Sau khi nội dung dạy học bộ môn đã đổi mới thì nhiệm vụ nghiên cứu về phương pháp dạy học phù họp nội dung là công tác trung tâm của khoa học sư phạm ở nước ta Thủ tướng Chính phủ phê du
Trang 1Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi gặp không ít những khó khăn nhưng nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô giáo và sự động viên, cổ vũ của bạn bè, người thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s Hoàng Thị Kim Huyền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình tôi hoàn thành
khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo trong
TrườngTHPT Tống Văn Trân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu và cung cấp các số liệu về trường Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi sự thiếu xót Tôi mong sẽ nhận được những ý kiến, góp ý của các thầy, cô và các bạn đọc để khỏa luận hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 thán 5 năm 2013 Sinh viên Nguyễn Thị Phương
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “Rèn luyên kĩ năng tư hoc cho hoc sinh thông qua day hoc
chương I Sinh học 11” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Hoàng Thi Kim Huyền không trùng với kết quả nghiên cứu
nào khác
Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận là: Trung thực, rõ ràng, chính xác và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 thảng 05năm.2013 Sinh viên
Nguyễn Thị Phương
Phần I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiện vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
5 Phạm vi giới hạn của đề tài 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
Phần II NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu đề tài 6
Trang 31.1 lNghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2Nghiên cứu trong nước 8
1.2 Cơ sở lí luận 10
1.2.1 Khái niệm về tự học và kĩ năng tự học 10
1.2.2 Vai trò của tự học 11
1.2.3 Kĩ năng tự học và rèn luyện kĩ năng tự học 13
1.2.4 Cơ sở của việc nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh 14
1.2.4.1 Cơ sở triết học 14
1.2.4.2 Cơ sở tâm sinh lí học 14
1.3 Cơ sở thực tiễn 15
1.3.1 Phương pháp xác định 15
1.3.2 Thực trạng rèn luyện KNTH cho HS thông qua dạy học chương I sinh học 11 16
CHƯƠNG 2 Rèn luyên kĩ năng tư hoc cho hoc sinh thông V • о • • • О qua dạy học chương I sinh học 11 20
2.1 Đặc điểm kiến thức các bài thuộc chương I sinh học 11 20
2.2 Một số kĩ năng tự học cần rèn luyện cho HS thông qua dạy học sinh học 11 20
2.2.1 Kĩ năng đọc SGK 20
Trang 42.2.2 Kĩ năng tìm câu trả lời cho câu hỏi 21
2.2.3 Kĩ năng làm việc với hình vẽ trong SGK 22
2.2.4 Kĩ năng diễn đạt nội dung đã học và đã đọc bằng sơ đồ, bảng biểu 25
2.2.5 Kĩ năng thảo luận nhóm cho HS 27
2.3 Một số biện pháp rèn luyện KNTH cho HS thông qua dạy học Sinh học 11 30
2.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi, 30
2.3.2 Sử dụng Phiếu học tập 33
2.3.3 Sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan 36
2.4 Hệ thống câu hỏi, bài tập, phiếu học tập .nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua dạy học chương I sinh học 11 44
2.5 Giáo án minh họa 69
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85 2 Kiến nghị 86 Tài liều tham khảo 87
Phụ lục 89
Trang 5có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học.
Cùng với xu thế đổi mới quan niệm về SGK trên thế giới, từ năm 2001
Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã triển khai thực hiện đổi mới chương trình SGK cho các bậc học từ tiểu học đến trung học phổ thông Đồng thời, tiến hành đổi mới phương pháp dạy học cho phù họp Có thể nói, cốt lõi của phương pháp dạy và học mới là hướng tới học tập chủ động, độc lập, tự giác Trong điều kiện của xã hội hiện đại, khoa học và công nghệ phát triển rất mạnh mẽ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung
và quá trình dạy học nói riêng Trong hoàn cảnh như vậy, giáo dục ý thức tự học, tự học một cách thường xuyên, có kế hoạch, phương pháp học tập đúng
Trang 6đắn, khoa học cho HS là một nhiệm vụ bắt buộc và trách nhiệm nặng nề của
GY Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay: Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
ở trường phổ thông luôn là nhiệm vụ thời sự, cấp bách, do sự đòi hỏi của thực tiễn giáo dục phổ thông nhất là đối với việc thực hiện chương trình, SGK mới Sau khi nội dung dạy học bộ môn đã đổi mới thì nhiệm vụ nghiên cứu về
phương pháp dạy học phù họp nội dung là công tác trung tâm của khoa học sư phạm ở nước ta Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã nêu: cần “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng họp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động ,tính tự chủ của học sinh
Chỉ có tự học, tự sáng tạo, học đi đôi với hành mới đáp ứng yêu cầu của
sự phát triển xã hội đang đòi hỏi một nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó trước hết cần phải rèn luyện cho HS kĩ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu Đó sẽ
là cơ sở để phát huy năng lực tự học sau này cho các em
Trong các môn học mà học sinh được học trong trường phổ thông thì mônSinh học chiếm một vị trí quan trọng nó giúp học sinh vươn tới mọi khía cạnh của cuộc sống Để con người thực sự có cuộc sống văn minh, ổn định, bất kì ở lĩnh vực nào không thể thiếu được những hiểu biết cơ bản về sinh giới Vì rằng
từ việc giữ gìn sức khỏe đến việc làm tăng của cải vật chất đều cần có sự hiểu biết về Sinh học
Đối tượng của sinh học luôn sẵn có trong cuộc sống hàng ngày của học sinh như các loài động vật, thực vật và đặc thù của môn Sinh học là khoa học thực nghiệm, chính vì thế việc rèn kĩ năng tự học, tự nghiên cứu môn sinh học
Trang 7cho học sinh là rất cần thiết.
Xuất phát từ lí do trên em chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh thông qua dạy học chương I Sinh học 11”
Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập,thảo luận nhóm,hoàn thành phiếu học tập ở nhà và trên lớp giúp học sinh rèn luyện các phương pháp ,kĩ năng, thói quen và ý trí tự học từ đó tạo cho các em lòng say mê học tập, khơi dậy nội lưc vốn có trong mỗi người học và từ
đó kết quả học tập được tăng lên
2 Mục đích nghiền cứu
Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ở nhà và trên lớp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận về KNTH và rèn luyện KNTH.
3.2 Điều tra thực trạng tổ chức các hoạt động tự học chương I trong
chương trinh SH 11 BCB
3.3 Phân tích nội dung kiến thức thuộc chương I sinh học 11
3.4 Đề xuất một số KNTH cần rèn luyện cho HS và các biện pháp rèn
luyện KNTH
3.5 Lấy ý kiến của chuyên gia về phương pháp tổ chức hoạt động tự
học cho HS
3.6 Thiết kế giáo án minh họa
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Nội dung các bài thuộc chương I trong chương trình SH 11 BCB từ đó đề xuất giải pháp nâng cao kĩ năng tự học cho HS trong phần này
4.2Khách thể
Trang 8Quá trình dạy và học chương trình Sinh học lớp 11 ở trường THPT cụ thể
là phần kiến thức thuộc chương I
5 Phạm vi giới hạn của đề tài
Nghiên cứu các bài thuộc chương I trong chương trình SH 11 BCB
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho HS và thiết kế được hoạt động tự học cho HS thì sẽ rèn luyện được kĩ năng tự học cho học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu về hệ thống cơ sở lí luận về kĩ năng tự học, biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học
7.2 Điều tra quan sát
- Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh để điều tra thực trạng tự học ở học sinh
- Dự giờ của giáo viên phổ thông để tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho HS
7.3 Phương pháp phỏng vấn.
7.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia tư vấn về biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho
HS và hệ thống câu hỏi, PHT, bài tập đã biên soạn để rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
8 Những đóng góp của đề tài /Ỷ nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (dự kiến)
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về kĩ năng tự học
Trang 9- Phân tích, phát hiện được những mâu thuẫn và khó khăn trong việc tổ chức hoạt động tự học và rèn luyện kĩ năng tự học
- Yận dụng được một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua dạy học chương I sinh học 11
-Thiết kế một số giáo án mẫu
Phần 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUÂN VÀ THƯC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI
1.1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN cứu LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI
Trong lịch sử phát triển Giáo dục, tổ chức quá trình học tập theo hướng tăng cường tính tự học của học sinh là vấn đề được quan tâm và nghiên cứu từ lâu về vấn đề tự học như vai trò của tự học, năng lực tự học cho học sinh, cách thức rèn luyện năng lực tự học cho HS đã được nhiều tác giả nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
- Ngay từ cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như Xocorat (470 - 399 TCN), Khổng Tử (551 - 479 TCN) Đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS và nói đến nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
- Từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19 nhiều nhà giáo dục lớn như J.A Conmesky (1592 - 1670); Jacques Rousseau (1712 - 1778); A.Đixtecvec (1790 - 1866) Trong các công trình nghiên cứu của mình về giáo dục phát triển trí tuệ đều đặc biệt nhấn mạnh: Muốn phát triển trí tuệ bắt buộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình dành lấy trí thức Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tự tìm tòi và suy nghĩ trong quá
Trang 10trinh học tập [13, tr.26 - 33].
- Ở Pháp, vào những năm 20 đã hình thành những “nhà trường mới”, đặt vấn đề phát triển năng lực trí tuệ của học sinh, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự quản
- Nhiều tác giả Liên Xô (cũ) và xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà giáo dục không ngừng khẳng định vai trò và tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học Trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học như: Catxchuc G.X; Retzke R; Ilina T.A; Brunop E.P; Picaxistui P.I [5, tr.9]
- Động cơ học tập và giáo dục đúng đắn được N.A Rubakin; H.Smitman
và nhiều nhà giáo dục học coi là yếu tố quan trọng nhất có tính quyết định đến hiệu quả tự học, vì nó thúc đẩy người học tích cực chủ động trong tự học [5, trlO]
- Những năm 30 của thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục Châu Á cũng quan tâm sâu sắc đến lĩnh vực tự học của học sinh - sinh viên T.Makiguchi - người Nhật- nhà sư phạm lỗi lạc đã trình bày các tư tưởng nổi tiếng trong tác phẩm
“Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” Ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng
- về nhiệm vụ của giáo dục được Unesco nghiên cứu và chỉ rõ “Để đáp ứng thành công nhiệm vụ của mình, giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốnloại hình học tập cơ bản, mà trong suốt cuộc đời của mỗi con người, chúng sẽ là trụ cột về kiến thức: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để
Trang 11làm người” [14, tr 71].
- Ngày nay, chủ trương giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới đều khẳng định: Lên lóp mà GV chỉ thông báo kiến thức là ít có hiệu quả, cần thay dần việc thông báo bằng việc tổ chức HS tự tìm tòi để phát hiện kiến thức
- Tóm lại hoạt động tự học đã được các tác giả xem xét tương đối cụ thể,
từ vai trò của tự học, các kĩ năng tự học cần thiết đến các điều kiện để tổ chức quá trình tự học đạt kết quả
- Hoạt động tự học được các tác giả kết luận là nó phải được thực hiện trong mối quan hệ tương tác họp lý giữa các yếu tố, cá nhân người học, giáo viên và các điều kiện hỗ trợ khác
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Trong lịch sử phát triển của giáo dục ở Việt Nam, vấn đề tự học, tự bồi dưỡng đã được chú ý từ lâu
Thời kì phong kiến, tư tưởng Nho giáo là hệ tư tưởng thịnh hành nhất ở nước ta, đã xuất hiện các lóp tự phát của các công đồ tâm huyết với nghề dạy học, song còn nhiều hạn chế
Thời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nước ta rất chậm đổi mới Hoạt động tự học không được nghiên cứu và phổ biến, nhưng thực tiễn giáo dục lại xuất hiện nhu cầu tự học có tính tự giác rất cao ở nhiều tầng lớp xã hội
Ở miền Nam thời Mỹ - Ngụy, hoạt động tự học đã được chú ý nghiên cứubởi nhiều tác giả, trong đó phải kể đến Đinh Gia Trinh với quan niệm có hai hình thức học là học lấy và học ở nhà trường Ông cho rằng: “Học lấy là tự mìnhhọc lấy triết học, khoa học, văn chương, không cần theo sự giảng dẫn tuần tự của một ông thầy Người ta ai cũng cần học lấy dù cả những người đỗ đạt cao”[1]
Trang 12Hoạt động thực sự được nghiên cứu nghiêm túc và triển khai từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1954) trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng về tinh thần và phương pháp tự học đã dạy: “về cách học, phải lấy
tự học làm nòng cốt” [4 tr 67]
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệp giáo dục của Người Đồng chí chỉ rõ: “Đối với các em học sinh điều quan trọng
có tầm cỡ rộng lớn là tránh tham nhồi nhét, tránh lối học vẹt, chỉ cần học thuộc lòng điều thầy giảng, đối với GV cần sử dụng phương pháp dạy người học suy nghĩ, tìm tòi, hiểu rộng hơn điều thầy nói, mở rộng tư duy và năng lực sáng tạo của người học làm sao cho giờ học là cơ hội để thầy trò thảo luận, tranh luận
từ đó các em rút ra những điều cần học, cần biết ” [11, tr 47 - 51] Trong lí luận và thực tiễn Đồng chí cũng đã chỉ rõ “ phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại”
Trong nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục (11/1/1979) đã viết “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề ghi chéptài liệu, tập làm thực nghiệm khoa học” Chính vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề này có tính thời sự và đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Từ năm học 1977 đến nay, có rất nhiều tác giả với các công trình viết về vấn đề tự học như tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Như Ất, Nguyễn Văn Hộ Khi nói về tự học GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Cốt lõi của học là tự
Trang 13học Hễ có học là có tự học, vì không có ai có thể học hộ người khác được” Nhiệm vụ của chúng ta là “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, tức làkhéo léo kết họp quá trình dạy học của thầy với quá trình tự học của trò thành một quá trình thống nhất biện chứng” [7, ừ 60 - 66].
Riêng lĩnh vực Sinh học có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học điểnhình như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Trần Bá Hoành và nhiều tác giảkhác Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả Trần Bá Hoành đã phântích cơ sở khoa học, cách thiết kế bài học sinh học theo phương pháp tích cực và
kỹ thuật thực hiện các phương pháp tích cực như kĩ thuật xác định mục tiêu bài học, sử dụng câu hỏi, phiếu học tập, kỹ thuật đánh giá Trong đó ông nhấn mạnhphát triển trí sáng tạo của HS, ông chỉ rõ: “GV phải biết hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho học sinh không chỉ kiến thức
mà cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyếtvấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người Làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống xã hội” [12, ừ 50].Nhiều công trình, nhiều báo cáo viết về tự học nói chung ở các lĩnh vực như “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn HS tự học” - Thái Duy Tuyên;
“Dạy học phát huy năng lực tự học cá nhân của học sinh” - Nguyễn Gia cầu và nhiều bài báo khác
Một số luận án tiến sĩ của các tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh; Hoàng Thị Lợi; Nguyễn Thị Tính Nhiều luận văn thạc sĩ viết về những vấn đề có liên
Trang 14quan đến tự học như luận văn của các tác giả Bùi Thúy Phượng, Vũ Phương Thảo, Ngô Thị Mai Hương Các tác giả đã nêu và phân tích cơ sở khoa học củahoạt động tự học, cơ sở tâm lí học, giáo dục học, xã hội học Các tác giả đã khẳng định rõ các yếu tố thuộc về cá nhân (nộilực) có vai tròquyết định đối với kết quả học tập trong đó có năng lực tự học, ngoài ra còn
có yếu tố bên ngoài như biện pháp hướng dẫn của giáo viên, phương pháp, phương tiện cũng có vai trò quan trọng
* Tự học có hướng dẫn: “Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV (có hướng dẫn), như công nghệ giáo dục hiện đại” Việc tự học có hướng dẫn có thể được cụ thể hóa theo mô hình sau:
- Thu nhận thông tin: Qua đọc SGK, tài liệu, qua quan sát, qua thí
nghiệm, qua bài tập,
Trang 15- Xử lý thông tin: Phân tích, tổng hợp, khái quát, nhận xét đánh giá, phê phán, tự trình bày, ứng dụng, lập bảng hệ thống,
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: qua trả lời của bạn, qua tự trả lời, qua tổng kết của thầy
Như vậy người học là chủ thể, trung tâm tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân
lí bằng hành động của chính mình Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho vai trò tự học trong sự họp tác với bạn
Yấn đề thay sách mới đây nhất cho thấy, chúng ta đã tăng lượng kiến thứclên quá nhiều Để chiếm lĩnh được khối lượng kiến thức đó đòi hỏi HS phải có những phương pháp tự học tốt nhất Tri thức nhân loại là vô tận, những công trình khoa học được các nhà khoa học phát minh ra hàng ngày, để chiếm lĩnh và ứng dụng được các tri thức khoa học vào đời sống đòi hỏi mỗi người phải tự nghiên cứu tìm tòi ra phương pháp tự học ở nhà trường và ngoài xã hội
1.2.2.2 Tự học — lời giải cho vẩn đề mang nhiều nghịch ỉỷ đang đặt ra trong chiến lược giáo dục con người
Nghịch lí đầu tiên mà tự học khắc phục đó là con đường tri thức thì vô hạn nhưng tuổi học đường thì có giới hạn Ở nước ta đào tạo Trung học phổ
Trang 16thông là 3 năm, đại học là 4 năm có trường 5 năm trong khi khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học cùng với sự bùng nổ thông tin đang diễn ra hàng ngày.
Nghịch lý thứ hai đó là tự học - con đường để khắc phục khó khăn thử thách rèn luyện ý chí vươn lên, tạo tri thức bền vững cho mỗi con người trên con đường phát triển học vấn và nhân cách suốt cuộc đời
1.2.2.3 Tự học là một nét đẹp truyền thống của dân tộc ta đã được Đảng và Nhà nước xem là vẩn đề mang tính chiến lược cho sự phát triển nguồn lực con người
Chúng ta tự hào về dân tộc có 4 nghìn năm văn hiến Để có được niềm tự hào đó ông cha ta đã biết kết họp sức mạnh, sức sáng tạo dân tộc đã tạo ra chữ viết của riêng mình trên cơ sở đó hình thành nền văn hoá riêng đậm đà bản sắc dân tộc Đã có biết bao tấm gương hiếu học như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, cần thắp sáng truyền thống tự học, tự đào tạo - một nét đẹp văn hoá trong nhân cách của mỗi người và của dân tộc
Biến tự học thành “chiếc gậy thần kỳ”, góp phần phát triển nội sinh dân
tộc, đưa đất nước tiến nhanh trên con đường CNH-HĐH
Tóm lại vai trò của tự học: Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để
tự hoàn thiện bản thân Vì vậy tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực
Trang 171.2.3 Kĩ năng tự học và rèn luyện kĩ năng tự học
* Kĩ năng: là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kĩ xảo trong quá trình nắm vững một phương thức hành động Đặc điểm là đòi hỏi sự tập trung chú ý cao, sự kiểm soát chặt chẽ của thị giác, hành động chưa bao quát, còn có động tác thừa Được hình thành do luyện tập hay do bắt chước [10]
Nói cách khác “Kĩ năng là một việc gì đó mà HS phải thể hiện cái phải làm Kĩ năng bao hàm một hành vi trong đó kiến thức, hiểu biết và lập luận đượcvận dụng một cách công khai” [11, tr.35]
* Rèn luyện kĩ năng tự học: Thực chất là hình thành và hoàn thiện hệ thống kĩ năng tự học Khi tiếp xúc với nguồn kiến thức khác nhau, học sinh cần
có kĩ năng hành động tương ứng HS biết cách tổ chức, thu thập thông tin, xử lí thông tin, tự kiểm tra, tự điều chỉnh trong quá trình làm việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học Hoạt động học bao gồm một số hành động học có mục đích phù họp, đáp ứng mục đích chung của hoạt động học, biết cách sắp xếp trình tự, các hành động một cách họp lí, biết thực hiện các hành động học có kết quả Người nào biết lựa chọn, sắp xếp và thực hiện đúng các hành động theo đúng quy trình để đạt tới mục đích hoạt động thì người đó có phương pháp học
1.2.4 Cơ sở của việc rèn luyện KNTH cho HS
1.2.4.1 Cơ sở triết học
Theo quan điểm triết học thì kết quả của hành động bị chi phối bởi hai yếu tố là nội lực và ngoại lực Yếu tố ngoại lực trong học tập là sự tác động, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn của GV Người thầy giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời Yếu tố nội lực là vốn tri thức đã có, động cơ học tập, năng lực tự
Trang 18điều chỉnh và nội lực là quan trọng nhất Nội lực là nhân tố quyết định đến kết quả quá trinh nhận thức và rèn luyện kĩ năng Do đó cần chú trọng đến yếu tố nội lực.
Song tự học - thuộc quá trình cá nhân hóa việc học - không có nghĩa là học một mình, đơn thân độc mã, mà học trong sự họp tác với các bạn, trong môi trường xã hội, dưới sự hướng dẫn của thầy và sự họp tác của các bạn ngoại lực Ngược lại, tác động của thầy và của môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực tự học của người học
Như vậy, kết họp quá trình dạy với quá trình tự học là nhằm làm cho
“dạy” và “tự học” cộng hưởng được với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao
để đạt mục tiêu đào tạo con người lao động: tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học
1.2.4.2 Cơ sở tâm, sinh lỷ học sư phạm
*Cơ sở tâm lí:
Do đặc điểm tâm lí học lứa tuổi: ở HS phổ thông (từ 15 - 18 tuổi), sự chú
ý tập trung và độ bền cao hơn, khả năng ghi nhớ có tính khái quát hơn, mang tính chọn lọc và có phê phán hơn HS cấp THCS, phẩm chất tư duy sáng tạo, khảnăng tự điều chỉnh, tự đánh giá cũng bộc lộ rõ hơn
về mức độ phát triển cần đạt được là học sinh làm chủ từng bước các mốiquan hệ xã hội của bản thân, phát triển nhân cách với tư cách là chủ thể xã hội [6]
* Cơ sở sinh lý học:
Mô hình dạy - tự học (hướng dẫn tự học) có cơ sở sinh học là: “Học thuyết về phản xạ có điều kiện chủ động” của B.F.Skinner với hai thí nghiệm nổi tiếng là: thí nghiệm dạy chim bồ câu tự tìm lấy thức ăn trong các hạt có hình
Trang 19thù giống nhau nhưng mầu sắc khác nhau, và thí nghiệm “Dạy chuột đạp cần câu cơm”[6].
Theo học thuyết này, bài học là vì lợi ích của chính người học; mục đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của người học Chim bồ câu tự tìm thấy thức ăn, chuột đạp cần câu cơm trong sơ dồ dạy học của Skinner là hình ảnh củangười tự học, tích cực chủ động tìm ra kiến thức - thức ăn tinh thần bằng hành động của chính mình Đó chính là dạy - tự học trong đó việc học (tự học) thực chất là một quá trình
Tóm lại, trên cơ sở hiểu được các vấn đề liên quan đến năng lực tự học, ta
có thể vận dụng vào trong giảng dạy để hình thành năng lực tự học cho HS.1.3 Cơ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
Để tìm hiểu thực trạng của việc giảng dạy và việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua chương I Sinh học 11, chúng em đã sử dụng các phương pháp sau:
* Sử dụng phương pháp điều tra: Thiết kế phiếu điều tra( Phụ lục 1,2) để điều tra về thực trạng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua chương I sinh học 11
* Sử dụng phương pháp phỏng vấn
- Em đã tiến hành phỏng vấn 5 thầy (cô) dạy môn Sinh học lớp 11 và các
em học sinh khối 11 ở trường THPT Tống Văn Trân- Nam Định
* Sử dụng phương pháp quan sát: Dự giờ dạy, tham khảo bài soạn của một số GV dạy môn Sinh học 11, quan sát hoạt động tự học của HS, gặp gỡ trao đổi với các giáo viên và HS về vấn đề quan tâm
1.3.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua dạy học
Trang 20chương I sinh học 11
Qua điều tra, em có thể tóm tắt được kết quả như sau:
1.3.2.1 Thực trạng
*về việc GV hướng dẫn HS tự học chương I Sinh học 11:
- Giáo viên thường chỉ yêu cầu HS học bài cũ và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi và bài tập trong SGK, một số GV có thể hướng dẫn HS học bài cũ và chuẩn bị bài mới Một số GV quan tâm đến việc yêu cầu học sinh lập dàn ý và xây dựng sơ đồ Grap cho các bài học và các bài ôn tập chương
- GV ở trường phổ thông đã sử dụng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng
tự học cho HS như: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi, hướng dẫn HS giải bài tập
có một số GV đã hướng dẫn HS biện pháp tự học tích cực khác nhau như: Hướng dẫn HS xây dựng đề cương, xây dựng sơ đồ tóm tắt (GRAP), hướng dẫn
HS phân tích đồ thị hình vẽ, tổ chức cho HS thảo luận Tuy nhiên, việc hướng dẫn chủ yếu là do GV chuẩn bị sẵn nội dung, giảng giải cho các em rồi yêu cầu
HS làm lại Việc phát huy tính tích cực chưa thực sự được chú trọng
*về việc HS rèn luyện kĩ năng tự học
-về việc chuẩn bị bài mới trước khi lên lớp: Nếu thầy cô giáo giao nhiệm vụ, yêu cầu HS đọc bài ở nhà thì phần lớn HS có ý thức đọc trước Nếu các thầy cô không giao nhiệm vụ, không yêu cầu HS đọc bài ở nhà thì chỉ một phần nhỏ các em tự giác đọc (chủ yếu là các em học khá, giỏi) Qua điều tra em thấy rằng hầu hết các em chỉ đọc lướt qua (đọc lấy lệ hoặc đọc đối phó), một số
có tìm hiểu xem nội dung bài sẽ học gồm những mục nào, nội dung nào, rất ít các em tìm thuật ngữ khó hiểu dể dự định hỏi thầy cũng như tìm mối liên quan giữa kiến thức mới với kiến thức đã học
- Đối với việc sào bài (tức là xem lại bài vừa học): Nhiều em không xem
Trang 21lại bài vừa học mà các em chỉ có thói quen học bài cũ chuẩn bị cho việc kiểm trabài của ngày hôm sau, một số chỉ xem qua ở mức đơn giản và một số các em xem lại bài kết hợp điều chỉnh vở ghi chép bài giảng trên lớp và tìm hiểu thêm những điều mà chưa có ở trên lớp hoặc nghe chưa rõ, hoặc khó hiểu nhưng không thường xuyên.
- về việc học bài cũ và thực hiện ôn tập chương: Hầu hết các em sử dụnghình thức học thuộc lòng bài cũ thậm chí cả bài ôn tập chương cũng học thuộc (có một số em không hiểu nhưng vẫn học thuộc), một số ít học bằng cách xây dựng đề cương, lập sơ đồ (Grap) làm bài tập thông qua đó mà ghi nhớ kiến thức.Một số ít học kiến thức cơ bản của bài, chương và có thực hiện đọc thêm tài liệu
để mở rộng kiến thức có liên quan nhưng mức độ còn ít Có thể kết luận rằng xu hướng chung của HS về tự học là: để chuẩn bị cho việc kiểm tra bài cũ của GV
để lấy điểm, một số để nắm vững những kiến thức cơ bản chứ ít có nhu cầu mở rộng, hiểu sâu kiến thức
- về hoạt động của HS trong giờ lên lớp: Phần nhiều HS thụ động nghe giảng, ít động não suy nghĩ, chỉ trả lời khi thầy yêu cầu và không dám hỏi thầy khi có thắc mắc, ghi (chép lại) theo nội dung đọc tóm tắt của thầy, chỉ có một số nhỏ HS tích cực, chủ động trong quá trình học như sẵn sàng trả lời câu hỏi của thầy nếu biết và thậm chí sẵn sàng hỏi lại thầy nếu có thắc mắc
- về vấn đề thảo luận nhóm: Qua dự giờ và trao đổi với các em HS và
GY em thấy: Khi GV yêu cầu nghiên cứu SGK trao đổi nhóm và thảo luận, một
số nhỏ HS không làm gì chỉ nghe các bạn trong nhóm làm và báo cáo, phần lớn các em có tham gia (để GV không phê bình) nhưng không nhiệt tình Chỉ những
HS học khá, hay phát biểu (năng động) thì giữ vai trò chủ chốt trong giờ học khi
Trang 22GV sử dụng hình thức trao đổi nhóm Đa số các em biết bám sát yêu cầu của câuhỏi khi thảo luận song khả năng diễn đạt ý kiến rõ ràng, ngắn gọn và khả năng tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, của nhóm mình còn hạn chế.
- về ý thức môn học: thì phần lớn các em chỉ coi môn sinh học là nhiệm
vụ bắt buộc, không hứng thú, say mê môn học Chỉ một phần nhỏ là yêu thích
- Một số HS yêu thích môn học nhưng lại chưa được hướng dẫn phương pháp tự học do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tự học
* về phía GV:
- Phần lớn các GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học truyền thống sang dạy học - tự học, song do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống đã quá quen thuộc trong thời gian dài, do thói quen ngại thay đổi cái cũ cũng như ngại mất nhiều công sức, thời gian cho việc soạn bài theo hướng tăng dần tính tích cực của người học Do vậy, những giờ dạy theo phương pháp dạy - tự học tăng cường hoạt động của HS chưa được nhiều
Trang 23- Do các em HS có trình độ nhận thức không đều, rất nhiều em học yếu,
ít nói do vậy tâm lí của nhiều GV chỉ lo dạy cho các em nắm được kiến thức cơ bản, còn việc rèn luyện, hướng dẫn phương pháp tự học rất hạn chế
* Ngoài các nguyên nhân cơ bản trên chúng tôi thấy còn có một số nguyên nhân khác như thiếu tài liệu hướng dẫn tự học, do cơ sở vật chất còn chưa đáp ứng đầy đủ cho việc đổi mới phương pháp như phòng học hiện đại, máy tính, đèn chiếu
Qua nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân nói trên thì khẳng định việc tăng cường rèn luyện kĩ năng tự học cho HS về bộ môn Sinh học 11 cần được quan tâm và chú trọng hơn nữa
Chương 2 RÈN LUYỆN KNTH CHO HS THÔNG QUA DẠY HỌC
CHƯƠNG I, SINH HỌC 11
2.1 Đặc điểm kiến thức các bài thuộc chương I Sinh học 11
Nội dung kiến thức lí thuyết trong bài giảng trên lớp dài và mất nhiều thờigian nếu chỉ nghiên cứu ở trên lớp Nếu giáo viên tự mình truyền đạt hết lượng kiến thức này thì sẽ thiếu thời gian đồng thời học sinh bị động và tiếp thu bài giảng không hiệu quả
Cần có nhiều mẫu vật trực quan mà giáo viên phải nêu ra hoặc chuẩn bị
và mang tới lớp giúp bài học sinh động Mà những mẫu vật hay hiện tượng này học sinh có thể dễ dàng chuẩn bị hoặc trực tiếp quan sát được trong cuộc sống xung quanh ngay trong vườn nhà hay ngoài đồng ruộng
2.2 Một số KNTH cần rèn luyện cho HS thông qua dạy học Sinh học 11 2.2.1 Kĩ năng đọc SGK
* “Để nâng cao giá trị dạy học, GV phải xem SGK là công cụ để tổ chức
Trang 24hoạt động tự học của HS” [5] SGK chứa đựng những kiến thức khoa học cơ bản
và hệ thống nên HS có thể lĩnh hội kiến thức một cách logic, ngắn gọn, súc tích,
rõ ràng và khái quát nhất Trong quá trình làm việc với SGK, HS không những chỉ nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đọc sách Với tư cách là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản cho HS
Do vậy điểm mấu chốt của việc nâng cao năng lực tự học cho HS là mỗi GV phải biết tổ chức cho HS cách làm việc với các bài trong SGK
* Để giới thiệu cho HS cách làm việc với các bài học trong SGK, GV chỉ cho HS biết làm việc với bài học là làm việc với cả phần chữ và phần hình dựa theo các câu hỏi tương ứng ở phần đó, đồng thời chỉ ra cho HS thấy, để làm việcvới bài học có kết quả thì có thể tiến hành theo quy trình sau:
1.Đọc và tìm hiểu sơ bộ về nội dung bài học: Tên bài, tìm hiểu thông tin
ở đầu bài và đọc lướt qua xem trong bài có những tiểu mục gì để hiểu sơ bộ bài học nghiên cứu vấn đề gì?
2.Đọc kĩ và tìm hiểu nội dung khoa học của bài và nội dung các hoạt động cần thực hiện qua việc:
- Xác định các thuật ngữ mới trong bài, tìm hiểu nghĩa của những thuật ngữ đó
- Tìm hiểu ý nghĩa của các công thức, các số liệu bằng cách so sánh với những số liệu cùng loại về đối tượng mình đã biết
- Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi nêu ra ở phần đề mục hoặc cuối đoạnvăn bản, sau đó tóm tắt ý chính của phần đó
- Nghiên cứu các hình vẽ, bảng biểu kết hợp với thông tin bằng lời và trả lời các câu hỏi kèm theo
3.Ghi tóm tắt dàn bài theo các nội dung cơ bản hoặc tìm hiểu nội dung
Trang 25của phần ghi nhớ cuối bài học.
4.Vận dụng lý thuyết để trả lời các câu hỏi, bài tập bằng ngôn ngữ viết, nói (kể cả bằng hình vẽ sơ đồ, bảng biểu) qua đó tự kiểm tra lẫn nhau về mức độnắm vững tài liệu và kĩ năng vận dụng
Điều quan trọng là GV cần tổ chức cho HS vận dụng thường xuyên quy trình trên khi tự học với bài học trong SGK, từng bước di chuyển kĩ năng sang các hoạt động phức tạp hơn
2.2.2 Kĩ năng tìm câu trả lời cho câu hỏi
* Để rèn luyện kĩ năng tự học trong việc tìm câu trả lời các câu hỏi cho
HS trong quá trình nghiên cứu SGK, trong khâu chuẩn bị bài mới, khâu làm việcvới SGK để phát hiện kiến thức mới trong giờ dạy hay trong quá trình ôn tập bài
cũ, GV cần thực hiện các bước sau:
- Bước 1 : Giới thiệu cho HS biết cấu trúc và trình tự thực hiện các thao tác của kĩ năng trả lời câu hỏi Bao gồm:
+ Đọc kĩ câu hỏi, phân tích và xác định rõ những yêu cầu của câu hỏi.+ Xác định nội dung bài học có liên quan đến câu hỏi
+ Xác định xem nội dung bài học đã có sẵn câu trả lời cho câu hỏi
không? Nếu không thì có thể phân tích, tổng họp những kiến thức nào trong bài,vận dụng kiến thức đó để trả lời câu hỏi
+ Nêu câu trả lời cho câu hỏi
- Bước 2: Lấy VD minh họa để HS biết cách thực hiện các thao tác trên
- Bước 3: Tổ chức luyện tập trong quá trình dạy học Việc tổ chức luyện tập được tiến hành theo 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 : GV trực tiếp hướng dẫn HS cách trả lời câu hỏi, với mục
Trang 26đích làm cho HS nắm được các trình tự thao tác của kĩ năng trả lời câu hỏi.+ Giai đoạn 2: Khi HS đã nắm được cách thực hiện trả lời câu hỏi và có khả năng thực hiện được các thao tác đó ở mức độ nhất định, GV đưa câu hỏi yêu cầu HS thực hiện trên phiếu học tập (hoặc hệ thống câu hỏi cho về nhà) Đối với những câu hỏi khó đòi hỏi tư duy tổng họp khái quát, GV cần hướng dẫn mang tính chất định hướng cho HS.
* Ví dụ minh họa : Nghiên cứu thông tin SGK trang 25/ sinh học 11 kết họp với kiến thức đã biết, trả lời các câu hỏi sau:
- Kể tên các chất hữu cơ chứa Nitơ? Từ đó nêu vai trò của N trong đời sống thực vật? Dấu hiệu thiếu N của cây ?
- Các dạng Nitơ nào cây dễ hấp thụ ?
- Nguồn cung cấp Nitơ tự nhiên cho cây ?
2.2.3 Kĩ năng làm việc với hình vẽ trong SGK
về kĩ năng làm việc với hình vẽ, chủ yếu rèn luyện cho HS khả năng xác định xem hình vẽ cho biết điều gì, biết xem xét các chi tiết, các bộ phận trên hình vẽ (mức độ 1), rèn luyện khả năng mô tả, rút ra các nhận xét khái quát về đặc điểm của đối tượng hay trình bày diễn biến của hiện tượng, quá trinh được thể hiện qua hình vẽ (mức độ cao hơn)
Hình vẽ trong SGK là phương tiện trực quan trình bày các đặc điểm cấu tạo của sự vật hoặc diễn biến của hiện tượng, quá trình ở dạng cố định, khái quátloại bỏ những chi tiết thứ yếu Điều đó cho phép các HS nghiên cứu sự vật, hiệntượng, quá trinh đó một cách dễ dàng hơn Trong SGK sinh học 11 thuộc chương I có rất nhiều hình vẽ do vậy việc rèn luyện cho HS kĩ năng tự học trongkhi làm việc với hình vẽ trong tài liệu là vô cùng cần thiết
Trang 27* Các bước rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong làm việc với hình vẽ trong SGK.
Để rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc với hình vẽ SGK, GV có thể tiến hành theo các trình tự sau:
- Bước 1: Giới thiệu cho HS biết cấu trúc và trình tự thao tác của kĩ nănglàm việc với hình vẽ trong SGK
Cấu trúc và trình tự thực hiện các thao tác của kĩ năng làm việc với hình
vẽ, GV cần giới thiệu cho HS biết là:
1.Xác định hình vẽ biểu diễn cái gì
2.Xác định các bộ phận có trên hình vẽ, đặc điểm, chức năng của mỗi bộ phận và mối liên hệ giữa chúng, xác định các kí hiệu đặc biệt có trên hình vẽ và
ý nghĩa của chúng
3.Mô tả, rút ra nhận xét về đặc điểm của mỗi đối tượng hoặc trình bày diễn biến của hiện tượng, quá trình theo hình vẽ và những kết luận cần thiết
- Bước 2: Lấy VD minh họa để HS biết cách thực hiện các thao tác trên
- Bước 3: Tổ chức cho HS luyện tập kĩ năng trong quá trình học
Việc tổ chức luyện tập được tiến hành qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: GV trực tiếp hướng dẫn HS cách phân tích hình vẽ Mục đích làm cho HS nắm được các trình tự thao tác của kĩ năng làm việc với hình
vế trong SGK
+ Giai đoạn 2: Khi HS đã nắm được cách thực hiện và có khả năng thực hiện được các thao tác đó ở mức độ nhất định, GV đưa câu hỏi yêu cầu HS thực hiện trên PHT (hoặc hệ thống câu hỏi cho về nhà)
Khi tổ chức cho HS luyện tập kĩ năng làm việc với hình vẽ, GV yêu cầu
HS nghiên cứu một hình vẽ nào đó trong SGK hoặc trong PHT cùng hệ thống
Trang 28câu hỏi tự lực và trả lời các câu hỏi tương ứng với trình tự thao tác đã học.
* Ví dụ minh họa : Khi dạy bài 6: “Dinh dưỡng Nitơ ở thực vật”, giáo viên có thể hưửng dẫn học sinh làm việc với hình vẽ như sau:
- Yêu cầu các em xác định hình vẽ biểu diễn nội dung gì và có những thành phần nào? (cây, đất, rễ cây, các hợp chất chứa Nitơ, các loại vi sinh vật)
- Đường đi của các hợp chất hữu cơ chứa Nitơ ?
- Hãy chỉ ra trên sơ đồ các con đường chuyển hóa Nitơ hữu cơ trong đất thành dạng Nitơ khoáng?
- Hãy chỉ ra trên hình con đường cố định Nitơ phân tử xảy ra trong đất?
2.2.4 Kĩ năng diễn đạt nội dung đã học và đã đọc bằng sơ đồ, bảng biểu
• Việc diễn đạt nội dung có thể được thể hiện trong việc HS trả bài cũ nhưng cũng có thể dùng trong việc HS nghiên cứu SGK hay tài liệu theo hướng dẫn của GV từ đó HS diễn đạt lại nội dung đã học hay đã đọc được
Việc diễn đạt nội dung đã học và đã đọc có thể bằng văn nói hay văn viết trong đó nội dung trình bày đã được gia công để biến thành sản phẩm của người học
Trang 29Đây là một kĩ năng rất quan trọng vì đó là một sản phẩm biểu thị phẩm chất nắm vững nội dung đã học và đã đọc của HS.
• về hình thức thể hiện: HS có thể trình bày nội dung thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như: bằng lời văn, đồ thị hay bảng biểu, sơ đồ Dù hình thức nào thì mấu chốt là các em cần diễn đạt theo cách hiểu của bản thân chứ không chép lại nội dung tài liệu
Nên hướng dẫn HS thói quen ôn tập cũng như thói quen trình bày vấn đề
đã học, đã đọc bằng sơ đồ, bảng biểu
Sơ đồ, bảng biểu là sự khái quát tài liệu đã học, đã đọc một cách có mục đích bằng những kí hiệu đặc trưng, ước lệ đòi hỏi HS phải biết gia công, xử lí các nội dung đã học, đã đọc( tìm tòi, phân tích, khái quát, tổng họp) để đi tới kiến thức
Loại hình học tập này có thể vận dụng được hầu hết các bài giảng sinh học giúp HS có thể tập hợp các kiến thức cơ bản của nội dung bài học một cách
dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn và đặc biệt giúp HS tiếp thu và ghi nhớ kiến thức một cách hệ thống và khái quát
*Các bước rèn luyện năng lực diễn đạt nội dung bằng sơ đồ, bảng biểu:
- Bước 1 : Giới thiệu cho HS biết cách thức diễn đạt nội dung văn bảnnhư
+ Xác định nội dung cần diễn đạt là gì?
+ Xác định các nội dung và mối quan hệ giữa chúng
+ Trình bày các nội dung đó bằng hình thức họp lí: sơ đồ, đồ thị hay bảngbiểu
- Bước 2: Lấy VD minh họa để HS biết cách thực hiện các thao tác trên
Trang 30- Bước 3: Tổ chức cho HS luyện tập trong quá trình học tập.
Cụ thể cách tổ chức được tiến hành như sau:
- Trong giờ học GV ra câu hỏi, bài tập và kết họp dùng PHT để HS tóm tắt nội dung hay một vài phần trong bài, từ dạng nội dung đơn giản như mô tả sau dần đến nội dung xác định cơ chế và mối liên quan giữa các nội dung Nghĩa
là HS sử dụng biện pháp logic từ thấp đến cao
- Lúc đầu GV có thể cho HS điền nội dung theo một sơ đồ định hướng hoặc bảng biểu chưa đầy đủ, khi HS quen thì yêu cầu HS tự lập, diễn đạt nội dung đã học theo hình thức phù họp
• VD minh họa
VD1: Học sinh nghiên cứu thông tin SGK, kết họp với hình vẽ H1.3 mô
tả đường đi của nước và ion khoáng theo sơ đồ ngắn gọn?
VD 2: HS diễn đạt thông tin bằng cách lập bảng so sánh
Khi dạy bài hô hấp ở thực vật - đây là một bài có nội dung tương đối khó trong chương để HS dễ dàng hiểu được cơ chế và các con đường hô hấp ở thưc vật, GV cần hướng dẫn HS biết cách diễn đạt bằng cách lập bảng phân biệt các con đường hô hấp ở thưc vật
Giáo viên chia lóp thành 4 nhóm thảo luận hoàn thành
Trang 31Nội dung Đường phân Lên men Crep
chuỗi truyềnelectronNơi thực
hiện tế bào chất tế bào chất màng trong ti
thể
chât nên tithểNguyên liệu glucozo axit
piruvic axit piruvic NADH,
fadh2
Sản phẩm
2 axit piruvic, 2 NADH, ATP
rượu và C02 C02, NADH,
FADH2 vàATP
H20ATP
2.2.5 Kĩ năng thảo luận nhóm cho HS
Để rèn luyện cho HS tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình họctập, một hướng đổi mới trong quá trình rèn luyện kĩ năng tự học là rèn luyện được kĩ năng thảo luận nhóm cho HS
Các bước rèn luyện
-Bước 1: Trước hết GV giới thiệu cho HS cách thức tiến hành thảo luận, các kĩ năng thảo luận, yêu cầu của các kĩ năng và cách thức thực hiện các kĩ năng đó
Cách thức tiến hành thảo luận cần giới thiệu cho HS là:
+ Tổ chức nhóm và tiếp cận các nhiệm vụ học tập
+ Các nhóm tiến hành hoạt động + Tự nghiên cứu
cá nhân + Thảo luận nhóm + Đánh giá, rút kinh
nghiệm
- Bước 2: Lấy ví dụ làm mẫu
Trang 32GY tổ chức cho một nhóm HS thảo luận, các thành viên trong lớp quan sát Công việc được tiến hành trong quá trình dạy ở trên lóp.
- Bước 3: Tổ chức luyện tập
Việc tổ chức luyện tập được tiến hành qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: GV trực tiếp tổ chức cho HS thảo luận nhằm mục đích làmcho HS nắm được cách thảo luận
+ Giai đoạn 2: Khi HS đã nắm được quy trinh thảo luận và cách thức thựchiện các kĩ năng thảo luận nhóm, việc luyện tập kĩ năng thảo luận nhóm chủ yếuđược thực hiện trong giờ ôn tập do HS tự tiến hành với sự tổ chức quản lí, điều khiển và kiểm tra của GV
Yêu cầu khi tổ chức cho HS tự lực thảo luận nhóm:
- Cần dành một khoảng thời gian nhất định cho hoạt động học tập của
cá nhân cũng như hoạt động của cả nhóm Nếu như chỉ chú ý đến hoạt động của
cá nhân hoặc chỉ chú ý đến hoạt động của cả nhóm thì hoạt động thảo luận nhóm
sẽ không hiệu quả
- Tình huống học tập phải được thiết kế một cách ngắn gọn thành một câu hỏi có tính chủ đề đòi hỏi HS phải tự tìm hiểu nghiên cứu
- Phương tiện dùng cho thảo luận nhóm nên dùng phiếu học tập và phương tiện khác như dạy hoc bằng giáo áo điện tử sẽ giúp các em tự lực tốt hơntrong quá trình thảo luận nhóm
- GY cần trợ giúp HS trong quá trình thảo luận nhóm để kiểm tra giúp
đỡ kịp thời cũng như nhắc nhở HS tránh hiện tượng các em không tích cực thamgia mà lại ỷ lại vào bạn
*VÍ dụ minh họa
Trang 33Bài 10+ 11:” Anh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang họp, quang hợp và năng suất cây trồng”
Giáo viên chia lóp thành 4 nhóm: mỗi nhóm thảo luận theo các nội dung sau:
• Nhóm 1 : Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng
- Quan sát hình 10.1 cho biết cường độ ánh sáng ảnh hưởng như thế nào đến cưởng độ quang hợp(QH) khi nồng độ C02 bằng 0,01 và 0,32?
- Điểm bù ánh sáng là gì? Điểm bão hòa ánh sáng là gì?
- Từ điểm bù ánh sáng đến điểm bão hòa ánh sáng cường độ quang họp
có mối tương quan như thế nào với cường độ ánh sáng?
• Nhóm 2: Nghiên cứu quang phổ ánh sáng
- Có phải tất cả các tia sáng đều có ý nghĩa đối với quang hợp không?
- Thành phần của tia sáng có bị biến đổi không? Khi nào?
- Trong sản xuất con người đã có biện pháp kĩ thuật gì để có được quangphổ thích hợp cho cây trồng?
• Nhóm 3 : Nghiên cứu nồng độ C02
- Cây quang họp được ở nồng độ C02 như thế nào? Thế nào là nồng độ bão hòa C02?
- Nồng độ C02 ảnh hưởng đến quang họp như thế nào?
- Quan sát HI0.2 cho biết sự phụ thuộc của quang họp vào nồng độ C02
có giống nhau ở tất cả các loài cây không?
Nhóm 4: Nghiên cứu nước và nhiệt độ
- Nước có những vai trò gì đối với quang hợp?
- Phân tích hình 10.4 và rút ra nhận xét về ảnh hưởng của nhiệt độ đến
Trang 34QH ở thực vật?
- Muối khoáng ảnh hưởng như thế nào đến QH? Cho YD?
Yêu cầu 4 nhóm hoàn thành phần thảo luận trước khi lên lóp sau đó cử 1 bạn HS đại diện cho nhóm trình bày trước lóp Có thể mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố dưới dạng đồ thị
2.3 Một sổ biện pháp rèn luyện KNTH cho HS thông qua dạy học Sinh học 11 2.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập
• Hỏi là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời để mình biết vấn đề nào đó
• Câu hỏi trong dạy học là câu hỏi kích thích tư duy tích cực, câu hỏi đưa ra trước HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng họp, khái quát hóa qua đó lĩnh hội kiến thức
Trong dạy học câu hỏi có vai trò sau: Câu hỏi trong dạy học khác với câu hỏi trong đời sống ở chỗ GV không phải hỏi điều mình chưa biết để nhận thức Những câu hỏi mà GV đặt ra trong quá trình dạy học là những điều GV đã biết Câu hỏi đưa ra để kiểm tra kiến thức, kĩ năng HS, để kích thích khả năng tư duy của HS, dẫn HS tư duy khám phá những điều mà các em chưa biết, hỏi để cung cấp kiến thức, kĩ năng cho HS
Câu hỏi là phương tiện trong dạy học để mã hóa nội dung học tập Biến nội dung được mô tả chuyển sang dạng nêu những điều kiện đã biết và những điều kiện cần tìm Yà nó được sử dụng hầu hết trong tất cả các bài giảng
• Biện pháp sử dụng câu hỏi để rèn luyện kĩ năng tự học môn Sinhhọc 11
Trang 35- Sử dụng câu hỏi trong khâu củng cố, ôn tập, hoàn thiện kiến thức+ Sử dụng câu hỏi nhằm mục đích hướng dẫn tự học cho việc ôn tập một nội dung kiến thức
Các câu hỏi này chỉ dừng lại ở mức yêu cầu HS thông hiểu bản chất nội dung của từng phần, từng nội dung kiến thức
+ Sử dụng câu hỏi nhằm mục đích hướng dẫn tự học cho việc ôn tập vài nội dung kiến thức có liên quan: Dạng câu hỏi này thường là các câu hỏi yêu cầu
HS lập bảng so sánh nghĩa là yêu cầu HS phải sử dụng biện pháp logic ở mức độcao hơn một bước vì yêu cầu lời giải không chỉ là ghi lại máy móc tri thức từ nộidung đã học hay bản chất, cấu trúc của một cấu trúc riêng lẻ mà phải là kết quả của sự suy nghĩ, phân tích tìm ra được sự giống nhau và khác nhau giữa các cấu trúc, các vật chất, cũng như các cơ chế với nhau
+ Sử dụng câu hỏi nhằm mục đích hướng dẫn tự học, ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức của cả chương
Các câu hỏi này thường là hệ thống hóa kiến thức theo một chủ đề Như vậy yêu cầu HS phải tư duy logic cao nhất để phân tích, hệ thống hóa kiến thức
đã được học ở trên lớp và trong SGK theo một hệ thống phù họp với yêu cầu của việc dạy học Yêu cầu của lời giải đáp không chỉ dừng lại ở mức hiểu bản chất, mối liên hệ giữa các kiến thức mà còn là các kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng bản chất của kiến thức đã học và mối quan hệ đó vào giải quyết các tình huống khác nhau
- Sử dụng câu hỏi hướng dẫn HS nghiên cứu SGK để tiếp thu kiếnthức
Trong quá trình tự học có thể nói rằng hoạt động làm việc với SGK là
Trang 36khâu vô cùng quan trọng Để nâng cao năng lực làm việc với SGK để phát hiện kiến thức mới cần tiến hành những biện pháp sau:
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi có vấn đề yêu cầu HS nghiên cứu SGK và huy động kiến thức của bài học trước để phát hiện kiến thức mới
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS tự lực phân tích hình vẽ, bảng biểu trong SGK
Ví dụ minh họa:
Để tăng năng suất cây trồng thông qua sự điều khiển quang họp người ta
đã tiến hành các biện pháp nào? Nêu nguyên nhân của các biện pháp? Cách tiến hành ? và ý nghĩa của mỗi biện pháp?
Em hãy trả lời câu hỏi trên bằng cách điền vào bảng sau?
' x \ Biện pháp
Đăc điểm \
• \
Tăng diện tích lá
Tăng cường độ quang
hợp
rwTV 1 Ẵ Tăng hệ sô kinh tế Nguyên nhân
biện pháp
- Lá là cơ quan quang họp: chứa
hệ sắc tố, enzim,chứa các chất
- Cường độ quang họp
là chỉ số thể hiện hiệu suất hoạt động của bộ máy quang hợp Chỉ số
đó ảnh hưởng quyết định đến sự tích luỹ chất khô và năng suất cây trồng
- Giúp các
chát tích tụ được nằm nhiều trong
bộ phận có giá trị, đỡ lãng phí
Trang 37Cách tiến hành
- Bón phân, tướinước họp lý
- Thực hiện biệnpháp kỹ thuật phù họp với loàicây
- Tuyên chọn giông mới
- Thực hiện các biện pháp kĩ thuật: cung cấp
đủ nước, phân bón, chăm sóc
- Chọn giôngcây có sự phân bố sản phẩm quang họp vào các
bộ phận có giá trị kinh tế
- Có biện pháp nông sinh họp lý: Bón phân
Ý nghĩa
- Giúp tăng trị
số lá đạt tới giá trị cực đại
- Tăng năng suât cây trồng, tiết kiệm các chất cần thiết
2.3.2 Sử dụng phiếu học tập
• Khái niệm PHT: hay còn gọi là Phiếu hoạt động hay phiếu làm việcPHT là những “tờ giấy rời” in sẵn những công tác độc lập hoặc làmtheo nhóm nhỏ được phát cho từng HS tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học hoặc tự học ở nhà Mỗi PHT có thể giao cho HS một hoặc vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm hướng tới kiến thức, kĩ năng hay rèn luyện thao tác tư duy
Yai trò của PHT trong việc hướng dẫn HS tự học: Đối với hoạt động tự học PHT là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ HS trong việc tự lực chiếm lũih trithức Nó có tác dụng định hướng cho HS cần nắm bắt nội dung phần này như
Trang 38thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm? Với vai trò đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học, làm cho chất lượng dạy học ngày càng nâng cao.
• Sử dụng PHT trong hướng dẫn tự học: bao gồm các hình thức sau:
- Sử dụng PHT trong khâu hình thành kiến thức mới:
Gồm các bước
Bước 1: Giao và nhận nhiệm vụ học tập
GY giao PHT cho HS, gợi ý cho HS cách tìm thông tin, cách giải quyết yêu cầu của phiếu, tương ứng với giai đoạn hướng dẫn của thầy
Trong bước này GV nêu tình huống, phát PHT để xác định nhiệm vụ học tập cho HS HS nhận nhiệm vụ học tập qua các yêu cầu ghi sẵn trong phiếu để hoàn thành bảng biểu, điền vào ô trống, rút ra nhận xét, kết nối thông tin 2 cột, chú thích tranh câm, điền thông tin vào sơ đồ
Bước 2: Thu thập thông tin
Để thực hiện các yêu cầu mà giáo viên đề ra HS phải tự thu thập thông tin, trong quá trình HS thu thập thông tin GV cần giúp đỡ bằng cách gợi ý qua một số câu hỏi định hướng từ đó HS thu thập thông tin cần thiết để thực hiện yêu cầu nêu ra
Bước 3: Xử lí thông tin hoàn thành PHT
Dựa vào yêu cầu cụ thể của PHT, HS tự đọc, tìm tòi, quan sát, phân tích, tổng họp thông tin theo các yêu cầu của PHT, làm việc cá nhân hoặc trao đổi nhóm thống nhất đáp án trả lời phiếu
Bước 4: Trình bày kết quả
Sau khi từng cá nhân hay nhóm thống nhất tìm ra đáp án cần hoàn thành PHT giáo viên yêu cầu đại diện mỗi nhóm trình bày, giải thích, báo cáo, tranh
Trang 39luận những kết quả đã làm theo yêu cầu của PHT đã đề ra.
Trong khi HS thảo luận thầy giữ vai trò là trọng tài, nhận xét, thẩm định kết quả của HS HS tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa chữa, điều chỉnh
Bước 5: Tự hoàn thiện kết quả PHT
Sau khi cho HS báo cáo, thảo luận, GV tổng kết, kết luận HS tự sửa để hoàn thiện PHT
- Sử dụng PHT để ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức
+ PHT được sử dụng trong khâu củng cố, ôn tập kiến thức vừa thể hiện được ý đồ củng cố nâng cao nhận thức cho HS vừa giúp các em hiểu sâu sắc cáckhái niệm, thiết lập các quan hệ giữa các cấu trúc hay các yếu tố của qúa trình sinh học và hệ thống hóa kiến thức
+ Hướng dẫn HS ôn tập, củng cố và mở rộng kiến thức đã học trên lóp đó
là PHT dưới dạng sơ đồ hệ thống, các PHT liên chương
+ Cách sử dụng là:
Bước 1 : Sau khi học xong bài GV phân phát PHT yêu cầu HS về nhà làmBước 2: HS nhận PHT về nhà và hoàn thành theo chỉ dẫn trong phiếuBước 3: Nộp lại cho GY kiểm tra để biết mức độ hiểu bài của HS từ đó
có biện pháp điều chỉnh việc học tập
- Sử dụng PHT hướng dẫn HS tự đọc trước bài và điền thông tin vàoPHT
Cách sử dụng: GV biên soạn PHT và phát cho HS yêu cầu HS về nhả đọctrước bài mới để hoàn thành PHT Khi dạy bài mới GV yêu cầu HS trình bày PHT đã làm ở nhà, sau đó thảo luận chung cả lớp, GV nhận xét thẩm định, đánh
Trang 40giá, HS đối chiếu sửa theo đáp án của thầy.
VD minh họa:
Quan sát Hình 18.1 và Hình 18.2 kết hợp với nghiên cứu thông tin SGK hoàn thành nội dung của PHT sau:
PHTTìm hiểu HTH kín, HTH hởdạng HTH
Thời gian thảo luận 7 phút
Sau đó rút ra ưu điểm của HTH kín?
2.3.3 Sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
• Bộ câu hỏi trắc nghiêm khách quan (TNKQ) là một tập họp các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cùng với đáp án Các câu hỏi này được biên soạn