1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hóa - lịch sử lắng đọng trong tâm tư Nguyễn Du.

102 538 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Danh Và Địa Danh Trong “Bắc Hành Tạp Lục” Của Nguyễn Du – Ý Nghĩa Văn Hóa Và Lịch Sử
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 634 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận về văn hóa - lịch sử lắng đọng trong tâm tư Nguyễn Du.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Du là một hiện tượng văn học lớn, độc đáo nên dù đó được nghiên cứu

từ rất lâu nhưng những vấn đề về ông vẫn là lời mời gọi hấp dẫn để tiếp tục khám phá,tìm hiểu Đặc biệt, về mảng thơ chữ Hán, cụ thể hơn nữa là về tập "Bắc hành tạp lục"với vấn đề nhân danh và địa danh dưới góc nhìn văn hóa - lịch sử còn là một đề tài mới

mẻ, chưa nhà nghiên cứu nào chủ động đi vào khai thác một cách hệ thống, sâu sắc

Với tham vọng cắt nghĩa được nhiều vấn đề về thơ Nguyễn Du mà đến nay vẫnchưa tìm được sự đồng thuận, chúng tôi mong muốn mở ra một cách tiếp cận gần nhất

có thể có với những ẩn ức của Nguyễn Du thông qua góc nhìn khá mới (văn hóa - lịchsử) trước những đối tượng tưởng chừng đã muôn năm cũ (nhân danh và địa danh) Ýtưởng này xuất phát từ sự xuất hiện dày đặc của các danh từ chỉ nhân danh và địa danhtrong suốt tập thơ mà chúng đó trở thành một thứ “mật mã” độc đáo và kín đáo; nócàng thôi thúc người đọc đi tìm chìa khóa để giải mã ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo ấy

Có thể nhận thấy nhân danh và địa danh là một trong số ít những bằng chứng khả kiểmnhất về nỗi lòng u uất, tâm trạng đầy ẩn ức của Nguyễn Du; và chúng cũng mở ra mộtcách tiếp cận mới về tập thơ còn nhiều điều cần khai phá "Bắc hành tạp lục"

2 Mục đích của đề tài

Đi vào đề tài khá “hóc búa” này, chúng tôi đó lường trước nhiều khó khăn, mà

có lẽ khó khăn lớn nhất là sự bất đồng trong “tầm đón đợi” và góc nhìn của từng ngườikhi tiếp cận "Bắc hành tạp lục" cũng như khi tiếp nhận quan điểm của chúng tôi.Nhưng chúng tôi vẫn mong muốn khai mở hướng tìm hiểu "Bắc hành tạp lục" theochiều sâu nội tại văn bản thông qua những tên đất, tên người – nhân vật chính của tậpthơ – để thấy được dưới đáy sâu tâm trạng phức tạp của Nguyễn Du lắng đọng những

ẩn ức khó giải nhưng không thể không giải Sự thành công của đề tài này sẽ mở ra mộtcách tiếp cận khá độc đáo, mới mẻ với một vài hiện tượng văn học khác trong cả vănhọc trung đại và văn học hiện đại Việt Nam nói chung

Nghiên cứu văn chương rất dễ rơi vào tình trạng người đọc phóng chiếu trí óccủa mình lên tác phẩm, nối nghĩa của nó với những trải nghiệm của cá nhân nên làmbiến dạng ý tưởng nghệ thuật của tác giả khiến cho điểm tiếp cận với tác phẩm ngàycàng xa và khó khăn hơn Nên chúng tôi chọn lấy nhân danh và địa danh dưới góc

Trang 2

nhìn văn hóa - lịch sử - đơn vị khả kiểm nhất có thể có – để giải mã "Bắc hành tạp lục"cũng như của tâm tư sâu kín mà Nguyễn Du bưng biền, nuốt nghẹn bấy lâu.

3 Giới hạn và phạm vi của đề tài

Ở đề tài này chúng tôi chỉ đi vào thống kê, khảo sát về các nhân danh và địadanh được nhắc đến trong "Bắc hành tạp lục" làm cơ sở dữ liệu để từ đó đưa ra nhữngkiến giải về tâm sự, tâm trạng, quan niệm còn nhiều bí ẩn của Nguyễn Du dưới gócnhìn văn hóa - lịch sử

Nguồn tư liệu văn bản tác phẩm chúng tôi lấy từ cuốn “Nguyễn Du – Niên phổ

và tác phẩm” (Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính biên soạn –NXB Văn hóa thôngtin – 2001) – cuốn sách được coi là bao gồm khá đầy đủ các tư liệu về cuộc đời, vănchương của Nguyễn Du, đặc biệt là tập "Bắc hành tạp lục" ở dạng đầy đủ nhất của nó(gồm 132 bài thơ)

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng thêm một vài nguồn tư liệukhác để so sánh, đối chiếu

4 Phương pháp và các thao tác nghiên cứu đề tài

a Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để giải quyết các yêu cầu nhằm đảm bảo mục đích của đề tài, chúng tôi sửdụng phương pháp thực chứng và tâm lý: áp dụng trên cơ sở thực tế những cảm xúc,quan niệm của Nguyễn Du về các nhân danh và địa danh Về mặt thực chứng, cú thểthấy qua những lời phát biểu của Nguyễn Du, cách viết của Nguyễn Du Về mặt tâm

lý, chúng tôi dựa trên quy luật ảnh hưởng của các nhân danh và địa danh tới tâm tư,tình cảm của Nguyễn Du Phương pháp này, ở mức độ nhất định, giúp chúng tôi hiểu

rõ hơn và cắt nghĩa được sự tiếp biến về văn hóa - lịch sử trong “hiện tượng” thơNguyễn Du

Kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, từ những dữ liệu thống kê thuđược, chúng tôi đi vào nhận xét, đánh giá và bóc tách từng lần vỏ dữ liệu để thu đượccái lõi tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm, của tâm hồn Nguyễn Du

b Các thao tác nghiên cứu đề tài

Trước hết chúng tôi đi tìm hiểu hành trình thực của sứ đoàn và một số tri thứcnền về nhân danh và địa danh Từ văn bản tác phẩm, chúng tôi tiến hành thống kê,

Trang 3

phân loại và đưa ra những nhận xét sơ bộ về những cái tên xuất hiện trên hành trìnhnhật ký tâm trạng của Nguyễn Du Sau đó, dựa trên những dữ liệu thống kê thu được

và những nhận xét ban đầu đó, chúng tôi đi tìm một vài chất xúc tác (một vài tài liệutham khảo để so sánh, đối chiếu ) để tìm ra “phản ứng” có những tính chất đặc trưng,

có ý nghĩa mà những nhân danh, địa danh ấy khi tiếp xúc với tâm hồn Nguyễn Du tạo

ra Từ đó chúng tôi có thể lần giở, bóc tách từng lớp lang những tầng vỉa văn hóa - lịch

sử lắng đọng trong tâm tư Nguyễn Du

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: KHẢO SÁT CÁC DỮ KIỆN VỀ NHÂN DANH

VÀ ĐỊA DANH TRONG “BẮC HÀNH TẠP LỤC”

I/ Vị trí của “Bắc hành tạp lục” trong thơ Nguyễn Du và trong thơ sứ trình Việt Nam

I.1.Vị trí của “Bắc hành tạp lục” trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du

I.1.1 Xuất xứ tập thơ”Bắc hành tạp lục”

Đứng bên cạnh đất nước Trung Hoa rộng lớn và hùng cường, dù tự giác haybuộc phải tự giác, các triều đại phong kiến nước Việt thường tự nhận một cách nhúnnhường hay bị coi là dân tộc “man di”, là thân phận “tôi đòi”, bề dưới của “mẫu quốc”Trung Hoa (dẫu có không ít vần thơ hào sảng vút lên khẳng định sự tự tôn của một dântộc nhỏ bé mà quật cường này) Hoàn cảnh và tâm lý thời đại ấy khiến cho triều đìnhnước Nam phải thường xuyên tuế cống “thiên triều” Trung Hoa, như một nghĩa vụ lẫnniềm vinh dự, để gây dựng và gìn giữ mối giao hảo, cũng như tìm đựơc sự “che chở”của thiên triều Chính vì thế, trải từ thời Trần đến thời Nguyễn đó có không ít những

sứ thần nhà Việt phải/được làm những chuyến “Bắc hành” để “báo cáo” tình hìnhtrong nước và tạ ơn mẫu quốc Và kết quả là: Về mặt lịch sử, chúng ta ai cũng đã rõ;

Về mặt văn học và văn hoá, “có đến 60 người đi sứ làm thơ với hàng trăm thi tập,ngót vạn bài thơ”[ 22, 99 ]

Đầu năm 1813, khi đó 48 tuổi, Nguyễn Du được thăng Cần chánh điện đại học

sĩ rồi được cử đi sứ Trung Quốc Tiếp nối trọng trách của các vị sứ thần tiền bối,Nguyễn Du cũng “tay cầm tiết ngọc, hai vai nặng trĩu sứ mệnh của nước nhà” dẫn đầuđoàn sứ bộ “Bắc hành” từ đầu tháng Hai đến giữa tháng Chạp năm Quý Dậu (1813).Sách “Thực lục”đời Thanh Nhân Tôn, quyển 276 chép: “Năm Quý Dậu tháng Mười,ngày mồng một niên hiệu Gia Khánh thứ mười tám, vua nước Việt Nam là Phúc Ánhsai sứ sang biểu cống phương vật Đã ân thưởng và ban yến như thường lệ”[ 19, 45]

Trong chuyến đi dài này, Nguyễn Du không chỉ thực hiện tốt vai trò “con ngườiông quan” của mình, mà “con người nhà thơ”của ông cũng được phát tiết thành tập thơchữ Hán đặc sắc “Bắc hành tạp lục”

Trang 5

“Bắc hành tạp lục” gồm 132 bài thơ, được sáng tác trong vòng một năm Chỉtrong một năm mà “bằng bao nhiêu năm cộng lại”, vì trong khoảng thời gian đó

“Khách lộ trần ai bán độc thư”

I.1.2.Nội dung khái quát của tập thơ

Theo bước chân của sứ đoàn, bức tranh tâm trạng và thế giới “tạp” của hiệnthực vô cùng phong phú suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc được tái hiện rất rõ và đạtđến độ sâu thấm thía Tập thơ không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc “ghi chép”nhữngđiều trông thấy, những cảm nghĩ dọc đường”, mà còn dẫn dụ, khơi gợi người đọc chú

ý tới những vấn đề đằng sau con chữ, liên quan tới hiện thực và con người, lịch sử vàvăn hoá, cá nhân và nhân loại

Trên đường đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du được “mục kích sở thị” nhiều thắngcảnh, nhiều nhân danh nổi danh trong lịch sử, trong văn học mà ông đó biết đến trongvốn kiến văn rộng rói của mình Tình gặp cảnh, 132 bài thơ tức cảnh, đề vịnh, cảmhoài có dịp ra đời Nhưng “Thơ Nguyễn Du bài nào cũng chứa đựng một lời tâm sự.Ngay những bài tức cảnh, vịnh sử khi di sứ Trung Quốc cũng không phải là những bàitức cảnh, vịnh sử thuần tuý, mà đều bao hàm tâm sự của nhà thơ, bộc lộ thái độ sốngcủa nhà thơ hết sức rừ rệt”[11,] Những lời tâm sự ấy “có chăng chỉ có nước QuếGiang sâu thẳm mới có thể hiểu” Có thể dùng lời nhận xét của Nguyễn Huệ Chi về thơchữ Hán Nguyễn Du để nói về nội dung bao trùm của tập “Bắc hành tạp lục”: “( )Đằng sau hình ảnh Nguyễn Du với cõi lòng ủ ê tê tái, với cá tính rõ mồn một, Nguyễn

Du nghìn lần thực hơn cái con người chỉ biết vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện trước mặtGia Long mà sử sách từng ghi lại, ta còn thấy một điều gì lớn hơn nữa, ấy là những suynghĩ nung đúc những nhân cách lịch sử, cũng là sự chiêm nghiệm sâu kín và đầy trắc ẩn

vầ những ba động thời cuộc diễn ra trước mắt ông Có thể nói, khác với những tác phẩmkhác, ( )-“Bắc hành tạp lục” (LĐ)- là một cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp về sốphận mình, gắn liền với vận mệnh chúng sinh trong nhiều thời đại, nhất là thời đại ôngđang sống” [ 11 ] Có một điều rõ ràng rằng đằng sau những bài thơ vịnh cảnh vịnhngười ấy ẩn chứa nhu cầu tự bạch, tự giãi bày, mong được thấu hiểu của người viết nênchúng Do đó, chúng ta tiếp cận “Bắc hành tạp lục” không chỉ từ hình thức và thể tài của

nó, mà còn cần thấy đựơc cả nhu cầu bức thiết mà âm thầm, cháy bỏng của Nguyễn Dukhi viết nên những bài thơ này: hiểu người và đựợc người hiểu

Trang 6

I.1.3 Vị trí của “Bắc hành tạp lục” trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du

So với “Đoạn trường tân thanh” hay “Văn tế thập loại chúng sinh”, có lẽ thơchữ Hán nói chung và tập “Bắc hành tạp lục” nói riêng “lép vế” hơn về “tiếng tăm”trên thi đàn Gần đây, mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du mới tìm được sự quan tâmđúng mức của độc giả và giới nghiên cứu Thậm chí mảng thơ chữ Hán của Nguyễn

Du còn đựơc một vài nhà nghiên cứu đánh giá một cách ưu ái: ‘‘Truyện Kiều thực ra

là tác phẩm “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là sángtác, nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du ( ) Thơ chữ HánNguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vôtận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đãđành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”[ 11, 129 ]

Cùng cảm hứng với Mai Quốc Liên, Nguyễn Kim Hưng cũng đưa ra nhận xétđáng chú ý: “Nếu “Truyện Kiều” và “Văn chiêu hồn” là những công trình nghệ thuậtcho thấy những hiểu biết bậc thầy của Nguyễn Du về nỗi khổ niềm vui của cả một thếgiới diễn ra quanh mình thì thơ chữ Hán lại cho thấy một cách trực diện sự khám phá tàitình của Nguyễn Du về cái thế giới sâu thẳm ẩn náu trong bản thân ông Cùng là nhữngkiệt tác, “Truyện Kiều” và “Văn chiêu hồn” là tấm gương đa diện của muôn vàn tâmtrạng khác nhau trong hiện thực cuộc đời mà nhà thơ sống; Trái lại, thơ chữ Hán là tấmgương đa diện của cái”tôi” trữ tình giàu bản sắc của chính Nguyễn Du” [ 20]

Đọc kỹ, đọc sâu thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta sẽ nhận ra điều mà Đào DuyAnh đã nhận định: “Chính thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, máitóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du”, đó “không phải là tiểu thuyết, là kịchnữa, mà thuần là tâm tình bản thân, Nguyễn Du đó để con nguời của mình trong thơ.”[20 ] Tương tự, Thanh Lãng cũng nhận thấy : “Thơ văn chữ Hán Nguyễn Du mới tố cáothực chất quái gở của cuộc đời ông Ông hầu như là người duy nhất không nói cái ngườikhác đó, hay sẽ nói và cũng không nói bằng ngôn ngữ giống người khác”

Trước khi đưa ra cảm nhận chung về thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta thửtham khảo thêm nhận định của Nguyễn Huệ Chi : “Khác với “Truyện Kiều”, một cuốntiểu thuyết trọn vẹn và “Văn chiêu hồn” một bài văn tế thay lời nhà Phật kêu gọi chúngsinh, thơ chữ Hán Nguyễn Du chủ yếu là những vần thơ tâm tình “Truyện Kiều” và

“Văn chiêu hồn” nếu có bao hàm tâm sự của Nguyễn Du cũng phải thông qua số phận

Trang 7

khách quan của các nhân vật chính - những hình tượng nghệ thuật kết tinh từ cuộcsống Thơ chữ Hán Nguyễn Du, trái lại, khắc hoạ cái hình ảnh trữ tình của chínhNguyễn Du, một hình ảnh rất “động” trước mọi biến cố của cuộc đời”[ 11 ,57 ].

