Thông qua những sáng tác của ông, người đọc cũng phần nào thấy rõ được quan điểm sáng tác, quan điểm nghệ thuật cùng với cách sử dụng ngôn ngữ trong việc xây dựng cốt truyện, lời kể, lời
Trang 1CỦA NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khoá luận, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ của các thầy cô bộ môn trong tổ Ngôn ngữ, các thầy cô khoa Ngữ văn, đặc biệt
là cô giáo hướng dẫn: TS.GVC Đỗ Thị Thu Hương, giáo viên trực tiếp giúp đỡ tôi
vượt qua những khó khăn để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Chúng tôi chân
thành biết ơn sâu sắc đối với thầy cô giáo và các bạn
Dù đã cố gắng hoàn thành khoá luận, nhưng bản thôi tôi tự thấy khả năng của mình còn hạn chế, thời gian có hạn và cũng là lần đầu chúng tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót Chúng tôi rất mong sẽ nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân hoà, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hiền
\
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và kết quả không trùng với
kết quả nghiên cứu của tác giả khác
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của khoá luận 3
7 Bố cục của khoá luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5
1.1 Khái niệm về thành ngữ 5
1.2 Đặc điểm của thành ngữ 6
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo……… 6
1.2.2 Đặc điểm ý nghĩa……… 7
1.3 Phân loại thành ngữ 7
1.3.1 Dựa vào đặc điểm cấu tạo 7
1.3.1.1 Thành ngữ so sánh……… 7
1.3.1.2 Thành ngữ đối………7
1.3.1.3 Thành ngữ điệp……… 8
1.3.2 Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ 8
1.3.2.1 Thành ngữ Thuần Việt……… 8
1.3.2.2 Thành ngữ Hán Việt…… ………9
1.3.3 Dựa vào cấu trúc……… 9
1.3.3.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng……… 9
Trang 51.3.3.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng………9
1.4 Vài nét về tác giả Nam Cao 9
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 15
2.1 Kết quả thống kê 15
2.1.1 Phân loại kết quả thống kê 15
2.1.2 Nhận xét chung 16
2.2 Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao 16
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo 16
2.2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 16
2.2.1.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng 23
2.2.2 Giá trị ngữ nghĩa 27
2.2.2.1 Thành ngữ với việc miêu tả ngoại hình nhân vật 27
2.2.2.2 Thành ngữ với việc miêu tả tính cách nhân vật 30
2.2.2.3 Thành ngữ với việc miêu tả hoàn cảnh sống nhân vật 33
2.2.3 Sự sáng tạo của Nam Cao trong việc sử dụng thành ngữ 34
2.2.3.1 Đối với thành ngữ Hán Việt 35
2.2.3.2 Đối với thành ngữ Thuần Việt 36
KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thành ngữ là một đơn vị đặc biệt trong ngôn ngữ dân tộc Trong sáng tác dân gian của mỗi dân tộc, thành ngữ là loại hình có mối quan hệ hữu cơ với cả lời ăn tiếng nói của nhân dân Thành ngữ ra đời từ bao giờ không ai xác định được, không
ai biết có từ thời kì nào trong lịch sử loài người mà chỉ biết nó là “túi trí khôn”
chứa đựng những tri thức dân gian về mọi mặt của đời sống Đằng sau cái vỏ là ngôn ngữ giao tiếp, thành ngữ ẩn giấu những đặc điểm của một nền văn hoá, phong tục tập quán, phép đối nhân xử thế, tư tưởng tình cảm của cả dân tộc
Nam Cao là một trong những tác giả tiêu biểu của trào lưu hiện thực phê phán Thông qua những sáng tác của ông, người đọc cũng phần nào thấy rõ được quan điểm sáng tác, quan điểm nghệ thuật cùng với cách sử dụng ngôn ngữ trong việc xây dựng cốt truyện, lời kể, lời đối thoại giữa các nhân vật Hệ thống ngôn ngữ được tác giả sử dụng thường rất dung dị, tự nhiên mang đậm hơi thở cuộc sống Đặc biệt, Nam Cao đã nhận thức được ý nghĩa của việc đưa ngôn ngữ dân gian, ngôn ngữ của cuộc sống sinh hoạt đời thường vào trong tác phẩm của mình Trong
đó, thành ngữ dân gian là một chất liệu nghệ thuật được ông sử dụng thường xuyên, linh hoạt và đạt hiệu quả nghệ thuật cao Qua đó ta có thể thấy được tài năng, sự sáng tạo và phong cách nghệ thuật của ông trong việc thể hiện số phận của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám cũng như thái độ của ông đối với họ
Đó là những lí do chúng tôi chọn đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình là:
“Thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao”
