1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ

81 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ Sản phẩm thuộc hợp đồng số: 180112/FIRM-CBCC ky ́ ngày 18/01/2012 Tên và mã số dự án: Dự án “Tăng c

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA THÀNH PHỐ

CẦN THƠ

(Sản phẩm thuộc hợp đồng số: 180112/FIRM-CBCC ky ́ ngày 18/01/2012)

Tên và mã số dự án: Dự án “Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với biến

đổi khí hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ TĐ và KS phát thải khí nhà kính” (thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường) - 00060851

Tên gói thầu: Tư vấn xác định các phương án thích ứng và phòng ngừa tác

động của Biến đổi khí hậu cho tỉnh Cần Thơ

Nhà thầu: Trung tâm Môi trường Đô thị và Công nghiệp

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐẾN NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN DO BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU THÀNH PHỐ CẦN THƠ

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Thị Hường

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA

HỆ SINH THÁI LÚA NƯỚC DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Thị Hường

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA

HỆ SINH THÁI LÚA NƯỚC DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở CẦN THƠ

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Hà Nội, 2014

Trang 3

Lời cảm ơn

Trước tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới thầy hướng dẫn là PGS TS Dương Hồng Sơn, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã giúp đỡ tác giả có được những ý tưởng ban đầu về đề tài cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Khóa luận Thầy đã luôn ủng hộ, động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành luận án

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi trường, các thầy cô trong bộ môn Quản lý Môi trường đã cung cấp các kiến thức khoa học về môi trường và kiến thức các ngành khoa học khác, những kiến thức đó

sẽ tạo tiền đề cho tác giả trong quá trình học tập và công tác sau này

Để hoàn thành khoá luận này tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đồng nghiệp, sự động viên và tạo mọi điều kiện của gia đình, bạn bè

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ

Lê Thị Hường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TP CẦN THƠ 4

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4

1.1.1 Các khái niệm chung 4

1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước 6

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 8

1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 8

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 11

1.2.3 Các công trình nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu 19

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở TP Cần Thơ 21

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 21

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 32

2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu 32

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu dựa trên khung tiếp cận chung của IPCC 32

2.2.3 Phương pháp kế thừa 33

2.2.4 Phương pháp GIS 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở TP Cần Thơ 35

3.1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ 35

3.1.2 Kịch bản biến đổi khí hậu đối với lượng mưa 36

3.1.3 Kịch bản nước biển dâng 37

3.2 Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở TP Cần Thơ 39

3.2.1 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 39

Trang 5

3.2.2 Lựa chọn bộ chỉ thị 44 3.2.3 Các bước tính toán 47

3.3 Đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái lúa nước ở TP Cần Thơ 60KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Các tác động chính của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước 7

Bảng 2 Một số chỉ tiêu về hiện trạng dân số ở TP Cần Thơ 25

Bảng 3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 26

Bảng 4 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2010 27

Bảng 5 Đóng góp vào GDP của các ngành 28

Bảng 6 Mức tăng nhiệt độ (0C ) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 35

Bảng 7 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 36

Bảng 8 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình B2 (cm) 37

Bảng 9 Diện tích ngập trong thời kỳ tương lai theo kịch bản biến đổi khí hậu tương ứng với các mức ngập khác nhau ở TP Cần Thơ (km2 ) 37

Bảng 10 Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ phơi lộ (E) 44

Bảng 11 Số liệu đầu vào của chỉ số tính nhạy cảm (S) 45

Bảng 12 Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) 47

Bảng 13 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số E trong điều kiện hiện tại 49

Bảng 14 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số S trong điều kiện hiện tại 50

Bảng 15 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số AC trong điều kiện hiện tại 51

Bảng 16 Các giá trị chỉ thị trong điều kiện hiện tại 52

Bảng 17 Các giá trị E, S, AC và VI trong điều kiện hiện tại 53

Bảng 18 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số E - kịch bản 2020 55

Bảng 19 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số S - kịch bản 2020 56

Trang 7

Bảng 20 Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của chỉ số AC

- kịch bản 2020 57

Bảng 21 Các giá trị chỉ thị - kịch bản 2020 58

Bảng 22 Các giá trị E, S, AC và VI - kịch bản 2020 58

Bảng 23 Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ phơi lộ (E) trong điều kiện hiện tại 67

Bảng 24 Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ nhạy cảm (S) trong điều kiện hiện tại 68 Bảng 25 Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) trong điều kiện hiện tại 69

Bảng 26 Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ phơi lộ (E) – kịch bản 2020 70

Bảng 27 Số liệu đầu vào của chỉ số mức độ nhạy cảm (S) – kịch bản 2020 71

Bảng 28 Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) – kịch bản 2020 72

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Bản đồ hành chínhTP Cần Thơ 22

Hình 2 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất TP Cần Thơ năm 2010 34

Hình 3 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất TP Cần Thơ đến năm 2020 34

Hình 4 Mức tăng nhiệt độ vào năm 2020 so với thời kỳ 1980 – 1999 kịch bản B2 cho TP Cần Thơ 35

Hình 5 Mức tăng lượng mưa (%) vào năm 2020 so với thời kỳ 1980-1999 ở TP Cần Thơ 36

Hình 6 Bản đồ ngập lụt TP Cần Thơ - kịch bản nền 38

Hình 7 Bản đồ ngập lụt TP Cần Thơ ứng với mực nước biển dâng 9cm 39

Hình 8 Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương 41

Hình 9 Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ ngập lụt ở TP Cần Thơ 54

Hình 10 Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ ngập lụt ở TP Cần Thơ 59

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia

IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

SOPAC Uỷ ban Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái Bình

Dương

UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc

Trang 10

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết

BĐKH mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 BĐKH tác động lên các lĩnh vực: tài nguyên, môi trường, KT-XH, sức khỏe cộng đồng, hạ tầng cơ sở, quy hoạch đô thị, nông nghiệp, thủy sản, đa dạng sinh học,…trên phạm

vi toàn cầu, đe dọa sự tồn tại của Trái đất, của nhân loại và “đòi hỏi thế giới phải hành động ngay, nhanh chóng hơn bao giờ hết, khi chưa quá muộn” (UNDP, 2007)

Trong vòng hai thập kỷ gần đây, số lượng thiên tai trên trái đất đã tăng lên gấp 4 lần, từ mức trung bình 120 thiên tai mỗi năm vào đầu những năm 1980 lên gần 500 thiên tai mỗi năm như hiện nay (theo báo cáo của OXFAM có tiêu đề “Báo động Khí hậu”) Số lượng người dân trên thế giới bị ảnh hưởng trực tiếp từ thiên tai cũng tăng từ 174 triệu người mỗi năm trong giai đoạn 1985 đến 1994 lên 254 triệu người mỗi năm trong giai đoạn 1995 đến 2004 Số lượng các trận lũ lụt trung bình một năm hiện nay đã tăng cao gấp 6 lần so với năm 1980 Các thiên tai cứ xảy ra liên tiếp, cho dù là những thiên tai nhỏ, cũng có thể đẩy người dân nghèo và cộng đồng của họ rơi vào vòng xoáy mà rất khó có thể gượng lại được Các nước giàu lại làm tình hình tồi tệ thêm khi mà thường chỉ ưu tiên hỗ trợ cho các trường hợp khẩn cấp do các thiên tai lớn gây ra, hoặc chỉ hỗ trợ cho các quốc gia được coi là đồng quan điểm chính trị với họ

Việt Nam là một trong số những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của những thiên tai liên quan đến khí hậu thời tiết Tháng 8 năm 2007, Việt Nam phải chịu một trận bão lớn kèm theo lũ lụt tàn phá nặng nề các tỉnh miền Trung và sau đó đến tháng 10, cơn bão số 5 (có tên quốc tế là Lekima) đã gây ra sạt lở đất và lũ lụt quy

mô lớn chưa từng có trong vòng 20 năm qua

Theo “Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012, khu vực bờ biển của ĐBSCL, ứng với kịch bản phát thải cao, đến năm 2050 mực nước biển có thể dâng lên từ 26cm đến 32cm và cuối thế kỷ có thể tăng lên 79cm đến 105cm Cũng theo kịch bản này, nhiệt độ trung

Trang 11

bình đến cuối thế kỷ sẽ tăng khoảng 1,5-2,5°C so với giá trị trung bình thời kỳ 1980 -1999, lượng mưa tăng vào khoảng 5%-7% Số liệu thực tế cho thấy tại TP Cần Thơ trong hơn 30 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5°C, mực nước cao nhất đã dâng khoảng gần 50cm BĐKH thực sự đã làm cho bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt

Theo Quyết định số 21/2007/QĐ-TTg ngày 08/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Cần Thơ thời kỳ

2006 – 2020 với mục tiêu trở thành thành phố công nghiệp, hiện đại, đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; phát triển ngành sản xuất và dịch vụ Tuy nhiên khi xây dựng quy hoạch chưa xét đến điều kiện BĐKH, có thể làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong giai đoạn này cũng như đời sống kinh tế của người dân và một số lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp – hệ sinh thái lúa nước Trước tình hình trên, TP Cần Thơ bị sức ép nặng nề trong việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nếu không có một chiến lược hiệu quả về thích ứng với BĐKH Để làm được điều đó, việc xác định những nhóm đối tượng, lĩnh vực/khu vực nào dễ bị tổn thương với BĐKH và đánh giá tính dễ bị tổn thương

là một nhiệm vụ rất quan trọng, giúp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách

đề xuất được những giải pháp và chiến lược hợp lý trong bối cảnh BĐKH ngày càng gia tăng

Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu

- Xây dựng bộ chỉ số tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do BĐKH cho TP Cần Thơ

- Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH đến hệ sinh thái lúa nước

ở TP Cần Thơ và xác định được quận/huyện nào là tổn thương lớn nhất

- Đề xuất các biện pháp ứng phó với BĐKH đối với hệ sinh thái lúa nước

Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

TP Cần Thơ nằm ở trung tâm ĐBSCL, khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của ngập lụt do nước biển dâng kết hợp với lũ hàng năm nên ảnh hưởng của hiện tượng này đối với ĐBSCL nói chung và các khu vực dễ bị tổn thương nói riêng trong thế

kỷ 21 cần phải được xem xét một cách chi tiết Trong Luận văn, TP Cần Thơ được lựa chọn để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do BĐKH

Nội dung nghiên cứu và Cấu trúc luận văn

Nội dung của nghiên cứu bao gồm:

- Tổng hợp các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các quy hoạch ở TP Cần Thơ;

- Xác định phương pháp luận về đánh giá tính dễ bị tổn thương đến hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu;

- Xây dựng bộ chỉ số tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do BĐKH cho TP Cần Thơ

- Thực hiện đánh giá và xây dựng bản đồ chỉ số dễ bị tổn thương đến hệ sinh thái lúa nước trong điều kiện biến đổi khí hậu;

- Đề xuất các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái lúa nước Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Chương 1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

ở TP Cần Thơ

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CẦN THƠ

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

1.1.1 Các khái niệm chung

Luận văn sẽ sử dụng các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu (bao gồm cả biến động khí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng khí hậu cực đoan) đã được đưa ra trong nghiên cứu của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007), Chương trình Giảm nhẹ thiên tai của Liên Hiệp quốc (UNISDR, 2009)

Biến đổi khí hậu (Climate change): là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí

hậu, có thể nhận biết được qua sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do những biến đổi nhân tạo lâu dài trong thành phần khí quyển (IPCC, 2007)

Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): là mức độ mà 1 hệ thống dễ bị ảnh

hưởng và không có khả năng chống chịu với những tác động tiêu cực của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và những hiện tượng thời tiết cực đoan Tính dễ bị tổn thương là hàm tổng hợp của các tham số đặc tính, cường độ, tốc độ biến đổi và phụ thuộc vào mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC, 2007) Tính dễ bị tổn thương tăng lên khi cường độ BĐKH và tính nhạy cảm tăng, giảm xuống khi khả năng thích ứng tăng lên

Tiếp xúc/lộ diện/phơi lộ (Exposure): Bản chất và mức độ mà một hệ thống

được tiếp xúc với sự thay đổi khí hậu đáng kể (IPCC, 2007)

Tính nhạy cảm (Sensitivity): là mức độ mà một hệ thống có thể bị tác động tiêu

cực hay tích cực từ sự BĐKH Sự biến đổi này bao gồm biến đổi về khí hậu trung bình và tần suất cũng như hiện tượng thời tiết cực đoan Tác động này có thể là trực

Trang 14

tiếp (ví dụ như sự thay đổi mùa màng do thay đổi nhiệt độ) hoặc gián tiếp (ví dụ thiệt hại gây ra bởi gia tăng tần suất ngập ven biển do nước biển dâng) Mức độ nhạy cảm bao gồm sự phơi lộ có xem xét đặc trưng và cường độ của BĐKH và khả năng hệ thống sẽ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi này Ví dụ, hệ thống trồng trọt rất nhạy cảm trong khi các cơ sở chế biến lại kém nhạy cảm hơn với BĐKH mặc dù chúng có thể bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan, suy giảm cấp nước

và cấp điện gián đoạn (IPCC, 2007)

Khả năng thích ứng (Adaptive capacity): là khả năng của một hệ thống tự

nhiên hay xã hội điều chỉnh trước BĐKH (bao gồm cả thay đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan) để làm giảm nhẹ thiệt hại tiềm tàng, tận dụng cơ hội mà BĐKH đem lại, hoặc để ứng phó với những hậu quả (IPCC, 2007)

Khả năng giảm nhẹ (Mitigation capacity): bao gồm các hành động nhằm giảm

phát thải khí nhà kính, trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng cách tránh hoặc bẫy các khí nhà kính trước khi chúng được thải ra khí quyển hoặc cô lập các khí tự nhiên trong khí quyển bằng cách tăng các bể chứa khí nhà kính tự nhiên như rừng Những hành động này có thể đòi hỏi sự thay đổi trong cách ứng xử hoặc phát triển và phổ biến công nghệ Khả năng này có liên quan đến kỹ năng, năng lực, tính phù hợp và sự thành công mà một quốc gia đã đạt được và phụ thuộc vào công nghệ, thể chế, sự thịnh vượng, công bằng, cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin Khả năng giảm nhẹ được xây dựng trên nền tảng đường lối phát triển của một quốc gia (IPCC, 2007)

Khả năng phục hồi (Resilience): là khả năng của một hệ thống tự nhiên hay

nhân tạo chống đỡ lại, hấp thụ và phục hồi từ những ảnh hưởng của các mối hiểm hoạ theo thời gian và xử lý hiện quả, bảo tồn và giữ gìn các cấu trúc, chức năng hay định dạng cơ bản của nó (UNISDR, 2009)

Hiện tượng thời tiết cực đoan (Extreme weather event): Một hiện tượng thời

tiết cực đoan là một hiện hiếm có tại một nơi, một thời tiết cụ thể của năm Có nhiều cách định nghĩa hiện tượng hiếm có, nhưng một hiện tượng thời tiết cực đoan thường sẽ là hiếm có hay ít có hơn 10% hay 90% của hàm mật độ xác xuất quan trắc được Theo định nghĩa, các đặc trưng được gọi là thời tiết cực đoan có thể thay

Trang 15

đổi từ nơi này đến nơi khác Các hiện tượng cực đoan riêng lẻ không thể quy nguyên nhân một cách đơn giản và trực tiếp là vì biến đổi khí hậu do con người gây

ra, do luôn có một khả năng hữu hạn các sự kiện trong câu hỏi có thể xay ra rất tự nhiên Khi một kiểu thời tiết cực đoan kéo dài một thời gian, chẳng hạn như một mùa, nó có thể được phân loại như một hiện tượng khí hậu cực đoan, đặc biệt là nếu

nó tạo ra một mức cực đoan cho giá trị trung bình hay giá trị tổng của chính nó (ví

dụ như: hạn hán, mưa lớn trên một mùa) (IPCC, 2007)

1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước

TP Cần Thơ là một phần của vùng đồng bằng rộng lớn hệ thống sông Cửu Long Lượng nước chảy vào ĐBSCL bắt nguồn chủ yếu từ ngoài lãnh thổ Việt Nam, vì vậy, ĐBSCL có một chế độ thủy văn phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài Hàng năm chịu mùa lũ với ngập lụt trên diện rộng Trong bối cảnh BĐKH và nước biển đang dâng lên thì nguy cơ gia tăng ngập lụt ở ĐBSCL được đánh giá là vấn đề đáng kể nhất

Tổ chức Nông Lương Thế giới FAO đã chỉ ra rằng nông nghiệp, mà cụ thể là trồng lúa nước là ngành nhạy cảm với BĐKH và BĐKH có tác động nghiêm trọng đối với các hoạt động sản xuất Khi sinh kế của một hộ gia đình phụ thuộc vào các nguồn thu nhập vốn đã ít ỏi và không có sự đa dạng hóa, và khi những nguồn thu nhập này lại là đối tượng phụ thuộc lớn vào khí hậu thì các hộ gia đình có thể được coi như những đối tượng phụ thuộc vào độ nhạy cảm của khí hậu (Adger 1999)

Ngành trồng lúa nước truyền thống là phương thức sinh kế chủ yếu của người dân ở TP Cần Thơ Các vụ ngắn như rau và hoa quả hàng năm được thay thế các vụ lúa Đặc trưng của ngành này là nông dân trồng lúa vào đầu mùa lũ và thu hoạch khi mực lũ tiến sát đỉnh đê, các cánh đồng ngập lụt sau đó sẽ được tận dụng

để nuôi tôm, cá trong mùa đỉnh lũ

BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, làm tăng nguy

cơ lây lan dịch bệnh BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động

và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn

Trang 16

hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sản lượng của lúa qua

đó BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích lúa nước Điều này cho thấy tại TP Cần Thơ, hộ gia đình nông dân được công nhận là đơn vị kinh tế cơ bản mà ngành nông nghiệp xây dựng ở cấp xã, huyện và tỉnh là trung tâm để tìm hiểu về những tác động hiện tại và tương lai của BĐKH Trong bối cảnh này, một hộ gia đình nông nghiệp

và hệ thống sinh kế được coi là dễ bị tổn thương nếu có xác suất mất mát, thiệt hại

từ BĐKH và có một xác suất cao là nó không phục hồi một cách nhanh chóng hoặc hoàn toàn Mức độ dễ bị tổn thương của hộ gia đình được xác định bằng cách đánh giá các nguồn lực, mức độ và tính đa dạng của nguồn thu nhập cũng như các tài sản sản xuất và cơ sở hạ tầng

Bảng 1 Các tác động chính của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái lúa nước Các yếu tố khí hậu Đối tượng bị tác động Tác động, rủi ro

Nhiệt độ gia tăng Năng suất lúa

Làm giảm năng suất lúa do dịch bệnh có điều kiện phát triển, nhu cầu nước tưới tăng trong khi nguồn nước hạn chế

Số ngày nắng thay

Lượng mưa gia tăng

Năng suất lúa

Gây thiệt hại và giảm năng suất lúa do mưa lớn thất thường xảy ra vào thời điểm thu hoạch, hay do ngập úng Năng suất bị suy giảm do đất

Trang 17

Các yếu tố khí hậu Đối tượng bị tác động Tác động, rủi ro

và nước bị nhiễm mặn Làm gia tăng dịch bệnh, sâu hại ảnh hưởng đến năng suất lúa

Các hiện tượng khí

hậu cực đoan khác

như bão, áp thấp

nhiệt đới,

Năng suất lúa

Gây thiệt hại nặng nề đối với

hệ sinh thái lúa nước do đất trồng lúa ngập, cây lúa bị đổ,

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, tiếp cận nghiên cứu tính dễ bị tổn thương bắt đầu từ cuối những năm 90, với những nghiên cứu tính dễ bị tổn thương của hệ thống tự nhiên – xã hội

do các tai biến tự nhiên (Mai Trọng Nhuận, 2000-2005), biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng (Tom, G và cộng sự, 1994-1996), môi trường thay đổi (Adger, 1999) Sau đó, cách tiếp cận theo hướng tổng hợp gồm cả tổn thương về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, con người và môi trường do các tai biến có nguồn gốc

từ cả tự nhiên và hoạt động của con người Cho đến nay, nghiên cứu tính dễ bị tổn thương được chú trọng vào nhiệm vụ tăng năng lực của cộng đồng, tăng khả năng phục hồi/chống chịu của các hệ sinh thái qua các đánh giá hiện trạng, dự báo tổn thương của các nhóm cộng đồng, tài nguyên – môi trường, các ngành kinh tế (Mai Trọng Nhuận và cộng sự, 2006-2010; Lê Thị Thu Hiền, 2006; Nguyễn Thị Hồng Huế, 2009; Birkman, J và cộng sự, 2010; Garschagen, M., 2011) Trên cơ sở đó, các giải pháp giảm thiểu thiêt hại tai biến và ứng phó, thích ứng với các thay đổi môi trường, đặc biệt là biến đổi khí hậu với các mối đe dọa từ bão, lũ lụt, nước biển dâng

Giai đoạn 1994-1996, Tom, G và cộng sự đã nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương của đới bờ Việt Nam do mực nước biển dâng Các vùng nhạy cảm được chỉ

ra dựa vào khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi

Trang 18

trường đó là ĐBSCL, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Huế, Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu này chỉ ra được khả năng rủi ro cao cho con người (khoảng 17 triệu người trong đó có 14 triệu người thuộc ĐBSCL chịu tác động của lũ lụt hàng năm); tài nguyên (khoảng 1.700 km2 đất ngập nước), trong đó khoảng 60% là đất ngập nước ven biển bị ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng cao); vốn đầu tư cho xây dựng

để bảo vệ sinh cảnh ở các vùng châu thổ ven biển (đê, kè, ) khi nước biển dâng cao 1m thiệt hại khoảng 24 tỷ USD/năm

Theo “Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định

các giải pháp thích ứng”, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi Trường – Nhà

xuất bản Tài nguyên Môi trường và bản đồ Việt Nam, năm 2011 Tài liệu này được xây dựng như một cuốn cẩm nang tra cứu và hướng dẫn các vấn đề liên quan tới phương pháp đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng cho từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Theo tài liệu hướng dẫn này thì để đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trong tương lai chúng ta cần xét đến tổ hợp các kịch bản biến đổi khí hậu và các kịch bản phát triển Cách tiếp cận này được gọi là phương pháp phát triển và phân tích kịch bản, phương pháp xem xét tác động va khả năng dễ bị tổn thương ứng với từng tổ hợp các kịch bản biến đổi khí hậu và các kịch bản phát triển khác nhau Với mục đích đơn giản hóa đồng thời vẫn đảm bảo tính đa dạng và đầy đủ của đánh giá, thông thường người ta

sử dụng và phân tích tổ hợp của 3 kịch bản biến đổi khí hậu và 3 kịch bản phát triển – nghĩa là có 9 trường hợp đánh giá: Kịch bản biến đổi khi hậu ứng với kịch bản phát triển 1 (trường hợp 1), ứng với kịch bản phát triển 2 (kịch bản 2), ứng với kịch bản 3 (trường hợp 3); kịch bản biến đổi khí hậu 2 ứng với kịch bản phát triển 1 (trường hợp 4), ứng với kịch bản phát triển 2 (trường hợp 5) v.v Tuy nhiên, tùy vào khả năng và yêu cầu của từng địa phương, chúng ta cũng có thể chọn số trường hợp đánh giá ít hơn: Ví dụ như 3 kịch bản biến đổi khí hậu và 2 kịch bản phát triển (6 trường hợp) hay 1 kịch bản phát triển (3 trường hợp) Sau khi xác định được các

tổ hợp kịch bản, tiến hành đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cho các ngành và

Trang 19

nhóm đối tượng ứng với từng tổ hợp kịch bản và ghi nhận kết quả vào Ma trận đánh giá tác động

Cũng trong năm 2011, ThS Trần Thị Kim Lan – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương của BĐKH gây ra đối với trồng trọt - chăn nuôi và thủy sản – ngư nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt định tính mà chưa tính toán cụ thể chi tiết về mức độ ảnh hưởng và tổn thương ở từng mặt, từng lĩnh vực Theo tác giả, các tác động của BĐKH bắt nguồn từ 3 hệ quả là: Nhiệt độ tăng, mưa với cường độ lớn, mực nước biển và ngập lụt gia tăng

Trong lĩnh vực nguồn nước và vệ sinh, một dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ADB áp dụng nghiên cứu cho khu vực tỉnh Bến Tre được hoàn thiện vào năm

2011 với mục tiêu chính là đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro và các tác động hiện tại đến nguồn nước và vệ sinh ở tỉnh Bến Tre Nghiên cứu cũng xác định được các điều kiện khí hậu nhất định trong tương lai và đánh giá ảnh hưởng của các kịch bản BĐKH trong tương lai đến hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Bên cạnh

đó cũng chú trọng đến đánh giá các tác động tiềm ẩn của BĐKH lên tài nguyên nước, sinh kế, con người, dân số, nguồn nước và cơ sở hạ tầng vệ sinh, dịch vụ

Một nghiên cứu điển hình tại xã Phù Long (Hải Phòng) và thị trấn Rạng Đông (Nam Định) về đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sinh kế của TS Nguyễn Viết Thành, ThS Đàm Thị Tuyết và nhóm cộng sự Một thực tế là việc nghiên cứu tác động của BĐKH rất nhiều nhưng lại rất ít nghiên cứu

về sinh kế cụ thể Nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ tổn thương với BĐKH là khác nhau với các nhóm sinh kế khác nhau, các nhóm sinh kế có nguồn vốn tự nhiên tương đồng thì mức độ tổn thương với biến đổi khí hậu tương đối giống nhau Các nhóm có năng lực thích ứng với BĐKH thấp bị tổn thương lớn hơn Các tác giả cho rằng, để phát triển hơn nghiên cứu này, trong tương lai cần tăng số lượng mẫu điều tra, kiểm định lại chỉ số phơi nhiễm sử dụng số liệu thống kê thứ cấp (sử dụng bản

đồ GIS, các số liệu thống kê từ các cơ quan chức năng ở tỉnh, huyện, xã), so sánh

Trang 20

tính tổn thương với BĐKH đối với các nhóm sinh kế ở các khu vực địa lý khác nhau

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi môi trường tự nhiên (trong đó có biến đổi khí hậu, nước biển dâng), đặc biệt nhiều ở các nước, khu vực có nền kinh tế phát triển và sớm phải đối mặt với vấn đề này cũng như hậu quả của nó là Mỹ, Canada, Australia, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản

Những nghiên cứu ở khu vực Bắc Mỹ

Đánh giá tính dễ bị tổn thương môi trường được phát triển bởi Ban ứng dụng khoa học địa chất Nam Thái Bình Dương (SOPAC) và Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), áp dụng cho các quốc gia thuộc các vùng đảo nhỏ (SIDS)

từ năm 1999 Sau đó công trình này được mở rộng và phát triển thành chỉ số tổn thương môi trường (Environmental Vulnerability Index - EVI) Chỉ số này cung cấp một phương pháp đánh giá nhanh chóng và chuẩn hóa các đặc trưng tổn thương một cách tổng thể và kết hợp cả ba khía cạnh “trụ cột” của phát triển là: môi trường, kinh tế và xã hội Bởi vậy, EVI ngày càng trở nên quan trọng để có thể định lượng được tính dễ bị tổn thương ở các khía cạnh khác nhau, kể cả mức độ thiệt hại và xây dựng khả năng ứng phó, phục hồi EVI là một trong những chỉ số đầu tiên của công

cụ quản lý môi trường theo hướng hiện đại Quy mô phát triển của một quốc gia phù hợp nếu các điều kiện môi trường đi cùng các quyết định quan trọng về chính sách kinh tế, xã hội và hành vi văn hóa, bởi môi trường là nền tảng của sự sống, hỗ trợ cho hệ thống con người, đó là một phần đảm bao sự thành công của phát triển

Trên một Tạp chí xã hội quốc tế về Ngăn ngừa và giảm thiểu các mối nguy hiểm tự nhiên, số ISSN 0921-030X, “Nghiên cứu về chỉ số tổn thương do ngập lụt đối với các thành phố ven biển và được sử dụng trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu” Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là đánh giá tính dễ bị tổn thương ngập lụt vùng ven biển, đặc biệt là tạo ra các mối liên quan dễ nhận biết giữa các khái niệm mang tính lý thuyết về tính dễ bị tổn thương do ngập lụt, sự phù

Trang 21

hợp giữa các quyết định và các công cụ sử dụng Nghiên cứu tập trung vào phát triển chỉ số tổn thương do ngập lụt ở các thành phố ven biển (CCFVI) dựa trên mức

độ phơi lộ, tính nhạy cảm và khả năng phục hồi, áp dụng cho 9 thành phố trên toàn thế giới với mỗi thành phố có mức độ phơi lộ khác nhau

Trong một nghiên cứu khác về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Mỹ vào tháng 5 năm 2011 của Viện nghiên cứu về con người và

vũ trụ Thái Bình Dương Tính dễ bị tổn thương ở khu vực Bắc Mỹ phụ thuộc vào khả năng và thời gian thích ứng, các chiến lược ứng phó cụ thể giữa các vùng Nghiên cứu đã đi vào phân tích và đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước khu vực nước Mỹ, đồng thời đưa ra các kiến nghị về xây dựng các chiến lược thích ứng nhằm giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu

Theo đánh giá của các nhà khoa học Mỹ về tính dễ bị tổn thương, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng tình trạng dễ bị tổn thương tại quốc gia này đang ngày một gia tăng và chính phủ Mỹ đã tiến hành thực hiện các nghiên cứu đánh giá về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tại khu vực nước Mỹ (Karl et al 2009) Cũng theo các nhà khoa học Mỹ và Canada, môi trường của vùng Đông Bắc Mỹ đã thay đổi và có khả năng sẽ còn thay đổi nhiều hơn nữa Sự thay đổi môi trường tự nhiên tác động tới nhiều khía cạnh của rừng ở Đông Bắc Mỹ và phía Đông Canada Trong nghiên cứu về “tác động của biến đổi môi trường tới các khu rừng tại Đông Bắc Mỹ và phía Đông Canada" tập hợp thông tin khoa học về tính bền vững của rừng, từ những thay đổi về tuần hoàn nước tới những thay đổi về cây cối, động vật hoang dã và các loài có ảnh hưởng xấu Từ đó, khuyến nghị cần phải xây dựng các biện pháp, chính sách phù hợp phục hồi rừng trước những ảnh hưởng của biến đổi môi trường tự nhiên

Theo Michael T Rains - Trạm Nghiên cứu phía Bắc (Northern Research Station), rừng có vai trò rất quan trọng và rất dễ bị ảnh hưởng trước những thay đổi của môi trường tự nhiên, đặc biệt là các khu rừng thuộc bảy tiểu bang ở Hoa Kỳ: Maine, New York, Vermont, New Hampshire, Massachusetts, Connecticut và Rhode Iceland; và các tỉnh của Canada: Quebec, Labrador, Newfoundland, New

Trang 22

Brunswick và Nova Scotia Còn nhà khoa học Lindsey Rustad lại cho biết lượng thông tin đã có về biến đổi môi trường tự nhiên đôi khi khiến cho việc tìm kiếm thông tin phù hợp về một khu vực cụ thể gặp khó khăn Mục đích của các nhà khoa học là tạo ra 1 nguồn thông tin khoa học đáng tin cậy về tác động của biến đổi môi trường tự nhiên tới các khu rừng Đông Bắc Kết quả nghiên cứu của 38 nhà khoa học Mỹ và Canada cho thấy những ảnh hưởng của biến đổi môi trường tự nhiên (trong đó có sự biến đổi khí hậu) tới các khu rừng của vùng Đông Bắc Bằng cách

sử dụng các dữ liệu lịch sử, nghiên cứu thực nghiệm, chạy mô hình các nhà khoa học kết luận rằng biến đổi môi trường tự nhiên sẽ có tác động sâu sắc tới những cánh rừng ở Đông Bắc theo đà tăng tốc của biến đổi môi trường tự nhiên Do vậy cần có các biện pháp ứng phó nhằm duy trì tính ổn định rừng, giúp cho các khu rừng tăng khả năng chống chọi với ảnh hưởng của biến đổi môi trường tự nhiên

Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) đã đưa ra lời cảnh báo: Bụi và các chất ô nhiễm từ châu Á - đang "chu du" qua đại dương tới Bắc Mỹ và gây ô nhiễm bầu không khí ở khu vực này, có thể khiến tác động của biến đổi môi trường trở nên nghiêm trọng hơn Nghiên cứu của cơ quan trên cho biết khoảng một nửa khối lượng bụi ở Mỹ và Canada có "xuất xứ" từ các nước bên ngoài khu vực Bắc Mỹ, trong đó phần lớn là bụi được hình thành tự nhiên trong không khí chứ không phải bụi từ các hoạt động khai thác khoáng sản

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đới ven bờ do mực nước biền dâng cao (Thieler, E Robert và cộng sự, 2001) dựa trên cơ sở phương pháp tính chỉ số tổn thương ven biển (Coastal Vulnerability Index) Kết quả

đã thiết lập được bản đồ tổn thương cho các khu vực ven bờ của Mỹ Các nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng các biện pháp, chiến lược thích ứng với biến đổi môi trường, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi môi trường (điển hình là mực nước biển dâng)

Những nghiên cứu ở Châu Âu

Theo nghiên cứu của NASS (2003) về đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng với biến đổi môi trường ở NaUy, tính dễ bị tổn thương được nghiên cứu

Trang 23

và đánh giá dựa trên cách tiếp cận đa chiều, coi đánh giá tính dễ bị tổn thương là một quá trình chứ không đơn thuần là một kết quả thực hiện Nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc đưa ra các kịch bản khí hậu, liên hệ với các điều kiện địa phương vào quá trình xác định mức độ tổn thương

Tại châu Âu, tháng 7 năm 2012, nghiên cứu về “Tổn thương môi trường, bản

đồ tính nhạy cảm và các giải pháp” thuộc dự án Quản lý rủi ro DNV đã tập trung vào các vấn đề “tổn thương môi trường” do hoạt động khai thác dầu khí từ đó xây dựng bản đồ tổn thương môi trường vùng ven biển ở châu Âu; nghiên cứu về quản

lý và phân tích rủi ro sự cố tràn dầu; từ các nghiên cứu đó các chuyên gia đã đưa ra các giải pháp để bảo vệ môi trường ở những khu vực dễ bị tổn thương

Trong một báo cáo đã được hoàn thiện vào tháng 9 năm 2001 của nhóm tác giả Ursula Kaly, Craig Pratt, Elizabeth Khaka, Arthur Dahl, Lino Briguglio và Emma Sale-Mario: “Hội thảo toàn cầu về chỉ số tổn thương môi trường” diễn ra từ ngày 27 đến 29 tháng 8 năm 2001 tại Geneva, Thụy Sĩ với sự tham gia của Uỷ ban

Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái Bình Dương (SOPAC), UNEP, Trường đại

học Malta và các nước thành viên đến từ Bangladesh, Hy Lạp, Cộng hòa Kyrgyz, Nepal, Philippin and Thái Lan Mục đích của cuộc họp nhằm đưa ra khung khái niệm chung và hợp tác giữa các nước về xây dựng EVI bao gồm các hoạt động: xây dựng mô hình hóa toàn cầu; thảo luận về xây dựng các chỉ số và thiết lập cơ sở dữ liệu ở các nhóm nước sẽ được nghiên cứu thí điểm

Tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu tại Copenhagen (Đan Mạch), các chuyên gia châu Âu về môi trường đã cảnh báo rằng, mặc dù là một châu lục có nhiều lợi thế nhất về địa lý tự nhiên cũng như xã hội vì nằm ở vùng ôn đới, mưa thuận gió hòa, khí hậu mát mẻ, lại là những nước phát triển có đủ nhân tài vật lực để đối phó với biến đổi môi trường, châu Âu vẫn không tránh được tác hại của hiệu ứng nhà kính vì nhiệt độ ở châu Âu tăng nhanh hơn các nơi khác Theo một nghiên cứu đã được công bố của EEA, sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã chia châu Âu thành hai vùng bị ảnh hưởng khác nhau, miền Nam dọc theo bờ Địa Trung Hải bị khô cằn với nhiều nơi bị sa mạc hóa, miền Bắc, mưa lũ xảy ra thường xuyên hơn

Trang 24

vào mùa đông sẽ gây tình trạng ngập lụt

Báo cáo kỹ thuật của cơ quan môi trường châu Âu năm 2006 về tính dễ bị tổn thương và các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại châu Âu với các mục tiêu: cung cấp các thông tin về tính dễ bị tổn thương ở châu Âu, nhấn mạnh cần phải

có biện pháp thích ứng; chia sẻ các thông tin giữa các nước thành viên EEA và học hỏi các kinh nghiệm trong đánh giá tính dễ bị tổn thương và kế hoạch thích ứng; thảo luận về các chiến lược và chính sách thích ứng ở châu Âu và cấp quốc gia Tháng 10/2010, Hội nghị khoa học IAIA về Tác động của biến đổi khí hậu, tính dễ

bị tổn thương và các biện pháp thích ứng ở châu Âu được tổ chức do Cơ quan môi trường châu Âu thực hiện Hội nghị đã tổng kết và đưa ra các nguồn thông tin chính liên quan đến phát triển, thích ứng, thực hiện và đánh giá chính sách môi trường Đến tháng 09/2011, Dự án Biến đổi khí hậu và vấn đề di dân được thực hiện với sự hợp tác của Liên minh châu Âu, Viện Đại học châu Âu và Viện chính sách di dân

Dự án phân tích chi tiết, đánh giá các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và xây dựng các chính sách tiềm ẩn ứng phó với vấn đề di dân ngày một gia tăng do hậu quả của tác động biến đổi khí hậu

Những nghiên cứu ở Châu Á

Tại châu Á, nhiều nước cũng đang phải đối mặt với tình trạng tiêu cực của biến đổi môi trường tự nhiên Ấn Độ đang trải qua một đợt hạn hán tồi tệ với lượng mưa ít hơn 70% so với mọi năm Hạn hán tại Ấn Độ đang làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất lương thực của nước này Tại Campuchia, hạn hán đang hoành hành

ở 11 trong tổng số 24 tỉnh, thành phố của nước này, ảnh hưởng đến hàng chục nghìn

ha trồng lúa Tính đến nay, hạn hán đã tàn phá gần 5 nghìn ha mạ lúa và hơn 100 ha đất trồng lúa Theo Tổ chức Khí tượng học Thế giới, với tình trạng biến đổi môi trường như hiện nay, tần suất và cường độ hạn hạn sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, từ đó tác động tới nhiều vấn đề khác trong xã hội như lương thực, nước uống, y tế và năng lượng Vấn đề cấp bách hiện nay là chính phủ các khu vực bị ảnh hưởng cần ưu tiên các chính sách đánh giá thiệt hại như trợ cấp, giảm thuế đối với những cộng đồng bị ảnh hưởng cũng như triển khai các chính sách bảo hiểm hạn

Trang 25

hạn để hỗ trợ người dân

Theo báo cáo của IPCC, biến đổi môi trường tự nhiên sẽ gây ra các xu hướng khí hậu cực đoan trên thế giới nói chung và châu Á nói riêng Tại Hà Nội, Bộ TN&MT phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã tổ chức Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và các cực trị khí hậu tại Việt Nam” Trong Hội thảo này, ông Rajendra Kumar Pachauri, Chủ tịch Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã công bố báo cáo đặc biệt của IPCC về “Quản lý rủi ro các cực trị và thiên tai nhằm đẩy mạnh thích ứng với biến đổi khí hậu”

Bên cạnh đó, “Xây dựng phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương trong sản xuất lúa gạo do biến đổi khí hậu”, Gayoung Yoo Jung Eun Kim, 2007 – Viện Môi trường Nhật Bản Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là bước đầu để có thể xây dựng được chiến lược thích ứng phù hợp Việc thực hiện nghiên cứu này nhằm phát triển phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương trong sản xuất lúa gạo do biến đổi khí hậu cung cấp nền tảng cho các chính sách thích ứng trong tương lai Việc xây dựng chỉ số tổn thương trong sản xuất lúa gạo cần có sự lồng ghép giữa biến đổi năng suất lúa và hiện trạng nước nông nghiệp Phạm vi nghiên cứu là Jeolla-do, nằm ở phía Tây Nam của bán đảo Nhật Bản, khu vực có tỷ lệ phần trăm năng suất lúa chiếm tới 35% tổng lượng sản phẩm lúa gạo Năng suất lúa trong tương lai được mô phỏng bởi mô hình CERES sử dụng độ chi tiết của kịch bản A2 - Viện Nghiên cứu Khí tượng (METRI) Trong nghiên cứu, tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu được nhấn mạnh là một hàm chức năng của tính nhạy cảm và năng lực thích ứng dựa trên giả thuyết rằng tính nhạy cảm và năng lực thích ứng là các biến độc lập Chỉ số tính nhạy cảm do biến đổi khí hậu được xác định dựa trên tỉ lệ thay đổi năng suất lúa so với năng suất thời kỳ nền (1971-2000) Theo đó, chỉ số tính nhạy cảm được tính toán thay đổi từ nhạy cảm thấp tới nhạy cảm cao cho đến cuối thế kỷ 21 Tăng theo hướng tiêu cực lớn nhất là

ở phía Tây Nam của Jeolla-do Chỉ số năng lực thích ứng bao gồm 2 khía cạnh: Năng lực thích ứng với áp lực do hạn hán - Adaptive Capacity for Drought Stress (ACDS) và năng lực thích ứng với các mối nguy diểm do lũ lụt – Adaptive Capacity

Trang 26

for Flood Damage (ACFD) Nghiên cứu đã sử dụng chỉ số định dạng được đề xuất bởi UNDP về tiêu chuẩn hóa chỉ số ACDS và ACFD Sự phân bố chỉ số tổn thương chỉ ra những khu vực tổn thương cao ở các vùng núi phía Đông và phía Tây của khu vực nghiên cứu Tổn thương cao chủ yếu là ở dọc phía Đông vùng bờ biển Các chiến lược thích ứng đã được xây dựng nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trong trồng lúa Nghiên cứu cung cấp hướng dẫn để đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và có thể được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau Các chỉ số tính toán tính dễ bị tổn thương là công cụ hữu ích cho việc xây dựng các chiến lược thích ứng cụ thể ở địa phương Tuy nhiên để cải thiện chỉ số tổn thương trong sản xuất lúa gạo thì cần xem xét một cách cụ thể hơn về các chị thị tổn thương do biến đổi khí hậu, biến đổi và tác động do nước biển dâng, chất lượng nước nông nghiệp, Mục tiêu của nghiên cứu: (1) khảo sát tính nhạy cảm trong năng suất lúa

do biến đổi khí hậu theo kịch bản A2 – IPCC; (2) xây dựng chỉ thị đại diện cho năng lực thích ứng trong lĩnh vực nước tưới nông nghiệp theo nhu cầu cung cấp nước tưới và các chi phí do các mối nguy hiểm gây ra bởi lũ lụt; (3) xác định tính dễ

bị tổn thương do biến đổi khí hậu ở phía Tây Nam của Nhật Bản; (4) đề xuất lựa chọn các biện pháp thích ứng dựa trên kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương để

giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trong sản xuất lúa gạo

Báo cáo nghiên cứu về “Chỉ số tổn thương môi trường (EVI) nhằm tổng hợp

hồ sơ tổn thương môi trường quốc gia” được thực hiện bởi nhóm tác giả Ursula Kaly, Lino Briguglio, Helena McLeod, Susana Schmall, Craig Pratt and Reginald Pal vào tháng 2 năm 1999 Đây là dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của Chương trình

Hỗ trợ Phát triển tại New Zealand (NZODA) Nghiên cứu tập trung mô tả phát triển chỉ số tổn thương môi trường Trong quá khứ, chỉ số tổn thương được xây dựng bằng việc mô tả các rủi ro liên quan đến các điều kiện kinh tế, xã hội, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thảm họa tự nhiên, các tác động của con người Mục tiêu chung của dự án là phát triển phương pháp luận trong việc xây dựng chỉ số tổn thương môi trường và đưa ra các kết quả ban đầu về tính dễ bị tổn thương cho 1 số quốc gia thí điểm Bên cạnh đó, mục tiêu cụ thể của dự án còn là rà soát lại các kết

Trang 27

quả đã tính toán về tính dễ bị tổn thương môi trường của các Quốc đảo nhỏ đang phát triển (SIDS), nếu cách tiếp cận của vấn đề từ khía cạnh mới phù hợp thì có thể được sử dụng trong việc xây dựng bộ chỉ số tổn thương môi trường cho SIDS Thái Bình Dương; xây dựng khung lý luận và phương pháp tính toán chỉ số tổn thương môi trường; nhận định và thu thập các số liệu, dữ liệu được sử dụng để tính toán chỉ

số môi trường; nhận định hướng đi trong tương lai trong việc xây dựng chỉ số tổn thương môi trường phù hợp cấp quốc gia Cũng trong năm 1999, nhóm các tác giả này đã viết và biên soạn “Báo cáo về chỉ số tổn thương môi trường - nhóm các chuyên gia, hội thảo từ ngày 7 – 10 tháng 9 năm 1999, cảng biển Thái Bình Dương, Fiji” Báo cáo được hoàn thành vào ngày 10 tháng 10 năm 1999 Đây là dự án được

hỗ trợ bởi nguồn vốn của Chương trình Hỗ trợ Phát triển tại New Zealand (NZODA) Mục đích của cuộc họp là gặp gỡ các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực liên quan đến EVI, cùng thảo luận về các nội dung trong mô hình của SOPAC (Kaly

et al,1999), tổng hợp các thông tin cần thiết để đảm bảo EVI sẽ phù hợp ở tất cả các khu vực trên toàn thế giới; và định hướng công việc trong tương lai

Tháng 3 năm 2000, Báo cáo chỉ số tổn thương môi trường giai đoạn 2 cho khu vực Fiji, Samoa, Tuvalu and Vanuatu tiếp tục được thực hiện, mô tả quá trình làm việc trong giai đoạn 2 của dự án EVI và chú trọng vào xây dựng, lựa chọn các chỉ số đã dự thảo trong giai đoạn I, cách tính toán các chỉ số này ở 1 số quần đảo Thái Bình Dương Mục tiêu cụ thể của giai đoạn 2 là: Tổng quan về các kết quả đã nghiên cứu trong giai đoạn 1, lựa chọn mô hình và chỉ số EVI để xác định liệu cách tiếp cận và các chỉ số đó có phù hợp với các cộng đồng quốc tế hay không; xây dựng cơ chế trong thu thập dữ liệu; tiếp tục thảo luận về EVI đã được xây dựng trong giai đoạn 1; thiết lập các tiêu chuẩn và kế hoạch để kiểm tra và lựa chọn chỉ

số

Giai đoạn 3 của dự án triển khai từ năm 2000 đến năm 2003, báo cáo kết quả tính toán chỉ số tổn thương môi trường cho 235 nước và đánh dấu việc hoàn thành giai đoạn phát triển của EVI Mục tiêu của giai đoạn 3 là phát triển mô hình EVI, xây dựng cơ sở dữ liệu EVI quốc tế; xây dựng năng lực, nhiệm vụ đảm bảo phát

Trang 28

triển bền vững; tăng cường năng lực thích ứng trong lĩnh vực tổn thương môi trường Và giai đoạn “Hoàn thiện báo cáo EVI” từ tháng 5/2003 đến tháng 9/2004 Hoàn thiện, bổ sung các EVI

Bên cạnh đó, tháng 2 năm 2009, “bản đồ tổn thương do biến đổi khí hậu ở khu vực Nam Châu Á” được xây dựng với 5 yếu tố rủi ro liên quan đến khí hậu: bão, lũ lụt, sụt lở, hạn hán và nước biển dâng Tính nhạy cảm từ yếu tố con người được dùng trong tính toán là mật độ dân số Phạm vi diện tích được bảo vệ là tính nhạy cảm sinh thái đại diện cho 1 phạm vi nhỏ Chỉ số năng lực thích ứng là hàm của các yếu tố kinh tế-xã hội, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng Các giá trị kinh tế-xã hội bao gồm Chỉ số phát triển con người (thu nhập, tỉ lệ biết chữ, và tuổi thọ trung bình, đói nghèo và bình đẳng giới) Sau cùng, xây dựng chỉ số tổng hợp tổn thương về biến đổi khí hậu cho khu vực Nam Châu Á

Tại khu vực Bắc Kinh (Trung Quốc), hệ thống xã hội – môi trường đã được Romieu (2010) đánh giá bằng cách xây dựng xây dựng các chỉ số thông qua việc định lượng các yếu tố tai biến và khả năng phục hồi của hệ thong xã hội, sinh thái Kết quả nghiên cứu có ứng dụng quan trọng cho phát triển bền vừng và bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

1.2.3 Các công trình nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu

Tại TP Cần Thơ, những nghiên cứu về đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương cụ thể cho từng lĩnh vực/từng ngành Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tại địa phương:

Áp dụng phương pháp tiếp cận chung của IPCC đánh giá tổn thương cho hệ thống tự nhiên, kết hợp với cách tiếp cận dựa trên rủi ro để đánh giá các tác động của thiên tai: lũ lụt, ngập lụt và nước biển dâng lên các hệ thống xã hội của con

người Nghiên cứu tác động BĐKH và đề xuất giải pháp thích ứng ở Đồng bằng sông Cửu Long, (2011), Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường đã

nghiên cứu và đánh giá các tác động tiềm tàng của BĐKH đến các lĩnh vực: Năng lượng, công nghiệp, giao thông, quy hoạch đô thị, nông nghiệp và lâm nghiệp

Trang 29

Đồng thời sử dụng khung khái niệm “đánh giá tương quan tính dễ bị tổn thương và rủi ro (CVRA)” để đánh giá tính dễ bị tổn thương trên 5 lĩnh vực là: dân số; đói nghèo; nông nghiệp và sinh kế; công nghiệp và năng lượng; khu dân cư đô thị và giao thông Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhận định về điều kiện khí hậu trong tương lại; đánh giá tác động của các kịch bản khí hậu trong tương lai lên hệ thống tự nhiên, xã hội và kinh tế khu vực ĐBSCL; và phân tích cơ bản năng lực về biến đổi khí hậu hiện thời của Chính phủ Bên cạnh đó, kết quả của Dự án cung cấp các biện pháp thực tế mà chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện có thể vận dụng để truyền đạt và củng cố các chương trình của mình

Năm 2009, nghiên cứu về “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và tính

dễ bị tổn thương lên TP Cần Thơ”, thuộc Chương trình “Mạng lưới chống chịu sự

thay đổi khí hậu các đô thị Châu Á (ACCCRN) của Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu – Trường Đại học Cần Thơ thực hiện Đây là một hợp phần của chương trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu được tài trợ bởi Quỹ Rockerfeller (Mỹ) Mục tiêu của chương trình là hỗ trợ nhóm các thành phố ở Châu Á – mạng lưới các thành phố châu Á (gồm Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ và Indonesia) có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu (ACCCRN) xây dựng các công cụ và biện pháp thực tế để ứng phó biến đổi khí hậu (BĐKH), giảm nghèo và quản lý tốc độ đô thị hóa đang gia tăng Trong đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên thực hiện chương trình ACCCRN Ba thành phố ở Việt Nam được chọn để nghiên cứu là Cần Thơ, Đà Nẵng và Quy Nhơn Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương của nghiên cứu này được phân làm 2 giai đoạn chính là: (i) đánh giá tính dễ bị tổn thương theo điều kiện sử dụng đất hiện tại; và (ii) đánh giá tính dễ bị tổn thương theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2020 của TP Cần Thơ Trong mỗi giai đoạn nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của BĐKH tới các lĩnh vực: Nông nghiệp, thủy sản và cơ sở hạ tầng đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa và ngập lụt tới từng loại cây trồng là cây lúa, cây rau màu, cây ăn trái Tuy nhiên, đánh giá chi tiết về mức độ tổn thương ở từng loại cây trồng, từng lĩnh vực theo mốc thời gian mới chỉ dừng lại đến năm 2020 và chưa cụ thể

Trang 30

Cũng trong Dự án Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính do UNDP tài trợ và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 04 năm 2009 Mục tiêu của dự án là đánh giá tác động của BĐKH đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đặc biệt là quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng, phân tích đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH; từ đó đề xuất các biện pháp ứng phó và phòng ngừa BĐKH, xây dựng các

dự án ưu tiên triển khai thử nghiệm Các kết quả của dự án bao gồm: nghiên cứu chuyên sâu về các hiện tượng thời tiết cực đoan trong quá khứ và chi tiết hóa kịch bản; đánh giá được mức độ ảnh hưởng của BĐKH, nước biển dâng, mức độ ngập lụt TP Cần Thơ hiện tại và dự báo trong tương lai, đồng thời cũng đã xây dựng và lựa chọn được các giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực nhằm ứng phó với BĐKH

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở TP Cần Thơ

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

và 4 huyện ngoại thành: Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ, Phong Điền Tổng số xã phường và thị trấn trong thành phố là 85

Trang 31

Hình 1 Bản đồ hành chính TP Cần Thơ

TP Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của ĐBSCL, phía Bắc giáp tỉnh An Giang, phía Nam và Tây – Nam giáp tỉnh Hậu Giang, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; là đầu mối giao thông của vùng

về cả đường bộ, đường thủy, đường hàng không; có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cách biển Đông 75km

Với vị trí quan trọng như trên, TP Cần Thơ có điều kiện thuận lợi cũng như

đã được xác định để trở thành đô thị trung tâm vùng, trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục- đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế và văn hóa, là địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh tại vùng ĐBSCL và của cả nước Đồng thời TP Cần Thơ đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế,có vai trò đầu tàu, thúc đẩy các địa phương trong vùng cùng phát triển

 Địa hình, địa mạo

Trang 32

Là vùng đất được kiến tạo từ sự bồi tụ của phù sa sông Mekong, có địa hình thấp và bằng phẳng, hệ thống sông rạch chằng chịt và không có phần đất nào tiếp giáp với biển Cao độ mặt đất phổ biến nằm trong khoảng 0,8 – 1,0 m so với mực nước biển ở Hòn Dấu Độ dốc theo chiều giảm dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, từ sông Hậu đi vào vùng nội đồng, cao độ giảm dần

Lượng mưa trung bình từ 1489 mm – 1723 mm (chiếm 92% - 97% lượng mưa cả năm) Độ ẩm trung bình từ 75% - 85%

 Thủy văn

TP Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông, có địa hình rất đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, trải dài khắp địa bàn thành phố Trong đó:

Sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 20km Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lương nước của sông Mê Kông), lưu lượng nước bình quân tại TP Cần Thơ là 14.800 m3/giây Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần ½ tổng lượng phù sa sông Mê Kông)

Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 – 700 m, độ sâu 10 – 12

m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt

Sông Cần Thơ dài 16 km, đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ

có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông

Bên cạnh đó, TP Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch nhỏ dày đặc, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất:

Trang 33

sông Thốt Nốt chảy trong địa phận huyện Cờ Đỏ và quận Thốt Nốt, sông Ô Môn chảy trong địa phận huyện Thới Lai và quận Ô Môn, sông Cần Thơ bắt nguồn từ huyện Phong Điền rồi đổ ra sông Hậu ở ranh giới giữa quận Ninh Kiều và quận Cái Răng, qua bến Ninh Kiều

Vào mùa lũ (tháng 7 đến tháng 11) thành phố chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ

từ sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên, nhưng ảnh hưởng triều vẫn rõ nét; tuỳ vào biến động hàng năm của lũ, khu vực ngập sâu (>100cm) có diện tích từ 9.700 - 35.600 ha, khu vực ngập trung bình (50-100 cm) khoảng 87.800 - 88.400 ha

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Dân số của TP Cần Thơ khoảng 1,2 triệu người (số liệu năm 2010), mật độ dân số trung bình là 856 người/km2 (gấp gần 2 lần mật độ dân số trung bình của vùng ĐBSCL) Trong cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm đại đa số (97%), tiếp sau

đó là hai dân tộc Khmer và Hoa với lần lượt khoảng 21 nghìn và 14 nghìn người

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay giảm không nhiều Tốc độ tăng dân số các năm 2001-2005 đạt trung bình 1,11%/năm, đến giai đoạn 2006-2010 giảm xuống còn 0,87%/năm

Dân số khu vực thành thị có tốc độ tăng trưởng cao trong cả thời kỳ

2001-2010 Riêng giai đoạn 2006-2010, dân số đô thị tăng trưởng với tốc độ trung bình 6,57%/năm (chi tiết trong bảng 2) Với việc mỗi năm có hơn 40 nghìn cư dân trở thành công dân đô thị, tỷ trọng dân số thành thị của TP Cần Thơ từ 50,03% năm

2005 tăng lên 65,84% vào năm 2010

Trang 34

Bảng 2 Một số chỉ tiêu về hiện trạng dân số ở TP Cần Thơ

TT Chỉ tiêu Đơn vị Năm

3 Dân số nông thôn 1000 người 732,9 574,2 409,8

Nguồn: Kế hoạch phát triển KT-XH ở TP Cần Thơ 2011-2015

Cơ cấu lao động năm 2010: lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 39,9%, lao động khu công nghiệp và xây dựng chiếm 15,4% và lao động khu vực dịch vụ chiếm 44,7% Trong đó, số người trong độ tuổi lao động chiếm 77,37% dân số Số người có khả năng lao động chiếm 99,28% tổng số lao động trong độ tuổi

Tỷ lệ thất nghiệp: Giải quyết việc làm 219.416 lao động (kế hoạch 200.000 lao động trở lên), vượt 9.69% kế hoạch 5 năm; xuất khẩu lao động 1.349 người (kế hoạch 1.000 người)

Tỷ lệ lao động chưa có việc làm/tổng số lao động chiếm 3% (kế hoạch không quá 3%); tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 42% (kế hoạch 36%)

Giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2010 còn 5% (tính theo chuẩn nghèo do Bộ lao động – Thương binh và Xã hội ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 (kế hoạch 3% - 3,5% - tính theo chuẩn nghèo năm 2005)

Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0.814 (kế hoạch 0.830), tăng 0.075 so với đầu kỳ kế hoạch (năm 2005: 0,0739)

 Sử dụng đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của TP Cần Thơ năm 2010 là 140.894,92 ha Trong giai đoạn 2005-2010, tình hình sử dụng đất biến động khá nhanh theo hướng

Trang 35

phát triển mạnh đô thị hóa và tăng cường các cơ sở hạ tầng; các loại đất chuyên dùng, đất ở tăng khá nhanh và một số loại đất nông nghiệp giảm dần diện tích Nhìn chung:

+ Hầu hết quỹ đất (95,6%) đều được đưa vào khai thác sử dụng, đất chưa sử dụng còn rất ít và có khuynh hướng giảm nhanh

+ Nhóm đất nông nghiệp khá lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu diện tích đất tự nhiên (82,6%), tuy nhiên do mật độ dân số nông thôn khá cao nên các chỉ số đất nông nghiệp/đầu người chỉ vào mức độ trung bình

Trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, đất canh tác lúa (chuyên canh và luân canh) chiếm ưu thế, thể hiện đặc điểm vùng châu thổ chịu tác động của lũ và triều; đất thủy sản chuyên và đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp

Trang 36

Loại đất Diện tích (ha)

5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 7.516,84

Nguồn: Niên giám thống kê TP Cần Thơ, 2010

 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2010

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo GDP) đạt bình quân 13,5%/năm giai đoạn 2001-2005 và 15,1%/năm giai đoạn 2006-2010 Khu vực công nghiệp luôn có tốc

độ tăng trưởng cao, bình quân 17,3%/năm giai đoạn 2001-2005 và 18,1%/năm giai đoạn 2006-2010 (chi tiết trong bảng 4) Trong khi đó nông nghiệp - thủy sản giai đoạn 2006-2010 có tốc độ tăng trưởng giảm hẳn so với giai đoạn trước, ngược lại

khu vực dịch vụ lại tăng cao hơn giai đoạn trước

So với mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2006-2010 đề ra trong Quy hoạch năm

2007 chỉ có khu vực dịch vụ có tốc độ tăng cao hơn, các ngành nông thủy sản và công nghiệp - xây dựng không đạt dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung không đạt mục tiêu quy hoạch

Bảng 4 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2010

Đơn vị: Tỷ đồng

TT Chỉ tiêu 2000 2005 2010

Tốc độ tăng trưởng (%) 2001-

Trang 37

TT Chỉ tiêu 2000 2005 2010

Tốc độ tăng trưởng (%) 2001-

Nguồn: Kế hoạch phát triển KT-XH của TP Cần Thơ 2011-2015

Trong thời kỳ 2001-2010 đóng góp của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vào tăng trưởng GDP khá cao, trong khi đó khu vực nông thủy sản giảm dần và không đáng kể trong giai đoạn 2006-2010 (chỉ chiếm 1,4%) (cụ thể trong bảng 5)

Bảng 5 Đóng góp vào GDP của các ngành

Trang 38

 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2010 (theo ngành, theo thành phần kinh tế)

Cơ cấu kinh tế của thành phố đã chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng Dự kiến đến năm 2010, trong cơ cấu GDP, tỷ trọng nông nghiệp - thủy sản chiếm 10,6%; công nghiệp - xây dựng chiếm 44,2% và dịch vụ chiếm 45,2%, về cơ bản đạt mục tiêu đề ra trong Quy hoạch năm 2007

 Thu nhập bình quân đầu người

Thu nhập bình quân đầu người tính theo giá thực tế tăng từ 384 USD năm

2000 lên 784 USD năm 2005 và lên 1.950 USD năm 2010 (cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra trong quy hoạch đến năm 2010 là 1.210 USD)

 Các quy hoạch phát triển

TP Cần Thơ đã xây dựng một Kế hoạch tổng thể cho phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ 2006-2020 theo quyết định số 21/2007/QĐ-TTg ngày 08/02/2007 của Thủ Tướng Chính phủ Các chỉ tiêu vĩ mô cơ bản vào năm 2020 như sau:

Diện tích đất không tăng thêm, nhưng cơ cấu sử dụng đất thay đổi Đất nông nghiệp còn 97 ngàn ha Đất phi nông nghiệp tăng lên 36,25 ngàn ha và hơn 6,8 ngàn

ha diện tích mặt nước

Dân số có sự biến động lớn Đến cuối kỳ dân số trên địa bàn dự kiến lên 1,8 triệu người trong đó dân số tăng cơ học chiếm khoảng 25% Dân cư trong nội thị dự kiến đạt 70% Dân phi nông nghiệp là 1,355 triệu người Kế hoạch tổng thể cũng đưa ra chỉ tiêu giảm số hộ nghèo xuống còn 4,5-5% tổng số dân vào năm 2010 và

cơ bản xóa nghèo vào năm 2020

Thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trung bình là 16%/năm giai đoạn

2006 – 2010; 17.1% giai đoạn 2011-2015 và 18% giai đoạn 2016-2020 GDP vào năm 2020 đạt 308 ngàn tỷ đồng trong đó khu vực I chiếm 11,524 ngàn tỷ đồng; khu vực II 165,683 ngàn tỷ đồng; khu vực III 130,793ngàn tỷ đồng GDP bình quân đầu người sẽ đạt 1.200 USD vào năm 2010; 2.318 USD trong năm 2015 và 4.611 trong năm 2020 tương đương 172,7 triệu đồng/năm TP Cần Thơ quyết tâm trở thành

Trang 39

thành phố công nghiệp-thương mại dịch vụ và nông nghiệp kỹ thuật cao

Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt bình quân 3000USD/ha năm 2010 và 6200USD/ha năm 2020 Quy hoạch đề ra mục tiêu vào năm 2020: Về trồng trọt, một số mục tiêu chủ yếu Còn 60.000ha đất lúa và trồng 2-3 vụ lúa/năm, nên tổng diện tích canh tác lúa là khoảng 148.500ha với năng suất bình quân 5,8tấn/ha/vụ, sản lượng 858.000tấn/năm Cây ăn trái có diện tích 27.840 ha, bao gồm hơn 13,4 ngàn ha cây có múi chuyên canh 4,2 ngàn ha xoài, gần 3 ngàn ha nhãn và chôm chôm, hơn 7 ngàn ha cây đặc sản khác Đối với thủy sản chuyên canh, diện tích tăng lên 1460ha gồm cá tra và cá đen với sản lượng 200 ngàn tấn/năm.Đối với thủy sản luân canh với lúa, diện tích đạt 14.180 ha với sản lượng 20 ngàn tấn/năm, trong đó

có tôm càng xanh 5.400tấn/năm Ngoài ra còn có khoảng 600 nuôi trong mương vườn sản lượng 500 tấn và 200 bè cá sản lượng 10 ngàn tấn, chủ yếu là cá tra, cá bống tượng

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch khoảng

8000 ha Đến năm 2020 giá trị sản xuất CN-TTCN dự kiến là 326.521 tỷ đồng.Trong đó công nghiệp chế biến chiếm hơn 94% giá trị, nhóm phân phối điện nước chiếm hơn 5%

Trong cùng kỳ, nhà ở tăng lên 368.197 căn, mỗi hộ dân đều có nhà ở Dự kiến năm 2020 diện tích nhà tăng thêm trên 750 ngàn m2/năm

Tổng vốn đầu tư thương mại, xuất khẩu thời kỳ 2006-2020 là hơn 99 ngàn tỷ đồng (tương đương 3.713 triệu USD).Doanh số mua khoảng 53 ngàn tỷ đồng và doanh số bán khoảng 59 ngàn tỷ đồng vào cuối kỳ Cùng lúc đó, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn là 6.273 triệu USD với cơ cấu thủy sản chế biến chiếm 45%, hàng CN-TTCN chiếm 42%, nông sản chiếm 13%

Ngành Y tế có mục tiêu nâng số giường bệnh /10 ngàn dân là 29,2; số bác sĩ cho 10 ngàn dân là 12 người Đầu tư phát triển mạng lưới y tế dự phòng đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các dịch bệnh, giảm tỷ lệ mắc bệnh

và tử vong

Quy hoạch phát triển cũng có mức độ khác nhau theo không gian lãnh thổ

Trang 40

Vùng I hay vùng bị ảnh hưởng ngập lũ bao gồm các huyện Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt, một phần huyện Cờ Đỏ và Ô Môn diện tích hơn 94 ngàn ha chiếm 68% diện tích, sẽ

có mức độ phát triển bình quân 12%/năm trong suốt kỳ quy hoạch Còn vùng II vùng ảnh hưởng triều bao gồm các quận Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng, huyện Phong Điền và một phần huyện Cờ Đỏ, một phần quận Ô Môn chiếm 44.590 ha chiếm 32% diện tích tự nhiên của TP Cần Thơ được quy hoạch có tốc độ phát triển cao hơn 19%/năm

Ngày đăng: 14/07/2015, 15:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ hành chính TP. Cần Thơ - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 1. Bản đồ hành chính TP. Cần Thơ (Trang 31)
Bảng 5. Đóng góp vào GDP của các ngành  Chỉ tiêu - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 5. Đóng góp vào GDP của các ngành Chỉ tiêu (Trang 37)
Hình 3. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất TP. Cần Thơ đến năm 2020 - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 3. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất TP. Cần Thơ đến năm 2020 (Trang 43)
Bảng 6. Mức tăng nhiệt độ ( 0 C ) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 6. Mức tăng nhiệt độ ( 0 C ) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo (Trang 44)
Bảng 7. Mức thay đổi lƣợng mƣa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 7. Mức thay đổi lƣợng mƣa (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản (Trang 45)
Hình 6. Bản đồ ngập lụt TP. Cần Thơ - kịch bản nền - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 6. Bản đồ ngập lụt TP. Cần Thơ - kịch bản nền (Trang 47)
Hình 8. Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 8. Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương (Trang 50)
Bảng 12.  Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 12. Số liệu đầu vào của chỉ số khả năng thích ứng (AC) (Trang 56)
Bảng 14. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 14. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của (Trang 59)
Bảng 16. Các giá trị chỉ thị trong điều kiện hiện tại  Quận/ huyện  E1  E2  E3  S1  S2  S3  AC1  AC2 - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 16. Các giá trị chỉ thị trong điều kiện hiện tại Quận/ huyện E1 E2 E3 S1 S2 S3 AC1 AC2 (Trang 61)
Hình 9. Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 9. Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ (Trang 63)
Bảng 19. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 19. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của (Trang 65)
Bảng 20. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Bảng 20. Giá trị chuẩn hoá và trọng số của các chỉ thị thành phần con của (Trang 66)
Hình 10. Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ
Hình 10. Bản đồ mức độ tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do nguy cơ (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm