1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và phương hướng phát triển sản xuất các loại cây ăn trái đến năm 2015

45 921 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và phương hướng phát triển sản xuất các loại cây ăn trái đến năm 2015
Trường học Trung Tâm Thông Tin Thương Mại
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 371 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng ở một nước nhiệt đới, các tỉnh tại Việt Nam đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục vụ cho chế biến công nghiệp và tiêu dùng

Trang 1

Thực trạng và phương hướng phát triển sản xuất các loại cây

ăn trái đến năm 2015

2006, Trung tâm Thông tin Thương mại

Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng ở một nước nhiệt đới, các tỉnh tại Việt Nam

đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục vụ cho chế biến công nghiệp và tiêu dùng Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng cây ăn trái lớn nhất, chiếm khoảng 36,5% diện tích cả nước Tổng lượng giống cây ăn trái các tỉnh ĐBSCL sản xuất bình quân trong vài năm gần đây vào khoảng 26 đến 27 triệu cây/năm Số lượng giống cây ăn trái này được lưu thông khắp cả nước kể cả sang một số nước láng giềng

Cả nước hiện có khoảng 765.000 ha cây ăn trái, sản lượng hơn 6,5 triệu tấn với nhữngloại trái cây chủ yếu như: dứa, chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, thanh long, vải thiều, nhãn,chôm chôm, sầu riêng Kim ngạch xuất khẩu trái cây trong những năm gần đây dao động

ở khoảng 150 đến 180 triệu USD/năm Tuy nhiên, các loại cây ăn trái đang trồng hầu hếtđều cho năng suất không cao, chất lượng kém (không đẹp, kích cỡ không đều, vị khôngđặc trưng), giá thành cao, nên khả năng cạnh tranh thấp Điều này dẫn tới cây ăn tráinước ta đang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Theo dự báo của Tổ chức Nông – lương thế giới (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thịtrường thế giới hàng năm tăng khoảng 3,6%, trong khi đó thì khả năng tăng trưởng sảnxuất chỉ là 2,6% nên thị trường thế giới đối với mặt hàng rau quả luôn ở tình trạng cungkhông đủ cầu, dễ tiêu thụ và giá cả luôn trong tình trạng tăng Các nước càng phát triểncông nghiệp thì nhu cầu nhập khẩu rau lại càng tăng, đời sống càng được nâng cao thìnhu cầu đối với các loại hoa tươi càng tăng Có thể khẳng định rằng thị trường thế giớiđối với rau quả là rất có triển vọng

I THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT

Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm 2005 đạt 766,9ngàn ha (so với năm 1999 tăng thêm ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), chosản lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn,tiếp đến cây có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

có diện tích cây ăn quả lớn nhất (262,1 ngàn ha), sản lượng đạt 2,93 triệu tấn (chiếm35,1% về diện tích và 46,1% về sản lượng)

Do đa dạng về sinh thái nên chủng loại cây ăn quả của nước ta rất đa dạng, có tới trên 30loại cây ăn quả khác nhau, thuộc 3 nhóm là: cây ăn quả nhiệt đới (chuối, dứa, xoài…), ánhiệt đới (cam, quýt, vải, nhãn…) và ôn đới (mận, lê…) Một trong các nhóm cây ăn quảlớn nhất và phát triển mạnh nhất là nhãn, vải và chôm chôm Diện tích của các loại câynày chiếm 26% tổng diện tích cây ăn quả Tiếp theo đó là chuối, chiếm khoảng 19%

Trang 2

Trên địa bàn cả nước, bước đầu đã hình thành các vùng trồng cây ăn quả khá tập trung,cho sản lượng hàng hoá lớn; Một số vùng cây ăn quả tập trung điển hình như sau:

+ Vải thiều: vùng vải tập trung lớn nhất cả nước là Bắc Giang (chủ yếu ở 3 huyện LụcNgạn, Lục Nam và Lạng Giang), có diện tích 35,1 ngàn ha, sản lượng đạt 120,1 ngàn tấn.Tiếp theo là Hải Dương (tập trung ở 2 huyện Thanh Hà và Chí Linh) với diện tích 14ngàn ha, sản lượng 36,4 ngàn tấn

+ Cam sành: được trồng tập trung ở ĐBSCL, với diện tích 28,7 ngàn ha, cho sản lượngtrên 200 ngàn tấn Địa phương có sản lượng lớn nhất là tỉnh Vĩnh Long: năm 2005 chosản lượng trên 47 ngàn tấn Tiếp theo là các tỉnh Bến Tre (45 ngàn tấn) và Tiền Giang (42ngàn tấn) Trên vùng Trung du miền núi phía Bắc, cây cam sành cùng được trồng khá tậptrung ở tỉnh Hà Giang, tuy nhiên, sản lượng mới đạt gần 20 ngàn tấn

+ Chôm chôm: cây chôm chôm được trồng nhiều ở miền Đông nam bộ, với diện tích 14,2ngàn ha, sản lượng xấp xỉ 100 ngàn tấn (chiếm 40% diện tích và 61,54% sản lượng chômchôm cả nước) Địa phương có diện tích chôm chôm tập trung lớn nhất là Đồng Nai (11,4ngàn ha), tiếp theo đó là Bến Tre (4,2 ngàn ha)

+ Thanh long: được trồng tập trung chủ yếu ở Bình Thuận (diện tích khoảng 5 ngàn ha,sản lượng gần 90 ngàn tấn, chiếm 70 % diện tích và 78,6% về sản lượng thanh long cảnước) Tiếp theo là Tiền Giang, có 2 ngàn ha Thanh long là loại trái cây có kim ngạchxuất khẩu lớn nhất so với các loại quả khác

+ Bưởi: Việt Nam có nhiều giống bưởi ngon, được người tiêu dùng đánh giá cao nhưbưởi Năm roi, Da xanh, Phúc Trạch, Thanh Trà, Diễn, Đoan Hùng…Tuy nhiên, chỉ cóbưởi Năm Roi là có sản lượng mang ý nghĩa hàng hoá lớn Tổng diện tích bưởi Năm Roi

là 9,2 ngàn ha, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long (diện tích 4,5 ngàn ha cho sản lượng 31,3ngàn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng bưởi Năm Roi cả nước); trong

đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 ngàn ha đạt sản lượng gần 30 ngàn tấn Tiếp theo làtỉnh Hậu Giang (1,3 ngàn ha)

+ Xoài: cũng là loại cây trồng có tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam Hiện có nhiềugiống xoài đang được trồng ở nước ta; giống có chất lượng cao và được trồng tập trung làgiống xoài cát Hoà Lộc Xoài cát Hoà Lộc được phân bố chính dọc theo sông Tiền (cáchcầu Mỹ Thuận khoảng 20-25 km) với diện tích 4,4 ngàn ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn.Diện tích xoài Hoà Lộc tập trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang (diện tích 1,6 ngàn ha, sảnlượng 10,1 ngàn tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sản lượng 4,3 ngàn tấn).+ Măng cụt: là loại trái cây nhiệt đới rất ngon và bổ Măng cụt phân bố ở 2 vùngĐBBSCL và ĐNB, trong đó trồng chủ yếu ở ĐBSCL với tổng diện tích khoảng 4,9 ngàn

ha, cho sản lượng khoảng 4,5 ngàn tấn Tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích tập trung lớnnhất: 4,2 ngàn ha (chiếm 76,8% diện tích cả nước) Tuy măng cụt là sản phẩm rất đượcgiá trên thị trường nhưng việc mở rộng diện tích loại cây này hiện nay đang gặp nhiều trởngại do thời gian kiến thiết cơ bản dài (5-6 năm), là cây thân gỗ lớn, chiếm nhiều diệntích đất và chỉ thích hợp với đất mầu ở các cù lao

Trang 3

+ Dứa: đây là một trong 3 loại cây ăn quả chủ đạo được khuyến khích đầu tư phát triểntrong thời gian vừa qua nhằm phục vụ xuất khẩu Các giống được sử dụng chính bao gồmgiống Queen và Cayene; trong đó giống Cayene là loại có năng suất cao, thích hợp để chếbiến (nước quả cô đặc, nước dứa tự nhiên…) Các địa phương có diện tích dứa tập trunglớn là Tiền Giang (3,7 ngàn ha), Kiên Giang (3,3 ngàn ha); Nghệ An (3,1 ngàn ha), NinhBình (3,0 ngàn ha) và Quảng Nam (2,7 ngàn ha).

