1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê

115 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 283 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại các giống cà phê 1.Paracoffea M. Dongnaiensis P.e 2.Argocoffea P.ex. Pit. 3.Mascarocoffea Chev. 4.Eucoffea K.Schumb. Đắc điểm quá trình sinh trưởng Quá trình phát triển, Đặc tính thổ nhưỡng. Đặc điểm của từng chủng loại cà phế ở Việt Nam

Trang 1

PhÇn II

§Æc tÝnh thùc vËt, sinh lý, sinh th¸i c©y cµ phª

Ch¬ng I

§Æc tÝnh thùc vËt

Trang 2

I.Đại cơng về phân loại thực vật

Các giống cà phê hiện nay trồng đều thuộc loại cà phê Coffea L, họ cà phê Rubiacea, bộ cà phê Rubiales Theo giáo s Auguste Chevalier, thì trong tự nhiên có tới gần 70 giống cà phê khác nhau phân ra làm 4 loại phụ:

1.Paracoffea M trong đó có 2 giống mọc hoang dại ở Việt Nam là Coffea Dongnaiensis P.ex Pit và Coffea Cochinchinensis P.ex Pit

2.Argocoffea P.ex Pit

3.Mascarocoffea Chev

4.Eucoffea K.Schumb

Trong 4 loại phụ này, chỉ có loài phụ Eucoffea là có chứa cafein Loài phụ Eucoffea này lại phân làm 5 nhóm, trong đó 2 nhóm chính có các giống cà phê thờng trồng

1.Nhóm Erythro coffea Chev

đối cứng

Trang 3

-Coffea dewevriei var excelsa Chev thân cây khoẻ, mọc thẳng đứng, cao tới 10-12m, khi già thớ gỗ xoắn chéo nổi rõ bên ngoài Lá to xanh đậm, quả to, núm quả chìm hoặc lồi tuỳ theo chủng Ngoại bì dày, trung bì thịt cứng, chứa ít chất ngọt hơn các giống thuộc nhóm Erythrco coffea.

Công tác phân loại thực vật trong loài Coffea thâu tóm nhiều giống cây có những đặc tính thực vật rất khác nhau, từ những cây có thân bụi cao không đầy 1m những cây có thân là dây leo, đến những cây thân gỗ cao tới 15m, với các cành, lá hoa, quả có kích cỡ, hình dáng, cấu tạo rất khác nhau, là một công trình phức tạp, không những có ý nghĩa về mặt khoa học thuần tuý, mà còn giúp cho các nhà chọn giống một tập đoàn nguyên thuỷ rất phong phú, làm cơ sở cho việc cải tạo giống

Trên thực tế, hiện nay chỉ có các giống thuộc nhóm Erythro coffea là đợc trồng nhiều, và có vị trí kinh tế ổn

Các giống thuộc nhóm Pachycoffea chỉ đợc trồng ở một số nớc thuộc Châu Phi, Châu á, trên diện tích nhỏ, và giữ một vị trí kinh tế không đáng kể trong nền kinh tế thế giới

II.Đặc tính của các giống cà phê thờng trồng

1.Cà phê chè (Coffea arabica L.)

Cà phê chè là giống cà phê đợc trồng từ lâu đời nhất và cũng chiếm vị trí quan trọng nhất với 70% sản lợng cà phê toàn thế giới Nguồn gốc ở cao nguyên Jimma Etiôpi, ở độ cao 1500-2000m, vĩ tuyến 80 Bắc Cây bụi cao 3-4m, ở điều kiện thuận lợi có thể cao 6-7m Cành mọc từng đôi đối xứng, mới mọc dáng thẳng, cành dài càng lả lớt, buông thõng Cành thứ cấp nhiều, tạo với cành cơ bản một mặt phẳng cắt ngang thân cây Vỏ cây mỏng, có nhiều vết rạn nứt dọc, nơi thuận tiện cho sâu đục thân đẻ trứng Chồi vợt ít, nếu ngọn cây bị gãy hoặc

Trang 4

thân cây bị vết thơng do tác động cơ giới hoặc sâu bệnh, chồi vợt mọc, tạo nhiều thân phụ.

Lá mọc đối xứng, bình bầu dục dài, đầu nhọn, cuống ngắn, rìa lá quăn, phiến lá xanh đậm, bóng, gợn sóng, có 9-12 cặp gân lá, dài 10-15cm, rộng 4-6cm Hoa trắng, hơng thơm dịu, mọc thành chùm gồm 2-4 xim có 2-3 hoa ở nách lá Cuống hoa ngắn, đài hoa có 5 cánh, trùm lên phía trên của noãn sào Tràng hoa hình ống, phía đầu nở loe ra thành 5 cánh hẹp (đôi khi 6) Nhị hoa mảnh, có bao phấn dài, hẹp, mọc vơn ra ngoài tràng hoa

Quả thuộc loại quả thịt, hình trứng, khi chính có màu đỏ, đờng kính 18mm Ngoài bì mỏng, màu đỏ, trung bì là lớp vỏ thịt màu trắng ngà, bên trong

10-là 2 nhân dẹt, áp bụng phẳng vào nhau Khi 1 trong 2 nhân bị teo, hạt còn lại phát triển cà phê 2 mặt thành hình cong, gọi là hạt cà phê 1 nhân “Caracoli” (rang, xay, pha uống có hơng vị đặc biệt)

Hạt có 2 lớp vỏ, lớp ngoài cứng gọi là “vỏ trấu”, lớp trong mỏng, bám sát vào hạt cà phê, gọi là “vỏ lụa” Hạt cà phê thờng gọi là cà phê nhân có màu xanh xám, hoặc xám xanh, xanh lục, xanh cốm, tuỳ theo giống và điều kiện bảo quản, chế biến Hạt có nội nhũ cứng, mặt trong phẳng, có rãnh hẹp ở giữa Mầm hạt nằm ở phía cuối, có 1 rễ non hình nón và 2 tử diệp cuộn lại

Kích thớc và hình thù hạt tuỳ thuộc chủng loại điều kiện ngoại cảnh và canh tác Các chủng Bourbon, Caturra có kích thớc và trọng lợng hạt thấp hơn các chủng cà phê chè khác Bón phân đầy đủ, tới nớc, sửa cành triệt để có tác dụng làm cho quả đợc nuôi dỡng đầy đủ, hạt to, tỷ trọng cao hơn Bình thờng,

cỡ hạt vào khoảng 10x 6-7 x 3-4 (mm), trọng lợng bình quân 0,15- 0,2g Kích thớc và trọng lợng hạt lớn là một trong những tiêu chuẩn của mặt hàng cà phê

Cây cà phê có đặc tính tự hoa thụ phấn, vì vậy có độ thuần chủng cao hơn các loại cà phê khác Tuy nhiên do điều kiện sinh thái từng nói, do lai hoá, đột biến cà phê chè có nhiều chủng khác nhau Các chủng cà phê có nhiều chủng…khác nhau Các chủng cà phê chè đợc trồng nhiều trên thế giới có:

Trang 5

-Coffea arabica var typica là chủng cà phê đợc trồng nhiều nhất ở Braxin Nguồn gốc từ một cây cà phê chè độc nhất của vờn bách thảo Amsterdam (Anh), mang giống từ Phi châu về Hiện nay trong việc đổi mới nghề trồng cà phê ở nhiều nớc, đặc biệt là Braxin, chủng cà phê chè Typia dần bị loại thải, thay bằng các chủng u tú hơn.

-Coffea arabica var bourbon là một chủng loại cà phê nhỏ cây, do biến dị của chủng Typica trồng tại đảo Reunion Thân cây thấp hơn Typica, phân cành nhiều, tạo thành hình đống rơm Đốt cành ngắn, búp non màu xanh nhạt, khác với chủng Typica màu nâu nhạt Căn cứ vào đặc tính này, kết hợp với nhiều đặc tính khác, nh thân cây thấp, phân cành nhiều, dáng cây hình bụi, hạt cà phê nhỏ,

có hơng vị thơm ngon đặc biệt, chúng tôi cho rằng giống cà phê chè đợc các nông trờng của ta trồng nhiều trớc đây là chủng cà phê chè Bourbon, chứ không phải Typica nh xác định ban đầu Nguồn gốc của các cây cà phê chè này, lấy trên các vờn cà phê của các đồn điền Pháp với giống xuất xứ từ đảo Reunion là thêm một căn cứ để khẳng định giống cà phê của ta trồng trớc đây là chủng cà phê chè Bourbon

-Coffea arabica var amarella Chev biến dị của chủng Typica, phát hiện ở vùng Sao Paolo (Braxin) Đặc trng rõ nét là qua màu vàng nhạt Vì không có gía trị cao về mặt kinh tế nên chỉ đợc trồng ít ở mỗi nơi, có trờng hợp nh trồng để làm cảnh

-Coffea arabica var maragogype cũng là biến dị của chúng cà phê chè phổ thông Cây cao, đốt cành dài, lá to, quả to, trọng lợng hạt 0,25- 0,3g, gần gấp 2 lần so với chủng loại cà phê khác Quả chín muộn thất thờng Đợc trồng ở một

số nớc châu Mỹ La Tinh

-Coffea arabica var laurina là một biến dị của chủng Bourbon, phát hiện

đầu tiên ở đảo Reunion Đặc điểm: cây nhỏ, lá hẹp nhọn (nên thờng gọi là Bourbon nhọn) Quả ít, năng suất thấp, nhng nổi tiếng về hơng vị thơm ngon

Trang 6

-Coffea arabica var mokka là biến dị của chủng cà phê chè phổ thông Thân cây nhỏ, phân cành nhiều, năng suất thấp Hạt nhỏ, nhng phẩm chất thơm ngon đặc biệt Giống cà phê chè PQ1 đợc Trạm thí nghiệm Tây Hiếu bình tuyển tại một nơng cà phê giống cũ của trại Phú Hộ thuộc chủng cà phê Mokka.

-Coffea arabica var mundo-novo đợc xác định là một cây lai tự nhiên giữa chủng Bourbon và chủng Sumatra nhập nội Braxin Cây khoẻ, trồng tập trung cao tới trên 3m Năng suất quả cao, nhng có nhợc điểm là tỷ lệ quả rỗng không hạt khá nhiều

-Coffea arabica var catuai là chủng cà phê mới đợc lại tạo gần đây giữa chủng cà phê chè Caturra và Mundo-novo Cây sinh trởng khoẻ, chịu hạn giỏi, thân thấp, tán nhỏ trồng dày đợc, năng suất cao

Bên cạnh các chủng cà phê kể trên, đã đợc trồng trên đại trà, còn nhiều chủng cà phê chè khác nh: coffea arabica var, myrtifolia, culta, augusta, pendula, polysperma, nana, rugosa không có gía trị kinh tế cao và chỉ đ… ợc trồng trong phạm vi hẹp, trong các tập đoàn giống

2.Cà phê vối (Coffea canephora Pierre)

Giống cà phê vối mới đợc phát hiện ở Châu Phi vào đầu thế kỷ này, ở các vùng rừng thấp thuộc châu thổ sông Congo Do các đặc tính mọc khoẻ, dễ trồng, năng suất cao, nên đợc phát triển khá nhanh trong vòng 20-30 năm gần đây, nhất là ở các nớc thuộc châu Phi Trớc đây sản lợng cà phê vối chỉ chiếm 10%, nay đã tăng lên trên 30% tổng sản lợng cà phê toàn thế giới

Coffea canephora là một cây nhỡ, cao 8-12n, có nhiều thân Cành dài, lả lớt, thân hình thứ cấp ít Trồng ở khí hậu nhiệt đới có màu đông lạnh, cành quả không phát triển cành thứ cấp và chỉ tồn tại trong 3- 4 năm, ở khí hậu nhiệt đới thuần, hoặc nhiệt đới cao, cành thứ cấp mọc nhiều hơn, tuy không bằng cà phê chè, cành quả tồn tại lâu dài hơn Lá hình bầu, hoặc hình mũi mác, đầu lá nhọn, phiến lá gợn sóng mạnh

Trang 7

Hoa mọc chùm ở nách lá, gồm 1-3 cụm, có 15-30 hoa tràng hoa trắng, có 5-7 cánh Chùm hoa dày đặc, khi đậu quả, mọc thành chùm có tới 30-40 quả Quả hình tròn, hoặc hình trứng, núm quả nhỏ, bằng trên quả thờng có nhiều gân dọc Ngoại bì mỏng khi chính có màu đỏ nhạt, trung bì là lớp vỏ thịt dai, cứng ít ngọt nh quả cà phê chè Hạt màu xám xanh đục hoặc ngả vàng tuỳ theo giống,

điều kiện chế biến, bảo quản Kích thớc hạt thờng nhỏ hơn cà phê chè Tỷ lệ nhân/quả tơi cao hơn cà phê chè (16,5- 20%, ở khí hậu cao nguyên có thể tới 22-23%) Tỷ lệ cafein cao hơn cà phê chè: 2,5%-3%, so với cà phê chè: 1,8-2%

Cà phê vối không tự thụ phấn đợc Đặc tính tạp giao này dẫn đến hiện ợng rất đa dạng trong bất cứ vờn cà phê vối nào trồng bằng hạt Vì vậy, việc phân loại trồng cà phê vối phức tạp, giữa các chủng chính, có nhiều loại hình trung gian mang đặc tính của chủng trên

t-Coffea canephora var robusta là chủng cà phê vối đợc trồng nhiều nhất trên thế giơi, chiếm tỷ lệ trên 90% Đặc trng thực vật của chủng này là cây khoẻ, tán tha, lá to, đốt dài, cho sản lợng cao Nhợc điểm lớn nhất của chủng này là chịu hạn kém, cà phê vối đợc trồng nhiều nhất ở Châu Phi, Ân Độ, Indonêxia, Tân Đảo…

-Coffea canephora var kouklou, nguồn gốc ở các nớc Congo, Gabon, Cotdivoa Khác biệt chủ yếu với chủng Rubusta là lá nhỏ, hẹp hơn, phiến lá…xoăn, quả và hạt nhỏ hơn Ưu điểm so với Rubusta là chịu hạn khá hơn, n nhng năng suất thấp và hạt nhỏ hơn

-Coffea canephora var niaoulf nguồn gốc ở Đahômây, là một chủng cà phê vối ít đợc trồng, do những nhợc điểm: hoa quả ít, chín rải rác, dễ bị mọt đục quả phá hoại

3.Cà phê mít (Coffea excelsa Chev)

Nguồn gốc: phát hiện đầu tiên năm 1902 ở xứ Ubangui- Chari nên thờng

đợc gọi là cà phê Chari Cây nhỡ, có chiều cao 15-20m, sinh trởng khoẻ, ít sâu

Trang 8

bệnh Lá to, chiều dài tối đa tới 25-40cm, hình trứng, hoặc mũi mác, đầu lá có mũi ngắn, bẹt Có 6-9 cặp gân lá, nổi ở mặt dới Hoa mọc thành chùm ở nách lá gồm 1-5 xim, mỗi xim có 2-4 hoa, cuống ngắn, tràng hoa dài, có 5 cánh (đôi khi 6), phấn hoa có hơng thơm hắc.

Quả hình trứng, hơi det, cuống quả lồi Quả to, khi chín có màu đỏ sẫm Thịt quả giòn, ít ngọt, trọng lợng 1,4-2g Hạt màu xanh ngả vàng, vỏ lụa bám chặt vào hạt khó làm chóc hết Trọng lợng hạt: 5000-7000 hạt/kg Hàm lợng cafein 1,02-1,15% Tỷ lệ nhân/quả tơi biến động tuỳ theo chủng loại từ 10%-14,5% Thời gian nuôi quả lâu 10-12 tháng, mùa ra hoa thờng trùng với mùa thu quả

Cây sinh trởng khoẻ, ít sâu bệnh, chịu hạn nắng khá, ít kén đất Mẫn cảm với bệnh gỉ sắt hơn cà phê vối, nhng lẻ tẻ không nặng nh cà phê chè Ra hoa quả chậm hơn cà phê vối Sau khi trồng 3-4 năm mới chịu cho thu hoạch bói, năm thứ 7-8 mới đạt sản lợng ổn định

Điều đáng chú ý hoa quả phát triển trên các mắt ngủ ở các đoạn cành già,

kể cả trên thân cây, nơi phân cành

Phẩm chất cà phê mít nói chung kém, vị chua, hơng kém hoặc không có hơng Tuy nhiên do vị đậm của nó, một số ngời dùng cà phê thờng trộn với cả cà phê chè, nhằm có một cốc cà phê vừa đậm lại vừa có hơng thơm Dù sao, trên thị trờng thế giới cà phê mít có giá trị thấp và ít đợc biết tới

4.Cà phê mít dâu da (Coffea liberia Bull, in Hiern)

Thờng đợc gọi nh trên, vì quả nó to, giống nh quả dâu da Nguồn gốc ở

n-ớc Liberia, Tây Phi, vĩ tuyến 5-70 Bắc Đặc điểm: cây nhỡ cao 15-18m, cành khoẻ bền, lóng dài Lá to, hình bầu dục, dài 15-35cm, rộng 8-15cm, phiến lá xanh đậm, bóng Cuống lá to, dài, phiến lá có 8-12 cặp gân nổi rõ ở phía dới

Trang 9

Hoa mọc thành cụm, có 2-3 xim, mỗi xim có 6-8 hoa Tràng hoa trắng, có 5-11 cánh Quả tròn, dài 12-25 mm, rộng 10-22 mm có nuốm lồi đặc biệt Quả tha, vỏ thịt dày, dai có nhiều xơ Trọng lợng quả: 220-300 quả/kg Hạt to, dài 12-18mm, vỏ lụa bám chặt vào nhân khó bong Nhân màu vàng, hoặc vàng hơi nâu Trọng lợng 2200-3000 hạt/kg Tỷ lệ nhân/quả tơi 8,3-12% Phầm chất nói chung kém, giá trị thấp.

Ngoài các giống cà phê kể trên, còn nhiều giống cà phê không có giá trị kinh tế, nên ít đợc trồng nh Coffea stenophylla, Coffea congensis có đặc tính chịu úng khá, Coffea benalensis, Coffea wrightiana…

Trong nhiều giống cà phê phát hiện thấy ở Châu Phi, đáng chú ý một số giống có hạt không chứa cafein nh Coffea mogenetili, Coffea mauritiana, Coffea luxifolia Có thể sử dụng làm nguyên liệu trong việc lai tạo ra các giống cà…phê có phẩm chất cao nh Arabica, nhng chứa ít cafein hơn, dùng cho ngời

“nghiện” cà phê, mà phải ăn kiêng các chất kích thích

Chơng II

Sinh lý cây cà phê

Đời sống cây cà phê gồm 3 giai đoạn: giai đoạn sinh trởng, từ khi hạt nảy mầm đến khi cây trởng thành, giai đoạn sản xuất triệt cả thời kỳ cây cho quả và giai đoạn tàn lụi, khi các bộ phận sinh trởng và sinh thực của cây đã già cỗi, hoạt động giảm sút cho tới khi chết

Trang 10

I.Giai đoạn sinh trởng

-Lớp “vỏ lụa” rất mỏng bên trong do màng ngoài của hạt tạo nên

-Lớp “vỏ trấu” cứng, bảo vệ hạt giống bên ngoài, chính là nội bì của quả

Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hởng đến quá trình nảy mầm của hạt giống cà phê là nhiệt độ và nớc, ôxi, độ pH của môi trờng Nhiệt độ thích hợp nhất cho…hạt cà phê nẳy mầm là khoảng 30-320C Nhiệt độ càng thấp thì thời gian nảy mầm càng kéo dài, nhiệt độ xuống tới 100C, thì hiện tợng nảy mầm bắt đầu bị kìm hãm Mùa hè hạt giống có thể bắt đầu nảy mầm từ ngày thứ 5 sau khi ơng

và sau 30-35 ngày đã nảy mầm trên 80%, về mùa đông phải mất trên 1 tháng, hạt mới bắt đầu nảy mầm và sau 2 tháng, mới đạt đợc tỷ lệ nảy mầm nh trên

Môi trờng ẩm nhng thoáng khí là những điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm ở đất sũng nớc, bí, hạt giống dễ bị thối nhanh, mất khả năng nảy mầm

Sau khi gieo 2-3 tuần, rễ non bắt đầu nhú, đầu tiên là một chấm trắng xuất hiện ở phía cuối hạt trên mặt cong, sau phát triển thành 1 đầu nhọn đâm thủng vỏ ngoài mà chui ra 20-25 ngày sau, thân non bắt đầu đâm ra và trong

Trang 11

quá trình phát triển, đội hạt cà phê lên khỏi mặt đất, trong khi đó rễ non tiếp tục

đâm sâu xuống tầng đất dới giai đoạn “đội mũ” 10-15 ngày tiếp theo, lớp vỏ trấu bị tách ra, và 2 tử diệp bung ra, tạo thành 2 “lá sò” hình tròn, đờng kính 2-4cm, có rìa gợn sóng ậ điểm chắp của 2 lá sò với thân là một mầm ngủ mang

điểm sinh trởng, 20-25 ngày sau, điểm sinh trởng đã phát triển thành 2 lá thật

đầu tiên mọc đối xứng, và từ đó nếu điều kiẹn ngoại cảnh thuận lợi, cứ 15-20 ngày, lại xuất hiện một đôi lá mới

Bộ rễ cũng phát triển rất nhanh trong những tuần đầu sau khi hạt nảy mầm Rễ độc ăn sâu xuống đất, 12 tháng đã có thể dài tới 45-50 cm, và phát triển thành nhiều rễ tơ Nhiệt độ không khí và mặt đất ảnh hởng đến quá trình phát triển của rễ, nhiệt độ không thích hợp nhất khoảng 26-320C, quá 380C bắt

đầu có hại tới rễ cà phê

Hiện tợng tăng trởng

Kể từ khi bắt đầu ơng hạt giống đến 5-7 tháng, cây con đã cao 25-30 cm (cà phê chè) hoặc 22-25 cm (cà phê vối), có 6-7 đôi lá thật Lúc này các cặp cành ngang đã bắt đầu xuất hiện trên các đốt phía ngọn

ở nách các lá có một hoặc nhiều mầm ngủ Trên cây cà phê vối ở nách mỗi lá sò, có một mầm ngủ, từ lá thứ 2 đến lá thứ 4, mỗi nách lá có 3 mầm ngủ Các mầm ngủ này có khả năng phát triển thành chồi vợt để thay thế cho các thân chính, một khi ngọn cây bị cút mất điểm sinh trởng Cùng ở mỗi nách lá có tới 4 mầm ngủ, vì vậy có khả năng đâm chồi vợt liên tiếp nhiều lần

Trong các mầm ngủ này, có một mầm ngủ: “ngoài trục” có khả năng phát triển thành cành ngang, hay cành quả Khác với các mầm ngủ toạ chồi vợt có nhiều, mầm ngủ toạ cành ngang hoặc cành cơ bản chỉ có một cái độc nhất, vì vậy, khi cành ngang bị gãy, thì ở vị trí nách lá không xuất hiện một cành khác thay thế Đây là điểm cần chú ý trong quá trình tạo hình, sửa cành cây cà phê

Trang 12

Các cành ngang mọc từ thân cây, còn gọi là cành cấp 1 hoặc cành cơ bản, mang nhiều mầm ngủ ở mỗi đốt cành Các mầm ngủ này có khả năng phát triển thành các canh ngang cáp 2, hoặc thành những cụm hoa, trong những điều kiện lá của mình và cứ thế, có thể tạo ra các canh cấp 6 hoặc 7 cùng với canh cơ…bản, tạo ra một mặt phẳng ngang thân cây Tất cả các canh ngang, từ cấp 2 trở đi

đợc gọi chung bằng một danh từ: canh thứ cấp, để phân biệt với canh cấp 1, gọi

là cành cơ bản

Cành cà phê 1 tuổi nếu đợc chăm bón tốt, có khả năng cho 4-8 đôi canh ngang (cà phê chè) hoặc 6-12 đôi cành ngang (cà phê vối) Qua năm thứ 2 (kể từ khi ơng hạt, cây cà phê đã cao trên 1 m, và mang tới 12-18 đôi canh ngang)

Đến mùa xuân năm thứ 2, hoặc năm thứ 3 kể từ năm trồng cây, tuỳ theo thời vụ trồng và tuổi cây con, cây đã bắt đầu ra hoa đầu tiên và 7-8 tháng sau cho thu hoạch quả bói đầu tiên Đối với cà phê mít, vụ hoa đầu tiên chậm hơn 1-

Bộ rễ cà phê trởng thành gồm có 1 rễ cọc, các rễ trụ và nhiều rễ phụ, ở

đầu các rễ phụ có nhiều lông hút, thờng gọi là “rễ tơ” hay “rễ cám”

Rễ cọc thờng là một rễ độc to khoẻ, mọc thẳng suốt, hoặc chia thành 2, 3 nhánh đâm xuống đất Rễ cọc của cà phê chè, vối ngắn, thờng dài 30-50cm, trên

đất tơi xốp có thể ăn sâu gần 1m

Trang 13

Các rễ trụ mọc từ rễ cọc, và đâm thẳng xuống sâu, làm nhiệm vụ chính hút nớc nuôi cây Đất càng tơi xốp, thì các rễ trụ càng ăn sâu.

Các rễ ngang cũng mọc từ rễ cọc, đâm vào đất theo chiều hớng khác nhau, một số rễ ngang phát triên song song với mặt đất Các rễ ngang phát triển thành một hệ thống rễ phụ, phía đầu là các lông hút phát triển dày đặc, gọi là “rễ tơ” hoặc “rễ cám” làm nhiệm vụ hút các chất dinh dỡng nuôi cây

Sự phát triển của hệ thống rễ chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố Ngoài yếu

tố nội tại là giống, một loại các yếu tố ngoại cảnh bao gồm các đặc tính của đất,

đặc biệt là cấu tạo đất, độ tơi xốp, độ ẩm, hàm lợng chất hữu cơ và các chất dinh dỡng, các biện pháp canh tác: cày bừa, xới xáo, tủ đất, tới bón phân tác động…

đến quá trình phát triển của rễ cây cà phê

Hệ thống rễ, đặc biệt là bộ phận các rễ tơ, phân bố nhiều ở các tầng mặt

đât Theo tài liệu quan trắc của Nutman ở cây cà phê chè 7 tuổi có tới 94,1% trọng lợng rễ phân bố ở độ sâu 0-30cm

Sở dĩ đại bộ phận rễ cà phê phân bố ở tầng đất mặt vì rễ cà phê thuộc loại háo khí và a màu mỡ Quan sát một hố bón phân hữu cơ sau một thời gian, ta thấy rễ tơ cà phê phát triển dày đặc trong hố, khác hẳn các vùng khác không đợc cuốc tới và bón phân

Rễ tơ không nhất thiết chỉ phát triển trên bề mặt Quan sát các hầm trú ẩn dào trong các khu vờn cà phê mít, ta thấy hệ thống rễ tơ phát triển rất mạnh ở cả các tầng sâu, bên thành hố, nơi đất tơi xốp và chứa nhiều chất hữu cơ Ngợc lại, trên các vờn cà phê mít già cỗi, qua nhiều năm không đợc cày bừa xới xáo, lớp

đất dới bị nén chặt, ngợc lại lớp đất mặt đợc lá cây che phủ, giữ ẩm và tạo nguồn hữu cơ dồi dào, thì thấy lớp rễ tơ ăn nổi lên phía trên tạo thành lớp chằng chịt

đan vào nhau, ở ngay dới lớp lá khô mục

Bảng 2: Phân bố bộ rễ cây cà phê chè 7 tuổi

Trang 14

Tầng sâu Trọng lợng rễ Trọng lợng rễ

4,86 g 0,61 g 0,32 g 0,17 g

94,1 % 5,07 % 0,07 % 0,05 %

Sự phát triển của lớp rễ tơ chịu ảnh hởng mạnh mẽ của điều kiện thời tiết khí hậu Các vờn cà phê trồng tha, trống trải đất, làm sạch cỏ, bị phơi ra nắng, nên lớp rễ tơ phát triển rất ít, nhất là ở các lớp đất mặt, bị ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp làm cho khô nóng Ngợc lại, trên các vờn cà phê trồng dày có tủ gốc và trồng cây che bóng, lớp rễ tơ phát triển dày đặc, chỉ cần bới lớp cỏ rác phủ gốc ra, đã thấy lớp rễ cám xuất hiện

2.Hệ thống khí sinh

Trong phần trên, đã giới thiệu về cấu tạo của hệ thống thân, cành, cây cà phê ở đoạn này sẽ đi sâu vào nghiên cứu chức năng và hoạt động của lá cà phê, một bộ phận có vai trò hết sức quan trọng trong chức năng dinh dỡng của cây cà phê So với nhiều loại cây lâu năm khác, cây cà phê có một hệ thống lá tơng đối dày Theo C.M Franco và R Inforzato, thì một cây cà phê có tổng diện tích lá tới 22 đến 45m2, tuỳ theo chủng loại và tuổi cây Hệ số che phủ nh vậy tới 4-6 lân, cao hơn nhiều loại cây khác Về mặt này các chủng cà phê lùn, có đặc tính phân cành sít, lóng cành ngắn, có hệ thống lá tha hơn Đây là một điểm cần chú

ý trong việc tuyển chọn giống

Đời sống của lá là một chỉ tiêu sinh lý quan trọng để đánh giá tình hình sinh trởng của cây cà phê Cà phê thuộc loại cây có bộ lá xanh quanh năm Hiện tợng thay lá diễn ra cả năm, tuy về mùa khô tỷ lệ rụng lá cao hơn Hiện tợng rụng lá rộ biểu hiện một tình trạng không thích nghi của cây cà phê đối với môi

Trang 15

trờng sinh thái, nh trờng hợp cây cà phê vối trồng ở một số vùng lộng gió, ở các tỉnh phía Bắc có vĩ tuyến cao, có mùa đông lạnh Các kết quả nghiên cứu về đời sống lá cà phê của nhiều tác giả có điểm không thống nhất Boyer xác định tuổi thọ của lá cà phê vối trồng ở Côtđivoa là 7-10 tháng, chia làm 4 giai đoạn: giai

đoạn sinh trởng: 3-4 tuần, giai đoạn cutin hoá: 4-5 tuần, giai đoạn trởng thành: 4-6 tháng, giai đoạn già cỗi: 3-6 tuần

Một số tài liệu quan trắc lại xác định tuổi thọ của lá cà phê là 10-12 tháng Điều này có thể dễ hiểu, vì tuổi thọ của lá cà phê có liên quan đến nhiều yếu tố: đặc tính giống, tuổi cây, tình hình sinh trởng, điều kiện ngoại cảnh…

Trên một đoạn cành tơ của cây cà phê chè trồng trong điều kiện sinh thái thuận lợi, và chăm bón tốt, hiện tợng thờng thấy là nhiều đôi lá cà phê tồn tại rất lâu trên cành, cho tới khi chùm quả ở nách lá đã chín nhng vẫn cha rụng Nh vậy cộng cả thời kỳ phát triển của cành tơ và thời kỳ nuôi quả (7-8 tháng), thì tuổi thọ của lá cà phê ở trờng hợp này tới trên 12 tháng Ngợc lại trên cây cà phê vối

dù, trồng trong môi trờng lộng gió của đội Trại Vòng, thì tuổi thọ của lá cà phê vối lại rất ngắn Trong một số vờn cà phê bị ảnh hởng của gió mùa đông bắc nặng ở đây, chúng tôi đã quan trắc thấy trên các đoạn cành tơ đợc hình thành trong năm, số lá bị rụng non trớc vụ ra hoa tới 60-70%, so với tổng số lá đã có,

nh vậy tuổi thọ của lá cà phê vối ở đây chỉ đạt bình quân 5-6 tháng Trên một số vờn cà phê vối trồng ở đầu ngọn gió, lại không đợc tới qua mùa khô ở vùng Buôn Mê Thuột chúng tôi quan sát thấy hiện tợng tơng tự

ở nông trờng Đồng Giao, cũng nh vùng Buôn Mê Thuột, trên các đốt cành đã bị trụi lá sớm, hoa quả không hình thành đợc, hoặc số hoa qủa rất ít Ngợc lại, ở các đốt cành còn nguyên đôi lá, hoa nở nhiều, chùm quả rất sai, quả to

ở một thí nghiệm của Dancer ngắt bỏ một phần bộ lá cà phê vối cho thấy nếu ngắt bỏ lá vào giai đoạn quả đang chín có ít tác dụng đối với trọng lợng quả,

Trang 16

ngợc lại nếu ngắt lá vào thời kỳ quả non đang hình thành sẽ làm cho trọng lợng quả giảm tới 30%.

ở một thí nghiệm ngắt lá cà phê trớc khi hoa nở làm tại một vừơn cà phê chè ở nông trờng Đồng Giao, sẽ trình bày ở phần dới chúng tôi nhận thấy kết quả tơng tự Trên các cây bị ngắt lá một phần lớn trớc ra hoa, sản lợng quả bị giảm sút mạnh (giảm 82% so với đối chứng giữ nguyên bộ lá)

Về chế độ nớc của cây cà phê, nhiều tác giả nghiên cứu hiện tợng bốc hơi nớc của lá cà phê đối với từng giống cà phê, qua các thời gian khác nhau trong ngày, với độ ẩm khác nhau

Quang hợp và nhật quang kỳ là một hiện tợng sinh lý đợc nhiều tác giả nghiên cứu Nutman là một trong những tác giả nghiên cứu nhiều về mặt này Theo Nutman, thì hoạt động quan hợp của cây cà phê ở điều kiện ánh sáng tán xạ mạnh hơn trong điều kiện ánh sáng trực xạ, và đạt mức tối đa với cờng độ

ánh sáng bằng 1/3 lợng chiếu sáng cao nhất trong ngày, vào lúc 12giờ tra tại địa phơng (0,6 calo/ cm2/ phút) Theo dõi kết quả quang hợp của cây cà phê trong ngày (mgCO2/ dm2 lá/ giờ), tác giả nhận thấy quang hợp hoạt động mạnh vào buổi sáng sớm và lúc xế chiều, ngợc lại thấp vào những giờ buổi tra Trong ngày râm trời, ánh sáng yếu, thì hiện tợng diễn ra ngợc lại (xem bảng dới), từ nhận xét này tác giả kết luận, phải có biện pháp che bóng để tạo điều kiện tối thích cho cây cà phê quang hợp mạnh

Những tác giả đứng về phái bỏ cây che bóng cho cà phê lại chứng minh

điều ngợc lại Franco đã phân tích rằng các kết luận của Nutman, dựa trên những kết quả thí nghiệm trên lá cà phê ở ngoài tán cây, đợc chiếu sáng đầy đủ,

là không phù hợp với điều kiện thực tế, vì phần lớn lá cây cà phê nằm ở các tầng dới và trong tán cây, đợc các lớp lá trên che khuất, đã đợc đặt trong môi trờng thuận lợi có bóng che rồi Cũng theo chiều hớng này, qua một số thí nghiệm trồng cà phê trong các điều kiện có bóng che khác nhau, Sylvain cho thấy cây cà phê trồng trong điều kiện ánh sáng toàn phần đạt tốc độ tăng trởng về thân cây

Trang 17

gấp 2 lần, và với số lợng lá gấp 4 lần so với cây cà phê trồng trong điều kiện có bóng che 75%.

Cà phê là cây trồng thích hợp với chế độ ngày ngắn, điều kiện nguyên quán, cũng nh ở các vùng chính trồng cà phê trên thế giới, thời gian chiếu sáng trong ngày từ 10h30- 1h30 (gần chí tuyến) và 12h, 1 ngày (vùng xích đạo) Cây

cà phê có khả năng thích nghi rộng, trong điều kiện thời gian chiếu sáng tới 14h, cây cà phê chè vẫn ra hoa kết quả đợc, quá giới hạn đó hiện tợng ra hoa kết quả bị ngừng trệ Các cây cà phê vối, mít có gốc ở khí hậu nhiệt đới thuần, đòi hỏi về thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn hơn

B.Chức năng sinh sản

1.Hiện tợng nở hoa

Cà phê chè, cà phê vối bắt đầu ra hoa, khi cây đợc 24-30 tháng, tính từ gieo hat Cà phê mít nở hoa chậm hơn 1-2 năm sau

Quá trình nở hoa của cà phê đợc phân ra làm 2 bớc:

-Bớc phân hoá mầm hoa, xuất phát từ những mầm ngủ vô định ở các nách lá (các mầm ngủ này có thể phát triển thành hoa hoặc cành thứ cấp)

-Bớc tăng trởng của mầm hoa thành nụ, rồi thành hoa

Hiện tợng phân hóa mầm hoa đợc nhiều tác giả nghiên cứu và đề ra các thuyết khác nhau Nói chung hiện tợng nở hoa tiến hành dới sự tác động của các chất hoocmon đến nay cha đợc xác định cụ thể, trong những điều kiện ngoại cảnh và dinh dỡng nhất định: chế độ ánh sang, chế độ nớc, sự chênh lệch giữa 2 mùa ma và khô, sự chênh lệch giữa nhiệt độ ngày, đêm diễn biến của tỷ lệ C/N trong thành phần dinh dỡng của cây cà phê

Trong một thí nghiệm làm trên cây cà phê chè 7 tuổi ở nông trờng Đồng Giao năm 1967, chúng tôi cũng xác nhận tầm quan trọng của tỷ lệ C/N đối với

Trang 18

cờng độ ra hoa kết quả của cây cà phê chè Thí nghiệm tiến hành vào đầu tháng 1/1967, gồm 6 công thức:

1-Đối chứng: chăm bón theo đại trà

2-Bón thêm một đợt đạm

3-Cuốc sâu quanh tán cây, theo hình vành khăn, rộng 40cm, sâu 20cm

4-Ngắt toàn bộ lá, chỉ chừa lại 2 đôi lá non ở đầu các cành tơ

5-Ngắt lá+ bón thêm N

6-Ngắt lá+ cuốc sâu quanh tán

Bảng 3: Kết quả thí nghiệm xử lý cây cà phê trớc khi ra hoa

Công thức Biện pháp xử lý Số quả bình % so với

Ngắt lá Bón N Cuốc sâu quân 1cây đối chứng 1

+ - - + -

- + - - +

4664 4100 8170 822 128 2232

100 %

88 %

177 %

19 % 2,8 %

48 %

Kết quả thí nghiêm trên cho thấy cho thấy diễn biến của tỷ lệ C/N trong thành phần dinh dỡng của cây cà phê trớc thời kỳ phân hoá mầm hoa có tác dụng rõ rệt đến quá trình hình thành hoa quả

-Bón phân N, kết hợp ngắt bớt lá vào thời kỳ này có tác dụng làm tăng N, giảm các sản phẩm quang hợp (các chất thuỷ phân), là cho tỷ lệ C/N giảm mạnh, dẫn tới kìm hãm việc phân hóa mầm hoa, cờng độ ra hoa kém, năng suất thấp

Trang 19

Ngợc lại giữ nguyên bộ lá, cuốc đứt bớt rễ lông hút, cắt bớt nguồn cung cấp N, làm cho tỷ lệ C/N tăng đột ngột, có tác dụng thúc đẩy phân hoá mầm hoa, làm cho cây ra hoa rộ, đạt năng suất cao.

-Hoa cà phê nói chung chỉ phát triển trên các cành tơ đợc hình thành năm trớc Điều này thể hiện rõ trên cây cà phê chè, cà phê vối ở đây cà phê mít, ta thờng thấy hiện tợng “lai hoa” tức là hoa nở cả trên các đốt cành đã ra hoa các năm trớc Trên một vờn cà phê mít của nông trờng Ea Tiêu, tỉnh Đắc Lắc, chúng tôi có dịp quan sát một số cây cà phê mít nở hoa không những trên các đoạn già,

mà ngay cả trên thân cây, ở các vị trí phân cành Nhng trừ những trờng hợp ngoại lệ đó, do hiện tợng một số mắt ngủ không hình thành hoa các năm trớc, năm nay gặp các điều kiện thích hợp, phân hoá thành mầm hoa, còn nói chung tuyệt đại bộ phận các hoa đều hình thành trên các đoạn cành tơ

Vì vậy trên một cành quả, ta có thể phân biệt 3 đoạn cành:

-Đoạn cành đã ra hoa quả các năm trớc ở phía trong gần trục đã bị trụi lá.-Đoạn cành đang cho quả, gồm các đốt canh hình thành năm trớc hiện nay đang mang quả, trên một số đốt còn tồn tại đôi lá

-Đoạn cành tơ mới hình thành năm nay: mới ra lá, cha có hoa quả

Một phác thảo về sơ đồ ra hoa quả của một cây cà phê (rõ hơn là một chồi

cà phê) cho ta hình dung khối lợng và vị trí của hoa quả trên cây cà phê và tính chất phát triển hoa quả theo bền mặt tán của cây cà phê, cũng nh trờng hợp nhiều cây lâu năm cho quả khác Ra hoa kết qủa tren các cành tơ, và theo bề mặt tán cây là một đặc tính quan trọng có tác dụng hớng dẫn kỹ thuật tạo hình sửa cành cà phê

Các mầm hoa sau khi đợc hình thành, quả mùa xuân năm sau, sẽ nhú thành những nụ nhỏ bằng đầu que diêm, phá đầu bao bởi một lớp màng mỏng màu nâu, giống nh hình mỏ chim sẻ Giai đọng mỏ sẻ này có thời gian khá dài,

có khi 2-3 tháng, trớc khi chuyển sang giai đoạn mỏ sẻ già chờ điều kiện thời tiết thuận lợi sẽ bung ra thành hoa ở giai đoạn phun tràng

Trang 20

Đây là một giai đoạn sinh lý tinh tế đợc nhiều tác giả nghiên cứu phân tích R.Porteres nghiên cứu về ảnh hởng của lợng ma tới quá trình nở hoa cho thấy hiện tợng nở hoa ứng với một lợng ma tối thiểu gọi là ngỡng ma nở hoa đợc xác định là 3mm đến 10mm, tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh Trên mức

đó, số lợng hoa nở sẽ tăng theo tỷ lệ với lợng ma, tới mức tối thiểu là 25-35mm, quá mức đó dù lợng ma có tăng cũng không làm tăng thêm số lợng hoa nở nữa

Thông thờng thì sau các trận ma 5-7 ngày, hoa sẽ bắt đầu nở rộ ở cà phê mít thời gian đó ngắn hơn một chút 5-6 ngày

Hoa cà phê thờng bắt đầu nở về khuya, và hoàn thành vào lúc sáng sớm

ở trạm thí nghiệm Tây Hiếu đã quan sát 60-70% hoa nở vào khoảng 2-3h sáng, trong điều kiện nhiệt độ 24-250C độ ẩm không khí 94-97%, từ khi búp bắt đầu

nở hoa tới khi tràng hoa xoè cánh ra hoàn toàn hết 4-5h Nhị cái vơn dài, đồng thời các nhị đực bắt đầu tách nhau ra Bao phấn tách ra và bắt đầu tung phấn vào buổi sáng sớm Gió và các loại côn trùng là những nhân tố quan trọng đa phấn hoa bay xa Buổi chiều, nhị đực teo khô nhanhm tiếp theo là tràng hoa khô và tách khỏi noãn sào rồi bị các đầu nhuỵ cái giữ lại 2-3 ngày sau đó rơi rụng hẳn

Đây là hiện tợng treo chuông, ở các nông trờng thờng ngời ta căn cứ vào hiện ợng này để định số ngày nghỉ, dịnh việc hái cà phê, để tránh không làm ảnh h-ởng tới quá trình nở hoa thụ phấn Trong trờng hợp thời tiết bất thuận (sơng muối, gió lào ) làm ảnh h… ỏng đến qúa trình thụ phấn, thì hiện tợng treo chuông không xảy ra, ngợc lại tràng hoa bị chết khô ngay trên đài hoa, mà không tách

t-ra khỏi noãn sào đợc

Mỗi đợt nở hoa, phấn hoa bay ra rất nhiều, và đợc gió côn trùng đa đi xa,

có khi hàng trăm mét Ngời ta đã tính trong ngày nở hoa, một cây cà phê trồng ở nơi tập trụng có thể nhận đợc trên 2 triệu hạt phấn trong vòng 8h

Hạt phấn hoa cà phê nảy mầm rất nhanh Gặp điều kiện thuận lợi, nó nảy mầm ngay 1-2h sau khi tung phấn, và trong vòng 24h đầu, đã nảy mầm tới 69%

Trang 21

Trong trờng hợp bất thuận không nảy mầm đợc, có thể sống 4 ngày ở môi trờng khô hoặc trên 3 tháng ở nhiệt độ 60C.

Điều kiện thời tiết lúc nở hoa có ảnh hởng lớn đến quá trình thụ phấn Các trận gió lớn, nhất là gió khô, các trận ma rào, hoặc ma dầm dễ gây hiện t-ợng héo hoặc trôi phấn hoa, ảnh hởng không nhỏ đến tỷ lệ đậu quả

Một hiện tợng thờng gặp trên cà phê chè là hoa sao tức hoa không phun tràng, mà cánh hoa chỉ nhú ra nh hình ngôi sao nhỏ, có màu phớt xanh, không

có hơng, vì hoa không tung phấn đợc Giữa hiện tợng hoa sao nh trên với trờng hợp hoa nở hoàn chỉnh, có nhiều dạng trung gian, tràng hoa chỉ vơn ra nửa chừng, sau khi thụ phấn, noãn sào vẫn giữ màu xanh nhat, không phát triển một thời gian dài, nếu gặp hạn sẽ không đậu qủa hoặc quả non sẽ bị khô rụng

Đến nay cơ chế của hiện tợng “hoa sao” vẫn cha xác định đợc cụ thể Có tác giả cho rằng, có hiện tợng hoa sao là do cây thiếu dinh dỡng hoặc dinh dỡng không cân đối, ngợc lại, các tác giả khác lại cho rằng nguyên nhân là do cây cà phê sống trong môi trờng sinh thái không thích hợp Kinh nghiệm thực tế cho thấy, hiện tợng “hoa sao” thờng xuất hiện trong các trờng hợp sau: cà phê bị bệnh gỉ sắt làm cho lá rụng quá nhiều hoặc các lứa hoa nở quá muộn vào tháng 5-6, lúc nhiệt độ không khí đã tăng 29-300C, bón phân N quá muộn cũng dễ dẫn tới tỷ lệ hoa sao nhiều

Dù nguyên nhân nào thì hiện tợng hoa dị hình cũng là biểu hiện của một quá trình dinh dỡng thiếu, không cân đối, do thời tiết, do tác hại sâu bện, do chăm bón không đúng cách, làm cho việc chuyển hoá mầm hoa không đợc thúc

đẩy theo hớng thành những hoa hoàn chỉnh

2.Hình thành quả

Sau khi thụ phấn, noãn sào phát triển thành quả Quá trình hình thành quả

có thể chia làm 3 thời kỳ:

Trang 22

-2-3 tháng đầu sau thụ phấn, quả non phát triển chậm.

-Sang thời kỳ thứ 2, đợc ma, quả non đợc cung cấp chất dự trữ đầy đủ phát triển rất nhanh

-2 tháng cuối, nhân đợc hình thành, lúc đầu còn non, mềm, màu xanh trong, sau lớn dần và chuyển sang giai đoạn vào chắc Vỏ ngoài chuyển dần từ màu xanh đậm sang xanh nhạt, rồi màu vàng nhạt và đỏ

Trong quá trình hình thành, không ít quả non bị rụng Hiện tợng này ờng xảy ra nhiều nhất ở thời kỳ đầu, lúc quả non còn nhỏ bằng hạt hồ tiêu, do

th-ảnh hởng của khô hạn, sâu bệnh, thiếu dinh dỡng…ở thời kỳ quả lớn, hiện tợng rụng quả vẫn còn xảy ra, tuy ít hơn, do điều kiện thiếu nớc, do thiếu chất dinh d-ỡng, cây không đáp ứng yêu cầu nuôi quả ở giai đoạn cuối, hiện tợng rụng quả giảm nhiều, nguyên nhân chủ yếu làm rụng quả ở giai đoạn này là do tác động của cơ giới

Thời gian nuôi quả, từ khi thụ phấn tới khi quả chín dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đặc tính giống, một phần do điều kiẹn thời tiết và chế độ chăm bón

Cà phê trồng ở độ cao càng lớn thì thời gian nuôi quả kéo dài, có khi tới 10-15 ngày Các vờn cà phê trồng ở triền đồi hớng tây thờng chín sớm hơn các vờn khác

Quả cà phê chín thờng đợc xác định bằng mắt, căn cứ vào màu sắc vỏ quả

cà phê chuyển từ màu xanh sang nhạt rồi đỏ Những quả đã đạt 1/3 diện tích vỏ quả có màu đỏ đợc đánh giá là đạt độ chín cần thiết

Cà phê chè để chín quá lứa dễ bị rụng nếu hái không kịp Ngợc lại, cà phê vối nhất là cà phê mít có cuống dai hơn, nên ít bị rụng, trờng hợp hái không kịp, quả chín quá lứa bị khô, còn đeo ở trên cành Tuy nhiên trong mỗi loại cà phê cũng có nhiều chủng loại có dặc tính dễ rụng quả khác nhau Chọn các chủng có cuống bở, dễ hái, đạt năng suất hái quả cao cũng là một trong những tiêu chuẩn phụ trong việc bình tuyển giống cà phê

Trang 23

Quả cà phê chín làm nhiều đợt khác nhau, do các đợt hoa nở rải rác Thời gian quả chín đợc thu hoạch rải rác 3-4 tháng, có trờng hợp 5-6 tháng Thời kỳ cao điểm, quả chín tập trung trong khoảng 15-20 ngày, số quả chín tới 60-70% Công trình chọn giống, tuyển những cay cho quả chín tập trung, làm năng suất cao hơn Việc sử dụng các loại hóa chất, nhất là chất kích thích etren, phun trên các chùm trớc mùa quả chín có tác dụng thúc đẩy cho quả chín tập trung tới 90%, giảm bớt công lao động trong khâu thu hoạch rất nhiều.

III Giai đoạn già cỗi

Trong điều kiện thuận lợi, cây cà phê sống khá lâu Ngời ta đã thấy nhng cây cà phê vối sống trên 100 năm, mà vẫn có quả Tuy nhiên, đời sống kinh tế cây cà phê tức là thời kỳ cây cà phê cho sản lợng đáng kể, nói chung chỉ khoảng 20-30 năm Đối với những vờn cà phê chăm bón không đầy đủ, hoặc trồng trên

đất xấu, hoặc bị sâu bện tàn phá, thì chu kỳ đó còn ngắn hơn

Giai đoạn già cỗi đợc xác định bằng các hiện tợng khác nhau: thân cây bị trụi cành một phần lớn phía gần gốc, các cành quả gầy yếu, mọc vơn dài, trụi lá nhiều, lóng ngắn, phiến lá nhỏ, màu xanh nhạt, dễ bị nấm bệnh, quả tha, hạt nhỏ…

Bộ rễ đồng thời cũng bị suy thoái Các rễ phụ phần nhiều bị gãy, rễ tơ ít, già cỗi, teo đi, khả năng hút chất dinh dỡng kém

Biện pháp kinh tế nhất trong trờng hợp này là nhổ bỏ cây đi, cải tạo đất để trồng lại vờn cà phê khác có tiềm lực sản xuất lớn hơn

Chơng III

Sinh thái cây cà phê

Trang 24

Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới có những yêu cầu sinh thái rất khắt khe Những hiều biết không đầy đủ về các đặc tính sinh thái của từng loại cà phê, đối với từng yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau, dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng Cà phê là cây lâu năm, mà hậu quả thờng không thể hiện rõ ngay trong những năm đầu tiên Vì vậy, các tác hại đó bị kéo dài trong nhiều năm, tr-

ớc khi có một nhận định đúng đắn về hậu quả đó

Nắm vững các yêu cần sinh thái không những để trồng cây cà phê cho sống đợc, mà còn phải đạt năng suất cao, hiệu quả kinh tế lớn Đối với một loại cây xuất khẩu nh cà phê, vấn đề tranh thủ một số địa tô cấp sai cao hơn cho các nớc khác trên thế giới lại càng là một vấn đề hết sức phải quan tâm đối với những ngời làm quy hoạch, hoặc chỉ đạo sản xuất kinh doanh

Những bài học kinh nghiệm của nhiều nớc trên thế giới cũng nh những kinh nghiệm của nớc ta về mặt này là những điều cần chú ý tham khảo Braxin

là nớc có lịch sử trồng cà phê gần 300 năm, nhng mãi những năm gần đây, trải qua nhiều trận sơng muối nặng, nhất là trận sơng muối năm 1975 phá hoại 60% diện tích cà phê, ngời ta mới quyết định chuyển hóng bỏ cà phê ở những vùng rìa của vành đai nhiệt đới, để trồng màu cho hiệu quả kinh tế cao hơn

ở nớc ta, trớc kia bon chủ đồn điền Pháp cũ cũng trả bằng một gía đắt trong việc trồng cà phê chè ở các vùng đất nghèo của vùng trung du Bắc Bộ Trong những năm đầu phát triển cà phê ở miền Bắc, chúng ta trải qua những kinh nghiệm khá sâu sắc về phát trỉên cà phê vối ở vùng có vĩ tuyến cao, có mùa

đông lạnh và lộng gío

Trong 2 yếu tố sinh thái chính là khí hậu và đất đai, thì yếu tố thứ nhất có tính chất quyết định hơn Bằng các biện pháp cải tạo đất, ta có thể khắc phục một phần nào đó nhợc điểm của đất đai Nhng đối với khí hậu, mặc dù áp dụng nhiều biện pháp canh tác ta chỉ có thể hạn chế mọt phần các tác hại do các yếu

tố khí hậu bất thuận, chứ khôg thể thay đổi đợc

Trang 25

Vì vậy, trong việc phân vùng quy hoạch đối với các loại cây nhiệt đới mới

có một quá trình thuần hoá cha lâu, yếu tố hàng đầu hết sức quan tâm là phải nghiên cứu kỹ các đặc điểm khí hậu của địa phơng, không những để đặt kế hoạch phát triển các loại cây đó một cách đúng đắn, mà còn nhằm đề ra các biện pháp canh tác thích hợp với yêu cầu sinh thái cụ thể của từng giống cây đó trong điều kiện cụ thể của từng địa phơng

I.Khí hậu với cà phê

Các yếu tố khí hậu có tác động đến sinh trởng và phát dục của cà phê là nhiệt độ, nứơc, ánh sáng, gió…

1.Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố khí hậu có tính giới hạn đối với đời sống cây cà phê chè Nói chung các loại cà phê a một nhiệt độ bình quân năm cao, nhiệt độ không khí xuống thấp dới một giới hạn nhất định gây tác hại đối với cà phê Nhiệt độ thích hợp với cà phê trong khoảng 19-230C, với cà phê vối và mít là 22-260C

Cà phê vối chịu rét kém nhất Nhiệt độ xuống tới 100C trong nhiều ngày

đã làm cho nhiều vờn cà phê vối bị vàng lá Nhiệt độ xuống tới 70C sẽ làm cho nhiều cặp lá non trên đỉnh và rìa tán lá bị sém Tới 20C, thì phần lớn các vờn cà phê, nhất là các vờn cà phê trồng ở những nơi trũng tụ khí lạnh bị cháy phần lớn cành lá

Cà phê mít nói chung có sức chịu rét khá hơn cà phê vối, nhng nếu nhiệt

độ xuống dới 20C, thì cũng bị cháy lá nặng

Cà phê chè chịu rét khoẻ hơn Nhiệt độ xuống 1-20C trong vài đêm không gây thiệt hại đáng kể cho các vờn cà phê chè, chỉ làm cho một số lá non trên ngọn và rìa tán lá bị cháy sém Nhiệt độ xuống tới –20C làm cho nhiều vờn cà

Trang 26

phê bị cháy cành lá tới 1/3 hoặc tán cây ở nhiệt độ thấp hơn, một số vờn cây cà phê chè ở nơi trũng có thể bị chết đến tận gốc.

Trong mỗi giống cà phê, đều có những chủng hoặc cá thể chịu rét khỏe hơn Qua các trận sơng muối, nhận thấy có những cây cà phê vẫn tồn tại xanh tốt, bên cạnh các cây trong vờn bị chết hoặc bị ảnh hởng nặng Một công trình theo dõi các cây này qua nhiều đợt rét hoặc sơng muối có tác dụng tốt đối với việc chọn giống cà phê chịu rét cao để trồng ở các vùng có mùa đông lạnh Cà phê vối thuộc chủng loại Kouilou lá nhỏ, mép lá xoăn chịu rét khá hơn chủng cà phê vối lá to Robusta Thời Pháp thuộc, trại thí nghiệm Phú Hộ đã chọn đợc giống cà phê mít Chari 10 có khả năng chịu rét tốt, thích hợp với nhiều vùng có khí hậu lạnh ở miền Bắc, trong các chủng cà phê chè thì Caturra đợc các nông trờng xác nhận là có khả năng chịu rét khoẻ hơn cả Qua các trận sơng muối gần

đây nhất ở Phủ Quỳ (tháng 1/1974, tháng 1/1976) nhiệt độ ban đêm xuống tới –20C, nhng nhiều vờn cà phê Caturra vẫn tồn tại, chỉ bị cháy một số lá ngọn, trong khi các vờn cà phê chè giống khác cùng trồng bên cạnh bị chết hàng loạt

Cà phê non, đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, bị ảnh hởng của nhiệt độ thấp hơn cà phê đã trởng thành Nhiều vờn cà phê non 1-3 tuổi, qua các đợt sơng muối bị tác hại nặng, cây chết đến tận gốc, phải phá đi trồng lại

Nhiệt độ cao 36-390C ảnh hởng xấu tới sinh trởng của cây cà phê, làm cho lá non bị cháy khô Cà phê vối là loại yếu chịu nóng nhất, trong đó chủng loại Robusta chịu nóng kém hơn cả Cà phê chè chịu nắng nóng khá hơn Chủng

cà phê chè Caturra trồng ở nhiều địa phơng Phủ Quỳ, Cồn Tiên IaCham đều…

đợc xác nhận có sức chịu nóng hơn nhiều chủng cà phê chè khác Cà phê mít là loại cà phê chịu nắng nóng cao hơn cả Qua các đợt gió Lào ở Phủ Quỳ, nhiệt độ không khí có lúc cao tới trên 400C, nhng các vờn cà phê mít đã trởng thành khép tán không bị ảnh hởng gì đáng kể

Biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm cao, có tác dụng thúc đẩy hoạt động quang hợp tích luỹ chất khô vào ban ngầy và hạn chế tiêu hao vật chất vào ban

Trang 27

đêm, có ảnh hởng sâu sắc đến năng suất và phẩm chất cà phê Các mặt hàng cà phê chè có tên tuổi trên thị trờng thế giới, do có hơng vị thơm ngon đặc biệt, đều

là cà phê trồng ở các vùng núi cao 800-1200m, có biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, nh ở các nớc Colombia, Hamaica, Kenia cà phê vối ở vùng Ban Mê Thuột…cũng trồng trên đất đỏ bazan nh ở Phủ Quỳ, nhng nhờ u thế về khí hậu cao nguyên nên có phẩm chất thơm ngon hơn cà phê vối vùng Phủ Quỳ, tỷ lệ cà phê nhân so với cà phê quả tơi cũng cao hơn 22-24,5%, so với 14-16,5% ở Phủ Quỳ

2.Nớc

Sau nhiệt độ, nớc là yếu tố có tính chất quyết định với sinh trởng và năng suất cà phê Nói chung cà phê cầm một lợng ma cả năm cao, phân bố tơng đối

đều, có mùa khô ngắn, khoảng trên dới 2 tháng

Cà phê vối là loại cà phê yêú chịu hạn nhất, và đòi hỏi một lợng ma cả năm 1500-2000mm, phân bố tơng đối đều Một số vùng có lợng ma cao, trên d-

ới 3000mm, nh ở Xumatra, cao nguyên Boloven (Lào), cà phê vối phát triển rất tốt ở Tây Nguyên có lợng ma 1700-1800 mm đáp ứng yêu cầu của cà phê vối, nhng không phân bố đều, mùa khô khắc nghiệt và kéo dài, vì vậy cà phê vối trồng ở đây không đợc tới cho năng suất thấp, bấp bênh, ngợc lại, nếu đợc tới trong mùa khô sẽ cho sản lợng cao đặc biệt

Cà phê chè đòi hỏi một lợng ma cao vừa phải (1200-1500mm) Cà phê mít chịu hạn khá nhất, nhng ở nơi ma nhiều, cho năng suất cao hơn hẳn

Nói chung cà phê a khí hậu ma nhiều, nhng một khí hậu có chế độ ma gần nh quanh năm không phải là điều kiện lý tởng cho cây cà phê đạt năng suất cao nhất Ngợc lại, một lợng ma tơng đối cao, nhng có một mùa khô tơng đối ngắn, có tác dụng thúc đẩy cà phê sinh trởng mạnh trong mùa ma Qua vụ hạn, cây ngừng sinh trởng, tập trung nhựa, phân hoá mầm hoa mạnh, ra hoa kết quả nhiều

Trang 28

Tìm hiểu tơng quan giữa chế độ ma và năng suất, sản lợng cà phê ở các nông trờng, chúng tôi nhận thấy các vụ cà phê đợc mùa thờng trùng hợp với các năm mùa khô rõ rệt, tiếp theo một mùa ma nhiều, làm cho cà phê qua mùa ma sinh trởng mạnh, phát triển nhiều cành tơ, đến vụ khô cây phân hoá mầm hoa mạnh, cho nhiều hoa quả.

Vụ cà phê chè năm 1965, nông trờng Đồng Giao cũng nh nhiều nông ờng khác đợc mùa cà phê, riêng Đồng Giao đạt năng suất bình quân 680kg/ha, nhiều vờn cà phê đạt trên 1000kg/ha một số lô đạt tới 2000-2200kg/ha là vì vụ

tr-hè thu 1964 có lợng ma rất cao (1830mm), rải đều ra các tháng, tiếp đến vụ hạn trong đông xuân 1964-1965 chỉ có lợng ma rất thấp (11/1964- 3/1965) chỉ có 5 ngày ma với 17mmm thúc đẩy phân hoá mầm hoa, hình thành nhiều mỏ sẻ đến khi gặp các trận ma rào đầu mùa, hoa nở hàng loạt, đa lại năng suất cao

Trên thế giới, một số nớc có chế độ ma tơng tự nh Hawoai, đạt năng suất

cà phê rất cao (2500kg/ha)

Nhng mùa khô chỉ có tác dụng tích cực, nếu ở mức độ nhất định, quá giới hạn đó sẽ trở nên có hại Vụ hạn hán nặng trong đông xuân 1976-1977, kéo dài tới tháng 7/1977 mặc dù cà phê của các nông trờng vùng Phủ Quỳ ra hoa, đậu quả nhìêu, nhng sau đó một phần lớn quả non không phát triển đợc, bị rụng nhiều đa đến hậu quả mất mùa, năng suất chỉ đạt 250-300kg/ha

Thời vụ ma có tác dụng lớn đối với việc ra hoa kết quả của loại cà phê ở nớc ta, vụ ma lớn trùng với kỳ sinh trởng của cà phê chè và cà phê vối Nhng ở các tỉnh phía Bắc, vụ ma xuân lại đúng vào thời kỳ các loại cà phê này ra hoa kết quả Những năm ma phùn lai rai, cộng thêm với nhiệt độ thấp làm cho cà phê chè, nhất là cà phê vối nở hoa vào những ngày ma phùn khó tung phấn, đậu quả ít Tơng tự nh vậy, các cây nhãn, vải gặp các năm ma phùn nhiều, các đợt hoa nở thờng bị trôi phấn, gây nên hiện tợng mất mùa

Khác với cà phê chè và cà phê vối, cây cà phê mít nở hoa vào giữa vụ ma thu, thờng có những đợt ma rất to và kéo dài nhiều ngày, xen kẽ với những ngày

Trang 29

nắng lớn Các đợt hoa của cà phê mít đợc phát động vào những ngày ma đó, nếu trời dứt ma sớm, sẽ nở bung vào những ngày nắng ráo kế tiếp và đậu quả hàng loạt Ngợc lại, trong vòng 5-7 ngày sau đợt ma phát động cho hoa nở, lại tiếp

đến một đợt ma thứ hai, thì hoa nở sẽ trúng vào ngày ma, gây hiện tợng trôi phấn hoa, làm cho lứa hoa đó không có kết quả

3.Độ ẩm không khí

Độ ẩm tơng đối của không khí có tác dụng lớn đối với sinh trởng của cây trồng, vì nó có liên quan đến tốc độ bốc hơi của cây Độ ẩm không khí lớn hạn chế bốc hơi nớc của lá, ngợc lại độ ẩm thấp sẽ thúc đẩy tốc độ phát tán nớc

Các loại cà phê, nhất là cà phê vối, mít, xuất xứ từ vùng rừng ẩm nhiệt

đới, yêu cần một chế độ ẩm rất cao

ở nớc ta, nhiều vùng trồng cà phê chịu ảnh hởng của chế độ gió khô, nhcác cùng Phủ Quỳ, Côn Tiên bị ảnh hởng của gió Đông Bắc khô, làm cho độ ẩm không khí trong các đợt gió hại này xuống thấp 40-50%, có ngày xuống tới 14-15% Trong các thời kỳ đó, cà phê bị ảnh hởng nặng, lá non bị khô, bị cháy sém một phần hoặc toàn bộ lá bị rũ xuống Nếu các đợt gió khô nóng đó chỉ tác động một thời gian, thì ảnh hởng không nhiều, qua vụ ma cây sẽ bị phục hồi lại nhanh chóng Nhng nếu các đợt gió khô kéo dài gay gắt thì gây thiệt hại đáng kể, làm cho năng suất cà phê bị giảm sút mạnh

Công dụng của các đai rừng phòng hộ, cây che bóng, cây phủ đất, làm giảm tốc độ gío, giữ ẩm không khí, trong những trờng hợp này đối với cà phê là rất quan trọng Nghiên cứu diễn biến của động thái ẩm của đất, và độ ẩm không khí trong các đợt gió lào ở vùng Phủ Quỳ, nhà thổ nhỡng Fridland cho rằng ở v-

ờn cà phê đã khép tán qua các đợt gió Lào nặng nhất trong năm, độ ẩm của đất vẫn cha xuống tới mức độ ẩm cây héo vì vậy không trực tiếp tác hại đến một

Trang 30

cách nghiêm trọng, ngợc lại, độ ẩm không khí thấp những ngày này đã gây ra hiện tợng héo và cháy lá.

4.ánh sáng

Trong điều kiện tự nhiên, các loại cây cà phê đều sinh sống ở môi trờng rừng tha Xuất phát từ nhận định đó, từ lâu ngời ta đã xếp cà phê vào loại cây a bóng mát, và cũng từ quan điểm đó, để ra các biện pháp canh tác tơng ứng

Những năm gần đây, dựa vào những kết quả nghiên cứu và qua kinh nghiệm thực tế, nhiều tác giả đã chứng minh rằng cây cà phê có thể trồng ngoài nắng, không cần có cây che bóng, không những thế lại còn cho năng suất cao, tất nhiên điều kiện chăm sóc đặc biệt khác hẳn điều kiện tự nhiên

Theo xu hớng này, nhiều nớc trồng cà phê trên thế giới đã mạnh dạn trồng cà phê không có cây che bóng đồng thời chăm bón đầy đủ, nhất là tăng c-ờng phân bón, nhờ vậy, đạt đợc những năng suất cao hơn hẳn

đa số các cành sai quả gặp ma nặng trĩu bị gió mạnh làm cho gãy, đa số quả non

bị rụng rơi, lá cây bị gió quật làm cho rách lá, nhiều cây bị đổ nghiêng ngả, có khi bật rễ nhiều cây bị cây bóng mát đổ xuống làm gãy cành

Trang 31

Vì vậy, sau các trận bão tốn rất nhiều công dựng lại cây cối, thu dọn lại cành lá, giải quyết hậu quả của bão ảnh hởng của bão không chỉ làm giảm sản lợng cà phê ngay năm đó mà do cành lá bị giập nát, cây bị đỏ gãy có tác hại đến sản lợng của nhiều năm sau.

Ngoài tác hại của bão, cà phê trồng ở các tỉnh miền Bắc nớc ta còn chịu

ảnh hởng xấu của nhiều loại gió Gió mùa Đông Bắc mạnh nhng mang đến khí lạnh, làm cho nhiều vờn cà phê nhất là cà phê vối trồng ở nơi trống gió, bị hại nghiêm trọng ở nông trờng Đồng Giao, nơi tiếp giáp giữa vùng bán sơn địa với

đồng bằng Bắc Bộ, chịu ảnh hởng của gió mùa Đông Bắc Hiện tợng thờng thấy

ở đây là các hàng cây cà phê vối phía rìa lô, trực diện với gió lạnh, bị trụi lá trên một nửa tán cây phía Đông Bắc Bộ lá tơ mới đợc hình thành trong vụ hè thu nhiều khi bị rụng trớc thời hạn từ 60-70% làm cho quả không hình thành đợc, năng suất bị giảm sút, các cành quả bị trụi lá sớm, đợc nuôi dỡng kém, chỉ tồn tại 2,3 năm, so với các cành quả ở môi trờng im gió là 4, 5 năm, hay lâu dài hơn

Gió khô Tây Nam thờng gọi là gió Lào, làm cho cây bị mất nớc, mềm rũ xuống hoặc khô rụng, quả non cũng bị rụng một phần Tuy nhiên, theo nhận xét của nhiều nông trờng trồng cà phê, nếu có cây che bóng thì ảnh hởng của gió Lào không nghiêm trọng Qua các trận ma đầu mùa, nếu đợc giảm chăm bón tốt các vờn cà phê khôi phục lá nhanh chóng, chỉ sau 1,2 tháng không còn thấy vết tích của gió Lào nữa

Gió khô của các tỉnh Tây Nguyên tác động liên tục trong một thời gian dài 4,5 tháng, không những làm cho độ ẩm không khí giảm sút mạnh mà còn làm cho dự trữ nớc ở trong các lớp đất mặt bị khô kiệt, ảnh hởng lớn đến sinh tr-ởng và sản lợng cà phê nhất là cà phê vối Nếu không có biện pháp tới nớc giữ

ẩm ở đây, đặc biệt là thời kỳ cây ra hoa kết quả sớm thì sản lợng cà phê sẽ bị giảm sút nghiêm trọng

Trang 32

II.Đất trồng cà phê

Cà phê là loại cây lâu năm có bộ rễ khỏe, phàm ăn, đòi hỏi đất tốt để phát triển và cho sản lợng cao Cà phê trồng trên đất tốt không những cho năng suất cao mà đời sống kinh tế cũng dài hơn Trên đất tốt cây cà phê có thể cho sản l-ợng cao liên tục trong vòng 30-40 năm, nhng ở đất xấu cây cà phê cha đầy 20 tuổi đã có triệu chứng già cỗi và tàn sớm

Cũng nh nhiều loại cây lâu năm khác trồng trên đất đồi, cà phê đòi hỏi ở

đất những đặc tính vật lý thích hợp nhiều hơn là đặc tính hoá học Tầng đất sâu

và cấu tợng của đất tơi xốp là 2 yếu tố quan trọng bậc nhất làm cho cà phê phát triển mạnh Đất càng sâu thì bộ rễ càng phát triển và huy động một khối lợng lớn các chất phì để nuôi cây Qua kinh nghiệm thực tế, độ sâu 70cm trở lên đợc coi nh phù hợp với yêu cầu trồng cà phê, nơi có độ sâu 1m hoặc hơn càng tốt

Đặc tính tơi xốp cũng là một yêu cầu quan trọng đối với cà phê Trên các loại

đất có cấu tợng chặt, độ tơi xốp kém, thoát nớc chậm, bộ rễ tơ của cà phê kém phát triển, nơi thờng bị úng ngập, một phần quan trọng của rễ tơ bị thối chết, cây chậm phát triển nếu ngập úng lâu ngày có thể bị chết Ngợc lại, trên các loại

đất có độ tơi xốp cao (55-60%), thoát nớc nhanh, rễ tơ của cà phê phát triển mạnh, cây sinh trởng xanh tốt

Cà phê có bộ rễ ăn sâu nên ít bị ảnh hởng của hạn hán nh các loại cây hàng năm Nhng ở các vùng có mùa khô khắc nghiệt khả năng giữ ẩm của đất

để cung cấp nớc cho cây mùa khô là một đặc tính quan trọng cần đợc chú ý nghiên cứu Các tài liệu phân tích về chế độ nớc của một số loại đất trồng cà phê của trại thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu cho thấy đất bazan, mặc dù có độ ẩm cây héo tơng đối cao, nhng nhờ có sức chứa nớc lớn, nên có lợng nớc hữu hiệu nhiều cung cấp cho cây trồng

Về mặt hóa tính, các kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón đều khẳng

định N và K2O là 2 chất dinh dỡng cây cà phê đòi hỏi cao nhất Tuy nhiên trong

Trang 33

giai đoạn cay còn non, đang hình thành bộ rễ, nhu cầu về P2O5 cũng rất lớn Qua kinh nghiệm thực tế, các loại đất có hàm lợng:

Bảng 4: Đặc điểm đất bazan và phiến thạch vùng Phủ Quỳ

Loại đất Đất bazan Đất phiến thạchLợng nớc hút ẩm (Hy)

Lợng nớc ẩm cây héo

Sức hút nớc lớn nhất ngoài đồng

Nớc hữu hiệu

8,5 % (thể tích) 17,5 % 56,0 % 38,5 %

4,5 % (thể tích) 8,5 % 32,0 % 23,5 %

Hàm lợng mùn và các chất hữu cơ trong đất là một chỉ tiêu quan trọng để

đánh giá độ phì nhiêu của các loại đất nhiệt đới Đối với cây cà phê có bộ rễ a môi trờng giầu chất hữu cơ, hàm lợng mùn trên dới 2% đợc coi nh một định mức tối thiểu Các loại đất mới khai hoang, thờng có một lợng mùn khá cao thích hợp với việc trồng cà phê Trên các loại đất đã khai hoang từ lâu đời, hàm lợng mùn đã giảm sút nhiều, nếu dùng để trồng cây cà phê chú ý gieo trồng phân xanh và bón lót phân hữu cơ đầy đủ trớc khi trồng cà phê

Về độ pH của đất trồng cà phê, các nhà nghiên cứu thờng không thống nhất Những kết luận trớc đây cho rằng cà phê đòi hỏi một độ pH của đất

Trang 34

khoảng 4,5-5 Nhng một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy cây cà phê vẫn phát triển tốt trên các loại đất có pH 6,0 hoặc gần trung tính Các loại đất đồi Việt Nam thờng có phản ứng chua, nói chung đáp ứng yêu cầu của cây cà phê

về mặt này, trừ những vùng đất đã sử dụng lâu đời, các muối bị cuốn trôi nhiều,

pH xuống thấp dới 4,0 cần đợc vón vôi để cải tạo đất trớc khi trồng cà phê

Công tác chăm sóc cà phê bao gồm hàng loạt biện pháp kỹ thuật nh làm

cỏ, bón phân, tới nớc, sửa cành, phòng trừ sâu bệnh tất cả các biện pháp đó phải làm liên hoàn, kịp thời mới phát huy đợc tác dụng Trong chơng này,

Trang 35

chúng tôi chỉ nêu những biện pháp chăm sóc có tính cách phổ thông nh làm cỏ cày bừa, xới xáo, tủ gốc …

1.Làm cỏ

Làm cỏ là biện pháp chăm sóc phổ thông nhất, nhng lại là động tác quan trọng, giải quyết sự tranh chấp và thức ăn đối với cây cà phê, và mở đầu cho các biện pháp chăm sóc khác:

Tuỳ theo tuổi cây cà phê và yêu cầu kỹ thuật, ngời ta áp dụng các phơng pháp làm cỏ khác nhau:

-Làm cỏ gốc diệt toàn bộ cỏ dại trong phạm vi từng gốc cà phê theo một

hình tròn có đờng kính 1-1,5m, tuỳ theo cây to, nhỏ Phơng pháp này chỉ áp dụng với vờn cây mới trồng

-Làm cỏ hàng, giãy cỏ dọc theo hàng cà phê thành một cái băng rộng

1-1,5m, áp dụng đối với các cây cà phê đã giao tán trên hàng

-Làm cỏ trắng, tức là giãy cỏ trên toàn bộ diện tích áp dụng trong trờng

hợp vờn cà phê đã giao tán, trớc vụ thu hoạch Làm cỏ trắng dễ gây nên hiện ợng xói mòn vì vậy phải tránh làm trong mùa ma Hơn nữa làm cỏ trắng thờng xuyên sẽ dẫn tới làm cho mặt đất bị chai cứng, giữ ẩm kém Vì vậy nhiều nông trờng không áp dụng phơng pháp làm cỏ trắng nữa

t Diệt cỏ không làm vào lúc trời nắng, đất khô ráo, để cỏ không gặp độ ẩm

mà sống lại Nhng chính vào mùa ma, cỏ mọc mới mạnh Vì vậy phải có kế hoạch bố trí lao động, để chủ động diệt cỏ kịp thời

Làm cỏ phải luôn kết hợp với xáo, tủ gốc, vừa diệt đợc cỏ dại, vừa làm

cho đất đợc tơi xốp, giữ ẩm

Đối với các vờn cà phê kiến thiết cơ bản, diện tích đất phơi ra ánh sáng nhiều, cỏ mọc mạnh, phải tiến hánh diệt cỏ 5-6 lần/năm, đặc biệt trong mùa ma,

Trang 36

phải làm cỏ 20 ngày 1 lần Đối với các vờn cà phê kinh doanh, tán cây đã giao nhau, cỏ dại ít, có thể làm cỏ 3-4 lần/năm, kết hợp với các đợt bón phân.

Trên các loại đất có độ tơi xốp cao, nh đất bazan ng… ời ta thờng dùng các loại bàn vét, có lỡi rộng 25-30cm, để dãy cỏ đợc nhanh Nhng dụng cụ này

chỉ đợc áp dụng đối với các loại cỏ thông thờng, sinh sản bằng hạt Đối với các loại cỏ dại phát triển bằng thân ngầm nh cỏ tranh (Imperatra cylindrica), cỏ gừng (Panicum repens) thì không thể diệt bằng dãy cỏ trên mặt đ… ợc, theo cách làm cỏ cạo râu đợc, mà phải áp dụng một phơng pháp diệt cỏ đặc biệt dựa trên

đặc điểm sinh trởng của từng gốc cỏ

Qua việc nghiên cứu diệt cỏ tranh bằng phơng pháp cơ giới chúng tôi

nhận thấy:

thân ngầm nào cũng có khả năng đâm chồi nh nhau, mà chồi mới phát triển chủ yếu ở đoạn chạng 3 phân bố ở độ sâu 7-10cm.“ ”

-Trên đất chặt, “rễ tranh” phân bố ở tầng mặt (10-15cm) là chủ yếu Ngợc lại đất cày bừa càng tơi xốp thì “rễ tranh” càng ăn xuống sâu

-Thân ngầm cỏ tranh, nếu bị cắt ra thành từng đoạn ngắn và phơi ra nắng, mất sức nảy mầm khá nhanh Ngợc lại nếu bị vùi trong đất, có độ ẩm, thì các

đoạn thân ngầm, nhất là đoạn “chạng ba” sẽ đâm chồi và phát triển thành cây cỏ tranh mới

Từ những nhận xét này, đã rút ra một số biện pháp diệt tranh bằng phơng pháp cơ giới:

-Nếu dùng cuốc diệt cỏ tranh trong gốc, thì không đợc dãy cỏ trên mặt theo kiểu “cạo râu”, vì điểm sinh trởng bị loại trừ, sẽ kích thích cho các mầm ngủ phía dới phát triển mạnh Ngợc lại, phải bấm cuốc sâu 10-15cm quanh bụi tranh, lấy hết đoạn “chạng ba” phơi ra nắng cho khô chết

Trang 37

-Trờng hợp diệt cỏ tranh bằng cày, bừa thì phải cày sâu 20-25cm, sau dùng bừa dĩa, bừa nặng làm cho tơi đất và vơ “rễ tranh” thành đống trên mặt đất, phơi nắng cho khô chết Một tháng sau bừa lại, tiếp tục diệt các chồi tranh mới tái sinh Nếu cày bừa vào lúc nắng to, chỉ sau 2 đợt có thể diệt hết cỏ tranh một cách cơ bản.

Đối với cỏ gừng (Panicum repens), có phần khó diệt hơn, vì cỏ gừng không tích luỹ chất dự trữ ở gốc, mà tạo thành các đoạn phình to trên thân ngầm nằm dới mặt đất Biện pháp diệt cỏ gừng cũng tơng tự nh đối với cỏ tranh, nhng cần cày bừa liên tục, nhiều lần hơn, làm tiêu hao các chất dự trữ trong thân ngầm

Cỏ thài lài (Commelia elegans) cũng là một loại cỏ phát triển bằng thân

ngầm thờng có trên các vờn cà phê Đặc điểm của các loài cỏ này là tích trữ nớc trong thân nhiều, nên bị phơi ra nắng lâu không bị chết, ở các nông trờng, công

nhân có kinh nghiệm diệt cỏ thài lài bằng cách dứt dây thài lài thành đoạn dài vắt lên cây cà phê phơi nắng cho chết

Gần đây, ở một số nớc trồng cà phê ở châu Mỹ La Tinh, đặc biệt ở Côlômbia lại dùng cây thài lài làm cây phủ đất, chống cỏ dại trong vờn cà phê Kết quả thí nghiệm ở đây cho thấy bộ rễ cây thài lài ăn rất cạn, làm cho đất tơi xốp, tăng lợng oxy vào đất, do đó không tranh chấp nơc và thức ăn với cây cà phê

2.Cày, bừa, phay, xới, phát cỏ

Cày bừa, xới xáo là biện pháp cải thiện điều kiện lý tính của đất, tăng độ tơi xốp, tăng khả năng xâm nhập của oxy, giải phóng chất phì, tạo điều kiện cho

rễ cây phát triển, hút nớc và thức ăn trong đất

Trang 38

Nh trên đã phân tích, bộ rễ cà phê có đặc tính hảo khí nên đòi hỏi đất đợc tơi thoáng luôn Cày bừa xới xáo không những làm tăng độ xốp mà còn tăng khả năng giữ ẩm các lớp đất mật nh các kết quả thí nghiệm dới đây:

Bảng 5: Độ ẩm đất không cày bừa trớc vụ hạn

(NT Đồng Giao tháng 2/1963)

Tầng đất Cà phê mít, đội Trại Vòng

(Không cày)

Cà phê mít, đội Ghềnh (Cày trớc hạn)0-10 cm

0-20 cm

20-30 cm

10,67 % 15,57 % 17,91 %

11,34 % 20,68 % 21,15 %

Nếu biện pháp cày bừa làm tăng độ xốp và khả năng giữ độ ẩm của đất là

điều mọi ngời đều nhất trí, thì ngợc lại đối với cây cà phê, có ý kiến cho rằng cày bừa nhiều sẽ là đứt một phần rễ cà phê và ảnh hởng đến sinh trởng của cây

ở nông trờng Đồng Giao, các vờn cà phê vối đợc cay bừa đầu mùa khô vào lúc cây bắt đầu ngừng sinh trởng, sau khi cày bừa một thời gian, chuyển màu vàng khá rõ rệt Kinh nghiệm một số nớc trên thế giới cho biết các vờn cà phê sau khi

đợc cày bừa sau ra hoa rộ hơn, năng suất thờng tăng từ 10-15% so với không cày, nh cây cằn lại và sản lợng các năm sau bị tụt đi Chính vì vậy mà ở nhiều n-

ớc trên thế giới, sau một thời kỳ có phong trào sử dụng triệt để cơ giới vào việc chăm sóc cà phê, ngời ta đã trở lại công thức dùng cơ giới có mức độ kết hợp với thủ công

Bảng 6: Độ ẩm đất có xới xáo, tủ gốc, so với đối chứng

(NT Đồng Giao, tháng 2/1963)

Trang 39

Tầng đất Lô cà phê vối số 6 Trại Vòng

(không xới, tủ)

Lô cà phê vối 21 Đội Ghềnh (xới, tủ)

19,74 % 19,87 % 19,67 % 21,97 %

Qua kinh nghiệm thực tế, chúng tôi cho rằng, nếu áp dụng một chế độ làm đất thích hợp (thời gian, số lần làm đất, công cụ làm đất, độ sâu ) thì … cày bừa xới xáo chỉ có tác dụng tốt.

Bộ rễ cà phê rất hảo khí Vì vậy ở đất không cày bừa, đất bị nén chặt, rễ tơ có xu hớng phát triển dày đặc trên mặt đât, nhng một phần lớn đã già cỗi, chuyển màu vàng, khả năng hút thức ăn kém Ngợc lại trên đất có cày bừa tơi xốp, bộ rễ phân bố sâu và đều hơn Nếu tác động cày bừa, phay, xới có làm đứt một phần rễ tơ, thì với đặc tính tái sinh mạnh, hàng loạt rễ tơ mới màu trắng có khả năng hút thức ăn mạnh sẽ đợc phục hồi nhanh chóng Tất nhiên cày bừa liên

tiếp nhiều lần và quá sâu sẽ làm cho bộ rễ bị tổn thơng nhiều, không kịp khôi phục và ảnh hởng xấu đến sinh trởng của cây cà phê

Kinh nghiệm các nông trờng cho thấy, tùy theo đặc điểm đất đai, khí hậu

và tình hình vờn cà phê mà áp dụng một chế độ làm đất thích hợp:

-Đối với các loại đất có độ xốp tự nhiên cao (bazan, pooafia )thì không…cần cày bừa, mà nên dùng máy phay 4lần/1 năm làm cho lớp mặt sâu 8-12cm đ-

ợc tơi xốp, sạch cỏ

-Đối với các loại đất có độ tơi xốp kém hơn (đất đá vôi, diệp thạc, phù sa cổ…) thì mỗi năm nên cày bừa 1 lần vào cuối mùa ma, kết hợp dùng máy phay

3-4 lần/năm để tăng độ xốp và khả năng giữ ẩm

Trang 40

-Đối với các vờn cà phê đang ở thời kỳ cần thiết cơ bản, tỷ lệ che phủ thấp, cỏ dại nhiều, mặt đất dễ bị nén chặt thì phải tăng cờng các đợt cày bừa xới xáo (1,2 lần cày bừa + 4,5 lần phay).

-Đối với các vờn cà phê đã chuyển sang kinh doanh, tán cây đã giao nhau,

đất đợc che phủ, giữ đợc độ ẩm và tơi xốp, cỏ dại ít thì giảm số lần làm đất (4 lần phay, hoặc 1 lần bừa và 3 lần phay)

3.Phủ đất

Phủ đất là một biện pháp canh tác thờng đợc áp dụng đối với nhiều loại cây trồng và đem lại những kết quả tốt, đặc biệt đối với các loại cây nhiệt đới lâu năm nh cà phê, cao su, chè, ca cao…

Phủ đất có tác dụng tốt nhiều mặt đối với cây trồng:

+Giảm ôn đội mặt đất

+Giữ độ ẩm của các tầng đất mặt

+Làm tơi xốp đất, cải thiện điều kiện lý tính đất

+Tăng hàm lợng mùn và các chất hữu cơ, thêm chất phì để nuôi cây

Bảng 7: Nhiệt độ mặt đất ( 0 C) vờn cà phê đất phủ so với đối chứng

(Lô cà phê chè A12- NT 3/2), (Trạm thí nghiệm Tây Hiếu)

1 giờ 7 giờ 13 giờ 19 giờ Biên độ tối đaKhông phủ

Phủ gốc

26,4 31,8

29 29,6

53,6 42,0

31,2 36,2

26,8 12,4

Bảng 8: Độ ẩm các tầng đất có phủ gốc, so với đối chứng

(Lô cà phê chè số 30- Hng Đông NT Tây Hiếu)

Độ sâu (cm) Không phủ (%) Có phủ gốc (%) Chênh lệch (%)

Ngày đăng: 14/07/2015, 11:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Kết quả thí nghiệm xử lý cây cà phê trớc khi ra hoa - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 3 Kết quả thí nghiệm xử lý cây cà phê trớc khi ra hoa (Trang 18)
Bảng 4:  Đặc điểm đất bazan và phiến thạch vùng Phủ Quỳ - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 4 Đặc điểm đất bazan và phiến thạch vùng Phủ Quỳ (Trang 33)
Bảng 5: Độ ẩm đất không cày bừa trớc vụ hạn            (NT Đồng Giao tháng 2/1963) - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 5 Độ ẩm đất không cày bừa trớc vụ hạn (NT Đồng Giao tháng 2/1963) (Trang 38)
Bảng 7: Nhiệt độ mặt đất ( 0 C) vờn cà phê đất phủ so với đối chứng - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 7 Nhiệt độ mặt đất ( 0 C) vờn cà phê đất phủ so với đối chứng (Trang 40)
Bảng 9: Độ xốp lớp đất 0-10cm có phủ đất, so với đối chứng - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 9 Độ xốp lớp đất 0-10cm có phủ đất, so với đối chứng (Trang 41)
Bảng 10: Thí nghiệm phủ đất đối với các giống cà phê viện INEAC - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 10 Thí nghiệm phủ đất đối với các giống cà phê viện INEAC (Trang 42)
Bảng 11: Thành phần dinh dỡng quả cà phê qua các tháng - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 11 Thành phần dinh dỡng quả cà phê qua các tháng (Trang 48)
Bảng 12: Nhu cầu dinh dỡng cây cà phê qua các tuổi - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 12 Nhu cầu dinh dỡng cây cà phê qua các tuổi (Trang 49)
Bảng 13:  Công thức phân bón cho cà phê các tuổi - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 13 Công thức phân bón cho cà phê các tuổi (Trang 63)
Bảng 14:Tơng quan giữa hệ số bốc hơi và độ ẩm đất - Luận Văn  Sinh trưởng phát triên của cây của các giông cà phê
Bảng 14 Tơng quan giữa hệ số bốc hơi và độ ẩm đất (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w