1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững

211 627 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để có được những định hướng quy hoạch sử dụng vùng theo quan điểm PTBV, chúng tôi đã thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ve

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8

1.1 Nghiên cứu cảnh quan và hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan 8

1.1.1 Các nghiên cứu cảnh quan học 8

1.1.2 Các nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái 11

1.1.3 Tiếp cận sinh thái cảnh quan 12

1.2 Đa dạng sinh học 13

1.2.1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam 14

1.2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam 17

1.3 Tổng quan về đất ngập nước 18

1.3.1 Cấu trúc và chức năng đất ngập nước 18

1.3.2 Đất ngập nước châu thổ sông Hồng 19

1.3.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình 21

1.4 Quan điểm phát triển bền vững 24

1.4.1 Khái niệm phát triển bền vững 24

1.4.2 Phát triển bền vững ở Việt Nam 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Tài liệu nghiên cứu 28

2.3 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp kế thừa 31

2.5 Quy trình nghiên cứu 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 41

3.1 Các nhân tố hình thành cảnh quan đất ngập nước ven biển Thái Bình 41

3.1.1 Địa chất - nhân tố thành tạo nền tảng rắn trong cảnh quan 41

3.1.3 Khí hậu - nhân tố thành tạo nền tảng nhiệt ẩm trong cảnh quan 43

3.1.4 Thủy hải văn - nhân tố thành tạo nền tảng ẩm trong cảnh quan 47

3.1.7 Tác động của con người - nhân tố liên quan đến việc hình thành và phát triển cảnh quan 57

3.2 Cấu trúc sinh thái cảnh quan vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình 60

3.2.1 Hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình 60

3.2.2 Cấu trúc sinh thái cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình 63

3.2.3 Đặc điểm các tiểu vùng CQ trên vùng ĐNN ven biển Thái Bình 75

3.3 Đa dạng sinh học vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình 78

3.3.1 Đa dạng hệ sinh thái 78

3.3.2 Đa dạng loài 86

3.4 Biến động CQ và ĐDSH vùng ĐNN ven biển Thái Bình qua các thời kỳ 97

3.4.1 Một vài nhận thức 97

3.4.2 Giai đoạn 1965-1986 98

3.4.3 Giai đoạn 1986-2007 115

Trang 2

3.5 Đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững 139

3.5.1 Bối cảnh 139

3.5.3 Nhiệm vụ quy hoạch 146

3.5.5 Giải pháp thực hiện các định hướng quy hoạch sử dụng vùng 157

KẾT LUẬN 163

KIẾN NGHỊ 165

TÀI LIỆU THAM KHẢO 166

Trang 3

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận án

Vùng cửa sông ven biển là nơi tiếp giáp giữa lục địa và biển nên ở đây xuất hiện các loài đặc trưng cho môi trường sông biển cùng với những loài thích nghi tồn tại trong các sinh cảnh khác nhau như bãi triều, vũng vịnh, cồn cát, Do đó, đã từ lâu đất ngập nước (ĐNN) ven biển là địa bàn hoạt động của con người, tạo nên nền kinh tế đa ngành, là đối tượng sử dụng quan trọng trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do nhu cầu đời sống ngày một tăng, hoạt động của con người ngày một đa dạng với cường độ ngày càng cao đã để lại cho vùng đất ven biển những hậu quả sinh thái nặng nề, cảnh quan bị xáo trộn, đa dạng sinh học (ĐDSH) bị thất thoát, nguồn lợi sinh vật và chất lượng môi trường suy giảm Chính vì thế, phát triển bền vững (PTBV) được đưa ra là mục tiêu thiên niên kỷ không chỉ ở mức độ toàn cầu mà còn là của mỗi địa phương nhằm kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Thái Bình là một trong những tỉnh nông nghiệp then chốt thuộc đồng bằng Bắc Bộ với 49,5 km đường bờ biển trải dài trên hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy cùng các cửa sông đổ ra biển đã tạo nên hàng ngàn ha đất bãi bồi góp phần mở rộng diện tích cho vùng Tuy nhiên, cũng như các vùng ĐNN ven biển khác trong điều kiện đất nước đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, sức ép dân số gia tăng nên hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong vùng ngày càng “hối hả” và mãnh liệt hơn làm cho cảnh quan (CQ) bị biến đổi nhanh chóng Do

đó, để có được những định hướng quy hoạch sử dụng vùng theo quan điểm PTBV,

chúng tôi đã thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng

sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững”

Mục tiêu nghiên cứu

+ Nghiên cứu về cấu trúc và xu hướng biến động của các loại cảnh quan trên vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình;

+ Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và biến động các hệ sinh thái tại vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình;

+ Định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững

Trang 4

Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan;

+ Tiến hành các đợt khảo sát thực địa và làm việc với các cơ quan quản lý ở địa phương để bổ sung và hoàn chỉnh số liệu;

+ Tổng quan các quan điểm phân loại cảnh quan, xây dựng hệ thống phân vị

và chỉ tiêu cụ thể đối với từng bậc phân loại cảnh quan ở vùng ĐNN ven biển Thái Bình (đối với bản đồ tỷ lệ 1:50.000);

+ Thành lập các bản đồ chuyên đề (bản đồ lớp phủ thực vật, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa mạo), bản đồ sinh thái cảnh quan, bản đồ phân vùng cảnh quan

và bản đồ biến động cảnh quan theo thời gian;

+ Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan và các tiểu vùng cảnh quan;

+ Phân tích hiện trạng đa dạng sinh học trong vùng;

+ Phân tích biến động cấu trúc của các loại cảnh quan theo từng tiểu vùng và biến động các hệ sinh thái trên toàn vùng;

+ Phân tích các nguyên nhân gây biến động cảnh quan và đa dạng sinh học; + Đề xuất định hướng quy hoạch quản lý tài nguyên cho phát triển bền vững vùng ĐNN ven biển Thái Bình

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: vùng nghiên cứu của luận án là vùng đất ngập nước

ven biển Thái Bình được giới hạn ở đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm huyện Tiền Hải và huyện Thái Thụy; về phía biển tính đến độ sâu 6m khi triều kiệt

- Đối tượng: với các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, luận án được giới hạn trong

Trang 5

Những điểm mới của luận án

+ Xây dựng cơ sở dữ liệu cập nhật về hiện trạng ĐDSH tại vùng nghiên cứu; + Phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình tỷ lệ 1:50.000;

+ Lần đầu tiên bản đồ biến động các loại cảnh quan tỷ lệ 1:50.000 cho vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình được thành lập

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ

hiện trạng các loại cảnh quan và đa dạng sinh học cũng như biến động của chúng trong những giai đoạn lịch sử nhất định của vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình

- Ý nghĩa thực tiễn: hệ thống cơ sở dữ liệu, tập bản đồ cũng như các định

hướng quy hoạch được đưa ra trong luận án là những tài liệu có giá trị cho các nhà quản lý trong quy hoạch lãnh thổ theo hướng phát triển bền vững

Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tài liệu: tổng quan khái niệm các nội dung có liên quan

và các công trình nghiên cứu đã triển khai ở vùng nghiên cứu

Chương 2 Đối tượng, quan điểm và phương pháp nghiên cứu: bao gồm đối tượng và địa điểm nghiên cứu, tài liệu nghiên cứu, các quan điểm nghiên cứu, các nguyên tắc cũng như phương pháp thành lập bản đồ ở vùng nghiên cứu

Chương 3 Kết quả và bàn luận: bao gồm

- Các chỉ tiêu phân loại cảnh quan đối với vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình tỷ lệ 1:50.000;

- Các nhân tố hình thành cảnh quan;

- Cấu trúc sinh thái cảnh quan tại các mốc thời gian;

- Hiện trạng đa dạng sinh học;

- Phân tích biến động các loại cảnh quan và các hệ sinh thái ở từng giai đoạn nghiên cứu và nguyên nhân gây biến động;

- Đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nghiên cứu cảnh quan và hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan

1.1.1 Các nghiên cứu cảnh quan học

Khái niệm CQ đã được hình thành và phát triển từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bởi các nhà địa lý người Nga như: V V Docutraev, L C Berg, G N Vưxotxkii, G F Morozov,… ở Đức có các tác giả: Z Passarge, A Hettner; ở Anh có E

J Gerbertson; và một số ít các nhà địa lý Mỹ, Pháp,…

Đầu tiên phải kể đến công trình của V V Docutraev (1846-1903), người được coi là nhà khoa học đặt nền móng cho khoa học CQ Xô Viết, là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, ông cho rằng thổ nhưỡng là hàm

số của tất cả các yếu tố địa lý khác: kiểu nham thạch, khí hậu, sinh vật… Theo ông:

“phải nghiên cứu thiên nhiên thống nhất, toàn vẹn và không tách rời từng phần” [54] Phát triển tư tưởng của Docutraev, năm 1931, L C Berg đã đưa ra khái niệm

“cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật, các hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và giới động vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hòa hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của Trái đất” và cho ra mắt công trình đầu tiên

về phân vùng toàn nước Nga (ông gọi đó là các đới CQ) [32, 54, 56, 130]

Tuy nhiên, chỉ sau chiến tranh thế giới thứ II, CQ học mới thực sự phát triển mạnh và tìm được chỗ đứng cho mình, khi đó CQ được xác định như một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới”

Các nhà địa lý Liên Xô cũ đã có những đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện và phát triển lý thuyết, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu CQ Và cho đến nay, các nhà khoa học nghiên cứu về CQ ở nước ta chủ yếu đều dựa trên nền tảng lý luận của trường phái nước Nga Xô Viết, cùng thống nhất ba quan niệm về CQ (Từ điển Bách khoa Địa lý Xô viết, 1988) [32, 54, 56] để chỉ các hình thức CQ khác nhau phụ thuộc vào các quan niệm của người nghiên cứu

- Quan niệm chung: CQ được hiểu như một khái niệm chung, ý nghĩa tương tự khái niệm “địa hình”, “khí hậu”, “thổ nhưỡng”,… đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể các cấp Người đề xuất quan điểm này là F.N Milkov và được D.L Armand, P.X Kuzonhexov, V.P Prokaev… tích cực ủng hộ Tuy nhiên, quan niệm này thường “được dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu một

Trang 7

dạng sử dụng rất cụ thể như cho các vườn bảo vệ tự nhiên, cho phát triển một số giống, loài nào đó”, bởi CQ ở đó không có giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo trật tự phân cấp logic nào

- Quan niệm kiểu loại: CQ là đơn vị cơ sở, là cấp phân vị, đơn vị phân loại trong

hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lý tự nhiên lãnh thổ Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên xuống hoặc từ dưới lên Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hóa của các đơn vị CQ đều chịu ảnh hưởng của quy luật địa đới và phi địa đới (A G Ixatrenco, 1965) Quan niệm này chúng ta thường thấy trong các công trình nghiên cứu của các tác giả A G Ixatrenco, Gerenchuc, A M Marinhich, N.A Gvozdexki, và của đa số các tác giả nghiên cứu về

CQ ở Việt Nam (TT Địa lý tài nguyên nay là Viện Địa lý, Khoa Địa lý trường ĐH Tổng hợp Hà Nội nay là trường ĐH Khoa học Tự nhiên) Quan niệm này có lợi thế trong nghiên cứu thành lập bản đồ CQ phục vụ mục đích thực tiễn, ở tỷ lệ lớn và trung bình, đối với các CQ bị biến đổi bởi các hoạt động của con người

Theo quan niệm này đã có rất nhiều hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước được đề xuất Đó là hệ thống phân vị cảnh quan của Nhikolaev (1979) gồm 12 bậc: thống → hệ → phụ hệ → lớp → phụ lớp → nhóm → kiểu → phụ kiểu → hạng → phụ hạng → loại → phụ loại

Năm 1985, Phạm Quang Anh [1] đã đưa ra hệ thống phân vị CQ chủ yếu dựa trên cơ sở hệ thống phân vị CQ của Nhikolaev và có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, hệ thống đó bao gồm 5 bậc: hệ → phụ hệ → lớp → phụ lớp → kiểu Trong công trình nghiên cứu định hướng phát triển cây cà phê ở Đăk Lăk (1985) các tác giả Phạm Quang Anh đã tiến hành phân kiểu cảnh quan vùng chuyên canh cà phê ở bản đồ tỷ lệ 1:100.000 với 4 cấp: hệ → lớp → phụ lớp → kiểu cảnh quan [1] Năm 1993, tập thể tác giả phòng Địa lý tự nhiên thuộc Trung tâm Địa lý Tài nguyên (nay là Viện Địa lý) đã công bố cuốn sách “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam” [55] trong đó hệ thống phân loại CQ Việt Nam bao gồm các cấp: hệ → phụ hệ → lớp → phụ lớp → kiểu → phụ kiểu → hạng → loại cảnh quan, các đơn vị cấu trúc hình thái CQ: dạng địa lý - nhóm dạng - diện địa lý - nhóm diện Mỗi cấp đều có nội dung và chỉ tiêu phân chia cụ thể nhưng các cấp “phụ” không nhất thiết phải phân chia trong mọi trường hợp (nó phụ thuộc vào sự phức tạp của cấp chính)

Trang 8

Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) [32] đã đưa ra bảng “Hệ thống các chỉ tiêu phân loại CQ áp dụng cho bản đồ cảnh quan Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000”, hệ thống này bao gồm các cấp: hệ thống CQ → phụ hệ thống

CQ → lớp CQ → phụ lớp CQ → kiểu CQ → phụ kiểu CQ → loại (nhóm loại) CQ Đơn vị nhỏ hơn cảnh quan trong thứ tự phân loại đó là dạng cảnh quan và diện cảnh quan Các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về cảnh quan cũng đã đưa ra các định nghĩa khác nhau cho chúng [32]

Hệ thống phân loại là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ CQ Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống phân loại nào được công nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp Do đó mà khi tiến hành nghiên cứu, thành lập bản đồ CQ trên các khu vực, các tỷ lệ khác nhau các tác giả thường xác lập một hệ thống phân loại trên cơ sở những hệ thống phân loại đã có trước

- Quan niệm cá thể: Người đầu tiên đề xướng quan niệm này là L X Berg và sau này được phát triển trong các công trình của A A Grigoriev (1957), X V Kalexnic (1947-1959), A G Ixatrenco (1953, 1965, 1989), N A Xolnsev (1948, 1949), theo đó

CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị địa lý tự nhiên cơ sở,

là đối tượng cơ bản để nghiên cứu lãnh thổ Theo quan niệm này, Vũ Tự Lập khi nghiên cứu CQ địa lý Miền Bắc Việt Nam đã định nghĩa: “CQ địa lý là một tổng thể được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại

tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao gồm tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [52], ở đó các cá thể CQ của ông không lặp lại ở bất kỳ lãnh thổ khác

Cảnh quan học đã cung cấp lý luận về tính hệ thống và tính thứ bậc chặt chẽ trong cấu trúc môi trường của sinh vật, là cơ sở hình thành hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan của trường phái Nga Xô Viết (cũ) và được các nhà cảnh quan học Việt Nam kế thừa, phát triển

1.1.2 Các nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái

Sinh thái học (ecology) là một khoa học cơ bản trong sinh vật học, nghiên cứu các mối quan hệ của sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường ở mọi mức tổ chức,

từ cá thể, quần thể đến quần xã sinh vật và hệ sinh thái (HST) [72]

Trang 9

Thuật ngữ sinh thái học xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX bởi một nhà động vật học người Đức, Haeckel (1866), đó là “nghiên cứu tổ hợp các mối tương quan của con vật với môi trường của nó và trước tiên là mối quan hệ “bạn bè”, “thù địch” với một nhóm động, thực vật mà con vật đó tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp” [72, 76] Đến đầu thế kỷ

XX, sinh thái học chuyển sang nghiên cứu sinh thái học quần xã sinh vật Vào những năm 20 của thế kỷ XX, sinh thái học đã phát triển một bước quan trọng, coi hệ sinh thái như là một đơn vị cơ sở, gồm hai hệ thống nhỏ quần xã sinh vật và môi trường Cho đến nay, sinh thái học đã trở thành một khoa học giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố môi trường, từ đó tạo nên những nguyên tắc, định hướng cho chiến lược phát triển bền vững của xã hội con người Khái niệm hệ sinh thái (ecosystem) lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà sinh thái học A Tansley (1935) đó là “một tập hợp các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật)

và môi trường vô cơ nơi chúng sinh sống (khí hậu, đất)”, sau đó được các nhà sinh thái học ở Mỹ kế thừa và phát triển (Linderman, 1942; Odum, 1971; Whittaker, 1975) Khái niệm này đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố vô sinh (đối tượng nghiên cứu của các nhà địa lý) với các yếu tố hữu sinh (đối tượng nghiên cứu của các nhà sinh học), là cơ sở

để hình thành khái niệm “sinh thái cảnh quan” (landscape ecology) Các nghiên cứu của Holling (1992) cũng đã kết luận: mọi hệ sinh thái đều được điều khiển và tổ chức bởi các loài sinh vật ưu thế và các quá trình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc cảnh quan

ở các tỷ lệ khác nhau [86]

Từ các nghiên cứu sinh thái học và hệ sinh thái cho thấy, nhược điểm của tiếp cận nghiên cứu hệ sinh thái là không xác định được thứ bậc về không gian của lãnh thổ nghiên cứu, do đó có thể bao trùm lên không gian bất kỳ từ hệ sinh thái gốc cây, hệ sinh thái rừng đến hệ sinh thái vũ trụ Đó chính là lý do mà các nhà sinh thái rất quan tâm đến cách tiếp cận không gian của địa lý học với hệ thống phân vị chặt chẽ, có ý nghĩa thực tiễn rất cao trong nghiên cứu sinh thái học Bên cạnh đó, các nhà cảnh quan học “sinh thái hóa cảnh quan” để định lượng hóa các chỉ tiêu về trao đổi vật chất, trao đổi năng lượng trong CQ Và bản thân việc hội tụ của CQ và sinh thái học đã thể hiện “nhân” và

“quả” của phân hóa tự nhiên, của sự tương tác giữa thế giới vô cơ và hữu cơ [55, 129]

1.1.3 Tiếp cận sinh thái cảnh quan

Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan hay địa sinh thái đã phát triển mạnh ở CHLB Đức và một số nước Bắc Âu từ những năm 60 của thế kỷ XX Theo hướng này

Trang 10

Hội Sinh thái cảnh quan Quốc tế đã được thành lập năm 1982 và cho đến nay “sinh thái cảnh quan” đã trở thành một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu rõ ràng Theo Rister và nnk (1984) “sinh thái CQ nghiên cứu sự phát triển và động lực của tính không đồng nhất không gian, các mối tương tác và trao đổi theo thời gian và không gian thông qua các cảnh quan không đồng nhất, các ảnh hưởng của tính phân dị không gian đến các quá trình sinh học và phi sinh học, quản lý tính phân dị không gian đó” [122, 127] Sinh thái cảnh quan là một hướng nghiên cứu liên ngành và tổng hợp hình thành trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng của sinh thái học và tính tổng hợp, tính trật tự, tính phân cấp của cảnh quan học nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội Sinh thái học cảnh quan ra đời với mục đích xúc tiến sự liên kết giữa các nhà khoa học và các nhà lập kế hoạch [129]

Tuy nhiên, lần đầu tiên thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” được đưa ra bởi nhà địa

lý sinh vật người Đức Carl Troll (1939), ông đã tiến hành nghiên cứu sinh thái của cảnh quan nhằm xác định chất lượng cân bằng thiên nhiên của vật chất trong phạm vi một vùng hoặc một phần lãnh thổ Sinh thái cảnh quan là học thuyết tổng hợp về cân bằng thiên nhiên, nhờ đó có thể nhận biết được mối quan hệ tương hỗ chức năng tồn tại bên trong các cảnh quan, hiểu được tính nhân quả sinh học và lý-hóa của chúng và xác định (số lượng và chất lượng) trật tự phụ thuộc trong tổng hợp thể hiện tự nhiên này của các quan hệ chế ước lẫn nhau Theo ông, sinh thái cảnh quan có hai nội dung nghiên cứu chính: (1) nghiên cứu cảnh quan bằng con đường phân tích mối quan hệ qua lại giữa các quần thể sinh vật với môi trường; (2) nghiên cứu quan hệ giữa các tổng thể tự nhiên với nhau, kể cả ảnh hưởng của những hoạt động của con người [124]

Nếu như mục đích của nghiên cứu cảnh quan truyền thống là tìm ra các đơn vị cảnh quan đồng nhất theo các cấp khác nhau trong không gian (giống như một bức khảm) thì các nhà nghiên cứu sinh thái cảnh quan đang tích cực nghiên cứu và xây dựng các nguyên tắc về các kiểu đa dạng sinh học và các quá trình tự nhiên xảy ra trong nội

bộ bức khảm đó và mối liên quan với bức khảm lân cận nhằm thực hiện các ý đồ về quy hoạch, thiết kế, quản lý và lập các chính sách về đất đai [31, 32, 122, 124]

Ở đó có sự hội tụ và bổ sung cho nhau của hai ngành địa lý và sinh học Các nhà địa lý đi từ giới vô cơ dần dần đến giới hữu cơ và cuối cùng đã thấy sinh vật đóng vai trò chủ đạo trong các hệ tự nhiên và hệ tự nhiên hoạt động tốt nhất là hệ tự nhiên có năng suất sinh vật cao nhất [126] Do vậy, cải tạo hệ tự nhiên phải bắt đầu bằng việc cải tạo

Trang 11

thực vật Các nhà sinh học khi tìm hiểu giới sinh vật không thể không đề cập đến môi trường vô cơ như đất, nước, không khí Cả hai đều phát sinh phát triển trong mối quan

hệ tương tác và thống nhất với nhau thành một hệ tự nhiên

Từ các quan điểm nêu trên, luận án thống nhất với quan niệm kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình, trong đó đơn vị cơ sở được sử dụng là “loại cảnh quan” Tuy nhiên, ngay trong cấu trúc của mỗi loại cảnh quan tính sinh thái đã được thể hiện từ sự kết hợp của các nhân tố môi trường và quần xã sinh vật, nên thuật ngữ “cảnh quan” và “sinh thái cảnh quan” được coi là đồng nhất trong nội dung luận án Đồng thời, quan niệm cá thể, thể hiện tính phân vị chặt chẽ trong phân hóa lãnh thổ, cũng đã được phân tích trong cấu trúc của các tiểu vùng sinh thái cảnh quan

Từ góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ phân

tử (đa dạng di truyền), mức độ cơ thể (đa dạng loài) và mức độ hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) (IUCN, 1994)

Một số công bố gần đây cho thấy ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hóa, là sự thể hiện của xã hội con người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một nhân

tố quan trọng của các HST Đa dạng văn hóa được thể hiện bằng sự đa dạng ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, tri thức bản địa, bản sắc văn hóa độc đáo cũng mỗi dân tộc Do đó, ĐDSH được coi là sản phẩm của sự tương tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội

Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái, đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người,

sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al., 1997) Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la [21]

Trang 12

1.2.1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Nằm ở vùng Đông Nam châu Á, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu,… của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ-Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo-Malaysia Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong nhưng khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới với khoảng 10% số loài sinh vật trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền trên thế giới [21]

1.2.1.1 Đa dạng nguồn gen

Việt Nam được đánh giá là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới (Jucovski, 1970) Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) [8, 21], Việt Nam có 11 loài gia súc

và gia cầm đang được chăn nuôi với tổng số 106 giống (53 giống nội và 53 giống nhập ngoại); 802 loài cây trồng phổ biến với hàng nghìn giống khác nhau thuộc 16 nhóm cây trồng Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài trong đó có 35 loài cá cảnh, còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt

1.2.1.2 Đa dạng loài

Số lượng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn; cấu trúc loài rất đa dạng, có nhiều loài có hàng chục dạng sống khác nhau; khả năng thích nghi của loài cao, có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của các yếu tố và điều kiện ngoại cảnh

Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với dự tính có thể tới 20.00-30.000 loài thực vật, thành phần loài động vật, thực vật ở Việt Nam được thống kê trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam

TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định

được ở Việt Nam (VN)

Số loài có trên thế giới (TG)

Tỷ lệ (%) số loài VN/TG

9,6 2,8

Trang 13

TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định

được ở Việt Nam (VN)

Số loài có trên thế giới (TG)

Tỷ lệ (%) số loài VN/TG

1 6,8

3 Thực vật bậc cao

- Rêu

- Nấm lớn

Khoảng 11.400 1.030

826

220.000 22.000 50.000

5 4,6 1,6

80.000 220.000 30.000

1 3,2 3,3

1.2.1.3 Đa dạng hệ sinh thái

Trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau [8] (bảng 1.2) Thành phần các quần xã trong hệ sinh thái rất giàu cùng với cấu trúc quần xã phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới

Trang 14

Bảng 1.2 Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam

TT Hệ sinh thái Đặc điểm đa dạng sinh học

1 Rừng nguyên sinh ĐDSH giàu, hệ sinh thái bền vững

2 Rừng thứ sinh ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

3 Rừng nghèo kiệt ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

4 Trảng cỏ ĐDSH nghèo, hệ sinh thái đơn giản

5 Rừng ngập mặn ĐDSH giàu, hệ sinh thái kém bền vững

6 Trảng cát ven biển ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững, nhạy cảm

7 Núi đất ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

8 Núi đá ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

9 Hệ sinh thái nông nghiệp ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

10 Đô thị và khu công nghiệp ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

11 Nước chảy (suối, sông) ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

12 Hồ, mặt nước lớn ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

13 Ao, mặt nước nhỏ ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm

14 Bán ngập nước ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm

15 Nước lợ, cửa sông ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động

16 Biển ven bờ ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động

17 Biển sâu ĐDSH trung bình, hệ sinh thái bền vững

18 Thủy vực ngầm, hang động ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm

Nguồn: [8]

Đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam còn thể hiện ở tính phong phú của các mối quan

hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể cùng loài; mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếp nhau; các mối quan hệ năng lượng được thực hiện song song với các mối quan hệ vật chất, nhiều tầng bậc thông qua các nhóm sinh vật (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy)

Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là các hệ sinh thái nhạy cảm, tính mềm dẻo sinh thái cao làm cho các hệ đó luôn ở trong trạng thái hoạt động mạnh do đó thường rất

Trang 15

nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài (kể cả các tác động của thiên nhiên cũng như những tác động của con người)

1.2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

Con người hiện đang phá hủy một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất

mà không thể thay thế được trên thế giới là đa dạng sinh học, cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của xã hội loài người Chúng ta đã không biết giữ gìn nó mà lại đang khai thác quá mức, tiêu hao và phá hủy nói với danh nghĩa là để phát triển Thực tế, sự suy thoái ĐDSH trên Trái đất đang âm thầm phá hủy khả năng phát triển của loài người Chính vì thế, mục tiêu của bảo tồn ĐDSH “nhằm giữ được sự cân bằng tối đa giữa bảo tồn sự đa dạng của thiên nhiên và tăng cường chất lượng cuộc sống của con người” [39]

Bảo tồn ĐDSH ở đây là nói đến các hoạt động nhằm gìn giữ được ĐDSH về các mặt: cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho cuộc sống của con người, các giá trị về

xã hội, văn hóa và các dịch vụ về sinh thái Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan thông qua việc bảo tồn các hệ sinh thái và việc khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật

Ở Việt Nam, công tác bảo tồn ĐDSH được tiến hành khá sớm với hai hình thức phổ biến là bảo tồn nội vi (in-situ) và bảo tồn ngoại vi (ex-situ)

Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng bảo tồn để có các hình thức quản lý thích hợp Đây là hình thức bảo tồn ĐDSH chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian qua bằng việc thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp Kết quả thể hiện rõ nhất của phương pháp bảo tồn này là một hệ thống rừng đặc dụng (128 khu bảo tồn rừng) đã được Chính phủ công nhận và đưa vào hoạt động [21]

Bảo tồn ngoại vi bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Đó là việc hình thành các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy,… Phương pháp bảo tồn này được xác định là tương đối mới ở nước ta, tuy nhiên trong những năm qua cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định Tính đến năm 2006 đã có 17 khu rừng thực

Trang 16

nghiệm được hình thành với tổng diện tích 8.516 ha; 7 vườn cây thuốc và việc lưu giữ nguồn giống cây trồng, vật nuôi mới được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu

1.3 Tổng quan về đất ngập nước

1.3.1 Cấu trúc và chức năng đất ngập nước

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa về ĐNN khác nhau (trên 50 định nghĩa về ĐNN) tùy theo mức độ ngập nước và mục đích sử dụng khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa về ĐNN của Công ước RAMSAR (Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, năm 1971) có tầm khái quát và bao hàm nhất Theo định nghĩa này, ĐNN là "những đầm lầy than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo thường xuyên hay tạm thời với nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn kể cả những vùng nước biển có

độ sâu không quá 6m khi triều thấp” (Điều 1.1 Công ước Ramsar, 1971) [4, 11, 116] ĐNN rất đa dạng về loại hình và kích cỡ, được coi như cấu phần của cảnh quan

tự nhiên, phản ảnh những đặc trưng về tự nhiên và sinh học, xác định khuôn khổ của các quy hoạch quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên và các chức năng sinh thái của nó [128]

Trong cấu trúc, quần xã sinh vật là thành phần quan trọng vì nó là sản phẩm đặc biệt được sinh ra trong những hoàn cảnh cụ thể của ĐNN, song trong hoạt động sống, quần xã sinh vật lại làm biến đổi những đơn vị cấu trúc khác của ĐNN Những mối tương tác như thế cần được xem là cơ sở của nhận thức, đồng thời trong nghiên cứu, chúng cần được định lượng mới đem lại thành công trong việc khai thác, sử dụng và quản lý các loại hình ĐNN

Từ năm 1971, Công ước Ramsar đã chia ĐNN thành 22 loại hình mà không chia thành các hệ và lớp Đến nay, đã có rất nhiều hệ thống phân loại ĐNN (theo thứ bậc) được đưa ra trên cơ sở phân loại của Ramsar bởi các tác giả khác nhau tùy theo mục đích, mục tiêu sử dụng và bảo tồn nhưng vẫn chưa có một hệ thống nào thống nhất trên toàn quốc Vùng ĐNN ven biển được xác định là một trong hai hệ thống của ĐNN Việt Nam thuộc hệ thống phân loại của Cục Bảo vệ môi trường hợp tác với Dự án ngăn ngừa

xu hướng suy thoái môi trường biển Đông và vịnh Thái Lan (hợp phần ĐNN) đưa ra năm 2007 mà dưới đó là các phụ hệ thống, lớp và kiểu ĐNN [11]

Diện tích ĐNN trên thế giới được đánh giá vào khoảng 5,2 triệu km2

, phân bố rất rộng, từ các bãi lầy rừng ngập mặn nhiệt đới đến đất than bùn cận cực, từ các vực nước

Trang 17

nông đến những nơi đất cao bão hòa nước… Ở Việt Nam, ĐNN có trên 10 triệu ha, là chỗ dựa cơ bản cho cuộc sống hàng ngàn năm của dân tộc [76] Hai vùng ĐNN quan trọng nhất được tạo nên bởi hai hệ thống sông lớn nhất là châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long Cùng với ĐNN nước ngọt là hàng vạn ha ĐNN ven biển là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của nghề cá ở nước ta

ĐNN có những chức năng sinh thái quan trọng, cũng như giá trị kinh tế to lớn trong đời sống tự nhiên và của con người, đó là nơi tích tụ, xuất khẩu và biến đổi của các chất dinh dưỡng, duy trì nguồn nước, chuyển hóa năng lượng, … (chức năng sinh thái) ĐNN là nơi sống, nơi kiếm ăn, bãi đẻ của các loài động vật; nơi thanh lọc các chất

ô nhiễm, chống xói lở và bào mòn bờ bãi (bảo vệ bờ biển), duy trì độ phì nhiêu cho đất;

là nơi cung cấp cho con người những sản vật đa dạng mà trước hết là các đối tượng thiết yếu đối với đời sống được khai thác từ các ngành nông-lâm-ngư nghiệp [116, 121]

1.3.2 Đất ngập nước châu thổ sông Hồng

ĐNN thuộc châu thổ sông Hồng chịu sự chi phối trực tiếp của hệ thống sông Hồng-sông Thái Bình, kéo dài theo đường bờ biển từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đến Lạch Trường (Thanh Hoá) Vùng này có trên 10 cửa sông lớn nhỏ đổ nước ra biển, tham gia vào quá trình thành tạo và biến đổi CQ cũng như nhiều đặc tính khác của vùng Nhiều cửa sông bị con người xây cống chặn lại như cống Lân (cửa Lân), cống Trà Linh I, II (cửa Diêm Điền), cống Ngô Đồng và Nhất Đỗi trên sông Sò (Nam Định) [15, 17, 24] Nhìn chung, vùng đất ngập nước ven biển châu thổ sông Hồng rộng và tương đối bằng phẳng, nghiêng ra phía biển Đông vài chục phút đến vài độ, với các cửa sông dạng delta điển hình Địa hình bờ và đáy biển ở đây được phát triển trên cấu trúc sụt võng trong Kainozoi - trũng sông Hồng có phương Tây Bắc - Đông Nam, khá bằng phẳng và

bị chia cắt ngang mạnh bởi các cửa sông và lạch Đường bờ có 2 hướng chính: hướng Bắc - Nam từ Đồ Sơn đến cửa Ba Lạt và hướng Đông Bắc - Tây Nam từ Ba Lạt đến Lạch Trường Yếu tố động lực đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển bờ là sông và dòng biển (dòng triều, hải lưu ven bờ và dòng sóng) Bờ biển ở đây thuộc loại không ổn định, quá trình tích tụ chiếm ưu thế, điều này dẫn đến quá trình tiến hoá và hình thành vùng đất ngập nước mới Lục địa ven biển là vùng đồng bằng thấp của châu thổ sông Hồng hiện đại nằm trong đê biển có độ cao trung bình 3 - 4 m, một số

5 - 6 m [3, 17, 83]

Trang 18

Đặc điểm lớn nhất của vùng đất ngập nước ven bờ châu thổ sông Hồng là quá trình bồi tụ mở rộng ngang và bồi tụ nổi cao của các khu đất bồi trên các bãi triều chiếm

ưu thế Chế độ động lực sông giữ vai trò thống trị, lục địa vẫn tiến ra biển, với tốc độ từ

25 m/năm ở phía Đông Bắc đến 80 - 100 m/năm tại cửa Thái Bình, Ba Lạt và phần Tây Nam châu thổ Tại cửa Đáy sau 60 năm, bồi tụ được 3526 ha, tốc độ trung bình là 58,7 ha/năm Sau 40 năm (1960 - 2000), tỉnh Thái Bình đã quai đê lấn biển, diện tích đất được mở rộng thêm là 2.400 ha, trung bình 60 ha/năm Riêng huyện Kim Sơn (Ninh Bình), mỗi năm lấn ra biển 100 m, diện tích đất bồi được mở rộng hàng năm là 81 ha Tuy nhiên, vẫn có khoảng 20 % chiều dài bờ châu thổ bị xói lở với tốc độ khá mạnh Đặc biệt, ở bờ biển Văn Lý (Hải Hậu, Nam Định) trong vòng 60 năm (1936-1996) đã bị xói lở mất 650 ha trên chiều dài 30 km, tốc độ trung bình hiện nay là 10 - 15 m/năm, bởi sự thiếu hụt trầm tích, có thể liên quan với sự hình thành cống Ngô Đồng [15, 17,

- Đới triều là nơi ngập nước có chu kỳ, đây là nơi biến động nhất và trên đó tồn tại những hệ sinh thái rất nhạy cảm với các tác động của tự nhiên và của con nguời như RNM, bãi cỏ biển

- Đới ngập nước ven bờ (tính từ 0m hải đồ đến độ sâu 20-30m) là địa bàn rộng nhất, diện tích được đánh giá khoảng 1000 km2, rộng 5-15 km, kéo dài từ Đồ Sơn đến Lạch Trường, nơi diễn ra các quá trình sinh địa hoá quan trọng của đới ven biển, đồng thời tạo cơ sở cho nghề khai thác hải sản và giao thông biển phát triển

Ngoài các đới chung nêu trên, tại vùng ĐNN châu thổ sông Hồng còn xuất hiện một dạng địa hình đặc biệt, đó là các cồn và cồn cát ngầm cửa sông Các cồn cát cửa sông như cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ (bắc cửa Ba Lạt), cồn Ngạn, cồn Lu (nam cửa Ba Lạt) có độ cao thay đổi từ 0,5 - 1,5m Xa hơn là các cồn Xanh, cồn Mờ, Cồn Tỏ đang

Trang 19

dần nhô lên khỏi mức nước biển, nhưng chưa ổn định Sự án ngữ của đảo trước các cửa sông thường tạo nên ở phía trong các khu lắng đọng các trầm tích mịn, làm nền cho rừng cây ngập mặn phát triển, còn phía biển, được cấu tạo bằng các trầm tích hạt thô hơn

1.3.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình

Kết quả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình từ trước cho đến nay [15, 16, 17, 20, 36, 37, 42, 52, 60, 61, 62,

70, 74, 81, 89, 91, 94, 95] cho thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu triển khai ở vùng ĐNN ven biển Bắc Bộ, vùng châu thổ sông Hồng mà các nghiên cứu cho một vùng cụ thể như Thái Bình còn đơn lẻ; có thể chia thành 4 nhóm công trình:

1.3.3.1 Nhóm các công trình điều tra tổng hợp

Đầu tiên phải kể đến công trình “Điều tra tổng hợp vùng cửa sông ven biển châu thổ Bắc bộ nhằm khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường“, Đề tài 52.02.02 do

Vũ Trung Tạng chủ nhiệm (giai đoạn 1980-1985) [71]

Tiếp theo là các đề án điều tra cơ bản nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên dải ven biển như công trình của Nguyễn Đức Cự (1996-1998), Nguyễn Gia Thắng (1998), [86]… Gần nhất có công trình của Phạm Thế Vĩnh (2004) nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven biển đồng bằng sông Hồng tỷ lệ 1:100.000 và các định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ [113]

1.3.3.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về các hợp phần tự nhiên

- Nghiên cứu địa chất, địa mạo

Đề cập tới tính chất bồi tụ của châu thổ có các công trình của Lê Bá Thảo (1964), Huỳnh Ngọc Hương và Nguyễn Đức Chính (1996) Nghiên cứu về lịch sử tiến hóa vùng nghiên cứu được công bố bởi các tác giả: Hoàng Ngọc Kỷ (1977) nghiên cứu địa chất

Đệ tứ đồng bằng Bắc Bộ; Nguyễn Đức Khả (1988) nghiên cứu sự tiến triển của đường

bờ biển Thái Bình trong Holoxen muộn hiện đại và vấn đề quai đê lấn biển; Doãn Đình Lâm (2003) nghiên cứu lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng [52] Tác giả Nguyễn Hoàn cũng đã công bố kết quả nghiên cứu địa hình và trầm tích tầng mặt vùng ven biển Thái Bình (1986) và nghiên cứu biến đổi địa hình và quá trình hình thành các cồn bãi ở khu vực cửa sông Hồng (cửa Ba Lạt) (1996) [36, 37]… Bên cạnh đó còn

có các công trình nghiên cứu về động lực dải ven bờ như của Nguyễn Thế Tiệp (1993),

Trang 20

Nguyễn Văn Cư (1994), Hoa Mạnh Hùng (2001 và 1994); Nguyễn Hoàn (1990), [16,

46, 94]… Từ các kết quả đó, cơ chế thành tạo vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng được làm sáng tỏ

- Nghiên cứu hợp phần khí hậu

Vùng nghiên cứu thuộc dải đồng bằng ven biển, đặc điểm địa hình không phân hóa nhiều nên điều kiện khí hậu khá đồng nhất do đó các nghiên cứu về hợp phần này chưa được tập trung, đáng kể có công trình về “Phân kiểu sinh khí hậu” của Nguyễn Can (1994) và “Điều kiện sinh khí hậu dải ven biển Việt Nam” của Mai Trọng Thông và nnk (1994) [20, 87, 107]

- Nghiên cứu về thổ nhưỡng

Năm 1994 và 1995, tác giả Trần Duy Tứ và đồng nghiệp đã tiến “Đánh giá tài nguyên đất dải ven biển đồng bằng sông Hồng” và "Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất huyện Tiền Hải và Thái Thụy tỉnh Thái Bình” Gần đây nhất, Nhữ Thị Xuân,

đã công bố công trình “Ứng dụng hệ thông tin địa lý trong thành lập bản đồ phân hạng thích nghi đất lúa tỉnh Thái Bình” (2005) và “Đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình với sự trợ giúp của GIS-ALES” (2006)

- Nghiên cứu về đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật

Từ những năm 1961, 1964-1965, 1967-1969, Tổng cục Thủy sản kết hợp với các Viện nghiên cứu của Liên Xô (cũ) và Viện Nghiên cứu biển đã tiến hành điều tra thành phần các loài sinh vật trên vùng triều bờ Tây vịnh Bắc Bộ và các cửa sông (Ba Lạt, Lạch Giang, Đáy) Tiếp theo phải kể đến các nghiên cứu về đa dạng thành phần các nhóm loài sinh vật ở vùng ĐNN ven biển Thái Bình như của Phạm Đình Trọng, Đỗ Văn Nhượng

và Hoàng Ngọc Khắc (động vật đáy); Lê Nguyên Ngật và Trần Giang Hoàn (lưỡng cư,

bò sát); Trần Thanh Thản, Dương Ngọc Cường và Trần Minh Khoa (cá); Lê Diên Dực,

Lê Đình Thủy (chim) [19, 24, 62, 89, 90, 95, 96]…

Về thảm thực vật ven biển được mở đầu bằng công trình được công bố trong luận án PTS Sinh học của Phan Nguyên Hồng (1970), “Đặc điểm sinh thái, phân bố của

hệ thực vật và thảm thực vật ven biển miền Bắc Việt Nam”

Về đặc trưng đa dạng hệ sinh thái có các công trình như: “Hệ sinh thái vùng triều miền Bắc Việt Nam” của Nguyễn Xuân Dục (1994); “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam” của Phan Nguyên Hồng (Luận án TSKH, 1991); “Hệ sinh thái rừng

Trang 21

ngập mặn” của Phan Nguyên Hồng (1994); chương trình “Quy hoạch định hướng cho một số hệ sinh thái ĐNN ven biển Bắc Bộ mà bước khởi đầu là huyện Thái Thụy (Thái Bình) và huyện Giao Thủy (Nam Định) phục vụ cho phát triển bền vững” do Vũ Trung Tạng chủ nhiệm (2005) [42, 75, 132]…

1.3.3.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa - kinh tế - xã hội

Các công trình nhằm phát triển kinh tế-xã hội vùng nghiên cứu như: "Đánh giá các yếu tố, nguồn lực chủ yếu cho việc phát triển kinh tế-xã hội dải ven biển Thái Bình đến năm 2010” của Phạm Xuân Trường (1995); các dự án của Nguyễn Lập Dân (1996); Nguyễn Văn Cư (1992, 1997); [15, 16, 20]…

Liên quan đến vấn đề quy hoạch vùng cho phát triển bền vững phải kể tới các công trình của Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1994); Lê Quý An, Đường Hồng Dật (1996); quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng, của tỉnh Thái Bình đến năm 2010 và 2010,…

1.3.3.4 Nhóm các công trình ứng dụng công nghệ viễn thám và HTTĐL (GIS)

Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong nghiên cứu ĐNN ven biển chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây, mới đây nhất là dự án

do Trung tâm Viễn thám thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện về điều tra, đánh giá tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngập nước ven biển (2007); đề tài do Nhữ Thị Xuân chủ nhiệm đã ứng dụng hệ thông tin địa lý xây dựng cơ sở dữ liệu đơn vị đất đai từ đó phân hạng và đánh giá thích nghi đất đai cho toàn tỉnh Thái Bình và huyện Thái Thụy; đánh giá biến động sử dụng đất trên vùng nghiên cứu

Ứng dụng viễn thám và GIS nghiên cứu quản lý tài nguyên ven biển phải kể đến công trình của Phạm Thế Vĩnh (2004), Phạm Quang Sơn (2004), Nguyễn Đình Minh (2003), Nguyễn Thanh Xuân (2003), Trần Văn Điện (2000), Nguyễn Ngọc Thạch (1997) [69, 79, 113]…

Qua phân tích các tài liệu đã công bố cho thấy:

- Đó là những công trình nghiên cứu có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn Các công trình chủ yếu là nghiên cứu các hợp phần riêng rẽ của tự nhiên (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu,…) trên quy mô toàn vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Tuy nhiên, hệ thống tư liệu đó cũng chính cơ sở quan trọng cho việc phân tích các nhân tố, động lực hình thành cảnh quan vùng nghiên cứu trong mối liên hệ với các vùng lân cận

Trang 22

- Các công trình nêu trên chủ yếu ở vùng châu thổ sông Hồng mặc dù tỉnh Thái Bình là một trong sáu tỉnh thành được phân chia nằm trong vùng ĐNN ven biển Bắc Bộ, các nghiên cứu chi tiết cho vùng ĐNN ven biển Thái Bình còn hạn chế, còn thiếu các công trình tổng hợp phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của vùng

- Xét về phạm vi lãnh thổ và hướng nghiên cứu cảnh quan tổng hợp, công trình nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven biển đồng bằng sông Hồng phục vụ cho việc sử dụng hợp lý lãnh thổ của Phạm Thế Vĩnh (2004) có nội dung gần hơn cả với luận án Trong luận án tiến sỹ địa lý, tác giả đã đưa ra hệ thống phân vị gồm 1 hệ → 1 phụ hệ →

2 dải → 4 lớp → 9 kiểu → 65 hạng → 110 loại cảnh quan sinh thái để thành lập bản đồ phân kiểu cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 Trên cơ sở đánh giá các mức độ thuận lợi của từng hạng cảnh quan sinh thái, luận án đã đề xuất các phương thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phát triển nền kinh tế hàng hóa trong vùng

- Các công trình nghiên cứu theo hướng phân tích cảnh quan, sinh thái cảnh quan

ở tỷ lệ lớn 1:50.000 (cấp huyện), đặc biệt là nghiên cứu biến động cảnh quan là chưa thấy có Chính vì thế, vùng ĐNN ven biển tỉnh Thái Bình cần có công trình nghiên cứu tổng hợp, đi sâu về mặt sinh thái cảnh quan để thấy rõ hơn về bản chất phát sinh sinh thái, xu thế phát triển và tác động của kinh tế xã hội đối với việc hình thành các loại cảnh quan ven biển đặc trưng

Do đó hướng nghiên cứu của đề tài luận án là sẽ đưa ra một bức tranh tổng thể về

sự hình thành và xu thế phát triển các cảnh quan sinh thái trên cơ sở tiếp cận sinh thái học và quan điểm phát triển bền vững từ đó đề xuất các định hướng quy hoạch sử dụng vùng ĐNN ven biển Thái Bình cho phát triển bền vững

1.4 Quan điểm phát triển bền vững

1.4.1 Khái niệm phát triển bền vững

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường” [5, 29, 40]

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 với nội dung “Phát triển bền vững” là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” Nói

Trang 23

cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ [2, 5]

Nội dung phát triển bền vững được nhấn mạnh và mang tính toàn cầu kể từ khi

“Chương trình nghị sự 21” (Agenda 21) của Liên hợp quốc được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janero (Braxin) năm 1992 Ở đó, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng các nhà chính trị

đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và chúng ta cần phải đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người, cải thiện tiêu chuẩn sống cho mọi người, bảo vệ và quản lý tốt hơn các hệ sinh thái Và các nội dung về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển, đại dương, phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn,… đã được đề cập chi tiết trong phần 2 (bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên) của chương trình nghị sự [7, 123]

Từ khái niệm “phát triển bền vững” của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (1987), rất nhiều mô hình phát triển bền vững được ra đời như mô hình của WCED (1987), Villen (1990), UNICEP (1993), Ngân hàng Thế giới (1995), IIED (1995),… Theo mô hình của Ngân hàng Thế giới (hình 1.1), phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội (công bằng và bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người)

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới [89, 123]

1.4.2 Phát triển bền vững ở Việt Nam

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Tuy nhiên ngay từ đầu những năm 80 ở nước ta, chương trình nghiên cứu “Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” nhằm

Mục tiêu kinh tế

Phát triển bền vững

Trang 24

điều tra tài nguyên, tìm hiểu các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đã được tiến hành

Quan điểm phát triền bền vững được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta trong “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” do Hội đồng

Bộ trưởng ban hành ngày 12 tháng 6 năm 1991 Đó là cơ sở khoa học và pháp lý khởi đầu cho các định hướng phát triển ở những năm tiếp theo

Ngày 22 tháng 12 năm 1995, “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học” (BAP) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, và từ đó đến nay, BAP là văn bản có tính pháp lý,

là kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ ĐDSH ở tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể

Tại đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX trong đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) giai đoạn 2001-2010 đã chỉ rõ “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng

xã hội và bảo vệ môi trường, giữ gìn đa dạng sinh học” Để thực hiện mục tiêu PTBV, nhiều các luật chuyên ngành; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách, nghị định của Chính phủ và các Bộ đã được ban hành và triển khai; nhiều chương trình, đề tài trong lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả đáng tin cậy, nhiều nội dung

cơ bản về PTBV đã đi vào cuộc sống và đang dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước Trong đó phải kể đến “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 và Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, đây là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam về công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học [14]

Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN ven biển Việt Nam đến năm 2015 đã được xây dựng [2, 6, 7], một số nguyên tắc chỉ đạo đã được đưa ra trong bản kế hoạch như: nhằm tiến tới sử dụng khôn khéo ĐNN, bảo tồn ĐDSH và góp phần PTBV kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai vùng ven biển; cần lồng ghép một cách hữu cơ với chiến lược phát triển KT-XH; việc tổ chức thực hiện phải được xã hội hóa đặc biệt là đối với cộng đồng ven biển, phù hợp với nguồn lực của quốc gia cũng như yêu cầu của các công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia

Trang 25

Tất cả các nguyên tắc trong PTBV cũng như các quy định của Nhà nước về bảo tồn và PTBV đa dạng sinh học các vùng ĐNN sẽ là kim chỉ nam cho định hướng quy hoạch sử dụng vùng ĐNN ven biển Thái Bình

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu

Vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình có tọa độ địa lý được xác định từ

20o14‟24‟‟ đến 20o37‟00‟‟ vĩ độ Bắc và 106o26‟30‟‟ đến 106o38‟00‟‟kinh độ Đông, nằm trong vùng ĐNN ven biển Bắc Bộ (vùng châu thổ sông Hồng) Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài vùng nghiên cứu được giới hạn bởi ranh giới hành chính của hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy có đường bờ biển dài 49,5km với 5 cửa sông lớn đổ ra biển đó là: cửa sông Thái Bình, cửa Diêm Điền, cửa Trà Lý, cửa Lân và cửa Ba Lạt (hình 2.1);

độ cao lớn nhất là đỉnh các cồn cát đạt 4-5m (so với 0m lục địa) và độ sâu tính đến 6m (so với 0m hải đồ) theo định nghĩa về đất ngập nước của Ramsar

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại cảnh quan và đa dạng sinh học trên vùng ĐNN ven biển tỉnh Thái Bình, nghiên cứu sự biến động của chúng cũng như hiện trạng đa dạng sinh học và sự biến động của các hệ sinh thái từ đó đưa ra các giải pháp cho sự phát triển bền vững

2.2 Tài liệu nghiên cứu

Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã tham gia thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá sự biến đổi cảnh quan và đa dạng sinh học ĐNN ven biển huyện Tiền Hải (Thái Bình), đề xuất các giải pháp quy hoạch khai thác và quản lý vùng cho phát triển bền vững” (NCCB 6.086.06), góp phần điều tra khảo sát bổ sung số liệu về đa dạng sinh học, về tình hình phát triển KT-XH, tiến hành nghiên cứu ngoại nghiệp đối với các bản

đồ chuyên đề (bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật năm 2007, bản đồ sinh thái cảnh quan năm 2007) đã được thành lập và biên tập từ các nguồn khác nhau ở vùng nghiên cứu

Bên cạnh đó, là nguồn tài liệu từ các công trình khoa học đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước (tài liệu tham khảo); các dữ liệu ảnh viễn thám và bản đồ

đã được sử dụng trong quá trình thực địa cũng như trong thành lập các bản đồ chuyên

đề, bản đồ kết quả của luận án (bảng 2.1)

Trang 27

TT Tên dữ liệu Năm Tỷ lệ Dạng dữ liệu Nguồn dữ liệu Thái Bình

Bên cạnh đó, vùng ĐNN ven biển Thái Bình (trong phạm vi nghiên cứu của luận án) có ranh giới hành chính là hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng với truyền thống và bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng lúa nước châu thổ sông Hồng Theo cấu trúc thẳng đứng, hai huyện được coi vừa

là đơn vị sản xuất và quản lý, vừa là đơn vị chịu sự chi phối trực tiếp của các cấp trên nó

là tỉnh Thái Bình và vùng đồng bằng Bắc Bộ

Trong quá trình phân tích cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình, quan điểm

hệ thống đã cho phép xác định cấu trúc không gian, phân tích được chức năng của các hợp phần, các yếu tố thành tạo nên cấu trúc đứng và chức năng của cảnh quan trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng Đó là các yếu tố như địa hình và các quá trình

Trang 28

ngoại lực hình thành địa hình (địa mạo ngoại sinh) phân hóa không gian theo các cấp khác nhau, sự phân hóa của nền nhiệt (bức xạ, nhiệt độ), của chế độ ẩm (lượng mưa, độ

ẩm, bốc hơi,…), sự phân bố của dòng chảy, của chế độ dòng chảy, của cán cân nước,… theo không gian, của đất, thực vật, động vật

Theo mối quan hệ vật chất - năng lượng với nghĩa rộng, các vùng ven biển Thái Bình là những đơn vị hành chính của tỉnh Thái Bình, nằm trong tổng thể phát triển KT-

XH của châu thổ sông Hồng và rộng hơn là nằm kề với vùng trọng điểm kinh tế miền bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, thông qua sự di cư, nhập cư, giao lưu hàng hoá

và tiền tệ giữa chúng Sự phát triển của các huyện không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của các tỉnh và toàn vùng

Quan điểm hệ thống còn được thể hiện trong quá trình thiết lập cơ sở dữ liệu phục vụ thành lập các bản đồ sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) Đó là những dạng thông tin không gian đã qua xử lý và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (quan hệ topology) trong cơ sở dữ liệu Sau quá trình xử lý thông tin theo mục đích nghiên cứu, kết quả đầu ra là những cơ sở dữ liệu dạng bản đồ hoặc bảng biểu phù hợp với yêu cầu đặt ra

2.3.2 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững hiện nay đã trở thành phổ biến và áp dụng rộng rãi trong tất cả các hoạt động của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Phát triển bền vững kinh tế-xã hội luôn gắn liền với bảo vệ môi trường để đảm bảo việc khai thác tài nguyên và phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hiện tại mà không tổn hại tới sự phát triển của thế hệ tương lai [38, 110]

Theo quan điểm này, để vùng ĐNN ven biển Thái Bình phát triển bền vững thì hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học, các tiêu chí về bền vững sinh thái-môi trường-xã hội phải được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó, cảnh quan là sản phẩm tác động qua lại giữa các hợp phần tự nhiên và xã hội, mức độ bền vững của cảnh quan cũng là thước đo mức độ bền vững của các giải pháp khoa học đưa ra trong phát triển kinh tế và bảo tồn

2.3.3 Tiếp cận đa tỷ lệ và đa thời gian

Tiếp cận đa tỷ lệ là tiếp cận theo mức độ chi tiết về không gian Trong quá trình nghiên cứu vùng ĐNN ven biển Thái Bình các loại bản đồ với các tỷ lệ khác nhau đã

Trang 29

được sử dụng như bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000, 1:50.000,… đặc biệt là việc giải đoán ảnh viễn thám (ảnh SPOT) để hình thành các bản đồ chuyên đề phục vụ cho công việc phân tích hệ thống phân vị cảnh quan từ cao đến thấp

Tiếp cận đa thời gian với bản chất là tiếp cận lịch sử để đánh giá biến động cảnh quan, biến động hệ sinh thái theo thời gian ĐNN ven biển Thái Bình đã trải qua quá trình phát triển tiến hoá lâu dài, mỗi giai đoạn của chúng, cũng như dấu tích hoạt động của con người dù ngắn hay dài đều được đánh dấu bởi các mốc trên nền địa chất, địa mạo, cũng như các quần xã sinh vật trên đó Các đối tượng được xem xét theo thời gian

sẽ cho chúng ta cái nhìn có tính chất gắn bó hữu cơ hơn là cách tiếp cận chỉ ở một thời điểm nhất định [140] Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích biến động cảnh quan cũng như biến động hệ sinh thái theo các thời kỳ, cho phép đánh giá đúng hiện trạng cũng như phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển làm cơ sở cho các dự báo về xu hướng phát triển của vùng nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa

Hoạt động nghiên cứu tổng hợp về đới ven bờ vịnh Bắc Bộ đã được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ XX Tiếp sau đó là các công trình trình nghiên cứu của các Trường Đại học, các Viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý và địa phương về vùng châu thổ sông Hồng cũng như vùng đất Thái Bình Toàn bộ các dữ liệu khoa học đó đã được thu thập, thống kê theo quan điểm hệ thống nhằm đảm bảo tính đồng bộ của dữ liệu Sau

đó, phân tích hệ thống các nhân tố sinh thái hình thành cảnh quan, chuẩn hóa các bản đồ thành phần (địa mạo, thổ nhưỡng, thảm thực vật) dựa trên nền bản đồ địa hình chuẩn hệ tọa độ VN 2000 tỷ lệ 1:50.000 Đây là phương pháp vừa tổng hợp được các nghiên cứu trước đó một cách có hệ thống, vừa tạo cơ sở dữ liệu ban đầu cho luận án

2.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Các đợt điều tra, khảo sát, thu mẫu sinh vật [22] đã được tiến hành ở vùng nghiên cứu từ tháng 11/2006 đến tháng 4/2008 Trên cơ sở các tài liệu đã có và bản đồ địa hình, các tuyến khảo sát đã được đưa ra để xác định quy luật phân hóa cấu trúc và ranh giới giữa các dạng cảnh quan Bên cạnh đó, thông tin miêu tả cấu trúc đứng của cảnh quan ở các điểm khảo sát cũng được ghi chép cẩn thận có hệ thống Ngoài ra còn phải chú ý đến hiện trạng tác động của con người trong quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế, như: quai đê lấn biển, trồng rừng ngập mặn, đắp đầm nuôi thủy

Trang 30

sản, khai thác muối, hệ thống thủy lợi, năng suất và hiệu quả kinh tế của một số mô hình canh tác,…

Phương pháp thu thập thông tin từ những người dân có kinh nghiệm (KIP-Key Panel) đã được thực hiện trong các chuyến điều tra khảo sát Thông qua các buổi làm việc, trao đổi trực tiếp với các Phòng chức năng thuộc UBND huyện và lãnh đạo các xã

để có thông tin cho từng nội dung cụ thể (lâm nghiệp, thủy sản,…) Đồng thời họ cũng giới thiệu những người được coi là có kinh nghiệm nhất trong cộng đồng để phỏng vấn nhằm nâng cao độ tin cậy cho các thông tin nhận được

2.4.3 Phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS)

“Viễn thám là khoa học và công nghệ mà theo đó các đặc tính của đối tượng quan tâm được nhận diện, đo đạc hoặc phân tích các tính chất mà không có sự tiếp xúc trực tiếp” [80]

Vệ tinh SPOT do trung tâm nghiên cứu không gian của Pháp thực hiện có sự tham gia của Bỉ và Thụy Điển mà vệ tinh đầu tiên được phóng lên quỹ đạo (SPOT 1) vào ngày 21 tháng 2 năm 1986 [80, 125] Từ đó đến nay đã có 5 vệ tinh SPOT (ký hiệu

từ SPOT 1 đến SPOT 5) được phóng lên đều thuộc quỹ đạo mặt trời, ở độ cao 832m, độ nghiêng 98,7o, thời điểm qua quỹ đạo là 10:30 giờ sáng, thời gian lặp lại thường là 26 Ở chế độ đa phổ đầu thu HRV thu nhận 3 vùng phổ là xanh, đỏ và cận hồng ngoại (bảng 2.2)

Bảng 2.2 Đặc điểm các kênh phổ của đầu thu ảnh vệ tinh SPOT

số SPOT trên 80%) [68, 125]

GIS phát triển trên cơ sở kế thừa những kiến thức của ngành Bản đồ học (Cartography), công cụ tính toán tự động của Tin học (Informatic) và gần đây là thông tin không gian cập nhật từ Viễn thám (Remote Sensing) GIS được định nghĩa là một tổ

Trang 31

chức tổng thể của bốn hợp phần (hình 2.2): phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu địa

lý và người điều hành được thiết kế hoạt đông một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý [58, 118]

Hình 2.2 Cấu trúc của GIS [58, 118]

Trong sinh thái học cảnh quan, GIS là công cụ cơ bản, đặc biệt nó được sử dụng như nền móng để thực hiện các mô hình và dữ liệu thực, chuyển hóa các thông tin từ phần tích ẩn sang phân tích hiện [115] Và trong các nghiên cứu về biến động cảnh quan cũng như biến động các thành phần cấu trúc cảnh quan (thảm thực vật, thổ nhưỡng, phân bố động vật theo cảnh quan,…) công cụ GIS đã được sử dụng để xử lý dữ liệu không gian biến động

Vai trò của GIS trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan là cung cấp một cấu trúc

dữ liệu cho lưu trữ và quản lý hệ thống sinh thái trên những vùng lớn; cho phép tập hợp

và phân chia dữ liệu ở các tỷ lệ; xác định vùng nghiên cứu hoặc vùng nhạy cảm môi trường; hỗ trợ phân tích thống kê không gian của sự phân bố sinh thái; nâng cao khả năng chiết xuất thông tin viễn thám; cung cấp dữ liệu đầu vào cho mô hình hóa hệ thống sinh thái GIS cũng cung cấp thông tin cơ sở cho mô hình hóa mô phỏng những quá trình cảnh quan động (biến động theo thời gian) [115, 117, 119, 131, 135]

Kết hợp công nghệ viễn thám và GIS đã phát huy vai trò to lớn trong việc thành lập bản đồ lớp phủ thực vật, quá trình giải đoán ảnh và nghiên cứu, theo dõi biến động

Sự tích hợp thông tin trong các lớp bản đồ chuyên đề được thành lập từ phương pháp viễn thám đã cho phép thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan và theo dõi biến động cảnh quan trong vùng nghiên cứu

Trang 32

Các phần mềm đã được sử dụng trong nghiên cứu của luận án bao gồm Mapinfor 7.8, ENVI 4.3 (thành lập bản đồ), Arcview 3.2 (phân tích không gian), ArcGIS 9.0 (số hóa, phân tích không gian)

Phương pháp xử lý và giải đoán ảnh viễn thám thành lập bản đồ lớp phủ thực vật vùng ven biển Thái Bình

Các ảnh vệ tinh SPOT đa phổ đã được sử dụng trong luận án để xây dựng bản đồ lớp phủ thực vật vùng nghiên cứu là ảnh SPOT 1 (hình 2.3) và ảnh SPOT 5 (hình 2.4), các thông tin ảnh được trình bày ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Thông tin cơ bản của ảnh SPOT Tên vệ tinh Tên kênh phổ Dải phổ (µm) Độ phân giải

không gian (m)

Thời gian thu ảnh

1986 SPOT 5 band 1: green

band 2: red band 3: near infrared

band 4: mid infrared

panchromatic

0,50 - 0,59 0,61-0,68 0,78-0,89 1,58-1,75 0,48-0,71

Trang 33

Hình 2.5 Đường phân phối phổ phản xạ của các đối tượng trên ảnh SPOT [125] Phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh bằng mắt dựa trên các dấu hiệu phổ để đoán đọc trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng đưa ra chìa khóa giải đoán (Phụ lục 1) kết hợp với giải đoán ảnh số trên phần mềm ENVI 4.3 đã cho phép thành lập bản đồ lớp phủ thực vật (bản đồ thành phần cho mục tiêu thành lập bản đồ cảnh quan, hình 2.6) của khu vực nghiên cứu với các đối tượng được xác định là: (1) Thực vật trong khu dân cư; (2) Lúa

và hoa màu; (3) Trảng cỏ ngập triều; (4) Cói; (5) Thực vật ngập mặn; (6) Phi lao; (7) Nuôi trồng thủy sản nước ngọt; (8) Bãi bồi ven sông; (9) Đồng muối; (10) Nuôi trồng thủy sản nước lợ; (11) Sinh vật biển (vùng ngập nước thường xuyên tới độ sâu 6m khi triều kiệt)

Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học và phân tích thảm thực vật dựa vào: Nguyên tắc cấu trúc hình thái - Sinh thái của UNESCO-1973, nguyên tắc cấu trúc thành phần loài thực vật của Wittaker-1962; nguyên tắc thành lập bản đồ, hệ thống

chủ giải và phương pháp thể hiện được vận dụng từ nguyên tắc của UNESCO-1973 Phương pháp thành lập bản đồ sinh thái CQ vùng ĐNN ven biển Thái Bình

* Nguyên tắc và phương pháp thành lập bản đồ sinh thái CQ vùng nghiên cứu Bản đồ cảnh quan là một bản đồ tổng hợp phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng

lẻ của tự nhiên [32, 54, 56] Bản đồ cảnh quan vùng ven biển Thái Bình được xây dựng trên nguyên tắc phát sinh hình thái, nguyên tắc tổng hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối và nguyên tắc phát sinh lịch sử Các nguyên tắc này có liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau giúp cho việc xây dựng một bản đồ tổng hợp thể hiện cấu trúc, chức năng của

Trang 34

cảnh quan, đồng thời phản ánh được hiện trạng tự nhiên gắn với hiện trạng của sử dụng lãnh thổ hiện tại

Hình 2.6 Quy trình xử lý ảnh vệ tinh thành lập bản đồ lớp phủ thực vật vùng ĐNN ven biển Thái Bình

Nguyên tắc phát sinh hình thái: theo nguyên tắc này các đơn vị cảnh quan được thành tạo ở các cấp khác nhau Những đơn vị cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối giống nhau sẽ được xếp vào một đơn vị ở cấp lớn hơn, còn các đơn

vị không có cùng nguồn gốc phát sinh sẽ được phân hóa thành những cấp đơn vị khác nhau Như vậy sự phân hóa của CQ vùng nghiên cứu được xếp theo một hệ thống các cấp và cấp lớn bao hàm cấp nhỏ Trong đó số lượng các cấp phụ thuộc rất nhiều vào tỷ

lệ bản đồ và mức độ phức tạp của vùng nghiên cứu Nguyên tắc này đã tạo cơ sở cho việc vạch ra ranh giới giữa các cấp của đơn vị CQ

Nguyên tắc tổng hợp: trong quá trình xác định chỉ tiêu cho từng cấp phân lại cảnh quan phải dựa trên cơ sở phân tích các đơn vị cảnh quan bởi các yếu tố thành tạo cảnh quan có tác động tương hỗ lẫn nhau và khá phức tạp Do đó, nghiên cứu tổng hợp tức là tổ hợp các chỉ tiêu theo kiểu chồng xếp bản đồ kết hợp phân tích điều kiện phát sinh ra mỗi đơn vị cảnh quan Và khi ranh giới chính thức của các đơn vị cảnh quan

Trang 35

được vạch ra cần phải xét đến tất cả các hợp phần tham gia thành tạo cảnh quan trong mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần đó

Nguyên tắc đồng nhất tương đối: hệ thống các đơn vị cảnh quan bao gồm nhiều cấp biểu hiện mức độ phân hóa không đồng nhất của các cấp đơn vị Mỗi cấp đơn vị có một chỉ tiêu nhất định phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần của cảnh quan Mỗi đơn vị cấp lớn phải bao bàm ít nhất là hai đơn vị cấp nhỏ hơn nó và một số đơn vị cấp nhỏ có đặc trưng tương đồng phải tổ hợp thành đơn vị cấp lớn hơn nó Như vậy, tính đồng nhất ở mỗi cấp chỉ là những nét đặc trưng chung cho cấp đó Những đơn vị ở cấp càng nhỏ thì tính đồng nhất của các hợp phần càng cao Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất đều có thể xếp vào cùng một cấp mặc dù chúng có thể phân bố

xa nhau

Nguyên tắc phát sinh lịch sử (nguyên tắc lịch sử phục hồi): do sự biến đổi không ngừng của thiên nhiên và cùng với nó là sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên mà trong thời điểm nào đó chúng sẽ không còn giữ được trọn vẹn như ở giai đoạn mới phát sinh ban đầu Nguyên tắc phát sinh lịch sử cho phép chúng ta thấy được lịch sử hình thành và phát triển của cảnh quan và từ những nghiên cứu đó có thể phát hiện được xu thế phát triển của cảnh quan dưới các tác động của tự nhiên và nhân tác, đồng thời đề xuất được các biện pháp phù hợp cho sử dụng, cải tạo và bảo vệ tự nhiên có hiệu quả nhất

Phương pháp xây dựng bản đồ cảnh quan là những phương pháp truyền thống như phương pháp yếu tố trội, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực địa Bên cạnh đó, phương pháp bản đồ, viễn thám cũng đã được sử dụng trong thành lập các bản

đồ thành phần của bản đồ CQ (bản đồ địa mạo, bản đồ lớp phủ thực vật)

Bản đồ sinh thái cảnh quan vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình được thành lập bởi việc chồng chập các bản đồ thành phần (bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa mạo và bản đồ lớp phủ thực vật) trong môi trường GIS, tương ứng với mỗi loại lớp phủ trên một loại đất sẽ cho kết quả là một loại cảnh quan

Phương pháp thành lập bản đồ phân vùng cảnh quan vùng nghiên cứu

Phân vùng CQ có thể được xem như là một kết quả tổng hợp nghiên cứu cảnh quan, phản ánh một cách có hệ thống, có quy luật đặc điểm các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng được phân chia [33] Trong nghiên cứu phân vùng

Trang 36

cảnh quan cần được áp dụng các nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc đồng nhất tương đối, phân tích, tổng hợp và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ

Cho đến nay đã có rất nhiều các phương pháp được sử dụng trong thành lập bản

đồ phân vùng cảnh quan như: phương pháp phân tích ảnh hàng không; phương pháp phân tích và so sánh các bản đồ phân vùng bộ phận, các thành phần cảnh quan; phương pháp điều tra khảo sát tổng hợp; phương pháp phân tích yếu tố trội, phân tích tổng hợp các thành phần tự nhiên;…[32, 33] Mỗi bậc của hệ thống phân vùng được đặc trung và thể hiện bởi các cảnh quan ưu thế hoặc một tập hợp các cảnh quan biến đổi Bằng phương pháp phân tích yếu tố trội, phân tích tổng hợp các thành phần tự nhiên kết hợp với điều tra khảo sát thực địa bản đồ phân vùng cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình được thành lập một mặt thể hiện quá trình phân chia lãnh thổ, một mặt là sự nhóm gộp các đơn vị cảnh quan cá thể có những đặc trưng khá gần gũi vào một đơn vị phân vùng

Phương pháp thành lập bản đồ biến động cảnh quan vùng ĐNN ven biển Thái Bình từ các bản đồ cảnh quan

Nghiên cứu biến động là quá trình xác định trạng thái khác nhau của một đối tượng hoặc hiện tượng được quan sát tại các thời điểm khác nhau (Singh, 1989) [116,

127, 140] Đánh giá biến động góp phần cung cấp cơ sở để hiểu rõ hơn mối quan hệ và tác động giữa con người và các hiện tượng tự nhiên để quản lý và sử tài nguyên tốt hơn Bởi nguồn dữ liệu đa thời gian trong viễn thám cùng sự tích hợp hệ thống thông tin địa

lý (GIS) mà các phương pháp đánh giá biến động đã được phát triển mạnh trong thời gian gần đây Với việc sử dụng ảnh vệ tinh quang học, có thể tóm tắt thành 4 phương pháp đánh giá biến động chính (hình 2.7) [97, 112, 115, 120, 137]

Trên cơ sở nguyên tắc phát sinh lịch sử giá trị thời điểm của cảnh quan đã được phản ánh một cách toàn diện, sâu sắc trên bản đồ cảnh quan, từ đó cho thấy các quy luật biến động theo không gian và thời gian của chúng

Trong phạm vi luận án này, đánh giá biến động sau phân loại được sử dụng để đánh giá biến động cảnh quan tại các thời điểm khác nhau Việc tiến hành phân loại độc lập các ảnh viễn thám làm cho phương pháp này có độ chính xác phụ thuộc chặt chẽ vào

độ chính xác của từng phép phân loại

Bản đồ biến động cảnh quan được xây dựng trên cơ sở bản đồ cảnh quan ở các thời điểm khác nhau (năm 1965, 1986 và 2007), bao gồm cả biến động về không gian và

Trang 37

biến động diện tích các loại cảnh quan theo từng tiểu vùng Trên môi trường GIS các bản đồ thành phần bao gồm bản đồ cảnh quan các năm 1965, 1986, 2007 và bản đồ phân vùng cảnh quan của vùng nghiên cứu đã được chồng xếp, phân tích theo 2 giai đoạn 1965-1986 và 1986-2007

Tổng hợp các quan điểm và phương pháp nghiên cứu trên được thể hiện đầy đủ

và xuyên suốt nội dung luận án

Hình 2.7 Các phương pháp đánh giá biến động từ ảnh viễn thám [97, 114, 134]

2.5 Quy trình nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu, các tài liệu hiện có và các phương pháp đã lựa chọn, chúng tôi đã xây dựng quy trình nghiên cứu vùng ĐNN ven biển Thái Bình trong quá trình thực hiện luận án như sau (hình 2.8)

Phương pháp 1 So sánh sau phân loại

Đánh giá biến động

Phương pháp 2 Phân loại dữ liệu đa

Đánh giá biến động

Phân loại

Ảnh

2

Phân loại

Phương pháp 4 Kết hợp

Trang 38

Hình 2.8 Sơ đồ quy trình nghiên cứu vùng ĐNN ven biển Thái Bình

khác Bản đồ ảnh

Bản đồ phân vùng cảnh quan Năm 1965 Năm 1986 Năm 2007

Bản đồ biến động

cảnh quan giai đoạn

1965-1986

Bản đồ biến động cảnh quan giai đoạn 1986-2007

Các giải pháp khoa học quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững

Phân tích, đánh giá

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Các nhân tố hình thành cảnh quan đất ngập nước ven biển Thái Bình

3.1.1 Địa chất - nhân tố thành tạo nền tảng rắn trong cảnh quan

Đặc điểm địa chất, được coi là yếu tố nền có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và phát triển cảnh quan Cấu tạo địa chất của dải đồng bằng ven biển nói chung chủ yếu là các trầm tích biển và các vật liệu do xói mòn được đưa ra từ những vùng

có địa hình cao ở phía Tây

Vùng đất ven biển Thái Bình là bộ phận cấu thành của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phát triển trên nền cấu trúc địa chất của vùng trũng Hà Nội; đó là quá trình sụt lún liên tục và lắng đọng trầm tích dày hàng nghìn mét, qua nhiều giai đoạn khác nhau trong Kainozoi Trầm tích Kainozoi trong khu vực nghiên cứu bao gồm các phân vị địa tầng như sau: trầm tích Paleogen; trầm tích Neogen; trầm tích Đệ tứ Trầm tích Paleogen (P) được đặc trưng bởi các các trầm tích mang tính chất môi trường tướng lục địa (cuội, sỏi, sạn, cát, ) [3, 17, 34, 36, 46, 52, 61, 83, 94, 136, 139] Các trầm tích Đệ tứ bao gồm trầm tích Pleistocen (Q1) và trầm tích Holocen (Q2) Trầm tích Holocen gồm có hai hệ tầng: hệ tầng Hải Hưng tuổi Holocen sớm (Q2

1) và Holocen giữa (Q2

2) có các trầm tích nguồn gốc sông (aluvi) và hỗn hợp sông-biển; hệ tầng Thái Bình tuổi Holocen muộn (Q2), có tuổi trẻ nhất từ 3.000 năm trở lại đây Sau Holocen muộn (Q2 ) là giai đoạn phát triển châu thổ hiện đại có sự chi phối của các hoạt động nhân tác Việc hình thành các tuyến đê ngăn lũ đã làm mất mối trao đổi phù sa giữa sông ngòi với vùng châu thổ của nó, phần lớn bề mặt đồng bằng không còn nhận được nguồn phù sa bổ sung hàng năm

Trầm tích hiện đại tầng mặt vùng ven biển Thái Bình lắng đọng ở khu vực nằm ngoài các tuyến đê có cấp hạt từ 0,001mm đến 0,5mm bao gồm các loại trầm tích hạt mịn từ sét, bột đến cát Hàm lượng cỡ hạt từ 1,0-0,5mm chiếm trung bình khoảng 10%, cỡ hạt từ 0,25-0,01 mm chiếm tới 70%, còn lại là thành phần hạt mịn

Sự có mặt của các loại trầm tích Đệ tứ và hiện đại ở vùng ven biển Thái Bình rất đa dạng về nguồn gốc (các tướng sông, biển, sông-biển hỗn hợp, đầm lầy); đa dạng về độ dày lắng đọng, diện phân bố, thành phần cơ học, chứng tỏ lịch sử phát triển vùng nghiên cứu đã trải qua nhiều lần biến đổi về môi trường biển và lục địa Quá trình phát triển đó đã tạo nền tảng rắn cho sự thành tạo các loại cảnh quan hiện đại ngày nay

Trang 40

3.1.2 Địa hình - nhân tố phân bổ năng lượng và vật chất trong cảnh quan

Ảnh hưởng của độ cao địa hình tới đặc điểm của các quá trình chuyển hóa vật

chất theo độ cao là nguyên nhân chính tạo nên lớp cảnh quan đồng bằng và sự khác

biệt trong các quá trình di chuyển vật chất đặc trưng trong lớp cảnh quan đã tạo nên

phụ lớp cảnh quan đồng bằng thấp ven biển ở vùng đất ngập nước tỉnh Thái Bình

Địa hình khu vực Thái Bình thuộc loại đồng bằng thấp, có độ cao tuyệt đối từ

0,5  3 m, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông và cửa sông Mật độ chia cắt hơn 2

km/km2, ở vùng cửa sông tới 3,5 km/km2 Do nhiều cửa sông như vậy nên nước mặn

có thể xâm nhập vào một vùng khá rộng nếu như không bị một hệ thống đê biển và

đê sông ngăn chặn

Địa hình đáy biển nông ven bờ phần lớn là đồng bằng tích tụ delta ngầm, địa

hình hầu như bằng phẳng, góc dốc không quá 3o, độ dốc cao chủ yếu ở cửa Ba Lạt,

địa hình được phức tạp hóa bởi hệ thống luồng lạch và các bãi tích tụ ngầm cửa sông

Thái Bình là phần biển hiện đại của delta sông Hồng và sông Thái Bình Vì

vậy bề mặt địa hình bao gồm 3 nhóm nguồn gốc chính (Hình 3.1) [16, 17, 83, 111]:

+ Nhóm địa hình có nguồn gốc sông: bãi bồi ven sông là kiểu địa hình đại

diện chung nhất cho các thành tạo của sông, chúng bị khống chế bởi hệ thống đê

sông Trầm tích cấu tạo bãi bồi chủ yếu là cát mịn, bùn hoặc bùn sét màu xám nâu

tuổi Holocen muộn thuộc hệ tầng Thái Bình Dạng địa hình này tương đối bằng

phẳng, hơi nghiêng về phía lòng sông, độ cao từ 0-3m, thường xuyên được bồi đắp

vào mùa lũ Càng về phía cửa sông bề mặt bãi bồi hạ thấp và chuyển dần sang bề mặt

có nguồn gốc hỗn hợp khác nhau Hiện nay các bãi bồi ven sông và giữa lòng liên

tục bị thay đổi hình dạng qua các mùa mưa lũ

+ Nhóm địa hình có nguồn gốc sông-biển hỗn hợp: đây là dạng địa hình

chiếm phần lớn diện tích trong khu vực nghiên cứu, được hình thành trong quá trình

tương tác các yếu tố biển và sông Vật liệu cấu tạo chủ yếu bao gồm bột-cát, bột-sét

và sét-bột… đặc trưng cho tướng bãi triều hình thành trong quá khứ

Bãi bồi ngập triều cao (bãi triều cao): Về mặt hình thái là những bề mặt bằng

phẳng, hơi nghiêng về phía biển, phân bố từ độ cao 0m lục đồ đến mực triều cao

nhất Bị chia cắt bởi hệ thống lạch triều, cấu tạo trầm tích tầng mặt là bùn cát, bột sét

Bãi bồi châu thổ nổi cao nằm trong đê biển xen với nhiều dấu tích các lạch triều,

lòng dẫn chết sót lại

Comment [T1]: ????

Ngày đăng: 14/07/2015, 18:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 1.1. Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam (Trang 12)
Hình 2.2. Cấu trúc của GIS [58, 118] - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Hình 2.2. Cấu trúc của GIS [58, 118] (Trang 31)
Hình 2.6. Quy trình xử lý ảnh vệ tinh   thành lập bản đồ lớp phủ thực vật vùng ĐNN ven biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Hình 2.6. Quy trình xử lý ảnh vệ tinh thành lập bản đồ lớp phủ thực vật vùng ĐNN ven biển Thái Bình (Trang 34)
Hình 2.7. Các phương pháp đánh giá biến động từ ảnh viễn thám [97, 114, 134] - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Hình 2.7. Các phương pháp đánh giá biến động từ ảnh viễn thám [97, 114, 134] (Trang 37)
Hình 2.8. Sơ đồ quy trình nghiên cứu vùng ĐNN ven biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Hình 2.8. Sơ đồ quy trình nghiên cứu vùng ĐNN ven biển Thái Bình (Trang 38)
Bảng 3.1. Các đặc trưng khí hậu Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.1. Các đặc trưng khí hậu Thái Bình (Trang 43)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh khí hậu vùng Thái Bình [109] - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Hình 3.2. Biểu đồ sinh khí hậu vùng Thái Bình [109] (Trang 44)
Bảng 3.2. Hệ thống các chỉ tiêu phân loại CQ vùng nghiên cứu tỷ lệ 1:50.000 - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.2. Hệ thống các chỉ tiêu phân loại CQ vùng nghiên cứu tỷ lệ 1:50.000 (Trang 57)
Bảng 3.7. Các nhóm thực vật “có ích” trong vùng ĐNN ven biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.7. Các nhóm thực vật “có ích” trong vùng ĐNN ven biển Thái Bình (Trang 86)
Bảng 3.14. Các loài chim di cư có nguy cơ tuyệt chủng khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.14. Các loài chim di cư có nguy cơ tuyệt chủng khu vực nghiên cứu (Trang 93)
Bảng 3.33. Hiện trạng biến động bồi xói dải bờ biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.33. Hiện trạng biến động bồi xói dải bờ biển Thái Bình (Trang 128)
Bảng 3.34. Kết quả thống kê tình trạng xói lở dải ven biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.34. Kết quả thống kê tình trạng xói lở dải ven biển Thái Bình (Trang 129)
Bảng 3.35. Tình hình khẩn hoang ở vùng ven biển Thái Bình giai đoạn 1928 - 1985 - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.35. Tình hình khẩn hoang ở vùng ven biển Thái Bình giai đoạn 1928 - 1985 (Trang 130)
Bảng 3.36. Hiện trạng sử dụng đất dải ven biển Thái Bình (năm 2005) - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.36. Hiện trạng sử dụng đất dải ven biển Thái Bình (năm 2005) (Trang 132)
Bảng 3.40. Tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển KT-XH  của vùng ven biển Thái Bình - Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng cho phát triển bền vững
Bảng 3.40. Tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển KT-XH của vùng ven biển Thái Bình (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w