Ngoài ra, còn có một số loại cây ăn quả khác cũng có khả năng xuất khẩu tươi là: Sầuriêng cơm vàng hạt lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng Tuy nhiên, những loạinày có diện tích và sản lượng còn rất khiêm tốn (ví dụ diện tích của Nhãn xuồng cơmvàng mới chỉ có 200 ha, tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tầu), không đủ tiêu thụ trong nước vàgiá bán trong nước thậm chí còn cao hơn giá xuất khẩu

Về chủng loại các trái cây có lợi thế cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định 11loại trái cây có lợi thế cạnh tranh, bao gồm: Thanh long, Vú sữa, Măng cụt, Cây có múi(Bưởi, Cam sành), Xoài, Sầu riêng, Dứa, Vải, Nhãn, Dừa và Đu đủ

Theo đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản cả nước đếnnăm 2010 và tầm nhìn 2020 mới nhất của Thủ tướng Chính phủ thì trong đó, đối với cây

ăn quả Chính phủ định hướng: Trong những năm tới mở rộng diện tích 11 loại cây ăn quả

có lợi thế; riêng đối với nhãn, vải chỉ trồng mới bằng các giống rải vụ, chất lượng cao vàcải tạo vườn tạp Diện tích cây ăn quả đến năm 2010 đạt 1 triệu ha, tầm nhìn năm 2020khoảng 1,3 triệu ha Bố trí chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng Sông CửuLong, Đông nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng và một số vùng khác có đủ điều kiện

Rà soát chương trình phát triển rau quả, hoa cây cảnh đến 2010 và qui hoạch 11 loại cây

ăn quả chủ lực xuất khẩu (bao gồm: Cam sành, Bưởi Năm Roi, Bưởi da xanh, Xoài cátHoà Lộc, Sầu riêng, Măng cụt, Thanh long, Vú sữa Lò rèn, Vải, Nhãn xuồng cơm vàng

Chính sách về đất đai có tác động lớn đến giải phóng sức sản xuất đồng thời phát huyquyền làm chủ trong phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người sản xuất đầu tưphát triển lâu dài, phát huy hiệu quả sử dụng đất đai; thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng khai thác lợi thế sinh thái từng vùng, từngbước hình thành các vùng sản xuất rau và cây ăn quả tập trung

Trang 4

Các Hợp tác xã được chuyển đổi hình thức theo Luật HTX mới, tập trung chủ yếu vào vaitrò cung ứng dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Từ khi có Luật Doanhnghiệp, môi trường sản xuất, kinh doanh rộng mở, thông thoáng hơn đối với các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Các doanh nghiệp ngành rau quả được cạnh tranhbình đẳng trong sản xuất, kinh doanh, chủ động tìm tòi nghiên cứu để nâng cao uy tín vàchất lượng hàng hoá.

Nghị quyết 09 của Chính phủ đã đề ra phương hướng phát triển lâu dài và tích cực đốivới kinh tế đất nước, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp; tạo bước chuyển dịch lớn laotrong cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, sản xuất từng bước được điều chỉnh địnhhướng thị trường, tăng nhanh nguồn hàng chất lượng cao cho xuất khẩu Nhiều địaphương đã chuyển đổi diện tích những loại cây trồng kém hiệu quả sang sản xuất rau,quả, hình thành được những vùng chuyên canh lớn với những loại rau quả đặc sản như:vùng rau Vân Nội (Hà Nội), vùng rau, hoa Đà Lạt (Lâm Đồng), buởi Phúc Trạch, bưởiNăm Roi, xoài cát Hoà Lộc, vú sữa Lò Rèn (Vĩnh Kim)

Kinh tế trang trại là một phần không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế Nghị quyết 03/2000/NQ-CP đã có tác dụng nhất định, trang trại tăng lên rõ rệt cả về số lượng và quy mô, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nên những vùng sản xuất hàng hóa tập trung vàthâm canh cao Đã hình thành nhiều trang trại sản xuất cây ăn quả lâu năm phù hợp vớitừng vùng sinh thái, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

Các chính sách về tín dụng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đã khuyến khích các doanhnghiệp tích cực đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng và tính cạnhtranh của nông sản hàng hoá, trong đó có rau quả Việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợxuất khẩu đã khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tìm tòi nghiêncứu sản xuất các mặt hàng mới, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu…

Nhờ có chính sách khuyến khích của Nhà nước, hoạt động nghiên cứu ứng dụng vàchuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, ngành rau quảnói riêng đã đạt được kết quả khả quan, hỗ trợ tích cực cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn Nhất là công nghệ sinh học đã đạt được những tiến bộ bướcđầu trong việc tuyển chọn, lai tạo một số giống cây ăn quả, rau, đậu có chất lượng vànăng suất cao, chuyển giao quy trình sản xuất các loại giống sạch bệnh

Việc thực hiện Chương trình Giống trong những năm qua đã tạo nên sự chuyển biến cơbản trong việc tổ chức, quản lý, chọn tạo, nhân giống và sản xuất giống Việc ban hànhPháp lệnh giống cây trồng đã tạo sơ sở pháp lý để tăng cường hiệu quả quản lý giống Hệthống quản lý chất lượng và tổ chức thanh tra, kiểm tra giống đã được củng cố, tăngcường hơn trước Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có Trung tâm giống cây trồng,vật nuôi; 40% các tỉnh, thành đã thực hiện cơ giới hoá khâu sấy, bảo quản và đóng góihạt giống Từ năm 2000 đến nay, nhiều loại giống được chọn tạo, đưa tỷ lệ áp dụnggiống tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp lên khoảng 30% đối với cây ăn quả và50% đối với rau, góp phần tăng năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất

Trang 5

Hoạt động khuyến nông ngày càng đa dạng và phong phú, bám sát các chương trình nôngnghiệp trọng điểm, góp phần tích cực trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạonâng cao các kỹ năng về sản xuất và nhu cầu thị trường cho bà con nông dân; tạo đượcmối liên kết chặt chẽ giữa các đoàn thể xã hội, cơ quan nghiên cứu, phương tiện thông tinđại chúng, các doanh nghiệp, hiệp hội với người sản xuất, trên cơ sở đó từng bước hoànthiện nội dung, phương pháp và chính sách khuyến nông

Chính phủ chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kýkết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá cho nông dân theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, đã mở ra hướng đi đúng đắn, từng bước làm thay đổi nhận thức của các doanhnghiệp và hộ nông dân trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; thực sự gắn kết được 4nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông, nhà doanh nghiệp), tạo thêm nguồn lực để pháttriển sản xuất hàng hoá nông sản theo hướng thị trường, đảm bảo chất lượng và hiệu quảkinh tế Nhiều doanh nghiệp đã triển khai thực hiện tốt việc ký kết hợp đồng sản xuất,tiêu thụ nông sản với nông dân; bước đầu đã gắn được trách nhiệm, quyền lợi của mỗibên trong việc thực hiện hợp đồng, gắn giữa sản xuất và chế biến, tạo ra vùng nguyên liệu

ổn định cho chế biến xuất khẩu Đối với ngành hàng rau, quả, mô hình này đã tạo đượckết quả khá khả quan: trong các năm 2002 – 2004, chỉ riêng đối với cây dứa Tổng công

ty Rau quả và nông sản Việt Nam đã ký 4.924 hợp đồng với nông dân trồng 11.605 ha và

đã ứng vốn đầu tư 56 tỷ đồng Hầu hết các loại nguyên liệu cung cấp cho các nhà máychế biến đều được thực hiện thông qua hợp đồng với các hình thức phù hợp với từngchủng loại, từng thời vụ, từng địa phương Một số doanh nghiệp tư nhân và Công ty cóvốn đầu tư nước ngoài cũng tích cực tham gia ký kết hợp đồng tiêu thụ rau, hoa cao cấpvới các hộ sản xuất

2.2 VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU QUẢ

Xác định được vai trò và tiềm năng phát triển của ngành hàng rau quả trong việc tạo công

ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, góp phần tăng kim ngạch xuấtkhẩu nông lâm sản, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 182/1999/QĐ-TTg, ngày03/9/1999 phê duyệt Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010 làmđịnh hướng cho việc phát triển ngành hàng rau quả Chương trình phát triển rau quả đãđạt được những thành tựu nhất định, diện tích tăng nhanh, chủng loại đa dạng, phongphú, ngày càng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước, xuất khẩu rau quả từngbước được mở rộng…

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có chính sách ưu đãi riêng cho ngành hàng này Sản xuất,chế biến và tiêu thụ rau, quả chỉ được hưởng những chính sách dành cho ngành nôngnghiệp nói chung Cụ thể một số chính sách như sau:

2.2.1.Chính sách đất đai

Luật Đất đai ban hành năm 1993 trao quyền sử dụng đất cho nông dân thông qua các hìnhthức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; quy định quyền và nghĩa vụcủa người sử dụng đất, trong đó mở rộng các quyền (chuyển nhượng quyền sử dụng đất,thế chấp…) được nông dân hết sức hoan nghênh, tạo động lực lớn trong phát triển sản

Trang 6

xuất Với việc sửa đổi vào các năm 2001 và năm 2003, Luật Đất đai đã tạo hành langpháp lý ngày càng thông thoáng, tạo điều kiện cho việc tập trung tích tụ đất cho sản xuấttrang trại, sản xuất các loại cây lâu năm và sản xuất trên quy mô lớn

Nhà nước có những chính sách nhằm tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nôngnghiệp có đất để sản xuất: giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng ổn định lâu dàivào mục đích sản xuất nông nghiệp để khuyến khích phát huy hiệu quả sử dụng đất đai;đơn giản hoá các thủ tục cho thuê đất để phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nôngsản và ngành nghề ở nông thôn; tạo việc làm cho lao động ở nông thôn phù hợp với quátrình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn Chính sách “dồn điền, đổi thửa” cho phép xử lý vấn đề đất đai manh mún, mộttrong những khó khăn chủ yếu đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn

Việc quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai được thực hiện theo hướng phát triểncác vùng sản xuất chuyên canh, khai thác được lợi thế so sánh của từng vùng, bám sátnhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và bảo vệmôi trường

Với những thay đổi về chính sách đất đai, nông dân được quyền tự quyết định sản xuất,chuyển đổi từ những cây trồng kém hiệu quả sang trồng rau quả Hơn nữa, nhờ chínhsách giao đất dài hạn 50 năm cho cây ăn quả, người nông dân sẵn sàng đầu tư hiệu quảvào mảnh đất của mình

2.2.2 Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển trong điều kiện nguồn Ngân sáchNhà nước có hạn, Chính phủ đã cố gắng bố trí vốn ngân sách đồng thời có chính sáchkhuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và các tổ chức quốc tế đầu tư vào lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn

Nhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất, kinh doanh nôngsản đã được ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ của Chính phủ ban hành ngày15/6/2000 về Một số chủ trương chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sảnphẩm đã nhấn mạnh: Cần huy động sức dân và tăng vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ đầu

tư phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp; Quỹ Hỗ trợ phát triển hỗ trợ đầu tư vớilãi suất ưu đãi đối với các dự án sản xuất, chế biến trong nông nghiệp khó thu hồi vốnnhanh

Các nguồn vốn từ Ngân sách và các thành phần kinh tế được dành để đầu tư: Các côngtrình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu cho các cây trồng có hiệu quả xuất khẩu cao; Hỗ trợ đầu

tư cơ sở hạ tầng để khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và khuyến khích các doanhnghiệp ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ với người sản xuất, gắn kết sản xuất - chế biếnvới tiêu thụ nông sản; Ngân sách hỗ trợ một phần về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng(đường giao thông, thuỷ lợi, điện ), hệ thống chợ bán buôn, kho bảo quản, mạng lướithông tin thị trường, các cơ sở kiểm định chất lượng nông sản hàng hoá cho các vùng sảnxuất nguyên liệu tập trung gắn với cơ sở chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hoá có hợp

Trang 7

đồng tiêu thụ theo QĐ 80 của Chính phủ; Ngân sách đầu tư thực hiện các chương trình,

dự án (Xoá đói giảm nghèo, 135, đường giao thông nông thôn, phục hồi nâng cấp cáccông trình thuỷ lợi hiện có ở các vùng, an toàn hồ chứa nước, kiên cố hoá kênh mương,kiểm soát lũ…) nhằm tạo động lực thúc đẩy sản xuất nông sản, trong đó có sản xuất rauquả

Ngoài ra, trong các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nông nghiệp và nôngthôn luôn được coi là lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư Các chính sách này ngàycàng được hoàn thiện theo hướng tạo môi trường thuận lợi để thu hút có hiệu quả nguồnvốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Về tín dụng đầu tư của Nhà nước, có chính sách hỗ trợ đối với các dự án đầu tư phát triểnsản xuất của các thành phần kinh tế, các lĩnh vực, các chương trình kinh tế lớn và cácvùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư… (Nghị định số 43/1999/NĐ-CP, ngày26/6/1999)

Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp cũng có thể thấy rõtrong Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việcban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu Theo đó, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu là ưu đãicuả Nhà nước nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu

- Về Thuế thu nhập doanh nghiệp:

Nhà nước có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề,trong đó có sản xuất rau quả, đầu tư phát triển sản xuất Bộ Tài chính đã ban hành Thông

tư số 18/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 30/1998/NĐ-CP và Nghị định

số 26/2001/NĐ-CP của Chính phủ về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Theo đó, các cơ

sở sản xuất thuộc lĩnh vực ngành nghề được ưu đãi đầu tư (như trồng cây ăn quả lâu nămtrên đất hoang hoá đồi núi trọc, chế biến bảo quản rau quả, ứng dụng công nghệ trong sảnxuất giống cây…) được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu kể từ khi cóthu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo Cơ sở sảnxuất mới thành lập thuộc các lĩnh vực ngành nghề ưu tiên đầu tư ở các tỉnh miền núi đượcmiễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trongthời hạn từ 7 đến 9 năm; nếu phát sinh lỗ, doanh nghiệp còn được chuyển lỗ trong vòng 5năm

- Về Thuế VAT:

Để khuyến khích tiêu thụ nông sản, các doanh nghiệp được miễn thuế VAT và thuế thunhập doanh nghiệp trên khâu lưu thông theo Thông tư số 91/2000/TT-BTC ngày06/9/2000 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP ngày15/6/2000 của Chính phủ

Trang 8

- Về Thuế sử dụng đất nông nghiệp:

Nghị định số 129/2003/NĐ-CP ngày 03/11/2003 của Chính phủ đã quy định chi tiết thihành Nghị quyết số 15/2003/QH11,ngày 17/6/2003 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sửdụng đất nông nghiệp Các hộ nghèo, hộ sản xuất nông nghiệp ở các xã đặc biệt khó khănđược miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trên toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp;người nông dân được Nhà nước giao đất sản xuất nông nghiệp, xã viên hợp tác xã… nhậnđất giao khoán ổn định để sản xuất nông nghiệp đều được miễn thuế sử dụng đất nôngnghiệp trong hạn mức; người nông dân được quyền đóng góp ruộng đất của mình đểthành lập Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã

Để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, Nhà nước luôn quantâm ưu tiên cung cấp tín dụng đầu tư cho các địa phương Ngành Ngân hàng có nhiều cảitiến nhằm tạo thuận lợi về cho vay đối với người sản xuất và các doanh nghiệp ở nôngthôn, tăng hỗ trợ thông qua Ngân hàng chính sách xã hội để giúp người nghèo và các đốitượng chính sách đầu tư phát triển sản xuất, cải thiện đời sống

2.2.4 Chính sách về áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, các chương trình giống, an toàn vệ sinh thực phẩm và công tác khuyến nông trong sản xuất trồng trọt, thu hoạch và bảo quản

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX đã nhấn mạnh: “Tăng cườngcác hoạt động khuyến nông,… bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn.Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vàosản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, công nghệsau thu hoạch và công nghệ chế biến”

Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất được Nhà nước khuyến khích thông quaviệc ban hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Khoa học và Công nghệ.Nhà nước cam kết đối xử bình đẳng và tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xâydựng dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ nâng cao năng lực sảnxuất, chuyển dịch cơ cấu, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm

Để hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, Nhà nước tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có hoạtđộng ứng dụng khoa học công nghệ như: tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất, kinh doanh(được miễn tiền thuê đất và thuế sử dụng đất với thời hạn quy định cụ thể tuỳ theo từngđịa bàn); được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; được quỹ hỗ trợ đầu tư xem xétcho vay tín dụng trung hạn và dài hạn tối đa là 70% mức vốn đầu tư tại Quỹ Hỗ trợ phát

Trang 9

triển, Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu hoặc Quỹ Hỗ trợ Phát triển Khoa học và Công nghệ hoặc trợcấp một phần lãi suất đối với các khoản vay từ các tổ chức tín dụng;… Các doanh nghiệp

có dự án đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệđược hưởng các ưu đãi: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêmcủa năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp 4 năm tiếp theo; miễn thuế nhập khẩu máymóc, thiết bị phục vụ trực tiếp các dự án chuyển giao công nghệ mà trong nước chưa sảnxuất được… Đặc biệt, Nhà nước có chính sách khuyến khích việc ứng dụng công nghệcao và sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Chính phủ còn ban hành một số văn bản dưới Luật nhằm cụ thể hoá các chính sách liênquan đến đổi mới công nghệ: Nghị định 43/1999/NĐ-CP về Tín dụng đầu tư phát triểnquy định đối tượng cho vay là các dự án đầu tư phát triển có khả năng thu hồi vốn (baogồm cả cho vay đổi mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất) thuộc các thành phần kinh

tế trong lĩnh vực xây dựng cơ sở bảo quản, chế biến nông sản; Nghị định

119/1999/NĐ-CP đưa ra một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tưvào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao chấtlượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh;…

Những năm gần đây, Nhà nước có chính sách ưu tiên và biện pháp thúc đẩy việc ứngdụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nông nghiệp và pháttriển nông thôn Nghị quyết 09 của Chính phủ khuyến khích việc ứng dụng tiến bộ khoahọc công nghệ vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thànhsản phẩm, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng Chất lượng nông sản được nâng caothông qua các chương trình nâng cấp giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học,khuyến nông và nghiên cứu các quy trình kỹ thuật tiên tiến áp dụng vào sản xuất, bảoquản, chế biến , góp phần tăng tính cạnh tranh của nông sản hàng hoá

Về Khuyến nông, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/CP ngày 02/03/1993 quy định

về công tác khuyến nông và Nghị định số 56/2005/NS-CP ngày 26/4/2005 về tổ chứckhuyến nông, nhằm xã hội hoá hoạt động khuyến nông, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa cácnhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp với người sản xuất và giữa người sản xuất với nhau

để nâng cao nhận thức về khoa học kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý và kinh doanh tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân,góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đếnnay, hệ thống khuyến nông được kiện toàn từ TƯ đến địa phương, 100% số tỉnh, thànhphố thành lập Trung tâm khuyến nông, 70% số huyện có trạm khuyến nông và hơn 80%

số xã có khuyến nông viên cơ sở

Về phát triển giống cây trồng: Đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung, ngànhhàng rau quả nói riêng, một trong những hướng tác động chủ yếu của khoa học và côngnghệ là ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển các loại giống cây trồng, vật nuôi

có năng suất, chất lượng và sức chống chịu bệnh cao, không thoái hoá, không làm tổn hạiđến đa dạng sinh học

Đứng trước yêu cầu cấp thiết nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất nôngnghiệp đồng thời tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình

Trang 10

Giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000-2005 (Quyết định số225/1999/QĐ-TTg, ngày 10/12/1999 Ngày 20/01/2006, Chính phủ ban hành Quyết định

số 17/2006/QĐ-TTg về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225 về Chương trình Giốngcây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010 với mục tiêu: Nâng tỷ lệ sửdụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lên trên 70% để phục vụ xuất khẩu, thay thếnhập khẩu nông sản; Nâng cao năng lực chọn tạo giống, áp dụng công nghệ sản xuấtgiống để tạo ra nhiều giống mới có đặc tính tốt, năng suất và chất lượng cao; Khuyếnkhích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất giống nhằm hoànthiện hệ thống sản xuất và cung ứng giống theo hướng hiện đại hóa và phù hợp với kinh

tế thị trường

Việc thực hiện Chương trình Giống được hưởng nhiều ưu đãi như:

Về đầu tư, Ngân sách Nhà nước đầu tư cho: Công tác nghiên cứu khoa học về giống; Quyhoạch, xây dựng cơ sở vật chất, thu thập và bảo tồn giống cây đầu dòng ; Nhập nộinguồn gen, giống mới có năng suất, chất lượng mà trong nước chưa đáp ứng được; Nhậpcông nghệ mới, tiên tiến về sản xuất giống; Hoàn thiện công nghệ và xây dựng mô hìnhtrình diễn về công nghệ sản xuất giống; Tăng cường quản lý chất lượng giống; Hỗ trợmột phần cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng sản xuất giống tập trung áp dụngcông nghệ cao, sản xuất giống gốc

Về tín dụng và thuế: Các tổ chức và cá nhân đầu tư sản xuất giống được hưởng những ưuđãi với mức cao nhất về các loại thuế và được ngành Ngân hàng tạo điều kiện thuận lợitrong việc cho vay vốn; sản xuất giống gốc được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển củaNhà nước Việc đầu tư thiết bị cơ giới hoá và công nghiệp hoá sản xuất, chế biến giốngđược vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi Quỹ Hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệQuốc gia và của các địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm về sản xuất, chếbiến giống

Về đất đai: Đất đai được sử dụng với mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm vềgiống, sản xuất giống được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thu tiền sử dụng đất hoặc tiềnthuê đất

Công tác quản lý Nhà nước về giống ngày càng được tăng cường, Chính phủ đã ban hànhPháp lệnh Giống cây trồng (năm 2004) và Nghị định hướng dẫn xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực giống Hệ thống quản lý chất lượng và tổ chức thanh tra, kiểm tra vềgiống từ Trung ương đến địa phương không ngừng được củng cố: Bộ Nông nghiệp vàPTNT đã ban hành những quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức và chuẩn hoá thiết

kế mẫu các hạng mục cho chương trình giống để sử dụng trong việc xây dựng, thẩm định,phê duyệt và triển khai các dự án giống; nhiều địa phương đã tổ chức công tác kiểm tracác cơ sở sản xuất và dịch vụ giống, ban hành quy định về quản lý giống trên địa bàn, cấpgiấy chứng nhận và chứng chỉ chất lượng giống; một số nơi đã xây dựng Trung tâm kiểmđịnh chất lượng giống; hoạt động bảo hộ giống cây trồng mới, quyền tác giả đã bắt đầuđược triển khai; chương trình khuyến nông tăng cường đào tạo, phổ cập kiến thức côngtác giống cho nông dân

Trang 11

Về Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)

Vệ sinh an toàn thực phẩm đã được Chính phủ xếp vào một trong 10 chương trình trọngđiểm quốc gia từ năm 1999 Năm 2003, Chính phủ công bố Pháp lệnh Vệ sinh an toànthực phẩm với mục đích bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người và tăng cường hiệulực quản lý Nhà nước về VSATTP Nhà nước cam kết có chính sách và biện pháp để bảođảm VSATTP như: Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kếhoạch về VSATTP; Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và phápluật về VSATTP; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạmpháp luật về VSATTP; Khuyến khích các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thựcphẩm áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nhằm bảo đảm VSATTP theođúng tiêu chuẩn quốc tế Người sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm phải chịutrách nhiệm đối với sản phẩm do mình sản xuất, kinh doanh; không được có các hành vitrái với quy định của pháp luật trong việc sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản, vậnchuyển, kinh doanh thực phẩm

Quản lý, giám sát việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cây trồng nằm trong chươngtrình đảm bảo VSATTP Hệ thống chuyên ngành BVTV được tổ chức từ Trung ương đếnđịa phương Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ

về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này như: quy định và cấp giấy phép việc khảonghiệm và đăng ký lưu hành thuốc BVTV mới ở Việt Nam; công bố danh mục thuốcBVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng hoặc cấm sử dụng ở Việt Nam Các địaphương thực hiện việc quản lý Nhà nước và chỉ đạo hoạt động BVTV kết hợp với hoạtđộng khuyến nông trên địa bàn Thanh tra chuyên ngành về BVTV có trách nhiệm thanhtra việc chấp hành pháp luật về phòng, trừ sinh vật gây hại, kiểm dịch thực vật, quản lýthuốc BVTV và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạmpháp luật về BVTV Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật ban hành năm 2001 quyđịnh nghiêm cấm những hành vi sử dụng những biện pháp BVTV có khả năng gây nguyhiểm cho người, sinh vật có ích và hủy hoại môi trường, hệ sinh thái; đưa những sảnphẩm có dư lượng thuốc BVTV quá giới hạn cho phép vào buôn bán, sử dụng

Lĩnh vực này được các cấp, các ngành hết sức quan tâm Hiện nay, có hai Trung tâmkiểm định thuốc BVTV thuộc Cục BVTV đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đểkiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên rau, quả tươi và một số nông sản khác Chi cụcBVTV một số địa phương (như Hà Nội, Hải phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,Lâm Đồng…), các Viện (BVTV, Nghiên cứu rau quả, Công nghệ sau thu hoạch, Khoahọc Nông nghiệp Việt Nam, Dinh dưỡng…), Tổng cục đo lường chất lượng, một số địaphương (Hà Nội, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh…) đều có các phòng kiểm nghiệmkiểm tra dư lượng thuốc BVTV

Do yêu cầu cấp thiết đảm bảo VSATTP trong sản xuất nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp vàPTNT đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về VSATTP trong nông nghiệp đếnnăm 2010 (CV số 1052/BNN-KHCN ngày 28/4/2006) với mục tiêu đẩy mạnh sản xuấtnông sản thực phẩm an toàn bằng cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ về giống,chế phẩm sinh học, phân hữu cơ và quy trình tiên tiến vào sản xuất Phấn đấu giảm mộtcách cơ bản tồn dư hoá chất độc hại trong nông sản thực phẩm, đảm bảo an toàn cho

Trang 12

người tiêu dùng, góp phần nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩuhàng nông sản, trong đó có rau quả

2.2.5 Các chính sách phát triển mối liên kết có hiệu quả giữa sản xuất và tiêu thụ

Luật Hợp tác xã (ban hành năm 1996, sửa đổi năm 2003) đã tạo cơ sở pháp lý và pháthuy vai trò của HTX trong việc phát triển nền kinh tế thị trường Các HTX nông nghiệpngày càng vững mạnh, đời sống của xã viên được cải thiện, cơ sở vật chất của HTX ngàymột tăng cường Đã hình thành những mối liên kết giữa các HTX với nhau, giữa HTXvới doanh nghiệp trong sản xuất, mở rộng quy mô, tạo nguồn hàng phong phú cho thịtrường Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách như: hỗ trợ kinh phí từ ngân sáchcác cấp để bồi dưỡng, đào tạo cho các cán bộ quản lý và phụ trách chuyên môn kỹ thuật,nghiệp vụ của HTX; ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ cáchoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh của xã viên HTX; hỗ trợ các HTX đầu tư

cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại, quỹ tíndụng nhân dân, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ) cho các HTX vay vốn để đầu tư mới,đầu tư nâng cấp, mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động của các HTX

Luật Doanh nghiệp (ban hành năm 1999 và 2005) được coi là đòn bẩy quan trọng tạobước đột phá trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Doanh nghiệp được quyền chủ động mởrộng quy mô và ngành nghề kinh doanh, được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạothuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm

Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về Kinh tế trang trại ban hành các chính sách ưu đãi (vềthuế, hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ) nhằm khuyến khích và tạo thuận lợi để pháttriển sản xuất hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn

Chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những chính sách quan trọng gópphần thay đổi kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá cónăng suất, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thị trường; phát huy lợi thế so sánh của từngvùng; hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất,bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ, thúc đẩy tiêu thụ nông sản một cách toàn diện

và hiệu quả; đồng thời nâng cao giá trị thu nhập trên 1 ha đất canh tác, tạo việc làm vàtăng nhanh thu nhập cho nông dân

Để giúp cho nông dân yên tâm sản xuất, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất vàngười kinh doanh, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến và chân hàngcho xuất khẩu, năm 2002, Chính phủ đã ban hành Quyết định 80 về một số chính sáchkhuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng Tuy còn nhiều hạn chế nhưng chínhsách này đã bước đầu phát huy tác dụng ở nhiều địa phương, tạo nguồn hàng hoá phongphú và ổn định cho thị trường

Riêng sản xuất rau quả còn được hưởng các chính sách cụ thể như: Ngân sách Nhà nước

hỗ trợ một phần công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ; nhập khẩu giống mới có

Trang 13

năng suất cao (như dứa, măng…); hỗ trợ một phần kinh phí cho đầu tư mới cải tạo nângcấp cơ sở hạ tầng sản xuất tại một số địa phương;… Các chính sách hỗ trợ công tác xúctiến thương mại; thưởng kim ngạch xuất khẩu tác động trực tiếp đến hoạt động xuấtkhẩu, thông qua đó có tác dụng khuyến khích nghiên cứu phát triển sản xuất và nâng caochất lượng sản phẩm.

III MỘT SỐ HẠN CHẾ VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM

Theo Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giớităng bình quân 3,6%/năm, nhưng mức cung chỉ tăng 2,8%/năm Điều này cho thấy thịtrường xuất khẩu rau quả có nhiều tiềm năng Tuy nhiên, trong nhiều năm qua thị trườngxuất khẩu rau quả của Việt Nam đã giảm mạnh Nếu năm 2001, xuất khẩu 42 nước vàvùng lãnh thổ, thì năm 2004 còn lại 39 và năm 2005 chỉ còn 36

Nguyên nhân của sự suy giảm này, trước hết là giống cây ăn trái của Việt Nam mới chỉdừng ở mức độ khai thác các giống đã có sẵn chứ chưa đầu tư thích đáng cho việc pháttriển cũng như bảo quản những giống mới có chất lượng cao, phù hợp thị hiếu của các thịtrường khác nhau Hầu hết các cơ sở giống đều thiếu hẳn vườn cây đầu dòng hoặc không

có vườn cung cấp mắt ghép được nhân từ cây đầu dòng được xác nhận Đối với giống cây

có múi sạch bệnh được sản xuất trong nhà lưới mỗi năm cũng chỉ khoảng 500.000cây/năm trong khi đó nhu cầu cần đến 4 đến 5 triệu cây giống mỗi năm và giá bán lại cao(12.000 đ đến 15.000 đ/cây), do đó nhà vườn khó mua được giống tốt

3.1 MỘT SỐ HẠN CHẾ VỀ SẢN XUẤT

Trong những năm qua sản xuất rau quả của Việt Nam đã đạt được những kết quả nhấtđịnh nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế do những yếu kém nội tại của ngành rau quả cũngnhư những bất cập trong thực hiện các chính sách phát triển Cụ thể là:

- Về phát triển vùng chuyên canh rau quả xuất khẩu:

Trong những năm qua, những nỗ lực xây dựng vùng nguyên liệu tốt cho chế biến xuấtkhẩu đã góp phần hình thành được nhiều vùng quả tập trung như vùng xoài cát Hoà Lộc(Tiền Giang), Thanh Long (Bình Thuận), vải thiều Bắc Giang, nho (Ninh Thuận), bưởiNăm Roi (Vĩnh Long) Năm 2006, Việt Nam phấn đấu đưa diện tích cây ăn quả lên 760nghìn ha, tăng 5 nghìn ha so với năm 2005 và đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả phấn đấuđạt 330 triệu USD Để đạt mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tậptrung phát triển các loại cây ăn quả có lợi thế như loại cây có múi gồm cam, quýt, bưởi;dứa, xoài, nhãn, vải, thanh long, sầu riêng, măng cụt, vú sữa Phát triển các giống cây ănquả chất lượng cao, đặc sản ở các vùng như cam, quýt (Canh, Cần Thơ), bưởi (PhúcTrạch, Đoan Hùng, Năm Roi), Xoài cát (Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang), quýt hồng(Đồng Tháp)

Tuy nhiên, diện tích các vùng chuyên canh còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích755.000 ha cây ăn quả hiện có trên cả nước; phần lớn diện tích vẫn là vườn tạp, phát triểntheo quy mô hộ gia đình Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định của

Trang 14

xuất khẩu là do quy hoạch chưa có trọng tâm, chưa tập trung tối ưu để tạo ra những vùngsản xuất có tính cạnh tranh Số vùng chuyên canh như vải thiều Bắc Giang, vú sữa LòRèn, thanh long Bình Thuận, nho Ninh Thuận còn quá ít nên khi khách hàng cần sảnlượng lớn, thời gian giao hàng ngắn thì khó có thể thu gom đủ Ngoài ra, do giống và quytrình chăm sóc không đồng đều, nguồn nguyên liệu lại không ổn định, ảnh hưởng đếnchất lượng chế biến.

3.2 NHỮNG TỒN TẠI

Bên cạnh một số thành tựu nhất định, hệ thống chính sách của Việt Nam nói chung, nôngnghiệp nói riêng còn nhiều bất cập, việc ban hành chính sách thiếu sự đồng bộ, không cótính chiến lược mà thường mang tính giải quyết tình thế

Nhiều chính sách còn chưa thực sự cụ thể hoá, mức độ phát huy hiệu lực còn rất hạn chế

do không đủ các nguồn lực về tài chính, trình độ quản lý, thủ tục rườm rà, khó vận dụng:Nghị quyết 09 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấunông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chưa có hướng dẫn và chính sách cụ thể; Quyết định 80

về khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng chưa cụ thể hoá các quychế hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi, xúc tiến thương mại, khuyến nông và chế tài xửphạt các trường hợp vi phạm hợp đồng nên khi triển khai còn gặp nhiều lúng túng, hiệulực chưa cao;

Quá trình xây dựng và thực thi chính sách chưa quan tâm đúng mức đến việc lấy ý kiếnrộng rãi của các thành phần kinh tế khác nên các doanh nghiệp Nhà nước thường đượchưởng lợi nhiều hơn, do đó chưa thực sự tạo được “sân chơi bình đẳng” trong môi trườngkinh doanh cho mọi thành phần kinh tế

Trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, các chính sách của Nhà nước dường như vẫn quantâm nhiều đến việc thúc đẩy sản xuất mà chưa quan tâm đúng mức đến quản lý tiêu chuẩnchất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ; chưa tạo được động lực đột phá giải quyết đượctình trạng manh mún trong sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, đáp ứngyêu cầu thị trường

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách tạo hành lang pháp lý cho HTX chuyển đổi,xây dựng mới, thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Tuy nhiên, trong LuậtHTX vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng về cơ chế, chính sách tài chính cho các HTX,các văn bản cụ thể hóa thực hiện Luật HTX làm chậm, một số nội dung hướng dẫn thựchiện không đồng bộ và chưa phù hợp với thực tế Có những quy định cần thiết đến nayvẫn chưa được hướng dẫn thi hành (như chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển HTX).Thêm vào đó, năng lực của cán bộ HTX chưa cao, hoạt động của đa số HTX còn thụđộng nên đã phần nào hạn chế hình thức tổ chức này phát huy hiệu quả; tác động củacác chủ trương, chính sách còn chậm đến các cơ sở, nhiều chính sách đã được ban hànhnhưng đến nay các HTX nông nghiệp vẫn chưa được hưởng lợi từ những chính sách đó Chính sách về đất đai vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục, điều chỉnh để khuyếnkhích hơn nữa người nông dân tích tụ đất, lập trang trại sản xuất hàng hoá với số lượng

Trang 15

lớn, quy cách đồng đều, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thị trường Chưa có chế tài đểgắn kết giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm sử dụng đất của người dân nên sảnxuất hàng hoá chưa thực sự đạt hiệu quả cao

Các chính sách về kinh tế trang trại còn chưa được cụ thể hoá, khó áp dụng trong thựctiễn Do đó, sự phát triển của kinh tế trang trại còn mang tính tự phát, hiệu quả hoạt độngcòn chưa cao Để loại hình kinh tế đặc thù này phát triển ngang tầm với ưu thế vốn có của

nó, cần phải xây dựng một kế hoạch phát triển lâu dài dựa trên thế mạnh của từng vùng

Việc thực hiện các chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nôngthôn còn chậm, thiếu đồng bộ Tuy diện tích rau, quả và hoa, cây cảnh có tăng nhưng tạikhu vực sản xuất nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến thì năng suất, chấtlượng rau quả còn thấp, không đủ cho các nhà máy Những nơi dân tự trồng thì rải rác,phân tán, diện tích manh mún, chủng loại không ổn định, chất lượng không đồng đều.Việc thực hiện chủ trương đa dạng hoá nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hạgiá thành sản phẩm chưa được nhiều

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từ nguồn ngân sách Nhà nướcthiếu sự cân đối giữa các ngành hàng, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế(TD: đầu tư phát triển thuỷ lợi chủ yếu tập trung cho cây lúa, phần lớn diện tích cây ănquả chưa có công trình thuỷ lợi) Sự chuyển biến trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư cònchậm, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn

Môi trường đầu tư còn nhiều hạn chế (thiếu tính chiến lược, định hướng thu hút đầu tưnước ngoài; chi phí đầu tư cao; hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách khuyến khích đầu

tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn còn nhiều bất cập; thủ tụchành chính rườm rà ) nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nướcngoài vào lĩnh vực này Do đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào vào lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn còn hết sức hạn chế và có xu hướng giảm sút trong những năm gầnđây, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế mạnh phát triển của nông nghiệp ViệtNam Hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực này còn rất nhỏ so với hoạt động đầu

tư nước ngoài trong các lĩnh vực khác Ngoài một số dự án sản xuất giống, chế biến nôngsản , nhìn chung các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này triển khai chậm do khókhăn về thủ tục cấp đất, nguồn nguyên liệu

Nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp

so với yêu cầu, theo đánh giá chung mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốn củacác tổ chức kinh tế, hộ gia đình Đặc biệt, các doanh nghiệp tư nhân, HTX và hộ nôngdân tiếp cận nguồn vốn này còn rất ít Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn tín dụng ngânhàng khoảng 70%, lại gặp nhiều vướng mắc trong các quy định về thế chấp, thu hồi nợ.Việc cho vay ưu đãi được thực hiện qua nhiều đầu mối (Quỹ Hỗ trợ phát triển, Ngânhàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội) với mức lãi suất khác nhaunên người nông dân khó nhận biết đầy đủ để tiếp cận nguồn vốn

Trang 16

Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thựctiễn sản xuất, chưa thực sự bám sát yêu cầu thị trường Cơ chế quản lý KHCN chậm đổimới, chưa có chính sách và biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn lực và sử dụng cóhiệu quả nguồn lực Nhà nước đầu tư cho KHCN; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu KHCNvới hoạt động sản xuất, kinh doanh, hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoahọc thấp; thiếu chính sách và biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tưnghiên cứu và đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnhtranh Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển KHCN trong ngành nông nghiệp cònthấp so với nhu cầu nên chưa tạo được những bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp.Việc tổ chức chuyển giao, ứng dụng KHCN vào sản xuất chưa được quan tâm đầu tưđúng mức, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu và khuyến nông; chưathu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu và chuyển giao khoa họccông nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Về Giống, mặc dù đã có những văn bản pháp quy đối với quản lý giống, việc thực thi vẫncòn nhiều bất cập Hệ thống quản lý chất lượng giống còn yếu kém, số cán bộ quản lýngành giống ở cấp tỉnh quá ít, cấp huyện hầu như không có Do đó, hệ thống sản xuất,cung ứng giống cho dân chưa được giám sát chặt chẽ, đặc biệt việc quản lý giống lưuthông trên thị trường còn lỏng lẻo nên vẫn còn tình trạng sử dụng giống kém chất lượng,nhất là giống cây ăn quả, gây thiệt hại cho nông dân

Hệ thống khuyến nông còn nhiều bất cập, đến nay vẫn còn 30% số huyện chưa có trạmkhuyến nông, 19% số xã chưa có cán bộ khuyến nông Nội dung công tác khuyến nôngmới chú ý nhiều đến hướng dẫn kỹ thuật, chưa chú trọng đến việc hướng dẫn tổ chức sảnxuất, thị trường, chưa bám sát yêu cầu của nông dân nên ở nhiều nơi chưa đạt hiệu quảcao Hơn nữa, còn thiếu cơ chế chính sách khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp vàcác cơ sở đào tạo, nghiên cứu chủ động trực tiếp tham gia vào công tác chuyển giao khoahọc, kỹ thuật cho nông dân

Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trong những năm gần đây rất đáng lo ngại Đặcbiệt, trong sản xuất rau quả, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản khôngđúng quy định hoặc cấm lưu hành trên thị trường đã dẫn đến những hậu quả nghiêmtrọng, ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vềVSATTP đến nay về cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩnVSATTP còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và

và các tiêu chuẩn quốc tế Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về VSATTP còn yếu,phân tán, chưa phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ ngành

Việc thực hiện ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80 của Chínhphủ vẫn còn nhiều bất cập Nhà nước chưa tạo được một hành lang pháp lý phù hợp choviệc giải quyết tranh chấp trong liên kết giữa các nhà, đặc biệt là vấn đề hợp đồng sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông Các chính sách về tíndụng, vốn sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng, giống mới, khoa học kỹ thuật…theo QĐ 80chưa được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ, chưa khai thông Đối với những trườnghợp thiệt hại do các nguyên nhân bất khả kháng (như thiên tai, dịch bệnh), Nhà nướcchưa có chính sách cụ thể để hỗ trợ cho các bên tham gia hợp đồng

Trang 17

Các chương trình xúc tiến thương mại hiện nay vẫn chưa chú trọng vào phát triển thịtrường phi truyền thống trong khi chính những thị trường này mới là những thị trường màNhà nước cần hỗ trợ xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp có thể thâm nhập thịtrường.

Hiện nay các hoạt động đàm phán để ký kết các thoả thuận hoặc các hiệp định về thươngmại rau quả của Việt Nam còn chậm và cần phải triển khai mở rộng cũng như đẩy nhanhtiến độ của các hoạt động nay thông qua đàm phán ký kết các FTA hoặc các hiệp định vềbuôn bán rau quả với một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Nhật Bản, EU vàHoa Kỳ…Do chưa ký kết được thoả thuận song phương về buôn bán rau quả với một sốthị trường, đặc biệt là với Trung Quốc nên rau quả của Việt Nam hiện nay rất kém cạnhtranh với rau quả của những nước đã có thoả thuận cắt giảm thuế quan như Thái Lan tạithị trường quốc tế Đây là một trong những rào cản đối với rau quả của Việt Nam Chínhphủ Trung Quốc cũng thắt chặt hoạt động kiểm soát rau quả nhập khẩu sau khi TrungQuốc gia nhập WTO tạo thêm khó khăn cho rau quả xuất khẩu của Việt Nam vào thịtrường này

Công tác dự báo thị trường, tổ chức thu thập và xử lý thông tin đã có những tiến bộ đáng

kể nhưng còn rời rạc, chậm về thời gian, thiếu hệ thống từ cơ sở vật chất đến phươngthức tổ chức, nghèo nàn về nội dung, chưa thực sự trở thành một công cụ mạnh để chỉđạo, hướng dẫn sản xuất Do thiếu thông tin về thị trường nên người sản xuất rất lúngtúng trong việc quyết định đầu tư nên trồng cây gì? qui mô ra sao? để có hiệu quả Thịtrường chưa thực sự hướng dẫn sản xuất, chưa có tác động tích cực đổi mới cơ cấu sảnxuất hướng theo nhu cầu của thị trường Công tác tổ chức dự báo thị trường, thu thập xử

lý thông tin chậm về thời gian, mức độ, tin cậy không cao, trên thực tế chưa trở thànhcông cụ mạnh hướng dẫn sản xuất

Tầm vĩ mô, hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc xây dựng và pháttriển thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng các quan hệ song phương và đa phương,tạo điều kiện xuất khẩu rau quả còn rất hạn chế, thiếu chủ động Hoạt động nghiên cứutiếp thị thuộc các tổ chức kinh tế, chuyên môn chậm phát triển, còn bị xem nhẹ, chưatương xứng với yêu cầu phát triển ngành rau quả nói chung, đẩy mạnh xuất khẩu rau quảnói riêng Sự yếu kém trong việc xác định hệ thống thị trường xuất khẩu chủ lực vànhững mặt hàng rau quả xuất khẩu trọng điểm là một trong những nguyên nhân hạn chếquá trình phát triển sản xuất - lưu thông - xuất khẩu rau quả

Để sản xuất đạt hiệu quả cao cần đầu tư vào những lĩnh vực thị trường thực sự có nhucầu Người sản xuất đòi hỏi phải có nhu cầu thường xuyên về thông tin thị trường tiêu thụ

để có quyết định đầu tư sản xuất hợp lý Tuy vậy, người sản xuất không thể tự giải quyếtvấn đề này cho mình, mà đòi hỏi có sự hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức kinh tế và cácdoanh nghiệp

3.3 Nguyên nhân của những tồn tại và những vấn đề đặt ra

Xét về nguyên nhân khách quan, xuất phát điểm của nông nghiệp Việt Nam thấp trongkhi nguồn lực của cả Nhà nước và nhân dân còn hết sức hạn hẹp Hơn nữa, một bộ phận

Trang 18

cán bộ và một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng và tínhcấp thiết của việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, có năng suất, chất lượng cao, đa dạng hoá sản phẩm và định hướng thịtrường nên chưa thực sự quan tâm chỉ đạo và có cơ chế chính sách đủ mạnh để thực hiện.

Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn nhiều bất cập Nhiều chủtrương chính sách đã được ban hành những còn chậm trong việc hướng dẫn tổ chức thựchiện Một số chính sách chậm được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi cơcấu và phát triển sản xuất Việc tuyên truyền phổ biến các chính sách để nâng cao nhậnthức của người nông dân, giúp họ định hướng sản xuất hợp lý ở nhiều nơi vẫn còn chậm

và chưa thực sự quan tâm

Cơ cấu đầu tư chậm được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển của cơ cấu kinh tếmới Nhu cầu vốn cho đầu tư cho CSHT nông thôn rất lớn trong khi nguồn chi Ngân sáchNhà nước cho nông, lâm, thuỷ sản chỉ chiếm khoảng 6% tổng chi ngân sách và đáp ứngđược khoảng 60 - 70% yêu cầu thực tế Vốn của nông dân và các doanh nghiệp, HTXchiếm tỷ trọng lớn nhất trong đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp nhưng

số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thường có quy mô vừa và nhỏ lạichỉ chiếm gần 10% tổng số doanh nghiệp cả nước, do đó tốc độ mở rộng đầu tư của cácdoanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế Trong khi đó, chưa có nhiều cơchế, chính sách hữu hiệu nhằm khuyến khích, thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoàicho đầu tư hạ tầng nông nghiệp nên nguồn vốn này chỉ mới chiếm khoảng 7% tổng vốnđầu tư trực tiếp của nước ngoài

Việc đầu tư phát triển hệ thống thông tin giá cả, thị trường chưa theo kịp yêu cầu nên khảnăng phân tích, dự báo còn nhiều yếu kém, chưa hướng dẫn cho nông dân nên sản xuấtloại sản phẩm gì để có hiệu quả cao Hạ tầng dịch vụ phục vụ thương mại hàng nông sảncòn thiếu nhiều, hệ thống chợ bán buôn hàng nông sản chưa được quy hoạch và đầu tưphát triển mạnh, thiếu các cảng chuyên dụng, chi phí bốc xếp, lưu kho cao làm giảmhiệu quả tiêu thụ, chưa khuyến khích được người nông dân phát triển sản xuất

Một số quy định về đất đai vẫn còn chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tếthị trường, chưa khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn Hiện nay,

có nhiều doanh nghiệp, nông hộ mong muốn xây dựng được những vùng sản xuất nguyênliệu tập trung ổn định lâu dài nhưng lại gặp khó khăn về dồn đổi, chuyển nhượng đấtnông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhìn chung còn chậm sovới yêu cầu, chưa thực sự tạo nên chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người nôngdân về tầm quan trọng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Nhiều nơi nôngdân vẫn tập trung vào sản xuất các loại cây truyền thống, ít chịu đổi mới Phát triển sảnxuất nhiều loại cây trồng, trong đó có rau, hoa, quả còn phân tán và mang nặng tính tựphát

Năng lực, trình độ cũng như việc tổ chức quản lý công tác nghiên cứu khoa học, nhất làtrong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ cao chưa đáp ứng được nhu cầu Cơ sở vật chất - kỹ

Trang 19

thuật của các tổ chức nghiên cứu KH&CN còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ và sử dụngkém hiệu quả, thiếu các cán bộ có trình độ chuyên môn cao đã ảnh hưởng đến tiến độ vàhiệu quả của công tác nghiên cứu Việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất chưatạo ra bước đột phá để tăng nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả nhằm phục vụ quátrình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Mạng lưới khuyến nông tuy đã hình thành đến tận cụm xã nhưng nhìn chung vẫn chưaphát triển tương xứng với yêu cầu của sản xuất Việc quản lý giống thiếu sự chặt chẽ làmảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả kinh tế của nhiều loại rau, quả

Khâu quản lý chất lượng hàng hoá còn nhiều bất cập gây tâm lý bất an của người tiêudùng đối với các sản phẩm sản xuất trong nước Công tác giáo dục, tuyên truyền vềVSATTP trong cộng đồng chưa triệt để; thực trạng kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ,manh mún, chưa đủ điều kiện để áp dụng kỹ thuật cao trong sản xuất; hầu hết các địaphương chưa có một bộ máy hữu hiệu để quản lý vấn đề này;… Đội ngũ cán bộ làm côngtác quản lý và kiểm nghiệm về Vệ sinh an toàn thực vật và kiểm dịch thực vật còn hạnchế về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, trang thiết bị của một số cơ sở kiểm địnhthuốc BVTV còn nghèo nàn đã ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động kiểm nghiệm,đánh giá dư lượng thuốc BVTV đối với hàng nông sản Trình độ nhận thức của nông dâncòn hạn chế nên việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV, thuốc bảo quản còn nhiều bất cập;nhiều nơi, nhất là các vùng ven đô thị đã xây dựng được các vùng rau, quả “an toàn”nhưng số lượng còn nhỏ bé, chưa thiết lập được mạng lưới kiểm soát, chứng nhận nênvẫn chưa khuyến khích phát triển sản xuất

Các chính sách mới thường chậm đến với hợp tác xã, kể cả văn bản dưới luật Các HTXnông nghiệp còn quá nhiều hạn chế và yếu kém cả về tổ chức, quản lý và hoạt động.Trong quản lý, sản xuất kinh doanh, nhiều hợp tác xã còn lệ thuộc rất lớn vào chínhquyền địa phương Việc chuyển đổi và thành lập mới HTX còn mang nặng tính hình thức

và thiếu những mô hình hoạt động có hiệu quả Trình độ quản lý điều hành sản xuất, kinhdoanh và nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX của nhiều cán bộ cơ sở còn hạn chế;nhiều hợp tác xã khó khăn về cơ sở vật chất và thiếu vốn, không đủ sức cạnh tranh với tưnhân; cơ chế cho hợp tác xã vay vốn còn bất cập; thiếu cập nhật thông tin thị trường nên hiệu quả hoạt động chưa cao

Phát triển Kinh tế trang trại còn thiếu nguồn vốn để xây dựng những kế hoạch đầu tư dàihơi nên nhiều trang trại hoạt động chưa hiệu quả, nhiều địa phương còn thiếu quy hoạchtổng thể và chưa xác định được mô hình trang trại phù hợp nên đã nảy sinh nhiều vấn đềnhư hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn chưa đủ đáp ứng được nhu cầu cầnthiết của các trang trại Hơn nữa, do đầu ra còn hạn chế nên việc đầu tư chế biến, bảoquản nông sản sau thu hoạch chưa thực sự được các chủ trang trại quan tâm, dẫn đếnnông sản của nhiều trang trại thiếu tính cạnh tranh so với những mặt hàng cùng loại đượcsản xuất với quy mô nhỏ Phát triển kinh tế trang trại chưa thực sự đầu tư vào những sảnphẩm mang tính lâu dài, những loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế; chưa đầu tư cóchiều sâu và thiếu định hướng lâu dài về xây dựng những mô hình sản xuất hiện đại

Trang 20

Quá trình đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, tiêu thụ trong nông nghiệp, nông thônchậm chuyển biến, thiếu tính đồng bộ Chưa hình thành được hệ thống phân phối, kênhtiêu thụ phù hợp với nền sản xuất hàng hoá quy mô lớn, hiện đại và yêu cầu hội nhập, mởcửa thị trường

Công tác tổ chức triển khai, phổ biến, tuyên truyền và vận động doanh nghiệp, người dânthực hiện Quyết định 80 còn yếu, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở cấp tỉnh, chưa được triểnkhai mạnh đến cấp huyện và nhất là cấp xã Nhiều địa phương chưa chú ý đúng mức đếnvai trò và tầm quan trọng của hình thức tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng Việc triểnkhai thực hiện còn nặng về hình thức, thiếu đi sâu vào nội dung, chưa chủ động sáng tạoban hành những chính sách cụ thể của địa phương để hỗ trợ các bên tham gia hợp đồng

Do đó, bà con nông dân và ngay cả chính quyền tại một vài địa phương chưa hiểu biếtđầy đủ về chính sách liên kết ''4 nhà'', còn nhiều lúng túng trong cả khâu sản xuất và tiêuthụ

Trong sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản, đặc biệt ngành hàng rau quả, vẫn chưatạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu và cơ sở sản xuất, bảo quản, chế biến

Do đó, chưa tận dụng được hết công suất, hiệu quả của các nhà máy đồng thời tác độnglàm cho giá cả hàng hoá thiếu ổn định, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Kếtcấu hạ tầng cho vùng nguyên liệu chưa thực sự được quan tâm đầu tư

Tóm lại, trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu nông sản các chính sách đã ban hành bướcđầu đã tạo nên khung khổ pháp lý mang tính hệ thống, tạo môi trường hoạt động để kinhdoanh xuất khẩu đi vào quỹ đạo của quản lý luật pháp và theo các qui luật của thị trường.Thành tựu về kinh doanh xuất khẩu nông sản thời gian qua là yếu tố quan trọng khẳngđịnh hiệu quả của hệ thống chính sách và cơ chế đã ban hành Tuy nhiên, trong lĩnh vựcsản xuất - chế biến - lưu thông xuất khẩu rau, hoa, quả, Nhà nước, các Bộ, ngành có liênquan chưa tạo lập được cơ chế quản lý và chính sách kinh tế thực sự khuyến khích đốivới người kinh doanh rau, hoa, quả nói chung, kinh doanh xuất khẩu rau, hoa, quả nóiriêng như chính sách đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học; đầu tư cho công nghệ sauthu hoạch; chính sách khuyến khích về thuế; chính sách khuyến nông; chính sách bảohiểm đối với lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu rau quả Đồng thời, chưa có các giải pháp

đủ mạnh có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng của xuất khẩu rau, hoa, quả Những chính sách

đã ban hành chung trong lĩnh vực sản xuất - lưu thông xuất khẩu nông sản vẫn còn hạnchế ở nhiều khía cạnh, cần được bổ sung nhằm khuyến khích xuất khẩu rau, hoa, quả Bên cạnh đó, trong cam kết WTO, Việt Nam phải bỏ toàn bộ trợ cấp xuất khẩu đối vớihàng nông sản ngay khi gia nhập; với các khoản hỗ trợ trong nước được duy trì ở mức10% giá trị sản lượng như các nước đang phát triển khác trong WTO Trước mắt, năm

2007 sẽ bỏ thưởng xuất khẩu đối với thành tích xuất khẩu và thưởng vượt kim ngạch xuấtkhẩu

Để phát huy lợi thế so sánh của rau, hoa, quả Việt Nam trên thị trường thế giới, để thúcđẩy xuất khẩu rau, hoa quả cần phải có cơ chế quản lý và chính sách kinh tế thực sự tạomôi trường thuận lợi, khuyến khích xuất khẩu, phát huy tiềm năng của mọi thành phầnkinh tế đầu tư sản xuất và tham gia xuất khẩu rau, hoa, quả Đồng thời, thực thi đồng bộ

Trang 21

các giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của kinh doanh rau,hoa, quả xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau, hoa, quả phát triển.

IV MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU QUẢ THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2015

Để thực hiện mục tiêu đưa sản lượng trái cây lên 9 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt

350 triệu USD vào năm 2010, thì phải quy hoạch vùng sản xuất cây ăn trái tập trung antoàn theo hướng GAP (sản xuất nông nghiệp tốt) và ứng dụng công nghệ sau thu hoạchtiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trườngtrong và ngoài nước; xây dựng thương hiệu trên cơ sở đảm bảo chất lượng, khối lượng và

uy tín về bao bì, nhãn hiệu, dịch vụ giao hàng; xây dựng chiến lược phát triển thị trườngtrong nước làm cơ sở cho xuất khẩu; đồng thời tăng cường quảng bá trái cây Việt Nam vàxúc tiến thương mại

Phát triển cây ăn quả theo hướng xây dựng các vùng sản xuất tập trung chuyên canh (qui

mô phải đạt trên 1.000ha), tạo ra khối lượng sản xuất đủ lớn, có chất lượng cao, đồng đềuđáp ứng được yêu cầu của thị trường, trên cơ sở phát huy lợi thế và tiềm năng của từngloại cây trồng ở từng vùng Tập trung phát triển 11 loại cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh,trong đó có một số loại cây chủ lực phục vụ xuất khẩu như: Cam sành, Thanh long, Xoàicát Hoà Lộc, Bưởi Năm Roi, Vải, Vú sữa và Măng cụt Mỗi tỉnh cần chọn từ 1 đến 2hoặc 3 cây ăn quả có hội đủ các điều kiện phát triển sản xuất thành sản phẩm hàng hoáchủ lực có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực vàthế giới

+ Cam sành: dự kiến quy hoạch phát triển cây cam sành tại vùng ĐBSCL đến năm 2010

là 31 ngàn ha, đạt sản lượng 277,2 ngàn tấn; tập trung tại các tỉnh Vĩnh Long (chủ yếu ởhuyện Tam Bình và Trà Ôn), Bến tre (tập trung chính ở huyện Chợ Lách, Mỏ Cày vàChâu Thành), Tiền Giang (chủ yếu ở huyện Cái Bè và Cai Lậy), Hậu Giang và Cần Thơ.+ Thanh Long: Quy hoạch phát triển thanh long tại 3 tỉnh vùng Đông nam bộ và ĐBSCL

là Bình Thuận, Tiền Giang và Long An; Dự kiến đến năm 2010 diện tích Thanh long ở 2vùng này đạt 14,3 ngàn ha, cho sản lượng 236,5 ngàn tấn

Về giống, ngoài giống Thanh long vỏ đỏ ruột trắng hiện nay, cần chú ý phát triển cácgiống mới như vỏ đỏ ruột đỏ; vỏ đỏ ruột tím và vỏ vàng ruột trắng nhằm đa dạng hoá sảnphẩm đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng

+ Bưởi Năm roi: Quy hoạch phát triển bưởi Năm roi đến 2010 là 15 ngàn ha, đạt sảnlượng 121,5 ngàn tấn; chủ yếu tại các tỉnh Vĩnh Long (tập trung chính ở huyện BìnhMinh và Trà Ôn) và tỉnh Hậu Giang (chủ yếu ở huyện Châu Thành)

+ Xoài cát Hoà Lộc: Dự kiến đến 2010 có 9,0 ngàn ha xoài cát Hoà Lộc, cho sản lượngxấp xỉ 40 ngàn tấn Tập trung ở hai tỉnh Tiền Giang (trong đó chủ yếu ở huyện Cái Bè) vàtỉnh Đồng Tháp (tập trung chính ở huyện Cao Lãnh)

Trang 22

+ Sầu riêng: Quy hoạch vùng sầu riêng chủ lực tập trung tại vùng Đông nam bộ, trong đóchủ yếu ở tỉnh Đồng Nai (tập trung chính tại các huyện Cẩm Mỹ, Thị xã Long Khánh,Xuân Lộc…) và tỉnh Tây Ninh (chủ yếu tại các huyện Hoà Thành, Tân Châu và TânBiên) Ngoài ra, cũng có thể phát triển tại một số tỉnh tại vùng ĐBSCL như Bến Tre, TiềnGiang, Vĩnh Long…Các giống Sâù riêng chất lượng cao như DONA, Chín Hoá, Ri 6 cầnđược chú trọng phát triển Dự kiến đến năm 2010 tổng diện tích sầu riêng cả nước đạt gần

16 ngàn ha, cho sản lượng xấp xỉ 52 ngàn tấn

+ Măng cụt: Dự kiến quy hoạch đến 2010 phát triển cây măng cụt tại một số tỉnh vùngĐBSCL và Đông nam bộ, đạt diện tích 11,3 ngàn ha, cho sản lượng 24 ngàn tấn; Trong

đó Bến Tre là tỉnh có diện tích măng cụt lớn nhất (tập trung ở các huyện Chợ Lách, ChâuThành); Tiếp theo là Vĩnh Long (tập trung ở huyện Vũng Liêm); Trà Vinh và BìnhDương (tại các huyện Thuận An, Bến Cát và Dầu Tiếng)

+ Vải thiều: Hai vùng trồng vải tập trung sẽ là Thanh Hà - Hải Dương và Lục Ngạn BắcGiang Dự kiến quy hoạch đến năm 2010 diện tích vải cả nước đạt 90 ngàn ha, cho sảnlượng 315 ngàn tấn; trong đó Bắc Giang đạt 36 ngàn ha, cho sản lượng 177,5 ngàn tấn vàvùng Hải Dương: 14,1 ngàn ha, đạt sản lượng 70 ngàn tấn

Về cơ cấu giống, cần chú ý phát triển các giống chín sớm và chín muộn để nhằm hạn chếtác động của thị trường khi tập trung thu hoạch lúc chính vụ, dẫn đến cung vượt quá cầu

4.1 Các chính sách phát triển sản xuất

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gấp rút, sự tham gia của Việt Namvào AFTA, AC-FTA, APEC hiện nay và WTO trong tương lai không xa đòi hỏi phải cónhững cải cách kinh tế theo hướng mở cửa thị trường và tuân thủ các quy định quốc tế.Đối với ngành nông nghiệp, các biện pháp phi thuế quan như hạn chế nhập khẩu, trợ cấpxuất khẩu không còn hợp lệ cần phải xoá bỏ Thuế quan và hạn ngạch dần được thay thếbởi các biện pháp về hỗ trợ nghiên cứu phát triển, tiêu chuẩn chất lượng và môi trườngđối với hàng nông sản; nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp an toàn, sản phẩm hữu cơ cóchứng nhận VSATTP ngày càng tăng trên thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu Đểngành nông nghiệp hội nhập thành công, cần phải phát triển sản xuất theo quy mô lớn, ápdụng được những tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra những sản phẩm chất lượng, có khảnăng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Trong thời gian tới, các giải pháp, chính sách để phát triển ngành nông nghiệp nói chung,ngành hàng rau quả nói riêng sẽ tập trung vào khuyến khích phát triển sản xuất như:chuyển dịch cơ cấu sản xuất; hỗ trợ việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp,nông thôn; hỗ trợ lãi suất đầu tư cho các dự án phát triển sản xuất, bảo quản, chế biếnnông lâm sản; miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoahọc, khuyến nông, chọn lọc, lai tạo và sản xuất giống, áp dụng khoa học công nghệ,giống mới vào sản xuất; hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại

4.1.1 Chính sách về chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đất đai, khuyến nông

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w