Trang 7ngữ, Tiêu biểu là các công trình: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân xuất bản năm 1989 và “ Kể chuyện về thành ngữ, tục ngữ” (1988- 1990) do Hoàng Văn Hoành chủ biên,“Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành
ngữ”(1973) của Cù Đình Tú, “Tục ngữ Việt Nam” (1975) của Chu Xuân Diên,
Lương Văn Đang, Phương Tri và gần đây nhất là “ Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
bằng mô hình cấu trúc” (2006) của Triều Nguyên Đây là những công trình quan
trọng đặt nền móng cho việc nghiên cứu các thành ngữ sau này Bên cạnh những thành tựu nghiên cứu về thành ngữ nói chung thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc vận dụng thành ngữ vào trong các sáng tác cụ thể
Cũng đã có khá nhiều công trình viết về tác giả Nam Cao, đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác của mình Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này như:
“Các phương tiện từ ngữ biểu hiện tình thái chủ quan trong tác phẩm của Nam Cao” tác giả Dương Thị Thuý Vinh [2], hay đề tài “Các lớp nghĩa trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền [11], đề tài “Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong truyện ngắn Nam Cao” tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ [12] Các đề tài trên cùng bàn về vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong các sáng tác của Nam Cao Song các công trình đó chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về ngôn ngữ phần lớn dựa trên các biện pháp tu từ, các vấn đề lí thuyết chung trong sáng tác của Nam Cao Việc nghiên cứu về vấn đề sử dụng thành ngữ, vốn văn hoá quý báu của dân tộc thì không nhiều
Qua việc tra cứu, tìm hiểuchúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao là một đề tài khá hấp dẫn và bổ ích Chúng tôi đã quyết định
lựa chọn đề tài: “Thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao” Chúng tôi nghiên cứu
vấn đề này với mong muốn tìm ra sự linh hoạt, phong phú, đặc sắc, độc đáo trong cách sử dụng thành ngữ của nhà văn Nam Cao, một đại diện tiêu biểu cho văn học Việt Nam thế kỉ XX
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích đặc điểm và hiệu quả sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là toàn bộ những thành ngữ tiếng Việt, bao gồm thành ngữ Thuần Việt và thành ngữ Hán Việt trong các tác phẩm văn xuôi của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, in trong
cuốn “ Nam Cao toàn tập”, Nxb Hội Nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê tư liệu
- Phương pháp miêu tả tư liệu
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
- Phương pháp so sánh tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
6 Đóng góp của khoá luận
Với khoá luận này, tôi mong muốn sẽ đóng góp những phần rất nhỏ trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng ngôn ngữ như sau:
Trang 9Ý nghĩa khoa học: Thông qua việc khảo sát thành ngữ trong các truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thấy được những giá trị nghệ thuật của thành ngữ, khẳng định những giá trị văn hoá dân tộc được thể hiện trong thành ngữ Qua đó khẳng định tài năng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ, gợi mở những tiếp cận mới khi tìm hiểu về tác giả này
Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích giá trị nghệ thuật của các thành ngữ trong tác phẩm của Nam Cao giúp chúng ta thấy được sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo thành ngữ trong hoạt động giao tiếp Qua đó nâng cao kĩ năng sử dụng thành ngữ đúng và hay trong giao tiếp, góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Kết quả nghiên cứu, khảo sát của khoá luận cũng góp phần hữu ích khi giảng dạy Tiếng Việt cũng như giảng dạy những truyện ngắn của Nam Cao trong chương trình bậc phổ thông
7 Bố cục của khoá luận
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao
Phần 3: Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Khái niệm về thành ngữ
Các nhà nghiên cứu đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về thành ngữ, nhưng nhìn chung họ đều thống nhất khi đưa ra định nghĩa về thành ngữ.Theo cách hiểu thông thường thì: Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái, cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày
Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận
của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một
ý trọn vẹn”[Tr 34,16]
Hoàng Văn Hành cho rằng: “ Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về
hình thái, cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày,đặc biệt là khẩu ngữ”[Tr 26,5]
Đồng quan niệm trên với Hoàng Văn Hành, Cù Đình Tú cũng cho rằng: “Thành
ngữ là những tổ hợp từ có sẵn (cụm từ cố định) trong ngôn ngữ có chức năng định danh như: từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hoạt động [Tr 32,1]
Mỗi tác giả đều có quan niệm khác nhau về thành ngữ, nhưng nhìn chung đa số
các tác giả đều có điểm chung, cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định,
hoặc những tổ hợp từ mang tính chất bền vững về cấu tạo, đặc biệt là hình thức và nội dung hoàn chỉnh” Không những vậy các quan niệm còn nêu được tính hình
tượng, tính biểu cảm, tính gọt giũa, bóng bẩy của thành ngữ
Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm và cách lập luận khác nhau về thành ngữ của
các tác giả ta có thể khái niệm về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những cụm từ
cố định, được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động” Thành ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh Nghĩa của thành ngữ
Trang 11có tính hình tượng, tính gợi cảm và hình thức diễn đạt có tính bóng bẩy, trau chuốt, giàu tính biểu cảm
1.2 Đặc điểm của thành ngữ
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo
Về cấu tạo, thành ngữ là một loại cụm từ có tính chất ổn định, chặt chẽ Các cụm từ tự do không có tính chất này Chính tính chất chặt chẽ, cố định về đặc điểm cấu tạo mà thành ngữ được sử dụng tương đương như từ
Tính cố định, ổn định của từ ngữ thể hiện ở chỗ thành phần từ vựng cấu tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong quá trình sử dụng Người ta không thể thay thế, thêm bớt hoặc chêm xen bất kì một yếu tố nào khác trong lòng thành ngữ
Chẳng hạn :“ Trời sinh voi sinh cỏ” không thể thay thế thành“ Trời đẻ voi đẻ cỏ” được, thành ngữ “ Khóc như cha chết” không thể thay bằng thành ngữ“ Khóc như
bố chết” được
Thành ngữ có tính chất cố định, ổn định về thành phần từ vựng về cấu trúc là
do thói quen của người bản ngữ Để có được đặc điểm này trước khi được hình thành, thành ngữ cũng chỉ là những tổ hợp từ tự do Những tổ hợp này được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói, cùng với sự di chuyển nghĩa nhất định như ẩn dụ, hoán dụ… đã tạo nên dạng ổn định của thành ngữ như ngày nay
Tuy nhiên, tính cố định, bền vững của hình thái cấu trúc của thành ngữ không phải là bất biến Nghĩa là trong giao tiếp, người ta chấp nhận sự thay đổi nhất định trong việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt Ví dụ, Nam Cao đã sử
dụng thành ngữ “ Rẻ như bèo” với sự sáng tạo của mình ông đã viết: “Bèo
cũngkhông rẻ thế”( Trẻ con không biết đói), qua đó ông đã cho ta thấy được phần
nào cuộc sống nghèo khổ, khó khăn của người nông dân
Tính cố định, bền vững và tính uyển chuyển của thành ngữ trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tính chất bổ sung cho nhau Chính điều này khiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được mở rộng, phong phú hơn do
Trang 12sự xuất hiện của nhiều biến thể ở một số thành ngữ Ví dụ: “Nhà tan cửa nát” và
“Tan cửa nát nhà”
1.2.2 Đặc điểm ý nghĩa
Thành ngữ có đặc trưng nổi bật về ý nghĩa là có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy và tính gợi cảm cao Nghĩa của thành ngữ không chỉ là nghĩa đen của các yếu tố cấu thành cộng lại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối Nghĩa này được suy ra trên cơ sở
nghĩa của các yếu tố cấu thành Chẳng hạn, thành ngữ “ Vò đầu rứt tóc” không đơn
thuần chỉ hành động vò đầu rứt tóc mà còn thể hiện ý nghĩa khác, thể hiện vẻ bối rối, lúng túng vì chưa tìm ra cách giải quyết hoặc vì thấy ân hận, tự trách mình đã làm điều không phải
Quá trình biểu trưng được thể hiện theo con đường liên tưởng tương đồng và tương cận Theo con đường tương đồng ta có các thành ngữ ẩn dụ hoặc so sánh, theo con đường tương cận ta có thành ngữ hoán dụ
1.3 Phân loại thành ngữ
Thành ngữ được phân loại theo nhiều kiểu khác nhau:
1.3.1 Dựa vào đặc điểm cấu tạo
1.3.1.1 Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh hay còn gọi là thành ngữ tỉ dụ hoá bắt nguồn bằng phép so sánh Kết cấu của thành ngữ so sánh gồm hai vế được nối kết với nhau bằng từ có nghĩa tương đồng hay đồng nhất
Trang 13âm điệu, nhịp nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc Quan hệ đối ứng của hai vế được hình thành bởi thuộc tính tương đồng về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các yếu tố được đưa vào hai yếu tố của thành ngữ
Ví dụ: Tứ cố vô thân
Nay đây mai đó
Chân yếu tay mềm
1.3.1.3 Thành ngữ điệp
Tính điệp trong thành ngữ là sự khác nhau ở hình thức ngữ âm (phụ âm đầu và vần) và đặt chúng ở vị trí khác nhau Thành ngữ điệp còn là loại thành ngữ đối, đặc biệt ở quan hệ đối ứng đồng nghĩa, có một trường hợp là các từ đối ứng ở vế đầu và
vế sau trùng hoàn toàn về âm và nghĩa
và cấu trúc
Ví dụ: Cơm bưng nước rót
Như mèo thấy mỡ
Nóng như lửa đốt
Chạy ngược chạy xuôi
Trang 141.3.2.2 Thành ngữ Hán Việt
Thành ngữ Hán Việt là những thành ngữ được cấu tạo bằng các yếu tố Hán Việt, chứa đựng những nội dung cao siêu, trọng đại mang ý nghĩa răn dạy… mang phong cách trang trọng, cổ kính, tĩnh tại… được sử dụng nhiều trong phong cách viết
Ví dụ: Quần ngư tranh thực
Bền đến thiên niên vạn đại
Thập tử nhất sinh
Tha phương cầu thực
1.3.3 Dựa vào cấu trúc
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong “ Từ vựng học Tiếng Việt”, thành ngữ có hai loại lớn là thành ngữ hợp kết và thành ngữ hoà kết Về mặt cấu trúc của thành ngữ
ta có thể hình dung hệ thống thành ngữ tiếng Việt bằng sơ đồ tổng quát sau đây:
1.4 Vài nét về tác giả Nam Cao
Nam Cao (1915 - 1951) là một trong số những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.Ông có vai trò đặc biệt trong trào lưu văn học hiện thực phê
Thành ngữ
đối xứng
Thành ngữ phi đối xứng Thành ngữ
Thành ngữcó cấu trúc vị ngữ
Thành ngữ phi đối xứng dạng
so sánh
Trang 15phán 1930 - 1945 Thời gian càng lùi xa, các tác phẩm của ông càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo
Nam Cao là một nhà văn hiện thực Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, một xã hội mà ở đó số phận của những người nông dân chất phác hồn hậu đã bị bần cùng trong đói khổ, quằn quại trong sự chèn ép của bọn phong kiến thực dân Tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của Nam Cao là tinh thần nhân đạo sâu sắc mà ông thể hiện trong mỗi tác phẩm của mình Nam Cao tỏ thái độ trân trọng, xót thương đối với những người nông dân nghèo, những người trí thức trong xã hội Gấp những trang sách của Nam Cao lại người đọc dường như vẫn thấy ngột ngạt và ám ảnh không nguôi với những số phận của những con người khốn khổ Đặt ra vấn đề nông dân và viết về
họ với tấm lòng yêu thương nhân đạo là một đóng góp đáng ghi nhận của Nam Cao Ông là nhà văn đồng tình với khát vọng sống lương thiện và khát vọng được phát huy đến tận độ tài năng của con người Tư tưởng nhân đạo mới mẻ, phong phú và sâu sắc đó cho thấy nhà văn không chỉ dừng lại ở chỗ tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp quyền sống của con người mà còn đòi hỏi xã hội tạo những điều kiện để con người được sống một cuộc sống thực sự có ý nghĩa
Có thể nói rằng sẽ có một khoảng trống không nhỏ nếu vì một lý do nào đấy dòng văn học của Việt Nam không có Nam Cao Không chủ quan khi chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào xếp Nam Cao của chúng ta bên cạnh những Môpatxăng (Pháp), Đôttôiepxki, Bunhin, (Nga) Tác phẩm của Nam Cao không có những xung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ đời thường giản dị, thông qua các tình huống, các cuộc đời nhân vật để nêu bật nên những giằng xé trong nội tâm, những ước mơ về một tương lai tốt đẹp Văn Nam Cao viết về những kiếp người
mà cuộc đời họ là những chuyển tiếp khác nhau của nỗi buồn, nỗi khổ, của những tâm hồn đẹp đẽ, đáng trân trọng dù là người đàn bà quanh năm bị áp lực của thiếu thốn, lo toan đè nặng, lúc nào cũng nặng mặt, bẳn gắt chì chiết chồng con hay
Trang 16những anh chàng trí thức tiểu tư sản ăn nói độc địa, hằn học Bởi trên tất cả những biểu hiện ấy vẫn toát lên bản chất của họ là hồn hậu, chất phác, chứa chan tình người Nhà văn đã thấy phần “u tối” của cuộc sống, tìm ra trong đó cái đẹp và ông viết về những người nông dân, những trí thức tiểu tư sản cùng khổ với một thái độ đầy tôn trọng, không phải là sự miệt thị cũng không thi vị hoá
Nam Cao là nhà văn có tầm cỡ còn là bởi vì ngay từ thời của ông, giữa lúc dòng văn học hiện thực phê phán, dòng văn học lãng mạn đang là một trào lưu mạnh mẽ, Nam Cao đã không quá đắm chìm hoàn toàn theo hướng đó mà ông chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, hướng đi ấy đã góp phần xếp Nam Cao là một
trong những nhà văn đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam : “Văn
chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa - 1943), ông
lên án thứ văn chương “tả chân”, “hời hợt” Nam Cao đã thông qua một loạt tình huống để miêu tả chiều sâu đời sống nội tâm của con người Viết về nhân vật “Chí Phèo”, về sự tha hoá của con người – cái gã Chí mà chất “con” đôi lúc nhiều hơn chất “người”, lúc tỉnh lúc say, khi thì thật bản năng lúc lại như một con người có ý thức Vậy mà Nam Cao vẫn có cái nhìn đầy nhân ái, ông thấy Chí Phèo không phải là thứ bỏ đi mà là một con người cũng có những khoảng lặng của cảm xúc, có những lúc luôn muốn vươn tới cái tốt, cái người nhất để rồi qua ông, người đọc cũng có cái nhìn bao dung với dạng người như Chí Phèo này, chia sẻ, cảm thông với ước muốn làm người lương thiện của hắn chứ không phải cảm giác ghê tởm, cái nhìn không thiện chí Lòng nhân ái, tình người còn bao trùm ở Làng Vũ Đại của người nông dân nghèo khổ, của anh thả ống lươn nhặt Chí Phèo xám ngắt từ lò gạch bỏ không mang về, là bát cơm của bác Phó Cối, là bát cháo hành tình nghĩa của Thị Nở, là những người bạn tế nhị xử sự vô cùng nhân ái khi đến nhà người bạn nghèo của mình, chứng kiến những vũng bùn đứa con đau bụng thổ ra từ đêm,
chứng kiến cái nhà dột nát, nghèo túng khốn cùng “Anh nào cũng làm ra dễ tính
Trang 17Sự cố gắng ấy do lòng quý bạn Cái nhà thật không đáng cho lòng tôi phải bận ”
(truyện ngắn “Mua nhà” – năm 1943) Hiện thực cuộc sống luôn là chất liệu để nhà văn phản ánh hay nói như Bandăc “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại” Làng Vũ Đại của Nam Cao chỉ là một làng quê như bao làng quê khác, ta thấy có dòng sông hiền hoà hai bên bờ là những vườn chuối thấm đẫm ánh trăng, thấy tiếng dệt cửi và tiếng lao xao của các bà, các chị đi chợ sớm, thấy những vườn trầu không, những vườn mía tả tơi sau bão và trên mảnh đất ấy là những người nông dân chất phác, nhân hậu Họ bần cùng mỗi người một kiểu Người mẹ và bầy con nhỏ lê la trên nền nhà vũng nước trộn lẫn bùn; bát cháo cám đắng nghét không thể nuốt nổi; người đàn ông đi lĩnh những đồng tiền ít ỏi về mua thuốc cho đứa con nhỏ ốm đau mà không nỡ trách cứ viên thư ký ở nhà dây thép tỉnh bẳn gắt lại làm
thiệt mất của gã một đồng bạc bởi lẽ “Điền thấy thương ông ấy quá Điền tưởng ra
cho ông ấy một gia đình đông con túng thiếu tựa nhà Điền Số lương chẳng đủ tiêu Sau mỗi ngày công việc rối tít mù, loạn óc lên vì những con số, vì những cái bưu phiếu, ông mỏi mệt giở về nhà, lại phải nghe mấy đứa con lớn chí choé đánh nhau, đứa con nhỏ khóc, chủ nợ réo đòi và vợ thì sưng sỉa hoặc gào thét như con mẹ dại… để sáng hôm sau lại mải mốt đến sở, nhăn mặt lại khi thấy những người gửi tiền, người lĩnh tiền vòng trong, vòng ngoài và người nào cũng muốn ông làm trước cho” và “Chỉ vì người nào cũng khổ cả, và người nọ cứ tưởng vì người kia
mà khổ” – tấm lòng nhân ái, cảm thông và độ lượng của con người Nam Cao, nhân
cách Nam Cao thể hiện rõ nét trong hầu hết tất cả các tác phẩm của ông mà những dẫn chứng trên chỉ là một đôi nét phác hoạ
Giá trị nhân đạo của các tác phẩm của Nam Cao thể hiện sâu sắc ở tấm lòng yêu thương trân trọng của tác giả với những người nghèo khổ Nói như văn hào Nga Eptusenco: “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/ Mỗi số phận chứa một điều cao cả” Nam Cao đã tìm thấy những hạt trân châu lóng lánh trong sâu thẳm những thân phận con người - Nam Cao tỏ ra rất nhạy bén trong việc miêu tả tâm lý nhân vật, ông đi vào từng ngóc ngách tâm hồn của con người để tìm ra được những cái hay,
Trang 18cái dở trong mỗi nhân vật và bao trùm lên tất cả là một tấm lòng nhân ái, tình người thấm đậm trong từng trang viết và trong cuộc sống thời đại nào và lúc nào cũng cần lòng nhân ái, cái nhìn thiện chí – nó giúp con người sống vươn tới “chân, thiện, mỹ” hơn, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn và phải chăng khi ngắm nhìn một buổi hoàng hôn trên mảnh đất mình đang sinh sống, đâu đó giữa bộn bề công việc bắt gặp một bức tranh đẹp, một áng thơ hay, một tác phẩm văn học mang nhiều thông điệp mà ta dửng dưng không rung động thì cuộc sống sẽ mất đi nhiều phần ý nghĩa!
và phải chăng đọc Nam Cao chúng ta thấy rằng: hãy cố gắng hiểu những người xung quanh ta, thông cảm và có cái nhìn thiện chí, có cái tâm trong sáng chính là sợi dây nối liền con người với con người – nền tảng để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Để làm nên những thành công ấy, chúng ta không thể bỏ qua giá trị về nghệ thuật, yếu tố quan trọng giúp Nam Cao làm nên những tuyệt tác đó Bên cạnh sự thành công trong việc khắc hoạ tâm trạng nhân vật, độc thoại nội tâm, kết cấu tâm
lý, hình thức tự truyện… thì khả năng sử dụng ngôn ngữ của ông cũng là một yếu
tố vô cùng quan trọng góp phần làm nên nét đặc sắc, độc đáo trong các tác phẩm Đối với các tác phẩm của mình, Nam Cao luôn cố gắng lựa chọn từ ngữ cũng như phương thức diễn đạt sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Có thể thấy rằng thành ngữ- đơn vị ngôn ngữ gần gũi với nhân dân lao khổ xuất hiện khá ổn định trong các tác phẩm của Nam Cao Đó những lí do mà văn chương của Nam Cao sống mãi trong lòng người đọc Nam Cao xứng đáng là nhà văn hiện thực xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán, và là một trong những nhà văn mở đầu cho văn học Cách mạng Việt Nam
Trang 19Không phải nhà văn nào cũng có khả năng vận dụng thành ngữ một cách linh hoạt và thành công như tác giả Nam Cao Ông đã mang đến cho nền văn học Việt Nam những kiệt tác đi mãi theo thời gian, bởi ở trong những sáng tác của ông không chỉ đơn giản là những vấn đề thời sự mà ở đó ta còn thấy cả sự tài năng của một nhà văn bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ
Trang 20CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG SÁNG
TÁC CỦA NAM CAO
2.1 Kết quả thống kê
2.1.1 Phân loại kết quả thống kê
Dựa vào cấu trúc cú pháp của thành ngữ, qua việc khảo sát 52 truyện trong “Nam Cao toàn tập”, chúng tôi đã thống kê được 280 thành ngữ Chúng tôi đề xuất bảng phân loại như sau:
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
(110)(39,3%)
Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối
xứng (170)(60,7%)
4 yếu tố (102)(92,8%)
6,8 yếu
tố (8)(7,2%)
Thành ngữ dạng so sánh (98)(57,3%)
Thành ngữ miêu tả (72)(42,7%) Mỗi vế
Mỗi vế
là một kết cấu Đ-T
Chủ yếu
là các động ngữ hay danh ngữ
Nhiều mô hình 3 mô hình
cả so với thành ngữ 6, 8 yếu tố, chỉ có 8 thành ngữ (7,2%) Như vậy có thể thấy
Trang 21thành ngữ 4 yếu tố là loại thành ngữ phổ biến, có số lượng nhiều và độc đáo, chiếm
vị trí quan trọng trong hệ thống thành ngữ được Nam cao sử dụng trong tác phẩm của mình
Bên cạnh thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, thì thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng lại được Nam Cao sử dụng nhiều hơn trong sáng tác của mình, cụ thể là 170 thành ngữ ( 60,4%) Trong đó thành ngữ dạng so sánh có 98 thành ngữ ( 57,3 %) và thành ngữ
có cấu trúc vị ngữ gồm 72 thành ngữ (42,7%)
2.2 Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo
2.2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng là loại thành ngữ phổ biến trong Tiếng Việt Theo thống kê của chúng tôi trong các truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-
1945 có 110 thành ngữ, chiếm tỉ lệ 39,6% Loại thành ngữ này có đặc điểm nổi bật
về mặt cấu trúc là có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên
thành ngữ Chẳng hạn trong thành ngữ “Đầu trộm đuôi cướp” thì “Đầu trộm” đối
xứng với “Đuôi cướp” Đa số các thành ngữ đối xứng đều gồm 4 yếu tố, lập thành hai vế cân xứng với nhau Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thành ngữ được thiết lập nhờ vào những thuộc tính nhất định về ngữ pháp, ngữ nghĩa giữa các yếu tố được đưa vào trong hai vế đó Khảo sát 110 đơn vị thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
mà chúng tôi thu được thì thành ngữ 4 yếu tố có tới 102/110, số còn lại là các thành ngữ đối xứng có 6, 8 yếu tố Như vậy có thể nói thành ngữ 4 yếu tố đối ngẫu cặp đôi là hiện tượng phổ biến, có số lượng nhiều và độc đáo, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống thành ngữ mà Nam Cao sử dụng trong tác phẩm của mình Vì lí do
đó chúng tôi chia thành ngữ 4 yếu tố này riêng và loại thành ngữ 6,8 yếu tố riêng
a Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố là loại thành ngữ có đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất là tính cặp đôi và ngẫu hứng trong cấu trúc từ vựng ngữ pháp, ngữ
Trang 22nghĩa và đặc biệt là về mặt ngữ âm Quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong thành ngữ kết cấu hai vế cân xứng có thể chia ra làm bốn loại như sau:
Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một thành tố
Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chủ vị
Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu đề thuyết
Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chính phụ
Dựa vào bốn mô hình này cho việc phân tích các thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố được sử dụng trong các truyện ngắn của Nam Cao chúng tôi thu được kết quả:
a1 Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một thành tố
Loại này chỉ có 18 thành ngữ Đặc điểm của thành ngữ này cũng là tính chất đối xứng hai vế và tương ứng trong cấu trúc từ vựng- ngữ pháp Có thể đưa ra một số
Thành ngữ trong các ví dụ trên tương ứng về cấu trúc từ vựng Chẳng hạn như
thành ngữ “ Mồ hôi nước mắt” thì “ mồ hôi” và “nước mắt” đều là hai danh từ, thành ngữ “Cờ bạc rượu chè” cũng đều là hai danh từ chung… còn ở thành ngữ
“Chết đói chết khát”thì hai vế tương ứng của mỗi thành ngữ đều là động từ
a2 Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chính phụ
Đây là loại thành ngữ chiếm đại đa số và có vai trò rất lớn trong nghệ thuật sử dụng của nhà văn Phân loại thành ngữ kiểu này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích theo
mô hình cụ thể như sau:
- Mô hình 1: Động từ-danh từ +động từ- danh từ
Có thể kể ra các thành ngữ kiểu này như:
Trang 23chém đều là động từ, cá và thớt đều là danh từ Đa số các yếu tố trong mô hình này
là thực từ, chúng có khả năng hoạt động độc lập Điều đáng chú ý ở đây là các cặp yếu tố 1 và 3, 2 và 4 đều là những từ cấu tạo nên từ ghép đẳng lập Chẳng hạn như
thành ngữ “ van ông lạy bà” Thành ngữ này được cấu tạo trên cơ sở hai từ ghép
đẳng lập “van ông” và “lạy bà”
Một đặc điểm khác nữa trong mô hình loại này chúng tôi thu được là yếu tố 1 và
3 giống nhau, còn yếu tố 2 và 4 là danh từ thuộc cùng một trường nghĩa Loại thành ngữ này chúng tôi gặp khá nhiều trong quá trình khảo sát
Ví dụ : Bóp mồm // bóp miệng
Đổ đình // đổ chùa
Cắn rơm // cắn cỏ
- Mô hình 2: Danh từ-tính từ+ danh từ- tính từ
Trong Tiếng Việt cụm “danh từ- tính từ” là cụm từ rất phổ biến (hoa thơm, người đẹp, mây trắng,…) Tuy nhiên, trong số các thành ngữ đối xứng bốn yếu tố mỗi vế là một kết cấu chính phụ, thành ngữ loại này rất ít
Ví dụ: Lời hay // ý đẹp
Chân yếu //tay mềm
Cũng như ở mô hình thứ nhất, trong số thành ngữ thuộc mô hình này có những thành ngữ mang yếu tố lặp Yếu tố lặp thường là những yếu tố thứ nhất Ví
dụ “ống thấp ống cao”
Từ ghép có vai trò quan trọng trong việc tạo nên loại thành ngữ thuộc dạng
này Chẳng hạn như: Thành ngữ “Nay ốm mai đau” được tạo nên bởi từ ghép “đầu
Trang 24tóc” kết hợp với từ đơn “bù” và “rối”, thành ngữ “ Nay ốm mai đau” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từ ghép “nay ốm” và “mai đau”, thành ngữ “Chân yếu tay
mềm” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từ ghép” chân tay” và “yếu mềm”
- Mô hình 3: Danh từ- động từ + danh từ- động từ
Loại thành ngữ có cấu trúc “danh từ- động từ + danh từ -động từ” được sử dụng không nhiều trong truyện ngắn Nam Cao
Ví dụ:
Tiền mất // tật mang
Đầu trộm //đuôi cướp
Cấu trúc “danh từ- động từ” là một trong những cấu trúc thường gặp nhất trong tiếng Việt Quan hệ giữa các yếu tố trong trường hợp này thường rất rõ ràng
“đầu đuôi” và “trộm cướp” được tách ra và ghép vào nhau tạo thành một thành ngữ giàu tính biểu cảm thường mang nghĩa chê bai khinh thường
Loại thành ngữ này có thể có yếu tố lặp Đó là những yếu tố ở vị trí 1, 3
Chẳng hạn yếu tố “chết” trong thành ngữ “chết dấm chết dúi” và “làm” trong “làm
vụng làm trộm” Bên cạnh đó chúng tôi còn thấy rằng loại thành ngữ này còn có
thể được tạo nên bởi phương thức từ đơn xen vào giữa từ láy Ví dụ là thành ngữ
“chết dấm chết dúi”.Từ đơn “chết” lặp lại xen giữa từ láy “dấm dúi” làm cho thành
ngữ càng mang sắc thái biểu hiện về sự chì chiết mạnh hơn bình thường
- Mô hình 5: Danh từ-danh từ + danh từ-danh từ
Thành ngữ loại này rất ít trong tổng số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố trong tư liệu của chúng tôi
Trang 25từ có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc thành ngữ bốn yếu tố đối xứng
Nghĩa của các yếu tố danh từ trong thành ngữ loại này rất đa dạng: liên quan đến thiên nhiên, con người và hoạt động của con người, động vật, sự vật… tức là
nó liên quan đến nhiều hiện tượng khách quan của thế giới bên ngoài Số lượng những thành ngữ có yếu tố 1, 3 là số từ chiếm khá lớn
Ví dụ :
Năm bè // bảy bối
Một nắng // hai sương
Có trường hợp yếu tố 2, 4 là số từ như: “mồm năm miệng mười”
Loại thành ngữ này có thể có yếu tố lặp.Danh từ ở vị trí 1 và 3 có sự lặp lại
Ví dụ: “đầu bò đầu bướu” Trong số liệu của chúng tôi không có trường hợp yếu tố
ở vị trí 2 lặp lại ở vị trí 4
- Mô hình 6: Tính từ-danh từ + tính từ-danh từ
Loại thành ngữ này có số lượng không lớn, chỉthu được 4 đơn vị trong tổng
số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố:
Trang 26Chẳng hạn:
Mát lòng // mát dạ
Tím ruột // tím gan
Yếu tố lặp ở đây vẫn là ở vị trí 1 và 3
Đặc điểm thứ hai có thể nói đến đó là thông thường những từ như “ruột tím”,
“gan tím” là chỉ màu sắc bộ phận của cơ quan người khi bị thương chẳng hạn, đó là
những cụm từ tự do Nhưng khi đảo ngược trật tự từ thành một thành ngữ là “tím
ruột tím gan” nó lại chỉ trạng thái tức giận đến cực cùng của con người Rõ ràng sự
đảo ngược này có tác dụng rất lớn trong việc tạo giá trị biểu cảm cho thành ngữ Cùng với đó, việc dùng cấu trúc tính từ-danh từ với trật tự từ đảo ngược cùng phép lặp cũng thường gặp trong loại thành ngữ này
từ thường bị quy định bởi cấu trúc toàn câu
- Mô hình 8: Danh từ- đại từ + danh từ- đại từ
Trang 27Yếu tố 2, 4 của thành ngữ này rất hạn chế không được lựa chọn rộng rãi như các mô hình trước.Vậy nên số lượng thành ngữ loại này rất ít chỉ có 4 thành ngữ Trên đây là tám mô hình cơ bản của thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố, mỗi vế là một kết cấu chính phụ Có thể nhận thấy vai trò rất to lớn của danh từ trong cấu trúc của loại thành ngữ này Bởi 6/8 mô hình có sự tham gia của danh từ
6 Danh từ- đại từ/danh từ- đại từ
Trong quá trình phân tích trên chúng ta có thể dễ dàng nhận ra vấn đề từ ghép có tác dụng rất lớn trong việc cấu tạo nên thành ngữ Chẳng hạn như:
“Chết dấm chết dúi”: một từ đơn kết hợp với một từ láy “dấm dúi”
“Nay ốm mai đau”: xen kẽ hai từ ghép “nay mai” và “ốm đau”
“Mát lòng mát dạ”: một từ đơn lặp lại kết hợp với hai từ đơn khác
“Tím ruột tím gan”: một từ đơn lặp lại kết hợp với hai từ đơn khác
Như vậy, trên đây là 8 mô hình cơ bản nhất của thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố
a3 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, mỗi vế là một kết cấu chủ vị
Loại thành ngữ này rất ít gặp, đặc biệt trong một loạt những thành ngữ mà chúng tôi thu được trong truyện ngắn Nam Cao Chúng tôi chỉ gặp duy nhất một trường hợp này, đó là thành ngữ :
“Trời tru đất diệt”
C V C V
Trong truyện ngắn Chí Phèo in trong tập “Nam Cao toàn tập” trang 92
a4 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, mỗi vế là một kết cấu đề - thuyết
Trang 28Cũng giống như loại thành ngữ trên, chúng tôi chỉ thu một trường hợp thành ngữ thuộc loại này đó là:
Tre già măng mọc
Đ T Đ T
(Chí Phèo, Nam Cao toàn tập, trang 85)
b Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 6, 8 yếu tố
Loại thành ngữ này chỉ có 8 đơn vị, loại 6 yếu tố chiếm số lượng nhiều hơn trong tổng số loại thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 6, 8 yếu tố
Ví dụ như:
“Được bữa hôm, lo bữa mai”
“Con ông ấm, cháu ông cử”
Hai vế của thành ngữ chủ yếu là cụm động ngữ hay danh ngữ, ít tính ngữ
Ví dụ:
“Ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời”
Như vậy, trong số các thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng mà chúng tôi thống kê được trong một số truyện ngắn của Nam Cao loại thành ngữ bốn yếu tố chiếm vị trí
áp đảo so với các loại 6, 8 yếu tố Bên cạnh đó, loại thành ngữ đối xứng với hai vế
là kết cấu chính phụ cũng có một số lượng lớn và quan trọng tạo nên bộ mặt thành
ngữ mà Nam Cao sử dụng trong văn của mình
2.2.1.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng
a Nhóm thành ngữ so sánh
Theo kết quả thống kê của chúng tôi, số lượng thành ngữ so sánh được sử dụng trong truyện ngắn của Nam Cao xuất hiện khá lớn Sở dĩ như vậy là bởi loại thành ngữ so sánh có sắc thái hình ảnh và tu từ rõ rệt, có tần số sử dụng cao và đặc biệt là trong khẩu ngữ Truyện ngắn Nam Cao với một loạt những đoạn văn miêu tả, hội thoại giữa các nhân vật, ngôn ngữ gần với người dân, chính vì thế, điều đã nói trên
là dễ hiểu