1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

LIỆU PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH CÓ CẢI THIỆN KẾT QUẢ CHĂM SÓC Y TẾ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI TRUNG QUỐC

66 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI TRUNG QUỐC Tóm tắt: Lý thuyết thông thường: Sự phân quyền tài chính có thể dẫn đến những lợi ích tiềm năng khác nhau, bao gồm việc tăng đáp ứng của chính quyề

Trang 1

LIỆU PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH CÓ CẢI THIỆN KẾT QUẢ CHĂM SÓC Y TẾ?

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI TRUNG

Trang 2

LIỆU PHÂN QUYỀN TÀI CHÍNH CÓ CẢI THIỆN KẾT

QUẢ CHĂM SÓC Y TẾ?

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI TRUNG QUỐC

Tóm tắt:

Lý thuyết thông thường:

Sự phân quyền tài chính có thể dẫn đến những lợi ích tiềm năng khác nhau, bao gồm việc tăng đáp ứng của chính quyền địa phương trong việc cung cấp hàng hóa công

Trong nghiên cứu này cho thấy:

Sự phân quyền tài chính đã tạo ra một tác động bất lợi toàn diện đến Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong (IMR) ở Trung Quốc

Trang 3

Nội dung:

Giới thiệu

Hệ thống y tế tại Trung Quốc

Tổng quan về các nghiên cứu trước đây

Phương phápKết quả

Trang 4

I Giới Thiệu

Trang 5

- Tại sao phân quyền tài chính lại cần thiết?

Nhằm đạt được hiệu quả cao trong quản lý tài chính ngân sách địa phương cũng như quốc gia

- Lợi ích của phân quyền tài chính:

• Tăng phúc lợi xã hội

• Cạnh tranh thành tích

• Nâng cao trách nhiệm tài chính

I Giới thiệu

Trang 6

1 Một số khái niệm (tt):

Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong (IMR):

Là số ca trẻ sơ sinh tử vong trên 1.000 trẻ sinh sống dưới một năm tuổi trong cùng một năm

(Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP))

Chỉ số này đã được sử dụng rộng rãi để so sánh giữa các quốc gia và phân tích xu hướng các kết quả chăm sóc sức khỏe

I Giới thiệu

Trang 7

2 Một số nghiên cứu hiện tại:

 Một số nghiên cứu đã cố gắng để kết hợp chăm sóc y tế với phân quyền tài chính

(Asfaw, Frohberg, James, và Jutting, 2007; Cantarero & Pascual, 2008; Duret, 1999; Uchimura

& Jutting, 2007).

 Trong lĩnh vực y tế, phân quyền tài chính đặc biệt

đề cập đến việc phân cấp nguồn lực tài chính

và trách nhiệm chi tiêu cho y tế từ trung ương đến chính quyền địa phương

(Mills, Vaughan, Smith & Tabibzadeh, 1990).

 Phân quyền tài chính cao hơn dẫn đến một IMR thấp hơn

(Asfaw, Frohberg, James và Jutting, 2007; Cantarero & Pascual, 2008; Duret năm 1999; Uchimura & Jutting, 2007). 

I Giới thiệu

Trang 8

Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu tìm hiểu tác

động của phân quyền tài chính lên IMR ở Trung Quốc. 

 Bài viết này nhằm giải quyết vấn đề trên

I Giới thiệu

Trang 9

3 Lý do nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ lệ tử

vong trẻ sơ sinh và việc phân quyền tài chính ở Trung Quốc:

a) Dù nền kinh tế tăng trưởng cao từ 1980, 1990

đến thế kỷ 21 nhưng IMR vẫn ở mức 29/1000 - đạt được năm 1980 và không cắt giảm thêm nữa ở quy mô rộng lớn

Trong khi ở giai đoạn từ 1949 - 1978 - thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa với một mức thu nhập cá nhân thấp: Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm IMR

I Giới thiệu

Trang 10

b) Cải cách Hệ thống phân phối thuế (TSS) năm 1994 tại Trung Quốc tái tập trung doanh

thu ngân sách chính phủ trong khi vẫn giữ phần lớn trách nhiệm chi tiêu y tế trên vai của chính quyền địa phương mà không có sự cung cấp hỗ trợ kinh phí đầy đủ từ chính quyền trung ương

Trách nhiệm gia tăng cùng với sự tài trợ không đầy đủ ở cấp địa phương có thể góp phần vào sự trì trệ trong việc giảm thiểu tỷ lệ

tử vong trẻ sơ sinh kể từ cuối những năm

1980 ở Trung Quốc

I Giới thiệu

Trang 11

4 Mục tiêu nghiên cứu:

Cung cấp một phép đo định lượng tác động của phân quyền tài chính - được đại diện bởi cải cách TSS năm 1994 - đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh (IMR) ở Trung Quốc

(Từ năm 1978 Trung Quốc đã chuyển từ một

hệ thống tài chính tập trung thành một hệ thống tài chính phân cấp Sự thay đổi có hệ thống của một hệ thống phân quyền tài chính xảy ra từ việc thông qua cải cách Hệ thống phân phối thuế (TSS)năm 1994)

I Giới thiệu

Trang 12

5 Phương pháp thực hiện:

 Phát triển một mô hình tổng quát bằng cách

sử dụng một tập dữ liệu toàn tỉnh dạng bảng cho giai đoạn 1980-2003 bao gồm cả thời kỳ trước và sau TSS

 Sử dụng một mô hình hàm sản xuất IMR, phân tích cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp như là thu nhập và cơ sở y tế

I Giới thiệu

Trang 13

5 Phươngphápthựchiện(tt):

tácgiảsửdụnghaithướcđocủaphânquyềntàichính:

• Thứnhất, xemcuộccảicách TSS năm 1994 nhưlàmộtthửnghiệmtựnhiên, sửdụngmộttácđộng qua

  

I Giới thiệu

Trang 14

Cả hai phương pháp này được phân tích thông qua phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) và bình phương tối thiểu tổng quát khả thi dạng bảng (FGLS).

I Giới thiệu

Trang 15

6 Điểmcảithiệncủanghiêncứunày so vớicácnghiêncứuhiệntại:

 Sửdụngmộtbộdữliệutoàntỉnhdạngbảngcho phépxe mxétcáctácđộngcủacácbiếnkhôngquansátbiếnthiên theothời gian.

 Đolườngchi phí y tếtrongtổngsốtiền chi tiêu, nhưlà

tiêuchínhphủvànhưlàmộttỷlệchotổngsảnphẩmkhuv ựcdanhnghĩa (GRP).

 Thêmvàomộtsốcácbiếnkiểmsoátnhưmộtbiếngiả khu vực, nguồnnhânlực y tế, cơsởvậtchất y tế, đôthịhóa, vàkhảnăngsinh sản.

 Ngoàiphươngphápbiếngiảtruyềnthống,

tácgiảđo mứcđộphânquyềntàichínhbằngcáchsửdụn gtỷlệ:

  

I Giới thiệu

Trang 16

II Hệ Thống Y Tế Tại Trung Quốc

Trang 17

Thị trấn Huyện Quận Tỉnh Trung Ương

II Hệ Thống Y Tế Tại Trung Quốc

Mô hình chính phủ Trung Quốc

Trang 18

II Hệ Thống Y Tế Tại Trung Quốc

Giai đoạn: 1949 - 1978

• Chính phủ chi trả hơn 90% chi phí y tế cho các công dân thành thị

• Hệ thống y tế : sự kết hợp của y học cổ truyền Trung Quốc

và y học phương Tây hiện đại

• Người dân ở các vùng nông thôn được chăm sóc sức khỏe tại các trạm y tế do nhà nước trợ cấp Các bác sỹ ở đây chủ yếu là những sinh viên năm giữa được đào tạo sơ cứu ban đầu

Trang 19

Giai đoạn: 1949 - 1978

+ Nâng gấp đôi tuổi thọ trung bình của người dân Trung Quốc

từ 35 tuổi vào năm 1949 lên 68 tuổi vào năm 1978

+ Giảm tỷ

lệ tử vong

trẻ sơ sinh

Kết Quả:

Trang 20

Giai Đoạn : Sau Năm 1985

II Hệ Thống Y Tế Tại Trung Quốc

• Trung Quốc đưa ra các cải cách theo định hướng thị trường

• Các bệnh viện công được khuyến khích tạo thu nhập riêng với mục đích huy động các nhân viên

y tế và cải thiện tính hiệu quả cho bệnh viện

• Đầu tư của chính phủ vào các bệnh viện công

dần dần giảm đi -> thương mại hóa các hoạt

động của bệnh viện

Trang 21

quốc gia

Trang 22

Tỷ lệ tăng trưởng trung bình 9% GDP danh nghĩa hàng năm.

Trang 23

•Tăng trưởng kinh tê

• IRM không thay đổi sau 1980

• Tuổi thọ gần như không đổi từ 68 (1982) – 69 (1993)

• Chỉ số Y Tế tốt cho người thành thị.hơn nông thôn

Trang 24

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 25

Nguyên nhân trực tiếp

Y tế (sự non nớt, chấn

thương do sinh, di truyền, bẩm sinh)

Y tế (sự non nớt, chấn

thương do sinh, di truyền, bẩm sinh)

Nguyên nhân mãn tính (suy dinh dưỡng,

chăm sóc trước khi sinh,

các loại văcxin)

Nguyên nhân mãn tính (suy dinh dưỡng,

chăm sóc trước khi sinh,

các loại văcxin)

Nguyên nhân gián tiếp

Nguyên nhân gián tiếp

Các yếu tố xã hội, kinh tế, môi trường: mức thu nhập,

sự phân phối thu nhập, cp chăm sóc sức khỏe công cộng, vốn chăm sóc sức khỏe con người, sự tham gia lao động của phụ nữ, đô thị hóa v.v

Các yếu tố xã hội, kinh tế, môi trường: mức thu nhập,

sự phân phối thu nhập, cp chăm sóc sức khỏe công cộng, vốn chăm sóc sức khỏe con người, sự tham gia lao động của phụ nữ, đô thị hóa v.v

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 26

Phân quyền tài

chính

Đầu ra trực tiếp

đồng

III Các nghiên cứu trước đây:

Trang 27

IMRs biến động với cuộc chiến tranh, nạn đói, dịch bệnh và khủng hoảng xã hội, phúc lợi

chung trong một xã hội cải thiện, IMR của xã hội giảm

=> Các nước giàu có xu hướng có một IMR thấp hơn so với những nước nghèo

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 28

=> Kết quả :Tác động của bình quân đầu người GDP

thực tế trên IMR là không có ý nghĩa thống kê => Mức thu nhập không phải là một yếu tố quyết định trực tiếp của tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong và có thể ảnh hưởng đến tỷ

lệ trẻ sơ sinh tử vong chỉ gián tiếp thông qua các yếu tố như chăm sóc sức khỏe nguồn nhân lực

Anand và Barnighausen (2004) :đã khẳng định mối

quan hệ tích cực đáng kể giữa nguồn nhân lực y tế và giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 29

Các nghiên cứu trước cũng thấy rằng chi phí chăm sóc sức khỏe công cộng có tác động tích cực đối với tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong.

◦ Corman, Grossman, và Joyce (1987)

◦ Ngân hàng Thế giới (1995)

◦ Wang (2003)

◦ Bokhari, Gai, và Gottret (2007)

Mặt khác, một số nghiên cứu đã cho những kết quả đối lập: Chi phí y tế công cộng không tác động đáng kể đến tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong.

Trang 30

Các tác động trực tiếp của phân quyền tài chính làm giảm IMR

Hiệu quả phân bổ: phân quyền tài chính có thể dẫn

đến phản ứng và trách nhiệm tăng chính quyền địa phương bằng cách cung cấp hàng hóa công cộng địa phương phù hợp với sở thích (Alesina & Spolaore năm 1997; Faguet, 2004; Lockwood, 2002; Oates, 1972; Silverman, 1992).

Hiệu quả sản xuất: Phân quyền tài chính cũng có thể

làm giảm tiền thuê chuyển hướng của các đương nhiệm ra các khoản thu thuế (Seabright,1996; Son và Pers- Tabellini ,2000; và Hindriks và Lockwood ,2005) Việc cung cấp bởi chính quyền địa phương liên quan đến sở thích của cư dân tiết kiệm chi phí truyền thông tin từ chính quyền địa phương đến chính quyền trung ương (Hayek ,1945)

Hiệu quả thực nghiệm: Nhiều chính quyền địa

phương có thể thử nghiệm với những cách khác của việc giảm IMR (phân quyền tại chính tại các nước lớn như Trung Quốc) (Garzarelli, 2006; Oates, 1999)

III Các nghiên cứu trước đây:

Trang 31

Các tác động gián tiếp của phân quyền tài chính làm giảm IMR

◦ Chuyển giao quyền lực tài chính có thể thay đổi cơ cấu chi phí chăm sóc y tế địa phương, làm ảnh hưởng đến nguồn vốn địa phương

chăm sóc sức khỏe con người và sau đó là

IMR

III Các nghiên cứu trước đây:

Trang 32

Prud'homme (1995) và Tanzi (1996) Những lợi ích tiềm năng của phân quyền tài chính có thể không trở thành hiện thực.

Đầu tiên, sự cách biệt đáng kể của IMR do phân

hóa giàu – nghèo, khu vực thành thị và nông thôn

ở Trung Quốc có thể được mở rộng trong bối cảnh

mà cân bằng tài chính ngang không thể đạt được hoàn toàn bằng chuyển trung tâm.

Thứ hai, do thiếu nhân sự có tay nghề cao,

thông tin, năng lực quản lý, và thiết bị tiên tiến, lợi ích của địa phương cung cấp chăm sóc y tế có thể được giảm giá đáng kể

Thứ ba, chính quyền địa phương nghèo cũng có

thể xảy ra do các mối nguy hiểm về đạo đức đi kèm với phân quyền tài chính như tham nhũng và quan liêu

III Các nghiên cứu trước đây:

Trang 33

Bên cạnh các cuộc thảo luận lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm về tác động của phân cấp ngân sách về y tế cũng là hỗn hợp

ROBALINO, Picazo, và Voetberg (2001) : Phân

quyền tài chính tác động đáng kể đến giảm tỷ lệ trẻ

sơ sinh tử vong Hiệu ứng này cũng có mặt ngay cả trong môi trường tham nhũng cao.

và Jutting (2007), các huyện phân cấp về tài chính

hơn có IMRs thấp hơn nếu họ có một hệ thống chuyển giao hoạt động tốt giữa các chính quyền địa phương và khả năng ngân sách địa phương tăng cường Tuy nhiên, nghiên cứu này không kiểm soát các yếu tố như chi phí y tế, nguồn nhân lực y tế, chăm sóc sức khỏe hoặc tài sản vật chất đã được bao gồm trong hầu hết các nghiên cứu IMR trước đó với hàm sản xuất

Asfaw et al (2007): Phân quyền tài chính đóng

một vai trò quan trọng về mặt thống kê trong việc giảm IMR nông thôn.

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 34

Tang và Bloom (2000):Nghiên cứu trường hợp

của một quận nghèo ở nông thôn Trung => ít bằng chứng cho thấy phân cấp ngân sách triệt

để dẫn đến kết quả chăm sóc sức khỏe tăng lên -> Cảnh báo chống lại nỗ lực để thực hiện phân cấp triệt để mà không giải quyết khó khăn tài chính địa phương hoặc sự yếu kém trong năng lực quản lý của địa phương

Guldner (1995): Phân cấp trong chăm sóc sức

khỏe mà không có hướng có thể ảnh hưởng hiệu quả của hệ thống y tế và phá hoại việc thực hiện các ưu tiên quốc gia dựa trên phân tích trường hợp của Việt Nam

Green và Collins (1994): Chăm sóc sức khỏe

ban đầu, phải có một mức độ tập trung trong phân bổ nguồn lực và lập kế hoạch và hình thức

đề xuất phân cấp không nên cản trở chính sách của vốn chủ sở hữu.

III Các nghiên cứu trước đây

Trang 35

IV Phương Pháp

Trang 36

IV Phương pháp

1 Phương pháp nghiên cứu

 Phân tích thông qua hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) hiệu chỉnh phương sai thay đổi và tự tương quan theo cơ chế tự hồi qui bậc 1 (AR(1)).

 Phân tích cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp là thu nhập và cơ sở y tế

 Đầu tiên, xử lý cải cách TSS 1994 như là một thử nghiệm tự nhiên và sử dụng một thuật ngữ tương tác của một biến giả phân cấp tài khóa và một biến giả vị trí địa lý để đánh giá hiệu quả của phân cấp tài khóa lên IMR ở các vùng khác nhau; thứ hai, đo lường mức

độ phân cấp tài khóa bằng cách sử dụng tỷ lệ chi ngân sách tỉnh bình quân đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân đầu người và chi ngân sách cấp tỉnh bình quân đầu người

Trang 37

+ 4 khu "siêu" chính quyền thành phố tự trị được quản lý trực tiếp bởi Hội Đồng Nhà Nước- Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Trùng Khánh

+ 8 tỉnh ven biển gồm Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông và Hải Nam

+ 13 tỉnh vùng sâu vùng xa gồm Cát Lâm, Hắc Long Giang, An Huy, Giang Tây, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Thiểm Tây và Cam Túc

+ 5 khu tự trị đông dân tộc thiểu số- Nội Mông, Quảng Tây, Tây Tạng, Ninh Hạ và Tân Cương

Trong đó, dữ liệu IMR cấp tỉnh năm 1981, 1990 và

2000 là những dữ liệu điều tra dân số được thu thập khoảng mỗi mười năm ngược lại với dữ liệu cho năm

1980, 1989 và 2003 được ước tính bởi Cục thống kê Quốc gia TQ

IV Phương pháp

2 Dữ liệu

Trang 38

• I =1, 2, 3,…,31 tỉnh trong mẫu và t = năm 1980, 1981, 1989,

1990, 2000 và 2003

• Biến phụ thuộc, IMRit, là chỉ số chăm sóc sức khỏe cho mỗi năm

và của mỗi tỉnh để đánh giá các tác động của phân cấp tài khóa và sự chi tiêu cho y tế công cộng của các chính quyền địa phương

• Biến độc lập được quan tâm chính, FDit, là phân cấp tài khóa được đo lường bằng 2 cách :

• (1) Biến giả dummy = 0 cho trước cải cách TSS năm 1994 và =

1 là sau cải cách; và

• (2) Tỷ lệ chi ngân sách tỉnh bình quân đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân đầu người và chi ngân sách tỉnh bình quân đầu người, Nếu phân cấp tài khóa cải thiện phản ứng nhanh của chính quyền địa phương, 1 sẽ âm

 

IV Phương pháp

3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Trang 39

Sử dụng tỷ lệ chi ngân sách tỉnh bình quân đầu người với tổng chi ngân sách trung ương bình quân đầu người và chi ngân sách tỉnh bình quân đầu để đo lường phân cấp tài chính

(1) Đo lường này từ khía cạnh chi tiêu tốt hơn

so với sự nắm bắt về mức độ tự chủ tài chính địa phương;

(2) tổng chi tiêu trung ương và chi cấp tỉnh là mẫu số chung của tỷ số này có tính đến sự biến thiên của phân cấp ở một vài mức độ;

(3) nó kiểm soát về dân số Tỷ số này càng cao, chính quyền cấp tỉnh có sự phân cấp tài chính càng cao

IV Phương pháp:

3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Ngày đăng: 14/07/2015, 08:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w