Trong quá trình học tập ở nhà trường, lần đầu tiên làm công tác nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác Hồ Xuân Hương và Phạm Thái”, khóa luận không trán
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
PHẠM THỊ DUNG
HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
VÀ PHẠM THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Thị Nhàn
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
PHẠM THỊ DUNG
HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
VÀ PHẠM THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Việt Hằng
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả khóa luận xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn, trường ĐHSP Hà Nội 2, đặc biệt là cô giáo hướng
dẫn Th.S Nguyễn Thị Việt Hằng, người đã luôn quan tâm, động viên và
tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Trong quá trình học tập ở nhà trường, lần đầu tiên làm công tác
nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng
tác Hồ Xuân Hương và Phạm Thái”, khóa luận không tránh khỏi những
thiếu sót Tác giả khóa luận rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả khóa luận xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là của riêng tác tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Việt Hằng Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của khóa luận 5
8 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Thuật ngữ 6
1.2 Tình hình xã hội và văn hóa Phật giáo trong giai đoạn thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX 6
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái 9
1.3.1 Tác giả Hồ Xuân Hương………9
1.3.2 Tác giả Phạm Thái 12
1.4 Khảo sát, thống kê những tác phẩm viết về “nhà chùa” trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái 14
Chương 2: HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI 16
2.1 Hình ảnh nhà chùa dưới góc nhìn Hồ Xuân Hương 16
2.1.1 Hình ảnh nhà chùa dưới góc nhìn phồn thực 16
2.1.2 HÌnh ảnh nhà chùa dưới góc nhìn của người vãn cảnh 31
2.2 Hình ảnh nhà dưới góc nhìn Phạm Thái 41
2.2.1 Hình ành nhà chùa dưới góc nhìn hiện thực 41
Trang 62.2.2 Hình ảnh nhà chùa dưới góc nhìn của người vãn cảnh 49
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa là một hướng tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhất là trong thời gian gần đây, tủ sách nghiên cứu văn học theo lối đi ấy ngày càng đa dạng, phong phú hơn và
lẽ dĩ nhiên trong một môi trường xã hội coi trọng và tôn thờ Phật Giáo như nước ta hiện nay càng không thể thiếu những bài viết, những công trình nghiên cứu văn học đi từ góc nhìn này Thậm chí trải qua thời gian những bài viết ấy ngày càng càng sâu sắc và chất lượng hơn Nhận thấy những ưu điểm
và khả năng sáng tạo từ con đường này, chúng tôi cũng không nằm ngoài xu hướng nghiên cứu ấy
Hồ Xuân Hương và Phạm Thái là hai tác giả quan trọng trong văn học trung đại giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX Bản thân tôi rất ấn tượng với thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái bởi một chất thơ dung dị, dễ hiểu và mang đậm dấu ấn cá nhân Cùng lấy mảng đề tài về nhà chùa để phản ánh trong thơ ca của mình nhưng mỗi người lại xây dựng theo một lối đi riêng và mang phong cách vô cùng độc đáo, mang lại cái nhìn đa chiều và sinh động
về hình ảnh nhà chùa trong xã hội đương thời trước mắt người đọc Điều đó,
đã tạo hứng thú cho chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài này
Là một sinh viên Ngữ Văn, tương lai gắn bó với nghề nghiệp và công việc dạy học, tôi rất muốn có những kiến thức phong phú và đa dạng để truyền dạy lại cho học sinh của mình Tất cả những lí do trên đã khiến tôi
quyết định lựa chọn đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của Hồ Xuân
Hương và Phạm Thái” làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Là một trong những hiện tượng văn học tài năng và độc đáo nên thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái được giới nghiên cứu và những người yêu thích văn học tìm hiểu trong khá nhiều công trình phản ánh về cả nội dung và hình thức.Tuy nhiên nghiên cứu hình ảnh nhà chùa trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái từ góc độ đối sánh là một đề tài mới lạ, chưa có tác giả nào đề cập
và nghiên cứu Hầu hết các tác giả mới chỉ đi từ góc độ đơn lẻ, riêng biệt và chưa chuyên sâu Có thể kể đến một vài công trình như:
Phạm Trọng Chánh trong Hồ Xuân Hương với Phật giáo đã đưa ra quan
điểm của mình về những bài thơ viết về mảng chùa chiền của Hồ Xuân
Hương đặc biệt là những bài thơ nằm trong tập “Lưu hương kí”, ông đã lên
tiếng ca ngợi vốn hiểu biết học Phật sâu rộng của Xuân Hương
Đỗ Lai Thúy nhà nghiên cứu chuyên sâu về Xuân Hương trong cuốn Hồ
Xuân Hươn - hoài niệm phồn thực phồn thực đã dùng lí lẽ và dẫn chứng của
mình để khẳng định tính thiêng liêng của phồn thực khi con người chưa tách biệt với vũ trụ, cây cỏ và động vật Về sau với sự ra đời của đạo Phật, phồn thực, Linga và Yoni, hoạt động tính giao mới bị coi là cái gì tục tĩu, dâm đãng, phải cấm đoán và phồn thực phải bị che giấu dưới những tấm voan, nửa kín nửa hở để có thể tồn tại
N I Niculin - Giáo sư, tiến sĩ Ngữ văn người Nga, còn so sánh việc thể hiện nội dung tính tục trong thơ Hồ Xuân Hương rất giống với cách thể hiện
của Rabelais: “Trong các sáng tác của bà cũng như thường hay thấy ở các
nhà thơ Việt Nam, thơ trữ tình phong cảnh chiếm một vị trí quan trọng và điều này không có gì đáng lạ Đáng lạ chẳng chính là bản thân những bức phác họa phong cảnh của Hồ Xuân Hương Ở đây nhục tình đã xâm nhập vào cũng như trong những bài thơ khác của bà Con người, thân thể con người tựa hồ đã hòa lẫn vào với thiên nhiên Nhà nữ thi sĩ đã sáng tạo những bài
Trang 9thơ biểu tượng hai mặt trong đó hình ảnh kì dị của thân thể con người lẫn với những chỗ lồi lõm trên mặt đất, một loại hình ảnh như của Rabelais, đã song song xuất hiện với phong cảnh” [6: tr 630] Điều này có phần rất đúng với
những bài thơ viết vè mảng chùa chiền trong sáng tác của Hồ Xuân Hương
Về Phạm Thái có cuốn:
Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường Phạm Thái - Nguyễn Công Trứ -
Cao Bá Quát (1999), Nxb Giáo dục do Vũ Dương Quý viết, trong đó có nêu
tiểu sử, giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu, giới thiệu nét lớn về nội dung và nghệ thuật thơ văn Phạm Thái Trong đó có gợi ý phân tích cảnh chùa chiền
(trích sơ kính tân trang) theo hướng ca ngợi những thắng cảnh thiên nhiên
chốn thiền không hùng vĩ, tươi đẹp đồng thời thể hiện thái độ phê phán, mỉa mai trước bức chân dung của những sư hẩu lốn chốn chùa
Hoàng Hữu Bội trong “Giọng điệu trữ tình của Phạm Thái qua trích
đọan “Cảnh chùa chiền” trong “Sơ kính tân trang”, Tạp chí văn học số 3,
(1994) có giới thiệu và chỉ ra giọng điệu trữ tình của Phạm Thái qua đoạn
trích “cảnh chùa chiền”
Trong Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (1997), Nxb
Giáo dục, Tp HCM của tập thể tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân có
những nhận định về tác phẩm Sơ kính tân trang như nói về ngoại hình nhân
vật, cách miêu tả thiên nhiên đẹp
Kế thừa những công trình đi trước và qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu người viết đã triển khai đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Mong muốn có cái nhìn hệ thống khách quan về hiện thực xã hội Phật giáo đương thời trong những sáng tác của hai tác giả
Trang 10Tìm ra những điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của hai nhà thơ, qua đó khẳng định tài năng, những đóng góp quan trọng của hai nhà thơ đối
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái” nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là:
Làm sáng tỏ hình ảnh nhà chùa từ góc nhìn phồn thực Hồ Xuân Hương
và góc nhìn tả thực Phạm Thái
Giúp người đọc thấy được những nét chung và riêng cũng như sự độc đáo của từng tác giả
5 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là “hình ảnh nhà chùa” trong sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, đứng từ góc độ nội dung tư tưởng người viết
đi vào nghiên cứu các sáng tác thơ về mảng chùa chiền của Hồ Xuân Hương
và các đoạn thơ về hình ảnh nhà chùa trong Sơ kính tân trang cũng như các
tác phẩm viết về mảng đề tài này của Phạm Thái Người viết chọn văn bản
Sơ kính tân trang trong đó Hoàng Hữu Yên (1994) Nxb Giáo dục
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Tìm hiểu vấn đề từ hệ thống các nghiên cứu đi trước qua đó thống kê, xem xét để tìm ra hướng đi, cách viết cho bài nghiên cứu của mình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu văn học, nhìn nhận văn học từ văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt là phạm trù đạo Phật để đưa ra cái nhìn khách quan và chính xác
Ngoài ra để thực hiện tốt khóa luận người viết còn sử dụng kết hợp các thao tác như thống kê, phân tích, bình luận, chứng minh, miêu tả
7 Đóng góp của khóa luận
Nghiên cứu đề tài “Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác Hồ Xuân Hương và Phạm Thái” góp phần :
Làm cho hướng nghiên cứu về văn học trung đại có được cái nhìn đầy đủ
và mở rộng hơn phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm
8 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có hai chương chính:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Hình ảnh nhà chùa trong sáng tác của Hồ Xuân Hương
và Phạm Thái
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Thuật ngữ
Theo Từ điển Tiếng Việt, “nhà chùa” được giải thích là “Nơi thờ Phật
hoặc những người tu hành theo đạo Phật (đây là cách nói khái quát )”
Như vậy, thuật ngữ “nhà chùa” được dùng để chỉ không gian, cảnh sắc nơi thờ Phật và chỉ con người - những con người tu hành theo đạo Phật cũng như thiện nam tín nữ mến mộ tôn giáo này Ở luận văn này chúng tôi sử dụng thuật ngữ “nhà chùa” với ý nghĩa nói trên và mở rộng đến cả quang cảnh sinh hoạt và mọi nhân vật gắn với nhà chùa
1.2 Tình hình xã hội và văn hóa Phật giáo trong giai đoạn thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Phạm Thái và Hồ Xuân Hương sống vào khoảnh nửa cuối thế XVIII đầu thế kỷ XIX Đây là thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đó là sự thay thế liên tục các triều đại phong kiến mà Phạm Thái từng tổng kết:
Ba mươi tuổi lẻ là bao nả Năm sáu đời vua khéo chóng ghê!
Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn này đã trở nên gay gắt Đó là mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, mâu thuẫn giữa nhân dân với giai cấp phong kiến Giai cấp thống trị lúc này chỉ lao vào ăn chơi sa đọa không quan tâm đến công việc triều chính, không chăm chút đến cuộc sống nhân dân chỉ tranh giành chém giết lẫn nhau Vua tôi lẫn
Trang 13lộn, cương thường đảo ngược, mọi giá trị văn hóa đều bị đứt tung Nho giáo là sợi dây cố kết xã hội cũng bị lung lay đến tận gốc rễ, những giáo điều khắt khe không còn đủ sức giam hãm con người trong những khuôn khổ chặt hẹp, càng không đủ sức dập tắt hoặc làm yếu đi cả một trào lưu tư tưởng mới, đòi hỏi những quan hệ dễ thở hơn, những tình cảm tự do hơn giữa người và người Giống như nhiều nghệ sĩ khác, Hồ Xuân Hương và Phạm Thái cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời đại
Nói về Phật giáo trong giai đoạn này đã không còn giữ được vẻ tôn nghiêm và hưng thịnh như những triều đại trước, từ cuối đời Trần, Phật giáo
đã trở nên suy sụp nên đến giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX khi đất nước sống trong cảnh chiến tranh thường trực, ít ai có thì giờ nghĩ đến chuyện chấn hưng đạo đức tôn giáo thì Phật giáo lại càng suy vong Một số chùa chiền bị tàn phá, kinh điển thất lạc, cảnh hoang tàn thật tiêu điều buồn bã Vua Gia Long lên ngôi, công việc trước tiên của Ngài là lập lại nền an ninh trật tự trong nước, chứ cũng chưa có thì giờ nghĩ đến chuyện chấn hưng Phật Giáo Qua đến đời Minh Mạng và Thiệu Trị, các Ngài cũng bắt đầu sắc trùng
tu những ngôi chùa tổ đình quan trọng nhưng trong dân gian thì ảnh hưởng đạo Phật mỗi ngày mỗi lu mờ, phai nhạt dần Các vị cao tăng vẫn có, như Ngài Phổ Tịnh Hòa Thượng, Giác Ngộ Hòa Thượng Nhưng vì quá ít ỏi, nên quý vị ấy, chẳng khác gì những chiếc sao lẻ tẻ trong bầu trời đen tối, chẳng soi sáng được gì
Ðến khi người Pháp đặt nền đô hộ trên đất nước ta thì đạo Phật lại càng suy đồi, mất hết cả những gì thuần túy, cao siêu, chỉ còn được coi như là một thần đạo mà nhiệm vụ chính là lo việc cúng bái mà thôi Ðể có một ý niệm chung về một sự tồi tệ của Phật giáo trong giai đoạn này, chúng tôi xin trích một đoạn nhận xét rất chính xác sau đây, mà Thượng Tọa Thích Mật thể đã viết trong cuốn Việt Nam Phật Giáo sử lược: “ Ðến đây,từ vua quan cho đến
Trang 14thứ dân, ai ai cũng an trí đạo Phật là ở sự cúng cấp, cầu đảo, chứ không biết gì khác nữa Và phần đông họ chỉ trông ông thầy ở chỗ danh vọng, chức tước, mặc dù ông ấy thiếu học, thiếu tu” Bởi tệ hại ấy, tăng đồ trong nước lần dấn vào con đường trụy lạc, cờ bạc, rượu chè đắm trước thanh sắc “Ở miền trung nguyên Bắc kỳ, về kỷ luật tăng già bên ngoài còn giữ được nghiêm chỉnh đôi chút, chứ ở Trung kỳ, phần nhiều họ đã có vợ, có con một cách công nhiên, không áy náy Nhất là ở Nam kỳ lại càng hổn độn hơn nữa ” Phần đông tăng
đồ chỉ nghĩ đến danh vọng, chức tước: xin bằng Tăng cang, Trụ trì, Sắc tứ v.v…hay chỉ biết cúng cấp, cầu đạo , phù chú, làm tay sai cho các vua chúa, quan quyền, phú hộ để làm kế sinh nhai Còn một hạng nữa, chỉ giữ mình cho được thanh nhàn, ăn chơi tiêu khiển, bảo là giải thoát v.v ! “Bởi vậy, các cảnh chùa trong nước đã thành cảnh gia đình riêng, không còn gì là tính cách đoàn thể của một tôn giáo nữa Họ sống trong Phật Giáo hầu hết chỉ còn là
“dốt” và “quên”! “Quên” để khỏi phải biết đến bổn phận bổn phận chân chính của một tăng đồ “Ở trong tăng đồ thì như vậy, ở ngoài tín đồ cư sĩ thì ngơ ngác, mù lòa tin bướng, theo càn, ít ai là người hiểu đạo lý.”
Trong bối cảnh đó, bọn sư mô núp bóng cửa chùa đều làm những điều xấu xa, giả tạo… Bộ mặt xã hội đương thời đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học, cũng chính là tiền đề để Xuân Hương và Phạm Thái vạch trần, bóc mẽ những thói hư, tật xấu, những bộ mặt giả nhân, giả nghĩa diễn ra nhan
nhản ngay trong cuộc đời Nói như Bêlinxki: “Văn thơ nào không có gốc rễ
trong thực tế đương thời, văn thơ nào không rọi sáng vào thực tế khi lí giải nó thì chỉ là một sự vô công rồi nghề, chỉ là một lối đốt thời gian một cách vô tội
vạ nhưng hão huyền, chỉ là một trò chơi trẻ con, chỉ là công việc của những người trống rỗng” Và lẽ dĩ nhiên các nhà thơ không lãng phí thời gian của
mình vào những việc “vô công rồi nghề ”, sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái thực sự không chỉ mang giá trị văn học mà còn là những ấn phẩm sâu sắc làm nên tên tuổi của những thi sĩ này
Trang 151.3 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
1.3.1 Tác giả Hồ Xuân Hương
Cuộc đời và con người Hồ Xuân Hương chủ yếu lưu truyền bằng các giai thoại và ngoài sách sử Chính vì vậy cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa
có kết luận thống nhất, chính xác về cuộc đời nữ sĩ Năm sinh, năm mất của
bà chỉ là ước đoán theo phương pháp loại trừ hay so sánh với một số tác giả, một số sự việc đương thời
Theo giả thiết của Trần Thanh Mại, Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm
1775 - 1780 trong một gia đình của nhà nho Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783), là người gốc Nghệ An
Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn Giai nhân dị mặc lại khẳng định Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn ở làng Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu - Nghệ An
Thân phụ của nữ sĩ là một nhà nho ra bắc dạy, kết duyên cùng người đàn
bà họ Hà (người Hải Dương hoặc Bắc Kinh)
Căn cứ vào các tài liệu và sáng tác của Hồ Xuân Hương, có thể bà sống vào nửa cuối thế kỉ XVIII - đầu XIX Đó là một giai đoạn lịch sử có rất nhiều biến động
Về chuyện hôn nhân, không có tài liệu chính xác nào ghi Xuân Hương làm vợ ai nhưng theo giai thoại, người chồng đầu tiên là ông tổng Cóc Ông này đã có vợ và rất nhiều con nhưng vẫn yêu quý bà vợ lẽ là Hồ Xuân Hương nên đã cho bà ở riêng trong một căn nhà ở hồ Thất Liễu
Một người nữa mà Hồ Xuân Hương lấy tên là Trần Phúc Hiển ở đàng trong ra ngời Bắc làm quan Một thời gian đã làm tri phủ ở Tam Đái - Tây Sơn Đến năm 1822, phủ này xác nhập với một số vùng đất khác gọi là phủ
Vĩnh Tường Theo Đào Thái Tôn trong cuốn Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào
thế tục, Hồ Xuân Hương lấy Trần Phúc Hiển khoảng năm 1814 Ông này có thời
gian làm quan ở Móng Cái - Quảng Ninh Hồ Xuân Hương đã đi theo chồng nên
Trang 16bà có khá nhiều bài thơ viết về vùng đất đó Năm 1819, Trần Phúc Hiển vị vua Gia Long kết án tử hình
Hồ Xuân Hương là người không gặp may mắn trong tình yêu và hôn nhân
Mặc dù là tác giả văn học viết nhưng sáng tác của Hồ Xuân Hương phần lớn được lưu truyền trong dân gian Thơ Hồ Xuân Hương được in ấn bằng văn bản khá muộn Theo Đào Thái Tôn và giới nghiên cứu, bản in sớm nhất bằng chữ quốc ngữ là năm 1893 Số lượng những bài thơ của Hồ Xuân Hương cứ mỗi lần tái bản lại không trùng khớp nhau Lần đầu tiên được in trên dưới 60 bài Đến thập kỉ 30 của thế kỉ XX lên tới hơn 100 bài Thực trạng hiện thời cũng khá phức tạp Tùy theo người biên soạn mà thơ ca Hồ Xuân Hương có số lượng không giống nhau Trong sự nghiệp nghệ thuật, Hồ Xuân
Hương sáng tác cả chữ Nôm và chữ Hán
Văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là vấn đề mà giới nghiên cứu, phê bình văn học còn nhiều ý kiến tranh cãi và tiếp tục tìm hiểu Theo Đào Thái Tôn, văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương được thu thập
Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại ước chừng số lương thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương cũng khoảng 50 bài
Từ những nghiên cứu khảo sát của giới nghiên cứu, chúng tôi thấy số lượng những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương vẫn chưa có kết
Trang 17luận thống nhất và chính xác cuối cùng Song số lượng gần 50 bài được đa số giới yêu thích thơ ca nữ sĩ chấp nhận
Vấn đề Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán được đặt ra một cách sôi nổi bắt đầu từ năm 1963 - 1964
Trên báo Văn học, số 242 và 243 ngày 15 và ngày 21/3/1963, nhà thư tịch Trần Văn Giáp đã giới thiệu với bạn đọc về sự hoài nghi của ông
trong bài “Đồ Sơn bát Vịnh - thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương?” Đó là
tám bài thơ vịnh cảnh Đồ Sơn Ông đã tự hỏi: “Không biết có phải của
Hồ Xuân Hương không?”
