LỜI CẢM ƠNTrong quá trình triển khai khóa luận với đề tài "Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của trường Đại học sư
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận với đề tài "Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN
từ năm 1991 đến năm 2010”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của trường Đại học
sư phạm Hà nội 2; của các thầy cô trong khoa Giáo dục chính ừị; Thư viện quốc gia; Viện nghiên cứu Trung Quốc Đặc biệt là sự tận tình của cô giáo: Nguyễn Thị Nga
Nhân khóa luận được hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn đến nhà trường, tới khoa, các cán bộ trong Thư viện Quốc gia và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Nga
Do tính mới mẻ của đề tài cũng như những hạn chế về thời gian, kiến thức và tài liệu nghiên cứu, khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của của các thầy cô và các bạn để làm cho khoa luận hoàn thiện hơn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận được hoàn thành là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Khóa luận với đề tài “Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm
1991 đến năm 2010”, chưa từng công bố ở bất kì công trình nghiên cứu
khoa học nào.
MUC LUC • • LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC
Trang 24 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của khóa luận
6 Bố cục khóa luận NỘI
DUNG
»
Chương 1: Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991
1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN
Chương 2: Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991đến năm 2010
2.1.1 Bối cảnh lịch sử
2.1.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 1991 - 2000
2.1.2.1 Trên lĩnh vực thương mại2.1.2.2 Trên lĩnh vực đầu tư - viện trợ
2.2.1 Bổi cảnh lịch sử
2.2.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN giai đoạn
2000-2010 2.2.2.1 Trên lĩnh vực thương mại
2.22.2. Trên lĩnh vực đầu tư
Chưong 3: Đánh giá chung về mối quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN
3.1.1 Kết quả
3.1.2 Những hạn chế
3.2 Cơ hội và thách thức của mối quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN
Trang 3xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế chung của các quốc gia, dân tộc và các tổ chức kinh tế Trước hoàn cảnh đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh, củng
cố vị trí trên thị trường quốc tế, hội nhập và họp tác đã trở thành xu thế chủ yếu của toàn thế giới
Là một nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bĩnh Dương, với những thành tựu đạt được trong quá trình cải cách mở của kinh tế Sau chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình cho phù hợp với xu thế chung của thời đại Với chính sách “láng giềng hữu nghị ”, ASEAN trở thành một đối tác quan trọng của Trung Quốc trong bối cảnh thế giới mới Quan hệ ASEAN - Trung Quốc từng bước đạt được nhiều kết quả khả quan và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thế giới
Trang 4Việt Nam là một thành viên của ASEAN, đồng thời cũng là láng giềng của Trung Quốc Vì vậy, sự phát triển tốt đẹp mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN sẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách kinh tế và xây dựng đất nước Việc nghiên cứu mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa về cả lí luận lẫn thực tiễn giúp cho Đảng và Nhà nước ta có thể rút
ra những bài học kinh nghiệm để có chính sách phù hợp hơn trong việc hoạt định chính sách đối ngoại với Trung Quốc và ASEAN
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010
là một đề tài mang tính thời sự thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu lịch sử, kinh tế, ngoại giao Trên thực tế, đã có rất nhiều sách vở, báo chí, hội thảo nghiên cứu
về quan hệ Trung Quốc - ASEAN
Trước tiên phải kể đến cuốn sách: "Quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản trong bối
cảnh mới và tác động của nỏ đến Việt Nam ” của Vũ Văn Hà do Nhà xuất bản Khoa học xã
hội và nhân văn xuất bản năm 2007 Trong tác phẩm của mình tác giả đã đi phân tích rõ đặc điểm, xu hướng phát triển của ba thực thể Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản Trong
đó, quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng được phát triển rõ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh và tác động của nó đến Việt Nam
Hay trong cuốn sách: “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN Quá trình hình
thành và friển vọng” của Hồ Châu, Hoàng Giáp, Hoàng Thị Quế được nhà xuất bản Lí
luận chính trị xuất bản năm 2006 Các tác giả đã phân tích nhu cầu càn thiết của việc hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN cũng như phân tích của các bên khi tham gia khu vực này Quá trình hình thành và những thành tựu đạt được cũng như triển vọng của nó
Hay trong bài viết: “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Cơ hội, thách thức
và tác động đổi với các nước thành viên mới của ASEÂN” Tham luận của Thitapha
Wattanapruttipaisan, Chuyên viên cao cấp, Bộ phận dịch vụ công nghiệp, Ban thư ký ASEAN tại Hội thảo khu vực về “Những thuận lợi và thách thức của Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN - Trung Quốc ” do Vụ hợp tác kinh tế đa phương, Bộ ngoại giao Việt Nam và Quỹ
Trang 521/6/2002, đã phân tích những thành quả của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, từ đó đánh giá những cơ hội, thách thức đối với từng nước ASEAN tham gia khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN.
Bên cạnh những tài liệu ừên, là số lượng lớn các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Kinh tế và phát triển, tạp chí Lí luận cũng đề cập rất nhiều đến quan hệ Trung Quốc - ASEAN, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:
"Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN, Cơ hội và thách thức đến thương mại Việt Nam ” của
GS,TS.Đặng Đình Hào, Ths.Đặng Thị Hồng đăng ừên tạp chí Kinh tế và phát triển, số
100 tháng 10 năm 2005 Tác giả đã khái quát lại quan hệ thương mại của Trung Quốc - ASEAN, quan hệ của Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - ASEAN Từ đó đưa ra những
dự báo về cơ hội và thách thức đối với nền thương mại của Việt Nam
Trong bài viết: “Trung Quốc với sự phát friển kinh tế của các nước ẨSEAN, tác động tích
cực và những nhân tổ không ổn định” của tác giả Nguyễn Minh Hằng đăng trên tạp chí
Nghiên cứu Trung Quốc, số 1(23) năm 1999 Tác giả phân tích vai trò của Trung Quốc đối với sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN được thể hiện trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á (1997-1998) Trên cơ sở đó phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Trung Quốc - ASEAN Hay trong bài viết: “Quá trình phát triển mối quan hệ Trung Quốc - ẨSEẨN” của Nguyễn Thu Mỹ nghiên cứu quá ừình phát triển của
quan hệ này trên những mốc đạt được, thành tựu mà hai bên đạt được trong quá trình hợp tác
Nhìn chung, hàu hết các bài viết, nghiên cứu của các tác giả chưa trình bày cụ thể mối quan hệ của Trung Quốc và ASEAN cũng như những nhân tố tác động và ảnh hưởng đến mối quan hệ này Vĩ vậy, việc tổng hợp một cách đầy đủ, chi tiết cụ thể về quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010 là điều có ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở tài liệu của người đi trước để lại, tác giả xin tập hợp, phân tích, lí giải, xây dựng lại bức tranh toàn cảnh và hoàn chỉnh về quan hệ Trung Quốc - ASEAN
3 Mục đích và nhiệm vụ phương pháp nghiên cứu vấn đề
Muc đích:
Trang 6Luận văn tái hiện lại bức tranh toàn diện phản ánh mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 1991-2010 trên lĩnh vực kinh tế Từ đó, đưa ra một số nhận xét và dự báo về mối quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN.
Nhiệm vụ
Để đạt được kết quả ừên, đề tài tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Khái quát lại quan hệ của Trung Quốc - ASEAN trước 1991
+ Tập hợp, phân tích những kết quả đạt được ừong tiến trình phát triển mối quan
hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010
+ Phân tích những điều kiện thuận lợi và khó khăn của mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN, từ đó dự báo triển vọng của nó
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp biện chứng kết họp với các phương pháp liên ngành khác như đối chiếu, phương pháp tập họp; phương pháp chứng minh, phân tích, liệt kê để hệ thống hóa, dựng lại hoàn chính bức tranh quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm 2010 với những đặc trưng và triển vọng của nó
4 Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991-2010 trên lĩnh vực kinh tế
Trang 7đuổi những cơ hội phát triển mới, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại và nhiều năm suy thoái của cường quốc kinh tế khu vực Nhật Bản, Mĩ Hơn nữa, điều này sẽ tạo ra một cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế ở khu vực và cho phép ASEAN và Trung Quốc có tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề thương mại quốc tế.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN có ý nghĩa về mặt lí luận quan trọng Nó làm rõ, bổ sung và làm phong phú hơn về các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu, cái nhìn cụ thể hơn về nền kinh tế toàn cầu Trên cơ sở phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển, đường lối ngoại giao trong thời kì mới của các nước trên thế giới, đặc biệt là Vệt Nam
Việc nghiên cứu quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc còn mang ý nhĩa thực tiễn quan trọng làm sáng tỏ nội dung cơ bản của quan hệ kinh tế Trung Quốc và ASEAN, làm tài tiệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đưa ra những mục tiêu
và phương hướng phát triển kinh tế phù họp, chuẩn bị đầy đủ để tham gia có hiệu quả hội nhập kinh tế ừong khu vực và thế giới
Mặt khác, đề tài còn góp phàn làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy cho học sinh, sinh viên, giáo viên
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầuvà kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Quan hệ Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991
Chương 2: quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN từ năm 1991 đến năm
2010 .
Chương 3: Đánh giá chung về mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN
NÔI DUNG
Chương 1 QUAN HỆ KINH TẾ TRUNG QUỐC - ASEAN TRƯỚC NĂM 1991
1.1 Ctf sở hình thành mối quan hệ kỉnh tế TQ - ASEAN
1.1.1 Ctf sở chủ quan
Trang 81.1.1.1 Điều kiên tư nhiên, văn hóa, xã hôi
Nhân dân ASEAN và Trung Quốc có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp truyền thống
và lâu dài đã trải qua thử thách của thời gian Do Trung Quốc và ASEAN có những điểm tương đồng, bổ sung lẫn nhau, tạo cơ sở cho mối quan hệ lâu dài Trung Quốc - ASEAN
Thứ nhất, sự gần gũi về mặt địa lí là cơ sở để hĩnh thành nên mối quan hệ khu vực
Xét về mặt địa lí, một khu vực thường được xác định như một nhóm quốc gia nằm trong một vùng đặc thù về địa lí Có thể coi ASEAN và Trung Quốc nằm trong khu vực Đông
Á, nên có ý thức về địa bàn chung và môi trường chung Sự gàn gũi là cơ sở quan trọng
để hình thành lên mối quan hệ địa lí - nhân văn giữa các quốc gia trong vùng
Các nước ASEAN và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông Có đường biên giới dài hàng nghìn km, có điều kiện địa lí rất thuận lợi Trung Quốc giáp với nhiều nước như Việt Nam, Lào, Mianma, và gần những nước ASEAN còn lại như Brunây, Singapo, Philippin Ví dụ: Tỉnh Quảng Tây là tỉnh nối liền Trung
Quốc với các nước ASEAN chiếm 4061km đường biên giới trong tổng số 20.000 km đường biên giới Tỉnh Quảng Tây là cửa ngõ của Trung Quốc với nhiều nước ASEAN như: Philipin, Singapo, Malaixia Vị trí địa lí gàn kề là ưu thế thuận lợi cho việc giao thông, liên lạc, xúc tiến các hoạt động mậu dịch, xuất nhập khẩu hàng hóa cho hai bên
Thứ hai, về mặt lịch sử, hàu hết các cộng đồng ở đây đều có mối quan hệ lịch sử
khá lâu dài Có những quan hệ được hình thành cách đây hàng nghìn năm Mối quan hệ này tồn tại trên cả hai kênh nhân dân và nhân dân, nhà nước và nhà nước Sự liên hệ giữa các nước này đều diễn ra trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, từ kinh tế, chính trị đến
xã hội văn hóa [10; tr 108-109] Có vô số chứng minh lịch sử cũng như dấu vết thực tiễn chứng minh điều này Ví dụ như trường hợp Việt nam có quan hệ hàng nghìn năm lịch sử với Trung Quốc Quá trình này vẫn được tiếp tục trong quá trình chống lại sự xâm lấn của chủ nghĩa thực dân Hàng thế kỉ nô dịch của chủ nghĩa thực dân phương
Trang 9nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và can thiệp cường quyền khiến các nước trong khu vực có ý thức hơn về số phận lịch sử chung.
Hoàn cảnh lịch sử đó đã góp phàn dẫn đến nhu càu liên kết với nhau để hạn chế bớt tác động tiêu cực từ bên ngoài, là cơ sở để tạo tính đồng nhất của khu vực
Xét về góc độ xã hội, thì sự di dân lâu đời giữa các cộng đồng trong khu vực đã tạo lên hĩnh thế phân bố đan xen và những liên hệ cộng đồng ừải khắp khu vực Trong thời kì chủ nghĩa thực dân sự di dân vẫn tiếp tục Quá trình này tạo điều kiện cho sự thúc đẩy trao đổi văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất càng trở nên sâu sắc Ví như: Do sự
di dân ừong thời gian dài mà có một số lượng lớn Hoa kiều sống trong khu vực Đông Nam Á Như ở Inđônixia là 7.2 triệu người chiếm 3.5% dân số; Thái Lan là 5.8 triệu người chiến 10% dân số; Malaixia là 5.4 triệu người [40; tr.66] tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động họp tác giao lưu về văn hóa, xã hội, kinh tế giữa những nước này
Thứ ba, về văn hóa, sự giao thoa giữa hai nền văn minh lớn Trung Quốc và Ấn Độ
diễn ra trong nhiều quốc gia trong khu vực Quá trình giao thoa này diễn ra lâu đời và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia đó Sự giao thoa này tạo điều kiện hình thành những giá trị chung của các quốc gia ừong khu vực, giúp thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và tăng cường giao lưu của các cộng đồng dân tộc Mặt khác, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á là tương đối lớn Anh hưởng đó không chỉ diễn ra trong quá khứ mà còn tiếp tục trong hiện tại thông qua lực lượng Hoa kiều đang có mặt
ở hầu hết các nước trong khu vực cũng như do vị thế của Trung Quốc hiện đại Ảnh hưởng này tuy đậm nhạt ở nhiều quốc gia khác nhau, song cũng có tác dụng nhất định trong việc hĩnh thành những nét riêng của khu vực Đông Nam Á Có thể nói sự tương đồng về văn hóa và sự gần gũi về phong tục tập quán được nảy sinh trên nền văn minh lúa nước là nhân tố hết sức quan trọng tạo nên truyền thống láng giềng hòa hảo, gàn gũi
và dễ thông cảm lẫn nhau Sự gàn gũi về mặt văn hóa là yếu tố vô cùng thuận lợi trong việc truyền bá các giá trị văn hóa Trung Quốc
về tôn giáo, khu vực Đông Á có những tôn giáo xuyên biên giới trên nhiều vùng rộng lớn như đạo Phật hay Hồi giáo đem lại sự tương đồng nhất định giữa các cộng đồng cùng tôn giáo Nhiều giá trị tôn giáo đã trở thành giá trị dân tộc và từ đó là điểm
Trang 10chung liên quốc gia Tôn giáo không chỉ đem lại sự tương đồng trong giá trị và niềm tin
mà còn làm nảy sinh những tình cảm xuyên biên giới giữa các cộng đồng cùng tôn giáo
Như vậy, trên cơ sở những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của Trung Quốc và ASEAN Quan hệ chính trị hai bên dần dần được hình thành Hai bên thiết lập quan hệ bình đẳng hợp tác tin tưởng lẫn nhau tương đối tốt Đó là điều kiện thuận lợi hơn nữa cơ sở chính trị về hợp tác kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho hợp tác kinh tế hai bên
• Đối với ASEAN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa số các nước ASEAN và Trung Quốc đều là những nước đã và đang xây dựng nền kinh tế thị trường Không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế
Với mục tiêu của ASEAN hiện nay là duy trì ổn định, tập trung phát triển kinh tế, tăng cường liên kết trong ASEAN Đa dạng hóa và đa phương hóa hoạt động đối ngoại, cân bằng quan hệ với các nước lớn, nâng cao vai ừò vị thế của ASEAN trong khu vực và trên thế giới
Trong khi đó, Trung Quốc là một nước lớn trong khu vực và trên thế giới Nước láng giềng gần gũi có nhiều nét tương đồng về văn hóa, có chung biên giới với các quốc gia ASEAN Có vai ừò quan trọng trong an ninh và phát triển của ASEAN Vì vậy từ những năm 1990, các nước ASEAN đã thay đổi cách nhìn nhận đối với Trung Quốc theo hướng linh hoạt và mềm dẻo hơn “Mặc dù vẫn e ngại về hệ quả lớn mạnh của Trung Quốc đổi
với khu vực Song các nước ASEAN thừa nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc, thấy được mặt tích cực của Trung Quốc đổi với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực” [16; tr.4] Do vậy,
ASEAN đã điều chỉnh chính sách đẩy mạnh tiếp xúc, hợp tác với Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực nhằm tranh thủ những yếu tố thuận lợi, hạn chế bất lợi và thông qua phát triển quan hệ với Trung Quốc thúc đẩy quan hệ với các nước khác trên thế giới
về khía cạnh an ninh, là những nước bên cạnh nước lớn đang hiện đại hóa về quân
sự, lại có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với một số nước thành viên của ASEAN Các nước ASEAN ít nhiều lo ngại về sự lớn mạnh của Trung Quốc Cho nên, qua tiếp xúc
Trang 11hợp tác kinh tế hai bên, kéo Trung Quốc vào cơ chế đa phương khu vực để ràng buộc và hạn chế hoạt động của Trung Quốc.
Mặt khác, tiến hành quan hệ kinh tế với Trung Quốc, ASEAN sẽ có những cơ hội
to lớn Trung Quốc với dân số 1.3 tỉ dân, đây thật sự là một thị trường vô cùng lớn đầy tiềm năng và sức hấp dẫn đối với ASEAN Hơn nữa thị trường Trung Quốc không quá khó tính như thị trường EU, Nhật Bản, Mĩ, Nga Sự gần gũi về mặt địa lý làm cho chi phí vận chuyển thấp và sự tương đồng về văn hóa là ưu thế của thị trường Trung Quốc với các thị trường khác Ngoài ra về mặt văn hóa, tăng cường quan hệ với Trung Quốc, các nước ASEAN còn có điều kiện tiếp thu những tinh hóa văn hóa của một nền văn minh lớn trên thế giới - văn minh Trung Hoa, làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc mình
• Đổi với Trung Quốc
Việc quan hệ với các nước ASEAN thỏa mãn những nhu cầu cho công cuộc xây dựng nền kinh tế mở cửa của Trung Quốc cũng như phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của thời đại
Với vị ừí nằm trên ngã tư nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, từ châu Á sang châu Đại Dương Nhiều con đường vận tải biển quan trọng đi qua khu vực này Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng với nguồn dầu mỏ rất lớn tạo điều kiện cho Đông Nam Á có vị trị địa kinh tế, địa chiến lược rất quan trọng Chính vì vậy, từ xưa đến nay ASEAN luôn là địa bàn tranh chấp của nhiều cường quốc trên thế giới
Trong lịch sử của mình, các triều đại Trung Quốc đều hết sức coi trọng Đông Nam Á Sau chiến tranh Lạnh, mục tiêu của Trung Quốc là tập trung phát triển kinh tế, nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia Đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới Để đạt được mục tiêu trên, Trung Quốc rất coi trọng việc tạo môi trường ổn định Trong đó có khu vực ASEAN - vành đai an ninh phía Nam,
là thị trường tiêu thụ hoàng hóa, nguồn cung cấp nguyên vật liệu; là con đường để Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra thế giới Như nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bĩnh đã nhấn mạnh:
“Ồn định biên giới xung quanh, đứng chân ở châu Á - Thái Bình Dương, tiến ra thế giới Đó là điệu nhảy ba bước mà Trung Quốc tìm kiếm để giữ gìn hòa bình thế giới, phát triển đất nước” [28;
tr.584]
Trang 12về góc độ an ninh, Đông Nam Á là khu đệm bên ngoài liên quan đến an ninh phía Đông Nam của Trung Quốc Đông Nam Á là nơi Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền biển đảo với nhiều quốc gia ASEAN, dễ xảy ra xung đột Đây cũng là các khu liên quan tới đặc khu Hồng Kông, Ma Cao các tỉnh phía Nam ven biển Đông Nam - động lực kinh
tế Trung Quốc, đến sự ổn định đoàn kết của các dân tộc phía Tây Nam, đến sự nghiệp thống nhất Đài Loan
về kinh tế, ASEAN với số dân 500 triệu người, GDP là 737 tỉ USD tổng số giá trị thương mại 720 tỉ USD [54], đặc biệt đang phấn đấu trở thành thị trường vô cùng lớn cho tiêu thụ hàng hóa loại rẻ và loại trung của Trung Quốc Đồng thời, ASEAN cũng là nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nhiên liệu phong phú đặc biệt là dầu mỏ cho nền kinh
tế phát ừiển nhanh với tốc độ cao của Trung Quốc Trong các hoạt động kinh tế với Trung Quốc, sự có mặt của một lực lượng lớn thương nhân Hoa kiều có mặt trên khu vực Đông Nam Á là một thuận lợi vô cùng quan trọng đối với Trung Quốc Theo tờ Nguyệt san Sapio của Nhật Bản, ngày 27/9/2000 số Hoa kiều ở Inđônixia là 7.2 triệu người chiếm 3.5% dân số và 73% GDP của cả nước, Thái Lan là 5.8 triệu người chiếm 10% dân số và 81%GDP, Malaixia là 5.4 triệu người chiếm 69%GDP Đến năm 1990, Hoa kiều ở Đông Nam Á nắm 1/3 tổng số vốn trong nền kinh tế của các nước ASEAN Hoa kiều có 10 ngân hàng lớn ở trong khu vực [40; tr.66] Chính vì vậy, họp tác với ASEAN là chiến lược vươn ra bên ngoài của Trung Quốc Họp tác với ASEAN còn thể hiện sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực như Mĩ, Nhật Bản, EU, Nga Trung Quốc mong muốn lấp đi khoảng trống quyền lực của Mĩ và Nga để lại sau chiến ừanh Lạnh
Một điều đáng chú ý nữa là Trung Quốc tuy là một quốc gia rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Song, do số dân đông nên bình quân tài nguyên trên đầu người của Trung Quốc không đáp ứng đủ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước Trong khi đó, ASEAN là là một khu vực có nguồn tài nguồn phong phú chưa khai thác nhiều, khai thác lại xuất khẩu tài nguyên ở dạng sơ chế giá rẻ, nguồn nhân nhân lực to lớn Vì vậy, hợp tác kinh tế với ASEAN sẽ đảm bảo nguồn cung ứng nguyên vật liệu dồi dào cho Trung Quốc
Trang 13Như vậy, hợp tác và phát triển là nhu càu thết yếu của Trung Quốc và ASEAN Nó phù hợp với chiến lược hội nhập kinh tế của cả ASEAN và Trung Quốc, để khẳng định vị thế của mình ừên trường quốc tế và phù hợp với nguyện vọng của Trung Quốc và ASEAN.
ưu tiên cho phát triển kinh tế, sự dung hòa lợi ích, vận dụng các biện pháp kinh tế để giải quyết tranh chấp, hợp tác với nhau để có lợi hơn là phương châm phổ biến ừong giải quyết các vấn đề quốc tế
Điều kiện hòa bình là một trong những điều kiện tiền đề thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn Môi trường quốc tế chuyển sang một giai đoạn ổn định, hòa bình tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế quốc tế nói chung và kinh tế của mọi nước trên thế giới nói riêng phát triển nhanh chóng, thúc đẩy quan hệ kinh tế các nước diễn ra mạnh mẽ hơn
Mặt khác, trật tự thế giới mới cũng đang được thay đổi sau chiến tranh Lạnh Thế giới không còn là thế giới hai cực như trước nữa mà đã hình thành một thế giới đa cực với các siêu cường quốc như Mĩ và nhiều cường quốc khác như các nước Tây Âu; các nước Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và rất nhiều các nước mới nổi lên nhờ sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở châu Á hoặc khu vực Mĩ La Tinh Các nước đang phát ừiển như Trung Quốc và các nước ASEAN đang tạo thế và lực mạnh mẽ hơn bao giờ hết
về phía Trung Quốc, sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, vai ừò kinh tế chính ừị của nước này càng được tăng cường Trung Quốc đã trở thành một cường quốc có vị trí quan trọng trong việc chi phối, quyết định các vấn đề quốc tế và không một quốc gia nào có thể coi nhẹ sự họp tác với quốc gia này về phía các nước ASEAN, một mặt sự kết thúc chiến tranh Lạnh tạo môi trường thuận lợi cho sự mở rộng hợp tác kinh tế của khối này
Trang 14ra ngoài khu vực Hơn thế, các thách thức nảy sinh thời kì hậu chiến tranh Lanh như khả năng canh tranh kinh tế giảm sút; nguy cơ vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi các nước ASEAN phải có biện pháp linh hoạt và mở rộng thích ứng không chỉ tăng cường họp tác khu vực mà còn mở rộng họp tác với các đối tác bên ngoài, đặc biệt là các đối tác đối thoại ở Đông Á ừong đó có Trung Quốc.
Do vậy, có thể nói chiến tranh Lạnh kết thúc, vừa mang lại những điều kiện thuận lợi vừa mang những thách thức kể cả kinh tế và chính trị Điều đó đòi hỏi các quốc gia trên thế giới trong đó có Trung Quốc và các nước ASEAN tăng cường quan hệ họp tác lâu dài
Mặc dù làn sóng toàn cầu hóa thứ ba diễn ra bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ XXI, song ảnh hưởng và tác động của nó cũng như nói đến nó là từ sau chiến tranh Lạnh đến nay Định nghĩa toàn cầu hóa đã được đưa ra rất nhiều từ phía các tổ chức quốc tế cho đến các tổ chức trong khu vực cũng như những quan điểm cá nhân của các học giả Song, nhìn chung khái niệm toàn cầu hóa được hiểu theo nghĩa khá thống nhất, đó là:
“Sự mở rộng tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ, lao động trên phạm vi toàn cầu thúc đẩy quan hệ giao dịch song phương, đa phương tăng cường liên kết giữa các quốc gia ” [9; tr.22].
Toàn càu hóa đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ quốc
tế hiện đại Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã đưa các quốc gia xích lại gàn nhau Xu thế toàn càu hóa kinh tế ngày nay không còn là vấn đề mới mẻ nhưng tính cơ động toàn càu hiện nay là chưa từng có về mặt tốc độ, phạm vi, mật độ Toàn càu hóa kinh tế là những mối quan hệ vượt qua biên giới quốc gia, khu vực để vươn tới quy mô toàn thế giới Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa bị chi phối bởi các nhân tố: sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; các tập đoàn tư bản độc quyền đang ráo riết thực hiện ý đồ chiến lược biến quá trình toàn càu hóa thành quá trình tư do hóa dựa vào ưu thế về chính trị; sự hình thành các tổ chức liên minh kinh tế, chính trị trên toàn thế giới Trong đó khoa học công nghệ là nhân tố chi phối mang ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 15thế giới hiện nay và mạng lưới hoạt động của chúng đóng vai trò chủ chốt thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế.
Toàn càu hóa kinh tế và khu vực hóa diễn ra song hành với nhau Có ý kiến cho rằng: “Trong các quan hệ toàn cầu hỏa thì xu thế khu vực hỏa được xem là bước chuẩn bị để tiến
tới toàn cầu hóa Mặt khác, xu thế khu vực hỏa lại phản ánh thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng giữa một sổ nước ừteớc nguy cơ, những tác động tiêu cực của toàn cầu hỏa đặt ra” [13; tr.127] Do đó, xét về ngắn hạn khu vực hóa đối ngịch với toàn càu hóa
nhưng về dài hạn thì khu vực hóa là bước chuẩn bị để thực hiện toàn càu hóa Nội dung chủ yếu của khu vực hóa là thành lập các khu vực kinh tế mới, mở rộng hơn nữa các khu vực đang tồn tại, tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, quyền tự trị cho các khu vực
Động lực gia tăng xu thế khu vực hóa hiện nay xuất phát từ mục đích phát huy những lợi thế so sánh, những nét tương đồng của các quốc gia trong nhóm khu vực Chẳng hạn như Châu Phi là nơi có làn sóng toàn cầu hóa diễn ra muộn hơn các nước khác, song cũng phải đến năm 2002 thì các nước trong khu vực này mới thành lập được Liên minh châu Phi (AU) Mục tiêu của AU là đưa châu Phi vượt qua đói nghèo, xung đột và bệnh tật, tiến tới ổn định và phát triển Rõ ràng là các vấn đề phổ biến của hầu hết các nước châu Phi hiện nay là đói nghèo, xung đột, bệnh tật đã làm cho họ xích gần nhau hơn trong một khối thống nhất, cùng hành động, cùng chia sẻ, hỗ trợ nhau để đạt được mục tiêu chung của mình Ở Đông Nam Á, các nước ASEAN thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), nhằm hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế Như vậy, tác động của quá trình toàn càu hóa kinh tế, xu thế hợp tác, liên kết kinh tế phát triển mạnh mẽ trên nhiều cấp độ, tạo điều kiện cho các nước nhất là các quốc gia đang phát triển có cơ hội để tiếp cận các dòng vốn, công nghệ, kĩ năng và kinh nghiệm quản lí, mở rộng thị trường
Dưới tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế quan hệ Trung Quốc - ASEAN ngày càng được tăng cường trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là kinh tế Hiện nay, cả Trung Quốc và ASEAN đều là những quốc gia đang phát triển và xây dựng nền kinh tế thị trường Đều có mục tiêu cao nhất là tận dụng cao nhất nguồn ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tăng cường họp tác Trung Quốc - ASEAN đáp ứng những lợi ích thiết thực của cả
Trang 16hai bên Xuất phát từ mục tiêu này cả Trung Quốc cả ASEAN đều điều chỉnh chính sách của mình với các nước lánh giềng, với khu vực theo hướng “cầu đồng, tồn dị”, tằng những điểm tương đồng và nỗ lực từng bước tháo gỡ những điểm khác biệt trong quan
1.2 Quan hệ họp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN trước năm 1991
Các nước ASEAN và Trung Quốc có nhiều tiềm năng lớn trong lĩnh vực họp tác kinh tế, mậu dịch và đàu từ vì lợi ích chung và lợi ích riêng của các bên Trung Quốc là một thị trường lớn đầy tiềm năng với 1.3 tỉ người đang trên đà phát triển với tốc độ cao
về các nước ASEAN, với số dân 500 triệu người, đây là một thị trường vô cùng rộng lớn
để tiêu thụ hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc Mặt khác, với vị trí vô cùng thuận nằm trên ngã tư nối Thái Bĩnh Dương sang Ấn Độ Dương, từ châu Á sang châu Đại Dương có nhiều con đường vận tải biển quan trọng đi qua khu vực này cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn lao động dồi dào Là cơ sở để Trung Quốc hoạch định chiến lược và sách lược đầu tư khai thác, tiến hành những hoạt động xuất nhập khẩu để phục vụ cho nền kinh tế phát triển với tốc độ cao của nước mình
Mặc dù là quốc gia làng giềng gàn gũi về mặt địa lí, lịch sử văn hóa song quan hệ Trung Quốc - ASEAN vẫn chưa được chú trọng đúng mức do vẫn nghi ngại về một số vấn đề mang tính chất thời đại Trong những năm 50, do đứng về phe Liên Xô và chủ nghĩa xã hội, mức buôn bán của Trung Quốc với các nước xã hội chủ nghĩa chiếm đến 69%, trong khi đó các nước Đông Nam Á chỉ chiếm đến 6% Trong những năm đàu thập niên 60, mức buôn bán Trung Quốc và Đông Nam Á là 206.9 triệu USD (1961), trong
đó Mianma và Inđônêxia chiếm 62.5% tổng số mức buôn bán của hai bên [10; tr.153] Năm 1967, quan hệ ngoại giao của Trung Quốc và Inđônêxia bị cắt đứt trong khi đó
Trang 17Inđônixia lại đang là thành viên của ASEAN Cho nên, khoảng bảy năm từ 1967 đến năm 1974, Trung Quốc không có bất cứ quan hệ nào với các nước thành viên ASEAN.
Bước sang những năm 70, tình hình trên thế giới và khu vực có nhiều thay đổi Các cặp quan hệ Xô - Trung căng thẳng, Trung Quốc - Mĩ hòa dịu Trung Quốc đã thay Đài Loan về quyền đại diện những người Trung Hoa ở Liên Hợp Quốc, kéo theo đó là hàng loạt những thay đổi về quan hệ quốc tế của Trung Quốc với hàng loạt các nước thân Mĩ đã làm cho quan hệ của Trung Quốc - ASEAN trở nên gần gũi hơn Chính vì vậy, buôn bán Trung Quốc và ASEAN vào năm 1977 lên tới 1 tỉ USD tăng gấp 4 lần năm 1970 và chiếm 6.6% tổng số buôn bán đối ngoại của Trung Quốc [10; ừ 154]
Từ năm 1978, Trung Quốc đã quyết định tập trung vào các nhiệm vụ kinh tế mở đầu cho công cuộc cải cách mở cửa Để phục vụ cho công cuộc cải cách của mình, trong lĩnh vực đối ngoại Trung Quốc đã tiến hành những điều chỉnh trong quan hệ với các nước lớn trên thế giới như Mĩ, Nhật Bản, Nga, EU Trung Quốc đã tiến hành bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng và chủ trương tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á Quy mô thương mại của Trung Quốc đạt 859
tỉ USD với các nước Đông Nam Á, trong đó chiếm 7.6% xuất khẩu và 2.0% nhập khẩu của buôn bán Trung Quốc với tất cả các nước trên thế giới [31; tr.38] Đến năm 1980 quy mô thương mại Trung Quốc - ASEAN lên tới 2.2 tỉ USD
Nhìn chung, từ những năm 70 đến những năm 80 của thế kỉ XX, các nước ASEAN coi Trung Quốc là bạn hàng không thể thiếu của mình Hợp tác kinh tế hai bên
đã mở rộng sang lĩnh vực hợp tác đầu tư nhưng buôn bán thương mại vẫn là lĩnh vực chủ yếu trong hợp tác kinh tế hai bên Đến năm 1991, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc
và ASEAN đã đạt tới 7.96 tỉ USD tăng 8 làn so với năm 1978 [31; tr.38] Tỉ trọng buôn bán năm sau cao hơn năm trước
Đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc đã triển khai toàn diện chính sách láng giềng với Đông Nam Á theo tinh thần: “Thân thiện với láng giếng, ổn định với láng giềng, làm giàu với
láng giềng” [16; tr.5] được Thủ tướng Ôn Gia Bảo công bố ngày 7/6/2003 tại Hội nghị
hiệp Định thương mại Đầu tư Trung Quốc tại Bali, Inđônixia
Như vậy, trong thời kì chiến tranh Lạnh, quan hệ buôn bán đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN, song phương giữa Trung Quốc và các nước thành viên ừong khối
Trang 18ASEAN đã đạt được những kết quả đáng chú ý Nó là tiền đề cho sự phát triển họp tác kinh tế, thương mại của Trung Quốc - ASEAN trong giai đoạn sau.
Chương 2 QUAN HỆ KINH TÉ QUỐC TÉ TRUNG QUỐC - ASEAN TỪ NĂM 1991
Cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển Khoa học công nghệ dàn trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Những thành tựu khoa học mới phát minh và ứng dụng làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ Làm xuất hiện thêm những công nghệ mới như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu , nhiều ngành kinh tế mới ra đời.
Kinh tế thị trường phát triển với nhiều hình thức dẫn tới sự tăng cường tự do hóa kinh tế và xu thế và hợp tác vừa cạnh tranh, đấu tranh cho một nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang một nền kinh tế tri thức
Quan hệ kinh tế không chỉ giới hạn lĩnh vực thương mại, xuất khẩu mà còn mở rộng trên tất cả các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, anh ninh
Như vậy, cùng với sự kết thúc chiến ừanh Lạnh và những biến chuyển của tình hình thế giới đã đòi hỏi sự càn thiết hợp tác giữa các quốc gia với nhau Trong đó, họp tác kinh tế đã trở thành nhân tố chủ yếu chi phối các cặp quan hệ quốc tế Các quốc gia khẳng định sức mạnh quốc gia mình không chỉ bằng sức mạnh quân sự mà còn bằng sức mạnh kinh tế
Trong bối cảnh chung ấy, quan hệ Trung Quốc - ASEAN cũng được nâng lên một
Trang 19Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng gàn gũi của nhau, hai bên có lịch
sử giao lưu lâu đời Từ khi ASEAN thành lập tháng 8/1967, đến năm 1991, Trung Quốc
và ASEAN chính thức thiết lập quan hệ Quan hệ song phương đã ừải qua chặng đường phát triển từ đối lập, hoài nghi đến quan hệ đối tác chiến lược đối thoại và hợp tác lấy bình đẳng, láng giềng hữu nghị, tin cậy lẫn nhau làm nền tảng
Tháng 7/1991, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham đã dự lễ khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 24, và có cuộc gặp không chính thức lần đầu tiên với ngoại trưởng các nước ASEAN Nhận lời mời của Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền, Tổng thư ký ASEAN Dato Ajit Singh đã dẫn đoàn đại biểu ASEAN thăm Bắc Kinh tháng 9/1993 Hai bên đã thảo luận về tăng cường quan hệ kinh tế - thương mại và hợp tác khoa học - kỹ thuật, đạt được nhận thức chung rộng rãi Trung Quốc năm 1993 đã trở thành đối tác đối thoại của ASEAN
Tháng 7/1994, Trung Quốc và ASEAN đồng ý tổ chức Hội nghị thương lượng chính trị quan chức cấp cao Cuộc thương lượng chính trị quan chức cấp cao Trung Quốc - ASEAN lần thứ nhất diễn ra tại Hàng Châu, Trung Quốc tháng 4/1995 Ngày 25/7/1994, Trung Quốc tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN làn thứ nhất với tư cách là đối tác thương lượng của ASEAN
Năm 1996, Trung Quốc lần đầu tiên tham gia Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 29 và Hội nghị ASEAN với các nước đối thoại diễn ra tại Gia- các-ta Với tư cách là đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN, Trung Quốc và ASEAN đã thành lập ủy ban hợp tác liên họp Trung Quốc - ASEAN, hỗ trợ quản lý quan hệ đối thoại, và tháng 2/1997 thành lập cơ chế hội nghị tại Bắc Kinh Ngoài ra, hai bên còn thành lập Quỹ họp tác Trung Quốc - ASEAN để ủng hộ hai bên phát triển họp tác
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á năm 1997 là bước ngoặt quan trọng ừong quan hệ đối tác Trung Quốc - ASEAN Trung Quốc đã khắc phục khó khăn, không phá giá đồng Nhân dân tệ và viện trợ cho các nước ASEAN bị tác động của cuộc khủng hoảng ASEAN bắt đầu ghi nhận và tin tưởng rằng: nền kinh tế Trung Quốc ngày càng lớn mạnh là cực kỳ quan trọng đối với Đông Nam Á, Trung Quốc sẵn sàng viện trợ cho ASEAN trong giờ phút then chốt
Trang 20Tháng 12/1997, ASEAN đưa ra sáng kiến tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN với ba nước Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc "10+3" và cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN Từ đó, lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN đã xây dựng cơ chế hội nghị cấp cao thường niên Lãnh đạo hai bên đã ra tuyên bố chung, tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác láng giềng hữu nghị, tin cậy hướng tới thế kỷ XXI,
đã chỉ rõ phương hướng phát triển của quan hệ song phương Dưới sự chỉ đạo của Tuyên
bố chung, quan hệ chính trị song phương được nâng cấp nhanh chóng Từ năm 1998 đến năm 2000, Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã làn lượt ký các văn kiện khung cho quan
hệ song phương và chương trình họp tác
Như vậy, từ khi thiết lập quan hệ chính thức, trong bối cảnh toàn càu hóa và khu vực hóa, quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu khả quan Hai bên cùng nhau giải quyết các vấn đề như khủng hoảng kinh tế, hay những vấn đề an ninh - chính trị, kinh tế để tiến tới thiết lập một mối quan hệ lâu dài trong tương lai
2.1.2 Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN trên lĩnh vực thương mại
Trên lĩnh vực thương mại, việc buôn bán giữa Trung Quốc và ASEAN ngày càng được chính phủ hai bên quan tâm và mở rộng thông qua các hiệp định thương mại
Từ năm 1991 đến năm 1996, Trung Quốc đã phát triển quan hệ thương mại và kinh tế với 6 nước thành viên và 4 quốc gia chưa gia nhập ASEAN vào thời điểm đó là Việt Nam, Campuchia, Mianma, Lào Nhưng đây là giai đoạn đặt nền móng cho sự thiết lập vững chắc về phát triển quan hệ Trung Quốc và ASEAN trong tương lai
Từ năm 1997 đến nay, Trung Quốc và ASEAN đã mở rộng quan hệ hợp tác để cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Trong năm 1997, Trung Quốc và ASEAN đã đưa ra Tuyên bố chung về họp tác Trung Quốc - ASEAN hướng tới thế kỉ XXI Trong hai năm 1999 - 2000, Trung Quốc đã làn lượt kí Hiệp định khung về tuyên
bố chung với 10 thành viên của ASEAN về quan hệ hợp tác song phương trong tương lai Xác định sự phát triển vững chắc và lâu dài của hai bên trên cơ sở hợp tác láng giềng, tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi Mười một nước ừong Tuyên bố chung nói trên
đã giành sự quan tâm đặc biệt về hợp tác kinh tế và thương mại Đến năm 2000, Trung Quốc và mười nước thành viên ASEAN đã kí Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư