1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường vĩnh phúc

47 684 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 410,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tính cấp thiết của việc đánh giá đúng trình độ trí tuệ của người học nhằm tìm ra phương pháp giáo dục một cách có hiệu quả nhất nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo những nhân tài

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới đã và đang bước sang thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật Cứ khoảng 4 đến 5 năm khối lượng tri thức nhân loại lại tăng lên gấp đôi lần hoặc hơn thế nữa là cùng với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học và công nghệ mới như: công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, công nghệ nano,…đòi hỏi con người phải có tri thức, phải có đội ngũ chuyên gia, các kỹ thuật viên

có đủ trình độ và năng lực Trong khi đó xét về mặt khoa học và công nghệ Việt Nam thì nước ta đi sau rất nhiều các nước trên thế giới Còn về mặt kinh

tế thì được xếp vào các nước nghèo có thu nhập thấp “Việt Nam không thiếu những người tài giỏi và đầy khả năng sáng tạo” đó là sự thật đã được minh chứng Hằng năm, học sinh Việt Nam vẫn đạt nhiều giải cao trong các cuộc thi Olympic quốc tế Những cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật các cấp vẫn luôn có những sản phẩm, đề tài hay, đổi mới, mang tính ứng dụng cao Ngay

cả nông dân, công nhân vẫn có những sáng chế độc đáo phục vụ cho công việc hằng ngày, giúp cải thiện năng suất lao động….Có nghĩa là, xét trên tổng thể, Việt Nam có những yếu tố tiềm ẩn về khả năng phát triển trí tuệ Thế nhưng nước ta vẫn lẹt đẹt đi sau nhiều nước trong khu vực trên lĩnh vực sáng tạo và đổi mới Vậy câu hỏi được đặt ra là: làm thế nào để nước ta tiến kịp các nước trên thế giới? Chỉ có tri thức mới giúp chúng ta thực hiện được điều này Vậy làm sao để có tri thức? Để có được tri thức không còn cách nào khác là ngay từ hôm nay chúng ta phải đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho thế hệ trẻ - chủ nhân của tương lai đất nước

Bên cạnh đó thế hệ trẻ - lứa tuổi học sinh THPT là một trong những giai đoạn có những biến đổi sâu sắc về mặt tâm sinh lý Các em vẫn chưa thoát khỏi sự cám dỗ, hiếu động xong lại muốn được mọi người xem mình là

Trang 2

người lớn, yêu cầu cao hơn trong công việc và trong cách suy nghĩ Do đó học sinh THPT ở độ tuổi này các em không chỉ nhận biết được cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức được vị trí của mình trong tương lai Có thể hiểu rõ được những phẩm chất nhân cách bộc lộ rõ và những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của nhân cách do đó mà các em trưởng thành, khôn ngoan hơn và không ít em bị dụ dỗ rồi rơi vào những cạm bẫy của xã hội Vậy những biến đổi và những lệch lạc ở giai đoạn này ảnh hưởng đến hoạt động trí tuệ của học sinh như thế nào? Các em có những suy nghĩ và cảm xúc ra sao? Do tính cấp thiết của việc đánh giá đúng trình độ trí tuệ của người học nhằm tìm ra phương pháp giáo dục một cách có hiệu quả nhất nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo những nhân tài trong tương lai,

em mạnh dạn đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối tương

quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh trường Trung học phổ thông Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc”

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu về các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản thường có chỉ số thông minh (IQ), chỉ số cảm xúc (EQ) và chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

- Tìm hiểu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu IQ và mức trí tuệ của học sinh theo tuổi và giới tính

- Nghiên cứu AQ, các chỉ số thành phần AQ và EQ của học sinh theo tuổi

và giới tính

- Nghiên cứu mối tương quan giữa IQ với EQ, IQ với AQ và AQ với EQ

Trang 3

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu có tác động quan trọng đến việc thay đổi phương pháp dạy học của giáo viên với các đối tượng học sinh khác nhau

- Là cơ sở dữ liệu trong chiến lược phát triển con người chất lượng cao

- Kết quả khảo sát giúp thay đổi nhận thức về cách tiếp cận dạy học tích hợp các kiến thức về giá trị sống cho học sinh

5 Đóng góp mới của đề tài

- Xác định thực trạng các chỉ số trí tuệ cơ bản của học sinh THPT

- Tìm thấy mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Trí tuệ

1.1.1 Lược sử nghiên cứu trí tuệ

1.1.1.1 Trên thế giới

Xuất phát từ tầm quan trọng của trí tuệ trong thực tiễn, nhiều tác giả đã

đi sâu vào nghiên cứu về trí tuệ, trong đó có các nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ và các cách đo lường trí tuệ,…