Trong các nhận xét, đánh giá trên, có một hiển ngôn rành rành rằng “TruyệnKiều” và “Văn chiêu hồn” luôn là một đối trọng, một vế để đem so sánh, đối chiếu với

ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du với tổng số hơn hai trăm bài thơ Và cuối cùng, cảthơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm của Nguyễn Du đều được khẳng định về mặt giá trị nộidung, tư tưởng nghệ thuật, tâm hồn ông cũng được nhìn nhận và hiểu một cách thấuđáo từ nhiều góc độ của tác phẩm

Vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Du thành công đến vậy trong loại hình thơchữ Nôm nhưng ông không sáng tác nhiều, mà lại tỏ ra thích thú thơ chữ Hán hơn?Phải chăng, trong thời đại Nguyễn Du, thơ chữ Nôm bị coi là loại “bình dân”, không

“xứng tầm”với vị tòng nhị phẩm tham tri bộ lễ? Hay chỉ đơn giản là do Nguyễn Dumuốn “thử bút” ra ngoại vi sở trường của mình ? Hay là, như sự lý giải của Mai QuốcLiên, “vào thời Nguyễn Du, Hán học cực thịnh, Nguyễn Du làm thơ, trút tâm huyết,tàinăng vào đó là lẽ thường’’[11, 120 ] Hay do dặc thù của chữ Nôm không đủ độ sâu lẫn

bề rộng để “tải” hết những chất chứa tâm sự của con người “ưu thời mẫn thế” này? Mỗi tâm trạng sẽ tìm cho mình một cách thể hiện, một môi trường phát triển tối

ưu nhất Có lẽ, hiểu tâm trạng của mình hơn ai hết, Nguyễn Du đó tìm đựơc cho nómảnh đất sống màu mỡ nhất để nó có thể sinh trưởng, phát triển, ở đó Nguyễn Du cóthể trải bày một cách trọn vẹn cả những ngóc ngách tâm trạng bời bời của mình Và cóthể, cũng nhờ đó, như hổ phách lưu giữ các hoá thạch hàng ngàn vạn năm, thơ chữHán Nguyễn Du lưu giữ cho hậu thế gần như trọn vẹn tâm tư tình cảm thật, sâu kín củaông mà văn thơ chữ Nôm không làm nổi Khó có thể phủ định được một điều rằng:

“Thơ chữ Hán Nguyễn Du là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thếkỷ’”[11 ,128 ]

Khi đã xác lập được vị trí của thơ chữ Hán trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Duchúng ta có thể định vị rõ hơn địa vị của tập “Bắc hành tạp lục“ trong các mối tươngquan trên, mà mới chỉ dừng lại ở một vài nhận định lẻ tẻ về một số vấn đề hiện tượngcủa tập thơ Không hoàn toàn bằng lòng dừng lại ở đó, chúng tôi xin mạo muội đưa racảm quan ban đầu về tập “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du những mong tìm ra được

Trang 8

địa chỉ đúng của nó trên hành trình văn chương của Nguyễn Du như sau: “Bắc hànhtạp lục” có thể được coi là tập thơ đặc sắc nhất trong thơ chữ Hán Nguyễn Du nóiriêng và trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du nói chung Đồng thời, “Bắc hành tạp lục” còn

là bằng chứng khả kiểm nhất về nỗi ưu thời mẫn thế trong tâm hồn con người (conngười ông quan lẫn con người nhà thơ) vốn rất nhạy cảm của Nguyễn Du Cảm nhậntrên xin được minh chứng ở các phần, chương, mục tiếp sau đây

I.2 Vị trí của Bắc hành tạp lục trong thơ sứ trình Việt Nam

Từ thời nhà Trần đến nhà Nguyễn, khi những cuộc Bắc sứ trở thành thông lệbất dịch thì thơ đi sứ cũng đó xác lập thành hẳn một dòng thơ riêng, mang những nétđặc thù mà những dòng thơ khác không có đựơc Những cái tên “Hoa trình” (Đườnghoa), “Sứ trình” (Đường đi sứ) dần trở nên quen thuộc, lớn dần theo bước chân của các

sứ thần nhà Việt trên đất Trung Hoa

Mang trong mình cái hừng hực khí thế thời đại cũng như cảm hứng xuyên suốttoàn bộ thơ ca đời Trần, thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh đượcđánh giá là “những bài thơ đẹp”đầy hào khí Từ sau đời Lê Trung hưng, thơ đi sứ cónhững tập thơ nổi tiếng của các bậc danh sĩ như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn TôngKhuê, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Sĩ Đống, Lê Quý Đôn để lại “hương thơm có thểnhuần thấm cho đời sau” (Ngô Thì Nhậm) trong đó Nguyễn Tông Khuê đựơc đánh giá

là “một tay lãnh tụ” (Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ) Và “Dù không có được cáikhí phách Lý –Trần, nhưng cái diễm lệ của thơ đời Lê trong thơ Nguyễn Tông Khuê,Nguyễn Huy Oánh, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Công Hãng cũng đó để lại cho thơ đi

sứ chữ Hán một gia tài lớn”[ 22, 15 ]

Trong những tập thơ đi sứ thời Tây Sơn của Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích,Đoàn Nguyễn Tuấn, Võ Huy Tấn, “bên cạnh những bài mang nặng cái cốt cấch thơthời hậu Lê, ta thấy những bài có âm điệu tự hào, trong sáng ( ) Thơ đi sứ đến đây đóđổi mới một bứơc về thi phong”[16]

Từ sự “đổi mới một bước về thi phong” của thời đại trước, đến thời Nguyễn

“thơ đi sứ có những bước chuyển mới hẳn ( ) Các nhà thơ không thoả hiệp với thựctại, đó phản ánh trong thơ mình những chân lý của đời sống” Cùng với những xaođộng một lòng nhớ nước thương nhà đầy cảm động trong thơ Nguyễn Thuật, Nguyễn

Tư Giản, Trương Hảo Hiệp là những vần thơ mỉa mai, oán giận và xót đắng “nhân

Trang 9

việc mà tỏ ý” của Ngô Thì Vị, Ngô Nhân Tĩnh, Hà Tông Quyền, Bùi Dị, Nhìnchung, thơ đi sứ thời Nguyễn đậm “chất trữ tình, đồng thời cũng giàu tính hiện thực.

Nó toát lên những âm điệu xốn xang, chua xót mà trầm hùng”.[22 ,17] Trong bản hoà

âm của thơ sứ trình, tập thơ “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du nổi lên trong mộtthanh âm độc đáo, mang nhiều nét của chủ âm trong bản đàn ấy “Bắc hành tạp lục”mang trong mình một hàm lượng giá trị nội dung và ý nghĩa nghệ thuật đủ lớn để nókhông bị nhấn chìm cùng vời nhiều tập thơ sứ trình chỉ có tính nhất thời khác Lý docủa sự “trường thọ” của “Bắc hành tạp lục” là gì? Có thể phủ định tính chất “tầm gửi”của “Bắc hành tạp lục” vào sự nổi tiếng của vị “đại thi hào dân tộc”? Có thể nhận ramột đặc điểm rõ nét trong nội dung của “Bắc hành tạp lục” là nó bao hàm khá đầy đủnội dung nhiều tập thơ sứ trình khác: Cũng “tức cảnh”, “đề vịnh”, “cảm hoài”; cũngđiếu cổ thương kim, mượn cái cổ mà nói cái kim; cũng ẩn giấu hùng tâm tráng chí lẫntâm trạng bi quan về “những điều trông thấy” đen tối; cũng có chất trữ tình đằm thắmcủa thơ đi sứ thời Nguyễn mà không thiếu chất “hào khí” thời Lý Trần, phảng phấttâm lý anh hùng tự nhiệm Hơn nữa, “Bắc hành tạp lục” còn mang nội dung màkhông phải tác giả nào cũng chạm đến được như: những tiếng vang chát chúa củanhững vấn đề xã hội nóng hổi tính thời sự; cái “tôi” trữ tình với những cảm xúc đượcphát biểu một cách thật thà, sâu sắc chứ không còn là cái tôi của những “ông quanchánh sứ”- cái “con nguời ông quan” rành “nghề” làm quan cũng như “con người nhàthơ” vốn đó quá nhạy cảm mà lại “mắc chứng ưu sầu mãn tính, thường trực trải hồnmình ra mà “khóc mướn thương vay” trước mọi nỗi đoạn trường của tha nhân, của

“cõi người ta” ”[ 18, ] Có lẽ vì thế mà từ rung động của mình, Nguyễn Du đó gây ra

sự “lây lan của cảm xúc” một cách hiệu quả tới người đọc Có thể cũng nhờ đó mà

“Bắc hành tạp lục” vượt qua được mẫu số chung của thời đại để vươn tới mẫu sốchung của cảm xúc nhân loại

Cho đến nay chúng tôi chưa tìm được một đánh giá cụ thể nào về vị trí của tập

“Bắc hành tạp lục”trên hành trình gần ngàn năm của thơ sứ trình Việt Nam, song từgiá trị thực của tập thơ, chúng ta cũng có thể nhận thấy trong mạch ngầm chung củathơ đi sứ thì “Bắc hành tạp lục” đó đủ sức lực và bản lĩnh để xác lập mình thành mộtdũng chảy đặc trưng của Nguyễn Du trong sự hoà tan của các “dòng” khác đang hoàmình vào nguồn thơ đặc thù này

Trang 10

II Hành trình thực của sứ đoàn

Theo dõi các cuộc Bắc sứ từ thời Trần đến thời Nguyễn, các nhà nghiên cứu trongcuốn “Thơ đi sứ” phác ra con đường đi sứ thông thường của các sứ thần như sau: “Sứ

bộ vượt Nhị hà, lần lượt qua những trạm dịch để đến Nam Quan Binh lính mở cửa ải,đốt pháo mừng sứ bộ và từ đó sứ bộ sẽ đến Nam Kinh, rồi qua Hà Nam, qua ĐộngĐình, Hán Khẩu Lúc đi ngựa, lúc đi thuyền để tới Yên Kinh”[22, 8 ]

Cũng từ trục đường chính ấy, và từ nhật ký hành trình tâm trạng mà Nguyễn Dughi lại trong “Bắc hành tạp lục”, Đào Duy Anh mô tả một cách cặn kẽ hành trình Bắc

sứ của Nguyễn Du từ lúc khởi hành đến lúc trở lại tận của ngõ nước Việt như sau:Nguyễn Du khởi hành từ Huế, đi qua Thăng Long, qua Nam Quan mà sang TrungQuốc, theo sông Minh Giang và sông Tả Minh Giang mà đến Ngô Châu, ngược sôngQuế Giang mà đến Quế Lâm, nhờ kênh Hưng An mà sang sông Tương, xuôi sôngTương mà đi suốt tỉnh Hồ Nam, qua Tương Đàm và Tương Âm, vào hồ Động Đình,rồi đến Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc Từ đây có lẽ sứ bộ theo đường bộ mà qua Võ ThắngQuan để vào Hà Nam, qua Tín Dương, Yển Thành, Hứa Xương mà đến Khai Phong vàvượt sông Hoàng Hà, qua Triều Ca, Nghiệp Thành trên sông Chương Hà, qua HàmĐan kinh đô nước Triệu xưa, qua sông Dịch mà vào địa phận nước Yên xưa để đếnBắc Kinh Từ Vũ Hán, đường bộ của Nguyễn Du khi về theo đường cũ ở khoảng Nam

và Bắc sông Hoàng Hà mới trải qua đói kém và loạn lạc, sứ bộ phải chuyển sang điđường phía đông mà theo đường tương đương với đoạn đầu của đường xe lửa TânPhố, qua phía tây Thái Sơn mà đến Khúc Phụ (quê của Khổng Tử) và Trâu huyện (quêcủa Mạnh Tử) và tỉnh Giang Tô mà đến Từ Châu và Nam Kinh Có lẽ bấy giờ lưu vựcsông Hoài đang bị đói kém nên sứ bộ không từ Nam Kinh đi thẳng xuống An Huy màphải từ Nam Kinh theo đường bộ vũng xuống Chiết Giang, qua Tổ Sơn mà đến HàngChâu, rồi từ Hàng Châu lại theo đường bộ sang An Huy, qua đầm Đào Hoa ở Kinhhuyện, rồi vượt lên phía bắc sông Trường Giang mà qua núi Tiềm Sơn vào tỉnh HồBắc mà địa đầu là núi Hoàng Mai, rồi đến Vũ Hán Từ đấy sứ bộ lại theo đường sông

cũ mà qua các tỉnh Hà Nam và Quảng Tây để vào Nam Quan

Những mong tường minh từng bước chân của Nguyễn Du cùng sứ bộ, NguyễnVăn Hoàn [19, 45] đó men theo từng mốc ngày tháng cụ thể được ghi chép để tìm ra lộtrình chuyến Bắc hành của Nguyễn Du như sau:

Trang 11

6/2 Quý Dậu : đi qua cửa Nam Quan

8/4 : đến Ninh Minh Châu

2/5 : đến thành phủ Ngô Châu

5/6 : đến Quế Lâm, tỉnh lỵ Quảng Tây

18/7 : từ Toàn Châu đến Trường Sa, tỉnh lỵ Hồ Nam

27/7 : đến địa phận huyện Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc

30/7 : đến Vũ Xương, tỉnh lỵ Hồ Bắc

9/8 : từ Hán Khẩu ra đi

22/8 : đi khỏi địa phận huyện An Dương, tỉnh Hà Nam

21/9 : đến trạm Từ Châu, tỉnh Trực Lệ, sau đó qua Bảo Định để lên Bắc Kinh4/10 : tới Bắc Kinh

24/10 : từ Bắc Kinh khởi hành về nước

2/11 : về đến châu thành Cảnh Châu thuộc tỉnh Trực Lệ sau đó qua Đức Châu, tỉnh Sơn Đông , rồi đi qua tỉnh An Huy mà xuống Hồ Bắc11/12 : đến Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc

25/12 : từ huyện Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc đi đến huyện Lâm tương tỉnh Hồ Nam.30/1 Giáp Tuất :đến huyện Kỳ Dương tỉnh Hồ Nam

12/2 : đến Toàn Châu tỉnh Quảng Tây

4/2 nhuận : đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây

29/3 :về qua Nam Quan

Chúng ta cú thể hình dung rõ hơn về lộ trình của sứ bộ qua “Bản đồ chỉ đường

đi của sứ bộ Nguyễn Du năm 1813-1814”[19, 46- 47 ]

III Sơ lược về đặc điểm nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục”

III.1 Một số hiểu biết về thuật ngữ “nhân danh” và “địa danh” và góc độ tiếp cận chúng của Nguyễn Du.

Danh xưng học (onomastique/onomasiologie) là một nghành của ngôn ngữ học,chuyên nghiên cứu về tên riêng Danh xưng học gồm hai chuyên ngành: địa danh học(toponymie) và nhân danh học (anthrponymie) Địa danh học nghiên cứu về tên đất,danh nhân học nghiên cứu về tên người Ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến đối tượngcủa các nhánh trong ngành học này

Trang 12

Nhân danh và địa danh là một bộ phận trong tổng thể danh từ Danh từ bao gồmhai bộ phận: danh từ chung và danh từ riêng Nhân danh và địa danh được hình thànhnên từ bộ phận danh từ riêng, nhưng để phân chia nhân danh và điạ danh thành nhữngđơn vị nhỏ hơn khá phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Nhưng điều đáng chú

ý khi nghiên cứu về nhân danh và địa danh là cần nhận ra sự đổi ngôi trong chính bảnthân chúng Không phải ngẫu nhiên mà một nhân danh (tên người) lại có thể trở thànhdanh nhân (tên người nổi tiếng) và một địa danh (tên đất) lại được nhiều nguời, dù ởrất xa nơi đó, biết đến trong sự ngưỡng vọng, thế là nó nghiễm nhiên trở thành danhđịa (vùng đất nổi tiếng) Tên người và tên đất là hữu hạn trong giới hạn của thời gian

và không gian, bởi mỗi người gắn với cái tên ấy bị giới hạn bằng thời gian “trongkhoảng trăm năm”, và mỗi mảnh đất hay công trình kiến trúc mang một cái tên nhấtđịnh bị giới hạn bởi khoảng không gian hữu hạn mà cái tên ấy chỉ Nhưng những danhnhân, danh địa ấy tự vượt thoát khỏi điểm tới hạn của mình mà trường tồn, mà trở nênnổi danh khắp thiên hạ Không gì có thể mang lại cho chúng khả năng ấy ngoài nguồnmạch văn hoá - lịch sử tiềm tàng trong bản thân chúng Vì vậy nhà triết học nổi tiếngngười Pháp Francis Bacon mới khát khao để lại cái tên mình: “tên tôi tặng cho nhữngthế hệ mai sau” Ở các quốc gia dân tộc có truyền thống lâu đời thì nghiên cứu nhândanh và địa danh trở thành một trong những bộ phận, phương diện quan trọng của trithức, bởi qua việc nghiên cứu bề dày và chiều sâu của nhân danh và địa danh chúng ta

có thể thu được những tri thức quan trọng về văn hoá và tâm lý dân tộc đó, có thể nhậndiện được văn hoá của dân tộc ấy

Địa danh là “tên các vùng miền, tên địa phương”[ 4, 629 ], nhân danh là: “(dt)tên người;(đgt) lấy danh nghĩa, với tư cách nào để làm việc gì đó”

Căn cứ vào mục đích của đề tài, chúng tôi chỉ sử dụng thuật ngữ “nhân danh”với tư cách nghĩa của danh từ “tên người” Thuật ngữ này tìm được cách hiểu kháthống nhất, nó là dấu hiệu đại biểu cho con người, mỗi cái tên đó sẽ đại diện cho người

đó, và nó có một nội hàm nhất định về nghĩa và ý nghĩa

Cho đến nay, thuật ngữ “địa danh” vẫn chưa đạt được sự đồng thuận trong cáchhiểu Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa danh là tên đất Ngoài ra, “địa danh không chỉ làtên gọi của các đối tượng địa lý gắn với từng vựng đất cụ thể mà là tên gọi của các đốitượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lý cư trú hoặc là công trình do con người xây

Trang 13

dựng, tạo lập nên [ 14, 19 ] Nguyễn Văn Âu, tiếp cận địa danh theo góc độ địa lý - vănhoá, cho rằng địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc hoặc là tên các địaphương, các dân tộc”[5, 5] Tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa cho rằng:

“địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiênnhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và cáccông trình xây dựng thiên về không gian hai chiều”[ 17, 80 ] Cũng có ý kiến cho rằngđịa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác địnhtrên bề mặt trái đất Chưa bàn đến chuyện xét xem cách nói của nhà nghiên cứu nào làđầy đủ nhất và đúng nhất cũng dễ nhận ra rằng địa danh không chỉ là đại diện chochính nó, mà còn là biểu hiện của những tầng ý nghĩa lịch sử, văn hoá, nhân văn tiềm

ẩn nào đó

Và cần chú ý là “hai loại tên riêng này (nhân danh và địa danh –LĐ) có quan hệchuyển đổi thường xuyên”[8, 11], chúng “không thể định nghĩa mà chỉ có thể miêu tả,chúng không tương ứng với một ý niệm chung, một khái niệm nào” [23, 5]

Trong “Bắc hành tạp lục” như trên đã nói, Nguyễn Du không sử dụng nhândanh và địa danh chỉ với nhu cầu định danh đơn thuần mà nó như là một nguồn mạchcủa sự sáng tạo và khám phá văn chương, ngoài ra ông còn khơi lên được một mạchngầm văn hoá suốt dặm dài lịch sử Trung Quốc và nhuần thấm xuyên qua tâm hồn ông

- tâm hồn Việt Nhìn dưới góc độ văn hoá, tức tìm hiểu, trình bày sự vật, quá trình vừatrên diện rộng, vừa ở chiều sâu, trong mối quan hệ rộng lớn các hoạt động nhiều mặtcủa con người, và từ gốc rễ, căn cốt, khơi sâu vào nguồn mạch, vào những quy luật giátrị thường hằng chi phối cuộc sống lịch sử, sự phát triển của cộng đồng, ở đó xảy ramột cuộc tiếp biến (theo nghĩa là một cuộc tiếp biến văn hoá, là tổng thể những thayđổi trong các mô hình văn hoá bản địa khi tiếp xúc với người của nền văn hoá khácđược thể hiện dưới hình thức vay mượn, trao đổi, diễn giải lại), một sự dung hoà songhành cùng với sự xác lập cái “Tôi” Nguyễn Du với cái “Ta” lịch sử

Dù chủ động hay vô thức khi nhìn các đơn vị nhân danh và địa danh dưới gócnhìn văn hoá - lịch sử, Nguyễn Du vẫn tạo được hợp chất cô đúc giữa văn chương vớivăn hoá - lịch sử, giữa nhân danh địa danh với tư tưởng và nghệ thuật, tạo ra mối liên

hệ đa chiều giữa văn chương không chỉ với nghệ thuật, tư tưởng, ngôn ngữ, mà cònvới các hoạt động tinh thần khác của con người

Trang 14

III.2 Những dữ kiện khảo sát được về nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục”

“Bắc hành tạp lục”gồm 132 bài thơ (Lê Thước và Trương Chính cho rằng chỉ

có 131 bài), trong đó có tới 124 bài chứa nhân danh và địa danh; trong số 124 bài đó

có tới 104 nhân danh và 201 địa danh, tổng số nhân danh và địa danh xuất hiện lớn gấpđôi tổng số bài thơ (Cần thống nhất là các tên gọi như “Dương Phi cố lý”, “Tô Tầnđình”, “Nhạc Vũ Mục mộ” bao gồm hai phần, vừa được coi là nhân danh, vừa đượccoi là địa danh) Đây là con số đáng để giật mình và xem xét về sự có mặt dày đặc,thường xuyên, đầy bí ẩn của các đối tượng khó gây đựơc thiện cảm trong văn chương

và đặc biệt khó sử dụng trong thơ này Thậm chí nó còn nỗ lực trở thành các đối tượngtác động gây cảm xúc cho văn chương, cho nghệ thuật của Nguyễn Du nữa Đối chiếu

sơ bộ với các bài thơ khác trong dòng thơ “Hoa trình”, chúng ta lại càng giật mìnhhơn, dầu các nhà thơ - sứ thần đó trong lúc cao hứng ngâm ngợi cũng đưa một vàinhân danh, địa danh vào trong thơ của mình, nhưng chúng (nhân danh và địa danh)không tác động mạnh tới người đọc bởi mật độ, tần số xuất hiện lẫn hàm lượng ý nghĩanhư trong tập “Bắc hành tạp lục”của Nguyễn Du Không có điều kiện đi sâu vào đốichiếu một cách chi tiết, chúng ta sẽ khơi mở dần vấn đề này trong các chương mục saucủa đề tài, thậm chí có thể hi vọng mở rộng thành một đề tài nghiên cứu riêng

Và điều đáng chú ý nữa là con số cỏc bài thơ viết về những nhân vật lịch

sử như Khuất Nguyên (với 5 bài trọn vẹn nói về và 2 bài “động chạm” đến), Tào Tháo(3 bài), Mã Viện (3 bài), Đỗ Phủ, Nhạc Vũ Mục và Tần Cối (mỗi nhân vật được dànhriêng 2 bài), 12 bài cảm tác khi viếng mộ, 6 bài về các nhân vật phụ nữ Đây là nhữngcon số biết nói, nó thể hiện tính chất văn hoá - lịch sử của tâm thế lựa chọn màNguyễn Du - không phải ngẫu nhiên, vô thức - đưa vào tập “tạp lục” trong chuyến

“Bắc hành” của mình Để tiện theo dõi tần số và mật độ xuất hiện của các nhân danh

và địa danh trong tập thơ “Bắc hành tạp lục”, chúng tôi đã lập một danh mục - có thểxem như là bản đồ - về sự xuất hiện của chúng trên hành trình tâm trạng Nguyễn Dunhư sau:

Trang 15

phép so sánh giữa “Bắc hành tạp lục” với chính hai tập thơ chữ Hán của Nguyễn

Du “Nam trung tạp ngâm” và “Thanh Hiên thi tập”chúng ta cũng sẽ nhận thấy sự khôngtương đồng về mật độ, tần số và sắc thái ý nghĩa của các nhân danh, địa danh xuất hiệntrong đó Ở “Thanh Hiên thi tập” với 67 bài thơ chỉ có tổng số 54 nhân danh và địa danh,còn “Nam trung tạp ngâm” có 27 nhân danh và địa danh trong tổng số 26 bài thơ

Như vậy, tính dị biệt của hệ thống nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạplục” không chỉ nổi lên trên dòng thơ “Hoa trình”, mà nó còn là một hiện tượng trongchính nội bộ phạm vi thơ chữ Hán Nguyễn Du Không chỉ đáng chú ý trong phạm vicác mối tương quan trên, nhân danh và địa danh còn là một chủ đề đặc biệt trong vănbản văn học, hơn nữa, lại là văn bản thơ

Theo Alian Rey, “cộng đồng xã hội cấp danh tiếng cho một số người hoặc một

số nơi khiến cho tên gọi từ đó đi vào ký ức và có ý nghĩa ( ) Nhu cầu định danh làmột nhu cầu cơ bản Định danh để phân chia, khu biệt, khiến không thể thay thế cáinày bằng cái kia”[ 23, 5] Vậy “nhu cầu cơ bản “ mà Nguyễn Du dùng thường xuyên

ấy để ‘thay thế” cho cái gì có lẽ là điều chúng ta cần khám phá và cắt nghĩa nhất, nóhứa hẹn nhiều lớp ý nghĩa mà bấy lâu còn phong kín

Hemingway đó rất tinh tế khi chỉ ra ý nghĩa của địa danh (và chúng ta có thểvận dụng để hiểu về nhân danh), rằng: “Có nhiều từ ta đó chán nghe, và cuối cùng, chỉnhững địa danh là còn giữ được phẩm giá Một vài con số, một vài ngày tháng cũnggiữ được phẩm giá, và chỉ chúng và địa danh mới có thể còn đựơc phát âm với nmột ýnghĩa nào đó ” Và Iu.Lotman khơi thêm: “Chức năng của những tên gọi địa lý khôngchỉ liên quan không chỉ tới thuật ngữ xã hội, mà còn tới các tình huống trong thơ ca.Dường như, nó mất đi nghĩa ngoại văn cảnh và chỉ có nghió trong tỡnh huống cụ thể.Việc đặt địa danh xa xôi trong văn bản tạo ra một tác động giống như sự liên kết các ýtưởng xa vời ( ) và qua đó “Biểu tượng chính trị đựơc nhấn mạnh”[2 ] Như vậy,nhân danh và địa danh được nâng lên như một thủ pháp nghệ thuật, như một tiềmnăng về văn hoá - lịch sử

III.3 Một vài nhận xét chung về nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục”

Theo như Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính cảm nhận về “Bắc hành tạplục” thì ở đó Nguyễn Du đề cập đến bốn đối tượng chủ yếu là kẻ thù dân tộc, nhữngnhân vật lịch sử Trung Quốc, chuyện trước mắt và tư tưởng muốn về ở ẩn Về “kẻ thù

Trang 16

dân tộc”, Nguyễn Du chọn hai “tên” tiêu biểu là Mã Viện và Minh Thành Tổ vì “nóihai tên ấy đủ rồi, nói nữa thành ra khiêu khích, ông đang cầm đầu một phái đoàn tuếcống” Về những nhân vật lịch sử Trung Quốc, “ông hết sức cảm kích khi nói đếnKhuất Nguyên ( ) Đồng thời ông đề cao những trung thần nghĩa sĩ chết oan hoặc bịbọn cầm vận mệnh đất nước yếu hèn để cho nước mất hoặc đầu hàng ngoại bang, hoặcgian ngoan độc ác, hoặc tham quyền cố vị, lật đổ lẫn nhau hoặc làm cho nhân dân đóikhổ, loạn lạc, thành ra kẻ bề tôi không còn con đường nào khác là đành phải chết vìông vua họ thờ” Về chuyện trước mắt, ông nói đến cảnh loạn lạc, cảnh đói kém ởTrung Quốc, chuyện đời sống nhân dân khổ cực, trong khi có người ăn thừa mứa,không hết đổ xuống sông hoặc cho chó, mà chó cũng chán không thèm ăn Về tưtưởng muốn về ở ẩn, nhớ núi Hồng sông Lam, nhớ chuyện đi săn xuất hiện nhiều lầntrong những bài thơ Nguyễn Du làm trên đất khách.[10, ].

Trong bài viết “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán”,Nguyễn Huệ Chi cũng cho rằng: “Trong “Bắc hành tạp lục” Nguyễn Du thường nóiđến các mẫu người “cô trung”, “giữ lòng trung”, “hết lòng với chủ” lẫn “những kẻ âmmưu hoặc trực tiếp đem quân xâm lăng nước ta như Mã Viện, Minh Thành Tổ, cảnhững con người có số phận cơ cực hẩm hiu”, lẫn “ những nhân vật kỳ tài“, “nhữngkiếp tài hoa”[ 11, 57 ] Từ cách nói của Nguyễn Huệ Chi, có thể nhận thấy ông nhìn vềnhững con người - nhân vật trong “Bắc hành tạp lục” dưới cảm quan của sự đối lậpgiữa hai chiến tuyến tốt - xấu, chính diện - phản diện, rồi đưa ra nhận định: “Trong thơchữ Hán , Nguyễn Du đặt những nhân vật loại này (tức mẫu người xấu- LĐ ) ở một vịtrí rất phụ, có khi không đọc kỹ có thể lướt qua Mặc dù thế, bóng dáng một mẫungười xấu như là nhân vật trung tâm, choán lấy hết tác phẩm ( ) Nguyễn Du thường

ít khi để cho những nhân vật phản diện đứng riêng biệt một mình, thông thường, chúngvẫn đuợc hình dung gắn sát với nhân vật chính diện ( ) [11]

Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên chỉ ra các nhân vật trong “Bắc hành tạp lục” nóiriêng qua bài viết “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du” là các nhân vật văn hoá”; và các vấn

đề Nguyễn Du hay chạm đến khi nói về các nhân vật lịch sử là “vấn đề quyền lực”, haynói đến “cô trung”, “tiết nghĩa”, “những điều trí thức thời xưa thấm thía”[ 11, 120 ].Cách nhìn nhận hệ thống những nhân vật ở các nhà nghiên cứu có nhiều giác độ khácnhau và mỗi người đều có lý, ở một phương diện nào đó khi đưa ra nhận định của mình

Trang 17

Nhưng theo chúng tôi, các nhà nghiên cứu đó mới chỉ nhìn thấy phần “nổi” của

“tảng băng chìm” Nếu chỉ nhìn thấy những con người, những cái tên hiển thị trên mặtgiấy mà chưa thấy đựơc những “đại biểu vắng mặt”, mà sự vắng mặt đó lại mang nặngmột ý nghĩa sâu kín Khi tiếp cận vấn đề nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục”,thiết nghĩ cần cắt nghĩa được những kiêủ nhân danh - địa danh gì thu hút mạnh mẽ trựcgiác của Nguyễn Du lẫn những đối tượng nào bị “bỏ rơi” dù chúng không có gì lạ lẫm,thậm chí còn là những điều “nằm lòng” của bậc nho giả Đằng sau việc tập trung thể hiệnhay bỏ trống ấy hẳn không phải là sự ngẫu nhiên hay vô ý, mà chính là tâm thế của sự lựachọn văn hoá - lịch sử mà Nguyễn Du dùng nó như một tiêu bản với mục đích sâu kín nào

đó Có thể nhận thấy một điều, như Hoài Thanh cảm nhận : “Một điều rất rõ là Nguyễn

Du đó viết dưới sự thôi thúc của những nỗi niềm không nói ra không được” [11,33 ] Cầnnói thêm là cái sự bức xúc của “những nỗi niềm không nói ra không được” được nói bằng

cả ngôn ngữ lẫn vô ngôn, và thông qua hệ thống nhân danh và địa danh hay được nhắcđến lẫn các đối tượng mà Nguyễn Du “lờ đi”,cố tình hay vô ý bỏ quên

III.3.1.Nhóm nhân danh và địa danh hay được nhắc đến

Đọc kỹ và đọc sâu “Bắc hành tạp lục” ta có thể thấy dưới bề sâu của sự lựachọn các dữ kiện từ hiện thực của Nguyễn Du mang mạch ngầm của dòng chảy vănhoá - lịc sử Có thể khẳng định rằng sự lựa chọn ấy chính là thể hiện tầm văn hoá củaNguyễn Du, như có một định nghĩa về văn hoá “Văn hoá là sự lựa chọn” Điều này thểhiện qua nền văn hoá của từng quốc gia dân tộc, từng cộng đồng người lẫn từng cá thểngười khác nhau

Mặt khác, tâm thế của sự lựa chọn trong “Bắc hành tạp lục” được đặt dưới cáinhìn vừa mang tính phổ biến của thời đại ông, vừa mang tính cá thể của một tâm hồn đacảm, đa sầu Nguyễn Du: Cái nhìn nhân văn Sự rạn vỡ của những thang bậc giá trị xãhội tưởng chừng bất di bất dịch từ hàng ngàn năm là một trong những nguyên cớ sâu xanhất để vỡ bung ra làn sóng nhân văn mới mẻ và mạnh mẽ của văn học Việt Nam kể từthế thế kỷ XVIII với những Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn

Du, Nguyễn Công Trứ Nhìn về nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục” dướigóc nhìn văn hoá, lịch sử và từ cái nhìn nhân văn của Nguyễn Du, chúng ta sẽ thu đượckết quả không như kết quả của những cách tiếp cận theo quan điểm chính trị nhìn cácnhân vật dưới góc độ “kẻ thù dân tộc”, hoặc chung chung “về những nhân vật lịch sử”Trung Quốc ít nhiều mang tính định kiến cá nhân hay lịch sử xã hội

Trang 18

Trước hết chúng ta thấy nổi lên trên bề mặt các con chữ trong “Bắc hành tạplục” là nhóm các nhân danh và địa danh hay được nhắc đến Để tiện theo dõi và giảquyết các vấn đề về nội dung tư tưởng và nghệ thuật mà chúng mang chứa, chúng tôichia vấn đề thành hai mục về nhân danh và về địa danh rồi lần lượt đi vào từng mục.

a Về nhân danh

Chân ướt chân ráo sang Bắc quốc, đất nứơc mà bên vệ đường cũng là văn hoá lịch sử, con người nhạy cảm và tri kiến đến điều của Nguyễn Du nhanh chóng bị thuhút rồi rung động mãnh liệt, tận độ trước bao nhiêu con người mà số phận, cuộc đời, bikịch của họ mang tầm vúc lịch sử, “siêu lịch sử” Cũng qua những xúc cảm đó,Nguyễn Du đó đánh giá nền văn hoá Trung Hoa cổ đại suốt từ tiên Tần đến ĐườngTống, từ thời Khất Nguyên đến Đỗ Phủ, từ Tam Hoàng đến Tào Tháo Loại nhân danhđược nhắc đến nhiều nhất trong “Bắc hành tạp lục” chính là những kiệt nhân, nhữngngười hiền tài , những nhân vật chính trị, các tấm gương tiêu biểu cho một phẩm chấtngười nào đó Trong đó dường như những cái tên của các thi nhân có sức cọ xát, vađập rất mạnh và tạo ra những rung cảm từ thẳm sâu tâm hồn đến từng con chữ thơ caNguyễn Du Những cái tên Đỗ Phủ, Lý Bạch, Liễu Tử Hậu, Âu Dương Tu, ThôiHạo, tự nó đã có giá trị không chỉ với lịch sử - văn hoá mà chúng còn xây tổ, ăn sâubám rễ vào tư tưởng lẫn cách viết của Nguyễn Du

-Các tấm gương hiền tài, trung thần được nhắc đến với mật độ cao nhất cùng vớinhiều kiệt nhân mà tên tuổi của họ đó đóng đinh vào lịch sử như Khuất Nguyên,Trương Nghi, Dự Nhượng, Kinh Kha, Hàn Tín, Tỉ Can , Mạnh Tử, Giả Nghị, Cù ThứcTrĩ, Liễu Tử Hậu, Nhạc Vũ Mục, Liễu Hạ Huệ, Lý Mục, Lạn Tương Như Những cáitên mà nội hàm ý nghĩa của nó đó được kiểm nghiệm bằng cả ngàn năm lịch sử, nayđựơc Nguyễn Du khai quật, khám phá và đưa ra những phát kiến độc đáo - thoát xáckhỏi những “quy chế” của lịch sử

“Bắc hành” với cương vị chánh sứ đại diện chính thức cho cả một quốc gia nhưng những số kiếp oan khổ trong cuộc đời đầy rẫy những cái “tạp” vẫn có sức hútmãnh liệt tới tâm hồn đa sầu đa cảm của Nguyễn Du Thế nên thân phận những ngườiphụ nữ, cả nổi danh lẩn vô danh, cùng những “con người nhỏ bé” cũng khiến ông phảinói về nỗi đau của họ như chính nỗi đau của mình Lần lượt từng khuôn mặt hiện lên

-từ Dương Quý Phi, Trác Văn Quân, Ngu Cơ, nhị phi (của Ngu đế), “Long thành cầm

Trang 19

giả ca” đến “Thái Bình mại ca giả”, “phụ huề tam nhi”(Nguời mẹ dắt ba con), “ thôi xahán”( người phu xe) bằng trọn vẹn niềm rung cảm xót xa đến thắt lòng.

Ngoài ra, mảng thơ về những nhân vật “phản diện”hoặc bị coi là “phản diện”trong tâm thức lịch sử lẫn trong định kiến của người Việt mà Nguyễn Du viết cũng vớiniềm rung động không kém mạnh mẽ, táo bạo chiếm số lượng không nhiều nhưng lạigây ra sự “lệch pha” giữa các cách cảm không nhỏ chút nào Những nhân danh như

Mã Viện, Tôn Sĩ Nghị, Minh Thành Tổ được coi là những kiệt nhân của Trung Hoa(dù họ là những kẻ “lắm tài nhiều tật”), nhưng lại bị người Việt phỉ nhổ bởi họ lànhững “kẻ thù dân tộc” rắp tâm hay đó thân chinh xâm lược nước ta Những bài viết

về Tô Tần, Tần Cối, Vương Thị, Hạng Vũ, Tào Tháo cũng gặp nhiều sự bất đồngtrong “tầm đón đợi” của độc giả dù các nhân vật này đó bị lịch sử khẳng định “vai trò”đối với lịch sử - văn hoá Với những kiểu nhân vật này, nếu cứ theo môtip cảm nhậntruyền thống xét nhân vật là “chính” hay “tà” thì sẽ khó lòng hiểu đúng tâm tư Nguyễn

Du trong các bài thơ này

Những nhân danh được nhắc đến ở trên, cho đến nay, vẫn còn nhiều điều chưanhất quán trong giới nghiên cứu về việc đánh giá, nhìn nhận vai trò của họ trong diễntrình lịch sử - văn hoá lẫn trong cảm thức thơ Nguyễn Du Sự thức nhận về điều đó,cũng như đó nói về tâm thế của sự lựa chọn của Nguyễn Du ở trên, chịu ảnh hưỏngnhiều của các góc độ tiếp cận lẫn cá tính tiếp nhận và “tầm đón đợi” ở mỗi cá nhân

b.Về địa danh

Chúng ta có thể thu thập được một vài ý kiến của các nhà nghiên cứu về nhândanh trong “Bắc hành tạp lục”, dù không nhiều và có thể là phát biểu một cách tự phát,nhưng tuyệt nhiên chưa thấy nhà nghiên cứu nào đả động đến các quy luật và bản chấtmột cách có hệ thống, mà mớỉ dừng lại ở các hiện tượng (mộ) Trong đề tài này chúngtôi sẽ cố gắng cắt nghĩa hệ thống địa danh của “Bắc hành tạp lục” qua việc lưỡng phân

hệ thống này thành hai nhóm: Nhóm địa danh văn hoá - lịch sử ( gắn với các nhân vật,

sự kiện lịch sử) và nhóm địa danh tự nhiên

Nhóm địa danh tự nhiên không thực sự là đối tượng cần quan tâm bởi hàmlượng nghĩa và ý nghĩa lẫn mức độ chú ý của Nguyễn Du không nhiều Những địadanh đó dường như chủ yếu dùng để chỉ một hiện tượng địa chất, địa lý như Ngũ ChỉSơn, Quế Lâm, Hoa Sơn, Ngũ Lĩnh,Hồng Lĩnh Nếu có, những tâm sự mà Nguyễn Dugửi gắm vào đó cũng không thật nhiều và rõ nét

Trang 20

Nhóm địa danh văn hoá - lịch sử khiến chúng ta cần lưu tâm ngay từ cái tên chữđầy trăn trở như: Dương Phi cố lý, Lỗi Dương Đỗ Thiếu lăng mộ, Hoàng Hạc Lâu,Đồng Tước đài, Nhạc Vũ Mục mộ, Lạn Tương Như cố lý, Hoàng Sào di tích Khôngchỉ dừng lại ở đó, những cái tên ấy có đủ sức hé mở, sức gợi rất lớn đối với bất kỳ ai

có nhu cầu “tri kiến đến điều” tạp “Bắc hành tạp lục” lẫn thơ chữ Hán Nguyễn Du vàthế giới tâm hồn ông

III.3.2.Nhóm nhân danh và địa danh bị Nguyễn Du “bỏ rơi”

Những “quãng lặng”, “khoảng trống”không bao giờ là vô nghĩa Trong cảnhững lúc “vô ngôn”, nếu bắt đúng tần số phát sóng của nó, chúng ta sẽ đọc đựơckhông ít những bí mật, những uẩn khúc mà ngôn ngữ chưa đủ sức chuyển tải

Thăm dò những “khoảng trắng” về nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạplục” mà Nguyễn Du vô tình hay hữu ý “tẩy trắng” chúng trên văn bản, chúng ta sẽkhơi trúng mạch ngầm tâm tư sâu kín vẫn âm thầm chảy trong con người đa đoantrước cuộc đời vốn đa sự này

Quả là lạ đối với một bậc chân nho “hay chữ” và ấp ủ khát vọng tang bồng hồ thỉnhư Nguyễn Du lại tỏ ra hờ hững với Khổng Tử cùng tư tưởng “trung nghĩa” - mộttrong “ngũ thường” của Nho gia! Cũng là một nỗi ngạc nhiên khi ta tìm mỏi mắt mà vẫnchỉ thấy sự vắng bóng của các ông vua anh minh, của ước mơ về một thời đại thịnh trịNghiêu Thuấn, Hạ Vũ trong “Bắc hành tạp lục” nói riêng và trong toàn bộ thơ Nguyễn

Du nói chung Và một điều quan trọng nữa cần xem xét về chuyến hành trình củaNguyễn Du và sứ đoàn đó in dấu trên các miền đất có tên tuổi với nhiều thắng cảnh,nhân danh nổi tiếng như Hồ Nam, Yên Kinh,Tầm, nhưng không đựơc tái hịên tronghành trình của “Bắc hành tạp lục” Trong khi đó, một vài địa danh như “Dương Phi cốlý”, nơi dựng tượng Tần Cối và Vương Thị không nằm trên trục hành trình của sứ bộnên “làm ta ngờ rằng nhà thơ nhân nhớ đến những nhân vật đó mà làm thơ, chứ khôngphải tức cảnh sinh tình như tuyệt đại đa số các bài trong tập này”[ 21, 15]

Và chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến hiện tượng mà Nguyễn Huệ Chi đóphát hiện ra: “Trên đường đi sứ nghìn dặm của Nguyễn Du, đường đường là một ôngchánh sứ Việt Nam chắc chắn Nguyễn Du đó gặp gỡ, chén tạc chén thự với không ítbậc cụng khanh quyền quý, nhưng tại sao trong thơ ông lại không hề thấy ghi lại dùchỉ là một lần tiếp xúc với những đám người sang trọng đó?” [ 11 ]

Trang 21

Với tất cả những gì được tái hiện trên trang giấy lẫn những gì bị/ được che lấp

đi, phải chăng Nguyễn Du muốn “thử sức” hay “ bịp mắt” người đời nhằm giấu kínnhững tâm sự khó ngỏ và bảo toàn cái “thân già” giữa cõi “phù sinh”? Liệu nhữngđiều đó có phần nào hé mở cái thế giới tâm tư kín như bưng mà Nguyễn Du vẫn bưngbiền cho đến tận lúc nhắm mắt vẫn chưa nguôi? Qua đó ta có thể cắt nghĩa được nhữngtiếng lòng rối bời, phức tạp, đa thanh đa sắc của con người ông quan lẫn con người nhàthơ Nguyễn Du? Phải chăng “tất cả những điều ông viết trong thơ dường như chỉ làmột lớp váng nổi trên bề mặt, còn thực chất tâm sự của nhà thơ là gì, ông không nói ra

cụ thể và hình như ông cũng chưa nhận thức được cụ thể” [24, 193 ]

Cũng là lịch sử Trung Quốc cổ đại với dặm đường dài hàng ngàn năm, nhưngchỉ đến bản tổng kết “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du thì lịch sử mới “như là vănchương ( ), bản thân lịch sử cũng ngày càng được đọc như thể nó cũng là vănchương”, và Nguyễn Du trở thành “sử gia của văn chương - ngay trong hoá thân cuốicùng của nó là sử gia của sự tiếp nhận” [ 1, 327 ] Có thể mượn cách nói của De Man

để nói về J.J Rousseau để nói về Nguyễn Du: Nguyễn Du vĩ đại không phải ở những

gì ông muốn nói mà ở những gì ông đã khiến cho người ta phải nói; tuy nhiên vẫn cứcần đọc Nguyễn Du Và “ những gì ông đó khiến cho người ta phải nói” không ít, mộttrong những điều đó là đằng sau con người “nhất tế tài hoa, vi sứ vi khanh sinh bấtthiểm - Bách niên sự nghiệp tại gia tại quốc tử do vinh” được thể hiện trong “Bắchành tạp lục” cũng như trong toàn bộ cuộc đời ông là gì?

Để trả lời cho câu hỏi đó, các nhà nghiên cứu đã không tiếc công rà soát lại toàn

bộ những gì liên quan đến Nguyễn Du, nhưng họ chưa nhìn ra những điều cần tìm ẩnchứa trong những tên đất, tên người trong “Bắc hành tạp lục” Mà chính những cái tên

đó lại là nơi trung chuyển tiếng nói thẳm sâu của lòng Nguyễn Du, thành thật và đầycảm xúc nhất Hầu như các nhà nghiên cứu chưa chủ động nhận ra rằng những conngười mà Nguyễn Du nhắc đến, dù khác nhau về địa vị xã hội, mang chứa nhữngphẩm chất đặc thù, nhưng cuộc đời họ cùng bị đóng trong cái gông của kết cục bithảm, đau đớn; và cả những địa danh đựợc Nguyễn Du tái hiện lại trong hành trìnhthực lẫn hành trình tư tưởng cũng tỏ ra những “phẩm chất” đặc biệt Chúng có thể nằmtrên tuyến đường đi qua của sứ bộ hay xuất hiện nhờ những liên tưởng, suy tưởng theodòng suy tư, cảm xúc và vốn kiến văn của Nguyễn Du Những địa danh mà chủ yếu là

Trang 22

“các”, “mộ”, “cố lý”, “oifnh”, “đài’ quá nhỏ bé để có thể đựơc ghi danh trên bản đồ,nhưng chúng được gắn với những con người có số phận mang tầm vóc lịch sử nênnhững địa danh nhỏ bé ấy mang tầng sâu văn hoá với nhiều tầng vỉa ý nghĩa mới mẻ,sâu sắc Kết cấu của địa danh và nhân danh ở đây cũng có ý nghĩa nội tại nhất định.Các nhân danh được gọi tên trực tiếp không nhiều, như: Hoài Vương, Trương Nghi,Ban Định Viễn, Cao, Quỳ, Thượng Quan, Giả (Nghị),Thôi Hạo, Hạ Vũ, TrươngKhiên mà chủ yếu được hiện diện nhờ đính kèm với một địa điểm nào đó, tạo thànhmột thứ nhân - địa danh như: Mạnh Tử cố liễu, Sở Bá Vương mộ, Quản Trọng tamquy đài, Dương Phi cố lý, Đế Nghiêu miếu, Dự Nhượng kiều Nguyễn Du dùng nhândanh không chỉ để thực hiện chức năng phân biệt (người này với người khác), biệt giới(nam- nữ), thẩm mỹ hay xã hội (phân biệt sang - hèn) như chức phận vốn có của nó,

mà ông còn đặt chúng trong mối liên hệ với lịch sử, chính trị, văn hoá, tâm lý Ở đây

dễ thấy nhân danh và địa danh có những tương đồng và tương hỗ với nhau, trong địadanh có nhân danh, trong nhân danh phảng phất bóng dáng địa danh

Quan sát thật kỹ ta sẽ thấy những địa chỉ nhỏ nhưng cũng tạo nên những “cú vađập” mạnh trong thơ, gây những xúc động mạnh trong tâm hồn Nguyễn Du như:Dương Phi cố lý, Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ, Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch,Hoàng hạc lâu, Nhạc Vũ Mục mộ Vậy đằng sau những “cú va đập” và sự xúc động

ấy là gì?

Nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục” là cuộc hội ngộ của nhữnggương mặt, những cuộc đời, đi từ cá nhân cụ thể với từng số phận cụ thể đến những bikịch có tầm lịch sử, khái quát, bao trùm mang tính thời đại và đầy ý nghĩa triết học

Làm một phép thống kê sơ bộ, ta dễ dàng nhận thấy Nguyễn Du bị ám ảnhnhiều nhất bởi những gương mặt đã lùi vào quá khứ, cả quá khứ xa hàng ngàn năm lẫnquá khứ gần kề thời điểm ông hiện tồn Những nơi ông đi qua, những nhân vật ôngnhớ tới và làm ông xúc động mạnh nhất là những Tương Đàm gắn với Tam Lư Đạiphu, Lỗi Dương gắn với Đỗ Thiếu Lăng, cố lý của Dương Phi, Đại Than - nơi có miếuthờ Mã Phục Ba, giảng binh sứ của Hàn Tín, mộ của Bùi Tấn Công Những gì đượctái hiện ở thì hiện tại (présent) không nhiều, chỉ một vài điều “sở kiến hành”, “tức sự”hay “ngẫu hứng” Ngay cả khi trực tiếp tái hiện hiện tại, ông chánh sứ vẫn khôn nguôiviệc “hồi thủ”(quay đầu nhìn lại) để nhìn lại cả không gian và thời gian đang khôngngừng bị đẩy lùi mãi về phía quá vãng

Trang 23

Trong thơ Nguyễn Du các nhân vật phong phú, đa dạng nhưng ông tỏ ra bị cuốnhút bởi bi kịch của các nhà văn hoá lớn như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ Nói theo cáchcủa Hoàng Trọng Quyền, “Nguyễn Du bị cuốn theo của con người nhân văn, conngười mang trong nó ý thức nhân văn, giá trị nhân văn và lý tưởng nhân văn trên nềnđen sẫm, tối mịt , đầy bất trắc, hiểm hoạ khôn lường” Có lẽ, “Đối với Nguyễn Du thìcái vĩ đại là văn hoá, là thành tựu của các thời đại đó trải qua thể hiện ở văn hoá Vănhoá là cuộc đấu tranh bi tráng của con người trong trường kỳ lịch sử để khẳng định vàphát triển bản chất người ( ) Nguyễn Du chỉ coi trọng và đánh giá cao các nhân vậtvăn hoá”[ 13, ] Dễ nhận thấy dưới tầng sâu của vỏ ngôn ngữ lộ thiên mà Nguyễn Dudùng để nói về các nhân danh và địa danh là những tầng vỉa văn hoá được hình thành,tích hợp từ hàng ngàn năm, kết tinh và thăng hoa vượt khỏi tầm của chính bản thân nó.Chính từ góc nhìn lịch sử - văn hoá này Nguyễn Du mới đồng thời khám phá ra đằngsau danh nhân Khuất Nguyên cùng hàng loạt cái tên khác như Tỉ Can, Giả Nghị, Nhạc

Vũ Mục, Kinh Kha, Dự Nhượng là cả một niềm bi phẫn, bi kịch của người anh hùng

tự nhiệm và bi kịch chính trường đau đáu suốt ngàn năm Cũng từ góc nhìn đó, Nguyễn

Du mới thấu hiểu hơn ai hết cái lớn lẫn cái đau của Đỗ Phủ cũng như của các thi nhânmang mang bi kịch của khát vọng văn chương Và nếu không nhìn từ góc độ đó, hẳnNguyễn Du không thể nhận ra bi kịch “ hồng nhan bạc mệnh” đớn đau và có tính chấtphổ biến như là định mệnh với thân phận những người phụ nữ tài - sắc - tình vẹn toàn,

mà đại biểu là Dương Quý Phi Nhìn những nhân danh từng nổi tiếng bằng cả tài lẫn tậtnhư Tào Tháo, Minh Thành Tổ, Tô Tần, Mã Viện, từ góc độ này, Nguyễn Du cũngtìm ra được những quy châm sâu sắc cho thời đại mình và cho cả hậu thế

Như trên đó nói, nhân danh và địa danh (nhìn dưới góc độ văn hoá - lịch sử) cóthể coi là bằng chứng khả kiểm nhất và là đại lượng định lượng nhất trong hệ thống tácphẩm văn chương Nguyễn Du để có thể “đo” được những ẩn ức sâu kín, tế vi nhấttrong lòng Nguyễn Du Muốn cắt nghĩa tường minh những ẩn ức đó, đòi hỏi chúng taphải đọc được những ý nghiã đằng sau những mật mã về nhân danh và địa danh màNguyễn Du đã mã hoá lòng mình vào đó

Chúng ta sẽ lần lượt bóc tách từng lớp nang nghĩa và ý nghĩa của những đạilượng đó trong chương tiếp sau đây

Trang 24

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA NHÂN DANH VÀ ĐỊA DANH

TRONG “BẮC HÀNH TẠP LỤC”

Với tham vọng soi tỏ một cách cặn kẽ những khuất khúc, dù nhỏ nhất, trongtâm hồn Nguyễn Du, chúng tôi bám theo kết quả khảo sát, phân chia về sự xuất hiệncủa nhân danh và địa danh trong “Bắc hành tạp lục” như ở mục III.2 của chương I.Qua đó chúng ta tạo cho mình cơ hội tốt nhất để tiếp cận với từng cung bậc cảm xúccủa Nguyễn Du trong những tình huống, đối tượng cụ thể; và nhờ đó, các góc nhìn vềthế giới xúc cảm- cái thế giới mà tính chất tương đối, đa thanh của nó đó khiến loàingười tốn bao giấy mực, trí tuệ và cả tình cảm để cắt nghĩa nó - tìm được những điểmnhìn tối ưu nhất để có thể quay cận cảnh, vừa bao quát toàn cảnh hành trình tâm trạngkhông ít những khuất khúc, gập ghềnh của cái tôi trữ tình nhà thơ

Theo lý luận văn học hiện đại, quá trình sáng tác của nhà văn (bao gồm cả nhàvăn và nhà thơ)là quá trình mã hoá tư tưởng và nghệ thuật của chính họ Từ hiện thựctâm lý và khả năng sáng tạo, họ tráng lên đó một lớp màng để bao bọc, bảo quản “đứacon tinh thần” của mình Do đó, một cách vô tình hay hữu ý, họ đó “phù phép” cáccon chữ thành các mật mã, mà muốn đọc được chúng, người tiếp nhận phải có kỹ thuật

và phải tinh tế, bóc tách được “lớp màng”, hoá giải được câu thần chú của tác giả Khi

đó, người tiếp nhận có đủ quyền năng của chủ nhân cây đèn thần để sai khiến các ký tự

tự phơi bày ra hồn cốt của mình - cũng chính là thể phách, tinh anh của người sáng tạogửi gắm, dồn nén vào đó Nhưng không phải nhà nghiên cứu nào cũng tìm ra đúng câuthần chú mà Nguyễn Du đó dựng để “phù phép”, “mã hoá” tâm trạng thẳm sâu củaông Đôi khi, họ đó tìm ra một phần của câu thần chú nhưng chỉ dừng lại ở đó hoặckhông biết cách sử dụng, khám phá, nên tưởng chừng họ đó cắt nghĩa được những gìNguyễn Du muốn nói nhưng cánh cửa đi vào tâm hồn ông vẫn bị bưng bít, và nhữngngười tiếp nhận “bình dân” dễ cảm thấy hoang mang trước cái ánh sáng mập mờ của

sự hoá giải nửa vời, thiếu hệ thống đó

Khai mở tâm tư, ẩn ức của Nguyễn Du trong “Bắc hành tạp lục” nói riêng vàtrong thực tiễn con nguời Nguyễn Du nói chung không phải là điều dễ dàng và cũng cóthể khó tìm được sự đồng thuận từ nhiều phía, nhưng chúng tôi vẫn muốn góp thêmmột cách nhìn nhận , một cách lý giải mới về một khía cạnh của tập thơ đặc sắc này

Trang 25

cũng như một cách làm quen với con người đầy ẩn ức Nguyễn Du Trong chương này,chúng ta sẽ lần lượt đi vào từng đối tượng mà tâm hồn Nguyễn Du hướng đến trongchuyến “Bắc hành”này để từ đó tìm hiểu, giải thích các sự kiện tâm lý phức tạp của ông.

A Về những nhân danh và địa danh đựơc nhắc đến

I.Về nhân danh

1.Về các thi nhân

Các thi nhân không phải là đối tượng được nhắc đến nhiều nhất trong “Bắchành tạp lục”, nhưng lại là một trong số ít những gì lắng sâu nhất, gây xúc động mãnhliệt nhất trong thế giới tâm trạng đa tạp của Nguyễn Du Những cái tên của các nhà thơđược dẫn ra không nhiều Chỉ vài ba cái tên quen thuộc như Đỗ Phủ, Lý Bạch, ThôiHạo, Âu Dương Tu, Liễu Tử Hậu, nhưng những vang vọng của họ trong Nguyễn Duvẫn gây cho người đọc những cảm nhận thấm thía, mới lạ đầy bất ngờ Trong thơ sứtrình Việt Nam, chưa thấy ông chánh sứ nào viết nhiều về về thi nhân với niềm rungcảm tận độ như vậy

Cũng rung động trước “thi bá”Lý Bạch và Thôi Hạo, Ngô Thì Vị, một trong các

sứ thần nhà Nguyễn, viết:

“Lý bá vị ưng thâu bút lực

Thôi quân bất hợp tác hương sầu

Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị

Đấu đảm đề thi ký thử du”

(Đề Hoàng Hạc lâu- [ 22 ,132 ] )

( Lý Bạch chưa hẳn thua sức bút

Thôi Hạo chẳng nên gợi mối sầu quê

Sứ giả Việt Nam là Ngô Thì Vị

Lớn mật đề thơ ghi lại chuyến đi chơi này)

Còn Nguyễn Du tìm Lý Bạch ở cách khác :

“Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng

Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi

Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,

Nhãn trung thảo thụ thượng y y

Trang 26

Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,

Minh nguyệt thanh phong dã bất tri” (Hoàng Hạc lâu)

(Cuộc đời xưa nay như giấc mộng chàng Lư,

Còn lại lời thơ “Hạc bay, lầu trống” của Thôi Hạo

Ngoài lan can, khói sóng còn mênh mang

Trước mắt, cỏ cây vẫn như xưa

Mối tình chan chứa biết ngỏ cùng ai?

Trăng trong gió mát cũng không hiểu được)

Và nhắc đến Lý Bạch chỉ qua “Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích” (ĐầmĐào Hoa, dấu tích cũ của Lý Thanh Liên) mà thể hiện một sự chiêm nghiệm sâu sắc:

“Đạo thị Đường triều Lý cung phụng

Tuý ẩm thử đàm nhân đắc danh

( ) Đàm thuỷ chí kim thanh thả liên,

Nhất ngư nhất điểu giai thành tiên.

Trù trướng tư nhân bất phục kiến,

Viễn lai sử ngã tâm mang nhiên”

(Nghe nói Lý Cung phụng triều Đường

Uống rượu say ở đầm này nên đầm mới nổi tiếng.

( ) Nước trong đầm đến nay vẫn còn trong và gợn sóng.

Con cá con chim ở đây đều thành tiên cả,

Buồn nỗi không được gặp lại người ấy

Khiến ta từ phương xa đến lòng khôn xiết bùi ngùi).

Cùng một đối tượng, nhưng mỗi nhân vật được tái hiện khác nhau từ bề nổingôn từ đến bề sâu chất lượng của hình tượng.Thôi Hạo và Lý Bạch của Nguyễn Dukhác hẳn của Ngô Thì Vị Cái khác ấy đi ra chính từ sự khác lòng của hai con ngườigần như cùng thời và cùng cương vị xã hội Ngô Thì Vị nhìn Lý Bá, Thôi Quân bằngđôi mắt của phận vị xã hội “Việt Nam sứ giả”; Nguyễn Du hướng về họ bằng đôi mắtdõi tìm của tấm lòng đi tìm tấm lòng, bằng những xúc cảm chân thực của vị “khách từphương xa đến” Mục đích tìm Lý Bạch, Thôi Hạo của Ngô Thì Vị có lẽ chỉ dừng lại ởviệc “Đấu đảm đề thi ký thử du”, tức chủ yếu quan tâm đến những gì hiển hiện, LýBạch và Thôi Hạo mới chỉ được nhắc đến qua cái “danh” mà chưa khơi lên được cái

Trang 27

“thực” - phần quan trọng hơn cả để họ được ghi danh thiên cổ Còn Nguyễn Du, ông

đã gặp bậc “thi bá”, “thi quân” ở bề sâu của những trăn trở không thể ngỏ cùng ai màvẫn khẳng định được cái danh nức tiếng của họ Một cách khéo léo và bất ngờ,Nguyễn Du đó đưa nguời đọc đi từ cái nhìn ngoại cảm vào miền nội cảm lúc nàokhông hay Hơn nữa, Nguyễn Du trong khi đi tìm và tìm thấy các đối tượng của mình,ông không bao giờ bằng lòng với chỉ một hình tượng ấy, mà bao giờ họ cũng mangtrong mình một siêu nghiệm lịch sử nào đó Lý Bạch và Thôi Hạo của Ngô Thì Vịđược nhắc đến dường như chỉ để lấp đầy một ký ức đang có nhu cầu hoài cổ CònNguyễn Du nghĩ đến họ như một cơ hội để cắt nghĩa về cuộc đời, về lịch sử và vềchính tâm hồn mình Điều này thể hiện không chỉ ở hai bài thơ trên, mà còn khá xuyênsuốt, liền mạch trong mảng thơ viết về các thi nhân nói chung

Như trong các bài “Âu Dương Văn Trung Công mộ”, “Đề Vi Lư tập hậu”, Nguyễn

Du cũng tỏ ra là nhà thơ vừa có tài khái quát, vừa lột tả được những đặc trưng về tài năng

và số phận của họ Âu Dương Tu - một trong bát đại gia Đường - Tống, tính trung trựcnhưng phải sống trong cảnh xã hội khủng hoảng về chính trị, kinh tế nên ngay cả khiông đó xuống mồ tình trạng khủng hoảng trầm trrọng ấy vẫn chưa buông tha:

“Thu thảo nhất khâu tàng thử lạc

Danh gia bát đại thiện văn chương”

(Một nấm cỏ thu trở thành hang chuột cáo

(Là nơi yên nghỉ)của một trong tám nhà văn nổi tiếng)

và Nguyễn Du kết lại ở hai câu mà niềm day dứt về thế sự, con người vẫn khôn nguôi:

“Trường tùng chi thảo sinh hà xứ

Tiều mục ca ngâm quá tịch dương”

(Thông tốt, cỏ chi mọc ở đâu?

(Chỉ nghe) tiếng hát của tiều phu mục tử lúc chiều hôm).

Còn ở “Đề Vi Lư tập hậu”, không dễ gì có được niềm rung cảm dung dị mà tinh

tế như Nguyễn Du khi ông viết :

“Thi nhân bất đắc kiến

Kiến thi như kiến nhân”

(Nay không được thấy nhà thơ nữa

Thấy thơ như thấy người)

Trang 28

Khi viết như thế, Nguyễn Du đó tỏ ra sự hiểu biết sâu và thấm về cuộc đời lẫnvăn thơ của hai ông Vi, Lư Bên dưới các con chữ giản dị ấy là những tầng vỉa củanhững tiền giả định mà Nguyễn Du hộ lộ ở những câu sau:

“Đại sơn hưng bảo tạng

Có lẽ Nguyễn Du viết về Đỗ Phủ nhà thơ mà suốt đời Nguyễn Du khâm phục

-là nơi kết tinh, lưu giữ trọn vẹn nhất thái độ, tình cảm của ông đối với tầng lớp thinhân nói chung và đối với Đỗ Phủ nói riêng Hơn nữa, như lời Phan Ngọc nhận xét “không có Đỗ Phủ, Nguyễn Du không hiểu nổi lòng mình”

Nguyễn Du viết về số phận các thi nhân, Đỗ Phủ là một tiêu điểm trong số đó,như sự sẻ lòng, tâm sự đồng điệu và tìm lời cắt nghĩa cho cuộc đời dưới các tiêu chínhân văn - văn hoá- lịch sử

Tự ý thức đựơc khoảng cách về không gian địa lý và thời gian lịch sử, Nguyễn

Du càng ý thức sâu sắc hơn về sự tương đồng của mình với Đỗ Phủ Vì thế, ông tìm đếnvới Đỗ Phủ như tìm đến một người thầy, một người bạn mà suốt đời mình khâm phục

Cùng cảm hứng với không ít nhà thơ đó ngợi ca và ngưỡng một tài năng của ĐỗThiếu Lăng, Nguyễn Du vừa tôn vinh, khâm phục Đỗ Phủ:

“Thiên cổ văn chương thiên cổ sư

Bình sinh bội phục vị thường ly”

(Văn chương ông lưu truyền muôn đời,

ông cũng là bậc thầy muôn đời

Tôi bình sinh cảm phục ông, không lúc nào xa rời)

Và “Cộng tiễn thi danh sư bách thế” (Ai cũng tôn vinh ông làm thầy muôn đời).Nguyễn Du mê mẩn Đỗ Phủ đến mức “Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi”

Trang 29

Tôn vinh Đỗ Phủ thì không phải it nguời và nhất thời đó làm, nhưng cách làmcủa Nguyễn Du mới thật là “Sư bách thế” Xuất phát từ những xúc cảm, rung độngthành thực và cực độ, Nguyễn Du ca ngợi và tôn vinh Đỗ Phủ không phải bằng nhữngkhuôn vàng thước ngọc khuôn sáo, không dùng những kiểu ngôn ngữ “nhả ngọc phunchâu” Nguyễn Du tôn vinh Đỗ Phủ bằng chính sự cộng hưởng gặp gỡ của hai thế giớiquan và nhân sinh quan giữa ông và bậc thi thánh Bởi cả Nguyễn Du và Đỗ Phủ cùng

đã trải qua những cảnh ngộ tương đồng trong cuộc đời đầy trăn trở đau đớn nên mốitương quan vượt qua khoảng cách hàng nghìn năm là điều kiện chủ quan lẫn kháchquan để hai tâm hồn đồng điệu Mang trong mình sự lẻ loi (độc bi) như một địnhmệnh, hơn ai hết, Nguyễn Du tỏ ra thấu cảm cả những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồncủa bậc thi thánh Đỗ Phủ Nguyễn Du hiểu Đỗ Phủ cả ở mặt tài năng lẫn những nghịch

lý và bi kịch cuộc đời, bằng đôi mắt và góc nhìn của kẻ “đồng bệnh” nhưng “khác lòngngười ta”, chính vì thế mà “Mọi người chỉ khen ngợi, thèm khát cái danh của Đỗ Phủ,cái danh được làm thày thơ muôn đời Chỉ Nguyễn Du mới vừa hiểu cái lớn, vừa hiểunỗi đau của Đỗ Phủ” [11, 124 ]

Không đơn thuần chỉ dừng lại ở những giọt nước mắt khóc thương như trong

bề nổi của chữ nghĩa câu thơ:

“Dị đại tương liên không sái lệ”

[(Ông với tôi) ở hai thời đại khác nhau, thương nhau luống rơi nước mắt]

Cái sự “dị đại tương liên” nối liền ngàn năm xa cách vời vợi, nối liền kẻ hậu thếNguyễn Du với bậc tiền nhân, cất lên “tiếng nói đồng điệu, đồng tình của một ngườituy không cùng một thời đại “nhưng cùng cảnh loạn ly đau khổ” (Hoàng TrungThông) Có lẽ Nguyễn Du nhìn thấy cảnh ngộ của mình trong cảnh ngộ của nhà thơdanh tiếng Đỗ Phủ, họ cùng gặp nhau ở lòng trắc ẩn trước thế sự nhiễu nhương Tácgiả của “Chiêu hồn” và người viết “Tam lại, tam biệt, Thạch Hào lại, Tân An lại, Binh

xa hành…” dường như cùng đứng trên cái nền của nghịch lý để trông về cuộc đời

“Chính cuộc đời của Thiếu Lăng và Tố Như được các nhà thơ tự thể hiện cũng lànghịch lý Đó là nghịch lý giữa tâm huyết, khát vọng, tài năng với thực tế bi đát, đauthương”.[13, 34] Có phải từ nghịch lý đó nên Nguyễn Du mới chua chát đặt ra nhữngcâu hỏi mà tự chúng đó bao hàm lời giải đáp :

Trang 30

“Nhất cùng chí thử khởi công thi ?”

(Ông nghèo đến thế phải chăng là do thơ?)

Đồng thời với việc khẳng định cái tài “thiên cổ sư”của Đỗ Phủ là việc “ý thức

rõ nét về tài năng văn chương của mình, Nguyễn Du cũng cảm nhận một cách thấmthía cái thân phận khốn cùng mà nguời có tài văn chương phải cáng đáng”[15, 96] Khi người ta là kẻ có tài và có ý thức về cỏi tài đó, có khát khao phát huy cái tài

đó mà bị hiện thực phũ phàng chặt cánh ước mơ, đó là lúc con người lâm vào bi kịch,

bi kịch của sự tuyệt vọng Và khi người ta dám đánh đổi bằng tất cả tinh thần, tư tưởng

và cả hỡnh hài để “bách niên cùng tử văn chương lý” thì bi kịch ấy càng khủng khiếp

và sự tuyệt vọng càng lớn lao Điều này ta gặp trong cả Nguyễn Du và Đỗ Phủ ĐỗPhủ từng tâm sự rằng:

“Văn chương thiên cổ sự

(Văn chương là sự nghiệp muôn đời Được hay mất chỉ tấc lòng biết)

Và Nguyễn Du cũng cắn răng mà viết:

“Bách niên cùng tử văn chương lý” (Mạn hứng)

Như vậy, cả Nguyễn Du và Đỗ Phủ cùng coi “văn chương” là một phần cực kỳquan trọng trong lẽ sống của mình Khát khao tận độ và cũng tuyệt vọng đến cùng cực

“Tàn hồn vô lệ khốc văn chương” (Hồn tàn không nước mắt khóc văn chương - Điệp

tử thư trung – Thanh Hiên thi tập), Nguyễn Du càng thấu hiểu Đỗ Phủ và các thi nhân

“đồng bệnh” cũng như càng thấm thía cảnh ngộ của mình Thế mới biết trong câu thơkhóc Đỗ Phủ, Nguyễn Du không chỉ khóc cho cuộc đời, con người xã hội mà còn khóccho cả bi kịch văn chương của Đỗ Thiếu Lăng Ông khóc Đỗ Phủ mà như khóc chochính mình Chưa từng thấy ai hỏi han, dặn dò bậc thi thánh của muôn đời theo kiểu:

“Trạo đầu cựu chứng y thiên vị?

Địa hạ vô linh quỷ bối xi”

(Cái bệnh lắc đầu cũ, bây giờ đó khỏi chưa?

Dưới suối vàng đừng để bọn quỷ cười).

Nguyễn Du đó kéo ngàn năm trước về hiện tại, đưa người đó khuất cách mìnhtrên một thiên niên kỷ sống lại với không gian và hoàn cảnh đương thời, rồi “tán gẫu”

Trang 31

một cách thân mật, gần gũi như thể với một người bạn chí cốt Vì thế Nguyễn Du hoàntoàn có thể tự tin mà xem mình là tri âm tri kỷ duy nhất của Đỗ Phủ sau hơn ngàn nămtrên cõi đời này:

“Thiên niên nhất khốc Đỗ Lăng nhân”

Nhân việc bày tỏ lòng ngưỡng vọng, tôn vinh các văn nhân nức tiếng nói chung

và Đỗ Phủ nói riêng, Nguyễn Du “đã làm sống dậy bản chất bi kịch của số phận nhàđại thi hào bằng cách nhìn, cách cảm của riêng ông”[ 13, 126], qua đó những trăn trở

về văn chương của Nguyễn Du cũng được đề khắc vào lịch sử văn chương Cũng quatriết luận nhân văn về bi kịch của Đỗ Thiếu Lăng cùng một vài nhà thơ khác, chúng ta

có thể hiểu phần nào quan niệm của Nguyễn Du về văn chương Quan niệm này đượcđau xót rút ra từ câu hỏi đau đáu: “Nhất cùng chí thử khởi công thi” (Lỗi Dương ĐỗThiếu Lăng mộ) và từ nghịch lý “trực giao hiến lệnh hành thiên hạ - Hà hữu Ly tao kếQuốc phong” (Tương Đàm điếu Tam Lưu đại phu) Sống chết với văn chương, hơn aihết Nguyễn Du thấu được cái nghịch lý và nỗi đau của nghiệp văn chương, mà hạtnhân của nó là bi kịch của khát vọng nhân văn Ông khóc cho Đỗ Phủ mà như khóccho chính mình, từ số phận cá biệt của con người “độc bi” này, Nguyễn Du dựng lên

bi kịch của cả nhân loại và bi kịch không chỉ của thời đại nào, và quả là ông đó làmsống dậy bản chất bi kịch bằng cách nhìn, cách cảm của riêng mình Ông nhìn thấykhát vọng lập danh của Đỗ Phủ và của bản thân mình không phải là sự ham hố côngdanh tầm thường, mà đó là khát vọng được cống hiến, được thỏa chí tang bồng tronglãnh địa văn chương, được khẳng định vị trí của mình trong “trời đất” Trong cảmquan của Nguyễn Du, văn chương là lãnh địa mà con người có thể tự do tung hoành,thi thố tài năng với đời Nhưng khó có thể vượt thoát khỏi cái chết cùng quẫn giữa vănchương Bi kịch của Nguyễn Du là đã sớm nhận ra bi kịch đau đớn của văn chương –đời văn Đó là bi kịch của cái Đẹp, cái Tài bị vùi dập, đày đọa; đó là lý tưởng vì người,muốn cứu người mà không được Phát biểu lên bi kịch này, Nguyễn Du đó đi đến tậncùng nỗi đau của sự tuyệt vọng đến thắt lòng Lúc này, thơ không còn là câu chữ, mà

là máu và nước mắt, là lẽ sống và lý tưởng… “Văn chương vô mệnh” được nhìn từnhiều chiều kích với tâm điểm là những nghịch lý trong số phận con người Jauss nói:

“Người ta chỉ cú thể hiểu một tác phẩm nếu có thể phát hiện ra những câu hỏi mà nó

đó đáp lại trong lịch sử” [1, 315] Có lẽ Nguyễn Du đó phát hiện ra “những câu hỏi”

Trang 32

mà tác phẩm của Đỗ Phủ “đã đáp lại trong lịch sử” để rồi làm nên những tác phẩm cóthể giải đáp cho lịch sử “những câu hỏi” “thiên nan vấn”, trong đó câu hỏi về thânphận của văn chương, thi nhân – biểu tượng của những khát vọng chân chính, đại diệncho cái Đẹp, cái Tài – đó đau đáu suốt bao năm lịch sử và đó làm đau biết bao những

“người thơ phong vận như thơ ấy”

Quan niệm văn chương ấy của Nguyễn Du có lẽ được rút ra từ sự đánh đổi bằng

cả mạng sống của bao nhiêu văn nhân đó đi qua cuộc đời đầy trắc trở này, và đó cũngchính là phần sống thực của “con người thơ” Nguyễn Du – con người của tư tưởngnhân văn – “hoàn toàn thuộc về tha nhân bất hạnh và đau khổ” ( Hoàng Trọng Quyền )

đó nếm trải

Có độ lùi khá xa về khoảng cách thời đại so với các thi nhân tiền bối, kết hợpvới những trải nghiệm không ít những trăn trở xót đắng trong đời “văn” của mình,Nguyễn Du hiểu về bi kịch văn hóa – nhân văn của các thi nhân, cũng như của chínhmình, một cách tương đối trọn vẹn Những cái tên thi nhân đó gây xúc động cho tâmhồn Nguyễn Du đều không thoát khỏi cái vòng bủa vây của lụy văn chương như đó làthuộc về bản chất, như là “thiên mệnh” Cái “thiên mệnh” làm đau đớn biết bao đờivăn, vậy mà họ vẫn không từ bỏ, không muốn giải thoát khỏi chính nguyên nhân dẫnmình đến với những “nỗi đoạn trường” Ở họ vừa như có cái gì đó như tinh thần của

kẻ “anh hùng tự nhiệm”, vừa là định mệnh trời đày “Xét đến cùng, ông (Nguyễn Du –LĐ) đó coi văn chương là một lối mở thông giữa cái hữu hạn của kiếp người cụ thể với

sự tiếp biến vô cùng của đời sống [15 ]

Như vậy, bằng các đại lượng có thể đo đếm được là tên các nhà thơ mà Nguyễn

Du nhắc đến, chúng ta có thể có được một thước đo, dù ít nhiều còn là định tính, để đomức độ mẫn cảm của tâm hồn ông với thế thái nhân tình, để cắt nghĩa phần nào những

“suy tư bạc tóc” mà ông hằng giấu kín, dặc biệt là để ước lượng nồng độ về quan niệmvăn chương mà bậc đại thi hào này không mấy khi phát biểu một cách trực tiếp Qua

đó, hậu thế có thể hy vọng xâm nhập vào những ngõ tối của tâm hồn mà Nguyễn Du

đó cố tình giấu kín, mã hóa dưới lớp vỏ ngôn ngữ

2 Về các danh nhân chính trị, các kiệt nhân

Cái tên của những trang anh hùng hào kiệt, những bậc hiền tài, kiệt nhân xuấtthế cứ xuất hiện trở đi trở lại trong “Bắc hành tạp lục” với tần số cao nhất so với các

Trang 33

tên tuổi khác Không phải bỗng dưng mà những cái tên – những số phận như KhuấtNguyên, Giảng Nghị, Trương Nghi, Dự Nhượng, Kinh Kha, Hàn Tín, Á Phụ, Liễu HạHuệ, Tỉ Can … lại chiếm vị trí trang trọng và gây nên những suy tư bạo liệt trong ôngchánh sứ Nguyễn Du đến thế Chỉ khi mang trong lòng một ẩn ức nào đó thì con ngườimới phải trăn trở, day dứt và chú tâm vào vấn đề đó đến thế

Nguyễn Du làm hồi sinh các nhân vật đã lùi xa vào cõi vô thủy vô chung củalịch sử, nhuận sắc lại những quan niệm, đánh giá của người đời vốn đó khá yên vị về

họ và khám phá ra ở họ những điều mà bấy lâu nay bị nhân loại bỏ quên Một cáchhữu ý hay vô tình, trong khi nhìn về những nhìn vật này, Nguyễn Du đồng thời tự iifmthấy một phần của ìinh; qua đó người đọc cũng nhận ra những khám phá mới củaNguyễn Du về lịch sử cùng theo đó là những góc khuất kín đáo mà đầy giông bãotrong “con người ông quan” lẫn “con người” Nguyễn Du nói chung Trong mảng thơviết về những kiệt nhân này có thể nhận thấy điều rõ nhất là “Nguyễn Du đó mượnnhững sự tích, những nhân vật của Trung Quốc để phát biểu về cuộc sống theo nhưNguyễn Du nhìn thấy và cảm thấy, nghĩa là trước hết về cuộc sống trên đất nước ViệtNam nhưng lại không tiện nói ra bằng sự tích và nhân vật Việt Nam Vả chăng trongtình hình hồi bấy giờ có lẽ Nguyễn Du cũng không thấy có gì khác nhau lắm giữa hainước” [11, 39]

Vậy đằng sau những nhân chứng, dẫn chứng khả kiểm (là tên tuổi của các nhânvật có thật trong lịch sử Trung Quốc) – là những đại lượng tâm trạng gì của con người

“Nhất thế đại tài hoa” Nguyễn Du ?

Theo dõi diễn trình sáng tác văn chương chữ Hán và tư tưởng từ những bài mởđầu của “Thanh Hiên thi tập” đến “Nam trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục” chúng

ta sẽ nhận ra những chuyển biến từ sự “bế môn” để giữ mình của Nguyễn Du trongthời kỳ đầu sáng tác đến sự tương đối mở lòng trong các giai đoạn tiếp sau đó

Thái độ Nguyễn Du phải gồng mình lên để “Bất dung trần cấu tạp thanh hư”(không cho bụi bặm lấn vào hồn trong trẻo – Ngọa bệnh – Thanh Hiên thi tập) và đểtrốn tránh ông hướng vào nội cảm “Tứ thời tâm kính tự như như” (Bốn mùa tấm lòngnhư gương vẫn tự nhiên thư thái như không – Tạp thi - Thanh Hiên thi tập) để nói lênrất rõ tư tưởng và cách hành xử của một nhà nho đa cảm đa sầu Càng về sau nhữngsuy tư nội cảm về bản thân chuyển dần sang thế giới khách quan mang tính hiện thực

Trang 34

bản chất trong mối giao hòa sâu sắc với chủ thể Thế nên, mới có những câu thơ nhưvọt ra từ trái tim đang bóp chặt của Nguyễn Du về Tỉ Can:

“Thất khiếu hữu tâm an tỵ phẫu Nhất khâu di thực tẫn thành nhân Mục trung sở xúc năng vô lệ Địa hạ đồng du khả hữu nhân” (Tỷ Can mộ) (Trái tim bảy lỗ đâu có sợ mổ

Một gò cây cỏ đều được thành nhân cả Không thể không rơi lệ vì những điều trông thấy Dưới đất chắc ông có bạn cùng vui chơi).

Đứng trước mộ Tỉ Can – người đaz trở thành thiên thu từ thời Ân Trụ - mà nỗi đauđớn của trái tim “thất khiếu” vẫn còn nguyên vẹn mà truyền sang Nguyễn Du Một cảmgiác nghèn nghẹn, lìm lịm lặng lẽ dìm tim ông xuống, như đó cảm nhận trọn vẹn nỗi đauđớn của vết mổ không bao giờ lành ấy Có lẽ, trong tâm thức của Nguyễn Du, đây khôngphải là nỗi đau của riêng ai, và mọi sự bình luận về điều đó đều thừa thãi Thế nên ôngmới không nhồi nhét những lời tụng ca đã quá quen thuộc vào trái tim không thể lành ấy.Chỉ có tâm sự đã tìm được đến nơi tỏ bày, và dưới bề sâu của nấm đất ấy có một dòngchảy âm âm trong huyết quản của người đang sống Và khi hiểu Tỉ Can đến kiệt cùng,Nguyễn Du mới chỉ ra cái “hồ đồ” của những thang bậc giá trị chết cứng:

“Trung lương hồ loạn cưỡng tương phân”

(Gượng gạo chia ra trung thần và lương thần (thì) thật là hồ đồ)

Với Tỉ Can, mọi nấc thang để phân định phẩm chất trung – lương đều không

đủ Bằng cảm quan tinh tế và sắc sảo của người duyệt thế phương tri, Nguyễn Du nhìn

ra ở Tỉ Can những phẩm chất cao hơn cả những thang bậc trong bảng giá trị xã hội ấy.Cái nhìn theo cả bề rộng lẫn chiều sâu ấy của Nguyễn Du không giống như cách tiếpcận Tỉ Can của sứ thần Đặng Đình Tướng (thời Lê – Tây Sơn) trong “Quá Ân thái sư

Tỉ Can mộ” Cùng một Tỉ Can mà Tỉ Can của Đặng Đình Tướng khác Tỉ Can củaNguyễn Du nhiều lắm:

“Xâm xâm tàng hiến bán tùng âm Bắc đẩu quang hồi thất khiếu tâm

Tự thị nhân nhân độc thiên cổ Lẫm nhiên sinh khí đáo vu câm (kim)”

Trang 35

(Trong bóng tùng râm mat, giữa khoảng núi cao ngất tầng mây Ánh sáng sao Bắc Đẩu soi vào trái tim có bảy khiếu

Danh tiếng người nhân nêu cao nghìn thuở Sinh khí còn lẫm liệt mói đến ngày nay).

Tỉ Can của Nguyễn Du quặn thắt trong nỗi đớn đau, cả về thể xác lẫn tinh thần;còn Tỉ Can của Đặng Đình Tướng lại được bao bọc trong vầng hào quang của cái danhtiếng, của hùng khí lẫm liệt Nguyễn Du chỉ tìm thấy và nhận ra chân giá trị của TỉCan khi ông đặt nhân vật lên đầu nhọn của mũi dao ác nghiệt, để rồi cảm thông, xót xađến tận cùng Còn vị sứ thần Đặng Đình Tướng không thoát ra khỏi ma lực của cái áodanh tiếng mà chưa chắc Tỉ Can đã vui vẻ khoác lên mình Các hình ảnh, câu văn bóngbảy, hào nhoáng mà Đặng Đình Tướng làm vòng hoa viếng Tỉ Can chưa chắc đó làmngười có trái tim bảy lỗ này xúc động bằng những lời ai điếu mộc mạc từ tấm lòngNguyễn Du Và tâm trạng người đọc cứ bị trôi tuột đi theo những sáo ngữ “Bắc đẩuquang hồi”, “Lẫm nhiên sinh khí”, chỉ còn đọng lại – sâu lắng mà đậm đà – nỗi đauđớn kỳ lạ của người biết đau nỗi đau chung – Nguyễn Du Phải chăng nỗi đau là chấtkết dính tâm hồn người ?

Nguyễn Du viết hai bài về Giả Nghị, một bài để “biện lại” Giả Nghị trong cáchhiểu về Khuất Nguyên, một bài viết về Giả Nghị với tư cách là Thái phó đất TrườngSa” Tâm sự với Giả Nghị, Nguyễn Du trông người mà nghĩ đến ta, và ông gửi gắmvào đó biết bao tâm sự u uất, bất mãn, vừa thương người, vừa thương cho chính thânphận mình Cái tâm sự u uất, thầm kín mà Nguyễn Du như ấm ức không biết bày tỏcùng ai là cái gì đó thắm thiết, gắn liền với thân phận của ông:

“Giáng Quán võ nhân hà sở tri Hiếu văn đạm bạc đạn canh vi Lập đàn bất triển bình sinh học

Sự chức hà phương chí tử bi Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ Nhật tà di vật hữu lai thì Tương Đàm chỉ xích tương lân cận Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi”

( Trường Sa Giả Thái phó)

Trang 36

(Giáng Hầu và Quán Anh đều là võ tướng có hiểu biết gì đâu

Mà Hiếu Văn đế là ông vua đạm bạc, sợ thay đổi chính sự Đứng bàn việc chốc lát, ông không thể nói hết cái học của mình Giữ chức vụ, không ngại vì buồn bực mà chết

Trời sinh người có tài khác thường mà không có chỗ dùng Buổi chiều tà có loài chim lạ đến báo điềm xấu

Đây và Tương Đàm gần nhau trong gang tấc Cách hàng nghàn năm gặp gỡ, tâm sự vẫn giống nhau).

Từ bi kịch chính trường của Giả Nghị, Nguyễn Du tỏ ra là người hiểu rõ và làđối tượng “tương phùng bất lưỡng vi” với cổ nhân Con người phận vị xã hội của GiảNghị được nhìn xuyên suốt từ những mối quan hệ bên ngoài đến cái “bình sinh học”trong bản thân ông và rồi đi đến điểm kết của một quy luật đau đớn “Thiên giáng kỳtài vô dụng xứ” Bi kịch của kẻ bị trời “giáng”cho một cái tài và ý thức được cái tài ấythật khủng khiếp Nguyễn Du đã quá xa với niềm lạc quan và tự tin của Nguyễn Trãi:

“Tài đống lương cao ắt cả dùng” Có lẽ từ đây, hùng tâm tráng chí mà ông ấp ủ bấy lâu

bị dội gáo nước lạnh một cách không thương tiếc làm tắt ngóm

“Anh hùng tâm sự hoang trì sính”

(Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh không còn nghĩ đến chuyện rong ruổi).

Đặt Giả Nghị trong không gian ba chiều của các yếu tố khách quan, chủ quan và

“cái siêu thức”, chúng ta có được một Giả Nghị là một thực thể đa chiều với ba kíchthước cơ bản tạo thành chiều sâu, chiều rộng, chiều cao của con người thực Trong đó

“cái siêu thức” – một chiều kích quan trọng của con người - được hiện lên dưới hìnhthức của một câu nói chứa đầy oán hận, vừa là một sự mai mỉa chua chát về sự trớ trêucủa thế lực mà Nguyễn Du gán cho là “Trời” Thế lực này như mang trong mình mộtthứ quyền uy tôn giáo khó cưỡng, vừa như là hiện thân, là “chân tay” của các thế lựcđen tối nào đó trong xã hội; và xu hướng của nó luôn là “tẩy chay” năng lực của conngười “kỳ tài”, luôn muốn đẩy họ vào cảnh “vô dụng xứ” Cảm quan này ám ảnhNguyễn Du khá sâu sắc và chi phối cách nhìn, cách hành xử của ông về nhiều vấn đề,nhiều phương diện của đời sống con người – xã hội

Nguyễn Du có tin vào sức mạnh của thế lực siêu nhiên đó? Không hẳn! Đằng saunhận định ai oán đầy chất khẳng định kia có lẽ là một cái lắc đầu ngao ngán, không tin

Trang 37

vào chính nhận định của mình Dường như muốn phủ định, muốn chứng minh thế lựcsiêu nhiên kia chỉ là nơi trú ẩn của những thế lực phản nhân văn, nhưng Nguyễn Dubất lực, bất lực vì không đủ dẫn chứng và đơn độc, vì thế nên ông “bằng mặt” màkhông “bằng lòng” với hiện thực chát đắng Mất điểm tựa ở hiện tại, ông chánh sứ đitìm niềm đồng vọng từ những người đã trở thành “muôn năm cũ”, để rồi vừa mừngvừa tủi để nhận ra cái sự “lưỡng bất vi” quý báu này.

Ông chánh sứ Bùi Quỹ (thời Nguyễn) cũng “Quá Trường Sa hoài Giả Nghị”như Nguyễn Du, nhưng tâm sự của vị chánh sứ này không gặp gỡ nhiều với cảm hứngcủa Nguyễn Du:

“Danh lợi thao thao tiếu Hán Tần Dao danh hàn thuộc thiếu niên nhân Bất tương anh khí đàm quân tể Không phụ sơ tâm thuyết quỷ thần Văn tự hưu ngôn năng phụ tục Anh hùng đa thị chuyết mưu thân Tằng quan di sớ kham lưu thế

Hà huống Trường Sa cánh vấn tân” [ 22,114]]

(Nhan nhản vì danh lợi, nực cười cho bề tôi nhà Hán Danh vọng cao cả lại thuộc về con người thiếu niên Chẳng đem hào khí của mình để bàn luận với bậc quân tể Luống phụ tấm lòng xưa khi nói chuyện quỷ thần

Đừng nói văn chương có thể làm cho phong tục thuần hậu Phần lớn anh hùng là những kẻ vụng mưu toan cho mình Từng xem di sớ cũng đủ chảy nước mắt

Huống chi lại còn “hỏi bến” ở Trường Sa).

Cũng cười nhạo vào cái vòng xu danh trục lợi mà bao người luẩn quẩn trong đó,cũng nhìn thấy cái tài lẫn cái danh của con người có được cái “anh khí”, nhưng mụcđích của mỗi ông chánh sứ - nhà thơ tìm về Giả Nghị mỗi khác

Nguyễn Du tìm đến Giả Nghị như tìm đến nơi tâm sự mình tìm, tìm về mộtngười đồng cảnh ngộ để cảm thông, giãi bày, chia sẻ, để hiểu người và để tự hiểumình Bùi Quỹ lại nhìn Giả Nghị vừa bằng lòng cảm phục, ngưỡng vọng về danh tiếng

Trang 38

của kẻ “anh hùng”, “anh khí”, vừa bằng những giọt nước mắt cảm thông và có phầnxót thương đối với “kẻ vụng mưu toan cho mình” chứ không phải với “kỳ tài vô dụngxứ” Do đó ở Bùi Quỹ, dù có chiều sâu tâm trạng nhưng chưa có được nỗi uất nghẹnrát lòng của bi kịch “vô dụng xứ” mà Nguyễn Du đó nâng lên thành một triết luận cayđắng Điểm nhìn của Bùi Quỹ như mới chỉ là sự quan sát thể nghiệm từ bên ngoài đốivới một đối tượng, một nhân vật để tái tạo và tái hiện Còn Nguyễn Du nhìn Giả Nghịbằng đôi mắt “toàn tri” của người trong cuộc, của sự phóng chiếu chính bản thân mìnhlên “tiêu bản”, và dễ nhận thấy tinh thần của Nguyễn Du khi tiếp cận Giả Nghị là một

sự chủ động “nhập cuộc” tương đối toàn diện Nguyễn Du nhập cuộc bằng chínhnhững rung cảm rất thật và rất sâu của lòng mình, nên những gì ông nói ra đều nhưnhững tiếng lòng giản dị mà thấm thía của người đã đạt đến độ “thâm nho”

Trên đường Bắc sứ, Phạm Chi Hương “tranh thủ” viếng Nhạc Vũ Mục vànhân đó viết lên bài “Đề Nhạc Vũ Mục vương miếu” đầy tâm trạng:

“Nhạc Vương từ hạ bách sâm sâm Độc bãi tàn bi, tứ bất câm!

Niên Hãn hữu mưu quy tặc Cối Thiệu Hưng vô chí diễn thù Câm (Kim) Sơn hà cộng sái ban sư lệ!

Cơ Vĩ không huyền báo quốc tâm!

Thống ẩm Hoàng Long ta dĩ hĩ!

Anh hùng di hận đáo như câm (kim)!”

(Dưới đền Nhạc Vương thông trắc xum xuê Đọc xong tấm bia mòn, dạ khôn cầm!

Niên Hãn có âm mưu thả giặc Cối về Thiệu Hưng không có chí tiêu diệt kẻ thù người Kim Núi sông cùng nhỏ nước mắt về việc rút quân

Tài Cơ Vĩ luống treo lòng báo quốc Lời hẹn uống say mềm ở Hoàng Long, ôi thôi đã hỏng Anh hùng để lại mối hận đến ngày nay)

Những tiền giả định (Présupossition) của hàng loạt tích, điển đó giúp Phạm ChiHương tái hiện một cách rõ nét những biến cố trong cuộc đời chính Nhạc Vũ Mục

Trang 39

Nhạc Vũ Mục như nhập vào tác giả để kêu lên những lời lẽ thê thiết của giấc mộng bấtthành, nói lên mối “di hận” khôn nguôi Thế giới tâm trạng của đối tượng được phảnánh có nhiều điểm hòa quyện, mờ nhòa với ranh giới tâm trạng của người phản ánh,đôi khi khó phân biệt đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của tác giả Đọng lại là mối “dihận đáo như câm (kim)” đắng đót trong lòng người Cảm hứng xót thương bao trùmlên toàn bộ cái nhìn của vị sứ thần nước Việt trước vị danh tướng Nhạc Vũ Mục VềNhạc Vũ Mục, trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du có hai bài thơ: “Nhạc Vũ Mụcmộ” và “Yển thành, Nhạc Vũ Mục ban sư xứ” Không đi từ cảm hứng trên, Nguyễn

Du bị hút về phía Nhạc Vũ Mục do xúc cảm mãnh liệt của lòng ngưỡng vọng lẫn nuốitiếc về sự hữu hạn của cuộc đời vị anh hùng tài năng thời Nam Tống Nguyễn Du vừanhìn thấy tài năng xuất chúng, vừa tiếc xót cho cơ nghiệp “mười năm trời” cùng nhữnghoài bão của Nhạc Vũ Mục:

“Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng, Trượng bát thần thương lục thạch cung Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục.

Quân môn do tích thập niên công.

Giang hồ xứ xứ không Nam quốc Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong Thường vọng Lâm An cựu lăng miếu

(Ông là vị anh hùng xuất hiện trong trăm trận đánh ở Trung Nguyên

Với chiếc thương thần dài trượng tám và chiếc cung giương nặng sáu thạch

Ở tướng phủ người ta đó khép tội ông bằng cái “án ba chữ” Trong quân còn tiếc công ông mười năm trời

Sông hồ còn đó, nhưng Nam quốc rỗng không (anh hùng không còn nữa)

Cây tùng cây bách vẫn ngạo nghễ trước gió bấc lao xao Buồn trông về lăng miếu cũ ở Lâm An

(Thấy) núi Thê Hà khói phủ mịt mùng chiều hôm)

Trang 40

Câu chuyện về “Tam tự ngục” trở thành điển cố khá nổi tiếng Từ một sự kiện,một điển cố, tác giả đứng ở nhiều góc độ khác nhau để khai thác chuyện xưa tích cũ ,khơi gợi cảm xúc người đọc thông qua hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và khả nănggợi mở Từ điểm nhìn bên ngoài Nguyễn Du thấy được những kết quả tai hại của “cái

án ba chữ” đầy những vô lý, khiến cho người anh hùng “Trung Nguyên bách chiến”phải giã từ cõi đời trong nỗi ấm ức khôn tả, Nhạc Vũ Mục mất kéo theo sự vắng bóngcủa những tấm gương anh hùng, làm cho người đời phải dõi theo một cách nuối tiếc.Khi chuyển cái nhìn sang thế giới nội cảm Nguyễn Du vừa nhận ra khí phách “ngạobắc phong”, vừa thấy được nỗi uất ức không thể diễn tả bằng lời trong lòng người dù

đã thành sương khói bao năm

Vẫn chưa nguôi về nỗi niềm của người xưa, Nguyễn Du còn trăn trở cùng Nhạc

Vũ Mục khi gặp lại nơi Nhạc Vũ Mục rút quân về Yển Thành Nỗi uất ức dâng lên đếnnghẹn lòng trong tâm hồn cả kẻ ở đây bây giờ lẫn người quá cố:

“Đại tướng không hoài bang quốc sỉ Quân vương dĩ tuyệt phụ huynh thân Kim bài thập nhị hữu di hận”

(Yển Thành, Nhạc Vũ Mục ban sư xứ) (Vị đại tướng luống ô nhục nước nhà,

Đấng quân vương đó dứt hẳn mối tình cha anh Mười hai đạo kim bài còn để lại mối hận)

Nỗi uất ức ở trên đó tăng cấp thành nỗi uất hận, uất hận cả với đấng quânvương lẫn với sự gian trá, vô đạo của kẻ mang sức mạnh của mười hai đạo kim bàithiêng liêng ra làm mưu lợi riêng Phẩm chất cao quý của Nhạc Vũ Mục bị cô lập từhai phía Và cả cuộc đời hào hùng, bi hùng của ông còn đọng lại trong câu hỏi đauđáu, chất chứa nỗi bi phẫn:

“Huyết chiến thập niên thành để sự Phong Ba đình hạ hạ Kim nhân”

(Huyết chiến mười năm thành được việc gì?

(Chỉ được việc) chết ở dưới đình Phong Ba để tạ tội người Kim)

Câu hỏi bi phẫn và ai oán này đó đưa những suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộcđời, sự nghiệp của người anh hùng Nhạc Vũ Mục lên tầm khái quát, nhưng đồng thời

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w