Trên tạp chí Văn học, 10/1964, Trần Thanh Mại đã cho công bố “Bài tựa
tập thơ Lưu hương kí” của Hồ Xuân Hương do Nham Giác Phu Tốn
Phong Thị viết
Sau đó, Trần Thanh Mại tìm được bản Lưu hương kí do ông Nguyễn
Nam Định cung cấp Ông Trần Thanh Mại giới thiệu tập Lưu hương kí này như sau: “Có phần chắc bản chép tập Lưu hương kí mà ông Nguyễn Văn Tú
đã trao cho chúng tôi là phần còn lại của tập thơ mà Nham Giác Phu đã đọc
và đã đề tựa, hay ít nhất nó cũng thiếu nhiều tờ Bản này chỉ có 22 trang, giấy viết hàng tám, tổng cộng 30 đầu đề với 52 bài Trong 52 bài này có 24 bài thơ
chữ Hán và 28 bài thơ chứ Nôm Trong đầu đề có ghi rõ: “Lưu hương kí -
Hoan trung Cổ Nguyệt đường Xuân Hương nữ sử tập” Hoan Trung tức là
tỉnh Nghệ An, Cổ Nguyệt đường là tên nhà ở của Xuân Hương đồng thời là triết tự chữ Hồ, chỉ họ của tác giả” [7,tr 32]
Nguyễn Lộc nhận định: “Trong Lưu hương kí […] chúng ta thấy một
người phụ nữ giàu nhiệt huyết, yêu đời, bất chấp tất cả lễ giáo phong kiến, lúc nào cũng tha thiết muốn yêu, và không bao giờ có một tình yêu toại nguyện” [6, tr 287-290]
Trang 18Hơn bốn chục năm qua, bằng sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu đến nay, chúng ta có thể tự tin hơn và kết luận rằng, Hồ Xuân Hương còn sáng tác thơ chữ Hán bên cạnh một “Bà chúa thơ Nôm”
Ngoài Lưu hương kí, chúng ta còn may mắn tìm được tập thơ Hương
Đình Cổ Nguyệt thi tập do Bùi Hạnh Cẩn biên soạn và giới thiệu in trong tuyển tập Hồ Xuân Hương - Thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại (1999), nxb
Văn hóa - thông tin, Hà Nội Tập thơ này bao gồm 23 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương Những bài thơ này chủ yếu là thơ vịnh cảnh đặc biệt là các danh lam thắng cảnh như Đồ Sơn, Hạ Long và thơ vãn cảnh chùa chiền
Như vậy, giống như văn bản thơ chữ Nôm, văn bản thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương cũng chưa có kết luận cuối cũng về số lượng Khóa luận của chúng tôi xin tìm hiểu những bài thơ viết về mảng chùa chiền của Hồ Xuân Hương
1.3.2 Tác giả Phạm Thái
Ông sinh ngày 19 tháng riêng năm Đinh Dậu (26 tháng 2 năm 1777) tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, tổng Xuân Dục, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) Phạm Thái còn có tên gọi là Phạm Phượng Sinh tự là Đan Phượng, hiệu là Chiên
Lỳ, đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư
Ông là con trai Trạch trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng, đã khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại Phạm Thái mồ côi mẹ từ thủa nhỏ Lớn lên học cả văn lẫn võ để ứng phó với thời đại loạn ly mà ông
đã trải qua
Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với nững người cùng chí hướng Ông học Phổ Tỉnh thiền sư (Trương Quang Ngọc), Nguyễn Đoàn rồi cũng nhau chống Tây Sơn nhưng không thành bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tự ở chùa Tiêu Sơn
Trang 19(Kinh Bắc), lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư đi tu được mấy năm thì bạn ông là Thanh xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Lê, thuộc huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Thái Bình) đang làm quan ở Lạng Sơn cho người đón ông lên đấy tính chuyện phù Lê
Một năm sau ông trở về kinh Bắc thăm nhà thì được tin Trương Đăng Thụ mất Phạm Thái liền đến làng Thanh Lê điếu tang bạn, rồi được cha bạn
là Kiến Xương hầu lưu lại Tại đây, Phạm Thái cùng em gái bạn là Trương Quỳnh Như, xướng họa thơ văn rồi thầm yêu nhau Cảm phục tài thơ của Phạm Thái Kiến Xương hầu định gả con cho ông nhưng người mẹ không bằng lòng vì muốn ép gả cho một gười giàu có trong làng Bị ép gả, Quỳnh Như tự tử, Phạm Thái vì quá đau xót đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt Quãng đời cuối cùng của ông là những chầu rượu say li bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế Phạm Thái mắc bệnh rồi mất ở Thanh Hóa năm Quý dậu (1813) lúc 36 tuổi
Thơ văn Phạm Thái hầu hết viết bằng chữ Nôm, ông làm thơ, viết văn chủ yếu để gửi gắm nỗi buồn riêng, chung hết sức tha thiết, xúc động Trừ bài
Chiến Tụng Tây Hồ phú viết năm 1800 có tính chất chính trị, hầu hết các tác
phẩm còn lại đều là thơ văn trữ tình
Thơ văn tự thuật, tự trào viết trước năm 1802 đượm màu sắc chua chát, thất vọng
Văn Triệu Linh và Thuật hoài quốc âm khúc sáng tác trước 1802 viết về
tình bạn tri ân tri kỷ giữa ông và Trương Đăng Thụ
Một số văn xuôi như: Văn tế Trương Quỳnh Như; ba bài phả khuyến;
Văn khao thần ôn dịch sáng tác trước 1802
Một vài bài thơ yết hậu
Thơ tình yêu viết về mối tình Phạm - Trương đầy thơ mộng và cũng đẫm
nước mắt Sơ kính tân trang - một tác phẩm truyện Nôm hết sức độc đáo được
Trang 20sáng tác vào năm 1804 gồm 1482 câu thơ, chủ yếu là thơ lục bát Sơ kính tân
trang là một tác phẩm có nhiều giá trị độc đáo, nhiều yếu tố tự thuật và cái
nhìn trào lộng sâu sắc cũng như con mắt tinh tường của nhà thơ Tác giả đã
lấy chuyện của chính cuộc đời mình để viết nên tác phẩm Vì vậy, Sơ kính tân
trang là một trong số rất ít truyện Nôm hoàn toàn là sáng tác của tác giả chứ
không vay mượn bất cứ nguồn cốt truyện nào
1.4 Khảo sát, thống kê các tác phẩm viết về nhà chùa của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
Để người đọc có một cái nhìn bao quát nhất về hệ thống những tác phẩm
mà chúng tôi sử dụng để triển khai đề tài này tôi xin đưa ra bảng thống kê các bài thơ viết về mảng chùa chiền trong sáng tác của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái trong đó phân làm hai bảng (Xem ở phụ lục)
Theo khảo sát của chúng tôi dựa trên các tác phẩm in trong cuốn
Hồ Xuân Hương thơ và đời do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn và giới thiệu, Nxb
văn học (2008) thì số lượng những bài thơ viết về chùa chiền trong sáng tác của Hồ Xuân Hương là:
- Trong thơ Nôm truyền tụng có 14/50 bài (chiếm 28%)
- Trong Hương Đình Cổ nguyệt thi tập có 2/9 bài (chiếm 22.2%)
- Trong Lưu hương kí có 7/24 bài thơ (chiếm 29.1%)
- Trong tổng 23 bài thơ ấy có 11 bài thơ (chiếm 47.8%) viết về nhà chùa dưới cái nhìn phồn thực 12 bài thơ còn lại (chiếm 52.2%) viết về nhà chùa trong tâm thế người vãn cảnh
Phạm Thái, Sơ kính tân trang (1960), Nxb Văn hóa của Lại Ngọc Cang
là công trình khảo dị và hiệu đính rất công phu về tác phẩm Sơ kính tân trang
và các sáng tác khác của Phạm Thái Chúng tôi xin thống kê những tác phẩm viết về nhà chùa của Phạm Thái theo cuốn này:
Trang 21- Có 8/16 bài thơ (chiếm 50%)
- Trong đó có 2/8 bài thơ (chiếm 25%) viết về nhà chùa dưới con mắt hiện thực và số còn lại là những bài thơ được viết trong tâm thế người vãn cảnh Qua quá trình thống kê tôi thấy số lượng những bài thơ viết về chùa chiền của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái tương đối nhiều, điều đó cho thấy sự quan tâm của hai nhà thơ đối với đề tài này Thông qua những bài thơ ấy Xuân Hương
và Phạm Thái đã để lại cho đời sau những kho tàng văn hóa đặc sắc, những nét
vẽ truyền thần và cả hiện thực xã hội Phật giáo đương thời Tuy nhiên mỗi nhà thơ lại đi bằng con đường nghệ thuật riêng của mình Để tìm hiểu những nét phong cách nghệ thuật riêng ấy, để khám phá xem hai nhà thơ muốn nói gì và phản ánh gì trong tiếng thơ của mình, chúng tôi sẽ giới thiệu trong phần sau
Trang 22CHƯƠNG 2 HÌNH ẢNH NHÀ CHÙA TRONG SÁNG TÁC
HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI
2.1 Hình ảnh nhà chùa dưới góc nhìn Hồ Xuân Hương
2.1.1 Hình ảnh nhà chùa dưới góc nhìn phồn thực
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng lạ trong suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam Những vần thơ của bà là sự pha trộn đầy mê hoặc giữa tính dân tộc và sự nổi loạn, giữa sự trào phúng lên đến cực điểm, cái nhìn mỉa mai, chế giễu đầy ngạo mạn mà cũng lắm đắng cay với cái ý, cái tình nồng nàn, đằm thắm Thơ Hồ Xuân Hương in đậm dấu ấn cá nhân của bà, một cá tính mạnh mẽ, đặc sắc với những cái nhìn táo bạo, độc đáo Hồ Xuân Hương sáng tác cách đây gần hai trăm năm, mà đến nay, vấn đề Xuân Hương còn nhiều phức tạp chưa giải quyết dứt khoát được Con người và thơ ca bà như là
một “cơn bão” luôn khuấy động trong dư luận Hàng trăm công trình nghiên
cứu, phê bình, hàng chục khảo luận và chuyên luận, nhiều công trình luận án
tiến sĩ và thạc sĩ đã chứng tỏ cho địa vị “Bà chúa thơ Nôm” trên thi đàn văn
học Việt Nam Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng cười tục nhã, cái cười ấy như có trong văn học dân gian ta ngày xưa, những câu tục ngữ, ca dao, trào phúng của bình dân Việt Nam Phải chăng Xuân Hương đã tiếp thu bề dày văn hóa ngàn năm đó để tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo với những mảng
đề tài táo bạo, gây sửng sốt nơi người đọc Một Hồ Xuân Hương coi tình dục
là cảm xúc lành mạnh và cường tráng Thực tế hoàn cảnh tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương ở nhà trường đã để lại cho người viết một ấn tượng sâu sắc, thôi thúc người viết tìm hiểu sâu hơn về thơ của một bậc kì tài Đặc biệt là mảng nội dung táo bạo như yếu tố phồn thực Xuân Hương luôn nhìn sự vật đúng
Trang 23với những gì tự nhiên của nó, say đắm trước vẻ đẹp của tạo hóa ban cho con người và những quy luật tự nhiên khó có thể di dịch Do vậy mà các biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương được độc giả cảm thông và tiếp nhận một cách dễ dàng đặc biệt là mảng đề tài về chùa chiền không chỉ vì trên nền một cộng cảm chung, mà bởi hình ảnh nhà chùa được Hồ Xuân Hương đưa vào thơ một cách sống động, gần gũi và hết sức tự nhiên Bằng ngôn ngữ tuyệt vời của mình, nhà thơ đã nói ra điều đó, tức thức hữu hóa cái vô thức, hiển minh hóa cái còn tù mù trong độc giả
Xuân Hương luôn gây chú ý bởi sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ và hình ảnh một cách tài tình, độc đáo Tất cả các hình ảnh trong thơ Nôm truyền tụng của bà dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều khiến người ta liên tưởng tới nét nghĩa ngầm trên nền tảng của hiện thực, một mặt Xuân Hương phác họa hình ảnh nhà chùa nguyên sơ dưới góc nhìn của mình mặt khác Xuân Hương lại khéo léo phô ra điều mình muốn giãi bày mà chẳng cần phải đích thân điểm mặt, chỉ tên Đơn cử như những bài thơ viết về các hang động Vốn biết rằng hang động hầu hết là những nơi thờ Phật - là chốn linh thiêng nên khi đọc những bài thơ của bà, ta nhận thấy cái thiêng luôn được đặt dưới góc nhìn phồn thực Như nhiều nhà nghiên cứu đánh giá, đây không hẳn là sự đả kích tôn giáo hoặc “hạ bệ”, “giải thiêng” mà là đưa đạo Phật trở về với thời xa xưa thủa nó còn gắn chặt với tín ngưỡng phồn thực Cả hai nghĩa này đều rất đúng, không thể tách rời nhau được và như Đỗ Lai Thúy nhận xét: “Đặc trưng thơ Hồ Xuân Hương trong đó thanh cũng rất thanh, nhưng cũng bắt buộc dẫn người ta đến những cái rất tục một cách thú vị…” [ tr 11; 13] Thật vô vị khi
nghĩ rằng Hang Cắc Cớ, Hang Thanh Hóa, Động Hương Tích hay Kẽm
Trống, Đèo Ba Dội, Qua Cửa Đó… chỉ là những bài thơ tả cảnh Đây là bức
tranh nơi Cắc Cớ :
Trang 24Trời đất sinh ra đá một chòm, Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn, Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm, Con đường vô ngạn tối om om
Khéo ai đẽo đá tài xuyên tạc, Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!
thể Nhà thơ miêu tả từ chòm đá tới rêu xanh đến gió lá và cả đường đi, đâu đây giọt nước từ những thạch nhũ rơi xuống vũng nước lõm bõm, con đường vào hang thiếu ánh sáng nên “vô ngạn tối om om” Là một bài thơ vịnh cảnh nhưng có một điều không thể chối cãi được là thơ Xuân Hương có một cái gì
đó khác thường Nhà thơ có cái nhìn kì lạ đối với mọi hiện tượng xung quanh, trong thiên nhiên cũng như trong xã hội Từ quả mít, con ốc nhồi đến hòn đá Ông Chồng, Bà Chồng hay ngay cả “cái chòm hỏm hom” trong hang Cắc Cớ…Xuân Hương đều như muốn nói đến chuyện khác nữa, chuyện của đàn
bà, Xuân Hương đã sử dụng một số từ có dụng ý như “nứt làm đôi mảnh”,
“kẽ hầm rêu mốc”, “giọt nước hữu tình”, “con đường vô ngạn”, “hớ hênh”,
“đẽo đá”, “xuyên (tạc)” và tử vận om (chòm,hòm, lõm bõm, om, dòm) kề cận
nhau trong một văn bản đã dậy lên sự “lấp lửng hai mặt”, với một nghĩa phô
ra đập ngay vào nhận thức của người đọc và một nghĩa ngầm cho trí tưởng tượng phong phú của người đọc Cả hai nghĩa này đều rất đúng và không thể tách khỏi nhau được Có thể nói rằng, không gian nghệ thuật thể hiện cái nhìn, thái độ của người nghệ sĩ về xã hội, con người, cuộc sống Xuân Hương
với khí phách “ghé mắt trông ngang thấy bảng treo”, “Giơ tay với thử trời
Trang 25cao thấp, Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài” sẽ không chịu gò mình trong không
gian chặt hẹp, tù túng Vốn biết rằng, không gian hang động thuộc về không gian tự nhiên, không gian vũ trụ Nó thuộc về cái bát ngát, mênh mông Nhưng rõ ràng trong thơ Xuân Hương, hang động không phải chỉ là cái tự nhiên, mà nó mang theo biểu tượng ám ảnh đặc trưng của thơ Nôm truyền
tụng của bà Trong bài Động Hương Tích Xuân Hương cũng dùng cách thức
này để nói đến cái nghĩa lấp lửng phía sau một cách thú vị, dùng đối tượng
động Hương Tích:
Bày đặt ai kia khéo khéo phòm!
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom Người quen cõi phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm Giọt nước hữu tình rơi thánh thót Con thuyền vô trạo cúi lom khom Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo trời già đến dở dom
(Động Hương Tích)
Cái động ấy dường như là do ai đó cố “bày đặt” đầy dụng ý Động
Hương Tích mở ra như một “lỗ”, “nứt”, “hỏm hòm hom” Mọi thứ nguyên sơ
của cửa động được miêu tả đầy ý vị Bầu tiên lạ lùng trước mắt kẻ trần tục
khiến con người cứ “mỏi mắt dòm” không thôi Rồi “giọt nước hữu tình”,
“con thuyền vô trạo”,… mọi thứ đặt kề cận bên nhau như một cõi “lâm tuyền
phồn hoa” hấp hẫn Đã thế, nhà thơ lại bỏ lửng vào đó một lời trách thật đáng
yêu “Rõ khéo trời già đến dở dom” Tại sao lại có lời trách đáng yêu đầy chất
Trang 26dân gian như vậy? Có lẽ bởi cái động ở chùa Hương Tích cứ gợi nhà thơ đến những liên tưởng lí thú, lạ kì
Trải qua bao thời gian ta biết rằng, hang Cắc Cớ, động Hương Tích… đều là những danh lam thắng cảnh thiên nhiên, điều đó chứng tỏ Xuân Hương
đã đi rất nhiều nơi, vãn nhiều cảnh đẹp Trong khi người phụ nữ sống dưới
chế độ phong kiến ngặt nghèo phải đoan trang, an phận “Êm dềm trướng rủ
màn che ” thì Hồ Xuân Hương muốn thoát ra khỏi không gian bí bách đó để
thỏa trí mình Đó là sự giải phóng bản thân, không chịu gò bó trong một khuôn khổ, một cá tính mạnh mẽ, táo bạo, có sức phá cách trước những trói buộc hà khắc, bất công, đồng thời thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, cuộc sống đắm say Không yêu thiên nhiên Xuân Hương làm sao có thể cảm nhận được
“Luồng gió thông reo vỗ phập phòm”, “Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm” Không say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên làm sao Xuân Hương có thể “Chồn
chân mỏi gối vẫn còn ham” khi leo lên hang Thanh Hóa chùa Thầy Và không
yêu thiên nhiên, không say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên thì “kẻ lạ bầu tiên” đâu có “mỏi mắt dòm” Nhưng đọc thơ Xuân Hương mà chỉ nhìn cái nghĩa
phô ra thì còn đâu gọi là thơ Xuân Hương nữa Cái không gian thoáng đạt giữa thiên nhiên đất trời là nơi để bậc kì nữ đó trải rộng lòng mình với lòng ham sống và khao khát tình yêu Với bà, vẻ đẹp cuộc sống phải có sự sinh sôi, nảy nở, phát triển và con người cũng khó có thể phát triển được nếu như thiếu
đi cái ham muốn “tổ tiên” Ở đây Hồ Xuân Hương nói đến những hang động,
chùa chiền đó là những nơi thiêng liêng, những nơi thờ thần cúng Phật, có người khi đọc bài thơ này cho rằng đây là một sự đả kích tôn giáo Chúng tôi nghĩ không hẳn là như thế bởi lẽ ngay cả đến các sự vật được dùng trong tín ngưỡng cũng mang biểu tượng của văn hóa phồn thực Những ngọn tháp cũng mang bóng dáng của sinh thực khí nam, que hương thân tròn chân vuông là biểu tượng của Linga và Yôni Bài thơ rõ ràng mang hai nghĩa, vẫn là tả cảnh chùa ấy vậy mà nó cứ làm cho người ta nghĩ đễn những hình ảnh kia dù là vô
Trang 27tình đọc lướt qua Cứ thử xem hang Thánh Hóa chùa Thầy với “Lườn đá cỏ
leo sờ rậm rạp/Lách khe nước rỉ mó lam nham” ta cũng sẽ thấy ngay điều ấy
Trên lườn đá cỏ leo, mọc tùm lum nên “sờ vào rậm rạp” là chẳng sai, vậy mà
“cái sờ rậm rạp” ấy gắn liền với “nước rỉ lam nham” giữa “lách khe” làm sao không khỏi khiến người đọc liên tưởng đến vẻ đẹp, cái thiêng liêng mà tạo hóa đã ban cho người phụ nữ Rõ ràng ngoài cái nghĩa phô ra chỉ một trong những thắng cảnh chùa Thầy ta còn thấy hiện lên một nghĩa biểu tượng, một cái hang ngầm bên trong cái hang lồ lộ đó Bởi người ta không thể không liên
tưởng tới một cái hang khác khi các điệp vần kế tiếp nhau: hỏm hòm hom, rơi
lom bõm, tối om om cùng với những hình ảnh phụ họa : nứt ra một mảnh, kẽ hầm rêu mốc, con đường vô ngạn và nhất là các từ xúc tác mạnh: trơ, hớ hênh, rậm rạp, lam nham Nó giống như sự tranh tối, tranh sáng thần bí mà
người ta không thể không cố mà chiêm ngưỡng Không gian hang động thuộc không gian vũ trụ tự nhiên, nó không là không gian vật chất được đo bằng chiều kích địa lý Nó mang tính khách quan nhưng khi đi vào trong thơ nó trở thành không gian nghệ thuật, không gian đó mang tính chủ quan của người nghệ sĩ và nó được đo bằng tư tưởng, ý đồ của tác giả Với nét nghĩa ngầm trong thơ thì những không gian ấy không còn đơn giản là không gian vật chất khách quan nữa mà nó mang nặng bầu không gian liên tưởng qua vận tử
“om” Vần “om” đã thu hẹp không gian địa lý mênh mông của hang động để
gợi ra một không gian chật hẹp, gò bó, một tâm trạng ngột ngạt, như có sự ham muốn phá cách Hang động của thiên nhiên thoáng rộng, còn hang động trong thơ Xuân Hương lại chật hẹp, bức bối, tối tăm Phải chăng đó là cái bức bối bởi sự giả tạo nơi cõi Phật, của lòng người trước những cái rất đời thường, rất tự nhiên của con người khiến Xuân Hương không chịu nổi?
Xuân Hương có cả một hệ thống những bài thơ mang biểu tượng như thế, điều ấy không phải nói lên rằng Xuân Hương là một người dâm tục mà chỉ có thể khẳng định một điều là bà rất yêu quý và chân trọng cái đẹp của tự nhiên
Trang 28nhất là vẻ đẹp của người phụ nữ Xuân Hương không hề trực tiếp nói ra điều mình gửi gắm mà luôn lấy cái thực của hiện tại, miêu tả cảnh vật đúng với tự nhiên, đúng với những gì nó có Ví như một hang gì đó nữa ở đèo Ba Dội
“Cửa son đỏ loét tùm hum nóc/Bậc đá xanh rì lún phún rêu”, ai đã có dịp đến
với đèo Ba Dội hẳn đã tận mắt chứng kiến bức tranh khung cảnh nơi đây, cửa hang đỏ loét với những bậc đá đầy rêu, Xuân hương tả thực đấy chứ, bà đã dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh của mình để giới thiệu với bạn đọc những nét độc đáo của thắng cảnh nơi này Có điều thắng cảnh ấy được nhìn dưới con mắt Xuân Hương nên nó cứ lấp ló cái ý phồn thực Tạo hóa đã mất công nhào nặn vậy hà cớ sao lại phải cố giấu đi, lại phải thẹn thùng, Xuân Hương chỉ muốn mọi người hãy nhìn thẳng vào hiện thực, phụ nữ cũng như thế, họ cũng đẹp như tự nhiên, giống với tự nhiên và cần phải được chân trọng, yêu mến
Có lẽ chăng vì thế mà chúng ta không hoảng hốt khi cắt nghĩa những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương, giản dị bởi đó là câu chuyện phồn thực, những biểu tượng gần gũi của dân tộc và toàn nhân loại Thơ Hồ Xuân Hương hoàn toàn mô tả đúng bản chất sự vật, không gợi bản chất của một tâm hồn dâm đãng Những tâm hồn chỉ chờ để phân tích cái nghĩa mà họ cho là đen tối thì đã nhầm Ở đây không hề có cái tục nào cả, mà chỉ có cái tự nhiên, cái đẹp, sức sống của tồn tại con người Không phải vấn đề đạo lí mà là vẫn đề triết lí, triết lí tự nhiên và triết lí cái đẹp, nó hướng tới hạnh phúc và tự
do Xuân Hương phản đối dữ dội lối sống “phản tự nhiên”, chế giễu nhẹ nhàng, ít cay độc những ai không dám nói đến bản năng và cái khát vọng bình thường ấy Hồ Xuân Hương lựa chọn chính khung cảnh nhà chùa để miêu tả
cơ thế người phụ nữ, tình yêu bản năng, rõ ràng đó là thiên tài của nhà thơ Cho đến nay rất nhiều người đã cảm nhận được tiếng nói của hồn thơ ấy,
Xuân Diệu đã từng bênh vực cho Hồ Xuân Hương: “Không phải cái gì vướng
lề thói tập tục thông thường là chìm đi ngay, như vậy làm cho văn học nghèo
đi, và như vậy sẽ có những vùng rất lớn của tâm tư con người mà không ai
Trang 29dám bén mảng, dò la đến nữa, những vùng sâu thẳm, rộng lớn đó là những mạch nước ngầm rấ quan trọng” Những hình tượng trong thơ Hồ Xuân
Hương luôn sống lên, luôn luôn cử động như những con mồi rơm dưới câu thần chú của người phụ nữ cao tay ấy
Mấy trăm năm qua, không ai là không cảm thấy hứng thú khi đọc thơ Hồ Xuân Hương bởi tiếng cười hài hước, hóm hỉnh mà lại sâu cay Tiếng cười trong thơ bà đã làm phong phú và sâu sắc hơn tiếng cười dân gian Thơ Hồ Xuân Hương chính là một phương diện khác để biểu hiện cái thiêng liêng bên cạnh phương thức tín ngưỡng dân gian Bằng tài năng nghệ thuật của mình, đặc biệt là tài năng sử dụng tiếng Việt, Hồ Xuân Hương một mặt đã biến những bài thơ của mình thành một hội hè ngôn ngữ, một lễ hội trong đó sự thiêng liêng đã bước qua khỏi cái ranh giới đời thường, hòa nhập làm một Mặt khác, mỗi từ, mỗi câu, mỗi hình ảnh trong thơ bà đều lấp lửng nghĩa hai mặt, vừa thiêng, vừa tục, vừa tục, vừa thiêng được đặt nơi mảnh đất riêng của phồn thực Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc luôn được chuyển đi từ cực này sang cực khác trong cái không gian đạo đức - thẩm mĩ của bà Một người phụ nữ táo bạo nhất của nền văn học cổ điển đã dám dứng lên chống lại phong kiến bằng tiếng cười trào lộng qua những biểu tượng ám ảnh con người Chính bởi sự táo bạo ấy mà trước kia Hồ Xuân Hương thường bị giai cấp phong kiến thống trị coi là người đàn bà lăng loàn, đĩ thõa Họ căm ghét Xuân Hương, bởi Xuân Hương dám nói những điều bọn mũ cao áo dài không dám nói đến, bởi Xuân Hương dám thẳng tay tát vào mặt cả một duộc bọn phong kiến thống trị từ trên xuống dưới, chẳng có sự sợ hãi, chẳng có nể nang
ai một chút nào Nhà thơ xé toạc hết các bộ mặt giả dối, lột trần hết những chiếc áo đạo đức cũn cỡn để chúng lộ nguyện hình là một lũ bịp bợm, dối đời
và dốt nát
Trang 30Nữ sĩ họ Hồ không ngần ngại kéo lên sân khấu bộ mặt thẫn thờ và cả
cái đầu trọc của những nhà sư với “đường tu lắt léo”, Hồ Xuân Hương tỏ ra
vô cùng khó chịu với hiện thực ấy Qua tìm hiểu có thể thấy rằng trước Xuân Hương cũng như cùng thời với bà - có nhiều nhà thơ viết về thể tài này Bởi thời đại mà Xuân Hương sống là thời điểm Phật giáo khủng hoảng, suy đồi, xã hội rối ren, nhà chùa không còn là nơi tu hành trang nghiêm Nhiều kẻ lợi dụng cảnh chùa để làm điều sằng bậy Một người khao khát cuộc sống tự nhiên, khao khát được hưởng lạc thú của tình yêu như Xuân Hương tất không chịu được lối tu hành giả dối đó Thế nên cứ y như rằng nói đến sư mô là Hồ Xuân Hương lại quất chiếc roi vào sự thật diễn ra trong chốn nhà chùa bấy giờ Có điều là bà luôn đả kích hình ảnh các sư vãi giả
lĩnh, tự tin, mạnh mẽ nên Hồ Xuân Hương chế giễu, đả kích tất cả chúng bằng giọng đường hoàng, dõng dạc, chủ động và rất “đàn chị” trong lối nói trào lộng hóm hỉnh của mình Thơ ấy, người ấy đã chỉ thẳng vào mặt bọn sư
mô, kéo cái mặt nạ giả dối đủ kiểu, lôi tuột nó ra trước thanh thiên bạch nhật, trước dư luận người đời Thơ ấy, người ấy cất tiếng nói phản kháng quyết liệt của bản năng bị dồn ép vì những luân lý, lễ giáo, những thói thường ích kỷ Sự phản ứng quyết liệt ấy nhiều khi cường điệu, chuyển ý… một cách nghệ thuật, nên thường cũng hay bị người đời gán ghép cho những chuyện sinh lý có lúc quá trớn, quá đà Thơ ấy, người ấy không một chút ngại ngùng tố cáo triệt tồn tại nơi chốn cửa chùa Phải chăng đây là môi
trường cho những hoạt động phi thần thánh, của những đường tu còn “nặng
tình đeo” trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Nên giữa không gian linh
thiêng ấy vang lên tiếng cười hóm hỉnh, mỉa mai, chế diễu đầy thách thức,
khinh thường của một người “Ví đây đổi phận làm trai được”, của một tâm hồn khát khao hạnh phúc lứa đôi, “hận vì duyên để mõm mòm”, luôn đấu tranh để giành quyền sống tự nhiên cho con người, chẳng chịu để “già tom”
Trang 31trước “xuân tình” Xuân Hương không đả kích Phật giáo mà bà chỉ ghét
những kẻ giả nhân, với bà chuyện đó là khao khát chính đáng của con người tại sao cứ phải dồn ép vào những quy luật làm mất đi giá trị tự nhiên, mà ép rồi con người ta cũng chắc gì đã làm được hay chỉ khoác lên chiếc màn mỏng che đi bản chất của mình để rồi bị Xuân Hương thẳng tay kéo xuống
Để xem cái trái tự nhiên trong cảnh chùa Quán Sứ qua con mắt nhà thơ:
Quán sứ sao mà cảnh vắng teo?
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình,(1) tiểu để suông không đấm Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo
Sáng banh không kẻ khua tang mít (2) Trưa trật nào ai móc kẽ rêu
Cha kiếp đường tu sao lắt léo Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo
(Chùa Quán Sứ)
Một không gian vắng vẻ, trễ nải: “cảnh vắng teo”, sư cụ không biết “đáo
nơi neo”, chày kình để “suông không đấm”, “không kẻ khua tang mít”, không
người “móc kẽ rêu” Tất cả như bất động Nhưng sự bất động vắng lặng đó
không phải là không phải là không gian tĩnh mịch của cõi u linh mà nó là sự
vắng vẻ, lười nhác của những kẻ còn “nợ tình đeo” mà đã bước chân vào cõi
Phật, nên trước không gian đó ta có cảm giác nó chỉ là sự linh thiêng giả tạo Bài thơ hiện lên hình ảnh ngôi chùa vắng lạnh, kinh kệ chểnh mảng Cuộc sống trong chùa hỗn độn, xô bồ, tẻ nhạt, vô vị Công việc đánh chuông hàng ngày không diễn ra Sự lười nhác của những kẻ tu hành bị Xuân Hương mỉa mai qua việc diễn tả sinh hoạt nhà chùa trong không gian sáng - trưa Bản
thân là những kẻ tu hành lẽ ra phải “khắc kỉ” với mình, chịu “khổ hạnh” để
Trang 32cứu đời khỏi bể khổ Vậy mà các sư, các tiểu ở chùa Quán Sứ “sáng banh” vẫn chưa ai chịu “khua tang mít”, “trưa trật” rồi mà “nào ai móc kẽ rêu”
Những tín hiệu thời gian cụ thể trong ngày thể hiện sự mỉa mai, phê phán hay
gắt “Sáng banh” là trời đã sáng hẳn, không còn là sáng sớm tinh mơ hay tờ
mờ đất nữa “Sáng banh” là thời điểm mà mọi người đã bắt tay vào công việc của một ngày mới Thế mà những kiếp tu hành gánh trên vai trách nhiệm cứu khổ, cứu nạn chúng sinh vẫn còn chưa thức giấc, thậm chí đến “trưa trật” mà
họ vẫn còn uể oải không ai động đến việc gì “Nào ai” - có lẽ không từ nào đắt hơn từ đó cho sự mỉa mai lười nhác đến với sư chùa Quán Sứ Xuân Hương tỏ rõ sự khinh bỉ đối với những kiếp tu hành này Dường như sư sãi
suốt đời chỉ có mỗi việc lần tràng hạt “đếm lại đeo” Chỉ cần phát âm ngược lại sẽ thấy dường như cái sư cụ để tâm ở đây là cái “đáo nơi neo” chứ chẳng
phải tràng hạt nào Cái thiêng đã bị Hồ Xuân Hương bóc mẽ, phơi bày bản chất tu hành không đúng đạo của sư sãi chùa Quán Sứ Chùa chiền là chốn thâm nghiêm, thanh tịnh Vậy mà lại diễn ra toàn cảnh chướng tai gai mắt
Sư Cụ thì mải “đáo nơi neo” với bà vãi trong cảnh “ông sư bà vãi cuộn tròn
lấy nhau”, còn chú tiểu cũng bỏ cả kinh kệ, mải mê trong cảnh “suông không đấm” Những từ đó (những từ gạch chân) ta chỉ cần đọc ngược lại là sẽ rõ cái
dụng ý của Hồ Xuân Hương định nói gì Vốn là người yêu cuộc sống trần tục
và những khát vọng tự nhiên nên dưới con mắt Hồ Xuân Hương cứ điều gì trái với tự nhiên là khiến bà “khó chịu” Đi tu theo Phật đã là một sự phản tự nhiên, đi tu mà không “chính chuyên”, đi tu mà vẫn còn “đèo bồng” đầy khao khát trần tục thì hỏi sao bà không để ý Có lẽ chính những điều này mới khiến
Hồ Xuân Hương “nực cười” Bởi vậy, bà đã đưa vào thơ mình hàng loạt những khoảnh khắc, những cảnh quay đậm chất phồn thực bên trong cái nơi được coi là vô cùng thiêng liêng của văn hóa Việt Xuân Hương soi rõ sự vật dưới góc nhìn phồn thực những cảnh ngược đời Thế kỉ XVIII Phật giáo không thiếu những kẻ “mạt tăng” lợi dụng cửa chùa rộng mở, cạo đầu núp
Trang 33dưới lớp áo cà sa để buôn thần, bán thánh… làm những việc trái với giáo lý nhà Phật Xuân Hương không chống phá đạo Phật mà chỉ dùng thơ văn để dỡn mặt với tăng giả, hay sư hổ mang Bà kêu gọi con người sống với đúng con người bản năng của mình, bà đả kích lối sống ép buộc, gò bó, những quy luật hà khắc của đạo luật đã khiến cho con người không được sống với chính mình phải ép mình, phải dối lòng nhưng cũng không thể làm được
Xuân Hương đã dắt độc giả đi sâu vào thế giới bên trong của chùa chiền,
chỉ cho độc giả thấy “cha kiếp đường tu” nó “lắt léo” như thế nào Đọc bài thơ Sư Hổ mang ta bắt gặp một giọng thơ giễu nhại thật tài tình:
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi núp sau lưng sáu bảy bà Khi cảnh, khi tiu,khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên Sư cụ, Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà
(Sư Hổ mang)
Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại, kiêng nể bóc trần bản chất xấu xa, giả tạo đó của giới tu hành, thái độ gay gắt, quyết liệt của thi sĩ trước những
“kiếp tu hành nặng đá đeo” đến mức “trái gió cho nên phải lộn lèo” Thơ Hồ
Xuân Hương là tiếng nói của tâm hồn yêu cuộc sống trần thế Nữ sĩ trân trọng những giá trị đích thực, ghét sự giả tạo, đi ngược tự nhiên Chính vì thế khi chứng kiến sinh hoạt nơi cửa chùa Xuân Hương đã không ngần ngại vẽ ra bức chân dung độc đáo, kỳ dị của sư sãi Ở đây, ông sư bà vãi là những nhân vật lạc loài, không gốc tích, hình ảnh dáng vẻ, trang phục đều rất kì dị Chi tiết
Trang 34“đầu thì trọc lốc” khiến ta liên tưởng đến con người có hình dáng bề ngoài
không đẹp, trái với tự nhiên Cách ăn mặc của sư cũng buồn cười, chẳng
giống ai “áo không tà” Không chỉ miêu tả hình dáng Xuân Hương còn ghi
lại hình ảnh về cử chỉ, hành động trần tục, thói tham lam của chúng Việc giả
tu bị bóc trần qua hai câu thơ đối nhau Thực chất, nhà sư mượn tôn giáo để kiếm ăn và núp bóng cửa Phật để làm việc không đứng đắn, trốn tránh cuộc đời Lên chùa ăn uản, hiến thân mình cho Phật mà vẫn kéo theo sáu bẩy bà vãi
để “Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe”, rồi thi thoảng “giọng hì, giọng hỉ,
giọng hi ha” với các bà tu cho đường tu đỡ “nặng đá đeo” Đọc bài thơ Sư Hổ mang ta bắt gặp một giọng thơ giễu nhại thật tài tình Đến với cõi Phật là đến
với thế giới diệt dục Vậy mà sư cụ trong lúc lẽ ra phải ngồi gõ mõ tụng kinh
cầu phúc cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh thì cụ lại bỏ Phật đường đi “đáo
nơi neo”, miệng thì ăn oản mà tay chân vẫn “dắt díu” các bà lên “ngất nghểu tòa sen” Trước mặt sư là Phật nhưng sau lưng lại là bà vãi, sao lại nấp? Nấp
để làm gì? Không phải một mà là “sáu bảy bà” ? Những sư đó đúng là “chẳng
ra Ngô, chẳng ra ta” chỉ là những sư hổ mang đội lốt tu hành che mắt thế gian,
chứ trong lòng thì đầy ham muốn nhục dục trần thế Đó là quy luật trái tự nhiên, Xuân Hương không thể dung thứ cho họ Xuân Hương miêu tả cụ thể:
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm
Đi đâu không đội để ong châm “Nón tu lờ”, “mũ thâm” là trang phục được dành cho giới tu hành, mũ,
nón đều có tại sao sư không đội, để cho con ong nhầm lẫn, không phân biệt được nhằm vào đâu sư mà đốt? Nữ sĩ tỏ vẻ quan tâm, để ý đến việc không may mắn của sư nhưng thực chất đó là sự giễu cợt hóm hỉnh mà sâu sắc Hồ
Xuân Hương trách chú ong: “Đầu sư há phải gì bà cốt/Bá ngọ con ong bé
cái nhầm”(Sư bị ong châm) Đầu sư là một thứ rất đáng kính trọng vậy mà
trong thơ Hồ Xuân Hương, nó lại bị nhầm lẫn với một thứ “đầu” khác, sự so