Từ vựng không phải là một tập hợp đơn giản, hỗn độn
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Từ vựng không phải là một tập hợp đơn giản, hỗn độn Nó là một tổchức lớn, rất phức tạp nhưng có quy tắc, trong đó từ là đơn vị cơ bản Từchứa đựng rất nhiều loại thông tin, những thông tin về tổ chức, về lịch sử,
về hoạt động của ngôn ngữ Tuy nhiên, sự phát triển của đời sống tư tưởngcon người đã dẫn tới sự xuất hiện các từ mới và các đơn vị từ vựng tương
đương với từ mà chúng ta gọi là ngữ Theo Nguyễn Thiện Giáp “Một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự tiến hoá của loài người là sự mở rộng bất thường của thế giới khái niệm Sự phát triển này có quan hệ chằng chéo phức tạp với sự tăng trưởng vũ bão về số lượng và sự đa dạng của tư tưởng mà con người có thể truyền đạt được Bằng ngôn ngữ con người thông báo không chỉ cảm xúc, tri thức mà cả một số lượng vô hạn các trạng thái, quan hệ, đối tượng và sự kiện bên trong cũng như bên ngoài con người Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số luợng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở những từ đã có Những đơn vị như thế được gọi là ngữ, có giá trị tương đương như từ’’ (3a, tr.70)
Ngữ (cụm từ ) là tổ hợp các từ nằm trong giới hạn một câu Có cụm
từ tự do và có cụm từ cố định Cụm từ tự do được tạo ra một cách thứcthời trong quá trình giao tiếp Nó không có sẵn từ trước, đồng thời nó
cũng tan rã đi sau khi hành động giao tiếp kết thúc Quan hệ giữa các từ
trong cụm từ tự do lỏng lẻo Còn cụm từ cố định cũng được tạo nên bởicác từ nhưng đã cố định hoá Những cụm từ cố định được hình thànhtrong lịch sử Mỗi lần giao tiếp, chúng lại được tái hiện và được giữ nguyên
cả khối hình thức âm thanh cũng như ý nghĩa giống như các âm vị, hình vị,các từ và được lĩnh hội như một đơn vị có sẵn từ trước với tính chỉnh thể vềhình thức, âm thanh và ý nghĩa Quán ngữ được nhiều nhà nghiên cứu coi
là một loại cụm từ cố định bởi tính chất lặp lại của nó Tuy nhiên xét về
Trang 2hình thức và về ý nghĩa, quán ngữ lại chẳng khác gì các cụm từ tự do nên
có nhiều ý kiến cho rằng quán ngữ là bộ phận trung gian giữa cụm từ tự do
và cụm từ cố định
Việc nghiên cứu xác định ranh giới của quán ngữ đã được nhiềungười quan tâm bởi hiểu rõ và sử dụng đúng quán ngữ sẽ góp phần làmphong phú thêm vốn ngôn ngữ của người Việt đồng thời làm tăng khả năng
tư duy, diễn đạt
Quán ngữ hình thành trong tiếng Việt với nhiều chức năng khácnhau, chúng không chỉ có vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày màcòn có ý nghĩa rất lớn trong sáng tác văn học
Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Quán ngữ trong
chức năng rào đón, đưa đẩy và khảo sát, phân tích quán ngữ rào đón, đưa đẩy trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan nhằm góp phần làm rõ
thêm vai trò của quán ngữ trong tiếng Việt hiện nay ý nghĩa thực tiễn của
đề tài là giúp cho người Việt giao tiếp với nhau lịch sự hơn và đạt đượchiệu quả tối ưu trong giao tiếp
Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt hiện đại gọi quán ngữ là những từ tổ cố định tổ hợp “ Trong tiếng Việt có một số từ rất gần với từ tổ tự do nhưng tương đối ổn định về kết cấu, được quen dùng
mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính chất độc lập, có khi một từ trong đó có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của từ tổ được thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ thành tố của chúng Sở dĩ có thể quy những từ
tổ này vào từ tổ cố định vì so với các loại từ tổ tự do, quan hệ giữa các từ
Trang 3tương đối ổn định Theo truyền thống những từ trong những từ tổ này gắn với nhau và được quen dùng’’ (9,tr 143)
Theo tác giả Nguyễn Văn Tu thì quán ngữ là bộ phận gần gũi vớicụm từ tự do nhưng bởi có tính ổn định tương đối nên có thể xếp chúng vào
loại từ tổ cố định Tác giả cho rằng cụm từ “bạn nối khố’’ là một quán ngữ chỉ người bạn rất thân Những từ “nối’’ “khố” kết hợp với ‘’bạn’’ được
dùng qua nhiều thế hệ Quan hệ giữa chúng khá chặt chẽ cho nên cả từ tổtrở thành như một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Nghĩa của từ
‘’nối’’’’khố’’ đã mất tính chất độc lập Các danh từ như “cười nụ’’ “bạn cố tri’’ “anh hùng rơm’’ “kỉ luật sắt’’ cũng được tác giả coi là quán ngữ Đồng thời các ngữ cố định như: lành như bụt, dốt đặc cán mai, giấu đầu hở đuôi, được voi đòi tiên” cũng được coi là quán ngữ.
Sau này tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt ” (NXBGD - 1985) cũng coi quán ngữ là một bộ phận trung gian giữa
cụm từ tự do, và các kiểu cụm từ cố định Theo ông về hình thức cũng như
về ý nghĩa, quán ngữ chẳng khác gì các cụm từ tự do Nội dung của chúng
đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong suy nghĩ và diễn đạt.Chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn Phạm vi bao quátcủa quán ngữ theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp hẹp hơn quan
niệm của tác giả Nguyễn Văn Tu '' Quán ngữ theo chúng tôi quan niệm là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó Mỗi phong cách thường có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ : Của đáng tội, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, thường được dùng trong phong cách hội thoại, các quán ngữ: như đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, trước hết, một mặt thì, mặt khác thì, nghĩa là, đáng chú ý, thường được dùng trong phong cách sách vở'' (3a, tr 109) Quan niệm của tác giả
Nguyễn Thiện Giáp đã giúp chúng ta phân định rạch ròi hơn ranh giới giữathành ngữ và quán ngữ
Trang 4Trong từ điển Giáo khoa tiếng Việt tiểu học, các tác giả đã đưa rađịnh nghĩa về quán ngữ như sau:
''Những cách nói tự do dùng nhiều, lặp đi lặp lại mà trở thành quen thuộc như các từ ngữ thông thường, ví dụ ''lên mặt'' ''lên mặt dạy lời'', '' ra oai'' Ngữ cố định được chia làm hai loại là quán ngữ và thành ngữ Quán ngữ là những cách nói được dùng nhiều thành thói quen (quán = quen) do
đó trở nên cố định”(10, tr.226).
Các tác giả Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán, Lê Hữu Tỉnh trong
“tiếng Việt tập 1- Giáo trình chính thức đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP
và SP12+2” đã đưa ra một quan niệm về quán ngữ gần với quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp : “Quán ngữ là những cụm từ cố định có những đặc trưng rất gần với cụm từ tự do Đó là những cách nói, cách diễn đạt nhằm mục đích đưa đẩy, chuyển ý hay dẫn ý để mở đề hoặc gây chú ý, tạo tình huống giao tiếp, không khí giao tiếp” (5, tr 197) Các tác giả cũng phân loại quán ngữ theo phong cách Loại dùng trong khẩu ngữ như : của đáng tội, nói vô phép, nói trộm vía, và loại dùng trong khoa học: Nói tóm lại, nói cách khác Thuộc phạm vi quán ngữ các tác giả còn kể đến những tổ hợp mà
kết cấu tương đối ổn định nhưng nghĩa không hoặc ít tính chất mới, ít có tínhthành ngữ, tính biểu trưng, nghĩa của cả tổ hợp gần giống tổng số nghĩa của
các yếu tố cấu thành như: kéo bè kéo cánh, ăn ngon mặc đẹp, bữa rau bữa cháo, áo rách quần manh, mẹ goá con côi, ăn sung mặc sướng.
Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu thì quán ngữ là một bộ phận của ngữ cố
định Trong cuốn “Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt'' (NXBĐHSP-2004) tác giả đã viết: “Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không
có tác dụng sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu
là để đưa đẩy, liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón (2d, tr.80) Tác giả Đỗ Hữu
Trang 5Châu xếp tất cả các ngữ cố định có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động tính
chất, trạng thái như chuột sa chĩnh gạo, chuột sa lọ mỡ hay các ngữ có tác
dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một vật, một hoạt động., một tính
chất một trạng thái như: mắt lươn, mắt phượng, dai như đỉa, chạy long tóc gáy vào một loại gọi là ngữ danh hay thành ngữ Còn các quán ngữ chỉ bao
gồm các ngữ đảm nhiệm chức năng ngoài nòng cốt câu như chức năngchuyển tiếp, chêm, xen kẽ
Nhìn chung quan niệm về quán ngữ của các tác giả từ trước đến nay
đã khá đầy đủ, cụ thể Tiếp thu những ý kiến của tác giả đi trước về vấn đềnày chúng tôi tiến tới tìm hiểu chức năng của quán ngữ, cụ thể là chức năngđưa đẩy và rào đón Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích vaitrò của quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan
3 Giới hạn đề tài
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi vào tìm hiểu quán ngữ trongchức năng đưa đẩy, rào đón nhằm giúp người đọc hình dung được một cách
cụ thể về quán ngữ đồng thời sử dụng quán ngữ linh hoạt hơn
Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu dừng lại khảo sát và phân tíchquán ngữ đưa đẩy, rào đón được dùng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Thống kê
Để có cơ sở làm việc, luận văn bắt buộc phải sử dụng phương phápthống kê tập hợp các quán ngữ có trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.Các dữ liệu thu thập được là cơ sở để tiến hành phân tích, tổng hợp
4.2 Phân loại
Từ những dữ liệu đã thu được bằng phương pháp thống kê, chúng tôitiến hành thao tác tiếp theo là phân loại Việc phân loại quán ngữ ra thànhtừng nhóm dựa trên tác dụng của chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việcphân tích
Trang 64.3 Phân tích
Luận văn phải sử dụng phương pháp này để phân tích giá trị ngữdụng của từng loại quán ngữ Việc phân tích sẽ giúp chúng tôi có cơ sở đểđánh giá vai trò của quán ngữ
4.4 Đối chiếu
Phương pháp này giúp chúng tôi xác nhận được tính đa chức năng,
đa giá trị của quán ngữ Bởi vì trong thực tế sử dụng một quán ngữ có thểmang các giá trị và thực hiện những chức năng khác nhau
4.5 Đánh giá tổng hợp
Trên cơ sở những dữ liệu được phân tích chúng tôi tiến hành thao tácđánh giá tổng hợp để có được kết luận về vai trò của quán ngữ trong đờisống hàng ngày và trong sáng tác văn chương
5 Cấu trúc luận văn
Nội dung của luận văn sẽ được khai triển theo 2 chương như sau:
Chương I: Một số điểm lý luận cơ sở
I.1 Khái niệm quán ngữI.2 Phân biệt quán ngữ với thành ngữI.3 Chức năng của quán ngữ
Chương II: Quán ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
II.1 Khảo sát, thống kê, phân loại quán ngữ thực hiện chứcnăng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
II.2 Phân tích vai trò của một số quán ngữ đưa đẩy và rào đóntrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Kết luận
Trang 7Chương I Một số điểm lý luận cơ sởI.1 Định nghĩa về “quán ngữ” được chọn dùng
Quán ngữ là một vấn đề ngôn ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ để tâmtìm hiểu và nghiên cứu nhiều năm qua Vì thế có nhiều cách hiểu khác nhau
về quán ngữ Chúng tôi quyết định chọn quan niệm về quán ngữ trong “Từđiển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê làm cơ sở nghiên cứu bởi tính chấtphổ biến của nó
Định nghĩa quán ngữ trong 'Từ điển tiếng Việt
Quán ngữ là '' Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành ''Lên lớp'' “lên mặt'' '' lên tiếng” đều là
những quán ngữ trong tiếng Việt (7b, tr.801)
I.2 Phân biệt quán ngữ với thành ngữ
Quán ngữ và thành ngữ đều là những cụm từ đã được cố định hoágiữa hai loại đơn vị này vẫn có điểm khác biệt Theo quan điểm của một sốnhà nghiên cứu thì việc phân chia rạch ròi ranh giới của hai loại cụm từ nàyrất phức tạp Chúng tôi tạm đặt ra một số tiêu chí phân biệt quán ngữ vớithành ngữ để làm cơ sở nghiên cứu
I.2.1 Về tính thành ngữ
Tính thành ngữ được tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau:
" Cho một tổ hợp có nghĩa S so các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt s [1], s [2], s [3]… tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s [1]", s [2]", s [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ”(2b, tr.72).
Lẽ đương nhiên các thành ngữ sẽ mang tính thành ngữ cao hay thấp,còn quán ngữ thì không có tính chất này Nghĩa của cả tổ hợp giống tổnghợp số nghĩa của các yếu tố cấu thành
Trang 8Ví dụ: Cụm từ "đi guốc trong bụng: là một thành ngữ vì nghiã của các đơn vị trong cụm từ không thể giải thích cho ý nghĩa cả cụm là "hiểu rất rõ suy nghĩ của người khác".
Cụm từ "Đáng chú ý là" là một quán ngữ vì nghĩa của cả cụm chính
là tổng số nghĩa của các từ đáng, chú ý, là.
I.2.2 Về kết cấu
Thành ngữ thường có bộ phận trung tâm và những thành phần phụ
bổ sung ý nghĩa của thành phần trung tâm những sắc thái phụ ý nghĩa củathành phần trung tâm cũng là ý nghĩa nòng cốt của cả cụm từ
Ví dụ: Thành phần trung tâm của thành ngữ "Thần hồn nát thần tính"
là "khủng hoảng", các thành phần phụ là "do chính những ảo tưởng, những
ý nghĩa ma quái nẩy sinh từ trong đầu óc mình gây ra nhân khi tâm hồn mình không ổn định".
Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không
có kết cấu câu Chúng chỉ là những công thức nói lặp đi lặp lại với những
từ ngữ tương đối ổn định
Ví dụ: Các quán ngữ "tức là" "ngược lại" "nói tóm lại"… đều không
có từ trung tâm
I.2.3 Về chức năng
Thành ngữ có chức năng định danh, chúng vừa có tác dụng gọi tên
sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái… chưa có tên gọi như tình thế "chờ quá lâu, quá sức chịu đựng, làm sốt ruột, bực dọc" được diễn đạt bằng ngữ
"chờ hết nước hết cái", vừa có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của
một sự vật, một hoạt động, một tính chất, một trạng thái nếu chúng đã có
tên gọi, đó là trường hợp dai như đỉa, dai như chão, dai như chó nhai giẻ rách…thể hiện tính chất dai của các sự vật, hoạt động khác nhau… Chạy long tóc gáy, chạy rống bãi công, chạy như cờ lông công… miêu tả các tình
thế, các dạng chạy khác nhau… Nhìn chung các thành ngữ đều có chứcnăng miêu tả, sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái được gọi
Trang 9tên, vừa thể hiện thái độ, tình cảm của người dùng đối với các sự vật, hoạtđộng, trạng thái, tính chất.
Quán ngữ là các ngữ cố định không có tác dụng định danh cũngkhông có tác dụng sắc thái hóa sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái màchủ yếu là để đưa đẩy, để liên kết, để chuyển ý, để thể hiện các hành độngnói khác nhau và nhất là để đảm nhiệm chức năng rào đón Quán ngữkhông làm thành phần chính trong nòng cốt câu mà đảm nhiệm các chứcnăng ngoài nòng cốt như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tính thái Ví dụ như
các quán ngữ" Một mặt là…, mặt khác là…, nói cách khác…, chắc chắn là…, dễ thường… xin bỏ ngoài tai…
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản giúp phân biệt quán ngữ vớithành ngữ Để phân biệt rạch ròi hai loại ngữ cố định này không thể chỉbằng vài nét sơ lược; nhưng khuôn khổ luận văn có hạn không cho phépchúng tôi đi sâu tìm hiểu
I.3 Chức năng của quán ngữ
Quán ngữ không giữ vai trò làm thành phần nòng cốt câu mà chỉ cóchức năng liên kết, chuyển ý, nhấn mạnh, đưa đẩy, rào đón Luận văn chỉ đisâu nghiên cứu quán ngữ đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn của NguyễnCông Hoan nên chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí luận có liên quanđến hai loại quán ngữ này Khái niệm “ đưa đẩy” và khái niệm “rào đón”không hoàn toàn tách biệt nhau Phạm vi ý nghĩa của từ “rào đón” thuộcphạm vi ý nghĩa của từ “ đưa đẩy” Nhưng chúng tôi vẫn tách các quánngữ thành hai loại: quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và quán ngữthực hiện chức năng rào đón Vì thế cho nên chúng tôi phải trình bày táchbiệt cơ sở lý thuyết của từng loại
I.3.1 Chức năng đưa đẩy của quán ngữ
Trong giao tiếp, khi phát ngôn một câu nào đó, cụ thể qua cách phátngôn và cấu trúc câu, người nói đã thực hiện một hành động ngôn ngữ nhấtđịnh và người nghe cảm nhận được điều này Hành động ngôn ngữ là
Trang 10những nhóm nhỏ nằm trong hoạt động ngôn ngữ, nó mang tính chất xã hội,được xã hội quy ước, thừa nhận và sử dụng.
Ba phạm trù của hành động ngôn ngữ là:
- Hành động tạo lời
- Hành động mượn lời
- Hành động ở lờiHành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm (hoặc
cử động tay chân tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ và kết hợp các từ theocác quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu rồi tổ chức các câu thành diếnngôn (văn bản)…Chính bằng hành động tạo lời chúng ta tạo nên các biểuthức có nghĩa
Hành động mượn lời là hành động nhằm gây ra những biến đổi trongtâm lí và nhận thức, trong hoạt động vật lí của người nghe, gây ra một tácđộng nào đó đối với ngữ cảnh
Hành động ở lời (tại lời, trong lời, ngôn trung) là hành động mà đíchcủa nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nó nói ra (viết ra) Khithực hiện một hành động ngôn ngữ người nói đồng thời thực hiện một hànhđộng ở lời (khuyên, hứa, ra lệnh, hỏi)
Hành động ở lời có hiệu lực ở lời riêng Phương tiện chỉ dẫn hiệulực ở lời gọi là các biểu thức ngữ vi Trong số các phương tiện chỉ dẫn hiệulực ở lời có hai loại đặc biệt: thứ nhất là quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa của cácthành tố tạo nên nội dung mệnh đề và thứ hai là các động từ ngữ vi Cácđộng từ được dùng trong chức năng ngữ vi là những động từ mà khi nói ra
ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại (bây giờ) và không có bất kì một yếu tố tìnhthái liên quan đến thái độ, cách đánh giá… của người nói, thì người nóithực hiện luôn cái hành động ở lời do động từ đó biểu thị Thí dụ:
Khi nói ra phát ngôn trên Sp1 (cháu) thực hiện luôn cái hành động ởlời “xin” Việc “xin” đó có hiệu lực tức thì
Trang 11Hành động ở lời cũng phải có điều kiện thích hợp mới thực hiệnđược và hành động mới có hiệu quả Mỗi hành động ở lời như chào, kể, bác
bỏ, từ chối, sai khiến, cầu xin, hứa, dặn dò… đều có điều kiện riêng.Những điều kiện nếu có chúng thì hành động ở lời mới thực hiện được vàmới thực hiện có hiệu quả được gọi là điều kiện sử dụng của hành động ởlời
Searle đã cho rằng có bốn loại điều kiện sử dụng hành động ở lời như sau:
a Điều kiện nội dung mệnh đề:
Điều kiện này chỉ ra nội dung của hành động ở lời
b Điều kiện chuẩn bị
Đây là điều kiện liên quan đến những hiểu biết của người thực hiệnhành động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyềnlợi, trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhậnhành động Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lựcvật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ởlời mà mình đưa ra
c Điều kiện tâm lý
Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hànhđộng ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện tâm lícòn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời củahành động ở lời mà mình thực hiện
d Điều kiện căn bản
Theo điều kiện này thì người thực hiện một hành động ở lời nào đókhi phát ngôn ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểutrách nhiệm mà hành động ở lời tạo ra
Trong tiếng Việt có những động từ chuyên dùng trong chức năngngữ vi như đa tạ, cảm tạ… có những động từ vừa dùng trong chức năngngữ vi vừa dùng trong chức năng miêu tả thông thường Phần lớn các động
từ nói năng chỉ các hành động ở lời thuộc loại này như: hứa, hỏi, mời,
Trang 12khuyên, cấm, đảm bảo, phê bình…Có bao nhiêu động từ ngữ vi thì có bấynhiêu hành động ngôn ngữ nhưng không phải hành động ngôn ngữ nàocũng dễ dàng xác định được động từ ngữ vi tương ứng Hành động ngônngữ đưa đẩy là một ví dụ.
Trong quá trình giao tiếp, người nói và người nghe phải tiếp xúc vớinhau và để duy trì sự tiếp xúc này, thông điệp có chức năng đưa đẩy Tínhiệu đưa đẩy có nhiệm vụ duy trì hoạt động giao tiếp, làm cho hoạt độnggiao tiếp tiến hành được bình thường Khi thực hiện hành động đưa đẩy,người nói đang “động viên” người nhận, tạo ra sự thoải mái, thân mật vớingười nhận, kiểm tra sự chú ý, sự hiểu của người nhận Đưa đẩy chính làhành động thực hiện chức năng chuẩn bị, duy trì và kiểm tra quá trình đốithoại giữa chủ thể phát và chủ thể nhận nhằm đạt được mục đích nhất định
do nhân vật giao tiếp đặt ra
Hành động ngôn ngữ đưa đẩy là những ước lệ xã hội được lặp đi lặplại nhiều lần trong giao tiếp, nó chịu sự chi phối của truyền thống văn hoácủa cộng đồng dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó Hành động ngôn ngữ đưa đẩy
là hành động tạo quan hệ, chính vì thế, yếu tố cảm xúc được xem là yếu tốtiên quyết của hành động ngôn ngữ đưa đẩy
Để thực hiện hành động đưa đẩy, tiếng Việt đã sử dụng các hô ngữ ,các quán từ và quán ngữ Quán ngữ trong chức năng đưa đẩy là các cụm từ
đã được cố định hoá không chứa đựng thông tin miêu tả, thông báo, khôngthực hiện hành động tại lời mà chỉ nhằm tạo quan hệ đối thoại, tranh thủ tìnhcảm
Ví dụ :
(1) – Anh không nói thì cái tài anh, đức anh, ta đã biết hết cả rồi Con ta mười phần không đậu được một
(2) –Lạy cụ lớn, ngài dạy quá lời, con nhiều khi được trộm xem văn của
công tử, thì tài con đại bất cập (12, tr 17)
Trang 13
Phát ngôn(1) là lời của một người bề trên tỏ ý khen ngợi tài năng củangười đối thoại Phát ngôn (2) là lời của kẻ dưới tỏ ý khiêm tốn, không dámnhận lời khen tặng Quán ngữ ‘dạy quá lời” thể hiện hành động đưa đẩy,chối từ Chính thái độ nhún nhường bộc lộ qua hành động đưa đẩy này đãgây thiện cảm cho người đối thoại
Như vậy, quán ngữ trong chức năng đưa đẩy thực hiện nhiệm vụduy trì cuộc hội thoại , giúp cho cuộc thoại diễn ra dễ dàng chứ không cónhiệm vụ thông tin, miêu tả
I.3.2 Chức năng rào đón của quán ngữ
Rào đón là một yếu tố ngôn ngữ thường gặp trong giao tiếp Trong
Từ điển tiếng Việt tác giả Hoàng Phê giải thích: Rào đón là “nói có tính chất để ngừa trước những sự hiểu lầm hay phản ứng về điều mình sắp nói”
(7b, tr.821) “Sự hiểu lầm” ở đây bao hàm rất nhiều vấn đề: hiểu lầm về nộidung mệnh đề của phát ngôn, hiểu lầm về thái độ, mối quan hệ của các cánhân trong cuộc hội thoại
Hội thoại vốn diễn tiến theo những nguyên tắc nhất định TheoGeorge Yule thì lời rào đón là “ những kiểu diễn đạt mà người nói dùng đểghi nhận rằng họ có nguy cơ là không gắn bó đầy đủ với những nguyên tắcnày” (11, tr79) Những nguyên tắc này tuy không bắt buộc, chặt chẽ nhưnhững quy tắc ngữ pháp nhưng bất cứ người nào muốn trò chuyện bằng lờimột cách thành thực cũng phải tôn trọng nó
Rào đón là một hiện tượng phức tạp mang đậm thuộc tính tâm lý tinhthần, bản sắc văn hoá Nó sinh động, linh hoạt khó diễn đạt rành rẽ Trongnhững trường hợp nhất định yếu tố rào đón được diễn đạt bằng những từngữ có tính chất chuyên dụng trong phát ngôn Các từ ngữ đó gọi là cácbiểu thức rào đón Quán ngữ trong chức năng rào đón chiếm một vị trí lớntrong số các biểu thức rào đón
Xuất phát từ nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice nêu ra năm
1967, người nói có những quán ngữ rào đón tương ứng Nguyên tắc này
Trang 14được phát biểu một cách tổng quát : Hãy làm cho phần đóng góp của anh chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào (2c, tr.229).
Nguyên tắc này gồm 4 phạm trù: phạm trù lượng, phạm trù chất,phạm trù quan hệ , phạm trù cách thức Mỗi phạm trù ứng với một nguyêntắc mà Grice gọi là phương châm: phương châm về lượng, phương châm vềchất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức
- Phương châm về lượng chia thành hai vế:
+ Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏicủa đích cuộc thoại
+ Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi.-Phương châm về chất: được phát biểu tổng quát như sau: Hãy làmcho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:
+ Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng
+ Đừng nói điều gì mà anh không đủ bằng chứng
- Phương châm quan hệ (quan yếu): Hãy làm cho phần đóng góp củaanh quan yếu (Pertinent) tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra
- Phương châm cách thức: dạng tổng quát của phương châm này là:hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:
+ Hãy tránh lối nói tối nghĩa
+ Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa
+ Hãy nói ngắn gọn
+ Hãy nói trật tự
Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” GS Nguyễn Thiện Giáp có dànhmột mục để nói về “Những lời rào đón trong giao tiếp” (3c, tr 131-135).Theo tác giả, lời rào đón các phương châm của Grice giống như nhữngbằng chứng cho phép nó vi phạm một nguyên tắc nào đó và nó là tín hiệu
để người nghe có thể hạn chế cách giải thích của mình
Trang 15GS Diệp Quang Ban trong bài “ứng dụng cách nhìn dụng học vàoviệc giải thích một số yếu tố có mặt trong câu – phát ngôn” (Tạp chí ngônngữ số 7 – 2001) đã viết: Trong dụng học, những yếu tố trong phát ngôn
có quan hệ đến việc người nói ghi nhận các phương châm nêu trên thì đượcxét vào số những lời rào đón
Bên cạnh nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice ta còn thấy một yếu
tố khác liên quan tới hiện tượng rào đón trong hội thoại Đó là phép lịch sự
Lịch sự trong giao tiếp thường được gọi là lịch sự chiến lược Lịch
sự chiến lược là phép lịch sự gồm những cách thức (chiến lược) tác độngvào hiệu quả đe doạ hoặc tôn vinh thể diện của các hành động ở lời để duytrì sự hài hoà trong quan hệ liên cá nhân giữa những người hội thoại Thểdiện là “cái hình - ảnh - ta trước công chúng (the public self - image) củamột con người” (11, tr118) Trong những tương tác xã hội hàng ngày, mọingười luôn mong muốn hình - ảnh - ta trước công chúng hay nhu cầu thểdiện của họ được tôn trọng Khi người nói nói điều gì đó tỏ ra có sự đe doạnhững mong muốn về hình - ảnh - ta của người khác thì hành động đó đượccoi là hành động đe doạ thể diện Còn trong trường hợp có khả năng gâynên một hành động nào đó có thể hiểu là một sự đe doạ đối với thể diệncủa người khác, người nói vẫn nói điều gì đó để giảm nhẹ sự đe doạ có thểxảy ra đó thì hành động này được coi là hành động giữ thể diện
Có hai chiến lược lịch sự: lịch sự âm tính và lịch sự dương tính.Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận Thểdiện âm tính bao trùm cái gọi là lãnh địa cá nhân, là người nào đó cần đượcđộc lập, tự do trong hành động Phép lịch sự âm tính có tính lảng tránh cónghĩa là tránh không dùng hành động đe doạ thể diện, hoặc có tính bù đắp,
có nghĩa là bù đắp lại những tổn hại về thể diện khi không thể tránh mà bắtbuộc phải thực hiện một hành động đe doạ thể diện nào đó
Lịch sự dương tính là phép lịch sự nhằm hướng vào thể diện dươngtính của người nhận Thể diện dương tính là tổng thể những hình ảnh tự
Trang 16đánh giá cao về mình mà mỗi cá nhân trong xã hội tự xây dựng nên và cốgắng áp đặt cho người xung quanh, buộc họ phải chấp nhận, tôn trọng.Phép lịch sự dương tính thực hiện những hành động tôn vinh thể diệnngười nhận, tỏ ra quan tâm đến người này.
Với phương châm về lượng, thông thường trong giao tiếp người ta sẽnói những điều người nghe chưa biết Nhưng hội thoại luôn tiềm ẩn nguy
cơ không gắn với quy tắc Có những điều không cần nói đôi khi phải nói rahoặc ngược lại cần nói nhưng không nói ra, có khi phải dùng đến một cáchnói không thật lòng để che giấu đi một điều gì đó hay thể hiện một hàm ýnào đó Những trường hợp như thế buộc người nói phải rào đón về lượng
tin mà mình cung cấp Để nhắc lại tin người nghe đã biết có quán ngữ : như chúng ta đã biết, như trên đã nói, như đã nêu trên… Khi vì lý do nào đó
người nói không thể cung cấp lượng tin đầy đủ thì có thể sử dụng quán
ngữ: ở một chừng mực nhất định, ở một khía cạnh nào đó, khoảng độ , đại loại, đại thể nhìn chung….
Với phương châm về chất người nói phải nói những điều có độ tincậy cao Để nhấn mạnh độ tin cậy của thông tin người nói có thể sử dụng
các quán ngữ: Tất nhiên, cố nhiên, dĩ nhiên, rõ ràng là, sự thật là… còn
trong trường hợp muốn giảm nhẹ độ tin cậy của thông tin lại có các quán
ngữ: nghe nói, nghe đâu, nghe đồn
Về phương châm quan hệ Grice phát biểu: Hãy quan yếu có nghĩa làhãy nói cho đúng chỗ, hãy nói những gì dính líu đến điều đang nói Nhưng đôikhi trong hội thoại có những điều mà người nói không muốn hoặc khôngthích nói đến thường tìm cách lảng tránh bằng cách nói sang đề tài khác Việcthay đổi đề tài có thể là xúc phạm đến người nghe nên người nói thường thựchiện kín, tức là chuyển tiếp dần dần để người nghe không nhận ra ý địnhchuyển đề tài Tuy nhiên cũng có trường hợp phải thực hiện chuyển đề tài một
cách tường minh bằng cách rào đón: nhân thể, nhân tiện, tiện đây, suýt nữa tôi quên , nhưng mà này… Để khẳng định tính quan yếu trong đích ở lời của
Trang 17hành động ngôn ngữ được sử dụng người nói có thể sử dụng quán ngữ: nói khí không phải, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, nói anh bỏ quá
Với phương châm cách thức, có thể sử dụng quán ngữ rào đón: nói khí dài dòng ,nói hơi lộn xộn, nói đại khái là, con cà con kê một chút, biết nói thế nào Để nhấn mạnh sự tôn trọng phương châm cách thức có quán ngữ: nói ngắn gọn, nói gọn lại, nói một cách đơn giản, nói một cách rõ ràng hơn, nói cụ thể hơn, cụ thể, là nói một cách rành mạch, nói vắn tắt…
Trong một số trường hợp để tránh sự hiểu lầm của người nghe vềtính chân thực của hành động ngôn ngữ trong phát ngôn người nói phải
tường minh điều kiện chân thành bằng lời rào đón: chân tình mà nói, nói thật nhé, nói không phải nịnh, nói đùa chứ…
Khi thực hiện những hành động ngôn ngữ mà hiệu quả của nó khôngphù hợp với mong muốn, lợi ích của người nghe, với mối quan hệ giữa
người nói và người nghe thì người nói sử dụng quán ngữ: nói trộm vía, nói dại đổ xuống sông, nói dại mồm dại miệng, lẽ ra không nên nói điều này, nói đừng để bụng…
Có những quán ngữ rào đón mang tính lịch sự nhằm dẫn dắt báotrước cho người nghe chuẩn bị một hành động nào đó có hiệu lực đe doạthể diện để người nghe đỡ bất ngờ như : nói vô phép, hỏi khí không phải,
bỏ quá đi cho, nói mạn phép, làm ơn, làm phúc, làm phiền
Ví dụ:
“Trước khi từ biệt, ông Bảo Sơn ngậm ngùi, bắt tay chủ nhà thật chặt
và thật lâu như thế đôi bạn cố tri Rồi buông tay ra, ông nói rất thân mật:
- Chúng tôi cám ơn ngài Chốc nữa, mời ngài quá bộ đến chơi
đằng nhà để xem đồ đạc Nói đổ xuống sông xuống biển, nếu chẳng may cụ
có việc gì, xin ngài cứ tin cậy ở tôi” (49, tr 351)
Trong phát ngôn của ông Bảo Sơn có hai quán ngữ rào đón “nói đổ
xuống sông xuống biển” và “nếu chẳng may”.Sở dĩ ông phải rào đón như
thế vì điều ông nói ra là xui xẻo, người nhà chủ không mong đợi.Lời rào
Trang 18đón của ông làm cho chủ nhà không mếch lòng, khó chịu và sẽ bỏ qua điềukhông hay ông nói ra
Chương II quán ngữ trong truyện ngắn
nguyễn công hoan
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn lớn, một cây bút truyện ngắn bậcthầy Ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình lời ăn tiếng nói hàng ngày
và biến thứ ngôn ngữ đời thường thành những tín hiệu thẩm mĩ
Trong truyện ngắn của mình Nguyễn Công Hoan đã sử dụng rấtnhiều quán ngữ và vận dụng hết sức linh hoạt Bằng việc đưa quán ngữ vàotác phẩm, Nguyễn Công Hoan đã làm cho truyện ngắn của mình gần gũivới người đọc hơn Không có gì cầu kì, khó hiểu trong ngôn ngữ truyện củaông Nguyễn Công Hoan đã tái hiện cả một cuộc sống đời thường sinhđộng trên mấy trăm trang sách
Chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích quán ngữ trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan vì sự đa dạng, phong phú của những quán ngữ ông đãdùng
II.1 Khảo sát, thống kê, phân loại quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
II.1.1 Khảo sát các quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Trang 19II.1.1.1 Phạm vi, đối tượng khảo sát
Trong giao tiếp hàng ngày chúng ta thường sử dụng quán ngữ nhất làcác quán ngữ dùng để đưa đẩy, rào đón Quán ngữ cũng xuất hiện nhiềutrong tác phẩm văn học, trong lời đối thoại của các nhân vật Trong luận vănnày chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích các quán ngữ thực hiện chứcnăng đưa đẩy và rào đón trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Việc khảo sát được thực hiện trên 71 truyện ngắn trong cuốn
“Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn chọn lọc” của nhà xuất bản văn học.
II.1.1.2 Kết quả khảo sát
Qua khảo sát tập truyện chúng tôi đã tập hợp được 142 quán ngữthực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón
II.1.2 Phân loại quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
II.1.2.1 Tiêu chí phân loại
Trước hết, dựa vào ý nghĩa của các từ rào đón và đưa đẩy chúng tôi
phân loại các quán ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thànhhai loại “Đưa đẩy là hành động nói ra những lời chỉ nhằm để cho câuchuyện diễn ra dễ dàng, tự nhiên” (7b, tr354) còn “rào đón là hành độngngăn ngừa sự phản ứng hay hiểu nhầm” Xét đến cùng thì các quán ngữrào đón cũng được nói ra nhằm phục vụ cuộc hội thoại, giúp cho việc giaotiếp được thuận lợi, dễ dàng Phạm vi ý nghĩa của hành động rào đón nằmtrong phạm vi ý nghĩa của hành động đưa đẩy Nhưng do các quán ngữ ràođón có ý nghĩa đặc biệt và chiếm một số lượng lớn nên chúng tôi tách cácquán ngữ rào đón ra thành một loại riêng Sự phân chia các quán ngữ đượctìm được thành hai loại vì thế chỉ có ý nghĩa tương đối 142 quán ngữ khảosát được trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi đã xácđịnh được 42 quán ngữ thực hiện chức năng rào đón và 100 quán ngữ thựchiện chức năng đưa đẩy
Trang 20Tiếp đến, dựa vào mục đích giao tiếp, 100 quán ngữ thực hiện chứcnăng đưa đẩy lại có thể phân loại thành những nhóm nhỏ hơn như: nhómquán ngữ đánh giá, nhóm quán ngữ giả định, nhóm quán ngữ phủ định-phản bác…
Dựa vào hiệu lực rào đón 42 quán ngữ thực hiện chức năng rào đónlại có thể phân loại thành các nhóm như: nhóm các quán ngữ thực hiệnphương châm về lượng, nhóm các quán ngữ thực hiện phương châm vềchất, nhóm các quán ngữ thực hiện phương châm quan hệ…
II.1.2.2 Kết quả phân loại
- Quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy (7 nhóm):
+ Nhóm các quán ngữ khơi mào
- Quán ngữ thực hiện chức năng rào đón (6 nhóm):
+ Nhóm các quán ngữ liên quan đến phương châm về lượng
+ Nhóm các quán ngữ liên quan đến phương châm về chất
+ Nhóm các quán ngữ liên quan đến phương châm quan hệ
+ Nhóm các quán ngữ liên quan đến phương châm cách thức
+ Nhóm các quán ngữ liên quan đến điều kiện sử dụng hay hiệu quảcủa hành động ở lời
+ Nhóm các quán ngữ rào đón lịch sự
II.1.3 Bảng số liệu thống kê phân loại
Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt đưa ra các bảng thống kê phân loạicác nhóm quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy và các nhóm quán ngữ
Trang 21thực hiện chức năng rào đón Với mỗi loại quán ngữ, trước khi đưa ra bảngthống kê cụ thể của từng nhóm, chúng tôi đưa ra bảng thống kê tổng hợp vềcác nhóm của loại quán ngữ đó Trong bảng đó chúng tôi nêu ra tổng sốquán ngữ, tổng số lần xuất hiện của các quán ngữ và tính tỉ lệ phần trăm về
số lần xuất hiện của các quán ngữ trong mỗi nhóm
Trang 22II.1.3.1 Bảng số liệu thống kê phân loại các quán ngữ đưa đẩy
stt Các Nhóm Quán ngữ
đưa đẩy Số lượng
Số lần xuất hiện tỉ lệ%
Trang 24II.1.3.1.2 Nhóm các quán ngữ đưa đẩy dùng để phỏng đoán – giả định: gồm 10 quán ngữ (chiếm 8,9%)
Trang 26xuất hiện Truyện số
Trang 275 Có anh biết đấy 1 18
1 Liên quan đến phương
5 Liên quan đến điều kiện
sử dụng hay hiệu quả của
Trang 29II.1.3.2.3 Nhóm các quán ngữ rào đón liên quan đến phương châm quan hệ (chiếm 25%)
12 Con hỏi câu này nếu
không phải cậu bỏngoài tai
Trang 302 Trước hết, xin ông
Trang 31II.1.3.2.5 Nhóm các quán ngữ rào đón liên quan đến điều kiện và hiệu quả sử dụng hành động ở lời (chiếm 7,8%)
xuất hiện Truyện số
2 Biết rằng bẩm ông câu ấy là
Trang 32của nhà văn; trong đó nhóm quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy xuấthiện nhiều hơn nhóm các quán ngữ rào đón.
Trong 7 nhóm quán ngữ đưa đẩy thì nhóm dùng với mục đích đánhgiá chiếm tỷ lệ lớn nhất (39,2 %) về cả số lượng quán ngữ (35/100) và sốlần xuất hiện (53/135) Tiếp đến là nhóm dùng với mục đích phủ định –phản bác (20/100); nhóm thừa nhận – chấp thuận (14/100); nhóm phỏngđoán – giả định (10/100); nhóm hỏi (7/100) và cuối cùng là nhóm cảnh báo– nhắc nhở (5/100)
Trong 6 nhóm quán ngữ thực hiện chức năng rào đón, nhóm liênquan đến phương châm về phép lịch sự chiếm số lượng lớn nhất (13/43); vàchiếm số lượng ít nhất là nhóm liên quan đến phương châm về lượng(3/43)
II.2 Phân tích vai trò của một số quán ngữ đưa đẩy và rào đón trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
II.2.1 Vai trò của các quán ngữ đưa đẩy
Các quán ngữ trong chức năng đưa đẩy có vai trò kiểm soát quá trìnhđối thoại, giúp cho cuộc hội thoại tiếp tục diễn ra Cùng một quán ngữnhưng trong từng hoàn cảnh giao tiếp khác nhau người nói nhằm tới mộtđích nhất định Chúng tôi tiến hành phân tích một số quán ngữ thực hiệnchức năng đưa đẩy và quán ngữ thực hiện chức năng rào đón trong truyệnngắn của Nguyễn Công Hoan đồng thời phân tích, đối chiếu một vài quánngữ xuất hiện trong những ngữ cảnh khác nhau để làm rõ tính đa giá trị củaquán ngữ Khi đưa các ví dụ để tạo không khí giao tiếp và thuận lợi choviệc phân tích, chúng tôi dẫn nguyên tên nhân vật Nhưng nếu nhân vậtkhông có tên hoặc trong trường hợp không cần thiết, chúng tôi dùng côngthức SP thay tên nhân vật
II.2.1.1 Các quán ngữ đưa đẩy dùng để đánh giá
Trong quá trình giao tiếp, nhân vật giao tiếp có lúc phải nhận xét, đánhgiá, bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề đang tranh luận hay đang được
Trang 33quan tâm Qua những lời đánh giá ấy nhân vật bộc lộ thái độ của mình đối vớinhững điều đang được nói tới hoặc đối với chính người đối thoại với mình.Quá trình giao tiếp nhờ vậy được duy trì cho tới khi đạt được đến đích.
Quán ngữ chả mấy khi
Quán ngữ chả mấy khi xuất hiện trong ngữ cảnh: việc xảy ra là hiếm
hoi, không thường xuyên Nói ra phát ngôn có quán ngữ này người nóimuốn níu kéo người đối thoại với mình và thuyết phục người đó làm theođiều mình đề nghị
Ví dụ 1: - Nào, mời cậu, chả mấy khi, ta hãy đánh chén đã! (21,tr.107)
Ví dụ 2: Ông Vạn Lợi ngạc nhiên, hỏi tôi: - ấy, chả mấy khi quan bác lên
chơi, xin mời quan bác xơi cơm với tiểu đệ, chứ quan bác về đâu?
(31,tr.172)
Trong cả hai ví dụ trên, người nói sử dụng quán ngữ chả mấy khi đều nhằm giữ người nghe ở lại ăn với mình Khi dùng quán ngữ chả mấy
khi, người nói tỏ ra rất quý mến người đối thoại Quan hệ giữa người nói và
người nghe trở nên thân thiết hơn
Quán ngữ chết nỗi
Quán ngữ chết nỗi thường dùng để đánh giá việc xảy ra là đáng sợ,
đáng ngạc nhiên Đó cũng là một cách ngăn cản nhẹ nhàng khi người nói
sợ người nghe mất lòng Quán ngữ này có khi được dùng để phân trần hoặc
để bày tỏ sự thông cảm
Ví dụ 1:
Bắc: - Mợ nói thế, tôi đau lòng quá Mợ phải hiểu cho rằng cái thai trongbụng mợ là đứa con sau này của đôi ta
Nguyệt: - Nếu cậu thương con cậu, thì mai, tôi xin giữ lại trao trả cậu
Bắc: - Chết nỗi! Tôi xin mợ
(14, tr.42)
Ví dụ 2:
Bạn Samandji: - Mời chị ngồi ghế đằng kia
Trang 34Vợ Samandji: - Được, ông cứ cho em đứng đây để được hầu khăn áo.
Bạn Samandji: - Chết nỗi, ở đây có kẻ nọ người kia, sao chị nói những câu
lạ lùng thế! Chị muốn điều gì?
(43, tr.280)Trong ví dụ 1, khi nghe Nguyệt nói “giữ lại trao trả” cái thai trong
bụng cho mình thì Bắc hoảng hồn lên Quán ngữ chết nỗi hàm ý đánh giá:
điều Nguyệt nói thật đáng sợ Đồng thời quán ngữ còn thể hiện thái độ ngạingần của Bắc Mặc dù lo sợ nhưng anh vẫn phải đưa đẩy, năn nỉ chứ khôngdám quát nạt Nguyệt
Trong ví dụ 2, người bạn của Samandji muốn giữ khoảng cách với
vợ bạn nhưng vợ Samandji lại tỏ ra sỗ sàng, lả lơi: “ông cứ cho em đứngđây để được hầu khăn áo” Vì chị ta là vợ bạn nên người bạn của Samandjikhông dám bộc lộ thái độ bất bình mặc dù chẳng hề bằng lòng Quán ngữ
chết nỗi đã biểu thị ý ngạc nhiên, khó chịu.
Trong cả hai ví dụ người nói đều sợ người nghe mất lòng nên phải dùngquán ngữ đưa đẩy này để ngăn chặn hành động mà mình không vừa ý
Quán ngữ hoài của
Quán ngữ hoài của dùng để tỏ ý tiếc nuối về một dịp may bị bỏ lỡ
hoặc một cái gì bị bỏ phí đi
Ví dụ1: Còn ông Nghị, hai mắt vẫn nhìn cái lưng nốt ruồi, nét mặt còn nhưtiếc món tiền tiêu vô ích khi nãy Một chốc, ông ra ý hối hận, nói với vợ:
- Bà ạ, hoài của, giá bớt hẳn năm xu, nó cũng phải chịu.
(15,tr.51)
Trong ví dụ này quán ngữ hoài của được dùng để mở đầu câu
chuyện đồng thời qua đó ông Nghị còn đánh giá việc ông không bớt năm
xu là đáng tiếc, lẽ ra ông phải bớt đi vì cái lưng đứa trẻ ông mua có nốtruồi
Ví dụ 2:
Trang 35SP1:- Nó khấn bao nhiêu?
SP2: - Nó khấn thầy quản một chục và đằng này năm đồng
SP1: - Hoài của! Thế mà thầy quản không nhận! Giá phải tớ, thì tội gì, tớ
nắm lấy xu tiêu rồi thả băng
(17, tr.57)Khi nghe SP2 nói “Nó khấn thầy quản một chục và đằng này năm
đồng”, SP1 tỏ ra tiếc nuối Quán ngữ hoài của hàm ý đánh giá: thầy quản
không nhận tiền khấn thì thật là phí Quán ngữ còn có tác dụng duy trì cuộc hộithoại SP1 có thái độ tiếp nhận phát ngôn của SP2, nhận xét về điều SP2 đưa ra
ở ví dụ này quán ngữ hoài của ngoài hàm ý đánh giá: đáng tiếc là
“người đẹp thế mà câm” còn có ý khích bác, giễu cợt Người nói cố ý gây
sự chú ý của người nghe, cố tìm cách để bắt chuyện
Quán ngữ thế là xong
Quán ngữ thế là xong biểu thị sự chấm dứt của một việc gì đó mà
người nói đang muốn duy trì Quán ngữ còn biểu thi thái độ tiếc nuối, chánchường, buông xuôi Tuy nhiên ở trường hợp nào đó cụm từ này khôngphải là quán ngữ Chẳng hạn khi ta làm xong một việc gì đó và vui mừng
thốt lên thế là xong thì cụm từ này không phải là quán ngữ Từ “xong”
trong trường hợp này biểu thị sự hoàn thành chấm dứt một quá trình
Ví dụ 1: - Chỉ có thế! Tóm lại!Thôi, ông đừng lí sự nữa Ông để yên cho tôinói Tôi cần nói dài Âu cũng là một bài học về nhà nghề Độc giả đang đói
Trang 36thời sự, sao ông không cho họ ăn dè! Ông nhồi nhét cả vào một kì, lại cònhẹn không đả động đến chuyện ấy nữa! Ông không biết tôi cố công nuôi cáitin này bao nhiêu ngày à? Thế mà đến hôm tôi đi vắng, ông giết chết nó!Sao ông không câu độc giả? Họ đang say lử về cái mồi của tôi, đến tay ông,ông thả buột đi mất! Sao ông không “còn nữa”, “còn nữa”, mãi một tin ấy!
Cứ như tôi, thì việc này, ít ra tôi cũng kéo được nửa tháng Mà hèn ra, mỗi
số cũng được ngót vạn tờ Vậy mà ông vụng đến nỗi chỉ in ra có một số,cuối bài đã chẳng hẹn hò độc giả xem tin thêm ở số sau, ông lại cao thượng
mà chẳng thèm nói nữa Bây giờ, thôi, thế là xong!
(20, tr.94)
Trong ví dụ này người nói nói ra quán ngữ thế là xong để đánh giá
việc mình cố công nuôi tin đã chấm dứt một cách đáng tiếc Người nói tỏ rachán chường, bất lực vì không thể cứu vãn tình thế
Ví dụ 2: - Em Xuân ạ! Cái thư báo hỉ người ấy viết cho anh anh không rõngười ấy vô tình hay cố ý để bắt anh phải đau đớn Anh lặng đi một phútrồi ngắm nghía mấy dòng chữ đề phong bì đến hàng giờ Than ôi! cũngnhững nét bút mềm mại này, trước kia viết cho anh thì anh được đọc biếtbao nhiêu chuyện vui vẻ, làm anh quên cái đời sầu khổ Mà đến bây giờ,
em ơi! Nó báo tin người ấy lấy chồng! Người anh yêu lấy chồng! Khốn nạn
thân anh! Thôi, thế là xong, Minh lấy chồng mất rồi, anh còn hy vọng gì
nữa
(51, tr.378)
Trong ví dụ này khi nói ra quán ngữ thế là xong người nói tỏ ý luyến
tiếc vì “Minh lấy chồng mất rồi” Mọi hy vọng của anh ta đã chấm dứt đểlại một sự trống vắng, hẫng hụt
II.2.1.2 Các quán ngữ đưa đẩy dùng để phỏng đoán – giả định
Trong giao tiếp đôi khi người nói phải đưa ra những điều mình chưachắc chắn những điều phỏng đoán hoặc đặt ra những giả định để duy trì
Trang 37cuộc hội thoại Những điều đó sẽ được đối phương tiếp nhận để khẳng địnhlại hoặc phủ định đi Cuộc hội thoại nhờ vậy được tiếp tục diễn ra.
Quán ngữ biết đâu
Quán ngữ biết đâu được dùng để phỏng đoán một cách dè dặt về một
điều gì đó mà người nói chưa chắc chắn
Ví dụ: Trưởng phố cười, lắc đầu:
SP1:- Tôi có sung sướng gì hơn anh đâu Anh em không có gạo, thìtôi cũng không có gạo, anh em bữa đói bữa no thì tôi cũng bữa đói bữa no.Nhưng, còn như anh em xui tôi vào xin quan cho họp chợ, thì thật tôi
không dám làm một việc vô ích Vì biết đâu, đây là quan ta thi hành một
lệnh trên
SP2: - Thế tại sao quan cấm chợ, ông cho chúng tôi biết
SP1: - Tôi cũng mập mờ như anh em mà thôi
(59, tr.496)SP1 không dám chắc chắn về điều mình chưa rõ nên đưa ra phỏng
đoán biết đâu đây là quan ta thi hành một mệnh lệnh trên Khi dùng quán ngữ biết đâu SP1 muốn trao đổi thêm chứ không dám khẳng định dứt
khoát SP2 phản ứng lại bởi vì nếu SP1 không biết rõ lí do quan cấm chợthì không thể thông báo tin này SP1 thanh minh “tôi cũng mập mờ như anh
em mà thôi”
Quán ngữ biết thế
Quán ngữ biết thế biểu thị một ước vọng, một giả định hành động
nào đó chưa xảy ra trong thực tế
Ví dụ: Sp1: - Trong bếp đói quá, thở rất độc Anh nên cho thằngcháu lên nhà trên
SP2: - Mặc kệ, bảo mãi chẳng nghe Biết thế, tôi không cho về đây
lại xong Vì về đây, mà cả ngày chúi xuống bếp, thì cũng thế
(76, tr.665)
Trang 38SP2 tỏ ra hối hận về việc đã xảy ra Trong trường hợp này quán ngữ
biết thế có tác dụng duy trì cuộc đối thoại SP1 khuyên SP2 “nên cho thằng
cháu lên nhà” nhưng SP2 không làm được vì “bảo mãi chẳng nghe” SP2
đã bày tỏ nỗi chán chường của mình với SP1: “biết thế, tôi không cho vềđây lại xong” Quán ngữ “biết thế” cho thấy SP1 hối hận và ước rằng việc
“cho về” không xảy ra
Quán ngữ không biết chừng
Quán ngữ không biết chừng dùng để phỏng đoán một cách dè dặt, không
Quán ngữ không biết chừng trong trường hợp này hàm ý phỏng đoán
“báo đóng cửa lúc nào” Ngoài ra nó còn mang sắc thái đe dọa, cảnh cáo vìSP1 ở vị thế xã hội cao hơn SP2
Ví dụ 2:
SP1:- Chúng tao tưởng mày có lương của nhà nước, lại có những tác phẩmxuất bản luôn luôn, thì mát mặt hơn chúng tao mới phải
SP2:- Đành vậy Nhưng nếu tao không làm văn sĩ Có lẽ tao giàu to rồi,
không biết chừng Đằng này, tuy có tiền nọ tiền kia mà tao cứ lúng túng
thế nào ấy…
(77, tr.666)Trong trường hợp này, SP1 và SP2 ngang hàng nhau về vị thế xã hội
SP1 đang giễu cợt SP2, còn SP2 thanh minh Quán ngữ không biết chừng
ngoài ý phỏng đoán “tao giàu to rồi” còn mang sắc thái hài hước
Trang 39II.2.1.3 Các quán ngữ đưa đẩy dùng để phủ định- phản bác
Trong cuộc hội thoại, đôi khi để bày tỏ chính kiến của mình, ngườinói phải phủ định- phản bác ý kiến của đối phương Các quán ngữ đưa đẩydùng để phủ định – phản bác ngoài vai trò phủ định- phản bác còn có vaitrò duy trì cuộc thoại Thông qua tranh luận các nhân vật giao tiếp đi tớiđích của cuộc thoại Chúng tôi sẽ phân tích một số quán ngữ để làm rõ vaitrò này
Quán ngữ đời nào
Quán ngữ đời nào dùng để phủ định dứt khoát điều mà người đối
thoại có vẻ nửa tin, nửa ngờ và khẳng định là không thể xảy ra được vì vôlý
Ví dụ 1:
SP1: - Về Rồng đi xa ốm lên ấy! Từ ga Gia Lâm kéo bộ theo đường đê thìnắng chết người! Mà làng Rồng cũng về huyện Văn Giang của ông ấy.SP2: - Nhưng trong khi ông ấy lên đây, mày đi Văn Giang, mày còn sợ gì
Vả lại ông ấy là phụ mẫu dân Văn Giang, đời nào ông ấy thèm trêu ghẹo
mày ở hạt ông ấy cai trị
(58, tr.490)
Trong ví dụ trên SP2 sử dụng quán ngữ đời nào để phủ định điều làm SP1 lo ngại “Đời nào ông ấy thèm trêu ghẹo mày ở hạt ông ấy cai trị”.
SP1 khẳng định một cách dứt khoát rằng điều đó không thể xảy ra vì “ông
ấy là phụ mẫu dân Văn Giang” Qua đó Sp1 động viên SP2, giúp cho SP2yên tâm hơn
Ví dụ 2: Trần giơ nắm tay dọa vào mặt Nguyễn:
- Mày dại như con cầy! Nhận được thư thằng chủ nợ, sao mày không
xé mẹ nó đi, còn đọc làm đếch gì cho nó bận tâm? Một là nó chửi mày, hai
là nó dọa bỏ tù mày, chứ có đời nào nó lạy van mày để xin xí xóa nợ cho
mày đâu?
(77, tr.667)
Trang 40Trong ví dụ trên Trần dùng quán ngữ đời nào để phủ định dứt khoát
điều vô lí “nó lạy van mày để xin xí xóa nợ cho mày”- điều đó không baogiờ xảy ra Trần đã giúp Nguyễn tỉnh ngộ, không còn hi vọng vào một điều
phi thực tế Quán ngữ đời nào trong trường hợp này mang sắc thái châm
biếm
Quán ngữ dạy quá, dạy quá lời
Quán ngữ dạy quá hay dạy quá lời thường dùng để phủ định điều đối
phương nói ra một cách lịch sự
Ví dụ 1:
SP1: - Lạy cụ, chúng con thành tâm tết cụ
SP2: - Sao ông cho luôn mà bận nào cũng hậu thế?
SP1: - Bẩm không dám, cụ tác thành cho cháu, con tưởng thế này là cònbạc lắm
SP2: - Ông dạy quá, công tôi bảo anh ấy thì ít, mà tài anh ấy thực là cao.
Xưa nay tôi chưa thấy ai học hay chữ đến như thế Chắc phen này đỗ thủkhoa Song tôi với ông, chẳng lẽ tôi lại từ, thế nào cũng xin mời ông ở lạixem thi đã
(12, tr.11)Trong ví dụ này, Sp1 ở một vị thế thấp hơn SP2 Nhưng khi ngheSP1 đề cao công lao của mình SP2 không nhận, SP2 đã chối từ, phủ nhận
điều SP1 nói ra bằng quán ngữ dạy quá Trong trường hợp này quán ngữ
dạy quá thể hiện sự khiêm tốn.
Ví dụ 2:
SP1: - Lạy cụ lớn, tiện sĩ tài hèn, sức yếu, biết có làm được không
SP2: - Anh không nói thì cái tài anh, đức anh, ta đã biết hết rồi Con tamười phần không đậu được một
SP1: - Lạy cụ lớn, ngài dạy quá lời, con nhiều khi được trộm xem văn của
công tử, thì tài con thực đại bất cập
(12, tr.17)