1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)

109 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp như: tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách quy định của Nhà nước …Hoặc các yếu tố đó có thể xuất phát từ bản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ THỊ TUYẾT HẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN

SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ THỊ TUYẾT HẰNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN

SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Võ Thị Tuyết Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 2

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4.Phương pháp nghiên cứu: 3

5.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

6.Bố cục của luận văn: 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG NGÀNH XÂY DỰNG 11

1.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH 11

1.1.1 Khái niệm: 11

1.1.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp 12

1.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 13

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp 20

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XÂY DỰNG 28

1.2.1 Tính chất ngành Xây dựng 28

1.2.2 Đặc điểm hoạt động của ngành Xây dựng trong thời gian gần đây 30 1.2.3 Tình hình phát triển của ngành Xây dựng trong thời gian 2010-2013 35

KẾT LUẬN CHUƠNG 1 39

Trang 5

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40

2.1 XÁC ĐỊNH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT 40

2.2 ĐO LƯỜNG VÀ MÃ HOÁ CÁC BIẾN 46

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

2.3.1 Mẫu nghiên cứu: 48

2.3.2 Kiểm tra và xử lý dữ liệu: 48

2.3.3 Xây dựng hệ số tương quan 55

2.3.5 Mô hình nghiên cứu 55

KẾT LUẬN CHUƠNG 2 59

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60

3.1 ĐẶC TRƯNG CỦA HQKD VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 60

3.1.1 Đặc trưng HQKD 60

3.1.2 Đặc trưng của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 61

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH: 66

3.2.1 Phân tích hệ số tương quan 66

3.2.2 Mô hình hồi quy 66

3.2.3 Kiểm định Hausman 69

3.3 KẾT LUẬN 71

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 73

KẾT LUẬN CHUƠNG 3 80

KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DN Doanh nghiệp

DT Doanh thu HQKD Hiệu quả kinh doanh VCSH Vốn chủ sở hữu WACC Chi phí vốn bình quân gia quyền

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.2 Biểu đồ giá trị sản xuất ngành Xây dựng 30

Hình 1.3 Biểu đồ giá trị sản xuất Xây dựng theo công trình xây

PL5

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng so sánh chi phí xây dựng tại Việt Nam và cá nước

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp đo lường và mã hoá các biến 47

Bảng 3.2 Thống kê dữ liệu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 61

Bảng 3.4 Thống kê dữ liệu tỷ lệ nợ ngắn hạn 62

Bảng 3.7 Thống kê dữ liệu tỷ trọng tài sản cố định 64 Bảng 3.8 Thống kê dữ liệu tốc độ tăng trưởng doanh thu 64 Bảng 3.9 Thống kê dữ liệu tốc độ tăng trưởng tài sản 65 Bảng 3.10 Thống kê dữ liệu tốc độ kỳ thu tiền bình quân 65

Bảng 3.14 Kết quả mô hình REMsau khi loại biến không ảnh

Bảng 3.15 Tỏng kết kết quả

Trang 9

Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp bình

Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp FEM PL7 Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp REM PL8

Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp REM sau khi loại bỏ các nhân tố không ảnh hưởng PL10

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp phải đáp ứng tối đa nhu cầu về hàng hóa – dịch vụ của xã hội trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được nhiều lợi nhuận nhất Đảm bảo được điều đó, doanh nghiệp luôn cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Nó cũng phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của các doanh nghiệp

Có rất nhiều các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp như: tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách quy định của Nhà nước

…Hoặc các yếu tố đó có thể xuất phát từ bản thân nội tại của doanh nghiệp như: năng lực tài chính, việc huy động và sử dụng vốn, công nghệ, con người, cách thức quản lý … Và tùy theo từng ngành nghề kinh doanh mà các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành khác nhau thì chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động khác nhau Để có những quyết định đúng đắn các nhà quản lý cần phải nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của mình

Ngành Xây dựng suốt nửa thế kỷ qua đã nổ lực để khẳng định vị trí của một nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng vốn là ngành nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh

tế vĩ mô, vì vậy làm thế nào để duy trì HQKD là vấn đề cần nghiên cứu kỹ của các nhà quản lý doanh nghiệp Xây dựng

Trang 11

Từ năm 2010 đến nay là giai đoạn chứng kiến nhiều biến động của nền kinh tế Việt Nam Sự biến động thường xuyên của tỷ giá, lạm phát là vấn đề khó khăn chung mà các các doanh nghiệp phải đối mặt Đặc biệt đối với ngành Xây dựng, tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản trong những năm gần đây kéo theo nhiều trì trệ cho hoạt động của các doanh nghiệp Trong điều kiện đó các doanh nghiệp có những chính sách, tổ chức như thế nào? và HQKD ra sao?

Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết phải tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Xây dựng, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Xây dựng

 Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các kiến nghị để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh doanh và các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng ở Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: 107 doanh nghiệp trong ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (gồm SGDCK TP HCM – HOSE và SGDCK Hà Nội – HNX)

Trang 12

Phạm vi thời gian: tình hình hoạt động của 107 doanh nghiệp ngành Xây dựng từ năm 2010 đến năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu:

Dựa vào số liệu báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2013 của 107 doanh nghiệp Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam được công

bố trên website: tiến hành tính toán các chỉ tiêu liên quan đến HQKD và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD Dữ liệu thu thập là dữ liệu bảng cân bằng Tiến hành hồi quy theo mô hình động và lựa chọn giữa mô hình ảnh hưởng cố định hoặc mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hiện nay đã có nhiều tác giả ngoài nước tiến hành các công trình nghiên cứu về các nhân tố có tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Những nghiên cứu mới gần đây:

Bài viết “Capital structure and corporate performance: evidan from Jordan” trong Autralasian Accounting Business and Finance Journal, 2007, 2 tác giả Zeitun, R và Tian, G G đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 – 2003 của 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính Cũng trong khoảng thời gian này một số sự kiện chính trị đã xảy ra: chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991 và

sự bùng nổ của phong trào Intifadah ở Bờ Tây và Gaza vào năm 2000

Đại diện nghiên cứu trên thị trường hiệu quả hoạt động của các công ty gồm chỉ số giá trị thị trường Tobin’s Q, giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (VCSH) trên giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu, giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E); trong khi hiệu quả tài chính – ROE, hiệu quả kinh doanh – ROA được sử dụng như đại diện nghiên cứu trên sổ sách kế toán Khi thực