F J Gall (TK XVIII), là người đầu tiên đưa ra quan điểm rằng có sự định khu chức năng trong não Ông đã đưa ra thuật ngữ “nói tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt của não nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não người Tuy nhiên ông đã mắc phải sai lầm là đồng nhất giữa cấu tạo với chức năng của não

Năm 1905, nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet đã đưa ra khái niệm

“tuổi trí khôn”, là đại lượng đầu tiên thể hiện ý tưởng đo lường trí tuệ trẻ em Ông cùng với bác sĩ T Simon thực hiên một loạt các thực nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau (3 đến 5 tuổi) Thang

đo lường trí tuệ Binet - Simon đã ra đời, đó là trắc nghiệm được tiêu chuẩn hoá đầu tiên không chỉ về sự thống nhất hoá các bài tập và thủ tục thể hiện chúng, mà cả về việc đánh giá các tài liệu thu được

Năm 1912, nhà tâm lí học Đức V Stern đã đưa ra khái niệm “hệ số thông minh” xem nó như là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó Hệ số này chỉ ra sự vượt lên trước hay chậm lại của tuổi trí khôn so với tuổi thời gian

Khi trào lưu phân tích nhân tố xuất hiện và thịnh hành trong nghiên cứu trí tuệ, đã hình thành hai xu hướng lí luận điển hình, đặt cơ sở cho việc xây dựng các trắc nghiệm: các mô hình trí tuệ hai thành phần và cấu trúc đa nhân

Trang 5

tố Trong số trắc nghiệm dựa trên thuyết hai thành phần có trắc nghệm trí tuệ nh R.Cattell Ngày nay, các trắc nghiệm trí tuệ chủ yếu dựa trên mô hình cấu trúc trí tuệ đa nhân tố Ngoài ra còn phải kể đến các trắc nghiệm “khuôn hình tiếp diễn” của nhà tâm lí học người Anh J.C.Raven, dựa trên quan điểm của các nhà Ghestal về sự phát sinh tri giác và tư duy Ông đã mô tả trắc nghiệm này lần đầu tiên vào năm 1936 Phương pháp trắc nghiệm này của J

C Raven được gọi là trắc nghiệm phi ngôn ngữ về trí thông minh

Năm 1914, nhà tâm lí học người Pháp Rơne Gille soạn thảo trắc nghiệm “trí tuệ đa dạng” dựa trên cơ sở lí luận cấu trúc trí tuệ đa thành phần

và lí thuyết phát sinh trí tuệ

Đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu trí tuệ được đề xuất vào năm

1939, phương pháp của D.Weschler - nhà tâm lí của Bệnh viện Tâm thần Bellevne, giáo sư tâm lí học lâm sàng của trường Đại học Y khoa NewYork -

là phổ biến nhất Năm 1949, ông đưa ra WIC (The Wechsler Intelligence Scale for Children) dành cho trẻ em từ 5 đến 15 tuổi Năm 1955, ông lại đưa

ra WAIS (The Wechsler Adult Intelligence Scale), là loại dành cho người từ

16 tuổi trở lên Năm 1967 có thêm loại WPPSI (The Wechsler Pre-School and Primary Scale of Intelligence) dành cho trẻ em từ 4 đến 6 tuổi rưỡi

Năm 1995, Daniel Goleman trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa IQ với các yếu tố tư tưởng tạo thành tính cách của các nhà quản lí, đã kết luận sự thành công của mỗi người không phải chủ yếu là do có chỉ số trí tuệ cao, mà

do các yếu tố tạo nên tính cách đó Ông cho rằng, các cảm xúc chỉ đạo trí tuệ, thậm chí nó còn lành mạnh hơn cả logic toán mà chúng ta vẫn thấy trong các trắc nghiệm

Cho đến nay vấn đề về năng lực trí tuệ không còn là vấn đề quá mới mẻ nhưng con người vẫn chưa hiểu hết về nó, đó là lí do tại sao trí tuệ đã, đang

Trang 6

và sẽ thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam được tiến hành trong vài chục năm gần đây Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu trí tuệ của con người chưa được quan tâm nhiều, chỉ có rất ít công trình do cán bộ ngành y tế nghiên cứu để chẩn đoán trí tuệ của bệnh nhân tâm thần bệnh viện Bạch Mai

và bệnh viện nhi Thuỵ Điển (theo [15]) Từ cuối những năm 1980 đến nay, đã

có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh Việt Nam Một số tác giả quan tâm đến bản chất và cấu trúc của trí tuệ Kết quả nghiên cứu của các công trình cho thấy, có thể sử dụng test trí tuệ để chẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em Việt Nam

Trần Trọng Thuỷ (1989) là một trong số các tác giả đầu tiên nghiên cứu

về trí tuệ của học sinh Việt Nam Qua nghiên cứu, ông đã xác định chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh Tác giả nhận thấy, sự phân bố học sinh Việt Nam theo IQ gần sự phân phối chuẩn,

có sự khác biệt giữa học sinh thành thị và học sinh nông thôn, có sự liên quan giữa học lực và thành phần gia đình [14]

Trịnh Văn Bảo nhận thấy, có sự phù hợp giữa chỉ số IQ và nhận thức trong quá trình học tập của học sinh Trong đó, yếu tố di truyền là tiền đề, là

cơ sở của sự phát triển trí tuệ của học sinh [18]

Tạ Thuý Lan, Võ Văn Toàn nghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh bằng test Raven và điện não đồ Nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và có mối tương quan thuận với kết quả học tập Ở đầu cấp tiểu học, điểm trí tuệ của học sinh thấp hơn so với điểm chuẩn quốc tế, còn ở các lớp trên thì lại cao hơn Điểm trí tuệ của học sinh Hà Nội cao hơn so với học sinh Quy Nhơn cùng tuổi [9], [19]

Trang 7

Công trình nghiên cứu của Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan cho thấy, khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều Năng lực trí tuệ của học sinh nông thôn thấp hơn so với chuẩn và

so với học sinh Hà Nội cùng tuổi, còn học sinh Hà Nội lại có điểm trí tuệ cao hơn so với chuẩn Mức độ hoạt động trí tuệ giữa học sinh nam và học sinh nữ không có sự khác biệt rõ, chứng tỏ hoạt động trí tuệ của học sinh không phụ thuộc vào giới tính [11]

Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng (1993) đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội có độ tuổi từ 10-14 Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hoá từ 11 tuổi trở đi, trong đó trí tuệ của nam cao hơn của nữ Các tác giả còn đề cập đến ảnh hưởng của điều kiện sống tới sự phát triển trí tuệ của học sinh [7]

Trần Thị Loan nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi quận Cầu Giấy - Hà Nội Kết quả cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt về giới tính Có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của nhiều tác giả khác nhau trên đối tượng học sinh, sinh viên cũng cho kết quả tương tự [16], [17]

Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng, nghiên cứu trí tuệ của học sinh ở Thanh Hóa đã nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và

có mối liên quan thuận với học lực [12]

Mai Văn Hưng (2003) nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường đại học phía Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa chỉ số trí tuệ và thể lực [5] Có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của nhiều tác giả khác trên đối tượng học sinh, sinh viên cũng cho kết quả tương tự

Trang 8

1.2 Chỉ số cảm xúc

Thuật ngữ “ trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence - EI) thường dùng dưới hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc (Emotional intellegence quotient

- EQ) của mỗi cá nhân “Chỉ số cảm xúc (EQ) là một tập hợp các kỹ năng

cảm xúc mà một người sử dụng để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống hàng ngày” (Theo Multi - Health Systems, 2008) Nói một cách đơn giản, trí

tuệ cảm xúc chính là sự phán đoán dựa trên kinh nghiệm hoặc khả năng hòa nhập với mọi người

Trí tuệ cảm xúc mới được biết đến vào đầu những năm 90 của thế kỷ

XX nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống đang thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều người và đang ngày càng trở nên phổ biến hơn Đã không ít ý kiến cho rằng: “Chỉ số cảm xúc được coi là quan trọng hơn IQ và AQ đối với sự thành bại của con người” Nhà Tâm lý học người Mỹ Daniel Goleman đã nhận định: “Trong những nhân tố quyết định sự thành bại trong cuộc đời, IQ chiếm ít nhất là 20%, còn ngoài ra bị quy định bởi các nhân tố khác”

Howard Garden (1983), trong học thuyết đa trí tuệ của mình đã từng đề cập đến loại trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence), bao gồm các năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các nhu cầu của người khác một cách thích hợp Người có trí tuệ loại này có khả năng khích lệ và nâng đỡ người khác Như vậy, mặc dù Gardener đã không dùng thuật ngữ trí tuệ cảm xúc nhưng quan niệm của ông về trí tuệ của mình và của người khác là sự thừa nhận tầm quan trọng của việc hiểu biết và

áp dụng có kỹ năng đời sống xúc cảm trong hoạt động thích ứng và trí tuệ

Nhưng phải đến năm 1990, thuật ngữ trí tuệ cảm xúc mới thực sự xuất hiện lần đầu tiên trong một bài báo của 2 tác giả người Mỹ: Peter Salovey và John Mayer đã công bố một bài báo gây ấn tượng: “Trí thông minh cảm xúc”,

Trang 9

một bài tuyên bố có ảnh hưởng mạnh nhất đến lý thuyết trí thông minh cảm xúc tại thời điểm đó Hai ông cho rằng trí tuệ cảm xúc là khả năng làm chủ, điều khiển, kiểm soát tình cảm, cảm xúc của mình và của người khác, và khả năng sử dụng các thông tin này để dẫn dắt, định hướng cách suy nghĩ và hành động của một cá nhân Điều này minh chứng một nhu cầu cần phải tách biệt các năng lực về trí thông minh cảm xúc khỏi các năng lực trí tuệ khác, các nét nhân cách và nghiên cứu sâu về nó

Sau một thời gian nghiên cứu Mayer và Salovery (1997) đã chính thức định nghĩa trí tuệ cảm xúc: “Là khả năng nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hòa xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [1], [2]

Năm 1995, Daniel Goleman, tâm lý gia và nhà báo người Mỹ, với cuốn sách “Thông minh cảm xúc”, không đưa ra lý thuyết mới nhưng nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong việc làm Ông đã không ngần ngại khẳng định vai trò của thông minh cảm xúc như yếu tố cấu thành của thành công trong giao tiếp và thành công trong nghề nghiệp, đường đời Ông dựa trên các công trình của Salovey và Mayer để đưa ra bốn điều chính :

1+2: khả năng hiểu và điều khiển những cảm xúc của mình để hành động

3+4: khả năng hiểu các cảm xúc của người đối diện để phản ứng tốt và điều khiển các quan hệ xã hội [3]

“Quan niệm”, những khẳng định và sự lạc quan của Goleman được báo chí rầm rộ ủng hộ Phải nói là vấn đề này, mở cửa cho một thị trường đầy lợi nhuận: thị trường đào tạo kỹ năng cảm xúc để thành công Những khẳng định của Goleman lại rất là thích hợp với cảm tính và thị hiếu của dân tình

Trang 10

1.2.1 Các công trình nghiên cứu chỉ số cảm xúc ở Việt Nam

Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc ở Việt Nam còn rất mới mẻ, nó chỉ thực

sự được nghiên cứu một cách bài bản, sâu hơn là trong đề tài cấp nhà nước

KX - 05 - 06 (2001- 2005): “Nghiên cứu sự phát triển các chỉ số trí tuệ (IQ,

CQ, EQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước” (2001- 2005) do PGS TS.Trần Kiều làm chủ nhiệm Công trình nghiên cứu này chỉ ra rằng chỉ số cảm xúc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: giới, ngành học, môi trường văn hóa nhà trường

Tiếp đó là những công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dung (2002) đã tiến hành đo đạc chỉ số cảm xúc của giáo viên tiểu học để xem IQ hay EQ đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác chủ nhiệm

Năm 2004, tác giả Dương Thị Hoàng Yến của trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội do PGS Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [4]

Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội do PGS.Trần Trọng Thủy chủ nghiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [13]

1.3 Chỉ số vượt khó

Chỉ số vượt khó (Adversity Quotient - AQ) là chỉ số đo khả năng đối

xử trên quản lý nghịch cảnh, khó khăn, stress, gọi tắt là chỉ số vượt khó Bên cạnh những chỉ số quen thuộc như IQ (Intelligence Quotient - chỉ số thông minh) thể hiện trí thông minh “thô” nhưng nhiều nhà khoa học cho rằng, nó chỉ là yếu tố nhỏ tạo nên thành công [20]

IQ, theo quan niệm phổ thông, thường được mặc định song hành với khả năng tư duy Tuy nhiên, sau này, nhà tâm lí học Howard Gardner đã mở

Trang 11

rộng khái niệm IQ, khi chứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thành công của một người

Năm 1997, nhà tâm lí học người Mỹ Paul Stoltz [21] lần đầu tiên đưa

ra một khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn sách “Adversity Quotient: Turning Obstacler into Opportunities” AQ: Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội) Trong đó, ông định nghĩa AQ là đại lượng đo khả năng đối diện

và xoay sở của một người trước những thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn

Trong cuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient @ work, bàn kĩ hơn về vấn đề tương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng khái niệm AQ để có thể mang lại lợi ích

Tác giả khẳng định, AQ giải thích tại sao một số người không hẳn đã thông minh hoặc được giáo dục tốt, đồng thời thiếu hiểu biết xã hội mà lại thành công trong khi nhiều người khác thất bại

Được viết ra trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm thực tế từ nhiều nghiên cứu với hàng ngàn giám đốc điều hành và nhân viên trong hàng trăm lĩnh vực kinh doanh đa dạng, cuốn sách này đã nhanh chóng trở thành handbook-bí quyết thành công của nhiều tập đoàn, tổ chức Nó cũng được sử dụng trong những bài tập dành cho những vận động viên thể thao Olympic, những trường học, những tập đoàn, doanh nghiệp dùng để đào tạo nhân viên

Paul Stoltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm

lí học đi trước, như Abrecham Maslow, từ Martin Seligman, tác giả của sách

“Học lạc quan”, và Stephen R.Covey, tác giả của “Tồn tại thói quen của người thành đạt”

Nhiều nhà tâm lí đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này Điều này góp phần khẳng định việc lượng hóa những phẩm chất tâm lí bậc cao là một điều có thể làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ)

Trang 12

Paul Stoltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và

dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống Trong khi, những người

có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai

Ông phân tích ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn thử thách trong cuộc đời Đó là: Quitter, Camper và Climber

- Quitter: Là những người dễ buông xuôi Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi một công việc, một dự định và cao hơn là một mục đích sống Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, nhận thất bại hoặc kết quả không như ý

- Camper: Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới một mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thỏa hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ

- Climber: Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất

có thể trong khả năng Họ cũng thường là túyp người không chấp nhận một tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn

Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con người

Theo Paul Stoltz, AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sáng tạo, năng lượng, sức khỏe lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người Nó cũng chính

là một cảnh báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống :

- Đối diện khó khăn

- Xoay chuyển cục diện

- Vượt lên nghịch cảnh

- Tìm được lối ra

Trang 13

Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm « fix »,

có nghĩa là phần nhiều thuộc về thiên phú, khó có khả năng thay đổi Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể rèn luyện để cải thiện và nâng cấp

AQ gồm 4 chỉ số thành phần : C, O, R, E

- Chỉ số C (Control): Kiểm soát, điều khiển Những người có AQ cao

có thể kiểm soát được tốt các tình huống xảy ra hơn là người có AQ thấp Ngay

cả trong tình huống xuất hiện quá khả năng của họ thì những người có AQ cao vẫn có thể tìm thấy giải pháp Những người có AQ thấp thì ít hoặc không kiểm soát tốt Đo chỉ số C để xác định mức độ kiểm soát của một người khi họ vượt qua trở ngại Đó là khả năng phục hồi về thể chất và tinh thần

- Chỉ số O (Ownership): Quyền sở hữu Những người có AQ cao thường có trách nhiệm giữ mình để đối phó với bất kì tình huống nào do họ gây ra Những người có AQ thấp thường cảm thấy cô đơn và cần giúp đỡ Đo chỉ số O để xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lí tình huống, hành động

- Chỉ số R (Reach): Phạm vi hoạt động Những người có AQ cao chấp nhận thất bại và thách thức trong mọi thời điểm, không cho chúng ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của họ Những người có AQ thấp thường bị rơi vào trạng thái thê thảm, bị thất bại Đo chỉ số R để xác định mức độ, phạm vi tiếp cận sự kiện,sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng

- Chỉ số E (Endurance): Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại Những người có AQ cao luôn đối diện với khó khăn với thái độ lạc quan và giữ hi vọng Những người có AQ thấp xem trở ngại như là khó khăn không giải quyết nổi Đo chỉ số E để xác định thời gian chịu đựng các sự kiện, là thước

đo về sự lạc quan, hi vọng

Chỉ số AQ mới được đưa ra cách đây hơn 10 năm nên ở Việt Nam chỉ

số AQ còn ít được nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh có độ tuổi từ 15 đến 17 (từ lớp 10 đến lớp 12) Các đối tượng chúng tôi nghiên cứu có sức khỏe, trạng thái tâm lý bình thường Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước chung của các tài liệu Y tế thế giới và Việt Nam Đó là cách tính tuổi quy về tháng hay năm gần nhất, nghĩa là một độ tuổi nào đó bao gồm những cá thể có số năm trước hoặc sau 6 tháng

Tổng số đối tượng nghiên cứu là 304 học sinh, trong đó có 147 học sinh nam và 157 học sinh nữ

Sự phân bố đối tượng nghiên cứu có thể thấy ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính

Các chỉ số thần kinh cấp cao IQ, EQ, AQ

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

Trung tâm Nhân học và Phát triển trí tuệ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội

Thời gian: tháng 9/2012 đến 5/2013 Trong thời gian này chúng tôi tiến hành nghiên cứu tài liệu, xây dựng đề cương, thực hiện nghiên cứu và thu thập số liệu viết luận văn

Trang 15

2.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số sinh học

2.4.1 Nghiên cứu về chỉ số thông minh (IQ)

2.4.1.1 Yêu cầu của bài trắc nghiệm

IQ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm RCC của Philippe Chartier, xây dựng dựa trên cơ sở năng lực suy luận gần với khái niệm trí thông minh và hệ số G Spearman (1863 - 1945) là người đã đưa ra khái niệm

hệ số G vào năm 1930 (nhân tố tổng quát về trí thông minh) và ông nhận ra rằng những người thành công trong một bài test về trí thông minh thì cũng có

xu hướng thành công trong các bài test trí thông minh khác

Để nghiên cứu IQ, nghiệm viên sử dụng bài test gồm 30 câu trắc nghiệm Chia làm 3 phần, mỗi phần có 10 câu trắc nghiệm: có liên quan đến không gian, con số và số học

Yêu cầu của bài trắc nghiệm RCC 30 là tìm ra các đặc điểm của 1 lá bài hay nhiều lá bài được dấu (úp lại) (ví dụ như giá trị và màu sắc của nó) trong mối quan hệ với các lá bài đang được mở trên cùng một trang giấy, một bài tập Các lá bài được dấu chỉ có giá trị: từ số 1 (quân zách) đến số 10 (quân 10); với 4 chất ứng với: rô, cơ, tép, bích

Thời gian thực hiện tối đa là 20 phút

Bài trắc nghiệm được dùng cho đối tượng từ trẻ 12 tuổi đến người lớn

Kết quả của bài trắc nghiệm: Tính được điểm tổng quát (từ 0 đến 30 điểm), ba điểm chi tiết không gian, con số và số học (mỗi phần sẽ có điểm từ

0 đến 10) Sự phân biệt giữa các học sinh được thể hiện qua điểm tổng cũng như điểm chi tiết do đó ta có thể phân tích từng câu hỏi

Phân tích được sai lầm thực sự: không đúng về giá trị lẫn màu hoặc sai lầm một nửa: chỉ có một biến số (màu hoặc giá trị) đúng đáp án đối với từng loại câu trắc nghiệm

Trang 16

Bài trắc nghiệm đã được kiểm định với các thông số như độ tin cậy, giá trị, sự khác biệt của mẫu đáng tin cậy [8]

2.4.1.2 Nhận định kết quả

+ Kết quả về độ tin cậy của bài trắc nghiệm được đánh giá thông qua hệ

số tương quan cronbach anpha giữa các items trong từng nhóm lập luận của cả bài

+ Các đại lượng đặc trưng cho mức độ phân tán và tập trung của bài trắc nghiệm RCC

+ Phân bố điểm chuẩn của bài trắc nghiệm đối với mẫu

+ Sự khác biệt giữa các đối tượng thực hiện trắc nghiệm (khối lớp, giới tính,…)

+ Xác định lại các điểm chuẩn (normos) Bước này cũng bao hàm những gợi ý, những cảnh báo về việc nên sử dụng trắc nghiệm như thế nào

+ Kiểm tra mức độ hiểu, làm quen với bộ bài, mức độ hấp dẫn người làm trắc nghiệm

Từ các kết quả trên, có thể đánh giá được quy trình triển khai thực hiện trắc nghiệm có đạt chuẩn hay không

Mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm Căn cứ vào điểm test của mỗi nghiệm thể, tính IQ theo nghiệm theo công thức của D.Wechsler [21]:

X: Là điểm trắc nghiệm cá nhân

X : Là điểm trắc nghiệm trung bình trong cùng 1 độ tuổi

Trên cơ sở IQ, có thể phân loại thành 7 mức trí tuệ bảng 2.2

Trang 17

Bảng 2.2 Phân bố mức trí tuệ theo D.Wechsler

2.4.2 Nghiên cứu về chỉ số vượt khó (AQ)

2.4.2.1 Yêu cầu của bài trắc nghiệm

Mỗi bài test AQ gồm 4 nhóm câu hỏi, mỗi nhóm có nội dung thuộc 1 trong 4 chỉ số thành phần gồm: C, O, R, E

- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số C (Control - kiểm tra, điều khiển): Bao gồm các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống, từ đó con người kiểm tra, điều khiển hành vi của bản thân ở các mức độ khác nhau

- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số O (Ownership - quyền sở hữu): Bao gồm các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống,

từ đó con người xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lý tình huống, hành động ở các mức độ khác nhau

- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số R (Reach - phạm vi hoạt động): Bao gồm các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống,

Trang 18

từ đó con người xác định mức độ, phạm vi tiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng ở các mức độ khác nhau

- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số E (Edurance - khả năng chịu đựng tính nhẫn nại): Bao gồm các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống, từ đó con người xác định thời gian chịu đựng các sự kiện xấu, là thước đo về sự lạc quan, hy vọng ở các mức độ khác nhau

2.4.2.2 Nhận định kết quả

Câu hỏi AQ gồm 4 chỉ số C, O, R, E

Viết các số đối tượng nghiên cứu đã khoanh tròn trên Câu hỏi AQ (gồm

20 câu hỏi), tương ứng với các ô bên dưới, tính tổng cho mỗi cột, tính tổng của 4 cột, nhân 2, tìm được chỉ số AQ

Trang 19

2.4.3 Nghiên cứu chỉ số cảm xúc (EQ)

2.4.3.1 Yêu cầu của bài trắc nghiệm

Trắc nghiệm đo lường trí thông minh cảm xúc được sử dụng của Baron (Baron EQ - I,1997), dùng cho người lớn (từ 16 tuổi trở lên) Bài trắc nghiệm này gồm 134 items sử dụng cho cá nhân hoặc nhóm trong thời gian 30 phút Tuy nhiên, tùy theo mục đích khảo sát, đối tượng khảo sát mà số câu hỏi có thể thay đổi

Học sinh sẽ đọc mỗi item trong bài test và điền đáp án đúng nhất vào phiếu trả lời Có câu trả lời nào vừa đúng vừa sai thì học sinh sẽ phải chọn theo những suy nghĩ nào diễn ra trong đầu trước tiên

+ Từ câu 1 đến câu 22 (Năng lực nhận thức cảm xúc của người khác và bày tỏ cảm xúc hợp lý): nếu đạt đủ 22/22 điểm, có khả năng thích ứng trong các mối quan hệ xã hội rất tốt, luôn hài hòa và biết thiết lập, duy trì và phát triển tốt trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt trong hoat động làm việc theo nhóm

+ Từ câu 23 đến câu 30 (Năng lực thấu hiểu cảm xúc bản thân, quản lý cảm xúc và hành động hiệu quả): nếu đạt được 8/8 điểm, nghiệm thể có thể thấu hiểu được cảm xúc của bản thân và đưa ra những quyết định hợp lý, hiệu quả Nghiệm thể có thể biết tự cân bằng cảm xúc của bản thân, tránh được những stress quá tải (hung hăng, nóng nảy,…) hoặc stress thiếu tải (buồn chán, ủ rũ, đau khổ,…) khi gặp phải những tình huống bất thường Đây là bước biến chuyển cảm xúc thành hành động ý chí, trở thành trí tuệ cảm xúc mức độ cao

2.4.3.2 Nhận định kết quả

+ Mỗi câu trả lời đúng được cho 1 điểm

+ Tổng số điểm dành được/tổng số các item sẽ là kết quả để lượng hóa mức độ phát triển chỉ số cảm xúc của người được đánh giá

Trang 20

Đánh giá kết quả: điểm đạt lý tưởng là 30 điểm và thấp nhất là 0 điểm, điểm trung bình là 15

2.5 Phương pháp xử lí số liệu

2.5.1 Xử lí thô

+ Kiểm tra các phiếu trả lời của đối tượng nghiên cứu Những phiếu nào không đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt của test cần được loại bỏ hoặc yêu cầu đối tượng làm lại

+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng

+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu

2.5.2 Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê xác xuất dùng cho sinh học

Số liệu được xử lý trên máy vi tính bằng chương trình Exell để tính các trị số như giá trị trung bình (X), độ lệch chuẩn SD Số liệu được kiểm định bằng hàm “T - test” theo phương trình Student - Fisher với ý nghĩa α = 0,05 Kết quả nghiên cứu được so sánh với số liệu trong cuốn “HSSH” [6]

Các số liệu nhập đầy đủ hết, được máy tính xử lí theo các chỉ số: số lượng, tỉ lệ %, các giá trị trung bình (X ), sai số trung bình (SD) và hệ số tương quan (r) của các dữ liệu đã chọn

Xi : Là giá trị thứ i của đại lượng X

n : Là số cá thể ở mẫu nghiên cứu

*Độ lệch chuẩn:

SD =

n i n

∑ −

n

i X X

n≤30

Trang 21

Xi -X là độ lệch của từng giá trị so với giá trị trung bình

n là số cá thể ở mẫu nghiên cứu

*Hệ số tương quan (r) :

1

1

1

1

2 2 2

1

2 1

i

i i

k

i i

Y y m X

x m

y x m

n n

Y X n

Trong đó : r là hệ số tương quan giữa 2 đại lượng X và Y

Xi là từng giá trị của đại lượng X

Yi là từng giá trị của đại lượng Y

n là số cá thể mẫu nghiên cứu

Sự tương quan giữa hai đại lượng X và Y được kiểm định bằng phương pháp sau

Tính hệ số (t) t =

r

n r

Trong đó r: hệ số tương quan

n: số cá thể ở mẫu nghiên cứu

Tra bảng phân phối student với n - 2 bậc tự do ở mức ý nghĩa α, để tìm tα

Nếu t ≥ tα: các đại lượng X và Y tương quan với mức ý nghĩa α

Nếu t ≤ tα: các đại lượng X và Y không tương quan với mức ý nghĩa α

Hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu khác nhau được so sánh theo các phương pháp Student - Fisher

Trang 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Chỉ số thông minh (IQ) của học sinh 15 - 17 tuổi

3.1.1 IQ của học sinh theo tuổi

Kết quả nghiên cứu IQ của học sinh theo tuổi được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1

Bảng 3.1 IQ của học sinh theo tuổi

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện IQ của học sinh theo tuổi

Kết quả bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, ở giai đoạn 15 - 17 tuổi điểm số

IQ của học sinh tăng dần theo tuổi Cụ thể, ở tuổi 15 điểm số IQ đạt 106,42 điểm tăng tới 107,83 điểm ở tuổi 16 và 109,34 điểm ở tuổi 17 như vậy tăng trung bình 0,76 điểm/năm Dựa vào thang phân bố mức trí tuệ của Wechsler

Trang 23

(bảng 2.2) thì kết quả nghiên cứu điểm số IQ của học sinh 15 - 17 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 107,88 xếp ở mức trung bình (IQ = 90 - 109)

3.1.2 IQ trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu IQ của học sinh theo tuổi và giới tính được thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.2

Bảng 3.2 IQ của học sinh theo tuổi và giới tính

Các số liệu trong bảng 3.2 và hình 3.2 cho thấy, điểm số IQ của học sinh nam và học sinh nữ đều tăng dần theo tuổi Cụ thể, ở học sinh nam điểm

số IQ lúc 15 tuổi là 106,70 điểm và tăng lên 109,69 điểm lúc 17 tuổi Còn ở học sinh nữ điểm số IQ lúc 15 tuổi là 106,17 điểm và tăng lên 109,02 điểm lúc 17 tuổi

Trong cùng một độ tuổi, xu hướng điểm số IQ của học sinh nam đều theo chiều cao hơn học sinh nữ Tuy nhiên mức độ chênh lệch về điểm số IQ của học sinh nam và học sinh nữ không nhiều (hình 3.2) và không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Điều này có thể giải thích rằng ở lứa tuổi THPT trí tuệ của các em vẫn tiếp tục được phát triển và hoàn thiện

Ngày đăng: 14/07/2015, 17:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. IQ của học sinh theo tuổi - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Bảng 3.1. IQ của học sinh theo tuổi (Trang 22)
Bảng 3.2. IQ của học sinh theo tuổi và giới tính - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Bảng 3.2. IQ của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 23)
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn IQ của học sinh theo tuổi và giới tính - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn IQ của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 24)
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ (Trang 25)
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ và - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ và (Trang 26)
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn AQ của học sinh theo tuổi và giới tính - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn AQ của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 29)
Bảng 3.6. Chỉ số thành phần AQ của học sinh theo tuổi - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Bảng 3.6. Chỉ số thành phần AQ của học sinh theo tuổi (Trang 30)
Hình 3.9. Biểu đồ thể hiện chỉ số O của học sinh theo tuổi và giới tính - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.9. Biểu đồ thể hiện chỉ số O của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 33)
Bảng 3.10. Khả năng nhẫn nại, lạc quan của học sinh theo tuổi - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Bảng 3.10. Khả năng nhẫn nại, lạc quan của học sinh theo tuổi (Trang 35)
Bảng 3.11. EQ của học sinh theo tuổi - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Bảng 3.11. EQ của học sinh theo tuổi (Trang 36)
Hình 3.13. Biểu đồ biểu diễn EQ của học sinh theo tuổi và giới tính - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.13. Biểu đồ biểu diễn EQ của học sinh theo tuổi và giới tính (Trang 38)
Hình 3.14. Ma trận đồ thị phân tán các chỉ số sinh học - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.14. Ma trận đồ thị phân tán các chỉ số sinh học (Trang 39)
Hình 3.15. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.15. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ (Trang 40)
Hình 3.16. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và AQ - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.16. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và AQ (Trang 41)
Hình 3.17. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa EQ và AQ - (cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường   vĩnh phúc
Hình 3.17. Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa EQ và AQ (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w