Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Tên đề tài: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH QUA HỆ THỐNG
CÂU HỎI DẠY HỌC VĂN BẢN.
- Họ và tên tác giả: NGUYỄN THỊ THU PHƯỢNG
- Đơn vị công tác: Trường THCS Ninh Điền.
1 Lý do chọn đề tài:
- Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các tài liệu, điều tra, đưa ra giải pháp vàtiến hành giảng dạy thí điểm, sau đó đánh giá, rút ra kinh nghiệm cho bản thân
3 Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Học sinh chủ động, tích cực thu nhận tri thức
- Gây hứng thú, say mê học văn
4 Hiệu quả áp dụng:
Qua thời gian nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp và rút kinhnghiệm về phương pháp dạy học văn bản THCS thì kết quả cho thấy chất lượng học tậpcủa học sinh được nâng lên đáng kể
Trang 2Lời Giới Thiệu
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề được đề cập và bàn luận từ rất lâu Các nhà nghiên cứu đã không ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới về hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông để đưa nền giáo dục nước ta ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá.
Những năm gần đây, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã đưa vào thực hiện trong phạm vi cả nước Phương pháp dạy học được thống nhất theo quan điểm
“Tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, dưới sự lãnh đạo, tổ chức điều hành của giáo viên”.
Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở bậc THCS thì giáo viên được tham khảo, nghiên cứu tài liệu của Bộ, Ngành, được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn bồi dưỡng thay sách giáo khoa ngắn hạn và được tổ chuyên môn mở các chuyên đề về dạy học phương pháp mới trong các môn học Nên bản thân cũng rút ra được kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp dạy học mới, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót.
Dù sao đây cũng là tiến hiệu tốt của nền giáo dục nước nhà, nó đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển con người mới trong thời đại mới Đổi mới phương pháp dạy học nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo Phương pháp này giúp học sinh phát triển khả năng tự giải quyết được vấn đề, tự rèn luyện thái độ tình cảm cho bạn thân đồng thời tạo niềm say mê, hứng thú học văn của học sinh
Đây cũng chính là nhiệm vụ của phương pháp dạy học mới và chương trình sách giáo khoa mới mang lại.
Trang 3Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
- Sau nhiều năm thực hiện chương trình mới: sách giáo khoa mới, phương phápdạy học mới Bản thân đã triệt để vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt các thao tác vàphương pháp mới trong từng bài học, lớp học và tiết học Bản thân luôn phấn đấu thựchiện tốt mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo trong việctìm tòi, nghiên cứu và giải quyết vấn đề
- Về học sinh cũng đã quen với cách học mới, các em đã mạnh dạn, chủ độnghơn trong hoạt động học của mình: Các em ý thức được mục đích của việc học, có sựchuẩn bị bài tốt ở nhà, biết cách ghi chép và lĩnh hội tri thức qua sự tổ chức và hướngdẫn của giáo viên
- Để phát huy hơn nữa kết quả đã đạt được trong những năm học vừa qua vàkhắc phục những hạn chế, thiếu sót trong việc dạy học theo định hướng phát huy tínhtích cực của học sinh Được sự quan tâm cho phép của Ban giám hiệu trường THCSNinh Điền Tôi mạnh dạn tiến hành làm sáng kiến kinh nghiệm “Phát huy tính tích cựccủa học sinh qua hệ thống câu hỏi dạy- học văn bản”
Sáng kiến này với tư cách là tham khảo rút kinh nghiệm nên rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, của Ban giám hiệu trường và cán bộ chỉđạo
2 Nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi của đề tài
a) Nhiệm vụ:
- Tìm ra một phương pháp giảng dạy khoa học, có hiệu quả nhất, phát huy đượctính chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh, đảm bảo nguyeõn taộc laỏy Học sinhlàm trung tâm trong tất cả các giờ học
- Góp phần phát triển năng lực văn học của học sinh, qua đó giúp các em hìnhthành và phát triển nhân cách
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Tham khảo tài liệu
- Ứng dụng thực tế
- Điều tra
Trang 4Phần II NỘI DUNG
1 Lý luận chung
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người học được xem là chủ thể số một củahoạt động dạy học là quan niệm cơ bản của lý luận và phương pháp dạy học hiện đại.Trong phương pháp mới người giáo viên phải biết định hướng cho học sinh tự mìnhchiếm lĩnh kiến thức thông qua tổ chức hướng dẫn hoạt động của một giờ dạy Đó là sựthay đổi căn bản trong quan niệm về vai trò của người dạy và người học theo tinh thầnđổi mới Chính vì thế giáo viên phải có sự chuẩn bị thật tốt khi thiết kế giáo án, sự chuẩn
bị đó có thể cụ thể bằng mô hình sau:
* SƠ ĐỒ VỀ QUY TRÌNH SOẠN GIẢNG CỦA GIÁO VIÊN
Nghiên cứu SGK – SGK – Tài liệuSưu tầm – chuẩn bị đồ dùng dạy học
Xác định mục tiêu cần đạt( Kiến thức, kỹ năng, thái độ)Xác định phương pháp dạy họcPhác thảo quá trình dạy họcXây dựng hệ thống câu hỏi
Chuẩn
bị
ở
nhà
Trang 5Để giờ dạy văn thực sự có hiệu quả và chất lượng là giờ văn gây hứng thú say
mê cho học sinh Muốn vậy, giáo viên phải khéo léo đưa ra những vấn đề, những tìnhhuống thú vị để dẫn dắt học sinh Các tình huống ấy, các vấn đề ấy được thể hiện chủyếu dưới dạng các câu hỏi Bằng hệ thông câu hỏi, giáo viên sẽ tạo được một hệ thốngviệc làm giúp học sinh thi công bài học của mình đồng thời khi học sinh làm việc theo
hệ thống câu hỏi, các em tự mình bày tỏ chủ kiến, cảm xúc của mình Do đó đây là yêucầu có tính hai mặt: vừa là hoạt động thiết kế cụ thể của thầy, lấy đó làm phương tiện để
tổ chức hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh tác phẩm vừa là hoạt độngcủa trò lấy đó để học, để tự bộc lộ năng lực cảm xúc và tư duy của mình trong tiếp cậntác phẩm Hệ thống câu hỏi này là cách đề cao vai trò thiết kế của giáo viên trong việcsáng tạo hệ thống câu hỏi và chức năng tự học của học trò Vì vậy, thiết kế hệ thống câuhỏi là điều kiện tiên quyết, cơ bản để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh tronghọc tập, làm cho giáo án môn văn có cấu trúc song hành - hô ứng giữa hoạt động củahai chủ thể trong một bài học, tránh được tình trạng đọc - chép và thuyết giảng mộtchiều của lối dạy theo phương pháp truyền thống
Từ sau lần thay sách 1986 cho đến chương trình đổi mới hiện nay các phươngpháp dạy - học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh đã được nhận thức,quán triệt và đã trở thành quan niệm chủ đạo cũng như việc làm thường trực của giáoviên đứng lớp Điều này đã luôn được xác định là khâu trọng tâm, cơ bản của hoạt độngdạy học ở nhà trường THCS Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nó vẫn bộc lộ nhiềuđiều bất cập cũng như lúng túng Vì thế mà hiệu quả, chất lượng của một giờ dạy- họcvăn vẫn chưa cao
Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy:
Định hướng bài dạy
Tổ chức học sinh nhận thức bài dạy( bằng hệ thống câu hỏi)
Hoạt
động
ở lớp
Điều chỉnh
Phát triển
Kết luậnbài
Dặn
Trang 6+ Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trênthực tế chưa thực sự được chú trọng đúng mức , vẫn còn tình trạng đọc- chép và diễngiảng, truyền thụ một chiều mang tính áp đặt do giáo viên ngại khó, chưa thật sự đầu tưthời gian, công sức vào hệ thống câu hỏi
+ Câu hỏi trong giờ dạy văn để dẫn dắt định hướng gợi mở cho học sinh cònchưa thật phong phú, thiếu tính hệ thống, chưa phù hợp với các loại đối tượng học sinh.Các câu hỏi chủ yếu nặng về câu hỏi phát hiện, còn thiếu loại câu hỏi nâng cao, câu hỏigiảng bình, chưa sử dụng một cách linh hoạt, chính xác các loại câu hỏi cho phù hợp vớinội dung khác nhau của bài giảng
+ Có tình trạng rơi vào hỏi đáp liên miên, giờ dạy chỉ còn hỏi và đáp vớinhững câu hỏi quá vụn vặt, phá vỡ hệ thống lôgíc của bài giảng khiến cho quá trình tiếpthu tri thức của học sinh không có một định hướng rõ rệt
Tất cả những điều đó đã tạo nên những quan niệm, những cách làm ngược xuôikhông giống nhau, thành thử việc đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng tích cực
đã bộc lộ nhiều hạn chế Với thực trạng đó xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học văn
là một vấn đề bức xúc đặt ra với mỗi giáo viên đứng lớp
2 Giải pháp thực hiện
Để nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học văn, theo tôi cần phải đầu tư thời giancông sức thích đáng để thiết kế hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực chủ độngcủa học sinh, để thiết kế hệ thống câu hỏi thực sự có hiệu quả, giáo viên phải nắm vữngcác vấn đề sau :
a Các loại câu hỏi
Câu hỏi trong một giờ dạy học văn là rất đa dạng, phong phú Có câu hỏicảm nhận, có câu hỏi tái hiện, có câu hỏi tổng hợp khái quát, câu hỏi cụ thể chi tiết, cócâu hỏi phát hiện, câu hỏi phân tích, câu hỏi đối chiếu so sánh, câu hỏi gợi mở, câu hỏi
về kiến thức cơ bản, câu hỏi nên vấn đề … Đối với từng phần nội dung của bài học, đốivới từng đối tượng học sinh giáo viên cần phải sử dụng một cách linh hoạt để học sinhcùng làm việc một cách tích cực, chủ động tạo không không khí hào hứng sôi nổi tronglớp học, tránh tình trạng chỉ sử dụng một loại câu hỏi vừa đơn điệu,vừa tẻ nhạt, vừakhông kích thích hứng thú học tập của các em Hiện nay, phần lớn câu hỏi trong giờgiảng văn thường chỉ tập trung ở dạng câu hỏi : câu hỏi phát hiện, thường loại câu hỏigợi mở, câu hỏi khái quát tổng hợp, câu hỏi phân tích giảng bình còn ít được sử dụng
b Yêu cầu của thiết kế hệ thống câu hỏi
Các câu hỏi phải đảm bảo nội dung kiến thức yêu cầu của bài học Hệ thốngcâu hỏi phải bám sát mục đích yêu cầu và kiến thức trọng tâm bài học Nếu bám sát mụcđích yêu cầu và kiến thức trọng tâm thì hệ thống câu hỏi thiết kế sẽ đúng hướng, vận
Trang 7hành một giờ văn sẽ có hiệu quả Xa rời yêu cầu của bài học, hệ thống câu hỏi sẽ thừathải, chông chênh, vô nghĩa dẫn học sinh xa rời tác phẩm.
Câu hỏi phải có tính hệ thống , các câu hỏi trong bài dạy học văn phải đảmbảo trình tự hợp lý khoa học Cả bài học là một hệ thống không rời rạc, chắp vá, gặp đâuhỏi đó Muốn làm tốt được việc này, giáo viên phải xác định được bố cục bài giảng mộtcách rõ ràng, các câu hỏi sẽ đi theo bố cục ấy Nhìn vào hệ thống câu hỏi người ta cóthể hình dung được nội dung tác phẩm, kiến thức trọng tâm , con đường cảm thụ vănchương của thầy và trò như thế nào? Cần tránh những câu hỏi quá vụn vặt, quá chi tiết
sẽ phá vỡ tính hệ thống Các câu hỏi chỉ phát huy được ý nghĩa, sức mạnh khi được đặttrong hệ thống
Câu hỏi phải có vấn đề Câu hỏi cần phải được hiểu là một loại bài tập đểtạo dựng những tình huống có vấn đề buộc học sinh phải suy nghĩ, động não để chủđộng trong việc tiếp thu tri thức Các câu hỏi phải lần lượt bóc tách từng phần nội dungkiến thức của bài học Tránh những câu hỏi lan man, vô nghĩa, hỏi mà không có vấn đề,không có tình huống để giải quyết
Câu hỏi phải phong phú phù hợp với đối tượng học sinh Các câu hỏi phải
đa dạng đầy đủ chủng loại: có câu hỏi khó, có câu hỏi dễ, có câu hỏi cụ thể chi tiết, cócâu hỏi tổng hợp khái quát … để đối tượng học sinh nào cũng có cơ hội được làm việc,được trả lời Tránh tình trạng chỉ dồn vào một số em học sinh khá giỏi Trong giờ văn đểhọc sinh làm việc có hiệu quả, giáo viên phải lường trước được các tình huống xảy ra.Nếu học sinh không trả lời được, hoặc trả lời không đúng hướng thì giáo viên phải sửdụng một loạt câu hỏi phụ để gợi mở Loại câu hỏi gợi mở này tuỳ thuộc vào bản lĩnhứng xử của giáo viên trong từng tình huống cụ thể.Với loại câu hỏi này giáo viên phảihết sức chủ động linh hoạt, phải nắm vững vấn đề và xử lý nhanh, nhạy
c Thiết kế hệ thống câu hỏi cho một số bài giảng
Tôi xin giới thiệu ba kiểu bài đại diện cho ba loại văn bản: tự sự, trữ tình
và ký để các bạn cùng tham khảo
BÀI 1: TRONG LÒNG MẸ
1 Hồi ký là một thể văn được dùng để ghi
lại những chuyện có thật đã xảy ra trong cuộc
đời một con người cụ thể, thường đó là tác
giả Theo di văn bản Trong lòng mẹ, cho biết:
a Chuyện gì đựơc kể trong hồi kí này?
1
a Chuyện bé Hồng là đứa trẻ mồ côicha bị hắt hủi vẫn một lòng yêu thương,
Trang 8b Nhân vật chính của hồi kí này là ai?
c Quan hệ giữa nhân vật chính với tác giả
cần được hiểu như thế nào?
2 Trong hồi kí này, tác giả sử dụng phương
thức tự sự kết hợp với biểu cảm Theo em,
sức truyền cảm của văn bản này phụ thuộc
vào một phương thức nổi bật nào hay phụ
thuộc vào sự đan xen của cả hai phương thức
c Những đồng cảm sâu sắc của em được gợi
lên từ sự việc nào?
4 Theo di phần đầu văn bản Trong lòng mẹ.
Hãy cho biết:
a Cảnh ngộ của bé Hồng có gì đặc biệt?
b Cảnh ngộ ấy tạo nên thân phận bé Hồng
như thế nào?
5 Theo di cuộc đối thoại giữa người cô và
bé Hồng, hãy cho biết:
a Nhân vật “cô tôi” có quan hệ như thế nào
với bé Hồng?
b Nhân vật người cô hiện lên qua các chi
tiết, lời nói điển hình Hãy liệt kê những chi
kính mến người mẹ đáng thương củamình
2 Phụ thuộc vào cả hai phương thức: tự
sự và biểu cảm Một câu truyện về sốphận éo le của bé Hồng và mẹ em, cùngvới những cảm xúc mãnh liệt của tìnhyêu thương trong tâm hồn chú bé
3
a – Bé Hồng bị hắt hủi
- Bé Hồng gặp được mẹ khi mẹ vềthăm
b – Sự việc thứ nhất được kể trong đoạn văn từ đầu đến người ta hỏi đến chứ.
- Sự việc thứ hai đựơc kể trong phầncòn lại của văn bản
c (HS tự bộc lộ)
4
a Mồ côi cha, mẹ do nghèo túng phảitha hương cầu thực Hai anh em Hồngsống nhờ người cô ruột, không được yêuthương, còn bị hắt hủi
b Cô độc, đau khổ, luôn khao khát tìnhthương của mẹ
5
a Quan hệ ruột thịt(là cô ruột của béHồng)
b (HS xem SGK)
Trang 9tiết này?
c Vì sao bé Hồng cảm nhận trong lời nói đó
những ý nghĩa cay độc, những rắp tâm tanh
a Hãy tìm những chi tiết bộc lộ cảm nghĩ
của bé Hồng đối với người cô?
b Ơ đây, phương thức biểu đạt nào được
vận dụng? Tác dụng của phương thức biểu
đạt này?
c Có thể hiểu gì về bé Hồng từ trạng thái
tâm hồn đó của em?
d Cảm xúc của em khi đọc những tâm sự đó
của bé Hồng
7 Khi kể về cuộc đối thoại của người cô với
bé Hồng, tác giả đã sử dụng nghệ thuật tương
phản
a Hãy chỉ ra phép tương phản này
b Nhận xét về ý nghĩa của phép tương phản
đó
8 Theo di phần thứ 2 của văn bản Trong
lòng mẹ Hãy cho biết:
a Hình ảnh người mẹ của bé Hồng hiện lên
trong các chi tiết nào?
b Ơ đây, nhân vật người mẹ đựơc kể qua cái
nhìn và cảm xúc tràn ngập yêu thương của
c Vì trong những lời nói của người côchứa đựng sự giả dối, mỉa mai, hắthủi thậm chí độc ác dành cho người
mẹ đáng thương của bé Hồng
d Hẹp hòi, tàn nhẫn
e (HS tự bộc lộ)6
- Căm hờn cái xâu xa, độc ác
- Khẳng định tình mẫu tử trong sáng,cao cả của bé Hồng
8
a (HS xem SGK)
b – Hình ảnh người mẹ hiện lên cụ thể,sinh động, gần gũi, hoàn hảo
Trang 10người con Điều đó có tác dụng gì?
c Từ đó, bé Hồng đã có một người mẹ như
thế nào?
9 Trong phần văn bản này, tình yêu thương
mẹ của bé Hồng đựơc trực tiếp bộc lộ
a Đâu là những biểu hiện cụ thể của tình
yêu thương này?
b Theo em, biểu hiện nào thấm thía nhất
tình mẫu tử ở bé Hồng?
c Nhận xét về phương thức biểu đạt của
những đoạn văn trên và tác dụng của phương
thức biểu đạt đó?
d Cảm nghĩ của em về nhân vât bé Hồng từ
những biểu hiện tình cảm đó
10.Em đọc được Trong lòng mẹ một con
người như thế nào (qua hình ảnh bé Hồng)?
11.Nhân vật bé Hồng ở Trong lòng mẹ có thể
gợi cho người đọc nhiều suy tư về số phận
con người
- Đó là một nạn nhân đáng thương của
nghèo đói và cổ tục hẹp hịi
- Đó là một số phận đau khổ và bất hạnh
- Đó là một số phận đau khổ nhưng không
hoàn toàn bất hạnh
- Đó là một đứa trẻ biết vượt lên tủi cực,
đau khổ bởi tình yêu trong sáng dành cho mẹ
Em cảm nhận theo ý nghĩa nào?
12.Có thể đọc thấy từ văn bản Trong lòng mẹ
bài ca thiêng liêng của tình mẫu tử
Em có đồng cảm với nhận xét này không? Vì
d – Nội tâm sâu sắc
- Yêu mẹ mãnh liệt
- Khao khát yêu mẹ
10.(Thảo luận nhóm trả lời)
- Đó là một thân phận đau khổ, nhưng
có tình yêu thương vá lòng tin bền bỉ,mãnh liệt dành cho mẹ
- Đó là một đứa trẻ trong tủi cực, côđơn luôn khao khát được yêu thương bởitấm lòng người mẹ
11 (HS tự bộc lộ)
12 (HS tự bộc lộ)
Trang 11BÀI 2: QUA ĐÈO NGANG :
Hoạt động của thầy
1 Qua việc tìm hiểu tác giả ở phần chú thích
em hãy nêu một vài nét tiêu biểu về Bà
Huyện Thanh Quan?
2.Bài thơ được tác giả sáng tác trong hoàn
cảnh nào?
3.Quan sát chú thích (SGK) để chỉ ra luật
chính của thể thơ TNBC ?
4.Từ đó em hãy xác định thể thơ của bài thơ
“Qua đèo Ngang” ?
5.Về bố cục , một bài thơ TNBC có bốn
phần, tương đương với bốn cặp thơ, mỗi cặp
hai câu, gọi theo thứ tự : Đề, thực, luận, kết
Hãy chỉ ra bố cục của bài thơ ?
6.Cảnh tượng Đèo Ngang như thế nào ?
7.Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở
thời điểm nào trong ngày ?
8.Thời điểm này thường gợi cảm giác gì ?
9.Hoành Sơn một dãy, vốn có cái hùng vĩ
của nó nhưng bà Huyện Thanh Quan đã cảm
nhận cảnh (Hoành Sơn) Đèo Ngang như thế
nào?
10.Cảnh Đèo Ngang được gợi tả bằng
những chi tiết nào?
11.Với 5 sự vật đó được tác giả miêu tả
trong trạng thái như thế nào?
12 Em hiểu nghĩa của từ chen là thế nào ?
13 Sự lặp lại từ chen trong lời thơ này có
sức gợi tả một cảnh tượng thiên nhiên như
Hoạt động của trò
1.Học sinh dựa vào SGK (phần chú thích) trình bày những điểm cơ bản về tác giả ,các em khác theo dõi ,nhận xét,
bổ sung
2 Học sinh dựa vào phần chú thích trong SGK để trình bày, giáo viên nhận xét bổ sung
3 Một bài thơ có tám câu, mỗi câu 7 chữ,vần gieo ở tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 ; đối ở các câu 3,4 và câu 5,6
4 Thể thơ : Thất ngôn bát cú
5 Bố cục : 4 phần: đề, thực, luận, kết-Đề : câu 1, 2
-Thực : câu 3, 4-Luận : câu 5,6-Kết: câu 7, 8
6 Học sinh đọc câu 1, 2
7 Bóng xế tà : Buối chiều tàn , nắng nhạt và sắp tắt
8.Cảm giác buồn ( Hoc sinh liên hệ những câu ca dao có nội dung biểu đạt tâm trạng buồn )9.-Không gian :Đèo Ngang gợi lên hình ảnh một vùng núi non hiểm trở , nằm ngang trên đường từ Bắc vào Nam -Thời gian : nơi núi non hiểm trở ấy càng trở nên hoang vu, buồn vắng vào lúc chiều tà bóng xế
10 Cỏ, cây, đá, lá, hoa -> bức tranh thiên nhiên với 5 sự vật
11.Chúng chen lấn nhau
12.Chen : lẫn vào nhau, xâm lấn nhau, không ra hàng lối
13.Sự lặp lại từ :Chen -> Rậm rạp,
Trang 12thế nào ?
14 Như thế phần đề của bài thơ gợi hình
ảnh một Đèo Ngang như thế nào?
15.Theo dõi phần thực của bài thơ em hãy
cho biết có nét bổ sung nào trong chi tiết
cảnh ? ngôn ngữ tượng hình nào xuất hiện ?
sức gợi tả của các từ láy lom khom và lác
đác trong lời thơ trên ?
16.Nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của hai
câu thực ?Tác dụng ?
17.Phần thực của bài thơ đã tả thực sự sống
Đèo Ngang Nhưng đó là sự sống như thế
nào ?
18.Hai câu thực tả cảnh nhưng đã hé mở
trạng thái tâm hồn nào của nhà thơ ?
19 Ta hiểu gì về hai loại chim quốc và chim
đa đa ?
20.Phân tích nghệ thuật ở hai câu luận ? Bên
cạnh hình ảnh gợi tả thì ở nơi hoang vu ấy
còn vang lên những âm thanh nào ?Phân
tích tác dụng biểu cảm của những âm thanh
này ?
21 Nghe tiếng cuốc kêu gợi nhớ điều gì ?
Nghe tiếng đa đa kêu gợi nỗi niềm gì?
22.Tại sao nghe tiếng cuốc, tiếng đa đa kêu
lại gợi lên nỗi nhớ nước, thương nhà của bà?
23.Theo em những điển tích, truyền thuyết ở
trong bài này có ý nghĩa gì trong việc diễn tả
tâm trạng của bà Huyện Thanh Quan ?
hoang sơ , thiếu dấu chân con người 14.Cảnh vật hoang sơ, vắng lặng
15.-Con người : Tiều vài chú -nhà : Chợ mấy nhà
-Lom khom dưới núi(gợi hình ) -Lác đác bên sông (gợi tả)
của người tiều phu giữa núi rừng rậm rạp đồng thời gợi sự ít ỏi thưa thớt …16.Đảo ngữ, đối -> nhấn mạnh ý gợi tả trên
17 –Ít ỏi , thưa thớt, hoang sơ
18 Nỗi buồn man mác của lòng người trước cảnh tượng hoang sơ, xa lạ 19.Học sinh dựa vào phần chú thích SGK trả lời
20.(Học sinh thảo luận nhóm )-Phép chơi chữ :quốc quốc/ chim cuốc cuốc ; gia gia/ chim đa đa
-Phép đối ở câu luận
niềm nhớ thương, đau buồn của lòng người càng thêm da diết
-Am thanh đó là tiếng chim đa đa và tiếng cuốc kêu -> càng làm tăng thêm sựkhắc khoải trong lòng nhà thơ nên càng gợi thêm cái hắt hiu, buồn vắng
21 Các âm thanh đó gợi nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của bà Huyện Thanh Quan
22.Học sinh dựa vào phần chú thích về điển tích và truyền thuyết (SGK) để trìnhbày
23 Bà Huyện Thanh Quan đau lòng vì những biến thiên của xã hội, kín đáo gợi nhớ nỗi tiếc nuối một thời vàng son rực
rỡ đã qua -> Tâm trạng hoài cổ