Nó chỉ mới là ýtưởng về sự hiệu quả của thị trường, mộtkhái niệm tương đối mới trong thời kì đó.Hơn nữa, lập luận cho rằng bong bóng xảy ra vì ngành tài chính đã bị chi phối bởi những “n
Trang 1The Global Financial Crisis and the Efficient Market Hypothesis:
What Have We Learned?
The sharp economic downturn and
turmoil in the financial markets,
commonly referred to as the “global
financial crisis,” has spawned an impressive
outpouring of blame Free market
economics—the idea that coordinated
political forces do not improve on the
“atomistic” actions of individuals—has come
under concerted attack The Efficient
Market Hypothesis (EMH)—the idea that
competitive financial markets ruthlessly exploit
all available information when setting security
prices— has been singled out for particular
attention
As one prominent example, market
trategist Jeremy Grantham has called the
EMH “responsible for the current
financial crisis” because of its role in the
“chronic underestimation of the dangers of
asset bubbles” by financial executives and
regulators.1 And in the prologue and
epilogue to his meticulously researched,
well-written, and best-selling history of
modern financial economics, The Myth of
the Rational Market, Justin Fox appears to
say much the same thing.2
The reasoning boils down to this: swayed
by the notion that market prices reflect all
available information, investors and
regulators felt too little need to look into
and verify the true values of publicly traded
Sự suy thoái kinh tế và sự rối loạn mạnh mẽtrong thị trường tài chính, hay còn gọi là
"khủng hoảng tài chính toàn cầu", đã tạo nênmột làn sóng quy đổ trách nhiệm Có ý kiếncho rằng do kinh tế thị trường tự do nên cáclực lượng chính trị không cải thiện đượcnhững hành động "nhỏ lẻ” của các cá nhân,dẫn đến bị tấn công tập trung Cũng có ý kiếncho rằng chính lý thuyết thị trường hiệu quả(EMH) khiến cho thị trường tài chính cạnhtranh, không ngừng khai thác triệt để mọithông tin có sẵn khi ấn định giá chứng khoándẫn đến bị khủng hoảng và ý kiến này đượcchú ý một cách đặc biệt
Một ví dụ nổi bật là nhà chiến lược thị
trường Jeremy Grantham cho rằng EMH phải "chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay" vì nó đã khiến cho các giám đốc tài chính và các nhà quản lý tài chính "đánh giá thấp tính nguy hiểm của bong bóng tài sản" Trong phần mở đầu và kết thúc của “The Myth of the Rational Market” - một
quyển sách được nghiên cứu rất chi tiết vàcũng được xem là bán chạy nhất trong lịch sửkinh tế tài chính hiện đại - Justin Fox, tác giảquyển sách, cũng cho rằng chính EMH lànguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính
Tất cả những lập luận trên đều nhắm đến lý
do là vì bị ảnh hưởng bởi quan điểm giá thị trường phản ánh tất cả các thông tin có sẵn nên các nhà đầu tư và nhà quản lý cảm thấy không cần thiết để quan sát và xác định giá trị thực của chứng khoán được giao dịch, do
Trang 2securities, and so failed to detect an asset
price “bubble.” The Turner Report by the
UK’s market regulator (discussed more fully
below) reaches a similar conclusion And in
a fit of soul-searching, the University of
Chicago Magazine asks: “Is Chicago School
Thinking to Blame?”3 These are but a
handful of the many accusations that have
been heaped on the EMH
I have argued in the past and will
argue below that the EMH—like all good
theories—has major limitations, even
though it continues to be the source of
important and enduring insights.4 Despite
the theory’s undoubted limitations, the
claim that it is responsible for the current
worldwide crisis seems wildly exaggerated
If the EMH is responsible for asset
bubbles, one wonders how bubbles could have
happened before the words “efficient market”
were first set in print—and that was not until
1965, in an article by Eugene Fama.5
Economic historians typically point to the
1637 Dutch tulip “mania” as the first such
event on record, followed by episodes like
the 1720 South Sea Company Bubble, the
Railway Mania of the 1840s, the 1926
Florida Land Bubble, and the events
surrounding the market collapse of 1929
But all of these episodes occurred well
before the advent of the EMH and modern
financial economic theory As the above list
suggests, unusually large price run-ups
followed by unusually large drops have
occurred throughout the recorded history of
organized markets It’s only the idea of
đó đã không loại trừ được bong bóng giá Turner Report (được thực hiện bởi các nhà quản lý thị trường của Anh) cũng đưa ra kết luận tương tự And in a fit of soul-searching, the University of Chicago Magazine asks: “Is
Chicago School Thinking to Blame?”3 Theseare but a handful of the many accusationsthat have been heaped on the EMH
Tôi đã và sẽ tiếp tục tranh luận rằng EMH giống như tất cả các lý thuyết – cũng có những hạn chế lớn, mặc dù nó vẫn là nền
-tảng để có một cái nhìn quan trọng và xuyên
suốt vấn đề Tuy lý thuyết này có những hạn chế nhưng nếu nói nó phải chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay thì
có vẻ hơi phóng đại.
Thị trường hiệu quả lần đầu tiên được biếtđến là vào năm 1965 trong bài báo củaEugene Fama Nếu nói EMH phải chịu tráchnhiệm vì đã tạo ra bong bóng tài sản thì câuhỏi đặt ra là làm thế nào mà bong bóng cóthể xảy ra ngay cả khi “thị trường hiệu quả”
còn chưa ra đời Các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế học cổ điển đã nhắc đến sự kiện Dutch tulip “mania”1637 như là một sự kiện đầu tiên đánh dấu bong bóng xuất hiện, tiếp theo là sự kiện bong bóng năm 1720 của South Sea Company, Railway Mania của những năm 1840, năm 1926 bong bóng bất động sản Florida, và các sự kiện xung quanh
sự sụp đổ thị trường của năm 1929 Tất cả những sự kiện này đều xảy ra trước khi EMH và lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại
ra đời Các sự kiện trên cho thấy, giá tăng cao bất thường và sau đó là rớt xuống đột ngột cũng bất thường, chuyện này đã xảy ra
Trang 3market efficiency that is relatively new to
the scene
Further, the argument that a bubble occurred
because the financial industry was
dominated by EMH-besotted
“price-takers”—that is, by people who viewed
current prices as correct and so failed to
verify true asset values—seems wildly at odds
with what we see in practice Almost all
investment money is actively managed,
despite all the evidence of academic and
industry studies showing that active
managers fail to beat the market in an
average year.6 Money flows into mutual
funds strongly follow past performance, as
if individual managers consistently beat the
market over time, and despite the evidence
that the past performance of most money
managers is a poor predictor of future
performance.7
Much of the enormous losses by banks
and investment banks in 2007-2008
originated in their trading desks and
proprietary portfolios, whose strategies and
very existence were premised on making
money from market mispricing Investors
who poured money into the property
market, stock market, and other asset
markets in the years while the “bubbles”
were forming seemed to do so in the belief
that prices would continue to rise, with the
implication that they believed current prices
were incorrect It seems inconsistent to argue
simultaneously that asset price “bubbles”
và được lịch sử ghi nhận Nó chỉ mới là ýtưởng về sự hiệu quả của thị trường, mộtkhái niệm tương đối mới trong thời kì đó.Hơn nữa, lập luận cho rằng bong bóng xảy ra
vì ngành tài chính đã bị chi phối bởi những
“người nhận giá” tin tưởng vào EMH đó lànhững người cho rằng mức giá hiện tại làđúng và do đó không thể đánh giá tài sảnđúng giá trị, điều này có vẻ mâu thuẫn vớinhững gì chúng ta thấy trong thực tế Hầunhư tất cả tiền đầu tư đều được quản lý mộtcách chủ động, mặc dù tất cả các bằng chứngnghiên cứu học thuật và nghiên cứu ngànhđều cho thấy rằng các nhà quản lý khôngđánh bại thị trường trong một năm bình quân.Dòng tiền chảy vào các quỹ tương hỗ mạnh
mẽ dựa vào những biểu hiện giá cả trong quákhứ, như thể các nhà quản lý cá nhân họ chắcchắn đánh bại thị trường theo thời gian, vàmặc cho những bằng chứng cho thấy rằngnhững kết quả trước đây của hầu hết các nhàquản lý tài chính là một yếu tố dự báo kém
về tương lai
Phần lớn các tổn thất to lớn của các ngânhàng và các ngân hàng đầu tư trong giai đoạn2007-2008 đều bắt nguồn từ trading desks vàdanh mục đầu tư riêng của họ, các chiến lược
và sự tồn tại của chúng là dựa trên việc kiếmtiền từ sự định giá sai thị trường Những nhàđầu tư đổ tiền vào thị trường bất động sản,thị trường chứng khoán và thị trường tài sảnkhác trong nhiều năm, trong khi các "bongbóng" đang hình thành với niềm tin rằng giá
sẽ tiếp tục tăng, điều đó có nghĩa là họ tinrằng mức giá hiện tại là không chính xác Có
vẻ như không chắc chắn lắm để khẳng định
Trang 4occur and that investors passively believe
current asset prices are correct Yet this is
precisely what many EMH critics have
claimed But if more homeowners,
speculators, investors, and banks had indeed
viewed current asset prices as correct, they
might not have bid them up to the same
extent they did, and the current crisis might
have been averted
The related argument that when asset prices
are rising rapidly their level is not subject to
scrutiny by investors also seems wildly at
variance with the facts Take the case of
then Fed Chairman Alan Greenspan’s 1996
use of the words “irrational exuberance.”
Despite its seemingly innocuous nature and
positioning in a long and otherwise
unheralded speech, the reference received
widespread media coverage both at the
time, and more or less continuously during
the decade before the financial crisis.8 When
my recent Google search of “Alan
Greenspan irrational exuberance speech”
yielded over six million hits,9 I had to ask
myself: Can we really believe that investors
were not aware of the possibility of a stock
market bubble?
Perhaps it is not surprising that blame for
the crisis has been leveled at the EMH
Many investors and employees have
incurred considerable losses, regulators have
lost face, and scapegoats are needed The
EMH is a natural candidate It sounds
academic It is not welcomed by most money
managers because it states what they are not
honest enough to admit to their clients: that
rằng "bong bóng" giá tài sản xảy ra một cáchđồng thời với việc các nhà đầu tư tin mộtcách thụ động rằng giá tài sản hiện nay làchính xác Tuy nhiên điều này là chính xácvới những gì nhiều nhà phân tích EMH đãtuyên bố Nhưng nếu có nhiều chủ sở hữunhà, các nhà đầu cơ, nhà đầu tư và các ngânhàng đã thực sự xem giá tài sản hiện nay làđúng, họ có thể không trả giá họ lên cùngmức độ họ đã làm, và cuộc khủng hoảng hiệnnay có thể đã được ngăn chặn
Một lập luận liên quan nữa là giá tài sản đangtăng nhanh chóng nhưng mức độ tăng của nókhông chịu sự giám sát của chủ đầu tư cũng
có vẻ không đúng sự thật Lấy trường hợpcủa sau đó Chủ tịch FED Alan Greenspan
1996 sử dụng cụm từ "sự thịnh vượng khônghợp lý" Mặc dù bản chất có vẻ vô hại của nó
và nằm trong một bài phát biểu dài và nếukhông được báo trước, bài phát biểu đượcđưa tin cả hai phương tiện truyền thông phổbiến vào thời điểm đó, và ít nhiều liên tụctrong thập kỷ trước khi khủng hoảng tàichính xảy ra Khi tìm kiếm Google gần đâycủa tôi "Alan Greenspan phát biểu thái quá
vô lý" mang lại hơn sáu triệu lượt truy cập,tôi đã phải tự hỏi: chúng ta có thể thực sự tinrằng nhà đầu tư đã không nhận thức đượckhả năng bong bóng của thị trường chứngkhoán xuất hiện?
Có lẽ cũng không ngạc nhiên lắm khi mọitrách nhiệm về cuộc khủng hoảng đều đang
đổ về cho EMH Nhiều nhà đầu tư và ngườilao động đã phải gánh chịu nhiều thiệt hại,nhà quản lý đã bị mất mặt, và một con dê tếthần bây giờ là điều cần thiết EMH là một
Trang 5they operate in a fiercely competitive world,
populated by a large number of capable and
ambitious people just like themselves, and
thus superior investment returns are generally
(though not exclusively) attributable more to
luck than insight To justify their fees, active
money managers have to argue they are
“above average” and consistently beat the
market, but the EMH—and the body of
empirical studies supporting it—suggests
otherwise The theory is also viewed with
skepticism by many (if not most) of the
large number of MBA students who launch
forth into the world every year, each
believing—as the behavioral studies tell us—
that he or she is substantially above average,
even though they are their own future
competition The idea that it is hard to earn
excess returns in a competitive market also
threatens the lucrative market for an
astonishing range of “get-rich-quick”
consultancies and treatises In my experience,
people whose living derives from commenting
authoritatively on the actions of others—
notably, academics, financial advisers,
consultants, journalists, and book authors—
are more inclined than most to view others as
less rational than themselves.10 So the notion
of market efficiency is a natural target for
blame
Asset bubbles are not a well-understood
phenomenon in general Many serious
economists have challenged the use of the
term, other than in the ex post sense of denoting
episodes in which prices rose and then fell by
substantial amounts Trying to pin such
episodes on the EMH therefore does not
ứng cử viên Nghe có vẻ hàn lâm Nó khôngđược chào đón bởi hầu hết các nhà quản lýtài chính bởi vì nó chỉ ra những điều mà họ
đã không thành thật thú nhận với khách hàngcủa họ: rằng họ hoạt động trong một thế giớicạnh tranh khốc liệt, nơi mà có rất nhiềungười có khả năng và tham vọng giống như
họ, và do đó đầu tư để đạt lợi nhuận cao nóichung (mặc dù không hoàn toàn) hầu như là
do may mắn hơn so với cái nhìn sâu sắc Đểbiện minh cho tiền thưởng của họ, các nhàquản lý tài chính khôn ngoan đã lập luậnrằng lợi nhuận "trên trung bình" và họ liêntục đánh bại thị trường, nhưng EMH chothấy điều ngược lại Lý thuyết này cũng bịhoài nghi bởi nhiều sinh viên MBA nhữngngười mà sau khi ra trường đều tin rằng lợinhuận của họ đều trên mức trung bình, mặc
dù đó là trận đấu của học trong tương lai Có
ý kiến cho rằng rất khó để kiếm được lợinhuận cao trong một thị trường cạnh tranh vànhững mối đe dọa cho thị trường béo bở khimuốn "làm giàu nhanh chóng" Theo kinhnghiệm của tác giả, những người sống nhờvào việc nhận xét hành động của người khác,đáng chú ý là, các học giả, chuyên gia tư vấntài chính, tư vấn, nhà báo và các nhà viếtsách – thiên nhiều hơn về việc xem cách nhìncủa những người khác là ít hợp lý hơn mình
Vì vậy, khái niệm thị trường hiệu quả là mộtmục tiêu đương nhiên cho việc đổ lỗi
Bong bóng tài sản không phải là một hiệntượng được hiểu rõ nói chung Nhiều nhàkinh tế đã nghiêm túc thách thức việc sửdụng các thuật ngữ, “ex post” trong bài có ýnghĩa là giá tăng và sau đó giảm một lượng
đáng kể Trying to pin such episodes on the
Trang 6strike me as a very constructive exercise To
my mind there is less drama, but more
insight, to be gained by examining what the
crisis tells us about the efficient markets
theory Does the rapid and substantial fall in
prices that occurred across countries and asset
classes invalidate the notion of market
“efficiency”? Or does it merely serve to remind
us of its considerable limitations as a theory to
help us understand the behavior of asset
prices? If so, then what are those
limitations?
EMH therefore does not strike me as a very
constructive exercise To my mind there is
less drama, but more insight, to be gained
by examining what the crisis tells us about the efficient markets theory Có phải sự rớt
giá nhanh chóng và đáng kể mà xảy ra ở các nước và giá của các loại tài sản đã làm mất hiệu lực các khái niệm của thị trường "hiệu quả"? Hay nó chỉ đơn thuần để nhắc nhở chúng ta về những hạn chế đáng kể của nó như là một lý thuyết để giúp chúng ta hiểu hành vi của giá tài sản? Nếu vậy, thì những hạn chế là gì?
What Does the EMH Say?
The basic idea behind the EMH is
deceptively simple It merges two insights
The first is one of the simplest and most
powerful insights of economics, the notion
that competition enforces a correspondence
between revenues and costs If profits are
excessive, new entry reduces or eliminates
them The second insight, which is Gene
Fama’s, is to view changes in asset prices as a
function of the flow of information to the
marketplace Putting these two insights
together leads to the EMH, which I interpret
as saying just this: competition among
market participants causes the return from
using information to be commensurate with
its cost
This fundamental idea leads directly to a
startling—and testable—prediction about
financial markets’ reactions to publicly
released and widely-disseminated
information, such as corporate quarterly
earnings reports In competitive
Có gì EMH Say?
Ý tưởng cơ bản đằng sau EMH rất đơn giản
Nó kết hợp hai quan điểm Đầu tiên là một
trong những kiến thức đơn giản nhất và mạnh
mẽ nhất của kinh tế, quan điểm cho rằng sự cạnh tranh là một sự liên quan mạnh mẽ
giữa doanh thu và chi phí If profits are
excessive, new entry reduces or eliminates them Nhận thức thứ hai, đó là Gene Fama,
là để xem các sự thay đổi trong giá tài sản như là phụ thuộc dòng chảy của thông tin vào thị trường Đưa hai hiểu biết này lại với
nhau dẫn đến EMH, mà tôi giải thích như nói
chỉ này: cạnh tranh giữa các thành viên
tham gia thị trường tạo ra lợi nhuận từ việc
sử dụng thông tin sao cho tương xứng với chi phí của nó
Ý tưởng cơ bản này dẫn trực tiếp đến một dựđoán đáng ngạc nhiên và có thể kiểm chứng
về phản ứng của thị trường tài chính khithông tin được công khai và phổ biến rộngrãi, chẳng hạn như các báo cáo lợi nhuận
hàng quý của công ty Trong trạng thái cân
Trang 7equilibrium, the gains from exploiting
public information should correspond to the
cost of exploiting it But to a first
approximation, public information is costless
to obtain, and hence the gains from its use
should be competed away to zero From this
comes the prediction that one cannot expect
to earn above-normal returns from using
publicly available information because it
already is reflected in prices
Simple as it might seem in hindsight, this
reasoning was revolutionary at the time
While it was not by any means a complete
description of how security prices behave,
and its deficiencies became more apparent
over time, the EMH irreversibly changed the
thinking of not only economists— but of a
great many practitioners—about how
securities markets behave
bằng cạnh tranh, lợi nhuận từ khai thác thông tin công khai phải tương ứng với chi phí khai thác nó Tuy nhiên, để một xấp xỉ đầu tiên, thông tin công cộng là không tốn kém để có được, và do đó lợi nhuận từ việc
sử dụng nó nên khác không Từ đây dẫn đến
dự đoán rằng người ta không thể mong đợi
để kiếm được lợi nhuận trên bình thường từ việc sử dụng thông tin công bố có sẵn bởi vì
nó đã được phản ánh vào giá
Đơn giản vì nó có vẻ như sự nhận thức muộn
màng, lý luận này là mang tính cách mạng vào thời điểm đó Trong khi đó không có bất
kỳ một phương tiện nào có thể mô tả đầy đủ
về việc giá chứng khoán thay đổi thế nào, và thiếu sót của nó trở nên rõ ràng hơn theo thời gian, EMH không thể thay đổi tư duy của không chỉ các nhà kinh tế mà còn của rất nhiều practitioners, về cách ứng xử của thị trường chứng khoán.
What Doesn’t the EMH Say?
The EMH has been the subject of so much
misunderstanding that outlining some of the
things the hypothesis does not say occupies
considerably more space than what it does
say
EMH không nói điều gì?
EMH đã là chủ đề của rất nhiều sự hiểu lầm
vì những điều mà nó không đề cập đến chứkhông phải là những điều mà nó nói
1 No one should act on information.
What would happen if all investors
passively indexed their portfolios?
Obviously, the market would cease to be
efficient, because no investors would be
acting to incorporate information into
prices This has been a source of
misunderstanding from the outset The
1 Không ai nên hành động trên thông tin Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một nhà đầu tư thụđộng lập danh mục đầu tư của họ? Rõ ràng,thị trường sẽ không còn là hiệu quả, bởi vìkhông một nhà đầu tư nào sẽ hành động đểkết hợp thông tin vào giá cả Đây là mộtnguồn gốc của sự hiểu lầm ngay từ đầu Sựhiểu lầm xuất phát từ thuật ngữ “hiệu quả”
Trang 8misunderstanding arises from confusing
efficiency as a statement about the
equilibrium resulting from investors’ actions
with the actions themselves Hair salons
operate in a fiercely competitive market,
and the average salon is not expected to
make abnormal returns That does not say
all salons should stop cutting hair
Investors act on information in a fiercely
competitive market, and the average investor
is not expected to make abnormal returns
That does not say all investors should stop
acting on information
Yet this is the essence of the claim that market
participants were seduced into believing that
since market prices already reflected all
available information, there was nothing to
gain from producing information and, as a
consequence, security prices were allowed to
deviate substantially from their true values
The critique confuses a statement about an
equilibrium “after the dust settles” and the
actions required to obtain that equilibrium
mà hiệu quả tức là cân bằng mà cân bằng cóđược là từ kết quả hành động của nhà đầu tưvới các hành động của mình Tiệm làm tóchoạt động trong một thị trường cạnh tranhkhốc liệt, và các thẩm mỹ viện trung bình dựkiến sẽ không làm cho lợi nhuận bất thường.Điều đó không nói rằng tất cả các tiệm cắttóc nên ngưng hoạt động Các nhà đầu tưhành động dựa trên thông tin trong thị trườngcạnh tranh khốc liệt, các nhà đầu tư trungbình sẽ không có kỳ vọng là đạt được tỷ suấtsinh lợi bất thường Điều đó không nói rằngtất cả các nhà đầu tư nên dừng lại hành độngtrên thông tin
Tuy nhiên, những người tham gia thị trườngtin rằng vì giá thị trường đã phản ánh tất cảcác thông tin có sẵn nên sẽ không đạt được gì(không tạo ra lợi nhuận) từ việc tạo ra thôngtin và, như một hệ quả, giá chứng khoánđược phép đi chệch đáng kể so với giá trịthực sự của nó Các nhà phê bình lẫn lộn vềđịnh nghĩa trạng thái cân bằng "sau khi mọiviệc đã được giải quyết" và những hành độngcần thiết để có được trạng thái cân bằng đó
2 The market should have predicted the
crisis.
The EMH does not imply that one can—or
should be able to—predict the future course
of stock prices generally, and crises in
particular Exactly the opposite: if
anything, the hypothesis predicts we should
not be able to predict crises If we could
predict a market crash, current market prices
would be inefficient because they would not
reflect the information embodied in the
2 Thị trường nên dự đoán khủng hoảng
EMH không nói rằng một người có thể hay nên dự đoán giá trong tương lai của cổ phiếu nói chung, và đặc biệt là khủng hoảng Hoàn toàn ngược lại: chúng ta không nên dự đoán các cuộc khủng hoảng Nếu chúng ta
có thể dự đoán sự sụp đổ của thị trường, giá
cả thị trường hiện tại sẽ không còn hiệu quả bởi vì chúng sẽ không phản ánh những thông tin thể hiện trong dự đoán
Trang 9Furthermore, the existence but
unpredictability of large market events is
consistent with the work of Fama himself
and Benoît Mandelbrot on so-called
“Paretian return” distributions—that is,
distributions of possible outcomes that have
“fat tails,” or more frequent extreme
observations than expected from the
more-familiar bell-shaped “normal curve.”11
Under the EMH, then, one can predict that
large market changes will occur, but one
can’t predict when
Hơn nữa, sự tồn tại của những sự kiện lớn
mà ta không thể dự đoán được mà theonghiên cứu của Fama và Benoît Mandelbrot
về phân phối “Paretian return” thì phân phốicủa các kết quả có "fat tails", hoặc quan sátcực thường xuyên hơn so với dự kiến từ hìnhchuông quen thuộc hơn "đường cong bình
thường." Với EMH, sau đó, người ta có thể
dự đoán rằng thị trường sẽ có thay đổi lớn, nhưng người ta không thể dự đoán được là khi nào.
3 The stock market should have known
we were in an asset “bubble.”
It is easy to identify bubbles after the fact,
but notoriously difficult to profit from them
For example, let’s go back to Alan
Greenspan’s famous reference to “irrational
exuberance.” The speech was given on
December 5, 1996, a day on which the Dow
Jones closed at 6437 If that statement is
taken to mean that prices were too high at
the time, the clear implication is that by
today—when we all know how inefficient
the market is and how irrationally exuberant
we were 13 years ago, and after we have had
ample opportunity to change our behavior in
response to that knowledge—there should
have been a substantial price correction
But at the time of this writing, the Dow is
near 10,000, a full 50% higher than when
Greenspan spoke.12 In other words, after 13
years to reflect on Greenspan’s warning,
investors are not acting as if there was a
bubble when he sounded the warning
3 Thị trường chứng khoán nên nhận biếtđược bong bóng tài sản
Rất dễ dàng để xác định bong bóng sau một
sự kiện, nhưng rất khó khăn để kiếm lời từ chúng Chúng ta quay lại bài phát biểu nổi tiếng của Alan Greenspan về "tăng trưởng bất hợp lý" Bài phát biểu được đưa ra vào ngày
05 tháng 12 năm 1996, một ngày mà chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 6437 Nếu bài phát biểu được thực hiện để có nghĩa là giá quá cao vào thời điểm đó, hàm ý rõ ràng là
ngày hôm nay, khi tất cả chúng ta biết hiệuquả thị trường không hợp lý như thế nàotrong 13 năm qua và sau đó chúng ta đã cónhiều cơ hội để thay đổi hành vi – vì thế nên
có một sự điều chỉnh giá đáng kể Tuy nhiên,tại thời điểm viết bài này, chỉ số Dow Jones
là gần 10.000, cao hơn 50% so với khiGreenspan phát biểu.12 Nói cách khác, sau
13 năm để suy nghĩ về cảnh báo củaGreenspan, các nhà đầu tư đã không hànhđộng như thể có một bong bóng khi ông lên
Trang 10Asset price bubbles, or episodes in which
prices rise and then fall by substantial
amounts, are much easier to spot using
hindsight than they are to predict I like to
ask a simple question of people who believe
that most stock market investors ignored a
pre-crisis bubble that burst in 2007-08 My
question is whether, prior to the crisis, they
personally had withdrawn from the stock and
real estate markets and put their wealth into
cash instead To my mind, this is the only
reliable test of whether they believed there
was a bubble and distrusted market prices at
the time In my limited experience few
withdrew much By this test, I—a financial
economist skeptical about the possibility of
identifying asset bubbles except in
hindsight—seem to have been more wary
of a bubble than the people who blame
“the market” (but not themselves) for
creating it
tiếng cảnh báo
Bong bóng giá tài sản, hoặc các giai đoạn, trong đó giá cả tăng lên và sau đó giảm một lượng đáng kể, được dễ dàng được nhận thấy
mà không cần suy dự đoán hơn để phát hiện
sử dụng nhận thức hơn là dự đoán Liệu những người mà trước cuộc khủng hoảng 2007-08 đã lơ đi trước sự xuất hiện của bong bóng họ có rút khỏi thị trường chứng khoán cũng như thị trường BĐS và chuyển toàn bộ tài sản của họ thành tiền mặt hay không? Điều này chỉ để kiểm tra xem liệu họ có tin
là có bong bóng và không tin tưởng vào giá
cả thị trường vào thời điểm đó hay không.
Và với kinh nghiệm có giới hạn của mình, tác giả cho rằng có và cả chính ông người luôn nghi ngờ về sự tồn tại của việc có thể xác định được bong bóng tài sản lúc này có
vẻ đã suy nghĩ thận trọng về bong bóng tài sản hơn những người chỉ biết đổ lỗi cho thị trường mà không hề nghĩ rằng chính họ mới
là người tạo ra điều đó.
4 The collapse of large financial
institutions indicates the market is
inefficient.
George Soros, in his most recent book, has
opined: “On a deeper level, the demise of
Lehman Brothers conclusively falsifies the
efficient market hypothesis.”13 I would
have thought the opposite To me,
Lehman’s demise conclusively demonstrates
that, in a competitive capital market, if you
take massive risky positions financed with
extraordinary leverage, you are bound to lose
big one day—no matter how large and
venerable you are Market efficiency does not
4 Sự sụp đổ của các tổ chức tài chính lớncho thấy thị trường không hiệu quả
George Soros, trong cuốn sách mới nhất của ông, đã phát biểu: "Với mức độ sâu hơn, sự sụp đổ của Lehman Brothers đã bóp méo kết luận giả thuyết thị trường hiệu quả."13 Tôi đã nghĩ ngược lại Đối với tôi, sự sụp đổ của Lehman đã chứng minh rằng, trong một thị trường vốn cạnh tranh, nếu bạn chọn sự nguy hiểm với đòn bẩy tài chính bất thường,
có nghĩa là bạn có thể sẽ thua to một ngày, mặc cho bạn tầm cỡ và đáng kính như thế nào Hiệu quả thị trường không dự đoán được rằng sẽ không có thất bại của các ngân
Trang 11predict there will be no spectacular failures of
large banks or investment banks If anything,
it predicts the opposite—that size and
venerability alone will not guarantee you
positive abnormal returns, and will not
protect you from the forces of competition
hàng lớn hoặc các ngân hàng đầu tư Nếu bất cứ điều gì, nó dự đoán ngược lại, rằng quy mô và danh tiếng sẽ không đảm bảo cho bạn lợi nhuận bất thường tích cực, và sẽ không bảo vệ bạn được trước các đối thủ cạnh tranh.
5 The EMH assumes that return
distributions do not change over time.
The EMH is completely silent about the
shapes of the distributions of securities’
returns Indeed, I will argue below that this
is one of the principal limitations of the
theory This has been a glaring hole in
“modern” financial economic theory in
general, going all the way back to Irving
Fisher’s work on the discounted present
value model a century ago The EMH does
not imply that past return distributions—
including statistics such as means, variances,
skewness, and correlation matrices—will
mechanically repeat themselves in the future
What the EMH does say about return
distributions is that, given a certain amount
and kind of publicly available information,
security prices are “efficient” in the
statistical sense that they are
“minimum-variance” forecasts of future prices In other
words, to the extent that a price has already
adjusted to the available information, no
future price reaction to that information is
necessary, and the investor is not exposed to
future price variability arising from that source
By contrast, a market that adjusts only
partially to information when it arrives
leaves the investor exposed to further
reaction at a later date, thereby resulting in
5 EMH giả định rằng phân phối lợi nhuậnkhông thay đổi theo thời gian
EMH là không bàn về về hình dạng của các phân phối lợi nhuận của chứng khoán Thật vậy, đây là một trong những hạn chế cơ bản của lý thuyết Điều này đã được một lỗ hỏng
rõ ràng trong lý thuyết kinh tế tài chính "hiệnđại" nói chung, trở lại với Irving Fisher vào
mô hình giá trị hiện tại đã được chiết khấu
của một thế kỷ trước EMH không có nghĩa
là phân phối của lợi nhuận trong quá khứ bao gồm các số liệu thống kê như trung bình, phương sai, skewness và ma trận tương quan
- sẽ lặp lại trong tương lai Những gì EMH nói về phân phối của tỷ sau61t sinh lợi là, với một số tiền nhất định cho trước và loại thông tin công bố công khai, giá chứng khoán là "hiệu quả" trong ý nghĩa thống kê rằng chúng là dự báo "phương sai tối thiểu" về giá trong tương lai Nói cách khác, đến mức giá đã điều chỉnh theo các thông tin có sẵn, không có phản ứng giá trong tương lai thông tin đó là cần thiết, và nhà đầu tư không được tiếp xúc với biến đổi giá trong tương lai phát sinh từ nguồn đó Ngược lại, một thị trường
mà điều chỉnh chỉ một phần thông tin thì khi
nó đến để lại các nhà đầu tư tiếp cận với
phản ứng thêm vào một ngày sau đó, do đó
dẫn đến thay đổi quá nhiều, và do đó giá cả
"không hiệu quả"
Trang 12excessive variability, and hence “inefficient”
prices
In sum, the EMH says nothing about the
stationarity over time of return distributions
There is no deus ex machina in securities
markets that ensures the stability of such
variables, no economic forces that
mechanically draw security returns like
lottery numbers every day from the same
barrel Quite the contrary: there is
considerable evidence that risk in
particular is “non-stationary” to an
important degree So if financial
economists—or math and physics majors
with little appreciation of long-term
economic history posing as financial
economists—calculate future risks entirely
from recent historical data, they do so as an
act of belief rather than theory, and they
ignore evidence contrary to that belief One
cannot blame the EMH for such practices
Yet the EMH is cited as playing a major
role in the crisis in the Turner Review, a
post mortem report issued by the U.K.’s
market regulator at the request of the
Chancellor of the Exchequer Consider this
summary of the report’s conclusions on
market efficiency:
At the core of these assumptions has been the
theory of efficient and rational markets Five
propositions with implications for regulatory
approach have followed:
(i) Market prices are good indicators of
rationally evaluated economic value.
Tóm lại, EMH không nói gì về tính dừng
theo thời gian của phân phối lợi nhuận.
Không có deus ex machina (một kết thúc bất
ngờ) nào trong thị trường chứng khoán đảm bảo sự ổn định của các biến như vậy, không
có công cụ kinh tế nào có thể vẽ lợi nhuận
chứng khoán như số xổ số hàng ngày Quite
the contrary: there is considerable evidence that risk in particular is “non-stationary”
to an important degree So if financial
economists—or math and physics majorswith little appreciation of long-termeconomic history posing as financialeconomists—calculate future risks entirelyfrom recent historical data, they do so as anact of belief rather than theory, and theyignore evidence contrary to that belief Onecannot blame the EMH for such practices.Tuy nhiên, EMH được xem là đóng một vaitrò quan trọng trong cuộc khủng hoảng theoTurner Review, một báo cáo thám thính thịtrường của Vương quốc Anh theo yêu cầucủa các Bộ trưởng Tài Chính Hãy xem xétbản tóm tắt này kết luận của bản báo cáo vềhiệu quả thị trường:
Cốt lõi của các giả định này chính là lýthuyết thị trường hiệu quả và hợp lý Có nămkiến nghị theo quan điểm của các nhà làmchính sách như sau:
(i) giá thị trường là chỉ số tốt về giá trị kinh
Trang 13(ii) The development of securitised credit, since
based on the creation of new and more liquid
markets, has improved both allocative efficiency
and financial stability.
(iii) The risk characteristics of financial
markets can be inferred from mathematical
analysis, delivering robust quantitative
measures of trading risk.
(iv) Market discipline can be used as an
effective tool in constraining harmful risk
taking.
(v) Financial innovation can be assumed to be
beneficial since market competition would
winnow out any innovations which did not
deliver value-added.
Each of these assumptions is now subject to
extensive challenge on both theoretical and
empirical grounds, with potential implications
for the appropriate design of regulation and for
the role of regulatory authorities.
Only the first of these five
propositions bears any resemblance to the
simple notion of efficient price responses to
information The third proposition—that
market efficiency implies there are “robust
quantitative measures of trading risk”—
involves a considerable exaggeration of the
theory’s prescriptive import
hiệu quả phân bổ và ổn định tài chính (iii) Các đặc tính rủi ro của thị trường tài chính có thể được suy ra từ phân tích toán học, cung cấp các biện pháp định lượng vững của các rủi ro kinh doanh
(iv) Quy luật thị trường có thể được sử dụng như một công cụ hiệu quả trong việc kìm hãm sự chấp nhận rủi ro
(v) đổi mới tài chính có thể được giả định là
có lợi vì cạnh tranh thị trường sẽ loại bỏ những cải cách nào không mang lại giá trị gia tăng
Mỗi một giả định bây giờ là tùy thuộc vào thách thức sâu rộng trên cả hai cơ sở lý thuyết và thực nghiệm, với những tác động tiềm năng cho việc thiết kế phù hợp của quy định và cho vai trò của cơ quan quản lý Chỉ có kiến nghị đầu tiên là trùng với khái niệm đơn giản về giá cả hiệu quả tương ứng với thông tin Các đề xuất, mà hiệu quả thị trường kiến nghị thứ ba – thị trường hiệu quả nói rằng ám chỉ có "các biện pháp định lượng vững của các rủi ro kinh doanh" – liên
quan đến một cường điệu đáng kể nhập khẩuquy tắc của lý thuyết
6 Financial regulators mistakenly relied
on the EMH.
The crisis has prompted many to conclude
that financial regulators were excessively lax
in their market supervision, due to a
6 Nhà quản lý tài chính sai lầm khi dựa vàoEMH
Cuộc khủng hoảng đã khiến nhiều người kếtluận rằng quản lý tài chính là quá lỏng lẻotrong việc giám sát thị trường, do một niềm
Trang 14mistaken belief in the EMH This
conclusion is made explicit in the UK’s
Turner Review Perhaps not surprisingly, the
report advocates more regulation.15 It reasons
as follows:
The predominant assumption behind financial
market regulation—in the US, the UK and
increasingly across the world—has been that
financial markets are capable of being both
efficient and rational and that a key goal of
financial market regulation is to remove the
impediments which might produce inefficient
and illiquid markets… In the face of the worst
financial crisis for a century, however, the
assumptions of efficient market theory have been
subject to increasingly effective criticism.
This characterization of what the EMH
implies for regulators makes sense in one
respect If the market does a good job of
incorporating public information in prices,
regulators can focus more on ensuring an
adequate flow of reliable information to
the public, and less on holding investors’
hands Consistent with this view, in recent
decades there does appear to have been
increased emphasis by regulatory bodies
worldwide on ensuring adequate and fair
public disclosure
Otherwise, the characterization of the
role of the EMH in the crisis falls short of
the mark If regulators had been true
believers in efficiency, they would have been
considerably more skeptical about some of
the consistently high returns being reported
by various financial institutions If the
tin sai lầm trong EMH Kết luận này đượcthực hiện rõ ràng trong the UK’s TurnerReview Có lẽ cũng không đáng ngạc nhiênkhi báo cáo ủng hộ nhiều cho những nhàquản lý Nó lý luận như sau:
Giả định chủ yếu đằng sau sự quản lý thị trường tài chính, tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và phát triển ra thế giới rằng thị trường tài chính có khả năng đạt được cả hai: hiệu quả và hợp lý và mục tiêu chính của điều tiết thị trường tài chính là để loại bỏ những trở ngại mà có thể gây ra thị trường không hiệu quả và không có tính thanh khoản Đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong một thế kỷ, tuy nhiên, các giả định của lý thuyết thị trường hiệu quả ngày càng
bị chỉ trích.
Đặc tính này của những gì EMH hàm ý chonhà quản lý có ý nghĩa trong một sự tôntrọng Nếu thị trường thực hiện tốt nhiệm vụcủa nó trong việc kết hợp công khai thông tin
về giá cả, nhà quản lý có thể tập trung hơnvào việc đảm bảo một dòng chảy đầy đủ cácthông tin đáng tin cậy cho công chúng, và íthơn trong việc quản lý các nhà đầu tư Phùhợp với quan điểm này, trong những thập kỷgần đây, dường như đã được nhấn mạnh bởi
cơ quan quản lý trên toàn thế giới trong việcđảm bảo đầy đủ và hợp lý công bố công khai.Nếu không, các đặc tính của vai trò của EMHtrong cuộc khủng hoảng giảm ngắn của nhãn
hiệu Nếu các nhà quản lý tin vào sự hiệu quả, họ sẽ hoài nghi hơn về một số lợi nhuận cao trong báo cáo của các tổ chức tài chính khác nhau Nếu thị trường vốn đang cạnh
Trang 15capital market is fiercely competitive, there
is a good chance that high returns are
attributable to high leverage, high risk,
inside information, or dishonest accounting
True believers in efficiency would have looked
more closely at the leverage and risk-taking
positions of Lehman Brothers, Bear Sterns,
AIG, Freddie Mac and Fannie Mae, and
banks and investment banks generally They
might have questioned the source of the
trading profits of hedge funds like Galleon,
and discovered some using inside
information And they would have been
exceptionally skeptical of the surreally high
and stable returns reported over an extended
period by Bernie Madoff.17
tranh khốc liệt, có một cơ hội tốt mà lợi nhuận cao thì sẽ có đòn bẩy cao, rủi ro cao, thông tin nội bộ, hoặc kế toán không trung thực Những người tin vào sự hiệu quả đã có thể nhìn thấy kỹ hơn các đòn bẩy và rủi ro vị trí của Lehman Brothers, Bear Stearns, AIG, Freddie Mac và Fannie Mae, và các ngân hàng và các ngân hàng đầu tư nói chung Họ
có thể đã đặt câu hỏi về nguồn gốc của lợi nhuận kinh doanh của các quỹ đầu tư như Galleon, và phát hiện ra ai đó đã sử dụng thông tin nội bộ Và họ sẽ hoài nghi về lợi nhuận cao và ổn định một cách kì lạ trong báo cáo của Bernie Madoff trong 1 thời gian dài.
Some Lessons from the Financial Crisis
So, what have we learned about market
efficiency from the financial crisis? The
short answer is: some things we should
have known beforehand
1 A Theory is Just a Theory
First and foremost, the episode highlights
that a theory is just that—a theory It is not
a fact It is an abstraction from reality It is
an abstraction that we hopefully find useful
when organizing our thoughts and actions,
but no theory is perfect As Thomas Kuhn,
the well-known historian of science,
reminds us, all theories have
“anomalies”—facts or findings that the
theories cannot explain No theory can or
should totally determine our thoughts or
our actions People who take theories
literally are in for a disappointment
Một số bài học từ cuộc khủng hoảng tàichính
Vậy, chúng ta đã học được những gì về thịtrường hiệu quả từ cuộc khủng hoảng tàichính? Câu trả lời ngắn gọn là: một số điềuchúng ta đã biết trước
1 Lý thuyết là chỉ là một lý thuyết.Trước hết, cần nhấn mạnh rằng một lý thuyếtchỉ là một lý thuyết Nó không phải là mộtthực tế Đây là một khái niệm trừu tượng từthực tế Đây là một khái niệm trừu tượng màchúng ta hy vọng tìm thấy hữu ích khi suynghĩ và hành động của chúng ta làm theo nó,nhưng không có lý thuyết nào là hoàn hảo.Như Thomas Kuhn, một sử gia nổi tiếng củakhoa học, nhắc nhở chúng ta, tất cả các lýthuyết có "sự bất thường" – những sự thậthoặc những phát hiện thì các lý thuyết khôngthể giải thích Không có lý thuyết nào có thểhoặc hoàn toàn xác định suy nghĩ hay hành
Trang 16Further, specific models of a theory are
even greater abstractions They are ways of
implementing the basic ideas in a theory,
using more detailed and more specific
assumptions that adapt the theory for
particular purposes They cannot and
should not be taken literally For example,
the Capital Asset Pricing Model takes the
basic concept of correct pricing and adds a
number of assumptions about return
distributions to come up with a more
specific and implementable pricing model
It therefore is less robust than the basic
idea of correct pricing People who take
models literally are in for a very big
disappointment
No theory can explain everything This is a
central point in Kuhn: anomalies abound in
all theories, but we are prepared to live
with them if we find the theory to be more
useful than the best alternative In other
words, it takes a theory to beat a theory—a
theme I come back to later when discussing
the contributions of “behavioral finance.”
An analogy might be helpful here One can
view the proposition “man is moral” as a
useful way of thinking about the world,
without taking it to mean that no person
ever has acted or will act immorally, or
without implying any of the following: (1)
that one knows exactly what “moral”
động của chúng ta Những người rập khuôntheo lý thuyết thì có một sự thất vọng
Hơn nữa, những mô hình cụ thể của một lýthuyết là khái niệm trừu tượng hơn nữa Đây
là những cách thực hiện các ý tưởng cơ bảntrong lý thuyết, sử dụng các giả định chi tiết
và cụ thể hơn để thích ứng với các lý thuyếtcho các mục đích riêng biệt Họ không thể vàkhông nên hiểu rập khuôn Ví dụ, mô hìnhđịnh giá Tài sản Vốn (CAPM) có khái niệm
cơ bản của giá cả chính xác và cho biết thêmmột số giả định về phân phối tỷ suất sinh lợi
để đưa ra một mô hình định giá cụ thể hơn và
có thể thực hiện được Do đó, ít mạnh mẽhơn so với ý tưởng cơ bản của giá chính xác.Những người rập khuôn theo lý thuyết đang
ở trong một sự thất vọng rất lớn
Không lý thuyết nào có thể giải thích tất cảmọi thứ Đây là một quan điểm lớn củaKuhn: tất cả các lý thuyết đều “bất thường”,nhưng chúng ta phải chuẩn bị để tồn tại với
nó nếu chúng ta tìm thấy lý thuyết nhiều hữuích hơn sự lựa chọn tốt nhất (dùng những lýthuyết hữu ích hơn là dùng những lý thuyếttốt nhất mà không có ích) Nói cách khác,phải lấy một lý thuyết để đánh bại một lýthuyết-một chủ đề tôi trở lại sau khi thảoluận về những đóng góp của "tài chính hànhvi."
Một sự tương tự có thể hữu ích ở đây Người
ta có thể xem lời đề nghị "con người là cóđạo đức" như là một cách hữu hiệu để suynghĩ về thế giới, có nghĩa là không ai đã hoặc
sẽ hành động vô đạo đức, hoặc không hàmchứa những điều sau đây: (1) một người biết
Trang 17means; (2) that there are no logical
inconsistencies in one’s views about what
constitutes “moral” behavior under
different circumstances; or (3) that one
cannot design an experiment in which
people act inconsistently with a particular
definition of “morality.” The same is true
of market “efficiency.”
chính xác "đạo đức" có nghĩa là gì; (2) trongquan điểm của một người, không có mâuthuẫn logic về những gì tạo nên hành vi "đạođức" trong những hoàn cảnh khác nhau; hoặc(3) người ta không thể tạo ra tình huốngtrong đó mọi người hành động không phùhợp với một định nghĩa cụ thể của "đạo đức".Điều này cũng đúng trong thị trường "hiệuquả." (Sự tương đồng: con người là có đạođức= thị trường là hiệu quả)
2 There are Limitations to the EMH as a
Theory of Financial Markets
At a theoretical level, the EMH has many
obvious limitations The most important of
these limitations stems from the fact that
EMH is a “pure exchange” model of
information in markets What this means is
that the theory makes no statements
whatsoever about the “supply side” of the
information market: about how much
information is available, whether it comes
from accounting reports or statements by
managers or government statistical
releases, what its reliability is, how
continuous it is, the frequency of extreme
events, and so forth The theory addresses
only the demand side of the market The
EMH says only that, given the supply of
information, investors will trade on it until
in equilibrium there are no further gains
from trading Consequently, the EMH is
silent about the shapes of return
distributions and how they evolve over
time
An almost exclusive focus on the demand
side is perhaps the single biggest weakness
2 Những hạn chế trong EMH như một
lý thuyết của thị trường tài chính
Ở mức độ lý thuyết, EMH có nhiều hạn chế
rõ ràng Điều quan trọng nhất của những hạnchế này xuất phát từ thực tế là EMH là một
mô hình "trao đổi thuần túy" thông tin trênthị trường Điều này có nghĩa là lý thuyếtkhông có báo cáo nào về "phía cung" của thịtrường thông tin: thông tin có sẵn là khoảngbao nhiêu, cho dù nó đến từ các báo cáo kếtoán, báo cáo của các nhà quản lý hoặc ấnphẩm thống kê của chính phủ, cái gì là độ tincậy của nó, làm thế nào để liên tục, tần sốcủa các sự kiện cực đoan, và vv (thông tin làmiễn phí, sẵn có, mọi người đều có thể tiếpcận được) Lý thuyết này chỉ giải thích phíacầu của thị trường EMH chỉ nói rằng: nhàđầu tư sẽ giao dịch dựa vào thông tin đượcđưa ra cho đến khi cân bằng, không có lợitrong giao dịch nữa Do đó, EMH không nói
về hình dạng của phân phối tỷ suất sinh lợi
và sự phát triển theo thời gian như thế nào
Sự tập trung gần như hoàn toàn về mặt cầu
Trang 18of “modern” financial economics generally.
The discounted present value, or NPV,
model for valuation and capital budgeting
states that, given an expected stream of
future cash flows, those cash flows are
priced so as to provide investors a given
return The Miller-Modigliani theorems
state that, given corporate investment
decisions and the earnings from that
investment, pure exchange among
investors makes the value of the firm
independent of and unaffected by
differences in capital structure and
financing policies generally The CAPM
states that, given the variance -covariance
matrix of future returns and the pricing of
two benchmark efficient portfolios, pure
exchange among investors determines the
risk-return relation The Black-Scholes
option pricing model states that, given the
share price, price volatility, and several
other variables, pure exchange among
investors determines the price of an option
on the share These theoretical milestones
all have been achieved at the expense of
ignoring the real sector—that is, where the
cash flows come from for discounting,
what projects companies invest in, what
determines security risk, and so on.19
As a consequence, when households
suddenly decide to stop adding to the real
housing stock, modern finance theory is
silent about the implications For example,
the CAPM takes the riskless rate, market
risk premium, and individual security betas
as given But in the event of a large shock
in a real asset market, what values of these
có lẽ là điểm yếu lớn nhất của kinh tế tàichính "hiện đại" nói chung Chiết khấu giá trịhiện tại, hoặc NPV, mô hình định giá và lậpngân sách vốn cho trạng thái đó, cho mộtdòng lưu chuyển tiền tệ dự kiến trong tươnglai, dòng tiền là giá để cung cấp tỷ suất sinhlợi cho các nhà đầu tư Định lý Modigliani-Miller trong trường hợp đó, đưa ra quyếtđịnh đầu tư của công ty và thu nhập từ đầu tư
đó, trao đổi thuần túy giữa các nhà đầu tưlàm cho giá trị công ty độc lập và không bịảnh hưởng bởi sự khác biệt trong cấu trúcvốn và chính sách tài chính chung CAPMtrong trường hợp đó cho rằng, đưa ra ma trậnphương sai-hiệp phương sai của tỷ suất sinhlợi trong tương lai và giá cả của hai chuẩndanh mục đầu tư hiệu quả, trao đổi thuần túygiữa các nhà đầu tư xác định mối quan hệ rủiro- tỷ suất sinh lợi Mô hình định giá quyềnchọn Black-Scholes, đưa ra giá cổ phiếu,biến động giá cả, và một số biến khác, traođổi thuần túy giữa các nhà đầu tư quyết địnhgiá của một quyền chọn trên mỗi cổ phiếu.Tất cả những mốc phát triển lý thuyết đã đạtđược khi bỏ qua chi phí thực tế ngành- nghĩa
là dòng tiền được chiết khấu đến từ đâu, cáccông ty đầu tư vào các dự án nào, cái gì xácđịnh rủi ro chứng khoán, và vv
Như một hệ quả, khi các hộ gia đình độtnhiên quyết định ngừng đầu tư vào chứngkhoán nhà ở thực, lý thuyết tài chính hiện đạikhông giải thích được ý nghĩa Ví dụ, môhình CAPM có lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi
ro thị trường, và hệ số beta riêng của từngchứng khoán Nhưng trong trường hợp có
Trang 19CAPM parameters would be consistent
with efficient pricing of securities? Most
empirical tests of market efficiency
typically avoid this issue, and implicitly
assume that the observed values for riskless
rates, market risk premiums, and betas are
correct
Real factors obviously matter but, by
focusing almost exclusively on monetary
exchange, modern financial theory has
made its major breakthroughs by ignoring
them An equivalent problem is faced by
those who assume the crisis originated in
the financial sector and then spread to the
real sector, reducing economic output and
raising unemployment Indeed, the popular
term financial crisis takes this assumption
as a given My own view is that the
problems originated in the real asset
markets (chiefly in real estate), but was
first reflected in the financial markets—
precisely because those markets are more
efficient The general public might have
first learned of the collapse in real asset
prices from the credit market liquidity
problems and widening spreads that
emerged in the summer of 2007, or from
the collapse of Bear Sterns or Lehman
Brothers, or from the fall in stock prices
generally But that does not mean that the
problems originated in, or were “caused
by,” the financial markets They were just
the proverbial canary in the coal mine
In addition to these limitations of EMH
một cú sốc lớn trong thị trường tài sản thực,giá trị nào của các thông số CAPM sẽ phùhợp với giá cả hiệu lực của chứng khoán?Hầu hết các kiểm tra thực nghiệm về thịtrường hiệu quả thường tránh vấn đề này, vàngầm giả định rằng các giá trị quan sát được
là với lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro thịtrường, và hệ số beta là chính xác
Nhân tố thực rõ ràng quan trọng nhưng dotập trung gần như hoàn toàn về trao đổi tiền
tệ, nhưng khi bỏ qua chúng lý thuyết tàichính hiện đại đã tạo ra những bước đột phálớn Một vấn đề tương đương là phải đối mặtvới những người cho rằng cuộc khủng hoảng
có nguồn gốc từ lĩnh vực tài chính và sau đólan rộng ra lĩnh vực thực, làm giảm sảnlượng kinh tế và tăng tỷ lệ thất nghiệp Thậtvậy, thường thì các cuộc khủng hoảng tàichính dài hạn có giả định này Quan điểmcủa tôi là vấn đề bắt nguồn từ thị trường tàisản thực (chủ yếu là bất động sản), nhưng lầnđầu tiên được phản ánh trong các thị trườngtài chính-chính xác bởi vì các thị trường hiệuquả hơn Công chúng có thể lần đầu tiên biếtđến sự sụp đổ giá tài sản thực từ các vấn đềthanh khoản của thị trường tín dụng và đặcbiệt là vào mùa hè năm 2007, hoặc từ sự sụp
đổ của Bear Stearns hay Lehman Brothers,hoặc từ sự sụt giảm của giá cổ phiếu nóichung Nhưng điều đó không có nghĩa lànhững vấn đề này có nguồn gốc, hoặc đã
"gây ra bởi" thị trường tài chính Chúng nhưcâu thành ngữ con chim hoàng yến trong mỏthan (một dấu hiệu cảnh báo sớm cho thấymột điều nguy hiểm nào đấy đang đến gần).Ngoài những hạn chế của EMH bắt nguồn từ
Trang 20that stem from ignoring the supply side of
the information, there are a number of
others worth noting:
• Information is modeled in the EMH as an
objective commodity that has the same
meaning for all investors In reality,
investors have different information and
beliefs The actions of individual investors
are based not only on their own beliefs, but
beliefs about the beliefs of others—that is,
their necessarily incomplete beliefs about
others’ motives for trading This likely
becomes most important during periods of
rapid price changes, such as October 1987
Unlike more stable periods, when an
investor can wake up and read or listen to
some thoughtful analysis of the prime
movers of prices on the previous day, this
kind of information is not available in a
timely fashion during periods of rapid price
change
• Information processing is assumed in the
EMH to be costless, and hence information
is incorporated into prices immediately and
exactly While it seems reasonable to
assume that the cost to investors of
acquiringpublic information is negligible,
information processing (or interpretation)
costs are an entirely different matter They
have received surprisingly little attention
• The EMH assumes the markets
themselves are costless to operate
Generally speaking, stock markets are
paradigm examples of low-cost,
high-volume markets, but they are not entirely
bỏ qua các thông tin phía cung, có một sốngười khác đưa ra chú ý giá trị rằng:
• Thông tin được mô hình hóa trong EMHnhư một hàng hoá khách quan có cùng một ýnghĩa cho tất cả các nhà đầu tư Trong thực
tế, các nhà đầu tư có thông tin và niềmtin khác nhau Những hành động của các nhàđầu tư cá nhân không chỉ dựa trên niềm tinriêng của họ, mà còn dựa trên niềm tin củangười khác-nghĩa là giao dịch dựa trên nềmtin chưa đầy đủ của họ về động cơ của ngườikhác Điều này có thể trở nên quan trọngnhất trong các thời kỳ giá thay đổi nhanhchóng, chẳng hạn như tháng mười năm 1987.Không giống như thời kỳ ổn định hơn, khimột nhà đầu tư có thể thức dậy và đọc hoặcnghe một số phân tích sâu sắc của người đưa
ra ý kiến hàng đầu về giá vào ngày hômtrước, loại thông tin này là không có sẵn vàkịp thời trong thời kỳ giá thay đổi nhanhchóng
• Xử lý thông tin được giả định trong EMH
là không tốn chi phí, và do đó thông tin đượcđưa vào giá ngay lập tức và chính xác Trongkhi nó có vẻ hợp lý khi giả định rằng chi phícho nhà đầu tư thu thập thông tin của côngchúng là không đáng kể; thì chi phí xử lýthông tin (hoặc giải thích) là một vấn đề hoàntoàn khác Thật ngạc nhiên khi chúng ít đượcchú ý
• EMH giả định các thị trường là không tốnchi phí để hoạt động Nói chung, thị trườngchứng khoán là những ví dụ khung mẫu vớichi phí thấp, thị trường với khối lượng lớn,
Trang 21without costs This limitation raises the
following conundrum: if there are pricing
errors that are not eliminated because they
are smaller than the transaction costs of
exploiting them, is the market judged to be
efficient—because of the absence of profits
from exploitable errors—or inefficient—
because of price errors that persist because
of transactions costs? The role of
transaction costs in the theory of market
efficiency is unclear
• Similarly, the EMH implicitly assumes
continuous trading, and hence ignores
liquidity effects There is evidence that
illiquidity is a “priced” factor—that is,
higher returns compensate for lower
liquidity—though how to measure liquidity
is unclear.20 Few would take the fact that
markets are closed on weekends or
overnight as a serious violation of market
efficiency, but episodes of heightened
illiquidity are another matter Starting in
the summer of 2007, illiquidity was an
extremely important feature of many credit
markets and real asset markets
• The EMH also is silent on the issue of
investor taxes In reality, many investors
pay taxes on dividends and capital gains,
with some offsets for capital losses The
effects of investor taxation on security
prices and expected returns are potentially
large, but not well understood
From the above, it should be apparent that
the EMH adopts a simplified view of
markets To those who take theories
nhưng họ không phải là hoàn toàn không cóchi phí Hạn chế này đặt ra câu hỏi hóc búanhư sau: nếu sự định giá sai không được loại
bỏ vì chúng nhỏ hơn so với chi phí giao dịchkhai thác chúng, thị trường được đánh giá làhiệu quả (- vì không có tỷ suất sinh lợi từkhai thác lỗi) hay không hiệu quả (- vì giácủa sai xót vẫn tồn tại vì chi phí giao dịch)?Vai trò của chi phí giao dịch trong lý thuyếtthị trường hiệu quả là không rõ ràng
• Tương tự, EMH ngầm giả định giao dịch làliên tục, và do đó bỏ qua hiệu ứng thanhkhoản Có bằng chứng cho thấy thanh khoản
là một nhân tố được “định giá”, đó là tỷ suấtsinh lợi cao hơn bù đắp cho khả năng thanhkhoản thấp hơn, mặc dù làm thế nào để đolường khả năng thanh khoản vẫn chưa rõ Cómột thực tế là thị trường đóng cửa vào cuốituần hoặc ban đêm, đây là vi phạm nghiêmtrọng của thị trường hiệu quả, nhưng giaiđoạn thiếu tính thanh khoản cao là một vấn
đề khác Bắt đầu từ mùa hè năm 2007, thanhkhoản là một đặc tính cực kỳ quan trọng củacác thị trường tín dụng và thị trường tài sảnthực
• Các EMH cũng không nói về vấn đề thuếnhà đầu tư Trong thực tế, nhiều nhà đầu tưnộp thuế cho cổ tức và tăng vốn, sau khi trừ
đi các khoản lỗ vốn Ảnh hưởng của thuế nhàđầu tư về giá chứng khoán và tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng là lớn, nhưng chưa được hiểu rõ
Từ những điều trên, rõ ràng EMH được đưa
ra từ cái nhìn đơn giản của thị trường Đốivới những người rập khuôn theo lý thuyết-
Trang 22literally—not as useful abstractions—the
combined effect of these simplifications
could well be to encourage a deus ex
machina view of securities markets, as
discussed above But that is a problem of
the musician, not the instrument
không phải là hữu ích trừu tượng- hiệu ứngkết hợp của các đơn giản hóa cũng có thểkhuyến khích một cái nhìn deus ex machinacủa thị trường chứng khoán, như đã thảo luận
ở trên Nhưng đó là một vấn đề của các nhạc
sĩ, chứ không phải là nhạc cụ
deus ex machina: mô tả một thế lực bênngoài đột nhiên giải quyết các vấn đề có vẻnan giải rất khó hoặc không thể với nhân vật
3 There are limitations to tests of the
EMH
Many problems also arise in testing market
“efficiency,” including the following:
• Just as a test of the proposition “man is
moral” requires an operational definition of
what constitutes “moral,” a test of
efficiency requires a precise specification
of what constitutes an “efficient” price
response to information Normally this is
done by comparing the returns earned from
trading on the information with the returns
otherwise expected from passive investing
But implementing the “counterfactual” in
this way suffers from what Fama describes
as the “bad model” problem: we do not
have a perfect theory of the returns to be
expected from passive investment Early
empirical work relied on the Capital Asset
Pricing Model to estimate expected returns,
but it does a poor job of predicting returns
on average: high beta-risk stocks cannot be
shown to earn higher average returns than
low beta-risk stocks This finding could be
caused by the CAPM being a bad model, or
by betas being difficult to measure
3 Những hạn chế khi kiểm tra EMH
Nhiều vấn đề cũng phát sinh khi kiểm tra thịtrường "hiệu quả", bao gồm những điều sauđây:
• Cũng giống như một thử nghiệm của mệnh
đề "con người là đạo đức" đòi hỏi một địnhnghĩa những gì cấu thành "đạo đức", một bàikiểm tra sự hiệu quả đòi hỏi phải có một đặcđiểm kỹ thuật chính xác của những gì tạo nênmột "hiệu quả" giá phản ứng với thông tin.Thông thường điều này được thực hiện bằngcách so sánh tỷ suất sinh lợi thu được từ giaodịch trên thông tin với tỷ suất sinh lợi dựkiến từ đầu tư thụ động Tuy nhiên, vấn đềtrong việc thực hiện "giả thiết ngược" theocách này bị Fama mô tả là "mô hình xấu":chúng ta không có một lý thuyết hoàn hảocủa tỷ suất sinh lợi mong đợi từ đầu tư thụđộng Nghiên cứu thực nghiệm ban đầu dựavào mô hình CAPM để ước tính tỷ suất sinhlợi kỳ vọng, nhưng nó là một công việc khócủa việc dự đoán tỷ suất sinh lợi trung bình:
cổ phiếu có beta-rủi ro cao không thể hiệnrằng kiếm được tỷ suất sinh lợi trung bìnhcao hơn so với cổ phiếu beta-rủi ro thấp hơn.Phát hiện này có thể bởi CAPM là một mô
Trang 23accurately; but either explanation causes
problems in testing market efficiency
Later work employs the Fama-French
three-factor model, which does a better job
of predicting returns but is cobbled
together based more on a foundation of
empirical correlations than on solid asset
pricing theory Because tests of market
efficiency are “joint tests” of the market’s
ability to incorporate new information in
prices and a particular model of asset
pricing, any flaws in the model affect the
reliability of the test of efficiency
• Tests of the EMH involve studying the
flow of information into market prices
Many types of information could be
expected to change—or at least not be
independent of changes in—important
asset pricing parameters such as interest
rates, risk, risk premiums, and securities’
risks Consider the information contained
in variables like Federal Reserve policy,
tax rates, investor demographics,
technological change, and labor
productivity We know little about how
such variables evolve over time, or about
the implications of their evolution for the
time series behavior of expected returns in
an efficiently priced market Some of these
variables will be subject to long-term
secular change For example, a secular
aging of the population increases the ratio
of retirees living off investment income to
workers, and could bring about a secular
decline in real interest rates What
sequence of aggregate (market-wide, or
index) security returns would then be
hình xấu, hoặc beta là khó đo lường chínhxác; nhưng một trong hai lời giải thích gây ravấn đề trong kiểm tra sự hiệu quả thị trường.Công việc sau này sử dụng mô hình ba nhân
tố Fama- French, đây là việc tốt hơn trong dựđoán tỷ suất sinh lợi nhưng chủ yếu dựa trênmột nền tảng của mối tương quan thựcnghiệm hơn về lý thuyết định giá tài sảnvững chắc Bởi vì kiểm tra sự hiệu quả củathị trường là "bài kiểm tra chung" về khảnăng của thị trường để kết hợp những thôngtin mới về giá cả và một mô hình cụ thể củađịnh giá tài sản, bất kỳ thiếu sót nào trong
mô hình cũng ảnh hưởng đến độ tin cậy củaviệc kiểm tra sự hiệu quả
• Kiểm tra của EMH liên quan đến việcnghiên cứu dòng chảy của thông tin vào giá
cả thị trường Nhiều loại thông tin có thểđược mong đợi sẽ thay đổi- hoặc ít nhất làkhông được độc lập về những thay đổi trong-các thông số quan trọng định giá tài sản như
tỷ suất sinh lợi, rủi ro, phần bù rủi ro, và rủi
ro của chứng khoán đó Hãy xem xét cácthông tin chứa trong các biến như chính sách
dự trữ liên bang, thuế suất, nhân khẩu họccủa nhà đầu tư, thay đổi công nghệ và năngsuất lao động Chúng ta biết rất ít về việc cácbiến phát triển theo thời gian như thế nào,hoặc về những tác động của quá trình tiếnhóa của chúng theo hành vi chuỗi thời giancủa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong một thịtrường giá hiệu quả Một số các biến này sẽphải chịu sự thay đổi trường kỳ lâu dài Ví
Trang 24consistent with efficient pricing? Other
variables will experience transitory shocks
As was made painfully clear during 2008,
aggregate system-wide risk accelerates
rapidly when correlations across asset
returns rise Investors are unable to
diversify system-wide risk, so market
indexes fall sharply to yield a substantially
increased risk premium in the form of
increased expected returns (that is,
expected price reversals) What exact
sequence constitutes an efficient price
reaction? Was the size of the fall, and thus
the size of the expected recovery, too
large? Too small? The EMH is silent on
these issues
• At the individual security level, important
parameters like risk are difficult to model
and estimate Risk is clearly not a constant
Companies, like market indexes, can be
expected to experience occasional episodes
of heightened uncertainty—for example,
during periods of strikes, antitrust or other
legal action, or major moves by
competitors Equity betas can be expected
to change in response to changes in
companies’ stock prices, which cause
changes in market-valued financial
leverage They can also be expected to vary
with major announcements, including
earnings What level of risk makes security
efficiently priced? Does the market
over-dụ, một sự lão hóa trường kỳ của dân số làmtăng tỷ lệ người về hưu sống nhờ thu nhậpđầu tư từ người lao động, và có thể mang lạimột sự suy giảm trường kỳ trong tỷ suất sinhlợi thực Sau đó những gì trình tự tổng hợp(toàn thị trường, hay chỉ số) tỷ suất sinh lợichứng khoán sẽ phù hợp với giá cả hiệu quả?Các biến khác sẽ được trải nghiệm những cúsốc tạm thời Như đã gây ra tổn thất to lớntrong năm 2008, rủi ro toàn hệ thống tăngnhanh khi mối tương quan giữa tỷ suất sinhlợi tài sản tăng lên Các nhà đầu tư không cókhả năng đa dạng hóa rủi ro hệ thống, do đó,chỉ số thị trường giảm mạnh để mang lại mộtphần bù rủi ro tăng lên đáng kể trong cáchình thức tăng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng (cónghĩa là, dự kiến giá sẽ đảo ngược) Trình tựchính xác nào tạo nên một phản ứng giá hiệuquả? Kích thước của sự sụp đổ, và do đó kíchthước của sự phục hồi dự kiến, quá lớn? Quánhỏ? EMH là không nhắc đến về vấn đề này
•Ở mức độ đầu tư chúng khoán cá nhân, cácthông số quan trọng như rủi ro rất khó để môhình hóa và ước lượng Rủi ro rõ ràng khôngphải là một hằng số Các công ty, giống nhưchỉ số thị trường, có thể được dự kiến sẽthường xuyên trải qua giai đoạn bất ổn cao,
ví dụ, trong thời gian đình công, chống độcquyền hay hành động pháp lý khác, hoặc rờikhỏi chủ yếu bởi đối thủ cạnh tranh Betas
Cổ phần có thể được dự kiến sẽ thay đổi đểđáp ứng với những thay đổi trong giá cổphiếu của các công ty, trong đó gây ra nhữngthay đổi trên thị trường-giá trị có đòn bẩy tàichính Chúng cũng có thể được dự kiến sẽthay đổi với những thông báo quan trọng,bao gồm cả thu nhập Mức độ rủi ro nào làm
Trang 25or under-assess risk? Many research
designs estimate and control for the
realized, or ex post level of risk, with the
implicit assumption that the observed level
is the correct level A similar observation
can be made about securities’ loadings on
the three factors in the Fama-French model
chứng khoán được định giá hiệu quả? Thịtrường đánh giá rủi ro quá mức hay dướimức? Nhiều nghiên cứu thiết kế để ướclượng và kiểm soát cho thấy rõ, hoặc xuất ramức độ của rủi ro, với giả định ngầm rằngmức độ quan sát là mức độ chính xác Mộtquan sát tương tự có thể được thực hiện vềtải trọng chứng khoán trên ba nhân tố trong
mô hình Fama-French
4 The real world is complex
One of the important lessons from the
global financial crisis is that the world is
more complex than many thought, and
certainly is more complex than many or
most pricing models used in practice
Many derivative securities that PhDs in
financial economics or physics were
employed to model in one clean, crisp
equation were discovered to be—in
practice if not in theory—the creations of
complicated legal documents For many
mortgage backed securities, it is difficult to
sort out what the underlying cash flow
rights of the investor actually are when
defaults start occurring
Did the simplicity of the models employed
by researchers, from 1970 Fama’s
formulation of EMH through to specific
pricing models, lull people into thinking
that the EMH meant the same things as the
models? Maybe But one can’t blame a
theory for people misusing it Every theory
is an abstraction; no theory can be taken
literally
4 Thế giới thực là phức tạp
Một trong những bài học quan trọng từ cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu là thế giớiphức tạp hơn nhiều người nghĩ, và chắc chắn
là phức tạp hơn nhiều hoặc hầu hết các môhình định giá được sử dụng trong thực tế.Nhiều chứng khoán phái sinh được các tiến
sĩ về tài chính kinh tế hoặc vật lý sử dụng đểlàm sạch mô hình, rõ nét phương trình đãđược phát hiện để- trong thực tế nếu không
có trong lý thuyết- tạo ra sự phức tạp của cácvăn bản pháp lý Nhiều Cổ phiếu được đảmbảo bởi các khoản cho vay thế chấp
(Mortgage backed security), rất khó để sắp
xếp ra những quyền ưu tiên thực sự trongdòng tiền của nhà đầu tư khi sự vỡ nợ bắtđầu xảy ra
Sự đơn giản của các mô hình được sử dụngbởi các nhà nghiên cứu, từ năm 1970 Famaxây dựng EMH thông qua các mô hình địnhgiá cụ thể, đã làm mọi người nghĩ rằng EMHtương tự như các mô hình? Có thể Nhưngngười ta không thể đổ lỗi cho một lý thuyết
mà do mọi người lạm dụng nó Mỗi lý thuyết
là một khái niệm trừu tượng; không có lýthuyết nào có thể rập khuôn
Trang 26Anomalies, Behavioral Finance, and the
Future of “Market Efficiency”
By now, it should be clear that anomalies
in the theory of market efficiency abound
The long list includes price overreactions
and excess volatility; price underreactions
and momentum, particularly in relation to
earnings announcements; seasonal patterns
in returns; and the relation between future
returns and many variables such as market
capitalization, market-to-book ratios,
price-earnings ratios, accounting accruals, and
dividend yields
No theory can explain all the data it is
asked to explain: there are always
anomalies Only in the next world are we
promised perfect comprehension What is
never totally clear is whether the market
anomalies are due to imperfections in the
markets themselves, imperfections in
market efficiency as a way of thinking
about how competitive markets behave, or
defects in the research itself One suspects
the answer is (d): all the above
NHỮNG BẤT THƯỜNG, TÀI CHÍNHHÀNH VI VÀ TƯƠNG LAI CỦA THỊTRƯỜNG HIỆU QUẢ
Ngày nay, bất thường trong lý thuyết thịtrường hiệu quả rất nhiều Danh sách dài baogồm phản ứng mạnh của giá và dao động tháiquá; phản ứng yếu của giá và chỉ số của tốc
độ thay đổi giá, đặc biệt là liên quan đếnthông báo thu nhập; mẫu hình thời vụ trong
tỷ suất sinh lợi; và mối quan hệ giữa tỷ suấtsinh lợi trong tương lai và nhiều biến số nhưvốn hóa thị trường, tỷ lệ thị trường/sổ sách,
tỷ lệ giá/thu nhập, kế toán theo phương phápdồn tích (theo thời điểm phát sinh), tỷ suất cổtức
Chỉ số của tốc độ thay đổi giá (Momentum) chỉ báo phân tích kỹ thuật, phản ánh xu hướng và đánh giá tốc độ thay đổi giá dựa trên sự so sánh các giá trị hiện tại và quá khứ.
-Không có lý thuyết nào có thể giải thích tất
cả các dữ liệu mà nó được yêu cầu giải thích:luôn luôn có những bất thường Chỉ trong thếgiới tiếp theo chúng tôi mới hứa là sẽ hiểuhoàn toàn Điều không bao giờ rõ ràng là liệubất thường trong thị trường là do chính nókhông hoàn hảo, không hoàn hảo trong thịtrường hiệu quả như một cách để suy nghĩ vềcách thị trường cạnh tranh hoạt động, hoặcthiếu sót trong các nghiên cứu của thị trườnghoàn hảo Một câu trả lời có chút nghi ngờlà: tất cả các ý trên
Trang 27Where does behavioral research come into
this picture? In one sense, the
“behavioralists” in finance merely jumped
on the bandwagon that started when the
early financial economists started
observing and reporting anomalies
The first discussion of an anomaly in the
market reaction to public information that
I’m aware of is in my 1968 study with
Philip Brown of the market reaction to
earnings announcements We observed that
the market response to the announcements
persisted for several months, a
phenomenon that later became known as
“post earnings announcement drift” or
“earnings momentum.” By the mid-1970s
this pattern had been observed in several
studies, and I used Kuhn’s word “anomaly”
to describe it
Basu’s discovery of abnormal returns by
companies with low P/E ratios was
published in 1977, and Banz’s finding of
the same for small firms was published in
1981 But the genesis of the behavioral
finance literature is generally identified as
the publication of two famous papers by
Werner DeBondt and Richard Thaler, one
in 1985 and the second in 1987 Since then,
behavioral research has succeeded in
poking many more holes in the theory of
Từ đâu mà nghiên cứu hành vi bước vào bốicảnh này? Ở 1 khía cạnh nào đó, "thuyếthành vi" về tài chính chỉ đơn thuần là nhảytheo phong trào điều này xảy ra khi các nhàkinh tế tài chính đầu bắt đầu quan sát và báocáo về các bất thường
Cuộc thảo luận đầu tiên, mà tác giả có thểnhận thức được, về một sự bất thường trongphản ứng thị trường với thông tin côngchúng được đề cập trong nghiên cứu năm
1968 của tác giả với Philip Brown về phảnứng thị trường với thông báo thu nhập
Chúng tôi quan sát thấy rằng thị trường phảnứng với thông báo kéo dài trong vài tháng,một hiện tượng mà sau này được gọi là
"thông báo bài thu nhập theo xu hướng" hoặc
"thu nhập Chỉ số của tốc độ thay đổi giá."Vào giữa những năm 1970 mẫu hình này đãđược quan sát trong một số nghiên cứu, vàtôi sử dụng từ "bất thường" của Kuhn để mô
tả nó
Phát hiện của Basu về tỷ suất sinh lợi bấtthường của công ty có P / E thấp đã đượccông bố vào năm 1977, và Banz đã tìm rađiều tương tự cho các công ty nhỏ được xuấtbản vào năm 1981 Tuy nhiên, nguồn gốccủa các cơ sở lý luận về tài chính hành vithường được xác định là công bố của hai bàibáo nổi tiếng Werner DeBondt và RichardThaler, một vào năm 1985 và thứ hai là vàonăm 1987 Kể từ đó, nghiên cứu hành vi đãthành công trong việc chỉ ra nhiều lỗ hổng
Trang 28efficient markets.
Has behavioral finance supplanted EMH as
the prevailing theory of financial markets?
The question assumes that it is a theory, as
distinct from a collection of ideas and
results As I see it, the behavioral literature
relies on the theory of efficient markets By
that I mean the following A revealing fact
is that the behavioral finance literature
contains no references that I can find to
anomalies in behavioral finance I reviewed
six compendiums of behavioral finance and
searched all issues of the Journal of
Behavioral Financefor references to
“anomalies.” The only references I could
find were to anomalies in the theory of
efficient markets Does the absence of
reference to its own anomalies mean that
behavioral theory is perfect?
Kuhn tells us that to discover anomalies
one first must have a theory that is capable
of being contradicted One of the strengths
of the EMH is its refutability: it can be
tested One gets the impression that
behavioral finance, taken as a whole,
consists of a set of disjointed and
inconsistent ideas, some of which are
rationalizations of the anomalies of others
If all theories are abstractions and all
theories have anomalies, but behavioral
finance has no anomalies, the implication
is that it is not a theory
However, behavioral finance does have its
own anomalous evidence, even if it does
not receive prominent treatment in its own
hơn trong lý thuyết thị trường hiệu quả.Tài chính hành vi đã thay thế EMH như lýthuyết phổ biến của thị trường tài chính? Câuhỏi giả định đặt ra rằng nó có phải là một lýthuyết, khác với một tập hợp các ý tưởng vàkết quả Như tôi thấy, các cơ sở lý luận vềhành vi dựa trên lý thuyết về thị trường hiệuquả Ý tôi là như sau Một thực tế là các cơ
sở lý luận về tài chính hành vi không chứa tàiliệu tham khảo mà tôi có thể tìm được bấtthường trong tài chính hành vi Tôi xem xétsáu bản tóm tắt của tài chính hành vi và tìmkiếm tất cả các vấn đề trên Tạp chí của tàiliệu tham khảo về tài chính hành vi để tìm
"bất thường." Tôi chỉ tìm được 1 tài liệutham khảo về bất thường trong lý thuyết thịtrường hiệu quả Có phải không có tài liệutham khảo về bất thường có nghĩa là lýthuyết hành vi là hoàn hảo?
Kuhn cho thấy để khám phá bất thường đầutiên phải có một lý thuyết có khả năng đưa ra
sự mâu thuẫn Một trong những thế mạnhcủa EMH là refutability của nó: nó có thểkiểm tra được Người ta nhấn mạnh rằng tàichính hành vi, thực hiện như là một tổng thể,bao gồm một tập hợp các ý tưởng rời rạc vàkhông phù hợp, một trong số đó là sự giảithích duy lý các bất thường của người khác.Nếu tất cả các lý thuyết là khái niệm trừutượng và tất cả các lý thuyết có bất thường,nhưng tài chính hành vi không có bấtthường, nghĩa là nó không phải là một lýthuyết
Tuy nhiên, tài chính hành vi không có bằngchứng bất thường, ngay cả khi việc xử lý nó