Trang 13

hiện mô hình hồi quy chỉ có mô hình phân tích ROA, Torbin Q là có mức ý nghĩa cao Tác giả sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên dữ liệu bảng không cân bằng, bởi cần phải kiểm soát hiệu quả của các ngành công nghiệp và kiểm soát đối với tác động của các ngành

Các biến yếu tố tác động được đưa vào mô hình gồm:

 Cấu trúc vốn (tỷ lệ đòn bẩy tài chính),

 Quy mô doanh nghiệp (tài sản, doanh thu),

 Rủi ro kinh doanh (mức sai lệch của dòng tiền trong 3 năm qua),

 Thuế thu nhập (tỷ suất thuế),

Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ có tác động mạnh nhất, tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, quy mô công ty và thuế suất tác động dương đến HQKD Công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thì HQKD thấp do các công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được HQKD Yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động mạnh đến yếu tố HQKD ở một số lĩnh vực: bất động sản, dịch vụ giáo dục, hóa học và dầu mỏ, thuốc lá Ngoài ra nghiên cứu cũng nhận thấy HQKD của các doanh nghiệp tại Jordan bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế vĩ mô, môi trường khu vực

Bài viết tổng hợp nhiều nghiên cứu để lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả doanh nghiệp bao gồm bằng biện pháp kế toán và biện pháp thị trường

Có khá nhiều nhân tố tài chính lẫn phi tài chính được đưa vào mô hình, bên

Trang 14

cạnh đó tác giả còn tỉm hiểu về tình hình kinh tế chính trị ở khu vực Trung Đông trong giai đoạn nghiên cứu

Vào năm 2010, trong bài nghiên cứu “Capital Structure and Firm Performance: Evidence from Nigeria”, Onaolapo và Kajola thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hịệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE

Biến yếu tố tác động cũng gần như tương tự, gồm:

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nợ và tỷ trọng tài sản cố định tác động âm với HQKD trong khi vòng quay tài sản tác động dương Yếu tố ngành nghề kinh doanh trong đó ngành rượu bia, thực phẩm và đồ uống, ngành hóa học, ngành in ấn và xuất bản, ngành thuốc lá, ngành máy tính và thiết bị văn phòng có ảnh hưởng mạnh đến HQKD doanh nghiệp

Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian có bài viết “The

Relationship between Capital Structure and Firm Performance Evaluation

Trang 15

Measures Evidence from the Tehran Stock Exchange” vào năm 2012 nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với mẫu nghiên cứu là 400 công ty thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong những năm 2006-2010 Trong nghiên cứu này, đã

Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch và tác động mạnh mẽ giữa tỷ lệ

nợ và HQKD Các nhân tố vòng quay tài sản, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản hữu hình và tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ ý nghĩa và tích cực với hiệu quả hoạt động công ty (ROA và ROE) Có thể thấy trong bài nghiên cứu này biến kiểm soát là những nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của doanh nghiệp Không có mối quan hệ ý nghĩa giữa năm hoạt động doanh nghiệp và HQKD Kết quả của mô hình thứ 2 nghiên cứu ảnh hưởng ngành cho thấy, các công ty thuộc các ngành công nghiệp khác sản phẩm khoáng sản phi kim loại, sản phẩm thực phẩm và đồ uống, các kim loại cơ bản, ô tô và sản xuất phụ tùng có tác động âm trong khi các công ty thuộc ngành công nghiệp vật liệu, sản phẩm hóa chất tác động tích cực và đáng kể đến HQKD của doanh nghiệp

Maja Pervan và Josipa Višić trong bài viết “Influence of firm size on its

business success” mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng quy mô doanh nghiệp đối

Trang 16

với HQKD Bên cạnh đó tác giả cũng xem xét hoạt động của doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi nhân tố chủ quan nào xuất phát từ nội lực doanh nghiệp

và nhân tố khách quan nào bên ngoài doanh nghiệp Nghiên cứu được thực hiện cho giai đoạn 2002-2010 của các doanh nghiệp ngành công nghiệp sản xuất tại Croatia Quy mô doanh nghiệp xem xét trên 2 phương diện tài sản và

số lượng lao động, qua kết quả ma trận hệ số tương quan cho thấy quy mô doanh nghiệp theo tổng tài sản có mức tương quan cao hơn đối với HQKD

Do đó biến quy mô doanh nghiệp theo mức tài sản cùng với các nhân tố tỷ lệ

nợ, hệ số thanh toán hiện hành và vòng quay tài sản được tác giả đưa vào mô hình tác động cố định để phân tích ảnh hưởng Mặc dù khi xét tương quan quy mô doanh nghiệp có chiều hướng tác động tiêu cực đến HQKD nhưng xét cùng các yếu tố trong mô hình, kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp càng lớn thì HQKD càng cao Bên cạnh đó nghiên cứu nhận thấy: tăng hiệu quả sử dụng tài sản sẽ tăng HQKD, trong khi một khoản nợ lớn của một công ty sẽ dẫn đến giảm HQKD của doanh nghiệp

Để giải thích cho lý do các công ty có HQKD cao là những doanh nghiệp có quy mô lớn, tác giả nêu ra các khả năng:

- Sức mạnh thị trường - doanh nghiệp lớn có sức mạnh thị trường, họ

có khả năng đưa ra giá cao hơn và thu lại nhiều lợi nhuận hơn;

- Tính kinh tế của quy mô - công ty lớn hơn có thể hưởng lợi từ chi phí thấp; quy mô mang lại khả năng thương lượng giá cả với các nhà cung cấp và khi sản phẩm đạt được mức hoà vốn, sự tăng lên số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra;

- Kinh nghiệm thị trường - một công ty tương đối lớn hơn dự kiến để đối phó tốt hơn với những thay đổi và nó có cơ hội tốt hơn trong việc bù đắp thiệt hại ngẫu nhiên, ví dụ: do bất ổn thị trường các công ty lớn hơn có rủi ro thấp hơn;

Trang 17

- Điều kiện tài chính thuận lợi - các công ty nhỏ thường bị hạn chế vay; họ không thể đòi hỏi một lượng vốn lớn; do đó, những hạn chế về vốn có thể không nghiêm trọng đối với các công ty phát triển lớn hơn;

- Lợi thế trong quá trình R&D (nghiên cứu và phát triển) - công ty lớn

có lợi thế trong quá trình R & D bởi kinh tế theo quy mô và có khả năng vượt trội để khai thác kết quả nghiên cứu

Giải thích lý do tại sao mối quan hệ không chặt chẽ Maja & Josipa cho rằng có sự tách biệt sở hữu và quản lý trong các công ty tập đoàn, điều đó đã thay đổi mục tiêu "từ tối đa hóa lợi nhuận để tối đa hóa tiện ích quản lý Cùng với cơ cấu tổ chức linh hoạt và công nghệ được sử dụng như một sự thay đổi trong chiến lược hợp lý của các công ty (nó trở nên quan trọng hơn để tồn tại trong một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hơn để tăng lợi nhuận)

Vào năm 2011, Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion đã thực hiện nghiên cứu “ Determinants of Profitability: What factors play a role when assessing a firm’s return on assets? ” nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời tài sản và các chỉ tiêu tài chính của 40 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bucharest của Romania trong 4 năm từ năm 2007 -2010 Nghiên cứu bao gồm hai năm tăng trưởng kinh tế (2007 và 2008) và hai năm của suy thoái

Biến phụ thuộc:

 Tỷ trọng tài sản cố định, tỷ lệ ổn định tài chính (Vốn dài hạn /Tổng vốn),

 Tỷ lệ nợ, đòn bẩy tài chính (Vay vốn / Vốn chủ sở hữu),

 Tỷ lệ có việc làm (Nguồn nhân công/nguồn vốn),

 Khả năng thanh toán hiện hành,

 Khả năng thanh toán nhanh,

 Vốn lưu động,

Trang 18

 Tỷ lệ tài trợ cho tài sản cố định,

 Phạm vi của vốn đầu tư,

 Phạm vi của nhu cầu vốn lưu động,

 Số ngày vòng quay vốn lưu động,

 Tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động,

 Kỳ thu tiền bình quân,

 Hiệu suất sử dụng tài sản,

 Số ngày một vòng quay tài sản

Đối với mỗi năm trong 4 năm phân tích, tác giả đã đưa ra một mô hình thống kê liên kết giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được coi là có liên quan

Qua nghiên cứu, Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion đưa ra kết luận sau: hiệu quả kinh doanh của các công ty Rumani giảm là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra (2007) hiệu quả kinh doanh bị ảnh hưởng đáng kể bởi cấu trúc tài chính Sau cuộc khủng hoảng, tầm quan trọng của các chỉ số quản trị kinh doanh (tỷ suất lợi nhuận và tỷ lệ doanh thu) được nhấn mạnh ngoài ra còn có sự tác động của các yếu tố bên ngoài ngẫu nhiên, không thể kiểm soát được bằng quản lý

Không giống với những bài nghiên cứu trước của tác giả khác, Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion có bước phát triển hơn khi tập trung nghiên cứu các nhân tố thể hiện năng lực quản trị tài chính, nhất là quản trị vốn lưu động đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tại Việt Nam, luận văn “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013) Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa một số lý luận về các

Trang 19

nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tiến hành thiết kế mô hình nghiên cứu

Các biến được đưa vào nghiên cứu:

 Cơ cấu vốn,

 Quy mô (doanh thu),

 Tốc độ tăng trưởng của doanh thu,

 Đầu tư tài sản cố định,

 Quản trị nợ phải thu khách hàng,

 Rủi ro kinh doanh

 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 45 công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 3 năm từ năm 2010 – 2012, phương pháp sử dụng để ước lượng tham số của mô hình là phương pháp bình phương

bé nhất

Kết quả nghiên cứu: biến quản trị nợ phải thu, đầu tư tài sản cố định, cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh có ảnh hưởng nghịch đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi tốc độ tăng trưởng lại ảnh hưởng thuận chiều Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài chia làm 03 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và tổng quan hoạt động của ngành Xây dựng

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ TỔNG

QUAN HOẠT ĐỘNG NGÀNH XÂY DỰNG

1.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH

1.1.1 Khái niệm:

Hiệu quả của doanh nghiệp là đánh giá khả năng đạt được kết quả, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp do mục đích cuối cùng của người chủ sở hữu, của nhà quản trị là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, doanh nghiệp phải sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình Không đảm bảo được khả năng sinh lãi, lợi nhuận tương lai sẽ không chắc chắn, giá trị của doanh nghiệp sẽ bị giảm, người chủ có nguy cơ bị mất vốn Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đặc trưng bởi việc xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như các chính sách tài trợ Do vậy hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp được xem xét trên hai phương diện hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính

Theo giáo trình Phân tích tài chính - Đại học Đà Nẵng “Hiệu quả kinh doanh là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ HQKD thể hiện sự tương quan giữa kết quả đầu ra với các nguồn lực đầu vào sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN.”[6] Để đạt HQKD cao, DN cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình

HQKD thể hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu phản ánh HQKD thường có dạng như công thức

Hiệu quả =

Trang 21

1.1.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp

Hiện nay với sự vận động đa dạng và phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Trong khi đó các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm nhưng nhu cầu của con người lại ngày càng

đa dạng Chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả Như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến doanh nghiệp, được thể hiện thông qua các vai trò sau:

đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp: Sự tồn tại của doanh

nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và dịch vụ phục

vụ cho nhu cầu của xã hội Do đó doanh nghiệp phải đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động Ngoài ra doanh nghiệp còn phải có sự tích lũy cho quá trình tái sản xuất mở rộng Nhưng trong điều kiện các yếu tố của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại…Sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là tiền đề để nâng cao phúc lợi cho người lao động từ đó kích thích người lao động tăng năng suất lao động

trong kinh doanh: Cạnh tranh là yếu tố làm doanh nghiệp mạnh lên nhưng

cũng có thể khiến doanh nghiệp không thể tồn tại được trên thị trường Thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh

về số lượng mà cạnh tranh cả về chất lượng sản phẩm, giá cả và các yếu tố

Trang 22

khác Do đó doanh nghiệp phải cung cấp được sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt, giá cả hợp lý Mặt khác hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng doanh thu, nhưng chất lượng không ngừng được nâng cao, Vì vậy, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các phương thức quản lý hiện đại

sẽ được áp dụng thúc đẩy sự tiến bộ trong sản xuất kinh doanh

doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: Để có được lợi nhuận, doanh nghiệp

phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng một số nguồn lực nhất định Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp

1.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

Như đã nêu ở mục 1.1 hiệu quả kinh doanh được phân tích theo công

Phương tiện tạo ra kết quả cũng được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trường hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận) Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũng

Trang 23

như phương tiện tạo ra kết quả đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh HQKD của DN và mỗi chỉ tiêu đó sẽ thể hiện một ý nghĩa nhất định

a) Hiệu quả cá biệt: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt được xây

dựng cho từng quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực được sử dụng với kết quả mà doanh nghiệp đạt được

Hiệu suất sử dụng tài sản =

Hiệu suất sử dụng TSCĐ =

NSLĐ năm =

NSLĐ ngày =

Số vòng quay =

(vòng)

b) Hiệu quả tổng hợp: Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng

một cách tổng hợp tất cả các nguồn lực để tạo ra kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

 Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp

 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x100%

 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần ( SXKD) =

 Tỷ suất lợi nhuận hoạt động SXKD = x 100%

 Phân tích khả năng sinh lời tài sản

Tỷ suất sinh lời tài sản =

x 100%

Trang 24

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp trả lời câu hỏi: "Những gì doanh nghiệp có thể làm được với các tài sản mà doanh nghiệp có sẵn" Nếu như giá trị chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy khả năng quản lý của doanh nghiệp Do đó, tỷ suất sinh lợi của tài sản là kết quả tổng hợp của những cố gắng của doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, là kết quả của nỗ lực mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh số và tiết kiệm các chi phí Điều này được thể hiện thông qua sơ đồ phương trình Dupont

Cách phân tích này còn chỉ ra phương hướng nâng cao sức sinh lời tài sản của doanh nghiệp Cụ thể: chênh lệch về hiệu quả kinh doanh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc là kết quả tổng hợp ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản, thể hiện qua công thức

ROA = AH L.N/D.T + AH D.T/T.S

AH LN/DT là ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Thực chất đây là ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí Nó chỉ liên quan chủ yếu đến vấn đề tiêu thụ, vấn đề bán hàng tại doanh nghiệp và được tính theo công thức sau :

AH L.N/D.T = H D.T/T.S 1 x (H L.N/D.T1- H L.N/D.T 0)

AH D.T/T.S là ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ suất doanh thu trên tài sản Đây chính là hiệu quả của quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tổ chức tốt việc sản xuất, tiết kiệm vốn thì số vòng quay vốn tăng, hiệu quả này sẽ tăng lên

AH L.N/D.T = H L.N/D.T 0 x (H D.T/T.S 1 - H D.T/T.S 0)

Với H L.N/D.T 0, 1 là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của kỳ gốc, kỳ phân tích H D.T/T.S 0,1 là tỷ suất của doanh thu trên tài sản của kỳ gốc, kỳ phân tích

Trang 25

Hình 1.1 Phương trình Dupont

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) được sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian, theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn

đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của tài sản Họ đã chứng minh được rằng phân tích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của tài sản có vai trò quan trọng trong việc dự báo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc nguồn vốn Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh

LỜI CỦA TS

Trang 26

tế ở doanh nghiệp, còn có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi kinh tế của tài sản

RE =

Nói đến hiệu quả doanh nghiệp các nghiên cứu trên thế giới đều dùng thuật ngữ “Firm Performance” khái niệm này là một vấn đề gây tranh cãi về tài chính chủ yếu là do ý nghĩa đa chiều của nó Nghiên cứu về hoạt động DN xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản lý chiến lược (Murphy, Trailer & Hill 1996): Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của DN (Chakravarthy, 1986) Các biện pháp hiệu suất hoạt động, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng và tăng trưởng thị phần, cung cấp một định nghĩa rộng hơn về hiệu suất khi họ tập trung vào các yếu tố cuối cùng dẫn đến hoạt động tài chính (Hoffer & Sandberg, 1987)

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán

và thị trường vốn Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao và các hoạt động lúc đó chỉ tiêu đo lường theo giá trị thị trường không cung cấp một thông tin chính xác Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên VCSH (ROE) hoặc lợi nhuận trên đầu tư (ROI) Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu (ví dụ, Mehran (1995), và Ang, Cole & Line (2000)

Trang 27

Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, chẳng hạn như giá mỗi cổ phiếu với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P / E) (Abdel Shahid, 2003), tỷ số giá thị trường của VCSH trên giá trị sổ sách của VCSH (MBVR), và Tobin Q Hai biện pháp kế toán, ROA và ROE, được sử dụng như là chỉ tiêu cho hoạt động của công ty,

và ba chỉ tiêu hoạt động thị trường là P / E, MBVR, và Q Tobin Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất

Trở lại với giáo trình “Phân tích tài chính” - Đại học Kinh tế Đà Nẵng,

có viết hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính Trong đó chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) (

) Đây là một chỉ số được sử dụng để dễ so sánh giữa các DN trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, hoặc giữa các DN trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh…chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng

Nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các chiến lược tài chính của nhà quản trị DN Ví dụ, nhà quản trị có thể

dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của DN có khả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên DN sẽ tăng đầu tư vào dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp DN cải thiện được đáng kể chỉ số ROE Trong khi đó chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình

Trang 28

Không giống ROE, đo lường tỷ suất sinh lợi của tài sản ROA bao gồm tất cả các loại tài sản của một doanh nghiệp, nghĩa là tổng tài sản được sử dụng chứ không phải là tài sản thuần (bao gồm vốn cổ đông, vốn hình thành

từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá, các quỹ dự trữ phát triển dự phòng) Ví dụ như lượng tiền mà doanh nghiệp có được do vay nợ sẽ được cân bằng với một trách nhiệm tương ứng với một khoản nợ phải trả Chính vì vậy, chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản được dùng đánh giá việc sử dụng toàn bộ số tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh mà không cần quan tâm đến nguồn gốc từ vay nợ hay từ vốn chủ sở hữu David Lindo tin rằng tỷ suất sinh lợi của tài sản là chỉ số tài chính tốt nhất được sử dụng để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được và khoản đầu tư vào các tài sản cần thiết để đạt được lợi nhuận đó

Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh khác nhau mà mức độ đầu tư vào tài sản mà doanh nghiệp cần sử dụng khác nhau Ví dụ như đối với các doanh nghiệp sản xuất thiết bị lớn như sản xuất ô tô thì cần một khối lượng tài sản hữu hình lớn trong khi đó một doanh nghiệp quảng cáo hay sản xuất phần mềm máy tính chỉ cần một lượng thiết bị tối thiểu và do đó có thể tạo ra được tỷ suất ROA cao hơn Tuy nhiên trong trường hợp kinh doanh thất bại, các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình lớn có thể chuyển đổi thành tiền trong khi một doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là các tài sản trí tuệ sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó mặc dù chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm cho công việc phân tích cơ bản trở nên dễ dàng hơn, giúp nhà đầu

tư nhận ra cơ hội cổ phiếu tốt và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra nhưng việc sử dụng chỉ tiêu nên áp dụng trong việc so sánh đánh giá các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh

Trang 29

Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả nhận thấy việc sử dụng chỉ tiêu

tỷ suất sinh lợi của tài sản – ROA để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây dựng là phù hợp và chính xác nhất Dưới đây những tài liệu tác giả sử dụng để làm cơ sở nghiên cứu phân tích là những nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu ROA cho mô hình nghiên cứu của họ

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên các đại lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra cũng như trình độ sử dụng các nguồn lực chịu tác động trực tiếp của rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức

độ khác nhau, do đó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

a) Cơ cấu vốn

Bất kỳ DN nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có vốn,

DN phải bố trí nguồn tài trợ hợp lý cho nhu cầu vốn đó Có nhiều nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn của DN như: Nguồn vốn chủ sở hữu, vay ngắn hạn, vay dài hạn ngân hàng, phát hành trái phiếu…Cơ cấu tài chính có ảnh hưởng đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu nên công ty cần thiết phải hoạch định cơ cấu vốn mục tiêu

Cơ cấu vốn mục tiêu là sự kết hợp hài hòa giữa nợ và VCSH trong tổng nguồn vốn của công ty theo mục tiêu đề ra Hoạch định chính sách cơ cấu vốn liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro

Lý thuyết Modigliani & Miller về cơ cấu vốn

Modilligani và Miller (1958) đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller đã đưa ra một số những giả định đơn

Trang 30

giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị trường vốn là hoàn hảo; vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch, tỷ lệ vay giống như

tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, Modilligani và Miller tranh luận rằng: thế thì các doanh nghiệp có nguy cơ kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa vốn

nợ và VCSH Modilligani và Miller chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy

cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn

Với giả thuyết nêu trên dẫn đến sử dụng cơ cấu vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị DN hay nói cách khác DN không thể tăng giá trị của mình bằng cách thay đổi cơ cấu vốn

Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập DN Theo Modilligani và Miller, với thuế thu nhập DN, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của DN Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập DN, do đó mà một phần thu nhập của DN có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư Chính

vì vậy mà giá trị DN được tăng lên là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế

Trang 31

Lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu (hay còn gọi cách tiếp cận truyền thống)

Quan niệm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một DN bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi Chi phí nợ thấp kết hợp với lợi thế

về thuế sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng

Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và VCSH tăng, buộc các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ đông (nghĩa là chi phí VCSH tăng) Đồng thời khi gia tăng các khoản nợ có thể dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh cũng tăng cao từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu doanh thu tăng lên là kết quả của vốn vay sản xuất, nhưng lợi nhuận lại giảm mạnh do sự gia tăng của chi phí, thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút Bên cạnh đó khi sử dụng các khoản nợ đặc biệt là nợ ngắn hạn luôn gắn liền với một rủi ro phá sản khi khả năng thanh toán giảm tới một mức độ báo động Vì vậy, ở mức tỷ lệ nợ và vốn CSH cao hơn, WACC sẽ tăng

Theo cách tiếp cận này, công ty trước tiên có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ bởi vì chi phí sử dụng nợ thấp hơn do có khoản tiết kiệm thuế Tuy nhiên khi tỷ số nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng, các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ đông (nghĩa là chi phí vốn CSH tăng), đến một lúc nào đó thì lợi ích của việc tiết kiệm thuế không bù đắp cho việc gia tăng của chi phí sử dụng vốn bình quân khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa Đồng thời, ở mức tỷ lệ nợ và vốn CSH cao, chi phí nợ cũng tăng bởi khả năng DN không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn)

Do đó, lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu cho rằng, cơ cấu vốn có tác động đến chi phí sử dụng vốn bình quân và giá trị công ty hay nói khác đi có một tỷ

lệ nợ tối ưu, ở đó chi phí sử dụng vốn bình quân của DN là nhỏ nhất và giá trị của DN lớn nhất

Trang 32

Như vậy, theo lý thuyết Modigliani & Miller và lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu chúng ta có thể thấy được việc lựa chọn và sử dụng vốn như thế nào sẽ

có tác động đến HQKD của DN

Từ các nghiên cứu trước đây của Zeitun & Tian (2007), Onaolapo & Kajola (2010), Margaritis & Psillaki (2007); Abbasali Pouraghajan &

Esfandiar Malekian (2012); Maja Pervan & Josipa Višić (2012); Gleason,

K.Mathur & I.Mathur (2000) đều nhận thấy cơ cấu vốn có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

b) Quy mô doanh nghiệp

Quy mô của DN có thể được hiểu là mức doanh thu, mức tài sản, nguồn vốn, số công nhân, DN có quy mô lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (ví dụ như dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn) Những doanh nghiệp này với sức mạnh về tài chính, tài sản và khả năng quản lý sẽ dễ dàng khai thác lợi thế theo quy mô nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu vào và gia tăng hiệu quả đầu ra Lý do tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô:

- Trong quá trình sản xuất kinh doanh luôn luôn cần một số yếu tố đầu vào để duy trì hoạt động của doanh nghiệp, các yếu tố này không phụ thuộc vào việc có sản xuất kinh doanh hay không, các chi phí đó được gọi là chi phí cố định và nó không thay đổi theo mức sản lượng Nó bắt đầu từ những mức sản lượng thấp và không tăng cùng với mức tăng của sản lượng

Vì vậy khi sản lượng tăng, doanh nghiệp sẽ đạt được lợi thế kinh tế nhờ qui

mô vì các chi phí cố định này có thể chia cho một số lượng nhiều hơn các đơn

vị sản lượng và như vậy nó làm giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm doanh nghiệp có quy mô lớn thường cần đến lợi thế của các loại máy móc mới, hiện đại, với các mức sản lượng cao thì chi phí khấu hao máy móc

Trang 33

có thể giải đều cho một số lượng lớn sản phẩm và với kỹ thuật sản xuất đó có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm đến mức làm cho chi phí bình quân giảm Quy

mô sản lượng lớn cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch Khi bán một khối lượng hàng lớn hơn, chi phí đàm phán, liên lạc (qua thư từ, điện thoại, fax v.v ) không tăng tương ứng so với trường hợp bán một khối lượng hàng nhỏ hơn

- Quy mô sản lượng lớn hơn cho phép doanh nghiệp khai thác được lợi thế của việc chuyên môn hóa Lao động, máy móc phải với số lượng đủ lớn mới cho phép người ta tổ chức sử dụng chúng theo kiểu chuyên biệt Chúng có thể được phân bổ và được sử dụng riêng cho những khâu, những công đoạn sản xuất khác nhau mà nhờ đó, năng suất của chúng có thể tăng lên Khi sản lượng còn quá nhỏ, những điều trên sẽ không xảy ra nếu số lượng đầu vào được sử dụng quá thấp

Một số nghiên cứu trước đây đều nhận thấy quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu quan tâm quy mô doanh nghiệp có thể là tài sản, VCSH, số lượng nhân viên, doanh thu… Trong nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007), Margaritis & Psillaki

(2007); Abbasali Pouraghajan & Esfandiar Malekian (2012); Maja Pervan &

Josipa Višić (2012); Gleason, K.Mathur &I.Mathur, (2000), quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả của doanh nghiệp

c) Cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, và công nghệ

Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, máy móc thiết bị đối với mọi doanh nghiệp đều vô cùng quan trọng, nó sẽ quyết định DN đó sẽ sản xuất những sản phẩm gì, chủng loại gì,

số lượng bao nhiêu và hiệu quả như thế nào Trong cơ chế thị trường sức cạnh

Trang 34

tranh giữa các DN đặc biệt là các DN cùng sản xuất một loại sản phẩm thì chất lượng chính là nền tảng cho sức cạnh tranh Vì vậy đầu tư trang thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất hiện đại để không ngừng nâng cao số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm nhằm đáp ứng một tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mở rộng được thị trường và gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Máy móc thiết bị chính là một trong những yếu tố biểu hiện quan trọng của công nghệ Công nghệ góp phần quan trọng trong việc DN đó có thành công hay không Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn và công nghệ máy móc thiết bị tiên tiến và hiện đại sẽ bảo đảm doanh nghiệp:

- Nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm hao phí lao động, nguyên nhiên vật liệu

- Giảm nhẹ quá trình lao động, dần dần thay thế lao động thủ công bằng máy móc, trên cở sở đó tạo điều kiện hoàn thiện người lao động

- Hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm

Đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, và công nghệ có thể xem chung là đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp, nhân tố tỷ trọng tài sản cố định luôn được các nghiên cứu trước đây đưa vào mô hình nghiên cứu và đem lại những kết quả với chiều hướng tác động khác nhau Trong Abbasali & Malekian (2012) cho thấy việc nâng cao đầu tư tài sản cố định có tác động tích cực đến HQKD thì nghiên cứu của Zeitun,Titan (2007) và Onaolapo & Kajola (2010) lại cho thấy chiều hướng ngược lại Điều này có thể thấy nếu doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được

Trang 35

hiệu quả kinh doanh thì sẽ gây nên lãng phí vốn có thể khiến doanh nghiệp bị thiếu vốn để duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó cũng có thể gia tăng rủi ro và làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

d) Tốc độ tăng trưởng

Tăng trưởng là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu của mình trong suốt cuộc đời hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng trưởng giúp cho doanh nghiệp tích lũy về nguồn vốn và cơ sở vật chất để đầu tư mở rộng sản xuất đồng thời tạo dựng được uy tín đối với khách hàng cũng như với các nhà cung cấp và các nhà đầu tư Tăng trưởng còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Về mặt lý thuyết, tăng trưởng có thể mang lại những lợi ích quan trọng cho doanh nghiệp Tuy nhiên tăng trưởng nhanh không phải không mang lại rủi ro cho doanh nghiệp, khi năng suất và năng lực quản lý không phù hợp, trường hợp này phát triển nhanh không đưa lại lợi ích gì, thậm chí còn gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chính vì vây, doanh nghiệp cần duy trì một tốc độ tăng trưởng phù hợp dựa trên một kế hoạch kinh doanh chi tiết và tập hợp các nguồn lực hợp

lý từ đó làm cho hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng được nâng cao

Theo nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007), Onaolapo & Kajola (2010); Abbasali & Esfandiar (2012) tốc độ tăng trưởng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

e) Năng lực quản trị tài chính

Quản trị tài chính DN có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho HĐKD thường xuyên của DN cũng như đầu tư phát

Trang 36

triển Vai trò của nhà quản trị tài chính là phải xác định đúng đắn các nhu cầu

về vốn cho hoạt động kinh doanh của DN trong từng thời kỳ, chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo DN hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp nhất Hiệu quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Người quản lý phải biết đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cở sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của các dự án từ đó chọn ra dự án đầu tư tối

ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để DN có thể chớp lấy các cơ hội kinh doanh [3]

Để tiến tới hành động sản xuất kinh doanh, mọi DN đều cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong đó tài sản lưu động chủ yếu đóng góp vai trò đối tượng lao động Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển, do đó nó giúp DN có thể quay vòng vốn nhanh hơn, giảm chi phí sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tài sản lưu động là tiền mặt, khoản phải thu, dự trữ tồn kho… Để bảo đảm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục và hiệu quả thì quản lý và sử dụng tài sản lưu động có ảnh hưởng lớn đối với việc hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp Sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát tài sản lưu động luôn là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại là phá sản Vì vậy năng lực của nhà quản trị là làm thế nào giữ tiền vừa để đảm bảo giao dịch kinh doanh hằng ngày, đáp ứng được nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường truớc, hàng hoá, nguyên vật liệu cần bao nhiêu, dự trữ bao nhiêu để đáp ứng kịp thời cho sản xuất và tiêu thụ lại không bị tồn đọng, giảm giá trị; hay xây dựng chính sách tín dụng thương mại như thế nào để giữ khách hàng, tăng số lượng sản phẩm

Trang 37

Nghiên cứu của Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion (2011) cho thấy phạm vi của vốn đầu tư, phạm vi của nhu cầu vốn lưu động,

số ngày vòng quay vốn lưu động, tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động, kỳ thu tiền bình quân có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn Số lượng, chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ Bên cạnh đó chi phí vật tư chiếm 60-70% giá thành xây lắp, chỉ cần một sự biến đổi nhỏ về giá cả có thể làm cho chi phí của công trình thay đổi đáng kể Vì vậy khi lạm phát xảy ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với các doanh nghiệp, chi phi thực tế hoàn thành sẽ cao hơn nhiều so với lúc lập dự toán đấu thầu

Ngành Xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, những nguyên liệu ban đầu của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô và tính

Trang 38

chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Hơn nữa, quá trình hoàn tất hồ

sơ thi công cũng như thống nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường mất nhiều thời gian, dẫn tới tình trạng chủ đầu tư chậm thanh toán cho các DN Xây dựng, từ đó công nợ của các DN Xây dựng rất cao Nguồn vốn để duy trì hoạt động của các DN Xây dựng Việt Nam hiện nay chủ yếu là từ đi vay nên chính sách tiền tệ và biến động của lãi suất ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngành Xây dựng

Năng lực về máy móc thiết bị thi công quyết định lợi thế cạnh tranh

Áp dụng khoa học công nghệ đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Công nghệ tiên tiến, hiện đại góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm hao phí lao động, nguyên nhiên vật liệu làm hạ giá thành sản phẩm xây dựng

và nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng Đứng trên giác độ của người sử dụng chất lượng công trình là mối quan tâm hàng đầu bởi đem lại sự an tâm khi họ sử dụng Đối với chủ đầu tư, khi gọi thầu từ các DN Xây dựng thì bên cạnh chất lượng, họ quan tâm nhiều đến giá cả Để giải quyết bài toán nâng cao chất lượng công trình, hạ giá thành sản phẩm thì công nghệ là yếu tố đóng vai trò then chốt để tạo nên thế mạnh kinh tế của công ty Việc phát triển ứng dụng khoa học công nghệ bên cạnh nguồn nhân lực có trình độ và kinh nghiệm thì đầu tư vào công nghệ, năng lực máy móc thiết bị là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý Thiết bị thi công là yếu tố rất quan trọng đối với việc thi công các công trình xây dựng.[1] Chi phí máy thi công thường chiếm từ 15% - 20% giá thành xây dựng công trình.[4] Thiết bị thi công không những

có ảnh hưởng đến chiến lược đấu thầu về mặt giá thành xây dựng mà còn ảnh hưởng đến năng lực uy tín của nhà thầu cũng như ảnh hưởng đến kỹ thuật, công nghệ, phương án thi công

Trang 39

1.2.2 Đặc điểm hoạt động của ngành Xây dựng trong thời gian gần đây

- Đóng góp của Ngành trong nền kinh tế quốc dân:

Theo số liệu sơ bộ năm 2013 của Tổng cục Thống kê (GSO), ngành xây dựng đã trực tiếp và gián tiếp tạo việc làm cho trên 3,4 triệu lao động (chiếm 5,2% lực lượng lao động cả nước); và đóng góp 5,4% vào tổng sản phẩm nội địa (GDP), đứng thứ năm (sau ngành nông nghiệp, sản xuất, thương mại và khoáng sản)

Hình 1.2 Biểu đồ giá trị sản xuất ngành xây dựng

- Giá trị sản xuất của các loại hình doanh nghiệp:

Khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá trị sản xuất ngành xây dựng với mức 84% trong năm 2013 Do khu vực tư nhân không chỉ đầu tư xây dựng ở phân khúc xây dựng dân dụng mà còn tham gia vào phân khúc xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT), hoặc xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) Ngoài ra, trong

Trang 40

những năm mà thị trường bất động sản sụt giảm và kinh tế thế giới gặp khó khăn thì khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn được

khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi

Giá trị sản xuất của khu vực Nhà nước trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 sụt giảm với tốc độ CAGR là âm 3,5%, do chính sách cắt giảm đầu

tư công và thắt chặt tiền tệ của Chính phủ kể khi khủng hoảng tài chính năm

2008 và nợ công tăng Khu vực tư nhân có sự chững lại trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012 do thị trường nhà ở bị đóng băng nhưng vẫn tăng trưởng đạt tốc độ CAGR là 14,4% Khu vực nước ngoài tăng trưởng đều đặn mỗi năm với tốc độ AGR đạt 9,7% do Nhà Nước có nhiều chính sách ưu đãi cho khu vực này

- Giá trị sản xuất trong các lĩnh vực xây dựng:

Lĩnh vực nhà ở có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với tỷ trọng đóng góp trong giá trị sản xuất xây dựng tăng từ mức 27% năm 2005 lên mức 40% trong năm

2013, do khu vực tư nhân đẩy mạnh đầu tư vào phân khúc này Lĩnh vực cơ

sở hạ tầng chiếm tỷ trọng cao nhất với 63% năm 2005 nhưng hầu như không

có sự tăng trưởng đáng kể khi khu vực Nhà Nước giảm đầu tư công nên tỷ trọng giảm còn 41% trong năm 2013 Lĩnh vực công trình nhà không để ở có

sự tăng trưởng khá ổn định và hiện chiếm tỷ trọng 18,4% (năm 2005 chiếm 10%)

Ngày đăng: 13/07/2015, 12:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ths. Trần Thị Bạch Diệp khoa Xây dựng Thuỷ lợi & Thủy điện (2009), Giáo trình Kinh tế xây dựng, Trường Đại học Bách khoa, Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế xây dựng
Tác giả: Ths. Trần Thị Bạch Diệp
Nhà XB: Trường Đại học Bách khoa
Năm: 2009
[2] Biên dịch: Hải Đăng, Hiệu đính: Cao Hào Thi, “Chương 16 Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng”, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương 16 Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Tác giả: Hải Đăng, Cao Hào Thi
Nhà XB: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
[3] Ths. Vũ Quang Kết & TS Nguyễn Quang Tấn (2007), Quản trị tài chính, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: Ths. Vũ Quang Kết, TS Nguyễn Quang Tấn
Nhà XB: Học viện công nghệ bưu chính viễn thông
Năm: 2007
[4] Đỗ Anh Tuấn (2014), “Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng ”, http://voer.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng
Tác giả: Đỗ Anh Tuấn
Năm: 2014
[5] Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn thạc sĩ , Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lê Thanh Tuyền
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2013
[6] PGS.TS Trương Bá Thanh & TS. Trần Đình Khôi Nguyên (2009), Giáo trình Phân tích tài chính, Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích tài chính
Tác giả: PGS.TS Trương Bá Thanh, TS. Trần Đình Khôi Nguyên
Nhà XB: Đại Học Đà Nẵng
Năm: 2009
[7] Thủy Ngọc Thu – MBA (2014), “Giá trị doanh nghiệp qua các lý thuyết cấu trúc vốn”, CPA Saovangco.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị doanh nghiệp qua các lý thuyết cấu trúc vốn
Tác giả: Thủy Ngọc Thu
Nhà XB: CPA Saovangco.com
Năm: 2014
[8] (05/01/2011), “Năm 2010 ngành xây dựng thu hút vốn FDI đạt mức kỉ lục”, http://cafef.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2010 ngành xây dựng thu hút vốn FDI đạt mức kỉ lục”
[9] (16/01/2012), “Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp ngành xây dựng” http://www.baomoi.com/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp ngành xây dựng
[10] (14/01/2013), “17.000 doanh nghiệp xây dựng và bất động sản thua lỗ”, http://hanoimoi.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17.000 doanh nghiệp xây dựng và bất động sản thua lỗ”
[11] (07/01/2014), “Ngành Xây dựng tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014, http://www.baoxaydung.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Xây dựng tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014
[14] Abdel Shahid, S. (2003), “Does Ownership Structure Affect Firm Value? Evidence from The Egyptian Stock Market”, Working Paper, [online], (www.ssrn.com) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does Ownership Structure Affect Firm Value? Evidence from The Egyptian Stock Market
Tác giả: Abdel Shahid, S
Nhà XB: Working Paper
Năm: 2003
[15] Chakravarthy, B. S., (1986), “Measuring Strategic Performance”, Strategic Management Journal 7, 437-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Strategic Performance”, "Strategic Management Journal 7
Tác giả: Chakravarthy, B. S
Năm: 1986
[16] Durand, R., and R. Coeurderoy, (2001), “Age, Order of Entry, Strategic Orientation, and Organizational Performance”, Journal of Business Venturing 16, 471-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Age, Order of Entry, Strategic Orientation, and Organizational Performance”, "Journal of Business Venturing 16
Tác giả: Durand, R., and R. Coeurderoy
Năm: 2001
[17] Gleason, K. C., L. K Mathur, and I. Mathur, (2000), “The Interrelationship between Culture, Capital Structure, and Performance:Evidence from European Retailers”, Journal of Business Research, 50, 185-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Interrelationship between Culture, Capital Structure, and Performance: Evidence from European Retailers”, "Journal of Business Research
Tác giả: Gleason, K. C., L. K Mathur, and I. Mathur
Năm: 2000
[18] Hoffer, C. W., and W. R. Sandberg, (1987), “Improving new venture performance: some guidelines for success”, American Journal of Small Business 12, 11-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improving new venture performance: some guidelines for success”, "American Journal of Small Business 12
Tác giả: Hoffer, C. W., and W. R. Sandberg
Năm: 1987
[19] Maja Pervan Josipa Višić (2012),“Influence of firm size on its business success” Croatian Operational Research Review (CRORR), Vol. 3, [20] Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion (2011), “TheCorrelation between the Return on Assets and the Measures of Financial Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of firm size on its business success
Tác giả: Maja Pervan, Josipa Višić
Nhà XB: Croatian Operational Research Review (CRORR)
Năm: 2012
[21] Murphy, G. B., J. W. Trailer, and R. C. Hill, (1996), “Measuring Performance in Entrepreneurship Research”, Journal of Business Research, 36, 15-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Measuring Performance in Entrepreneurship Research"”, Journal of Business Research
Tác giả: Murphy, G. B., J. W. Trailer, and R. C. Hill
Năm: 1996
[22] Mehran, H., (1995), “Executive Compensation Structure, Ownership, and Firm Performance”, Journal of Financial Economics 38, 163-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Executive Compensation Structure, Ownership, and Firm Performance
Tác giả: Mehran, H
Nhà XB: Journal of Financial Economics
Năm: 1995
[23] Morck, R., A. Shleifer, and R. Vishny, (1988), “Management Ownership and Market Valuation: An Empirical Analysis”, Journal of Financial Economics 20, 293-315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management Ownership and Market Valuation: An Empirical Analysis
Tác giả: R. Morck, A. Shleifer, R. Vishny
Nhà XB: Journal of Financial Economics
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  Sơ đồ phương trình Dupont  16 - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Hình 1.1 Sơ đồ phương trình Dupont 16 (Trang 7)
Hình 1.1 Phương trình Dupont - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Hình 1.1 Phương trình Dupont (Trang 25)
Hình 1.2 Biểu đồ giá trị sản xuất ngành xây dựng - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Hình 1.2 Biểu đồ giá trị sản xuất ngành xây dựng (Trang 39)
Hình 1.3 Biểu đồ giá trị sản xuất xây dựng theo công trình xây dựng - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Hình 1.3 Biểu đồ giá trị sản xuất xây dựng theo công trình xây dựng (Trang 41)
Bảng 1.2  Bảng so sánh chi phí xây dựng tại Việt Nam và cá nước trong  khu vực - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 1.2 Bảng so sánh chi phí xây dựng tại Việt Nam và cá nước trong khu vực (Trang 44)
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp đo lường và mã hoá các biến  Nhân - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp đo lường và mã hoá các biến Nhân (Trang 56)
Bảng 3.4. Thống kê dữ liệu tỷ lệ nợ ngắn hạn - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.4. Thống kê dữ liệu tỷ lệ nợ ngắn hạn (Trang 71)
Bảng 3.5 Thống kê dữ liệu doanh thu - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.5 Thống kê dữ liệu doanh thu (Trang 72)
Bảng 3.6 Thống kê dữ liệu tài sản - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.6 Thống kê dữ liệu tài sản (Trang 72)
Bảng 3.7 Thống kê dữ liệu tỷ trọng tài sản cố định - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.7 Thống kê dữ liệu tỷ trọng tài sản cố định (Trang 73)
Bảng 3.11 Kết quả mô hình OLS - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.11 Kết quả mô hình OLS (Trang 76)
Bảng 3.12 Kết quả mô hình FEM - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.12 Kết quả mô hình FEM (Trang 77)
Bảng 3.14 Kết quả mô hình REM sau khi loại biến không ảnh hưởng - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.14 Kết quả mô hình REM sau khi loại biến không ảnh hưởng (Trang 79)
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả - Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (full)
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w