0, { ( ) > 0} > 0, tức là chiến lược không cần vốn ban đầu mà vẫn có thu nhập Chiến lược cơ lợi là chiến lược kiếm lời nhờ chênh lệch giá
hoặc thị trường lành mạnh
Định nghĩa 2:
Một yêu cầu được gọi là yêu cầu có thể đạt được nếu tồn tại một chiến
ứng ( , ℎ) thỏa mãn: (0, ℎ) = , ( , ℎ) =
Một ví dụ về tình huống có cơ lợi là: xét một thị trường gồm hai tài sản
và , trong đó là tài khoản ngân hàng có lãi suất > 0 sau một đơn vị thời gian. Như vậy: = (1 + ) , = 1,2, … ,
Trang 17Còn có động học sau:
= (1 + ) … (1 + ), ≤ ≤ , = 1,2, … Khi đó nếu ≤ người ta sẽ vay vốn ngân hàng và sau đó đầu tư vào tài sản , đến hạn bán cổ phiếu với giá sẽ thu được một khoản lợi mà không cần vốn ban đầu bởi vì ta luôn có > Ngược lại nếu > ta
có < nên nếu người ta vay cổ phiếu sau đó bán đi và gửi tiền vào tài khoản ngân hàng người ta sẽ thu được một khoản lời − mà không cần đến vốn ban đầu.
Với thị trường này,người ta có thể chứng minh rằng:thị trường đó là lành mạnh khi và chỉ khi < <
Định nghĩa 3:
Giả sử { , , … } là một thị trường lành mạnh và là một yêu cầu có
là chiến lược đảm bảo yêu cầu tài chính
Trang 18
1.2 Một số khái niệm xác suất trong toán tài chính
Trong phần này ta nêu một số kiến thức xác suất cơ bản như:quá trình ngẫu nhiên, quá trình Wiener, Martingale với thời gian liên tục và tính toán
vi tích phân ngẫu nhiên đối với quá trình Wiener. Đây là những kiến thức rất cần khi nghiên cứu về các thị trường tài chính với thời gian liên tục.
1.2.1 Quá trình ngẫu nhiên với thời gian liên tục
Cho không gian xác suất (Ω,ℱ,P).
Véc tơ ngẫu nhiên n chiều:
Một ánh xạ X : Ω → sao cho:
( ) = { : ( ) ∈ } ∈ ℱ, ∀ ∈ ℬ với ℬ là σ-đại số Borel trên ℝ được gọi là một một biến ngẫu nhiên (hoặc
Để đơn giản ta thường viết X t thay cho X t , và viết quá trình ngẫu nhiênX X t t T
Chú ý:
1) Với mỗi ω∈ Ω ta xét một hàm → ( ) xác định trên với giá trị trong ,hàm đó được gọi là một quỹ đạo của quá trình.
Trang 192) Một quá trình ngẫu nhiên có thể coi như một ánh xạ từ × Ω → Quá trình ( ( )) ∈ được gọi là đo được nếu ánh xạ đó là ℬ( ) ×
Ta luôn giả thiết họ {ℱ } là đầy đủ, điều đó để đảm bảo rằng nếu X=Y (P-hầu chắc chắn ) thì khi X là ℱ đo được Y cũng là ℱ đo được.
Bộ lọc tự nhiên:
Lọc {ℱ } với ℱ = ( , ≤ ), = { } là σ-đại số cảm sinh bởi tất cả các biến ngẫu nhiên với ≤ ℱ chứa mọi thông tin về diễn biến
quá khứ của quá trình X={ } cho đến thời điểm t nên được gọi là bộ lọc
tự nhiên của quá trình X , hay lịch sử của X hay cũng còn gọi là trường thông tin của quá trình X
Không gian xác suất được lọc: Bộ (Ω,ℱ, {ℱ } ,P) được gọi là không
gian xác suất được trang bị lọc với lọc {ℱ } .
Thời điểm Markov và thời điểm dừng:
Một biến ngẫu nhiên τ được gọi là một thời điểm Markov nếu với mọi ≥ 0 { ∈ Ω: ( ) ≤ } ∈ ℱ
Một thời điểm Markov τ được gọi là thời điểm dừng nếu τ là hữu hạn hầu chắc chắn, tức là: { ∈ Ω: ( ) < ∞} = 1
Trang 201.2.2 Quá trình chuyển động Brown
Một trong các quá trình ngẫu nhiên quan trọng là quá trình chuyển động Brown. Quá trình này được sử dụng để xây dựng phần lớn các mô hình chứng khoán.
Chuyển động Brown:
Quá trình ngẫu nhiên ( ) với giá trị thực được gọi là (quá trình) chuyển động Brown nếu:
= 0, − ℎ ; ( ) = 0 ; ( ) =
Chuyển động Brown với lọc:
Quá trình ( ) được gọi là chuyển động Brown đối với lọc {ℱ } nếu: 1)Quỹ đạo của ( ) là liên tục P-hầu chắc chắn.
2) là ℱ đo được với ∀ ≥ 0.
3)Nếu ≤ thì − độc lập với ℱ
4)Nếu ≤ thì luật phân bố của − giống như luật phân bố của
−
Chuyển động Brown n chiều:
Quá trình ngẫu nhiên n chiều ( ) = ( , , … , ) được gọi là chuyển động Brown n chiều đối với lọc {ℱ } nếu mỗi ( =
Trang 211, … , ) là một chuyển động Brown và các thành phần của là độc lập với nhau.
1.2.3 Martingale với thời gian liên tục
thường kí hiệu: = { , ℱ , ≥ 0} là Martingale.
Martingale địa phương:Quá trình ngẫu nhiên { , ℱ , ≥ 0} được gọi
là martingale địa phương nếu tồn tại dãy thời điểm markov( ) đối với (ℱ ) sao cho:
1) { ≤ } = 1 , {lim → } = 1 .
2) Đối với mỗi n=1,2,…dãy ˄ , ℱ , ≥ 0 là martingale khả tích đều.
Mệnh đề: Nếu ( ) là một chuyển động Brown tiêu chuẩn đối với lọc {ℱ } thì:
Khai triển Doob-Mayer:
Nếu = { , ℱ , ≥ 0} là một marrtingale dưới liên tục phải theo t thì X có một biểu diễn duy nhất dưới dạng:
Trang 22= + Trong đó là một martingale đối với {ℱ } liên tục phải và là một
quá trình tăng và thích nghi với {ℱ }
Ứng dụng của lý thuyết Martingale trong toán tài chính:
Trong toán tài chính, giá của các tài sản tài chính cơ sở như: giá cổ phiếu ,
giá trái phiếu , giá của các tài sản phái sinh tài chính đều được xem là
các quá trình ngẫu nhiên. Nói chung chúng không phải là những Martingal
Cách 2: Thực hiện một phép biến đổi độ đo xác suất
Khi ta nói: nói chung không phải là martingale là khi ta xét dưới độ đo
xác suất ban đầu P đã cho. Bây giờ ta giả sử tìm được một độ đo xác suất
mới tương đương với độ đo xác suất P ( ) = 0 ⇔ ( ) = 0 ∀ ∈ ℱ và
Trang 23một phép biến đổi quá trình thành quá trình X t sao cho dưới xác suất mới này thì X ttrở thành martingale.
Trang 24= + ∫ ℎ( , ) + ∫ ( , )
Trong đó h và f là các quá trình ngẫu nhiên đo được sao cho các tích phân trong biểu diễn tồn tại thì ta nói rằng X là một quá trình Itô và có vi phân Itô
Trang 25CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP
phiếu). Nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu i với giá ( ) và bán nó với giá (1 − ) ( ) với 0 ≤ < 1 là hệ số tỉ lệ của chi phí giao dịch. Ngoài ra nhà đầu tư phải trả một khoản phí môi giới cố định ≥ 0 cho mỗi lần giao dịch
khi giao dịch cổ phiếu i.
Cho = ( , , … , ) và = ( , , … , ). Để đơn giản chúng ta giả định không trả cổ tức bằng cổ phiếu. Giá mua ( ) được giả sử là tuân theo chuyển động Brown hình học:
Trang 26bao gồm các quá trình tích lũy đo được dần mà : ∫ | | < ∞ với mỗi
∈ [0, ∞) (tức là khả tích).
Ngoài ra, tương tự như Merton(1971),Vayanos(1998) và Lo et al (2001) chúng ta giả thiết rằng mỗi nhà đầu tư chịu chi phí giao dịch cố định đều có một hàm lợi ích đối với thời điểm chiết khấu là: ( , ) = − với
hệ số rủi ro β > 0 và tham số chiết khấu thời gian δ > 0. Trong đó hàm ( ) = − biểu thị cho lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ sự tiêu thụ c
của tài khoản thị trường tiền tệ. Chúng ta cũng giả thêm rằng việc ngừng tích lũy, giao dịch cổ phiếu và thanh toán chi phí giao dịch đều được thông qua tài sản của thị trường tiền tệ.
Gọi x là số tiền đầu tư vào trái phiếu (tài sản không rủi ro), là lượng tiền đầu tư vào cổ phiếu thứ i (tài sản rủi ro) và = ( , , … , ). Với mỗi và
Trang 27, [0, ). (2.5)
t
T
t r t
Chúng ta sử dụng kí hiệu ( , )x y để biểu thị tập hợp các chiến lược kinh
doanh chấp nhận được (I,D,c) sao cho và ở phương trình (2.1) và (2.3) thỏa mãn điều kiện (2.5) với điều kiện ban đầu là: = và = .
Hàm giá trị tại thời điểm t là:
2.2 Chính sách tối ưu trong trường hợp không có chi phí giao dịch Với mục đích so sánh, trong phần này chúng ta sẽ trình bày những kết quả chính cho trường hợp không tính đến chi phí giao dịch (tức là:
1, 2, , n 0
α và F F F1, 2, ,F n0) mà không chứng minh (xem Merton(1971)). Khi không có chi phí giao dịch, quá trình mua, bán, tích lũy của cổ phiếu có thể biến thiên vô hạn và trong trường hợp này tài sản được thanh khoản là: = + ,trong đó là vectơ cột gồm n phần tử 1.Vấn
Trang 28n i
Trang 29và Loewenstein(2002) đã chỉ ra rằng khi có chi phí giao dịch tỉ lệ thì tồn tại một miền giao dịch và một miền không giao dịch. Tương tự, trong trường hợp nhiều loại cổ phiếu chúng ta phỏng đoán rằng có tồn tại một miền giao dịch
mà trong đó nhà đầu tư sẽ giao dịch ít nhất một loại cổ phiếu và một miền không giao dịch (No-transaction(NT)) mà nhà đầu tư sẽ không thực hiện bất
Trang 30 1
1, , , ,
n
i i i
n i i
cho chiến lược kinh doanh tối ưu cho cổ phiếu i. Cụ thể,nếu ≤ ta sẽ mua cổ phiếu và khi ≥ ta sẽ bán cổ phiếu. sẽ được gọi là ngưỡng mua và gọi là ngưỡng bán. Theo chính sách giao dịch đã đề xuất, trong miền giao dịch của một cổ phiếu, mức thỏa dụng biên từ lượng tiền đầu tư vào
Trang 31trái phiếu phải luôn bằng mức thỏa dụng biên từ lượng tiền đầu tư vào cổ phiếu và giá trị ròng của chi phí giao dịch. Do đó, phương trình vi phân trong
+)Nếu < thì : ( ) = + .
+) Nếu > thì : ( ) = + (1 − ) .
Trong đó và là 2 hằng số đã xác định.
Từ chính sách giao dịch được đề xuất và tính của hàm lợi ích ta suy ra 6 điều kiện biên sau về :
Trang 32vì , và là độc lập với bất kì số hạng hằng số nào trong Nhận định này cũng áp dụng cho các trường hợp được xét trong những phần tiếp theo, đặc biệt cho thấy là các giới hạn là độc lập với trong tất cả các trường hợp được
đề cập trong nghiên cứu này. Điều này cho thấy rằng phần tử không xác định trong phương trình (2.12) không ảnh hưởng đến các giới hạn tối ưu , và
. Ngoài ra,vì điều kiện
1
0
n i i
Trang 33là một nghiệm của phương trình vi phân (2.22) thỏa mãn các điều kiện
(2.15)-( 2.220). Ngoài ra: 1 − < ( ) < 1 , ∀ ∈ ( , ) (2.24)
điều kiện (2.15)-( 2.20)và (2.24) Từ đó các chính sách tiêu thụ tối ưu tương
ứng là:
Và chính sách giao dịch tài sản rủi ro tối ưu tương ứng là giao dịch một số
tiền tối thiểu để duy trì ∗ ở khoảng giữa và Trong đó ∗ và ∗ lần
lượt là quá trình đầu tư vào trái phiếu và cổ phiếu xuất phát từ những chính
1( , )
n
i i i
định lý 4 sẽ nói về sau nên ta sẽ bỏ qua.
Trang 34Nếu phương trình (2.22) có một nghiệm dạng đóng (closed form solution) thì chúng ta sẽ có một nghiệm với 2 hằng số tích phân và Sử dụng 6 điều kiện biên trên, chúng ta sẽ tính được 6 ẩn số: , , , , , Đáng tiếc là phương trình (2.22) lại thuộc về một lớp đặc biệt của phương trình vi phân Abel mà nghiệm dạng đóng của nó vẫn chưa được tìm ra, trừ trường hợp = Tuy nhiên, bài toán vô hạn trên vẫn có thể giải bằng số tương đối dễ dàng bằng cách sử dụng một thuật toán đơn giản (thuật toán 1) sau đây:
cổ phiếu được xem xét. Với tất cả minh họa bằng số, ta sẽ sử dụng các giá trị mặc định sau đối với các tham số trừ một số trường hợp đặc biệt được nêu ra.Theo Ibbotson và Sinquefeld(1982), chúng ta cho phần lãi suất vượt mức
Trang 351 1.5
2
Chi phí tỉ lệ (không có chi phí cố định)
Trang 36đầu tư sẽ luôn giữ 121,900$ trong cổ phiếu, tượng trưng bởi đường thẳng mảnh ở giữa (đường Merton). Chú ý rằng ở đây lượng tiền thực tế bằng với
lượng tiền gia tăng được chia bởi rβ trong hình. Với sự có mặt của các chi phí
giao dịch thì việc duy trì một lượng tiền cố định trong một cổ phiếu không còn tối ưu. Thay vào đó,nhà đầu tư cho phép lượng tiền trong cổ phiếu dao động trong một phạm vi nhất định. Ví dụ: khi =0,01, nhà đầu tư sẽ không điều chỉnh lượng tiền đầu tư vào cổ phiếu cho đến khi nó đạt đến giới hạn là 99,400$ hoặc 144,700$. Do đó sự hiện diện của chi phí giao dịch có một tác động đáng kể đến chiến lược kinh doanh tối ưu.
Cũng cần chú ý rằng khi chi phí tỉ lệ giao dịch tăng, giới hạn mua giảm xuống và giới hạn bán tăng lên. Điều này làm thu hẹp miền giao dịch ( ≤ hoặc ≥ ) và mở rộng miền không giao dịch ( ≤ ≤ ), làm cho tần số giao dịch của nhà đầu tư giảm xuống.
2.3.2 Trường hợp chỉ có chi phí giao dịch cố định
Khi có chi phí giao dịch cố định, chính sách giao dịch tối thiểu được đề xuất trong các phần trước không còn tối ưu. Trong trường hợp này, tất cả các giao dịch đều bao gồm các giao dịch trọn gói (lump-sum trades) bởi vì chi phí độc lập với quy mô của việc giao dịch. Trong phần này chúng ta xem xét trường hợp nhà đầu tư chỉ phải trả chi phí giao dịch cố định mà không phải trả chi
phí theo tỉ lệ giao dịch (tức là : F>0 và =0 ) .
Khi chỉ có chi phí cố định, chúng ta phỏng đoán rằng chính sách tối ưu cho
mỗi cổ phiếu i được đặc trưng bởi 3 con số quan trọng: , ∗ và Thời điểm tối ưu để giao dịch với giá ∗ là khi số tiền trong cổ phiếu đạt đến
Trang 37ngưỡng mua hoặc ngưỡng bán Đối với công thức của hàm lợi ích, chúng ta cho rằng (2.10) vẫn còn hiệu lực.
Trong miền không giao dịch, chúng ta vẫn giữ nguyên hệ thống phương trình vi phân Haminton-Jacobi-Bellman (2.22) ở phần trước. Tuy nhiên những điều kiện trong vác khu vực giao dịch ( ≤ hoặc ≥ ) cần phải thay đổi.
Trong chính sách giao dịch đã được đề xuất, chúng ta có:
( , , , … , , … , ) = ( − − ( ∗ − ), , , … , ∗, … , )
(2.25) (Với mỗi ≤ )
Và
( , , , … , , … , ) = ( − + ( − ∗), , , … , ∗, … , )
(2.26) (Với mỗi ≥ )
Ngoài ra,tính tối ưu của ∗ nghĩa là:
( , , , … , ∗, … , ) = ( , , , … , ∗, … , ) (2.27) Gọi là giới hạn của trong miền không giao dịch, = , ∗ =
∗ và = . Để đưa ra các điều kiện đủ cho tính tối ưu, chúng ta tập trung xét trường hợp khi hàm tiện ích thuộc lớp
Sử dụng các phương trình (2.10), (2.25)-(2.27) và tính chất , chúng ta có được 7 điều kiện biên sau:
= + (2.28)
= 1 (2.29)
( ∗) = 1 (2.30)
Trang 38( ) = + (2.31)
( ) = 1 (2.32) ( ∗) = + + ∗ (2.33) Và: ( ∗) = + + ∗ (2.34)
ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, tuy nhiên , ∗và thường ít biến động
trước sự thay đổi của β.
Định lý sau đây tổng hợp những kết quả cho hàm lợi ích và chiến lược kinh doanh tối ưu trong trường hợp này:
Định lý 3:
cho là một nghiệm của phương trình vi phân (2.22) thỏa mãn các điều kiện (2.28)-(2.34) Ngoài ra:
( ) > 1, ∀ ∈ ( , ∗) (2.35)
Và 0 < ( ) < 1, ∀ ∈ ( ∗, ) (2.36)
Khi đó là nghiệm duy nhất của phương trình vi phân (2.22), thỏa mãn các điều kiện (2.28)-(2.36), từ đó chính sách tiêu thụ tối ưu tương ứng là:
Trang 39∗ = ∗ +1 ( ∗)
Và chính sách tối ưu tương ứng để giao dịch các tài sản rủi ro là chỉ giao
trái phiếu và cổ phiếu thu được từ những chính sách nêu trên Hơn nữa,ta có
1,
n
i i i
Trang 40thời gian δ=0,01 ; tỉ lệ lãi suất phi rủi ro r=0,01 ; lợi suất kì vọng μ=0,069 ; lợi suất biến động σ=0,22 ; chi phí tỉ lệ =0 và hệ số rủi ro β=0,001.
Hình 2 mô tả các gới hạn tối ưu và của miền không giao dịch và hàm mục tiêu tối ưu ∗ của chi phí cố định. Khi xuất hiện chi phí giao dịch cố định thì chính sách tối ưu của nhà đầu tư không còn là giao dịch với lượng tiền rất nhỏ để duy trì lượng tiền trong mỗi cổ phiếu ở khoảng xác định. Ví dụ: khi F=5$, nhà đầu tư sẽ cho phép lượng tiền thực trong mỗi cổ phiếu dao động trong khoảng 105,200$ tới 139,800$. Nếu lượng tiền thực đạt đến 105.200$, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu trị giá 16,600$. Mặt khác nếu lượng tiền thực có đạt đến 139,800$ thì nhà đầu tư sẽ bán đi cổ phiếu trị giá 18,000$. Do đó sự hiện diện của chi phí giao dịch cố định cũng có tác động đáng kể đến việc kinh doanh. Phạm vi của miền không giao dịch chủ yếu là do xuất phát từ lo ngại rủi ro mà chúng tôi đã thể hiện trong hình minh họa số liệu. Khi mức độ
lo ngại rủi ro β tăng, phạm vi của miền không giao dịch sẽ hẹp lại. Ngoài ra cần lưu ý rằng, cũng như trong các trường hợp trước, khi chi phí giao dịch tăng thì giới hạn mua vào giảm xuống và giới hạn bán ra tăng lên. Tuy nhiên, ảnh hưởng của mục tiêu tối ưu ∗ đến những thay đổi trong chi phí giao dịch
là rất nhỏ. Nó chỉ giảm từ 121,900$ xuống 121,500$ khi chi phí cố định tăng
từ 0$ lên 30$, làm cho ∗ không thể phân biệt được với đường Merton trong hình. Phát hiện này phù hợp với trực giác rằng: nhà đầu tư tốt nhất nên đầu tư
ở mức trung bình quanh đường Merton, ngay cả trong trường hợp có chi phí giao dịch.
Trên cơ sở khả năng ít ảnh hưởng của lượng tiền mục tiêu đến các chi phí cố định, để đạt được các giới hạn tối ưu, trước tiên có thể sửa đổi ∗ thành đường Merton, sau đó chọn sao cho thỏa mãn tất cả các điều kiện trừ điều kiện (2.34). Nghiên cứu một chiều này tương đối đơn giản.