--- TRẦN THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG HÓA CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG CỦA MUỖI AEDES, MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI VỚI CÁC CHỈ SỐ MUỖI VÀ BỌ GẬY AEDES AEGYPTI LINNAEUS Ở
Trang 1-
TRẦN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG HÓA CHẤT DIỆT CÔN
TRÙNG CỦA MUỖI AEDES, MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA MỘT SỐ
YẾU TỐ SINH THÁI VỚI CÁC CHỈ SỐ MUỖI VÀ BỌ GẬY
AEDES AEGYPTI (LINNAEUS) Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2-
TRẦN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG HÓA CHẤT DIỆT CÔN
TRÙNG CỦA MUỖI AEDES, MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA MỘT SỐ
YẾU TỐ SINH THÁI VỚI CÁC CHỈ SỐ MUỖI VÀ BỌ GẬY
AEDES AEGYPTI (LINNAEUS) Ở HÀ NỘI
Trang 3i
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của cá c thầy cô , các anh chị , đồng nghiệp và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu , Khoa Sinh học , Phòng đào tạo sau đại học , Bộ môn Động vật Không xương sống - Đại Học Khoa học tự nhiên ; Khoa Côn trùng - Viện Sốt rét – KST và côn trùng TW; Khoa Sốt rét – Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội đa ̃ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
TS Vũ Đức Chính, Trưởng khoa Côn trùng - Viện Sốt rét – KST và côn
trùng TW; PGS.TS Nguyễn Văn Quảng – Trường Đại học Khoa học tự nhiên,
những người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo điều kiê ̣n thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Các cô , chú, anh, chị trong Khoa Côn trùng - Viện Sốt rét – KST và côn trùng TW; Khoa Sốt rét – Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội; Trung tâm y tế quận/huyện đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện điều tra tại cồng đồng cũng như quá trình thử nghiệm trong phòng thí nghiệm
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các anh chị em trong lớp cao học K21 Sinh học đã động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Trần Thị Hằng
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh SXHD và các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD trên thế giới 3
1.1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 3
1.1.2.Các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD trên thế giới 4
1.1.3 Các nghiên cứu về tình hình sử dụng hóa chất, tính kháng của muỗi với hóa chất diệt côn trùng trên thế giới 11
1.1.4.Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế xã hội đến sự lưu hành SXHD trên thế giới 14
1.2 Bệnh SXHD và các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD tại Việt Nam 15
1.2.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam 15
1.2.2 Các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD tại Việt Nam 17
1.2.3 Các nghiên cứu về tính kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi tại Việt Nam 23
1.2.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế xã hội đến sự lưu hành SXHD tại Việt Nam 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian nghiên cứu 26
2.3 Địa điểm nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1.Phương pháp nghiên cứu khả năng kháng với hóa chất của muỗi Aedes 28
Trang 5iii
2.4.2 Phương pháp phân tích mối tương quan giữa một số yếu tố sinh thái với các chỉ số muỗi và bọ gậy Ae aegypti 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35
3.1 Khả năng kháng với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Aedes tại các điểm
nghiên cứu 35
3.1.1 Khả năng kháng với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti tại các điểm nghiên cứu tại Hà Nội giai đoạn 2011-1014 35 3.1.2.Khả năng kháng với chất diệt côn trùng của muỗi Ae albopictus tại các điểm nghiên cứu tại Hà Nội giai đoạn 2011-2012 45
3.2 Mối tương quan giữa một số yếu tố sinh thái với các chỉ số MĐM và BI
của muỗi Ae aegypti tại Hà Nội 54
3.2.1 Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm theo tháng tại Hà Nội giai đoạn 2012 – 2013 54 3.2.2 Kết quả điều tra các chỉ số muỗi và bọ gậy Ae aegypti tại các xã (phường) trọng điểm SXHD của Hà Nội giai đoạn 2012-2013 56 3.2.3 Mối tương quan giữa các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa với chỉ số MĐM và BI của muỗi Ae aegypti 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6iv
Bảng 2 1 Các loại hoá chất và nồng độ thử nghiệm 29
Bảng 2 2 Giá trị của hệ số tương quan và ý nghĩa 34
Bảng 3 1 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Hà Nội năm 2011 36
Bảng 3 2 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Hà Nội năm 2012 37
Bảng 3 3 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Hà Nội năm 2013 38
Bảng 3 4 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Hà Nội năm 2014 39
Bảng 3 5 Tổng hợp kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Hà Nội giai đoạn 2011-2014 39
Bảng 3 6 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae albopictus ở Hà Nội năm 2011 46
Bảng 3 7 Kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae albopictus ở Hà Nội năm 2012 47
Bảng 3 8 Tổng hợp kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae albopictus ở Hà Nội giai đoạn 2011-2012 48
Bảng 3 9 Nhiệt độ trung bình (0C) theo tháng năm 2012 - 2013 tại Hà Nội 54
Bảng 3 10 Diễn biến lượng mưa (cm) theo tháng năm 2012 - 2013 tại Hà Nội 55
Bảng 3.11 Độ ẩm trung bình (%) theo tháng năm 2012 - 2013 tại Hà Nội 55
Bảng 3 12 Chỉ số MĐM và BI Ae aegypti tại các xã (phường) trọng điểm về SXHD của Hà Nội năm 2012 -2013 56
Bảng 3 13 Tổng hợp kết quả tính toán hệ số tương quan giữa nhiệt độ với các chỉ số MĐM và BI Ae aegypti tại Hà Nội năm 2012-2013 59
Bảng 3 14 Tổng hợp kết quả tính toán hệ số tương quan giữa lượng mưa với các chỉ số MĐM và BI Ae aegypti tại Hà Nội năm 2012-2013 61
Bảng 3 15 Tổng hợp kết quả tính toán hệ số tương quan giữa độ ẩm với các chỉ số MĐM và BI Ae aegypti tại Hà Nội năm 2012-2013 64
Trang 7v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Vòng đời của muỗi Aedes 18 Hình 1 2 Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành 20 Hình 2 1 Địa điểm nghiên cứu muỗi Aedes tại khu vực Hà Nội 27
Hình 3 1 Tổng hợp kết quả thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của
muỗi Ae aegypti ở Hà Nội giai đoạn 2011-2014 40 Hình 3 2 Bản đồ nhạy cảm của muỗi Ae aegypti với Deltamethrin ở Hà Nội
muỗi Ae albopictus ở Hà Nội giai đoạn 2011-2012 48 Hình 3 6 Bản đồ nhạy cảm của Ae albopictus với Deltamethrin ở Hà Nội giai
Hình 3 10 Chỉ số MĐM và BI Ae aegypti tại các xã (phường) trọng điểm về
SXHD của Hà Nội năm 2012 -2013 57
Hình 3 11 Diễn biến nhiệt độ và chỉ số MĐM, BI của muỗi Ae aegypti tại Hà
Nội năm 2012 (a) – 2013 (b) 58
Hình 3.12 Diễn biến lượng mưa và các chỉ số muỗi, bọ gậy Ae aegypti tại Hà
Nội năm 2012 (a) – 2013 (b) 60
Hình 3.13 Diễn biến độ ẩm và chỉ số MĐM, BI của muỗi Ae aegypti tại Hà
Nội năm 2012 (a) - 2013 (b) 63
Trang 91
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính do muỗi vằn truyền Bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiều ở khu vực đô
thị và bán đô thị Muỗi Aedes aegypti là véc tơ chính, Aedes albopictus là véc tơ
phụ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue cho người [4, 38, 56]
Năm 2012 sốt xuất huyết Dengue được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) coi là bệnh nhiễm vi rút quan trọng nhất do muỗi truyền trên thế giới Tỷ lệ mắc SXHD đã tăng 30 lần trong 50 năm qua với sự gia tăng, mở rộng phạm vi lưu hành địa lý tới các quốc gia cũng như mở rộng từ thành thị đến các vùng nông thôn Hiện nay, SXHD là một trong những bệnh truyền nhiễm mới nổi có tốc độ gia tăng nhanh nhất trên thế giới Trên 40% dân số thế giới hiện có nguy cơ mắc sốt xuất huyết, 75% dân số ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương phơi nhiễm với SXHD, ước tính mỗi năm có tới 50-100 triệu người bị mắc mới ở hơn 100 quốc gia, trong đó khoảng 250.000 trường hợp có biểu hiện thể bệnh nặng và khoảng 20.000 trường hợp tử vong Chi phí trung bình cho một ca điều trị SXHD tại bệnh viện từ 514 USD – 1.394 USD Tại Việt Nam SXHD cũng được coi như là một bệnh xã hội, lưu hành địa phương, nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền Trung Hàng năm cả nước có hàng trăm nghìn trường hợp mắc SXHD, và SXHD là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có số mắc và số chết cao nhất trong 26 bệnh truyền nhiễm gây dịch [4, 23, 54, 56]
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh SXHD nhưng vẫn chưa tìm ra được thuốc điều trị đặc hiệu, nghiên cứu để tìm ra vắc xin phòng bệnh còn đang trong giai đoạn thử nghiệm Do đó, biện pháp chủ yếu được khuyến cáo để phòng chống bệnh vẫn là ngăn cản sự tiếp xúc của muỗi với người bằng các biện pháp như: làm giảm nguồn sinh sản của véc tơ bằng cách sử dụng các tác nhân sinh học như cá, mesocyclop ăn bọ gậy; phòng vệ cá nhân tránh muỗi đốt như mặc áo dài tay, dùng lưới mắt nhỏ ngăn muỗi vào nhà Song khi có dịch thì phun không gian hoá chất diệt côn trùng vẫn là biện pháp nhanh và hiệu quả nhất để dập dịch [54] Tuy nhiên,
do việc sử dụng hoá chất diệt côn trùng thiếu sự kiểm soát dẫn đến muỗi truyền
Trang 102
bệnh kháng hoá chất diệt ở mức độ rộng khắp với chiều hướng ngày càng gia tăng Theo WHO (2006), hiện nay có hơn 500 loài chân đốt có vai trò y học đã kháng với hoá chất diệt, trong đó có tới gần 50% số loài là véc tơ truyền bệnh sốt rét, SXHD,
giun chỉ, như muỗi Anopheles gambiae ở châu Phi, Ae aegypti ở châu Mỹ, Thái
Lan, Malaysia Ở Việt Nam từ năm 1975 người ta đã phát hiện kháng hoá chất diệt
của loài muỗi truyền giun chỉ Culex quinquefasciatus, muỗi Ae aegypti và các loài muỗi truyền sốt rét như An epiroticus, An sinensis, An vagus [34, 55]
Những năm gần đây, tại Việt Nam bệnh SXHD vẫn diễn biến phức tạp Hà Nội luôn là trọng điểm SXHD của khu vực miền Bắc, mỗi năm có hàng nghìn đến hàng chục nghìn trường hợp mắc bệnh, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng
và an sinh xã hội của thành phố Vì vậy để phòng chống bệnh SXHD, ngành y tế Hà Nội đã tiến hành nhiều biện pháp, trong đó có các chiến dịch vệ sinh môi trường diệt bọ gậy kết hợp với các chiến dịch phun hóa chất chủ động diệt đàn muỗi trưởng thành tại những khu vực có nguy cơ cao và tại các ổ dịch SXHD Do đó, thông tin
về tính nhạy cảm của 2 loài véc tơ truyền bệnh SXHD là Ae aegypti và Ae
albopictus đối với hóa chất diệt côn trùng; thông tin về những tác động của các yếu
tố sinh thái đến sự phát triển của quần thể muỗi truyền bệnh là rất cần thiết Đó là căn cứ để xây dựng kế hoạch và đánh giá hiệu quả của các hoạt động phòng chống véc tơ, đảm bảo đưa ra chiến lược phòng chống phù hợp với thực tế địa phương [11, 13] Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu khả năng kháng hóa chất diệt côn trùng của muỗi Aedes, mối tương quan giữa một số yếu tố sinh thái với các chỉ số muỗi và bọ gậy Aedes
aegypti Linnaeus ở Hà Nội” với các mục tiêu:
1 Đánh giá độ nhạy cảm và xây dựng bản đồ nhạy cảm của muỗi Aedes với một
số hóa chất diệt côn trùng đã và đang sử dụng trong công tác phòng chống véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội
2 Xác định mối tương quan giữa một số yếu tố sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm,
lượng mưa với các chỉ số muỗi và bọ gậy Ae aegypti Linnaeus, 1762 ở Hà
Nội
Trang 113
1.1 Bệnh SXHD và các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD trên thế giới
1.1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn [5] Bệnh SXHD xuất hiện lần đầu tiên năm
1953 - 1954 ở Phillipin, sau đó lan tới hầu hết các nước Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Bệnh phân bố rất rộng, ở hầu hết các nước có khí hậu nóng ẩm Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia trải qua các vụ dịch SXHD nặng Từ 1975 - 1995, SXHD xảy ra ở 102 nước, trong đó có 20 nước châu Phi, 42 nước châu Mỹ, 7 nước Đông Nam Á, 4 nước phía Đông Địa Trung Hải, 29 nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương Đến nay SXHD đã trở thành dịch bệnh lưu hành địa phương ở hơn
100 quốc gia châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, trong đó Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất [38]
Theo thông báo của WHO, số mắc SXHD trên thế giới có xu hướng ngày càng gia tăng Giai đoạn 1955-1959 số mắc trung bình hàng năm chỉ là 908 trường hợp, cho đến những năm 1980-1989 con số này đã tăng vọt lên 295.591, từ năm 1991 đến năm 1999 số ca được báo cáo là 1.226.390 và trong giai đoạn 2000-2007 là 968.564 ca Khu vực Đông Nam Á có xấp xỉ 2,5 tỷ người trong đó ước tính 1,3 tỷ người (chiếm 52% dân số) sống trong khu vực có nguy cơ nhiễm bệnh SXHD Nhiều vụ dịch SXHD lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương với tỷ lệ tử vong cao và sự có mặt cả 4 típ vi rút Dengue 1, 2, 3, 4 SXHD là nguyên nhân dẫn đến nhập viện và gây tử vong hàng đầu tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương [6, 49]
Cũng theo WHO, năm 2008 tại Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương đã có 1,2 triệu trường hợp mắc và hơn 2,3 triệu trường hợp mắc trong năm
2010 Gần đây, số trường hợp mắc SXHD mới được báo cáo vẫn tiếp tục tăng Chỉ riêng năm 2013 đã có 2,35 triệu trường hợp sốt xuất huyết được báo cáo ở châu Mỹ, trong đó 37.687 trường hợp mắc SXHD nặng [58]
Trang 124
1.1.2.Các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD trên thế giới
Giống Aedes có mặt khắp nơi trên thế giới có khoảng trên 950 loài Véc
tơ chính của SXHD ở khu vực đô thị là muỗi Ae aegypti, trong khi đó Ae
albopictus là véc tơ phụ ở khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương [25, 40]
Muỗi Aedes là côn trùng biến thái hoàn toàn với bốn giai đoạn: trứng, bọ gậy,
quăng và muỗi trưởng thành Bọ gậy qua 4 lần lột xác từ tuổi 1 đến tuổi 4, rồi phát
triển thành quăng, quăng lột xác thành muỗi trưởng thành Bọ gậy ăn các vi sinh vật
và chất hữu cơ trong nước, đôi khi ăn xác của chính đồng loại hoặc các loài muỗi khác Nếu ở nhiệt độ thích hợp, giai đoạn phát triển từ trứng thành muỗi trưởng thành khoảng từ 7 đến 14 ngày [17, 42, 54]
1.1.2.1 Trứng Ae aegypti và Ae albopictus
Trứng có kích thước nhỏ, không có phao, rời từng cái bám trên thành các
DCCN Trứng có vỏ dầy, nhiều túi hơi Ngay sau khi đẻ trứng có màu trắng, chỉ sau
một thời gian ngắn chuyển dần thành màu đen sẫm, nhờ có màu đen sẫm mà trứng muỗi dễ dàng lẫn vào các lớp rêu hay cặn bã hữu cơ bám trên thành các ổ nước Thời gian phát triển của trứng muỗi sau khi đẻ ra thay đổi rất khác nhau tùy theo nhiệt độ của môi trường , nhiệt độ càng cao , thời gian phát triển trứng càng ngắn và ngược lại Ở nhiệt độ 250C, độ ẩm 70%, trứng muỗi Ae aegypti có thể tồn tại đến
233 ngày và có thể sống sót sau 3 - 4 tháng trong điều kiện khô hạn, đến khi gặp nước sẽ nở thành bọ gậy với tỷ lệ từ 7% đến 67% [44]
Thông thường, phôi của trứng muỗi Ae aegypti phát triển hoàn thiện trong
vòng 48 giờ trong điều kiện môi trường ấm và ẩm Khi phôi đã phát triển hoàn thiện thì trứng có thể chịu đựng được khô hạn trong thời gian dài (khoảng hơn 1 năm) Trứng nở khi ngập nước trở lại nhưng không phải tất cả trứng đều nở cùng lúc Khả năng này giúp loài có thể tồn tại qua những điều kiện khắc nghiệt, đặc biệt trong điều kiện khô hạn [38, 54]
1.1.2.2 Bọ gậy và quăng Ae aegypti và Ae albopictus
Cơ thể bọ gậy chia ra làm ba phần gồm đầu, ngực và bụng Bọ gậy lấy ô-xy
từ không khí qua ống thở Đa số bọ gậy muỗi Aedes sống ở nơi nước sạch và không bị
Trang 135
ô nhiễm, trong các DCCN tự nhiên hoặc nhân tạo Tỷ lệ các DCCN có bọ gậy muỗi
Ae aegypti có thể khác nhau tuỳ theo từng địa phương, trình độ vệ sinh, tập quán trữ
nước và sử dụng nước ở vùng đó Tại khu vực Đông Nam Á hầu như Ae aegypti chỉ
đẻ trứng ở những DCCN nhân tạo trong và xung quanh nhà, bao gồm các bể chứa nước sinh hoạt, xô, thùng chậu chứa nước, chậu cảnh, hòn non bộ, máng mái nhà, lốp xe, sinh cảnh tự nhiên thì hiếp gặp, đôi khi có thể là hốc cây, bẹ lá Ở những vùng nóng và khô các bể treo, bể chứa nước ngầm, bể đựng chất thải có thể là sinh cảnh chính Ở những khu vực có nguồn cấp nước thất thường, DCCN dự trữ trong
các hộ gia đình là các ổ bọ gậy phổ biến Đầu tiên Ae albopictus là loài sống trong rừng, ổ bọ gậy của chúng thường là hốc cây, ống tre, kẽ lá Dần dần Ae albopictus
thích nghi với môi trường sống của con người ở vùng nông thôn, bán đô thị và đô
thị Tuy nhiên ở một số thị trấn và thành phố, bọ gậy Ae albopictus còn được tìm
thấy ở các ổ nước không sạch như lưu vực ngầm và cống rãnh thoát nước Bọ gậy
ăn những chất cặn bã hữu cơ hay những sinh vật trong nước [20, 38, 54, 59]
Quăng muỗi Aedes không ăn nhưng hoạt động liên tục và không ngừng hô
hấp Thời gian phát triển của quăng ngắn (trung bình khoảng 2 ngày) và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ [38, 54]
Nói chung, giai đoạn trước trưởng thành của muỗi kéo dài khoảng 10 ngày ở điều kiện tối ưu và có thể ngắn hơn (khoảng 7 ngày) kể cả giai đoạn quăng Khi nhiệt độ thấp giai đoạn này có thể kéo dài vài tuần Giai đoạn này phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn và mật độ bọ gậy trong các DCCN [38, 43, 54]
1.1.2.3 Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành
Muỗi Aedes có kích thước nhỏ, thường có màu nâu đen điểm nhiều vảy
trắng, nhìn mắt thường thấy các vệt trắng, đen xen kẽ Cơ thể muỗi được chia ra làm
ba phần đầu, ngực và bụng Vòi muỗi có các vảy đen trắng Trên pan thường phủ
vảy đen, trắng, một số loài có vảy trắng tập trung tạo thành băng trắng ở đỉnh pan
Trên tấm lưng và tấm bên của ngực có phủ nhiều vảy và lông cứng, các vảy thường
có màu đen, màu nâu hay màu trắng, các vảy trắng tập trung thành điểm trắng, băng
Trang 146
trắng Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus đực thường nhỏ hơn muỗi cái và râu có
chùm lông hình cầu rậm [14, 20, 45]
Muỗi cái Ae aegypti có thể hút máu nhiều động vật khác nhau nhưng ưa hút
máu người nhất và theo mồi rất dai Các yếu tố tạo ra từ vật chủ như nhiệt độ, độ ẩm,
CO2… được xem là chất dẫn dụ muỗi cái đến để hút máu Trong khoảng 48 giờ sau
khi nở, muỗi Aedes cái trưởng thành hút máu lần đầu , giao phối và tiếp tục hút máu trong các chu kỳ sinh thực tiếp theo Ae aegypti là loài ban ngày, có hai thời kỳ hoạt
động hút máu chủ yếu vào sáng sớm và khi bình minh, với đỉnh hoạt động là 2 đến
3 giờ sau bình minh, trước khi trời tối và một đỉnh thứ ba vào gần trưa được quan sát thấy ở một quần thể muỗi ở Trinidad Nếu bữa hút máu bị gián đoạn, chúng có thể hút máu nhiều người cùng lúc [42, 45]
Quá trình sống và phát triển của muỗi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như
nhiệt độ, độ ẩm, gió, mưa, ánh sáng đáng chú ý là nhiệt độ và độ ẩm Muỗi Ae
aegypti chỉ hút máu trong khoảng nhiệt độ từ 160C - 400C, nhiệt độ thích hợp cho hoạt động này là từ 250C - 340C, thích hợp nhất là 280C, ở ngoài giới hạn nhiệt độ
thích hợp, hoạt động đốt máu của muỗi Ae aegypti giảm dần Khi nhiệt độ xấp xỉ
400C thì muỗi hầu như không hút máu và bị chết hàng loạt; khi nhiệt độ dưới 180C, muỗi hầu như ngừng hoạt động và đậu áp sát vào giá thể Thời gian của chu kỳ tiêu
sinh và thời gian phát triển vòng đời của muỗi Ae aegypti ở nhiệt độ 170C - 180C kéo dài gấp 3 lần ở nhiệt độ 280C - 300C (tương ứng là 2,5 - 8 ngày; 11,2 -37,9
ngày) Muỗi Ae aegypti phát triển tốt trong điều kiện độ ẩm cao (85-95%), có thể
sống trong điều kiện độ ẩm thay đổi từ 60 - 95% Ở cùng một nhiệt độ những hoạt
động của muỗi thay đổi theo độ ẩm Hoạt động hút máu của muỗi Ae aegypti diễn
ra tích cực hơn khi có độ ẩm cao Ae albopictus có tính hoang dã nhiều hơn Ae
aegypti, chúng ưa thích hút máu động vật hơn so với Ae aegypti và có xu hướng
nghỉ ngơi và đốt máu bên ngoài nhà [20, 29, 45, 50]
Muỗi Ae aegypti thường trú đậu ở trong nhà, ở những nơi ẩm, tối và kín gió
Sau khi đốt máu, chúng thường đậu nghỉ tiêu máu ở những nơi tối, trên quần áo có hơi người, màu sẫm, đôi khi còn đậu cả ở gầm giường, trên tường, cạnh và sau tủ,
Trang 157
ban ngày muỗi thường thay đổi vị trí đậu nghỉ liên tục Do đó để diệt muỗi Ae
aegypti trong các vụ dịch SXHD thường dùng biện pháp phun xông hơi (Ultra Low
của Ae albopictus xa hơn Ae aegypti, có thể lên tới 500m [54]
Sau thời gian tiêu máu và phát triển trứng, muỗi Ae aegypti lựa chọn nơi
thích hợp để đẻ, trứng nằm riêng rẽ ở thành ẩm, phía trên mực nước của các DCCN Đã
có ghi nhận rằng mỗi cá thể muỗi Ae aegypti đẻ trứng vào nhiều dụng cụ chứa
nước khác nhau trong một lần đẻ Tuy nhiên, bằng chứng gián tiếp thu thập được ở Thái Lan cho thấy tập tính này là không phổ biến Nơi đẻ của muỗi là những ổ nước
có thành cứng, màu xẫm, diện tích bề mặt nhỏ, có mức nước thường xuyên thay đổi
và nước có nhiều chất hữu cơ, tại các DCCN tự nhiên và nhân tạo không bị ô nhiễm
ở ngoài nhà hoặc trong nhà như : chum, vại, bát nước kê chân chạn, bể nước, lọ hoa, chậu cây cảnh, chai, lọ, phuy chứa nước, hốc cây, lốp xe hỏng Muỗi có thể đẻ hàng chục đến hàng trăm trứng mỗi lần đẻ với tốc độ gần 3 trứng mỗi phút, số lượng trứng phụ thuộc vào độ lớn của cơ thể, tuổi sinh lý của con cái, máu vật chủ và số lượng máu hút được Số trứng giảm dần qua mỗi lần đẻ , một đời muỗi cái đẻ 6 - 7 lần, khoảng 760 trứng [42, 54, 59]
1.1.2.4 Phân bố của muỗi Aedes trên thế giới
Ở nửa đầu của thế kỷ 20, người ta đã tìm thấy Ae aegypti ở hầu hết các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới giữa vĩ tuyến 450
Bắc và vĩ tuyến 340 Nam gồm cả châu
Á, châu Mỹ và châu Phi Muỗi Ae aegypti phân bố rộng ở Nam và Trung Mỹ, còn ở
châu Á, trước chiến tranh thế giới thứ hai muỗi có mật độ thấp và phạm vi hoạt động hẹp, nhưng càng về sau này muỗi càng mở rộng vùng phân bố ở nhiều nước thuộc châu Á và Tây Thái Bình Dương Tổ chức Y tế thế giới đã tổng kết các tài liệu và cho
rằng sự phân bố của muỗi Ae aegypti phù hợp với sự phân bố của bệnh SXHD Quá
Trang 168
trình mở rộng vùng phân bố từ đô thị tới các vùng nông thôn chủ yếu nhờ vào các phương tiện giao thông và hệ thống cấp nước [29, 48, 54]
Ngày nay Ae aegypti phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận
nhiệt đới, hiện nay có thể tìm thấy các quần thể muỗi này ở bên ngoài dải xích đạo nằm giữa vĩ tuyến 450 Bắc và 350 Nam Theo dự đoán, khí hậu toàn cầu ấm lên có
thể mở rộng thêm phạm vi phân bố của Ae aegypti cả theo vĩ tuyến lẫn độ cao, mặc
dù bản chất và mức độ của sự biến đổi này cần phải được nghiên cứu thêm Phân bố
địa lý của Ae aegypti có khả năng sẽ tiếp tục lan rộng và sẽ xâm nhập vào các vùng
trước đây chưa hề có loài muỗi này, dẫn tới nguy cơ lan truyền bệnh SXHD trong các quần thể dân cư trước đây chưa từng bị bệnh SXHD Tại các khu vực như Bắc
Mỹ, châu Âu người ta đã tìm thấy sự có mặt của Ae albopictus ở những vùng nhiệt
độ rất thấp và chúng ngày càng thích nghi và sống sót với điều kiện khí hậu lạnh,
thậm chí ở nhiệt độ đóng băng [47, 49, 54]
Tại những vùng bán khô hạn như Ấn Độ, Ae aegypti là véc tơ truyền bệnh ở
khu vực đô thị và các quần thể muỗi biến động rõ rệt theo lượng mưa và thói quen dự trữ nước Tại các nước Đông Nam Á có lượng mưa hàng năm lớn hơn 200 mm, quần
thể Ae aegypti ổn định hơn và có mặt ở các khu vực đô thị, bán đô thị và thậm chí cả
ở nông thôn Ở Indonesia, Myanmar và Thailand, do tập quán dự trữ nước ở khu
vực bán đô thị nên ở đây mật độ muỗi cao hơn ở khu vực đô thị Tình trạng đô thị hoá
nhanh có xu hướng làm gia tăng các sinh cảnh thích hợp cho muỗi Ae aegypti phát triển Ở một số thành phố có hệ thực vật phong phú, cả Ae aegypti và Ae albopictus
cùng có mặt, nhưng nói chung tuỳ thuộc vào sinh cảnh thích hợp cho sự phát triển
của bọ gậy và mức độ đô thị hoá của từng nơi Muỗi Ae aegypti vẫn thường chiếm
ưu thế ở vùng đô thị, tại Singapore chỉ số nhà có Ae aegypti cao nhất ở những khu nhà ổ chuột, các cửa hàng và những khu nhà cao tầng, trong khi đó Ae albopictus
dường như không liên quan đến tình trạng nhà ở và nhưng lại xuất hiện nhiều ở
những nơi thoáng và có nhiều cây cối Muỗi Ae albopictus có sự phong phú hơn về
ổ đẻ so với loài Ae aegypti bao gồm cả vỏ dừa, hốc cây, kẽ đá, ngoài ra còn có các
dụng cụ chứa nhân tạo như lốp xe và chậu cảnh, phế liệu phế thải xung quanh nhà
Trang 179
Sự đa dạng về môi trường sống giải thích sự phong phú của muỗi Ae albopictus ở
nông thôn cũng như các khu vực ven đô thị và các công viên thành phố có nhiều bóng râm [38]
Độ cao là một yếu tố quan trọng làm hạn chế sự phân bố của Ae aegypti Ở
Ấn Độ phạm vi thích hợp cho Ae aegypti sinh sống là nơi có độ cao từ 0 đến 1.000
mét so với mực nước biển Trong khoảng dưới 500 mét, mật độ quần thể muỗi là lớn hoặc vừa, còn ở vùng núi có độ cao trên 500 mét thì mật độ muỗi thấp Ở các nước
Đông Nam Á, độ cao từ 1.000-1.500 mét là những hạn chế sự có mặt của Ae aegypti
Ở một số nơi thuộc Châu Phi và Châu Mỹ còn gặp muỗi Ae aegypti ở một số điểm
dân cư thuộc vùng núi cao trên 1.500 mét Tại một số khu vực khác trên thế giới có
thể tìm thấy Ae aegypti ở độ cao lớn hơn thậm chí tới 2.200 mét như ở Columbia,
ngoại trừ một trường hợp mắc SXHD được phát hiện trong sinh cảnh rừng rậm tại
châu Phi, các nghiên cứu đều cho thấy Ae aegypti sống gần với con người [38]
Ở những khu vực tồn tại cả 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus người ta thấy
có sự cạnh tranh sinh tồn nhất định Sự cạnh tranh sinh tồn này đã được Gilotre và
cộng sự chứng minh trong điều kiện tự nhiên ở Calcuta (Ấn Độ), Ae aegypti đã đẩy lùi Ae albopictus ra khỏi thành phố Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định vùng phân bố cũng như trong công tác phòng chống muỗi Ae aegypti và Ae
albopictus [8, 26]
Nghiên cứu của Laurent Guillaumot và cộng sự năm 2012 cho thấy Ae
albopictus có mặt ở 5 trong 17 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Nam Thái
Bình Dương Việc mở rộng vùng phân bố của Ae albopictus có liên quan đến quá
trình đô thị hóa, phát triển và giao thương hàng hóa qua các phương tiện giao thông
hiện đại như máy bay, tàu thủy Sự có mặt của Ae albopictus tại khu vực đã có mặt của Ae aegypti làm tăng nguy cơ lan truyền các bệnh do arbovirut như SXHD,
Chikugunya ở khu vực Thái Bình Dương càng tạo ra nhiều thách thức cho công tác phòng chống các bệnh lây nhiễm tại khu vực này [43, 48, 54]
Trang 1810
1.1.2.5 Nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes trên thế giới
Muỗi Aedes là vật trung gian truyền nhiều bệnh nguy hiểm cho con người
như SXHD, sốt vàng và nhiều thể viêm não là những bệnh gây tử vong cao, đặc biệt
là ở trẻ em Các nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của Ae albopictus ở khu vực của
châu Phi, châu Mỹ và châu Âu vẫn chưa rõ ràng [20, 25]
- Bệnh sốt vàng là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính, xảy ra trong thời gian ngắn, tỷ lệ
tử vong cao Bệnh thường gặp ở Châu Phi, đã từng xảy ra ở Châu Mỹ Ae aegypti
là véc tơ chính truyền bệnh này Hiện nay đã tìm ra vắc xin để phòng bệnh, nhờ đó
mà tỷ lệ mắc và chết được giảm đáng kể [33, 37, 59]
- Viêm não do vi rút là một tình trạng viêm cấp tính não và tủy sống Có nhiều loại
vi rút khác nhau cùng gây ra những dấu hiệu và triệu chứng nhưng khác nhau về mức độ nặng nhẹ và sự tiến triển của bệnh [33, 37]
- Bệnh sốt xuất huyết Chikugunia: Bệnh có các biểu hiện giống như SXHD, hiện
chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu cũng vẫn là điều trị triệu chứng Bệnh do
muỗi Aedes truyền, gặp chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và Châu Phi Vài thập kỷ
gần đây véc tơ truyền Chikugunia đã lần đầu tiên được phát hiện ở Đông Bắc Italy
và châu Mỹ Tổ chức Y tế thế giới đánh giá Chikugunia đang trở thành mối lo ngại cho sức khỏe cộng đồng [57]
- Bệnh SXHD: hiện vẫn đang đe dọa hàng triệu người ở các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới trên thế giới bởi mức gây tử vong cao, khả năng dễ bùng phát thành dịch, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Theo WHO
(1980), thời gian ủ bệnh ở muỗi Ae aegypti cái trước khi truyền bệnh trung bình là
từ 3 - 10 ngày và phụ thuộc vào nhiệt độ: ở nhiệt độ 300C là 8 - 12 ngày; ở nhiệt độ cao hơn (320
C - 350C) là 4 - 7 ngày, nếu nhiệt độ thấp hơn (270C - 300C) là 9 - 21 ngày Do mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa nên chỉ sau cơn mưa đầu mùa từ
14 - 28 ngày đã có thể xuất hiện những bệnh nhân SXHD đầu tiên Muỗi cái Aedes
sau khi bị nhiễm vi rút có thể truyền bệnh suốt đời [33, 38]
Trước những năm 1950 thì Ae albopictus được coi là véc tơ chính làm lan truyền vi rút Dengue ở Đông Nam Á Muỗi Ae albopictus trước trưởng thành
Trang 1911
thường được tìm thấy ở các DCCN nhân tạo và trong tự nhiên Ae albopictus là loài
muỗi chính gây ra các đợt bùng phát dịch bệnh tại vùng nông thôn và vùng giáp thành thị [26-28]
1.1.3 Các nghiên cứu về tình hình sử dụng hóa chất, tính kháng của muỗi với hóa chất diệt côn trùng trên thế giới
1.1.3.1 Các nghiên cứu về sử dụng hóa chất diệt côn trùng
Các hóa chất diệt côn trùng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiểm soát các bệnh do véc tơ truyền Chúng thường được chia ra hai nhóm chính theo cấu trúc hóa học của chúng là nhóm hữu cơ và nhóm vô cơ Nhóm hữu cơ được chia ra nhóm hữu cơ tổng hợp và nhóm thực vật Hiện nay 4 nhóm hữu cơ tổng hợp là nhóm Chlo hữu cơ, nhóm Phốt pho hữu cơ, nhóm Carbamat và nhóm Pyrethroid được sử dụng nhiều [16, 18, 55]
Nhóm Chlo hữu cơ:
Được phát hiện lần đầu tiên năm 1939, bao gồm DDT, 666, Clordan, Dieldrrin, Endrin Đặc điểm của nhóm Chlo hữu cơ là không tan trong các dung môi và rất bền vững trong môi trường [16]
DDT là một trong những hoá chất diệt côn trùng đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong phòng chống sốt rét vì DDT có hiệu lực diệt muỗi trú đậu trong nhà cao khi phun tồn lưu trên tường vách và có giá thành thấp Thời kỳ đầu DDT được xem
là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc kiểm soát bệnh sốt rét trên toàn cầu Giai đoạn từ năm 1960-1990 DDT là hoá chất chính dùng trong phòng chống muỗi truyền bệnh sốt rét và SXHD Đến nay, hầu hết các nước đã cấm sử dụng DDT do
có độc tính cao với người và các động vật máu nóng, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả diệt muỗi truyền bệnh không còn do muỗi đã kháng với DDT [13, 16, 21]
Nhóm Phốt pho hữu cơ:
Nhóm Phốt pho hữu cơ được các nhà khoa học người Đức phát hiện đầu tiên vào năm 1944, nhóm này gồm nhiều hoá chất như: Parathion, Tabun, Sarin, DDVP, Diazinon, Temephos, Malathionathion, Fenithrothion, Chlorpyrifos… đã được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp bởi vừa diệt được côn trùng gây hại vừa là nguồn
Trang 20muỗi Ae aegypti ở châu Mỹ La Tinh đã dẫn tới hiện tƣợng kháng hoá chất này ở loài muỗi truyền giun chỉ Culex quiquefasciatus nhƣng chƣa thấy kháng ở muỗi Ae
aegypti Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy muỗi Ae aegypti còn nhạy cảm với
Malathion ở nhiều nơi trên thế giới [3, 16, 21]
Nhóm Carbamat:
Các hóa chất thuộc nhóm này đƣợc phát hiện đầu tiên năm 1951, bao gồm các hóa chất nhƣ : Carbamate, Carbaryl, Bendiocarb, có độc tính với động vật thấp hơn, có tác dụng diệt côn trùng ở diện rộng hơn [16]
Nhóm Pyrethroid:
Pyrethroid là dẫn xuất của este cacboxylat có nguồn gốc tự nhiên từ cây hoa
cúc Chrysanthemum cinerariaefolium và Chrysanthemum roseum chứa nhiều hoạt
chất Pyrethrin độc đối với côn trùng Các hoạt chất Pyrethrin có thể đƣợc chiết xuất
từ hoa, lá khô và rễ cây bằng dung môi, chúng có tác dụng gây chết tức thời đối với côn trùng Trong dịch chiết của Pyrethrin có 6 este của hai axit cacboxylic với ba xyclopentenolon với tỷ lệ khác nhau [32, 55]
Pyrethrin có phổ diệt rộng, hiệu lực diệt cao, độc tính thấp với động vật máu nóng, nhƣng dễ bị phân hủy bởi ánh sáng nên chỉ dùng để diệt côn trùng trong nhà Chính nhờ tình chất quý báu đó của Pyrethrin, đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu tổng hợp các đồng đẳng của nó với hiệu lực diệt cao hơn và độ bền quang hóa tốt hơn nhằm đƣa vào sử dụng rộng rãi thay thế cho những hợp chất diệt côn trùng nhóm Chlo hữu cơ, Phốt pho hữu cơ và Cacbamat [16, 31, 32, 48]
Hiện nay, các hoá chất thuộc nhóm Pyrethroid đƣợc sử dụng rộng rãi để kiểm soát muỗi truyền bệnh Ở Thái Lan, từ năm 1992 các hoá chất nhóm Pyrethroid đƣợc dùng nhƣ những loại hoá chất chủ yếu trong lĩnh vực y tế công
Trang 2113
cộng và được sử dụng phun diện rộng trong phòng chống muỗi trong các vụ dịch SXHD [18, 21]
1.1.3.2 Tính kháng của muỗi với hoá chất diệt côn trùng
Theo Tổ chức Y tế thế giới, kháng hóa chất diệt côn trùng là khả năng côn trùng sống sót sau khi tiếp xúc hoặc phơi nhiễm với hóa chất diệt côn trùng ở liều lượng mà trước đó côn trùng chết, những cá thể kháng hóa chất sống sót được tồn tại và phát triển bằng chọn lọc tự nhiên và đột biến Trong những thập kỷ vừa qua việc sử dụng rộng rãi các loại hóa chất diệt côn trùng đã làm gia tăng số lượng loài chân đốt kháng với các hóa chất diệt ở nhiều gen nhất định Có nhiều loài thậm chí kháng với nhiều loại hóa chất diệt cùng lúc Từ con số 2 loài kháng với hóa chất diệt năm 1946 đã tăng lên con số 150 loài vào năm 1980, 198 loài năm 1990 Hiện nay, có hơn 500 loài côn trùng trên thế giới đã kháng với hóa chất diệt, trong đó có
hơn 50 loài muỗi truyền sốt rét Anopheles [40, 53, 55]
Kháng hoá chất diệt côn trùng có thể là một đặc tính được di truyền lại qua gen (nếu do đột biến gen), nó tăng lên ở các quần thể muỗi truyền bệnh như một kết quả trực tiếp của cơ chế chọn lọc phát sinh từ chính hoá chất diệt côn trùng được sử dụng Tính kháng hoá chất diệt côn trùng và kiểu hình di truyền phát sinh ở các cá thể côn trùng là kết quả của đột biến gen, từ đó làm biến đổi một tính trạng sinh lý, hình thái, hoặc tập tính ở kiểu hình muỗi bình thường Kết quả là theo thời gian thì gen kháng hoá chất diệt côn trùng sẽ ngày càng tăng thêm trong quần thể muỗi Biến đổi kiểu hình được tăng cường một cách điển hình qua quá trình giải độc của muỗi đối với hoá chất diệt côn trùng (kháng chuyển hóa), hoặc làm cho hệ thống thần kinh của muỗi giảm nhạy cảm với các hoá chất diệt Các cá thể muỗi kháng hoá chất diệt côn trùng có khả năng sống sót cao hơn các cá thể muỗi nhạy cảm với hoá chất diệt côn trùng khi chúng bị tiếp xúc với hoá chất diệt [24, 31, 32]
Khi một quần thể côn trùng kháng với một loại hoá chất diệt côn trùng thì cũng có thể kháng với một vài loại hoá chất diệt côn trùng tương tự Ví dụ như gián
đã kháng với Propoxur thì cũng kháng với Bendiocarb thuộc cùng nhóm Carbamat
Trang 2214
Ngoài ra còn có hiện tượng kháng chéo với các hoá chất khác nhóm, do có cùng một cơ chế tác động Chủng đã kháng với Phốt pho hữu cơ thì cũng có thể kháng với Carbamat, chủng kháng với DDT thì cũng có thể kháng với Pyrethroid [21, 53]
Những nghiên cứu gần cho thấy, một số loài muỗi Culex, Anopheles và Aedes đã
xuất hiện tính kháng với các hoá chất diệt côn trùng nhóm Pyrethroid ở nhiều nơi trên thế giới và có chiều hướng ngày càng gia tăng Điều này đe doạ đến sự thành công của nhiều chương trình kiểm soát muỗi truyền bệnh dựa vào hoá chất diệt côn trùng [24, 31, 35]
1.1.4.Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế xã hội đến sự lưu hành SXHD trên thế giới
Theo WHO những thay đổi quy mô lớn trong diễn biến thời tiết, khí hậu những năm qua tác động đến sự thay đổi lượng mưa, sự gia tăng nhiệt Đó là điểm thuận lợi cho quá trình truyền bệnh xảy ra, đặc biệt làm tăng sự lan truyền các bệnh
do véc tơ truyền nói chung và sốt xuất huyết nói riêng Sự nóng lên toàn cầu dự đoán sẽ dẫn đến sự tăng nhiệt độ trung bình từ 2 - 4,5°C vào năm 2100, và điều này
có thể có một tác động rõ ràng đến sự gia tăng các bệnh do véc tơ truyền Giới hạn nhiệt độ cho sự phát triển của véc tơ truyền bệnh SXHD là từ 14-18°C đến 35 - 40°C Do đó khi nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 2°C thì thời gian ủ bệnh bên ngoài của
vi rút Dengue sẽ được rút ngắn và muỗi bị nhiễm vi rút nhiều hơn, vòng đời phát triển của muỗi trong môi trường cũng rút ngắn lại Thậm chí một số nghiên cứu gần đây các nhà khoa học còn cho rằng muỗi khi đã nhiễm vi rút còn trở nên "khát máu" hơn Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho muỗi tăng tần suất đốt mồi và lan truyền vi rút trọng cộng đồng [54]
Quá trình đô thị hóa cũng được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng đển sự gia tăng của bệnh SXHD tại các khu vực trên thế giới Theo báo cáo của chính phủ Mỹ, 40% dân số ở các nước đang phát triển sống trong các vùng đô thị và bán đô thị, đến năm 2030 tỷ lệ này sẽ tăng lên khoảng 56% với sự di dân từ nông thôn ra thành thị Điều này sẽ kéo theo các hệ quả tích cực và tiêu cực Khi hạ tầng
cơ sở tại các vùng có người di cư tới không đáp ứng đầy đủ sẽ dẫn tới tình trạng
Trang 2315
thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém, hạ tầng y tế nghèo nàn Tất cả những hệ
quả đó tạo cơ hội cho sự phát triển của Ae aegypti và tăng nguy cơ lan truyền
SXHD trong cộng đồng Ngoài ra, quá trình toàn cầu hóa thông qua sự mở rộng hoạt động thương mại, du lịch, vận tải làm tăng nguy cơ lan truyền các chủng vi rút Dengue khác nhau giữa các vùng thông qua từng cá nhân Do đó góp phần làm tăng nguy cơ lan truyền các chủng vi rút Dengue giữa các vùng địa lý khác nhau [54]
Nghiên cứu Glen Sia Su và cs tại Philippin đã tìm thấy những mối liên hệ nhất định giữa việc tăng lên của các bệnh do véc tơ truyền với những thay đổi về khí hậu và môi trường Mật độ quần thể muỗi tại một số điểm ở Philippin phụ thuộc nhiều vào điều kiện dinh dưỡng của môi trường nước, vị trí địa lý, thảm thực vật và nguồn cung cấp nước sạch Mật độ quần thể cũng thay đổi tùy theo từng khu vực, liên quan đến các điều kiện sinh học và lý hóa của môi trường [50, 51]
Ở khu vực Đông Nam Á hầu hết nền kinh tế đang phát triển của các nước vấp phải nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và môi trường, những yếu tố tạo thuận lợi cho sự sinh sản của muỗi truyền SXHD Sự thiếu nguồn cung cấp nước sạch, quản lý chất thải rắn, hệ thống thoát nước thải, thoát nước mưa, thói quen tích trữ nước, tập quán sinh hoạt tác động không nhỏ với việc tạo ra các ổ chứa nước làm nơi sinh sản cho muỗi truyền bệnh Những số liệu và thông tin về địa lý, khí hậu địa phương, việc sử dụng đất, mức độ bao phủ rừng, nước bề mặt và dân số được thu thập sẽ đóng góp hữu ích trong việc xây dựng kế hoạch phòng chống SXHD cho mỗi hệ sinh thái và môi trường sống cụ thể Qua đó góp phần đánh giá những ảnh hưởng có lợi và có hại của các chiến lược phòng chống khác nhau (sử dụng hóa chất, môi trường, sinh học) [22, 38]
1.2 Bệnh SXHD và các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
Tại Việt Nam SXHD được coi là bệnh dịch lưu hành địa phương, bệnh xuất hiện cả ở các đô thị và vùng nông thôn, nơi có muỗi truyền bệnh Bệnh SXHD phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới, bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11,
Trang 24là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng châu thổ sông Hồng Ngoài ra, một số huyện, thị xã của các tỉnh duyên hải miền Trung có thể xem như vùng bị xâm nhập, mức độ nặng hay nhẹ tùy thuộc vào mức độ thuận tiện giao thông và sự giao lưu giữa các vùng Ban đầu dịch SXHD tập chung chủ yếu ở các thành phố đông dân cư như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh nhưng gần đây dịch có xu hướng phát triển mạnh ở các thị trấn, thị xã và ở một số vùng nông thôn, lan rộng đến vùng cao nguyên Trung Bộ, nơi đô thị hoá đang phát triển với điều kiện cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường kém [6, 30]
Trước năm 1990, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ rệt, với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục hàng năm với cường độ và qui mô ngày một gia tăng Năm 1997, SXHD xảy ra ở 50/61 tỉnh thành với số mắc 107.188 và 266 ca tử vong Vụ dịch năm 1998 có 234.920 trường hợp mắc, 377 trường hợp tử vong, dịch xảy ra ở các tỉnh miền Nam và tập trung chủ yếu ở đồng bằng Cửu Long, số ca mắc ở miền Nam chiếm 50,8% và số ca tử vong chiếm 80,9% Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 trường hợp và số tử vong là 66 trường hợp Năm 2006 cả nước đã ghi nhận 77.818 trường hợp mắc SXHD, trong đó 68 ca tử vong, đặc biệt năm 2007 cả nước đã ghi nhận 104.464 trường hợp mắc SXHD, trong đó 88 ca tử vong Năm 2010 dịch SXHD xảy ra trên diện rộng, cả nước ghi nhận 128.831 ca mắc và 109 trường hợp tử vong, dịch bùng phát ở nhiều vùng Số ca mắc tập trung chủ yếu ở miền Nam 58%, miền Trung 28%, Tây Nguyên 10%, miền Bắc 4%, riêng khu vực miền Trung số ca mắc m ới tăng 3,1 lần so với năm 2009 Năm 2012, số người mắc bệnh sốt xuất huyết ở khu vực phía Nam là 67.158 người, trong đó có 61 người chết, tình
Trang 25tỷ lệ 77,2% Đây là năm có số mắc cao nhất trong vòng 20 năm từ 1991-2011 Số ca mắc SXHD được ghi nhận rải rác trong năm và đạt đỉnh vào tháng 9 đến tháng 11 hàng năm Theo báo cáo tổng kết hoạt động chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXHD thành phố Hà Nội, tính đến hết năm 2013, các ca mắc SXHD ở khu vực miền Bắc tập trung chủ yếu tại Hà Nội (3.138 ca ; 72%) Số ca mắc SXHD tập trung chủ yếu ở người lớn hơn 15 tuổi (3.859 ca; 89%) Số ca mắc SXHD tăng gấp 2 lần năm
2012 (1.368 ca), các ca mắc SXHD phân bố ở 26 quận, huyện, tập trung chủ yếu ở các quận nội thành như Đống Đa (635 ca; 20%); Hà Đông (525 ca; 17%); Hai Bà Trưng (420 ca; 13%) [12, 15]
1.2.2 Các nghiên cứu về muỗi truyền SXHD tại Việt Nam
Ở Việt Nam Aedes aegypti Linnaeus, 1762 và Aedes albopictus Skuse, 1894
là 2 trong số 27 loài phổ biến Ở miền Bắc, kết quả nghiên cứu của Vũ Đức Hương,
1984 đã phát hiện thấy 40 loài muỗi thuộc giống Aedes Nghiên cứu năm 2001 của Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh cũng đã xác định được 47 loài Aedes ở nước ta
Nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương (2011) cho thấy tại 8 quận nội
thành Hà Nội có 2 loài là Ae aegypti và Ae albopictus [17, 19, 29]
Sự phát triển của muỗi Aedes phụ thuộc nhiều vào các điều kiện nhiệt độ, độ
ẩm, thức ăn Ở nhiệt độ 28-300C chu kỳ phát triển của Ae aegypti vào khoảng 11,2 ngày, của Ae albopictus vào khoảng 12,2 ngày Thời gian phát triển càng nhanh khi
nhiệt độ, độ ẩm cao [20]
Trang 2618
Hình 1 1 Vòng đời của muỗi Aedes
Nguồn: Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương [42]
Trứng muỗi Ae aegypti và Ae albopictus:
Ở 280C thời gian phát triển trung bình của trứng Ae aegypti khoảng 2 ngày,
ở 70C thì quá trình phát triển phôi bị kìm hãm Ở nhiệt độ 250C phôi Ae aegypti phát
triển nhanh gấp 2 lần ở 200C Ở cùng một nhiệt độ, phôi Ae aegypti phát triển nhanh hơn phôi Ae.albopictus Đặc điểm đặc trưng của trứng muỗi Aedes là phải trải qua
thời kì phát triển ngoài môi trường nước Chỉ những trứng ở ngoài môi trường nước
từ 10 phút trở lên mới có khả năng nở, tỷ lệ nở cũng tăng theo thời gian trứng ở
ngoài môi trường nước Thông thường, trứng muỗi Ae aegypti nở vào ngày thứ 2
hoặc thứ 3 sau khi muỗi đẻ nhưng có thể nở muộn hơn (từ 44 đến 45 ngày sau khi đẻ) tùy thuộc vào một số yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố khác trong môi trường nước [20, 42]
Bọ gậy và quăng Ae aegypti, Ae albopictus:
Các nghiên cứu của Vũ Đức Hương và Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương cho thấy
bọ gậy muỗi Aedes sống ở nơi nước sạch và không bị ô nhiễm, trong các dụng cụ chứa
Trang 2719
nước tự nhiên hoặc nhân tạo, bao gồm các bể chứa nước sinh hoạt, xô, thùng chậu chứa nước, chậu cảnh, hòn non bộ, lốp xe, hốc cây, Nhiệt độ thích hợp cho bọ gậy
muỗi Ae aegypti phát triển là 250C – 340C Nghiên cứu ổ bọ gậy nguồn muỗi Aedes
tại Hà Nội của Trần Vũ Phong và Vũ Sinh Nam giai đoạn 1994-1997 cho thấy sự tồn
tại của hai loài Ae aegypti và Ae albopictus, trong đó ổ bọ gậy Ae aegypti chiếm ưu
thế (87,2%), thường tập trung ở các DCCN lớn như bể xây, phi, chum, vại sành Gần đây nhiều nghiên cứu khác của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho thấy rằng ở Hà
Nội quần thể muỗi Ae albopictus có sự xâm lấn quần thể Ae aegypti Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Cảm năm 2001 tại quận Đống Đa cũng cho thấy tỷ lệ ổ bọ gậy Ae
aegypti và Ae albopictus là 50/50 Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm các dụng cụ có bọ gậy
muỗi Ae aegypti có khác nhau tuỳ theo từng địa phương, trình độ vệ sinh, thói quen
trữ tích nước và sử dụng nước ở từng khu vực [20, 29, 42]
Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành:
Nghiên cứu của Vũ Đức Hương (1984) và Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
cho thấy muỗi Aedes hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mạnh nhất vào thời điểm 6-8
giờ sáng và từ 4-6 giờ chiều Muỗi thường trú đậu trên các giá thể làm từ đồ vải
(71%), đồ gỗ và xung quanh ổ bọ gậy (7%) Muỗi Aedes hút máu cả người và động vật, trong đó loài ưa thích hút máu người chỉ có Ae aegypti, loài này trú đậu chủ
yếu ở trong nhà (97,5%), 70% số muỗi thu thập được trong nhà trú đậu tại những vị trí tối, ẩm; số còn lại tập trung nhiều ở gần vị trí ổ bọ gậy Tuổi thọ trung bình của
muỗi Aedes phụ thuộc nhiều vào loại thức ăn Trong điều kiện không có thức ăn tuổi thọ trung bình của Ae aegypti là 4 ngày, khi muỗi hút đường glucoza 10% là
34 ngày, khi vừa hút đường và máu là 34,2 ngày Khi thức ăn đầy đủ số lượng trứng
đẻ trung bình khoảng 79 trứng một lần (nhiều nhất 163, ít nhất 16 trứng), trong suốt vòng đời muỗi cái có thể đẻ 7 - 8 lần với khoảng 750 trứng Tỷ lệ trứng có thể phát triển tới giai đoạn muỗi trưởng thành khoảng 60% Nghiên cứu của tác giả Đặng Tuấn Đạt và cs tại tỉnh Đắc Lắc cho thấy thời gian phát triển từ trứng thành muỗi
Ae aegypti trưởng thành mất trung bình 17,1 ngày, và tuổi thọ trung bình của muỗi
khi được hút máu đầy đủ là 34,5 ngày Muỗi có thể đẻ trứng vào các DCCN như bể
Trang 2820
xây, phi và các phế liệu Muỗi phát triển quanh năm, mạnh nhất vào mùa mưa, cao nhất các tháng 6,7,8 [10, 29, 42]
Hình 1 2 Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng thành
Nguồn: Nguyễn Thị Duyên, Hồ Viết Hiếu [14]
Tại Hà Nội nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thực hiện tại
phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai cho thấy có sự tồn tại cả hai loài Ae aegypti
và Ae albopictus Muỗi Ae albopictus có khả năng phát tán xa hơn so với Ae
aegypti Phát tán trung bình của muỗi cái trưởng thành Ae aegypti và Ae albopictus
tương ứng là 35,3m và 50,6m từ điểm phóng thả trong vòng 7 ngày sau khi thả Khả
năng phát tán tối đa của muỗi cái trưởng thành Ae aegypti và Ae albopictus tương
ứng là 100m và 180m [42]
Phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam:
Tại Việt Nam muỗi Aedes phân bố rộng ở hầu khắp cả nước Ae aegypti
phân bố ở 3 sinh cảnh: thành phố - thị xã, đồng bằng ven biển- thị trấn, làng bản gần đường giao thông Đặc điểm chung của 3 sinh cảnh này là dân cư đông, người dân có tập quán trữ nước trong các DCCN và các phương tiện giao thông thường xuyên qua
lại Ở miền Bắc, cho đến trước năm 1984 mới chỉ tìm thấy muỗi Ae aegypti trong
một số sinh địa cảnh thuộc vùng trung du và đồng bằng có độ cao dưới 100m, đó là các thành phố, thị xã và các điểm dân cư đông đúc thuộc vùng đồng bằng ven biển hoặc trên các đầu mối giao thông thuỷ bộ như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Việt Trì, Hoà Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hòn Gai, Hải Dương, Hưng Yên,
Thái Bình, Phủ Lý và Thanh Hoá Mật độ muỗi Ae aegypti ở nội thành, nội thị,
Trang 2921
vùng đồng bằng ven biển và bao giờ cũng cao hơn ở ngoại thành và ngoại thị Vùng nông thôn chỉ gặp muỗi ở các khu vực đầu mối giao thông thuỷ bộ [22, 24, 42]
Năm 1984, tác giả Vũ Đức Hương chưa tìm thấy muỗi Ae aegypti ở một số
điểm ở cách nội thành Hà Nội và trục đường giao thông trên 3 km (như xã Trung Văn và xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm), trong khi đó lại thấy muỗi xuất hiện ở một số đảo, nơi có tầu thuyền thường xuyên ra vào như đảo Tuần Châu (Hòn Gai, Quảng Ninh), Quan Lạn (Cẩm phả, Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) Qua nghiên cứu tại miền Bắc trong vụ dịch SXHD năm 1987, tác giả Vũ Sinh Nam và các cộng sự thấy
rằng Ae aegypti có mặt ở 97,06% ổ dịch điều tra và chiếm 54,64% so với tổng số
loài, chỉ số MĐM trung bình là 1,7 con/nhà, chỉ số BI là 58,34 Số ổ dịch có cả
muỗi Ae albopictus và Ae aegypti chiếm tỷ lệ thấp (1,47%) Một số tỉnh ở vùng núi phía Bắc không thấy có sự hiện diện của muỗi Ae aegypti Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu từ năm 1985 - 1991 tại 155 điểm điều tra thuộc 17 tỉnh, thành phố miền Bắc, một
số tác giả khác cũng đã thấy rằng muỗi Ae aegypti phân bố rất rộng rãi, từ thành thị
đến nông thôn, từ đồng bằng, trung du đến một số điểm miền núi như: Bảo Thắng (Lào cai), Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn với tỷ lệ 91,6% tổng số điểm điều tra
có mặt muỗi Ae aegypti, 100% các thị trấn, thị xã vùng trung du, 94,1% các thành
phố, thị xã, thị trấn vùng đồng bằng và chỉ có 54,6% các thị xã, thị trấn có sự hiện
diện của muỗi Ae aegypti [20, 22, 25]
Từ đèo Hải Vân trở vào có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát tán để mở
rộng vùng phân bố và sự phát triển để tăng số lượng muỗi Ae aegypti hơn ở miền
Bắc, ở đây không có mùa đông, việc cung cấp nước, nhất là vùng cao và vùng ven biển không đủ dẫn đến người dân sử dụng số DCCN nhiều hơn Qua điều tra từ Quảng Nam, Khánh Hoà, Tây Nguyên đến Long An của Vũ Đức Hương (1992 -
1995) thấy xuất hiện muỗi Ae aegypti ở 16/18 điểm điều tra (trừ xã Khánh Nam,
huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà và xã Tabhinh, Giàng, Quảng Nam - Đà Nẵng) Một số khu vực như thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) cũng tìm thấy sự có mặt
của cả Ae Aegypti và Ae albopictus với chỉ số mật độ cao Ở khu vực Nam Bộ,
càng đi sâu về phía nam và gần biển, thói quen tích trữ nước sinh hoạt trong các
Trang 3022
DCCN xung quanh nhà là một trong những nguyên nhân làm cho mật độ muỗi tăng lên Tại hầu hết các thành phố, thị xã và thị trấn đông dân ở khu vực Tây Nguyên
đều tìm thấy sự có mặt của Ae aegypti [7, 8, 21, 22]
Nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương phối hợp cùng với trường đại học Nagasaki (Nhật Bản) điều tra trên các lốp xe đã qua sử dụng dọc theo tuyến
quốc lộ 1A từ Bắc vào Nam cho thấy bọ gậy Ae albopictus có mặt ở suốt dọc theo
chiều dài tuyến Tần xuất bắt gặp cao hơn hẳn ở tuyến đường thuộc khu vực Bắc miền Trung trở ra Bắc và khu vực Tây Nguyên Trong khi đó, ở khu vực Nam
Trung Bộ trở vào nam tần suất bắt gặp bọ gậy của Ae aegypti lại nhiều hơn [48] Tại Hà Nội đã ghi nhận cả hai loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus ở một
số khu vực sinh thái khác nhau Khu vực nội thành và vùng đệm có mặt cả 2 loài
muỗi Ae aegypti và Ae albopictus, trong khi đó tại khu vực ngoại thành chỉ phát hiện muỗi Ae albopictus Chỉ số mật độ muỗi Ae aegypti ghi nhận tại vùng đệm (0,09 con/nhà) và tại khu vực nội thành (0,03 con/nhà) Chỉ số mật độ muỗi Ae
albopictus cao nhất tại khu vực nội thành (0,33 con/ nhà), thấp hơn tại vùng đệm
(0,18 con/nhà) và khu vực ngoại thành (0,15 con/nhà) [12, 26]
Nghiên cứu về vai trò truyền bệnh SXHD của muỗi Aedes tại Việt Nam:
Vào những năm 1950, dịch SXHD ở Việt Nam tăng lên cùng với tình trạng phát triển đô thị Người ta cho rằng, dịch SXHD này là hậu quả của việc một véc tơ
ưa thích hút máu người, tức là Ae aegypti từ bên ngoài xâm nhập vào Sự thay đổi
môi trường và biến động dân số sau những năm kháng chiến chống Mỹ đã tạo thuận lợi cho loài muỗi mới vốn ưa thích sống gần con người và sinh sản trong các DCCN
do con người tạo ra như Ae aegypti dần dần thay thế Ae albopictus ở các vùng thành
thị Từ những năm 1973, kết quả nghiên cứu phân lập vi rút Dengue từ muỗi ngoài
tự nhiên và gây nhiễm thực nghiệm đã chứng minh vai trò truyền bệnh của Ae
aegypti và khẳng định vai trò truyền bệnh chính của loài này ở vùng đồng bằng và
trung du miền Bắc Việt Nam Tại nhiều khu vực có bệnh nhân SXHD người ta chỉ
tìm thấy sự có mặt của Ae albopictus nhưng ngày nay Ae aegypti vẫn được coi là
véc tơ chính truyền vi rút Dengue ở Việt Nam, chúng có mặt ở hầu hết các nơi
Trang 3123
thuộc khu vực thành thị và ngoại ô Mặc dù mật độ Ae albopictus tăng lên ở miền Bắc với một số vùng Ae albopictus có mặt ở 100% DCCN, nhưng Ae aegypti vẫn
là véc tơ chiếm ưu thế hơn [20, 26-28]
1.2.3 Các nghiên cứu về tính kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi tại Việt Nam
Ở Việt Nam từ năm 1960-1990 DDT được sự dụng rộng rãi trong các hoạt động phòng chống sốt rét và SXHD Đến những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX, các hoá chất nhóm Pyrethroid như Permethrin, Lambdacyhalothrin, Deltamethrin, Alphacypermethrin, được sử dụng để thay thế DDT trong phòng chống sốt rét và dập dịch SXHD Pyrethroid được sử dụng với những nồng độ khác nhau để tẩm vào màn ngủ, phun tồn lưu hoặc phun ULV [18, 21]
Các nghiên cứu về tính kháng và cơ chế kháng hóa chất diệt côn trùng của muỗi được nghiên cứu từ khá lâu Nghiên cứu của Trịnh Đình Đạt và cs (1992) cho thấy tính kháng Malathion ở quần thế kháng và nhạy hoá chất diệt có liên quan tới
hoạt tính của enzym esterase ở muỗi C quinquefasciatus Nghiên cứu của Vũ Đức Hương (2004) tại Hà Nội cho thấy Ae aegypti tăng sức chịu đựng với hóa chất này tại Hoàn Kiếm Nghiên cứu của Phạm Thị Khoa cũng cho thấy muỗi Ae aegypti
kháng với Pyrethroid liên quan đến hệ 12 enzyme esteraza Nghiên cứu của Nguyễn
Nhật Cảm (2006-2009) cho thấy muỗi Ae aegypti kháng hoặc có tăng sức chịu
đựng với DDT và các hóa chất nhóm Pyrethroid ở tất cả các điểm nghiên cứu trên phạm vi cả nước; mức độ nhạy cảm với Malathion ở khu vực miền Bắc cao hơn các
khu vực còn lại và giảm dần từ Bắc vào Nam Hai chủng muỗi Ae aegypti có mang đột biến gen kdr Val1016Gly; 3 gen P450 liên quan đến cơ chế kháng chuyển hóa
cũng được biểu hiện cao ở chủng kháng với Pyrethroid Nghiên cứu của Vũ Đức
Chính (2011) cho thấy tính kháng của muỗi An minimus, An epiroticus, và An
sinensis có liên quan đến enzyme esterase, tính kháng của An vagus và An supictus
có liên quan đến cả enzyme esterase và GST [64] Enzym acetylcholinesterase là vị trí tác động của Carbamat và Phốt pho hữu cơ, những biến đổi trên protein này làm hoá chất diệt không liên kết được với vị trí đích của chúng Do đó các hiện tượng
Trang 3224
kháng chéo của các loài côn trùng với Carbamat và Phốt pho hữu cơ cũng được tìm thấy [6, 9, 31, 46, 52]
Những nghiên cứu gần cho thấy một số loài muỗi Culex, Anopheles và Aedes
đã xuất hiện tính kháng với các hoá chất diệt nhóm Pyrethroid ở nhiều nơi trong cả nước và ngày càng gia tăng [24, 31, 35]
1.2.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế xã hội đến sự lưu hành SXHD tại Việt Nam
Một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới véc tơ và bệnh SXHD là sự gia tăng nhiệt độ Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm giao động từ 180C đến 290C Nhiệt độ trung bình hàng năm giai đoạn 1990 và 2000 tăng 0,10C Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình tháng của mùa hè tăng từ 0,10C đến 0,30C trong vòng một thập kỷ Theo dự báo so với năm 1990 thì nhiệt độ sẽ tăng thêm 1,40C đến 1,50C vào năm 2050 và 2,50C đến 2,80C vào năm 2100 Nhiệt độ gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các tác nhân gây bệnh và véc
tơ truyền bệnh, nhịp độ biến động số lượng thay đổi, mức độ gây hại thường gia tăng làm cho việc phòng chống khó khăn hơn Do đó vùng phân bố của véc tơ cũng được mở rộng, điều này dẫn tới sự lan truyền SXHD có thể xảy ra ở những vùng mà trước đây bệnh ít khi hoặc không lưu hành Như việc phát hiện ra một số các vụ dịch SXHD ở miền Bắc và tại một số ổ dịch tại Hà Nội cũng chỉ thu thập được muỗi
và bọ gậy Ae albopictus [36]
Theo tác giả Nguyễn Văn Thắng, trong những năm gần đây, tại nhiều nơi ở Việt Nam, lượng mưa hàng tháng giảm đi trong tháng 7 và tháng 8, nhưng lại tăng lên từ tháng 9 đến tháng 11 So với năm 1990, tổng lượng mưa hàng tháng vào năm
2050 dự báo tăng 2,5% đến 4,8% và tăng khoảng 4,7% đến 8,8% vào năm 2100 Lượng mưa tăng nhiều nhất ở khu vực miền Bắc và ít nhất ở khu vực đồng bằng Nam Bộ Lượng mưa tập trung vào mùa mưa và dẫn đến hạn hán trong mùa khô
[36] Lượng mưa tác động đến sự hình thành các ổ đẻ của muỗi Với muỗi Ae
aegypti và Ae albopictus, khi lượng mưa cao sẽ hình thành lên nhiều ổ nước, là nơi
các loài muỗi này đẻ trứng và là nơi sinh sống của ấu trùng dẫn tới quần thể muỗi
Trang 3325
được mở rộng và tăng cao về mật độ Hai loài muỗi này có đỉnh phát triển cao vào các tháng mùa mưa và giảm mật độ vào mùa khô
Ở Việt Nam các chỉ số muỗi và bọ gậy Ae aegypti còn rất cao, tập trung chủ
yếu ở vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt thuộc khu vực Nam Bộ Nguyên nhân được xem là do thiếu nước sạch, số lượng dụng cụ chứa nước nhiều, trung bình từ 3,5 - 6,5 dụng cụ/nhà [22, 38] Một trong những nguyên nhân sâu xa hơn được nhắc đến là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Theo UNEP (1993) mực nước biển ở Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1990 tăng khoảng 5 cm, và theo Tổng cục Khí tượng-Thủy văn thì mực nước biển mỗi năm dâng lên khoảng 2 mm Dự báo thì mực nước biển ở nước ta sẽ dâng cao hơn 33 cm vào năm 2050 và có thể lên tới 1 m vào năm 2100 Vùng chịu hậu quả nặng nề nhất của nước biển dâng là vùng đồng bằng sông Cửu Long Nếu nước biển dâng như dự báo thì vào năm 2030 có khoảng 45% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ nhiễm mặn Nước biển dâng dẫn đến
sự xâm thực của nước biển vào những vùng trước đó là nước ngọt, hậu quả là diện tích bề mặt của các thủy vực nước lợ ngày càng tăng lên, người dân sẽ sử dụng các
dụng cụ để trữ nước, đây là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của loài muỗi Ae
aegypti và Ae albopictus - hai véc tơ quan trọng truyền bệnh SXHD Khi mật độ
véc tơ truyền bệnh tăng lên sẽ dẫn tới mức độ tiếp xúc giữa người với véc tơ tăng,
do đó nguy cơ lan truyền bệnh SXHD trong cộng đồng cũng tăng theo [7, 50]
Như vậy, về cơ bản sự tăng nhiệt độ và sự thay đổi lượng mưa theo chiều hướng ngày càng gia tăng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của các véc tơ SXHD Do đó nguy cơ lan truyền SXHD cũng sẽ gia tăng nếu không
có biện pháp ứng phó và phòng chống thích hợp [7]
Trang 3426
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hai loài muỗi thuộc giống Aedes: Aedes aegypti (Linnaeus), 1762 và Aedes
albopictus (Skuse), 1889 được xếp trong hệ thống phân loại:
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ năm tháng 6/2011 đến tháng 9/2014, trong đó:
- Tháng 6/2011-tháng 12/2012 thực hiện nghiên cứu độ nhạy cảm với hóa
chất của muỗi Ae albopictus
- Tháng 6/2011-tháng 9/2014 thực hiện nghiên cứu cứu độ nhạy cảm với hóa
chất của Ae aegypti
- Tháng 1/2012-tháng 12/2013 thực hiện nghiên cứu mối tương quan giữa một số nhân tố thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa với các chỉ số mật độ muỗi
và chỉ số BI của muỗi Ae aegypti
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Các điểm nghiên cứu được chọn là các xã (phường) trọng điểm về SXHD của thành phố Hà Nội Đây là các xã (phường) có tỷ lệ bệnh nhân mắc SXHD hàng năm cao, tập trung tại các quận nội thành gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng, Hà Đông, và các huyện ngoại thành gồm Từ Liêm (cũ), Thanh Trì và Thường Tín Chi tiết các xã (phường) được trình bày trong hình 2.1 và phụ lục 2
Trang 3527
Chú thích:
Hình 2 1 Địa điểm nghiên cứu muỗi Aedes tại khu vực Hà Nội
Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố sinh thái với các chỉ số MĐM, BI Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố sinh thái với các chỉ số MĐM, BI; đồng thời nghiên cứu tính nhạy cảm của muỗi với hóa chất diệt côn trùng Nghiên cứu tính nhạy cảm của muỗi với hóa chất diệt côn trùng
Trang 3628
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp nghiên cứu khả năng kháng với hóa chất của muỗi Aedes
2.4.1.1 Phương pháp thu mẫu
Thực hiện theo hướng dẫn của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và côn trùng Trung ương [41]:
- Điều tra tất cả các dụng cụ chứa nước trong và ngoài nhà của các hộ gia
đình để xác định dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes Thu thập bọ gậy bằng vợt
hoặc pipet Bọ gậy của mỗi điểm nghiên cứu được để riêng trong từng lọ để vận chuyển Trên đó có ghi nhãn gồm: thông tin về địa điểm và thời gian thu thập mẫu trước khi vận chuyển về phòng thí nghiệm để tiến hành nhân nuôi
2.4.1.2 Nhân nuôi bọ gậy trong phòng thí nghiệm
Thực hiện theo hướng dẫn của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và côn trùng Trung ương [41]:
- Chuyển bọ gậy vào các khay để sẵn trong buồng nuôi Dán nhãn có thông tin
về địa điểm, ngày tháng và thế hệ thu thập (F0) lên từng lồng
- Cho bọ gậy ăn thức ăn do Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và côn trùng Trung
ương sản xuất
- Bọ gậy nuôi trong phòng nuôi côn trùng với điều kiện nhiệt độ 250C -280C,
độ ẩm 80% ± 10, thời gian chiếu sáng 8/24 giờ
- Hàng ngày nhặt quăng cho vào lồng nuôi riêng, khi quăng lột xác thành
muỗi thì tiến hành định loại để xác định muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
- Cho muỗi đã định loại vào lồng riêng, cho hút dung dịch glucoza 10% Muỗi 2-3 ngày tuổi cho hút máu chuột nhắt trắng, sau khi hút máu 2-3 ngày cho
muỗi đẻ
- Lót bên trong cốc thủy tinh 1 lớp giấy thấm có ghi rõ thời gian để thu trứng,
đổ nước ngập nửa giấy Trứng được thu hàng ngày sau đó để khô rồi bảo quản trong
lọ thủy tinh có nắp đậy kín
- Sau khi thu đủ số trứng thì thực hiện cho trứng nở để thu thể hệ F1
Trang 3729
Khi trứng nở, chăm sóc bọ gậy cho đến khi thành quăng và muỗi trưởng thành Muỗi nở hàng ngày được đưa vào các lồng riêng biệt có dãn nhãn ghi rõ ngày tháng muỗi
nở để thực hiện thử nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng
- Muỗi cái 2-5 ngày tuổi dùng để thử độ nhạy cảm theo phương pháp giấy tẩm hoá chất của WHO
2.4.1.3 Phương pháp thử nghiệm sinh học
Thực hiện theo hướng dẫn của WHO/CDS/CPC/MAL/98.12 [53]
a Giấy thử
Giấy thử nghiệm được tẩm hóa chất, giấy đối chứng được tẩm dung môi pha hóa chất đó do WHO cung cấp:
Bảng 2 1 Các loại hoá chất và nồng độ thử nghiệm
b Dụng cụ thử nghiệm (do WHO cung cấp)
- 14 ống nhựa có chiều dài 12,5 cm, đường kính 4,4 cm Trong đó 5 ống có chấm đỏ dùng để cho muỗi tiếp xúc với hóa chất, 9 ống có chấm xanh dùng cho muỗi nghỉ và đối chứng; Nắp của đầu ống được bịt chặt bằng vải màn để muỗi không thoát ra ngoài
- 7 nắp kéo có khoan lỗ để chuyển muỗi từ ống nhựa này sang ống nhựa khác
- 7 tờ giấy sạch để dùng cho ống nghỉ, 2 tờ giấy đối chứng và 5 tờ giấy tẩm hóa chất cần thử với nồng độ khuyến cáo của WHO (giấy tẩm do hóa chất và giấy chứng WHO cung cấp)
- 28 vòng kim loại để giữ giấy sát vào thành ống nhựa
- 2 ống hút (có thể thay bằng ống tuýp 2 đầu)
- Nhiệt kế, ẩm kế, đồng hồ hẹn giờ
Trang 3830
- Biểu mẫu ghi chép số liệu
c) Điều kiện thử nghiệm
- Phòng thử nghiệm bảo đảm không có tồn dư hóa chất diệt côn trùng
- Nhiệt độ phòng từ 250 C ± 2, độ ẩm từ 80% ± 10%
- Dụng cụ thử nghiệm phải sạch, khô
- Muỗi thử nghiệm: Muỗi cái Aedes F1 thu từ bọ gậy bắt tại thực địa Muỗi từ
2-5 ngày tuổi, chưa hút máu, đã hút nước đường glucoza 10% Muỗi thử nghiệm phải khỏe mạnh, cơ thể nguyên vẹn
- Số muỗi thử nghiệm: Mỗi loại hóa chất cần 140 muỗi cái, trong đó 100 muỗi tiếp xúc với hóa chất, 40 muỗi cho tiếp xúc với giấy đối chứng
d) Quy trình thử nghiệm (WHO/CDC/CPC/MAL/98.12)
Bước 1: Chuẩn bị các ống nghỉ: đặt một tờ giấy trắng sạch cuộn thành hình trụ lồng vào bên trong mỗi ống nghỉ Dùng vòng kim loại trắng giữ chặt tờ giấy cho sát vào thành ống Lắp tấm đế vào ống
Bước 2: Sử dụng ống tuýp 2 đầu bắt muỗi từ trong các lồng muỗi, chọn những con muỗi khỏe mạnh đạt tiêu chuẩn cho vào mỗi ống nghỉ 20 con
Bước 3: Chuẩn bị ống đối chứng và ống thử nghiệm: Dùng tờ giấy đối chứng cuộn thành hình trụ lồng vào mỗi ống trứng và chèn vòng kim loại giữ giấy sát vào thành ống Làm tương tự với giấy tẩm hóa chất
Bước 4: Chuyển muỗi vào các ống đối chứng và ống thử nghiệm: lắp ống nghỉ vào các ống đối chứng và ống thử nghiệm Chuyển tấm đế vào giữa lỗ thông giữa 2 ống thông nhau Thổi nhẹ muỗi từ ống nghỉ sang ống đối chứng trước và ống thử nghiệm sau Đóng tấm đế lại và tháo ống nghỉ ra
Bước 5: Để các ống tiếp xúc dựng đứng, phía có lưới hướng lên trên trong thời gian muỗi tiếp xúc hóa chất là 60 phút, theo dõi và đếm số muỗi quỵ trong thời gian tiếp xúc (5,10,15,20,30,40,50,60 phút)
Bước 6: Hết thời gian tiếp xúc, chuyển muỗi sang ống nghỉ bằng các bước tiến hành ngược lại ở bước 4 Đặt miếng bông tẩm nước đường glucoza 10% lên phía trên mặt lưới của ống nghỉ
Trang 39e) Đánh giá kết quả thử nghiệm
- Tỷ lệ muỗi chết ở lô đối chứng lớn hơn 20% thì kết quả thử nghiệm bị huỷ, và làm lại thử nghiệm
- Nếu tỷ lệ muỗi chết của lô đối chứng < 5%: giữ nguyên tỷ lệ chết của lô tiếp xúc với hóa chất
- Nếu tỷ lệ muỗi chết của lô đối chứng trong khoảng 5% - 20% thì tỷ lệ muỗi chết trong lô thử nghiệm sẽ đƣợc điều chỉnh bằng công thức Abbott:
- Tỷ lệ muỗi chết từ 98%-100%: Muỗi còn nhạy cảm với hóa chất thử
- Tỷ lệ muỗi chết từ 80% - 97%: Muỗi tăng sức chịu đựng với hóa chất tại nồng độ thử
- Tỷ lệ muỗi chết < 80%: Muỗi kháng với hóa chất tại nồng độ thử
2.4.1.4 Phương pháp vẽ bản đồ kháng hóa chất của muỗi Aedes
- Số liệu về độ nhạy cảm của muỗi Aedes đƣợc nhập vào phần mềm Excell
Trang 4032
- Trong nghiên cứu này chúng tôi xem xét mối tương quan giữa các nhân tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa với chỉ số mật độ muỗi (MĐM) và chỉ số Breteau (BI)
của muỗi Ae aegypti ở 20 xã (phường) trọng điểm về SXHD tại Hà Nội
2.4.2.1 Dư ̃ liê ̣u nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa
Dữ liệu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa hàng tháng được thu thập từ Trung tâm nghiên cứu Khí hậu-Khí tượng, Đài khí tượng Láng Những dữ liệu này được đối
chiếu với các chỉ số mật độ muỗi (MĐM) và chỉ số BI của Ae aegypti để đánh giá
mối tương quan
2.4.2.2 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ điều tra thu thập muỗi và bọ gậy:
Dụng cụ, vật liệu làm tiêu bản bọ gậy:
- Kim thủy tinh
2.4.2.3 Xác định các chỉ số mật độ muỗi và chỉ số BI
Tiến hành điều tra cắt ngang mỗi tháng 1 lần vào tuần thứ hai và thứ ba hàng tháng Các chỉ số muỗi và bọ gậy được xác định theo "Hướng dẫn giám sát và