Do vậy, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu để phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo công ăn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
H O À N G T H Ị M A I P H Ư Ơ N G
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
L U Ậ N V Ă N T H Ạ C SĨ K IN H TẾ Đ Ố I N G O Ạ I
Hà Nội - Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
H O À N G T H Ị M A I P H Ư Ơ N G
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGÀNH DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT N A M 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của David RicardoError! Bookmark not defined 6 1.1.2 Mô hình kim cương của Michael Porter 9
1.1.3 L ý th u yết về chuỗi giá tr ị 14
1.2 Chuỗi giá trị ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam và vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.2.1 Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam 17
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế Việt Nam 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 25
2.1 Thị trường Mỹ và chính sách thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu vào M ỹ 25
2.1.1 Khái quát về thị trường M ỹ 25
2.1.2 Chính sách thương mại của Mỹ đối với nhập khẩu hàng dệt may 29
2.1.3 Triển vọng của thị trường Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam 33 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ .Error! Bookmark not defined
2.2.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu Error! Bookmark not defined
Trang 42.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 40
2.2.3 Các phương thức xuất khẩu 43
2.2.4 Thị phần hàng dệt may Việt Nam trên thị trường Mỹ 44
2.3 Đánh giá chung thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ 47
2.3.1 Những thành tự u 47
2.3.2 Những tồn tại, hạn ch ế 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 56
3.1 Định hướng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường M ỹ 56
3.1.1 Mục tiêu chiến lược của ngành dệt may Việt Nam trong những năm tới 56
3.1.2 Định hướng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 60
3.1.3 Triển vọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ trong thời gian tớ i 62
3.2 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 65
3.2.1 Về phía Nhà nước 65
3.2.2 Về phía Hiệp hội Dệt may Việt Nam 70
3.2.3 Về phía các doanh nghiệp 72
3.3 Một số kiến nghị 75
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 75
3.3.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp 78
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
P H Ụ L Ụ C
Trang 5D A N H M Ụ C C Á C C H Ữ V IẾ T TẮT
STT C h ữ v iết tắt N gh ĩa tiến g V iệt
1 Amcham Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam
3 CMT Phương thức gia công xuất khẩu
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 FOB Phương thức xuất khẩu trực tiếp (chủ động
12 HTS Danh mục điều hòa thuế quan Hoa Kỳ
15 NAFTA Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ
16 NTR Quan hệ thương mại bình thường
17 TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
20 VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
21 VITAS Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chi phí sản xuất và lợi thế tuyệt đối 7
Bảng 1.2: Giá tương đối và lợi thế so sánh 8
Bảng 1.3: Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 2002-2010Error! Bookmark not deííned
Bảng 2.1: Số liệu xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ giai đoạn 2005-2012Error! Bookmark not
Bảng 2.2: Nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam 9 tháng 2013 41
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang các thị trường xuất
khẩu chính từ năm 2003 đến nay 45
Bảng 2.4 : Các nước xuất khẩu hàng dệt may nhiều nhất sang thị trường M ỹ 46
Bảng 2.5: Nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ từ một số quốc gia trong Quý I năm
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 1.1: Mô hình kim cương của Michael Porter 10 Biểu 1.2: Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam 17 Biểu 1.3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoan 2005-2012 18 Biểu 2.1: Thị phần hàng dệt may nhập khẩu tại M ỹ Error! Bookmark notđeíỉneđ
Biểu 2.2: Trị giá nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ giai đoạn 2005 - 2012 34
B iểu 2.3: K im ngach xu ất khẩu hàn g dệt m ay V iệt N am sang th ị trư ờn g
M ỹ giai đoạn 2000 - 2 0 1 2 37
Trang 8L Ờ I M Ở Đ Ầ U
1 T ính cấp thiết của Đ ề tài
Trong những năm gần đây, Nhà nước đặc biệt coi trọng và thúc đẩy mạnh xuất khẩu với mục tiêu hướng tới quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới Trong quá trình hội nhập đất nước, xuất khẩu đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển
Với kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nước ta Trong những năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã đạt được rất nhiều kết quả tăng trưởng ấn tượng, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, đưa nước ta trở thành một trong mười quốc gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới (tham khảo phụ lục)
Các sản phẩm dệt may không ngừng được cải thiện, nâng cao về chất lượng, mẫu mã để khẳng định vị trí trên các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản Số liệu thống kê hải quan trong nhiều năm qua cho thấy, Mỹ luôn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Đặc biệt từ khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ký ngày 13/7/2000 và chính thức có hiệu lực
từ ngày 11/12/2001 đã mở ra triển vọng thương mại mới giữa hai nước nói chung và cho ngành dệt may nói riêng Việc Việt Nam gia nhập WTO cũng
đã mở ra cơ hội rất lớn cho dệt may Việt Nam do các rào cản thương mại như hạn ngạch dệt may vào Mỹ và các nước đã được dỡ bỏ, bình đẳng về thuế quan giữa các nước thành viên, cơ hội tiếp cận công nghệ, thông tin, các dịch
vụ, cũng như kinh nghiệm quản lý được tốt hơn Kim ngạch xuất khẩu hàng
Trang 9dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng trưởng mạnh mẽ, hiện nay chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước và khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước sang thị trường này (nguồn: Tổng Cục Hải quan, 2012) Thị trường Mỹ là một trong những thị trường có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế thế giới nói chung và kinh tế khu vực nói riêng Do vậy, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu
để phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho người dân và ổn định xã hội
Mặc dù thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng trên một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng đều hàng năm, nhưng thị trường này vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro như những rào cản thương mại tại thị trường Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam hay sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đến từ các nước sản xuất dệt may lớn trong khu vực như Trung Quốc, Bangladest, Campuchia và Ân Độ - vốn là những nước có nhiều thế mạnh về công nghiệp phụ trợ và chủ động về nguyên liệu như Trung Quốc, Ân Độ Vì vậy, ngành dệt may Việt Nam cần xác định phải đối mặt với rất nhiều áp lực
và thách thức về tính cạnh tranh, yêu cầu về chất lượng, tính an toàn của sản phẩm, tiêu chuẩn và rào cản kỹ thuật khi tiếp cận thị trường rộng lớn này Vấn
đề lớn đặt ra với ngành dệt may Việt Nam là phải luôn nỗ lực để tăng trưởng
và đẩy mạnh xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập và mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước Đó cũng chính là lý do mà đề tài: “T hực trạn g và giải pháp thú c đẩy xu ất khẩu hàn g dệt m ay V iệt N am san g thị trư ờ n g M ỹ” được lựa chọn nghiên cứu
Trang 102 T ình hình nghiên cứu
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Mỹ luôn là một trong những mục tiêu được quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không ngừng được tăng cường hỗ trợ phát triển và được cung cấp tương đối đầy đủ các thông tin về khó khăn, thách thức, nguy cơ rủi ro cũng như các giải pháp vi mô, vĩ mô khi tiếp cận thị trường rộng lớn này Các thông tin đó được cung cấp và đề cập trong các luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học hay sách đã được xuất bản như “Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ khi Việt Nam chưa gia nhập W.T.O và còn áp dụng hạn ngạch (quota), Vũ Thị Thanh Tâm (2005), Đại học Ngoại thương”; “Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và những giải pháp khắc phục rào cản
để xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ trong bối cảnh mới, Cao Quý Long (2012), Đại học Quốc gia Hà N ội”; “Đẩy mạnh xuất khẩu một
số mặt hàng chủ lực của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ, ThS.Trần Nguyên Chất (2012), Bộ Giáo dục và đào tạo”; “Doanh nghiệp Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ, PGS.TS.Trần Văn Chu (2006), NXB Thế giới”,
“Xuất khẩu sang Hoa Kỳ - những điều cần biết, Nguyễn Duy Khiên (2005), NXB Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ” Tuy nhiên các tác phẩm đó chủ yếu phân tích dựa trên một khía cạnh quan trọng, ít tác phẩm khai thác một cách tổng thể có hệ thống Do vậy, đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ” sẽ đóng góp một phần trong quá trình nghiên cứu khoa học một cách tổng thể cho ngành dệt may nói chung cũng như cho các doanh nghiệp dệt may đang hướng tới thị trường Mỹ nói riêng
Trang 113 M ụ c đích và nhiệm vụ ngh iên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Phân tích, nhận xét thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh
mẽ xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan ngành dệt may Việt Nam và thị trường Mỹ, từ đó nêu rõ tầm quan trọng của xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường này
- Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ, từ đó dự báo triển vọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tại Mỹ
- Đưa ra giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu có hiệu quả hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
4 Đ ối tư ợng và phạm v i nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ từ năm 2000 đến nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ
5 P h ư ơ n g pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp: là phương pháp trọng tâm được sử dụng nhằm thu thập thông tin theo chuỗi giá trị thời gian trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
- Phương pháp thống kê, phân tích: các dữ liệu được thống kê theo thời gian để phục vụ cho quá trình phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
Trang 12- Phương pháp so sánh, đối chiếu: đánh giá rõ thực trạng để từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Mỹ một cách có hiệu quả
6 N h ữ n g đón g góp m ới của luận văn
Luận văn này làm rõ thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian qua một cách có hệ thống, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may, cũng như góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ, vốn là thị trường rộng lớn và hết sức khó khăn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- C h ư ơng 1: C ơ sở lý luận và thự c tiễn của hoạt động xu ất khẩu hàng dệt m ay V iệt N am san g th ị trư ờ n g M ỹ.
- C h ư ơng 2: T h ự c trạn g xu ất khẩu hàn g dệt m ay V iệt N am san g thị trư ờ n g M ỹ.
- C h ư ơ n g 3: G iải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàn g dệt m ay V iệt N am sang thị trư ờ n g M ỹ.
Trang 13C H Ư Ơ N G 1: C Ơ SỞ L Ý L U Ậ N V À T H Ự C T IỄ N
C Ủ A N G À N H D Ệ T M A Y X U Ấ T K H Ẩ U V IỆ T N A M 1.1 C ơ sở lý luận
Những nhân tố quan trọng tác động tới thành công của một ngành sản phẩm đã được các nhà kinh tế học nổi tiếng của thế giới đề cập và phân tích trong các mô hình lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh quốc gia và chuỗi giá trị
1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh - David Ricardo (1772-1783)
đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và gọi kết quả này là quy luật lợi thế so sánh - là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập chung chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Để xây dựng quy luật lợi thế so sánh, David Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hóa mô hình trao đổi trong mậu dịch, các giả định đó là:
- Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất 2 lợi sản phẩm
- Mậu dịch tự do
- Lao động có thể chuyển dịch tự do trong một quốc gia nhưng không
có khả năng chuyển dịch giữa các quốc gia
- Chi phí sản xuất là cố định
- Không có chi phí vận chuyển
- Chi phí sản xuất được đồng nhất với tiền lương
Từ đó có thể tóm tắt nội dung lý thuyết lợi thế so sánh bao gồm:
- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một
Trang 14nước Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.
— Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác
Để có thể hiểu rõ hơn, ví dụ chúng ta xem khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Mỹ đối với hai sản phẩm là Thép và Quần áo, trong đó Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước
B ản g 1.1: C h i phí sản xu ất và lợi thế tuyệt đối
Nguồn: Tham khảo Giáo trình Kinh tế Quốc tế của Đ ỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012.
Qua bảng số liệu cho thấy Mỹ cần ít lao động để sản xuất cả 2 mặt hàng, do đó, Việt Nam không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Mỹ Song nếu chúng ta phân tích theo giá cả tương đối giữa 2 hàng hóa này, thì lại khác:
Trang 15B ản g 1.2: G iá tư ơ n g đối và lợi thế so sánh
là 4 đơn vị thép
Điều này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu quần áo sang
Mỹ và nhập khẩu thép từ họ Khi đó, cả 2 quốc gia đều tăng được thêm lợi ích
từ trao đổi thương mại
Mô hình của David Ricardo cho thấy lợi ích khi các quốc gia trao đổi thương mại: các quốc gia sẽ xuất khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối
có hiệu quả hơn và nhập khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả
Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở cửa hội nhập đang mở ra cho xuất khẩu Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức Vì thế, Việt Nam cần biết những lợi thế so sánh của mình để từ đó phát
Trang 16huy, nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu của hàng Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
1.1.2 M ô hình kim cương của Michael Porter
Trong tác phẩm ''Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990, Michael Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương” Theo Michael Porter không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó Khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó
Khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố Các nhóm yếu tố điều kiện đó bao gồm:
- Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất
- Điều kiện về nhu cầu:
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liênquan
- Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành
Cả bốn yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia Ngoài bốn yếu tố chính kể trên còn có hai yếu tố nữa là vai trò của Chính phủ và Cơ hội kinh doanh
Trang 17B iểu 1.1: M ô hình kim cư ơn g của M ichael P orter
Nguồn: Tham khảo sách “Chiến lược cạnh tranh quốc g ia ” của Michael Porter, Nxb D T Books và Nxb Trẻ
y Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất.
Michael Porter phân các nhân tố đầu vào thành hai nhóm: các nhân tố sản xuất cơ bản và các nhân tố sản xuất tiên tiến
Các nhân tố sản xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn, vốn, các điều kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng Một số quốc gia xuất khẩu sẽ sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban đầu
Các nhân tố sản xuất tiên tiến còn gọi là các yếu tố chuyên sâu là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yếu tố chuyên môn hóa, kỹ thuật
và công nghệ hiện đại Các nhân tố này thường được hình thành trên cơ sở
Trang 18nhóm các yếu tố cơ bản thông qua các hoạt động đào tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát triển.
Theo M.Porter, các nhân tố tiên tiến có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn so với các yếu tố cơ bản
> Điều kiện về nhu cầu.
Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia Thị trường trong nước cũng như nước ngoài có những đòi hỏi cao
về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và phát triển Các sản phẩm được sản xuất ra được tiêu chuẩn hóa ngày càng cao và có tính chất quốc tế
Vì vậy, các yêu cầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ càng ngày càng cao gắn với nhu cầu của thị trường quốc tế, tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành tại một quốc gia
> Nhóm các ngành hô trợ và có liên quan.
Khả năng cạnh tranh của một ngành nói riêng và khả năng cạnh tranh của một quốc gia nói chung phụ thuộc rất lớn vào các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan bởi vì các công ty này nằm trong ngành không thể tồn tại một cách tách biệt với các công ty của các ngành công nghiệp khác
Các ngành công nghiệp hỗ trợ thường là các ngành cung cấp các đầu vào cho ngành có khả năng cạnh tranh cao Khi một ngành công nghiệp nổi lên với khả năng cạnh tranh hùng mạnh thì sẽ làm xuất hiện một loạt các ngành hỗ trợ và các ngành có liên quan đến ngành công nghiệp nổi lên đó Các mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các ngành giúp cho các ngành phát huy được thế mạnh kết hợp, tăng được khả năng cạnh tranh của từng ngành
Trang 19> Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành.
Chiến lược của công ty, cơ cấu của một ngành công nghiệp, tính chất
và mức độ cạnh tranh trong ngành tại thị trường nội địa có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh của công ty đó trong tương lai, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho nền kinh tế nước mà công ty đó sinh ra
> Vai trò của Chính phủ.
Vai trò của Chính phủ là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào
cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế Chính phủ thông qua những chính sách (tỉ giá hối đoái, lãi suất, trợ cấp, thuế và các công
cụ khác) để tác động đến các ngành công nghiệp Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước trong những giai đoạn tùy theo mục tiêu đặt ra của chính phủ trong giai đoạn đó Chẳng hạn, Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích xuất khẩu thông qua các biện pháp như thưởng xuất khẩu, giảm giá đồng tiền trong nước, thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại, giảm bớt mức độ kiểm soát ngoại tệ, tham gia vào Tổ chức Thương Mại Thế Giới, thành lập các khu chế biến xuất khẩu đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường thế giới
> Cơ hội
Các cơ hội rất quan trọng vì chúng có khả năng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh một doanh nghiệp hoặc một ngành Các cơ hội cũng có khả năng làm thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương Những thay đổi có lợi về chi phí đầu vào, tỷ giá hối đoái, quyết định chính trị của các chính phủ nước ngoài hay sự tăng mạnh của cầu trên
Trang 20thế giới có thể tạo ra những lợi thế trong cạnh tranh và có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn mới mạnh mẽ.
Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào
đó của một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự nhiên, tài nguyên hay con người Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho sự thành công trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hoá cao
độ Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất Các công ty của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước, nhờ
sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Với lợi thế ổn định chính trị - xã hội và nguồn lao động, ngành dệt may Việt Nam đang có nhiều lợi thế cạnh tranh xuất khẩu và phát triển Tuy nhiên, ngành dệt may còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu như bông, xơ, máy móc thiết bị, trình độ quản lý, năng suất lao động còn thấp, thiếu sự kết nối trực tiếp với thị trường Chi phí vốn quá cao, cụ thể, ngành sợi phải nhập khẩu khoảng hơn 90% bông, xơ, hóa chất trình độ sản xuất và quản lý chưa thật sự chuyên nghiệp, chủ yếu vẫn làm gia công Lao động giá
rẻ không còn là lợi thế của ngành dệt may, lợi thế này đang dần mất khi các quốc gia khác cũng đang cố gắng cạnh tranh bằng việc cung cấp lao động giá
rẻ hơn hoặc thông qua các biện pháp nâng cao năng suất Do đó, Nhà nước cần có nhiều chính sách hỗ trợ và các doanh nghiệp dệt may cần nỗ lực phấn
Trang 21đấu về mọi mặt mới có thể theo kịp tiến trình phát triển chung của ngành dệt may thế giới.
1.1.3 Lý thuyết về chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một khái niệm từ quản lý kinh doanh Michael Porter đưa ra vào năm 1985 trong cuốn sách: "Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance" - Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì hiệu quả
Theo Michael Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi tất cả các hoạt động
từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng trong doanh nghiệp mà chúng tạo ra giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ Mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm một giá trị nhất định cho sản phẩm cung ứng cho khách hàng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Các hoạt động tạo giá trị bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗ trợ:
- Nhóm hoạt động chính bao gồm 5 loại hoạt động là:
V Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh;
V Vận hành, sản xuất - kinh doanh;
V Vận chuyển ra bên ngoài;
V Marketing và bán hàng;
V Cung cấp các dịch vụ liên quan
Đây là nhóm tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm
- Nhóm hoạt động hỗ trợ bao gồm 4 loại hoạt động là:
Trang 22Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị của Michael Porter dựa trên quan điểm về lợi thế cạnh tranh mà ở đó các hoạt động cung ứng dịch vụ có vai trò đặc biệt quan trọng.
Với xu hướng tự do hóa thương mại và kinh doanh, cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị được mở rộng ở phạm vi ngành, địa phương và quốc gia, đặc biệt là cách tiếp cận chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu Kaplinsky (2000), Kaplinsky và Morris (2001), Gereffi (1994) và Gereffi, Korzeniewicz (1994) là những người tiên phong ứng dụng mô hình phân tích chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu Với cách tiếp cận toàn cầu, chuỗi giá trị được định nghĩa
là tập hợp tất cả các hoạt động để tạo ra giá trị của một sản phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua những giai đoạn khác nhau của hoạt động sản xuất, làm tăng giá trị và phân phối (Kaplinsky, 2000; Kaplinsky và Morris, 2001)
Trong chuỗi giá trị toàn cầu có thể có sự tham gia của nhiều công ty, nhiều ngành giữa các quốc gia với nhau để thực hiện những công đoạn tạo giá trị khác nhau trước khi chuyển giao sản phẩm hoàn chỉnh đến người tiêu dùng cuối cùng Một chuỗi giá trị hình thành và tồn tại khi tất cả các bên có liên quan trong chuỗi vận hành theo mục tiêu tối đa hóa giá trị sinh ra trong chuỗi Trong bất kỳ chuỗi giá trị nào thì mỗi thành viên của chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành viên trong chuỗi
có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích đó Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào sự thỏa mãn của khách hàng
Một khái niệm nữa liên quan tới chuỗi giá trị là chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách
Trang 23hàng cuối cùng (Ganeshan và Harrison, 1995) Hay chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà san xuất hay nhà cung cấp , mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán
lẻ và bản thấn khách hàng (Chopra và Peter, 2001) Trong chuỗi cung ứng, sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả cũng như giá trị
Như vậy, chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng đều được dùng để miêu tả cho một chuỗi các hoạt động có quan hệ chặt chẽ, với nhiều tác nhấn tham gia
từ nhà cung ứng nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà phấn phối và người tiêu dùng Tuy nhiên, chuỗi cung ứng trọng tấm vào chi phí và hiệu quả của các hoạt động hậu cần trên toàn chuỗi Còn khi nói chuỗi giá trị người ta nhấn mạnh giá trị của một sản phẩm, dịch vụ được tăng lên khi đi qua các tác nhấn khác nhau để đến tay người tiêu dùng
Các nhà nghiên cứu kinh tế khi đứng từ các góc độ khác nhau nên đưa
ra những định nghĩa khác nhau phản ánh nhiều mặt trong bản chất cùa chuỗi giá trị Vì thế để có được định nghĩa chính xác hơn cả, chúng ta nên xem xét chuỗi giá trị trong mối liên hệ với phạm vi nghiên cứu
1.2 C h uỗi giá trị ngành dệt m ay xu ất khẩu V iệt N am và vai trò của xu ất khẩu hàng dệt m ay đối vớ i nền kinh tế V iệt N am
Ngành dệt may của Việt Nam sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đã liên tục phát triển với tỷ lệ tăng trưởng bình quấn 15%/năm, đến nay
đã vươn lên trở thành ngành kinh tế lớn của cả nước, góp phần tích cực trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và tạo công ăn việc làm cho người lao động Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện có hơn 4.000 doanh nghiệp dệt may trên
cả nước, doanh thu toàn ngành năm 2012 đạt 20 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm hơn 17 tỷ USD, tạo việc làm cho 2,5 triệu lao động, đóng góp khoảng 15% vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) và trở thành ngành dẫn đầu về kim
Trang 24ngạch xuất khẩu, chiếm trên 18% tổng kim ngạch xuất khẩu, đưa Việt Nam vào top 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành công đánh kể nhưng trước xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt, ngành dệt may cần được quan tâm và nâng cao khả năng cạnh tranh để có thể khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh
tế quốc dân và trên thị trường thế giới
Phân tích chuỗi giá trị sẽ mang lại tổng quan về ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam so với ngành dệt may của các nước khác trên thế giới Điểm mạnh và điểm yếu trong mỗi liên kết của chuỗi giá trị cũng thể hiện một quan điểm chiến lược về những hoạt động cần làm để bổ sung giá trị vào mỗi liên kết và đạt được những hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn
Dệt may Việt Nam là một ngành mang đặc trưng của chuỗi giá trị chịu sự chi phối của người mua Việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ở nhiều nước
Phương thức xuất khẩu chủ đạo của ngành dệt may Việt Nam là gia công xuất khẩu CMT (Cut - Make - Trim) và FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) Dù dưới hình thức nào thì ngành may Việt Nam vẫn phải sản xuất theo mẫu thiết kế của khách hàng Do đó, chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam được thể hiện theo như Biểu 1.2:
B iểu 1.2: C h uỗi giá trị xu ất khẩu dệt m ay của V iệt N am
Nguồn: Bài viết “Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó " của Hà Văn Hội, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
Trang 25V Hoạt động cung cấp nguyên phụ liệu đầu vào
Ngành dệt may bao gồm các nguyên liệu đầu vào sau đây: bông, vải, sợi và các phụ liệu dệt may khác Bất cập hiện nay là, Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho ngành dệt may trong nước và xuất khẩu Cho nên hàng năm ngành dệt may phải nhập khẩu một số lượng lớn nguyên phụ liệu từ nước ngoài với chi phí cao Tham khảo bảng số liệu nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may giai đoạn 2002-2010:
B ản g 1.3: N hập khẩu ngu yên phụ liệu dệt m ay 2002 - 2010
Năm
(giá trị)Khối lượng
(ngàn tấn)
Giá trị (triệu USD)
Xơ(ngàn tấn)
Sợi(ngàn tấn)
Xơ Sợi (triệu USD)
-Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo Hiệp hội dệt may Việt Nam qua các năm
Có thể thấy trong suốt giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010, giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu của ngành dệt may đều tăng lên ở tất cả các mặt hàng Nguyên nhân chính dẫn tới sự kém phát triển của ngành bông, xơ ở Việt Nam là do nước ta không có lợi thế cạnh tranh tự nhiên và cũng không chú trọng đầu tư trong việc trồng bông và sản xuất xơ Ngành công nghiệp dệt may nước ta gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Ngành trồng bông
và ngành kéo sợi giữ vai trò quan trọng trong cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các phân đoạn dệt - nhuộm và may nên nếu Việt Nam chủ động được nguồn bông và sợi thì sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm
Trang 26ở công đoạn sau của ngành dệt may Việt Nam mà trực tiếp là khâu dệt nhuộm Để sản xuất ổn định, hầu như các doanh nghiệp trong ngành dệt may đều phải chấp nhận gia công cho đối tác nước ngoài, dù lợi nhuận thấp Bởi khi gia công, đối tác sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ nguyên phụ liệu.
Một trong những đặc thù của ngành dệt may Việt Nam là sản xuất gia công xuất khẩu Hoạt động sản xuất trong ngành dệt may chủ yếu tập trung vào khâu gia công, trong khi khâu này lại là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong ngành thấp Trên thực tế, đây không phải là vấn đề mới nhưng vẫn đòi hỏi sự nghiên cứu nhiều để tạo ra sự tăng trưởng về chất cho ngành dệt may Việt Nam, thay cho sự tăng trưởng về lượng kéo dài trong những năm qua Muốn thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì các doanh nghiệp cần phải sản xuất dưới dạng sản xuất thiết kế gốc (ODM) hay sản xuất nhãn hiệu gốc (OBM) Phân tích chuỗi giá trị một cách cụ thể như vậy để cho thấy rằng, không chỉ có khâu sản xuất mới tạo ra giá trị gia tăng Trên thực tế, khâu thiết kế mới tạo ra giá trị cao hơn hẳn do đòi hỏi trình
độ cao và tiền công cao hơn, đây quả là một bài toán rất khó đối với các nhà gia công chuyên nghiệp như Việt Nam Trong hoạt động sản xuất các sản phẩm dệt may, hình thức gia công chiếm tỷ lệ lớn: 70 % - 80 % trong khi đó sản xuất hàng FOB chỉ chiếm 20 % - 30% Việc thiếu nguồn nguyên phụ liệu trong nước khiến các doanh nghiệp vấp rào cản lớn khi tham gia sản xuất FOB bởi lẽ nguyên phụ liệu sản xuất luôn phải phụ thuộc vào việc nhập khẩu
Do vậy, các doanh nghiệp dệt may trong nước cần lựa chọn phương thức sản xuất mới để gia tăng giá trị lợi nhuận
V Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Trang 27Hàng dệt may của Việt Nam đang dần chiếm lĩnh các thị trường quốc
tế Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam không ngừng được gia tăng qua các năm:
Đ ơn vị: triệu U SD
B iểu 1.3: K im ngạch x u ất khẩu dệt m ay của V iệt N am
giai đoạn 2005 - 2012
Nguồn: Hiệp hội D ệt may Việt Nam, 2013.
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may mới chỉ dừng ở 4838 triệu USD thì sang năm 2008 đạt 9130 triệu USD, kim ngạch tăng gần gấp đôi trong vòng ba năm Năm 2009 do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam chỉ có mức suy giảm nhẹ 0,25% so với năm 2008 Từ năm 2009 đến năm 2011, theo thống kê của Hiệp hội dệt may Việt Nam xuất khẩu nhóm hàng dệt may liên tục bứt phá với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 20% Năm 2012, mặc dù còn nhiều khó
Trang 28khăn, nhưng ngành dệt may vẫn tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 15092 triệu USD, tăng 7,5% so với năm 2011 Theo Số liệu của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2013 tiếp tục tăng trưởng dù thị trường có nhiều biến động Tính chung cả 10 tháng năm 2013, xuất khẩu dệt may đạt 14,8 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ Như vậy xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong năm nay hoàn toàn có thể cán đích 19 tỷ USD như mục tiêu toàn ngành đã đặt ra từ đầu năm.
Như vậy trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam luôn đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng với hai con số, hiện nay Việt Nam chính thức lọt vào top 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
Hoạt động phân phối của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển và đang phụ thuộc vào các nhà buôn nước ngoài Mạng lưới các nhà mua này bao gồm: các doanh nghiệp bán lẻ, các nhà sản xuất và các nhà buôn Những doanh nghiệp bán lẻ, đa số thuộc thị trường EU, Nhật và
Mỹ, họ sở hữu những thương hiệu hàng đầu quốc tế, những siêu thị, cửa hàng bán sỉ và bán lẻ Những nhà sản xuất nhập sản phẩm từ Việt Nam bao gồm các nhà may mặc quốc tế và khu vực, các nhà buôn trong khu vực thường từ Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc Trong đó, các nhà buôn đóng vai trò rất quan trọng là trung gian trong chuỗi cung ứng hàng dệt may của Việt Nam ra thế giới Các doanh nghiệp bán lẻ lớn tin cậy vào các nhà buôn (chủ yếu từ Hồng Kông) để phát triển mạng lưới cung ứng của họ ở Việt Nam nhằm giảm chi phí giao dịch Các doanh nghiệp đầu tư may mặc nước ngoài hiếm khi liên
hệ trực tiếp với các khách hàng quốc tế ở Việt Nam, vì nhà cung ứng của họ thường có văn phòng đại diện đặt ở Hồng Kông, Đài Loan hay Hàn Quốc Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ) phụ thuộc
Trang 29rất lớn vào các nhà buôn nhỏ trong khu vực Như vậy, hoạt động marketing và phân phối đang là khâu yếu của ngành dệt may Việt Nam
Phân tích các mắt xích trong chuỗi giá trị dệt may Việt Nam cho thấy, sau nhiều năm gia nhập chuỗi giá trị dệt may toàn cầu mặc dù kim ngạch xuất khẩu cao nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn chỉ tập trung xuất khẩu các sản phẩm may mặc theo phương thức gia công - vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu - với giá trị gia tăng tương đối thấp Hạn chế lớn nhất của ngành là sự phát triển không đồng đều ở các khâu đặc biệt là ở công đoạn đầu trong chuỗi giá trị dệt may bao gồm: trồng bông, dệt, nhuộm và hoàn tất Sự phát triển yếu và chậm các khâu này đã cản trở sự phát triển, làm giảm giá trị gia tăng ở khâu kéo sợi và sản xuất hàng may mặc Bên cạnh đó mạng lưới xuất khẩu và tiếp thị vẫn đang là điểm yếu lớn trong chuỗi giá trị của ngành dệt may Việt Nam, hạn chế sự xâm nhập vào các khâu cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Như vậy, thách thức của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là để thành công, họ phải chuyển sang sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn bằng cách nâng cấp năng lực cạnh tranh của mình
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế Việt Nam
Xuất khẩu là một hoạt động rất cơ bản và quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với một nước phát triển như Việt Nam, việc đẩy mạnh xuất khẩu càng có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt là xuất khẩu các mặt hàng chúng ta có thế mạnh như hàng dệt may Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với kinh tế nước to hết sức
to lớn, ko thể phủ nhận, thể hiện như sau :
• Xuất khẩu dệt may góp phần tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế đất nước Để sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả thì cần một lượng vốn rất lớn để nhập khẩu các thiết bị sản xuất hiện
Trang 30đại, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật Ngành dệt may Việt Nam trong những năm qua đã có những đóng góp đáng kể vào nguồn vốn ngoại tệ cho đất nước Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
• Xuất khẩu dệt may phát triển sẽ kéo theo một loạt các ngành khác
có liên quan phát triển theo Khi ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thì sẽ buộc phải mở rộng quy mô sản xuất và cần nhiều nguyên liệu hơn
để phục vụ cho ngành dệt và may, điều đó sẽ dẫn theo sự phát triển của ngành trồng bông, trồng dâu nuôi tằm Để hoàn thiện, sản phẩm dệt may cũng cần đến sự hỗ trợ từ các ngành công nghiệp khác như in, nhuộm, sản xuất bao bì (để đóng gói), vận tải (để vận chuyển)
• Xuất khẩu dệt may góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho nhân dân, giảm thiểu các tệ nạn xã hội Đẩy mạnh xuất khẩu dệt may đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Khi đó ngành dệt may sẽ thu hút được nhiều hơn nữa lực lượng lao động và giúp họ có được một mức thu nhập ổn định Tay nghề của người lao động cũng sẽ được đào tạo nâng cao hơn, đồng thời có cơ hội tiếp cận với những công nghệ sản xuất dệt may, trang thiết bị máy móc hiện đại để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và giá trị Từ đó, xuất khẩu dệt may cũng có vai trò kích thích đổi mới công nghệ sản xuất, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
• Xuất khẩu dệt may tạo điều kiện và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo tiền đề để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng khác của nước ta ra khu vực và thế giới Xuất khẩu nói chung chính là sự trao đổi giữa các quốc gia, là
sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và là hình thức ban đầu của các hoạt động đối ngoại Xuất khẩu dệt may nói riêng giúp đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước khác Không chỉ thế nó còn
Trang 31tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường tiếp cận với thế giới bên ngoài, từ đó có một nguồn thông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với cơ chế thị trường; thiết lập được nhiều mối quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các bạn hàng trong kinh doanh hợp tác xuất nhập khẩu.
Trang 32C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C T R Ạ N G X U Ấ T K H Ẩ U H À N G D Ệ T M A Y
V IỆ T N A M SA N G T H Ị T R Ư Ờ N G M Ỹ 2.1 T hị trư ờ n g M ỹ và chính sách thư ơn g m ại của M ỹ đối vớ i hàng dệt m ay nhập khẩu vào M ỹ
2.1.1 Khái quát về thị trường M ỹ
Với dân số hơn ba trăm triệu dân, Mỹ là một quốc gia đa chủng tộc, đa sắc tộc nên nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ rất đa dạng và phong phú Từ các mặt hàng cao cấp đến các mặt hàng thứ cấp, mặt hàng nào cũng có thể tiêu thụ được tại thị trường này Hàng dệt may cũng không phải là ngoại lệ
Thị trường Mỹ là một thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới hiện nay Ngành công nghiệp dệt may đứng thứ 10 trong các ngành công nghiệp tại Mỹ Mặt khác, Mỹ cũng là nhà nhập khẩu lớn nhất về hàng dệt và quần áo
Trang 33phong cách ăn mặc đặc trưng nhất ở mọi nơi trên đất Mỹ, bạn cũng có thể bắt gặp phong cách ăn mặc này.
Người dân Mỹ cũng rất thực tế trong tiêu dùng Họ luôn cân nhắc và tính toán để chi tiêu một cách hiệu quả nhất Điều đó có thể nhìn thấy sự tằn tiện trong chi tiêu của người Mỹ khi nền kinh tế gặp khó khăn Nói riêng về thị trường dệt may, dù coi trọng vấn đề thương hiệu (đặc biệt là giới trẻ rất sính “hàng hiệu”) song người Mỹ vẫn ko đi chệch quỹ đạo “kinh tế” của họ
Do đó, chất lượng sản phẩm vẫn là yếu tố mà người Mỹ đặc biệt quan tâm
• Phân đoạn thị trường
Sự phân hóa nhu cầu thành những phân đoạn thị trường đặc trưng cũng giúp cho các nhà sản xuất định hướng để tập trung phát huy ưu thế của mình Thị trường dệt may của Mỹ có thể được chia theo 3 phân khúc chính:
- Hàng cao cấp: dành cho giới thượng lưu ở Mỹ tiêu dùng, đó thường là những sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng, giá rất đắt và chất lượng rất cao (thông thường là những sản phẩm có xuất xứ từ Đức, Pháp, Ý )
- Hàng trung: dành cho những người Mỹ trung lưu có phần dễ hơn trong sở thích cá nhân, nhưng yếu tố mẫu mã đẹp, chất lượng cao và giá cả chấp nhận được vẫn là những yêu cầu hàng đầu
- Hàng bình dân: đây là những sản phẩm có yếu tố giá rẻ được đặt lên trên hết và có tính quyết định tiêu dùng đối với người dân Mỹ nghèo
Phân khúc hàng trung và bình dân chính là đối tượng tiêu dùng mà ngành dệt may Việt Nam nên hướng tới khi xuất khẩu sang Mỹ
Trang 34đoạn nhỏ trong chuỗi giá trị Các công ty, cửa hàng bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng ở Mỹ.
Với hàng dệt may, Mỹ nhập khẩu chủ yếu qua các nhà bán buôn với những đơn hàng lớn từ 50- 100 có khi đến cả triệu lô ( mỗi lô có 12 sản phẩm) Sau đó, các nhà bán buôn sẽ phân phối đến các nhà bán lẻ khác Các cửa hàng, siêu thị là phổ biến nhất trong hệ thống phân phối hàng hoá của
Mỹ Trong hệ thống siêu thị lại được phân ra các siêu thị cao cấp phục vụ các mặt hàng chất lượng cao, giá cả cao và các siêu thị bình dân có đủ các loại mặt hàng với số lượng lớn, doanh thu lớn do phục vụ được nhiều tầng lớp
Bên cạnh đó các Công ty bán hàng giảm giá cũng thu hút được nhiều người tiêu dùng bằng yếu tố giá cả (rẻ hơn rất nhiều so với các siêu thị bình dân) Tại đây, sản phẩm thường là những hàng hoá không có nhãn hiệu nổi tiếng hay nhập khẩu thẳng từ các nước giá rẻ ở Châu Á, Nam Mỹ
Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, bán hàng qua bưu điện, qua
ti vi, qua mạng internet hay bán hàng theo catologue, qua các hội chợ, triển lãm đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Đặc biệt là phương thức bán hàng qua mạng internet Phương thức này không đòi hỏi công ty phân phối phải có cửa hàng hay siêu thị mà chỉ cần có kho chứa hàng
và một website Cuộc sống bận rộn khiến người Mỹ ngày càng có ít thời gian
để đi mua sắm, chính vì thế hình thức mua hàng này đã giúp người tiêu dùng
có thể tiết kiệm thời gian để phục vụ cho các công việc khác
• Tình hình nhập khẩu
Mỹ là thị trường khổng lồ, đa dạng và có nhu cầu lớn đối với nhiều loại hàng hóa bởi đây là quốc gia đa chủng tộc, GDP trên đầu người cao, xếp thứ
10 trên thế giới (đạt 47.200 USD/người năm 2010) và đặc biệt người dân ở
Mỹ có thói quen mua sắm, dịch vụ tài chính phát triển Năm 2010, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Mỹ đạt khoảng 2.329,6 tỷ USD,
Trang 35tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2009 Đây thực sự là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Ngành dệt may của Mỹ đứng thứ 10 trong các ngành công nghiệp và đứng thứ 2 trong các ngành sản xuất hàng hóa có thời hạn sử dụng không dài
Là quốc gia có ngành công nghiệp dệt may phát triển song Mỹ cũng là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về hàng dệt may với kim ngạch nhập khẩu vào
Mỹ trong những năm gần đây đạt khoảng 100 tỷ USD/năm
Những mặt hàng nhập khẩu chính vào Mỹ là quần áo may sẵn, hàng thêu ren, trang trí và vải sợi Về chất liệu, cotton hiện vẫn rất được ưa chuộng tại Mỹ Năm 2007, số lượng nhập khẩu mặt hàng quần áo chất liệu cotton chiếm 60,2% tổng số lượng hàng dệt may của Mỹ
B iểu 2.1: T hị phần hàng dệt m ay nhập khẩu tại M ỹ
Nguồn: Văn phòng D ệt may và M ay mặc thuộc Cục thương mại quốc
tế, Bộ thương mại Mỹ, 2013 Năm 2013 được tính trên số liệu 12 tháng (từ tháng 7/2012 - 6/2013.
Có thể thấy các nước xuất khẩu hàng dệt may chính sang Mỹ là Trung Quốc, Mexico, Ân Độ, Banglades, Việt Nam, Indonesia, Pakistan,
Thị phần hàng dệt may nhập khầu tại Hoa Kỳ
* Ấn Độ
’ Việt Nam ' Trung Quỏc
Trang 36Campuchia, Honduras Trung Quốc là nước cung cấp nhóm hàng này lớn nhất cho Mỹ cả về số lượng lẫn kim ngạch Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ thương mại Mỹ, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc vào Mỹ đang có xu hướng giảm, thị phần của Trung Quốc đang thu hẹp, tạo cơ hội cho các sản phẩm dệt may đến từ các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam Nhìn vào biểu
đồ 2.1 có thể thấy Việt Nam đang là nhà cung cấp hàng dệt may xếp vị trí số
2, với tỷ trọng khoảng 8%, sau Trung Quốc Trong 10 năm, thị phần hàng dệt may của Việt Nam đã tăng từ 3% lên 8% tại thị trường Mỹ Đó là một sự nỗ lực không hề nhỏ đối với ngành công nghiệp dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may của nước ta nói riêng
2.1.2 Chính sách thương mại của M ỹ đối với nhập khẩu hàng dệt may
Chính sách thương mại được xác định là thành phần chính có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống chính sách ngoại giao và kinh tế Mỹ Mọi quyết định tăng hay giảm thuế quan, áp đặt hạn ngạch nhập khẩu hoặc các quyết định khác của chính sách thương mại đều tác động trực tiếp tới lợi ích của
Mỹ Do nhiều nước xuất khẩu ồ ạt hàng dệt may vào thị trường Mỹ, để bảo vệ ngành công nghiệp dệt may của mình, Chính phủ Mỹ đã đặt ra các chính sách thương mại đối với hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ
Điều tiết nhập khẩu qua tác động tới lượng và giá là hai đặc điểm chính
dễ nhận thấy nhất trong chính sách của Mỹ Chúng sẽ được áp dụng một cách linh hoạt theo từng giai đoạn của quá trình phát triển thương mại dệt may và
xu thế phân công lao động quốc tế Dưới góc độ quan hệ thương mại quốc tế, chính sách cho hàng dệt may nhập khẩu của Mỹ mang hai nội dung chiến lược:
Thứ nhất: Kiềm chế các nước xuất khẩu thông qua các Hiệp định dệt may song phương hay các thỏa thuận khống chế số lượng
Trang 37Trước 1/1/2005, Mỹ có tới 46 Hiệp định khác nhau để khống chế lượng hàng dệt và may mặc mà các đối tác thương mại của Mỹ có thể xuất vào thị trường này Sau 1/1/2005, thời điểm hạn ngạch được bãi bỏ đối với các nước thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), biện pháp kiềm chế chỉ còn được Mỹ áp dụng đối với Việt Nam (đến năm 2007), Trung Quốc (do Mỹ
áp dụng chế độ hạn ngạch tạm thời để kiềm chế sự tăng nhập khẩu hàng dệt từ quốc gia này ở mức 7,5%) và các nước không phải là thành viên WTO
Thứ hai: Sử dụng những ưu đãi về hàng dệt may để mặc cả trong các thỏa thuận ưu đãi thương mại, các Hiệp định thương mại tự do song phương hoặc khu vực Mỹ chủ trương liên minh với các quốc gia trong khu vực châu
Mỹ thông qua các chương trình ưu đãi thương mại và một số đối tác ngoài châu Mỹ thông qua các Hiệp định tự do thương mại (FTA), trong đó có các
ưu đãi về hàng dệt may Theo quan điểm này, ưu đãi của Mỹ đối với sản phẩm dệt may của các quốc gia khác sẽ được đổi lại bằng ưu đãi của các quốc gia đó đối với những sản phẩm xuất khẩu sở trường của Mỹ
Mỹ là một thị trường vô cùng hấp dẫn với sức tiêu dùng lớn nhất thế giới Tuy nhiên, thách thức lớn đang đặt ra đối với các nhà xuất khẩu dệt may
là hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp của Mỹ Các qui định của Mỹ về hàng dệt may nhập khẩu rất nghiêm ngặt nhằm bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng cũng như bảo hộ nền sản xuất trong nước Những qui định này khá chặt chẽ, do đó các nhà xuất khẩu phải chủ động liên hệ với người mua để biết những thông tin cần thiết, tránh những chi phí phát sinh và thiệt hại do hiểu sai và không đầy đủ những qui định của Mỹ về hàng dệt may
> Quy định về Hạn ngạch nhập khẩu và Visa hàng dệt m ay
• Hạn ngạch nhập khẩu
Đối với các nhà xuất khẩu có ý định xuất hàng sang Mỹ, nhất là các sản phẩm dệt may, một trong những điều cần quan tâm đầu tiên là hàng của mình
Trang 38có bị hạn chế không cho nhập hay chỉ cho nhập một số lượng giới hạn nào đó
mà thôi
Hạn ngạch nhập khẩu là những quy định của Chính phủ nhằm kiểm soát
và giới hạn số lượng hay giá trị một loại hàng hóa nào đó được nhập khẩu vào thị trường Mỹ trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Có hai loại hạn ngạch: Hạn ngạch tuyệt đối (absolute quota) và hạn ngạch thuế quan (tariff - rate quota)
- Hạn ngạch tuyệt đối giới hạn số lượng một loại hàng hóa nhất định được phép nhập khẩu hàng năm Nếu số lượng nhập đã lên đúng chỉ tiêu cho phép thì số hàng hóa vượt quá chỉ tiêu hạn ngạch sẽ không được phép nhập khẩu vào Mỹ cho đến hết thời hạn của hạn ngạch đó (số hàng này phải chuyển qua kho để tái xuất đi nước khác hoặc chờ đến khi có hạn ngạch trở lại)
- Hạn ngạch thuế quan cho phép một số lượng hàng hóa nhất định nhập khẩu vào Mỹ trong một thời gian nào đó với một thuế suất thấp Ở đây không
có sự hạn chế về số lượng nhập khẩu như hạn ngạch tuyệt đối nhưng số lượng hàng hóa vượt quá chỉ tiêu trên sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn
• Quy định về Visa
Hàng dệt may cũng cần có “visa” mới được xuất vào Mỹ Visa là một loại dấu chứng thực xác nhận trên hóa đơn hoặc trên “Giấy phép kiểm soát nhập khẩu” do cơ quan trực thuộc Chính phủ của nước có sản phẩm dệt may xuất khẩu sang Mỹ cấp
Nếu số lượng hàng hóa cập cảng lớn hơn số lượng hàng hóa ghi trong visa thì hàng sẽ không được phép nhập khẩu
Nếu số lượng hàng hóa cập cảng ít hơn số lượng ghi trong visa thì hàng vẫn được phép nhập khẩu và số lượng hàng nhập khẩu thực tế sẽ được trừ và o hạn ngạch áp dụng Số lượng chênh lệch không được tính cho lô hàng khác
Trang 39Hàng hóa sẽ không được nhập khẩu vào thị trường Mỹ nếu: số hiệu visa, chủng loại hàng, số lượng hàng hóa, đơn vị tính, chữ ký, ngày cấp visa không đầy đủ, bị thay đổi, không hợp lệ hoặc thiếu chính xác.
> Quy định về thuế quan
Khi xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ, một trong những điều kiện tiên quyết là phải nắm rõ hệ thống thuế nhập khẩu của họ Các mức thuế áp dụng cho từng loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ được quy định trong Danh mục điều hòa thuế quan Mỹ (HTS) HTS quy định chi tiết danh pháp quốc tế về thuế suất và phân chia hàng hóa thành 21 nhóm và 97 chương, bao gồm hơn
8000 mức thuế với mức độ ưu đãi khác nhau Hàng dệt may được phân loại rất chi tiết và cụ thể trong HTS từ chương 50 đến chương 63
> Các quy định đối với sản phẩm dệt may:
• Quy định về xuất xứ hàng hoá
Hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về kê khai nguồn gốc xuất xứ Có hai loại tờ khai xuất xứ: tờ khai xuất
xứ đơn và tờ khai xuất xứ kép Tờ khai xuất xứ đơn được dùng khi nhập khẩu hàng dệt may có nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia hoặc chỉ được gia công tại một quốc gia bằng các nguyên liệu sản xuất tại Mỹ hoặc từ quốc gia khác
mà nó được sản xuất Còn tờ khai xuất xứ kép sử dụng khi nhập khẩu hàng dệt may mà được sản xuất hay gia công và/hoặc có chứa các nguyên liệu từ nhiều nước khác
• Quy định về nhãn mác
Ở Mỹ, luật áp dụng chủ yếu về nhãn mác hàng dệt may là luật xác định sản phẩm sợi dệt và luật nhãn hiệu sản phẩm bằng len năm 1939 Hầu hết các sản phẩm sợi, dệt khi nhập khẩu vào Mỹ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín và ghi nhãn Nhãn mác phải được ghi rõ ràng, không tẩy xoá và ghi đầy
đủ các thông tin theo quy định
Trang 40Ngoài ra, từ 5/6/2010, tất cả các hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ phải có mã số của nhà sản xuất (MID).Theo đó, mã số của nhà sản xuất bao gồm các ký tự thể hiện tên nước, địa chỉ của nhà sản xuất và sẽ là cơ
sở xác định xuất xứ hàng hóa của doanh nghiệp Hàng dệt may điền sai mã số sản xuất sẽ không hợp lệ và Hải quan Mỹ sẽ từ chối nhập cảng
• Quy định an toàn sản phẩm tiêu dùng
Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng đã được Quốc hội Mỹ thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/8/2008
Theo đạo luật này, một số quy định mới và được cải tiến áp dụng cho hàng dệt may, da giầy khi xuất khẩu vào Mỹ là: Quy định về tính bắt cháy của vải; Quy định về lượng chì cho phép trong sơn của giày dép, trong nguyên phụ kiện của các đồ dệt may như phéc-mơ-tuya, khuy, trang sức và quy định cấm dùng dải rút để bo cổ và bụng áo của trẻ e m Nếu vi phạm những quy định này hàng hoá sẽ không được phép nhập khẩu vào Mỹ Đạo luật này vẫn sẽ được Mỹ tiếp tục sửa đổi và bổ sung.Việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn phải được thực hiện bởi một cơ quan đánh giá độc lập do Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng Mỹ (CPSC - Consume Product Safety Community) công nhận Giấy chứng nhận này phải kèm theo sản phẩm hay chuyến hàng xuất khẩu sản phẩm và phải có sẵn để cho CPSC và Hải quan
Mỹ kiểm tra khi có yêu cầu
2.1.3 Triển vọng của thị trường M ỹ đối với hàng dệt may Việt Nam
Như đã nói, Mỹ là quốc gia nhập khẩu lớn nhất và luôn giữ vị trí đầu thế giới về nhập khẩu hàng may mặc Kim ngạch nhập khẩu vào Mỹ trong những năm gần đây đạt khoảng 100 tỷ USD/năm: