1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Nhóm nghiên cứu theo chủ đề - phương thức sinh tồn, phát triển chủ yếu của hoạt động khoa học ở khoa lịch sử

13 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 197 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

edu.vn sẽ thấy bức tranh khái quát không chỉ về số lượng các công trình nghiên cứu của khoa Sử mà còn bộc lộ thông tin về quá trình và hình thức vận động nghiên cứu khoa học của đội ngũ

Trang 1

NHÓM NGHIÊN CỨU THEO CHỦ ĐỀ-PHƯƠNG THỨC SINH TỒN, PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU CỦA HOẠT

ĐỘNG KHOA HỌC Ở KHOA LỊCH SỬ

PGS.TSKH NGUYỄN HẢI KẾ

Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV Đại học Quốc gia Hà Nội

Gần đây, trong định hướng cũng như triển khai nghiên cứu khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội cổ vũ cho việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh

Tham khảo mục Lý lịch khoa học trên trang web của Trường Đại học

KHXH& NV1 , hoặc Thư mục khoa Sử trong Khoa Lịch sử nửa thế kỷ xây dựng và

phát triển (1956-2006)2 hay mục Đội ngũ cán bộ của trang khoalichsu edu.vn sẽ

thấy bức tranh khái quát không chỉ về số lượng các công trình nghiên cứu của khoa

Sử mà còn bộc lộ thông tin về quá trình và hình thức vận động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa Lịch sử từ Đại học Tổng hợp Hà Nội đến trường Khoa học

Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trên cơ sở đó, chúng tôi có mấy lưu ý sau:

1 Ở khoa Lịch sử, ngay từ những năm đầu tiên thành lập khoa, việc nghiên cứu theo nhóm đã được thực hiện.

Năm 1956 khoa Lich sử chính thức ra đời cùng với việc thành lập trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Cho đến lúc đó, học sử, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử không mới mẻ trong quá trình học vấn của Việt Nam, nhất là trong tinh thần văn – sử- triết (và cả địa lý) bất phân Nhưng bây giờ-năm 1956, là lần đầu tiên, chính thức nhiệm vụ xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học chuyên nghiệp cho nền Sử học Việt Nam dân chủ công hòa được trực tiếp đặt trên vai lứa cán bộ đầu tiên của khoa

Trong thập niên đầu tiên (từ 1956 đến khi chính thức bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc Việt Nam) của

1 Mức độ chi tiết và tính cập nhật thông tin về công trình của các tác giả không đều giưã các cán bộ Theo

cách phân loại của mục Lý lich khoa hoc , thì có hai loại công bố chủ yếu ( (a): bài báo khoa học,( b) sách (

như giáo trình, chuyên khảo, )Cả hai loại này đều có viết chung ( từ hai tác giả trở lên ) và viết riêng ( một

tác giả ) Trong đó loại ( a) phần lớn đứng tên riêng,

2 Xem Khoa Lịch sử nửa thế kỷ xây dựng và phát triển (1956-2006) Nhà xuất bản Thế giới, từ trang 131 đến

537

Trang 2

Khoa Lịch sử lực lượng cán bộ giảng dạy có trên hai chục người3 (xem Phụ lục N.1) Trong tình hình đó, việc hình thành các nhóm như là phương thức chủ yếu để:

Xây dựng các giáo trình cơ bản.

Trước khi thành lập khoa, đã có các cuốn giáo trình của Đào Duy Anh: Lich sử

Việt Nam - từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX (xuất bản lần đầu tiên năm 1955), Cổ

sử Việt Nam (in lần đầu năm 1956), ba bộ Vũ trụ quan, Biện chứng pháp, Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu vốn được sọan trước đó Nhưng, từ khi thành lập khoa,

những bộ giáo trình được hình thành và xuất bản trong 10-15 sau đều do các nhóm (từ hai người trở lên) biên sọan

Bên cạnh số cán bộ - nhà văn hóa tiền bối, những nhà khoa học sáng lập khoa và trực tiếp giảng dạy, đào tạo: Đào Duy Anh (sinh năm 1904), Trần Văn Giàu (sinh năm 1911), Trần Đức Thảo (sinh 1917) là lớp học trò, đồng nghiệp trẻ cả tuổi đời và tuổi nghề như Đinh Xuân Lâm (sinh 1925), Vương Hoàng Tuyên, Kiều Xuân Bá (sinh 1926), Nguyễn Văn Sự (sinh 1928), Đặng Huy Vân (sinh 1930) còn đông đảo là kém các Thày hơn 20 tuổi trở lên: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng

-1934, Lê Mậu Hãn -1935, Phan Đại Doãn-1936, Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Vũ Dương Ninh - 1937)

Ngay từ khi mới về khoa, năm 1956, thày giáo trẻ Đinh Xuân Lâm (31tuổi)

đã “bị” GS Trần Văn Giàu “lôi” vào viết chung Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1897-1914;

tiếp sau đó, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận, Kiều Xuân Bá,

Hoàng Văn Lân cùng Trần Văn Giàu biên soan bộ Lịch sử Việt Nam cận đại

Nhóm cán bộ trẻ chưa đến “tam thập nhi lập” như Phan Huy Lê, Trần Quốc

Vượng, Hà Văn Tấn và khóa 1vừa tốt nghiệp năm 1959 như Phạm Thị Tâm, Trịnh Nhu, Phan Đại Doãn nhanh chóng “bị” các thày phân công theo nhóm, biên soạn

các bộ Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Lịch sử chê độ công xã nguyên thủy ở

Việt Nam

Tiếp sau, suốt thập niên sáu mươi, nửa đầu bẩy mươi của thế kỷ trước, cũng với cách thức đó, đội ngũ các nhà khoa học thuộc lớp đầu tiên này (có được bổ sung những cán bộ vào đầu những năm 19604) tập trung vào hoàn thành các bộ giáo trình

cơ bản khác như Lịch sử Việt Nam (xuất bản năm 1971), các bộ giáo trình Lịch sử

thế giới (xuất bản năm 1973)

1.2 Triển khai các chuyên khảo

Trừ hai cuốn Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ của Phan Huy Lê, Tình hình công thương nghiệp Việt Nam trong thời Lê mạt của Vương

3 Thời kỷ này ở Khoa Sử còn một đội ngũ cán bộ đông đảo trức tiêp làm công tác dich thuât, tư liêu giỏi tiếng Hán, tiếng Pháp góp phần quan trọng vào các hoạt đông nghiên cứu khoa học như : Trần Lê Hưu, Kiều Hữu Hỷ, Phùng Viễn Xương, Lê Quốc Túy, Đoàn Thăng, Nguyễn Đậu Tân,

4 Như : về khoa năm 1961 : Nguyễn văn Hồng, Diệp Đình Hoa , Năm 1962 : Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, Nguyễn Công Sử, Bùi Văn Hách, 1963 : Đặng Nghiêm Vạn , Hồ Gia Hường, Ca Lê Hiến, Hoàng Điệp, Bùi Văn Chép, Trần Bá Chí,

Trang 3

Hoàng Tuyên công bố năm 1959, còn lại các chuyên khảo của đội ngũ cán bộ giai đoạn này, qua những năm 60 trở đến những năm 70 là những công trình được hoàn

thành theo nhóm, tập thể nhóm- bộ môn, như: Hoàng Hoa Thám và phong trào

nông dân Yên Thế (xúất bản năm 1958) Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường

Tộ (1961), Khởi nghĩa Lam Sơn (1965) Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên -Mông ở thế kỷ XIII (1968), Việt Nam đất nước anh hùng (1975), Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc (1976)

Có thể nói, cách làm việc tổ chức theo nhóm tương ứng với các bộ môn: Lich

sử Viêt Nam cổ - trung đại, Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại, Khảo cổ học, Lịch sử Thế giới, Lịch sử Đảng CSVN để hoàn thành các giáo trình ban đầu, các chuyên khảo đã được hình thành, xác định vững chắc ngay từ đầu tiên của khoa Lich sử Và, hầu hết các giáo trình, các chuyên khảo đầu tiên của thế hệ đó, vượt qua thử thách

của thời gian, trở thành những công trình để đời mà nhiều năm sau thật khó vượt

qua được không chỉ về quy mô, hàm lượng khoa học, về tính khách quan sử học, độ tin cậy của nguồn tài liệu

2 Phương thức đó tiếp tục được khẳng định và phát huy trong thời kỳ Đổi mới – thời kỳ của trường Đại học KHXH& NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Một, hai năm sau 1975, cho đến cuối những năm 80, việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, các chuyên khảo trong hoàn cảnh khó khăn hơn của điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam thời hậu chiến Nhưng, phương thức tổ chức công

trình, các đề tài theo nhóm – bộ môn tiếp tục được duy trì, đã ra đời những: Chiến

thắng Bạch Đằng (1980), Danh nhân Nghệ Tĩnh (1980), Trên đất Nghĩa Bình (1988)

Hơn nửa thập niên đầu tiên của thời kỳ Đổi mới, nhất là từ những năm 90, thời kỳ ra đời của Đại học Quốc gia-Trường Đại học KHXH&NV đến nay, các hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai các đề tài các cấp nở rộ” Và, cũng chưa bao giờ, phương thức triển khai các công trình khoa học lớn theo tập thể nhóm sôi nổi, thực tế như vậy (xem Phụ lục)

Thời kỳ này, bên cạnh đội ngũ của thế hệ đầu tiên sung sức, dày thâm niên trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, ở khoa Sử đã có thêm những các nhà cán bộ giảng dạy ở lại công tác từ nửa đầu những năm 70- 80 , rồi lớp cán bộ giữ lại sau 1995 Phương thức làm việc theo nhóm nghiên cứu để hoàn thành:

2.1 Hàng loạt đề tài nghiên cứu khoa học, các hợp tác với các ngành, các địa phương trong nước và quốc tế.

Do đòi hỏi của thực tiễn kinh tế, văn hóa, xã hội, các đề tài nghiên cứu của khoa Lịch sử trong thời kỳ Đổi mới được đặt ra nhiều hơn, đa dạng hơn, liên ngành, rộng lớn hơn:

Trang 4

- Các vấn đề về thiết chế chính trị, về làng xã – nông dân – nông nghiệp, về nguồn sử liệu

- Các vấn đề về chủ quyền và an ninh quốc gia (lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, về Nam Bộ và biên giới Tây Nam)

- Tổng kết quá trình lịch sử và bài học kinh nghiệm của các ngành, đoàn thể, địa phương như Chính phủ, Quốc hội, các vấn đề về lịch sử và văn hoá Thăng Long – Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

- Những vấn đề cuả lịch sử tộc người, vùng miền, thời kỳ (Mạc, Lê - Trịnh, Nguyễn )

- Các quan hệ kinh tế- xã hội của Việt Nam qua các thời kỳ với khu vực và thế giới

(Xem phụ lục)

2.2 Các chuyên khảo : Bên cạnh việc xuất hiện ngày một tăng chuyên khảo của

một tác giả, vốn bắt đầu bằng/ từ các luận án, hay một phần luận án Phó Tiến sĩ, Tiến sĩ (TS,TSKH) được công bố5, còn lại các chuyên khảo được hình thành từ các

đề tài, các hợp đồng nghiên cứu khoa học từ cấp Thành phố đến Nhà nước đều là các sản phẩm của quá trình lao động theo nhóm

(Xem phụ lục)

*****

Hơn nửa thế kỷ, đã gần 200 lượt cán bộ giáo viên công tác, giảng dạy và nghiên cứu ở Khoa Lịch sử Với những công trình nghiên cứu khoa học lớn nhỏ khác nhau, lao động kiên trì, bền bỉ của các thế hệ đó đã tạo dựng lên thành quả, uy tín đào tạo và nghiên cứu khoa học của khoa, của trường- trung tâm nghiên cứu khoa học vào hàng đầu về khoa học lịch sử của quốc gia, khu vực, mà không ít người khẳng định: trường phái Sử học Đại học Tổng hợp!

54 năm đó, các họat động nghiên cứu khoa học, phục vụ đất nước, phục vụ chế độ, đào tạo cán bộ, các nhà khoa học ở khoa Sử đã tập trung thời gian, năng lực nhiều hơn vào các họat động nghiên cứu tập thể - theo nhóm, bộ môn, liên ngành Không trở thành khung hướng chủ yếu trong họat động nghiên cứu khoa học (về quá trình thời gian về số lượng tuyệt đối các giáo trình, các chuyên khảo, các vấn đề khoa học – kinh tế, xã hội đặt ra và giải quyết cũng như sự phát triển theo quá trình của các tiêu chí này)

5 Chẳng hạn : Hoàng Lương Hoa văn Thái- Nxb Văn hóa dân tộc H, 1988; Nguyễn Quang Ngọc Về một số

làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX Hội Khoa học Lich sử Việt Nam.H1993) Nguyễn Hải Kế Một làng việt cổ truyền ở Băc Bộ Nxb KHXH.1996

Lâm Bá Nam : Nghê dệt lụa cổ truyên ở đồng bằng Bắc Bộ Nxb KHXH, H.1999 Nguyễn Đình Lê : Biến đổi

cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 19541975 Nxb VHTT.H1999 Ngô Đăng Tri Vùng tự do Thanh – Nghệ -Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp , Nxb CTQG, H,2001, v.v…

Trang 5

Nếu so với các giáo trình, các chuyên khảo do cá nhân đảm nhiệm, không thể nói là không có những hy sinh những ham thích, cá tính riêng thâm chí là những thiệt thòi khi các nhà khoa học tập trung lao động vào các họat động này. 6

Trong điều kiện một đơn vị đào tạo, nghiên cứu khoa học xã hội của một đất nước còn nghèo về kinh tế, lại trải qua những biến động chính tri, kinh tế, xã hội đặc biệt dữ dội của Việt Nam và thời đại hơn nửa thế kỷ qua rất nhiều những điều có thể

kể ra (như: làm đề tài, hợp đồng để có thu nhập, cải thiện đời sống để tồn tại, để

vượt qua những eo hep tiền lương để góp phần nuôi nhau, để khỏi “nhàn cư vi bất

thiện”) Tuy nhiên với tư cách là một đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học, tư

cách người Thày- Nhà khoa học, thì quá trình tổ chức lao động, theo nhóm, bộ môn-rồi liên/xuyên ngành ấy,:nổi bật lên ít nhất 3 điều vô giá- lớn lao hơn tất cả với quá trình hơn 50 năm khoa Lich sử, và rộng hơn là với các khoa học Lịch sử của chế độ Việt Nam dân chủ công hòa, Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Thứ nhất : Đáp ứng những yêu cầu của quá trình giảng dạy, đào tạo (từ

những giáo trình, tập bài giảng đầu tiên), những đòi hỏi cần thiết của quá trình kinh tế xã hội của các khoa học lich sử trước tình hình thực tiễn của đất nước

và thời đại

Thứ hai : Rèn luyện và xây dựng bản lĩnh, năng lực khoa học của đội

ngũ kế tiếp

Là một cơ sở nghiên cứu, đào tạo, là một nhà giáo- nhà khoa học, hẳn điều quan trọng sống còn, quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của khoa, của ngành phụ thuộc đến quyết định vào việc xây dựng đội ngũ kế tiếp Hơn năm mươi năm qua nhờ / qua lao đông đó mà thế hệ những Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, rồi Vũ Dương Ninh, Phan Đại Doãn, Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Hồng đã kế thừa xứng đáng thế hệ Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu trong giảng dạy

nghiên cứu khoa học Nhờ đó mà lớp cán bộ giảng dạy ở lại khoa những năm 70-80

hiện nay hầu hết đã có học hàm GS, PGS, các nhà khoa học có uy tín được khẳng định 7, đang thực sự trở thành đội ngũ chủ lực chủ chốt trong tổ chức và triển khai các hoạt động nghiên cứu của khoa, của ngành lich sử Nhờ đó, mà lứa cán bộ dưới

35 hôm nay 8 của khoa đã nhanh chóng đứng trong đội hình, có năng lực cụ thể trong triển khai nghiên cứu khoa học, trong phối hợp nghiên cứu các đề tài, dự án

6 Hầu như chưa có các chuyên khảo , những bộ giáo trình, hay cụm công trình nổi tiếng – sản phấm của quá trình lao đông tập thể đó của khoa được giải thưởng Nhà Nước, giải thưởng Hồ chí Minh, Cao nhất là giải

thưởng công nghệ của Đại học Quốc gia năm 2005 là chuyên khảo Kháng chiến chống Nguyên- Mông của

Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm

7 Không kể số chuyển công tác khỏi Đại học Quốc gia, còn lại tương đương với khoảng 35-30-25 năm công tác tại trường Nhóm này ban đầu cũng chủ yêu tại các khoa trên, từ sau 1995 – thành lập trường Đại học KHXH& NV, vì yêu cầu phát triển của các ngành, chuyển sang các khoa như Báo chí, Du lich, Lưu trữ, Thư viện

8 Như Hoàng Anh Tuấn, Trần Thiện Thanh, Lý Tường Vân, Lê Quỳnh Nga, Đỗ Hương Thảo, Nguyễn Ngọc Phúc, Nguyễn Hoài Phương, Phạm Đức Anh, Đỗ Thùy Lan, Nguyễn Hồng Sơn,…

Trang 6

Thứ ba: Khoa Lịch sử luôn duy trì, củng cổ và phát huy được sức mạnh

khoa học của mỗi cá nhân, bộ môn, toàn khoa

Là hệ quả của hai điều trên, hơn nửa thế kỷ, với biết bao biến động, khoa

Lich sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hôm qua, Trường Đại học Khoa học

Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hôm nay luôn luôn là chốn đi – về của mỗi thành viên, thành điểm hội tụ, liên kết khó thay thế được của những cơ quan nghiên cứu lich sử văn hóa trong và ngoài nước, thành chỗ dựa tin cậy của đồng nghiêp; khẳng đinh và phát huy được sức mạnh của một trường phái đào tạo và nghiên cứu, phục vụ xã hội, phục vụ đất nước hội nhập quốc tế

NHK

PHỤ LỤC

N.I Đội ngũ cán bộ giảng dạy khoa Lich sử thâp niên đầu tiên

công tác

ở trường

Sách riêng

Sách viết chung

Ghi chú

Lịch sử Việt Nam gồm 5

bộ,

4 Nguyễn Văn Sự 1956 đến

1963

5

Trang 7

Tìm về cội nguồn” (2 tập) nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời trung đại, chủ yếu từ thế kỷ

XV đến thế kỷ XIX công bố từ năm 1959 đến 1966

7 Vương Hoàng Tuyên 1956 đến

1982

đến1969

1

đến 1966

3

10 Kiều Xuân Bá 1957 đến

1970

1

“Theo dấu các văn hoá

cổ”

1957-1969

5

Làng xã Việt Nam - Một vấn

đề kinh tế - văn hóa - xã hội

15 Vũ Dương Ninh 1959,

18 Nguyễn Dương Bình 1959 đến

1969

N.2 Một số giáo trình của Khoa Lich sử

xuât bản lần

Trang 8

1 Lich sử Việt Nam thời kỳ

1897-1914

Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm

2 Lich sử cận đại Việt

Nam

Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm Giáo dục, H

1959

3 Lich sử chế độ cộng san

nguyên thuỷ ở Việt Nam

Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng Giáo dục,

H.1960

4 Lịch sử chế độ phong

kiến Việt Nam Tập I

Trần Quốc Vương, Trịnh Nhu, Pham Thị Tâm

Giáo dục , H,

1960,

5 Lịch sử chế độ phong

kiến Việt Nam Tập II

Phan Huy Lê,

6 Lịch sử chế độ phong

kiến Việt Nam - Tập III

Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm

Phan Đại Doãn

Giáo dục, 1960;…

7 Lịch sử Việt Nam Cận

đại - Tập I

Trần Văn Giàu , Đinh Xuân Lâm Nguyễn Văn Sự,Kiều Xuân Bá

Giáo dục, H.1961

8 Lịch sử Việt Nam Cận

đại ( 3 tập )

Trần Văn Giàu Đinh Xuân Lâm, Đặng Huy Vận

Giáo dục, H.1961

9 Sơ yếu khảo cổ học

nguyên thuỷ Việt Nam (

Hà văn Tấn, Trần Quốc Vượng Giáo dục ,

H.1961)

10 Lich sử Cân đại Việt

Nam

Đinh Xuân Lâm, Giáo dục, H

1963

11 Lich sử Việt Nam Trần Quốc Vương, Phan Huy

Lê…

KHXH H.1970

12 Giáo trình lich sử thế

giới cổ đại

Trịnh Nhu,

13 Lich sư cận đại thê giới Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Gia

Phu,

Đại học Tổng hợp Hà Nội 1973

Diệp Đình Hoa

Đại học và THCN H1975,

15 Lich sử thế giới cổ

đại ,tập I

THCN H 1985

Trang 9

16 Lich sử thế giới Trung

đại

THCN H.1975

17 Lịch sử hiện đại thế giới

1917-1945

Nguyễn Huy Quý ( cb ) Đại học và

THCN H 1984

THCN 1991

THCN, H 1991

20 Dân tộc hoc đại cương Lê Sỹ Giáo ( cb)

Hoàng Lương, Lâm Bá Nam

Giáo dục , H.1995

21 Đại cương Lich sử thế

giơi cận đại – tập 2

Vũ Dương Ninh ( Cb) Giáo dục

H.1996

22 Cơ sở văn hóa Viêt Nam Trần Quốc Vượng ( cb )

Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

1996

23 Đại cương Lịch sử Việt

Na Tập III

Lê Mậu Hãn ( cb ) Giáo dục H

1997

24 Lich sử văn minh thế

giới

Vũ Dương Ninh ( cb ) Giáo dục

H1999

25 Đại cươnglịch sử Việt

Nam Tập I

Phan Đại Doãn ( cb) Giáo dục

H.1999

26 Tiến trình lịch sử Việt

Nam

Nguyễn Quang Ngọc ( cb) Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến

Giáo dục, H,2000

27 Môt số chuyên đề lich sử

thế giới

Vũ Dương Ninh ( cb ) ĐHQG

H2001

28 Giao trinh Lich sử Đảng

CSVN

Lê Mậu Hãn ( cb) Vũ Quang Hiển, Ngô Đăng Tri,

CTQG H.2005

29 Giáo trình Tư tưởng Hồ

Chí Minh

Lê Mậu Hãn ( Cb ), Vũ Quanh Hiển

CTQG H,2005

,….

Trang 10

N 4 Một số chuyên khảo ,

Tên công trình Các tác giả Nhà, năm xuất bản lần

đầu

phong trào đấu tranh

giải phóng đất nước vào

đầu thế kỉ XV

Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn

KHXH.H.1965,

xâm lược Nguyên Mông

thế kỉ XIII

Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm

KHXH, H 1968

3 Một số trân quyêt chiên

chiến lược trong lich sử

dân tộc

Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn,Pham thị Tâm , Trần Bá Chí

QĐND H.1976

Doãn, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc

5

N.5 Một số chuyên khảo từ các đề tài khoa học và công nghệ

bản

1 Các giá trị truyền

thống và con

người Việt Nam

hiện nay (Đề tài

cấp Nhà nước,mã

số KX.07.02)

1992-1995 Phan Huy Lê- Vũ Minh

Giang ( đồng Cb) Vũ Văn Quân, Lâm Bá Nam

HàNội,1994

chức quản lý

nông thôn Việt

Nam trong lich sư

Phan Đại Doãn,( Cb ) Nguyễn Văn Khánh,

CTQG H.1994

3 Hệ thống chính trị

trong lịch sử Việt

1993-1995 Vũ Minh Giang

Ngày đăng: 14/07/2015, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w