1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm

253 799 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm
Tác giả Nguyễn Thị Gái
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Thu Yến
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài :Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010

Trang 2

Xin chân thành cảm ơn quí Thầy Cô trong Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, quý Thầy Cô trong ban giảng huấn đã tận tình truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin cảm ơn Ban Giám Hiệu và tập thể giáo viên Tổ Văn Trường THPT Thạnh Lộc đã tạo điều kiện cho người viết trong quá trình tham gia khóa học Sau Đại học

Xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo và quí đồng nghiệp cơ quan Công đoàn Giáo dục Thành phố, Sở Giáo dục – Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã chia sẻ, tạo điều kiện cho người viết trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn tất cả quí đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ người viết trong suốt quá trình thực hiện và hoàn tất luận văn

Tuy đã cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn của quý Thầy Cô, quý đồng nghiệp và bạn bè

Người thực hiện Luận văn Nguyễn Thị Gái

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bất kỳ thời đại nào của xã hội, cuộc sống của con người đều có mối quan hệ tiềm ẩn với thế giới tâm linh Một mối quan hệ có lúc hiển hiện khá rõ trong sinh hoạt văn hóa, tinh thần của con người nhưng cũng có lúc tồn tại ẩn kín trong tâm hồn, trong nếp nghĩ của cá nhân, cộng đồng

mà chúng ta thật sự chưa lý giải hết…

Có thể nói, thế giới tâm linh là đời sống tinh thần vô cùng huyền bí của nhân dân chi phối rất

nhiều đối với cuộc sống và rất quan trọng đối với mọi người “Thế giới tâm linh là thế giới của cái

thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng ấy” [70, tr 115]

Theo Đỗ Lai Thúy, “con người là một thực thể đa chiều…Đó là bản chất sinh học, bản chất

xã hội và bản chất tâm linh Ba bản chất này tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người” [103, tr 7]

Chính vì vậy, đời sống của con người luôn tồn tại và tiềm ẩn thế giới tâm linh, một lĩnh vực của đời sống tinh thần Đó là một lĩnh vực gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu việt… không chỉ có ở đời sống tôn giáo mà còn có cả trong đời sống tinh thần, đời sống xã hội Không chỉ có Trời, Phật, Thần, Thánh mới thể hiện sự thiêng liêng mà đất nước, quê hương, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý, đạo làm người cũng thiêng liêng không kém Vì vậy, thế giới tâm linh luôn tồn tại trong đời sống con người và trở thành truyền thống văn hóa đậm nét qua mọi thời đại Đó là một giá trị cơ bản và vĩnh hằng của đời sống con người

Qua nhiều tài liệu nghiên cứu về tâm linh, có thể nói Nguyễn Đăng Duy đã đúc kết thật sự giá trị về tâm linh:

“Tâm linh là những cái trừu tượng thiêng liêng, thanh khiết, giá trị tâm linh bắt nguồn từ cái thiêng liêng

Tâm linh là cái nền vững chắc, là hằng số, và vĩnh cửu trong nhiều mối quan hệ con người.”

Thế giới tâm linh luôn tồn tại trong lòng mọi người Điều đó được thể hiện thật sinh động trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học trung và hiện đại Trong đó, văn học Trung đại là một bộ phận văn học thể hiện khá phong phú thế giới tâm linh cả trong văn xuôi và trong Truyện thơ Nôm Đặc biệt, Truyện thơ Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo, có giá trị và

nó cũng có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người bình dân xưa Vì vậy, thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm cũng vô cùng phong phú, đa dạng và có dấu ấn riêng Chính điều

này đã hấp dẫn tôi chọn đề tài: “Thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm” để làm luận văn cho khóa

học của mình Cùng với xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thế mạnh của khoa học tự nhiên

Trang 4

đang ngự trị thì việc tìm về “Thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm” như sự tìm về những giá trị

tinh thần thiêng liêng, cao quý của dân tộc

2 Mục đích nghiên cứu

Với sự đa dạng, phong phú, với những giá trị thiêng liêng và huyền diệu của thế giới tâm linh, nó góp phần thể hiện sâu sắc hơn thế giới tinh thần của con người Cùng với sự ra đời và phát triển của văn học Trung đại, Truyện thơ Nôm đã góp phần thể hiện chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và toàn diện Những biến động xã hội đã ảnh hưởng đến tư tưởng, đạo đức của chế độ phong kiến và làm nảy sinh, phát triển tư tưởng nhân văn của thời đại Đó cũng là cội nguồn tư tưởng nhân văn của Truyện thơ Nôm

Từ nền tảng trên, luận văn hướng đến tìm hiểu nét độc đáo của Truyện thơ Nôm từ khía cạnh thế giới tâm linh để minh chứng cho thế giới tinh thần phong phú của người bình dân lúc bấy giờ Đồng thời luận văn muốn khẳng định về sự tồn tại và giá trị vững bền của thế giới tâm linh trong tư tưởng, nhận thức, tình cảm của con người nhất là trong giai đoạn hội nhập, giao lưu văn hóa nhưng chúng ta vẫn giữ lại được những nét truyền thống quý báu riêng của dân tộc Việt Nam

Về văn hóa tâm linh, với khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, hầu hết các tác giả đều

đề cập đến các vấn đề liên quan đến văn hóa tâm linh Tuy nhiên, các tác giả thường chỉ dừng lại ở việc nêu hiện tượng và nhìn nhận một cách khái quát

Trang 5

Với công trình “Văn hóa tâm linh”, Nguyễn Đăng Duy tập trung những khái niệm khá sâu

sắc về văn hóa tâm linh – một sự gắn bó sâu sắc với đời sống con người Công trình đã xác định văn hóa tâm linh là một phần của văn hóa tinh thần, biểu hiện những giá trị thiêng liêng, cao cả trong cuộc sống đời thường với những biểu tượng, thần tượng và những kỳ vọng vươn tới chân – thiện – mỹ… Đây là công trình tập trung nghiên cứu về văn hóa tâm linh của người Việt ở miền Bắc trong các lĩnh vực: tín ngưỡng thần thánh, trời đất, thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu, tang ma và các tôn giáo Phật, Đạo, Thiên chúa giáo Công trình đề cập đến thế giới tâm linh trong nhiều mặt của đời sống:

cá nhân, gia đình, tôn giáo, mê tín dị đoan… Công trình cũng xác định văn hóa tâm linh là cái nền vững chắc của mối quan hệ cộng đồng, làng xã và là một vấn đề hết sức rộng lớn Cũng với tác giả

Nguyễn Đăng Duy, ở công trình “Văn hóa tâm linh Nam Bộ”, tác giả tập trung thể hiện những ý

niệm thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và những niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng dân cư sinh sống trên đất Nam Bộ Công trình tập trung nghiên cứu về đặc điểm tính cách tâm linh của bộ phận dân cư chủ yếu ở Nam Bộ, biểu hiện ở mối quan hệ không gian, sự xuất hiện những nét tín ngưỡng mới Và tâm linh thể hiện trong các tín ngưỡng thờ Thần, thờ Mẫu , tâm linh trong Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành… Ngoài ra, tác giả còn

giới thiệu văn hóa tâm linh ở các dân tộc ít người: Khơme, Chăm, Hoa Ở công trình “Văn hóa tâm

linh Nam Bộ”, Nguyễn Đăng Duy đã hệ thống về đời sống tâm linh của các cộng đồng cư dân trên

đất Nam Bộ từ xưa đến nay

Với công trình “Tôn trọng tự do tín ngưỡng bài trừ mê tín dị đoan” của nhà Dân tộc học

Trương Thìn, công trình đã giúp chúng ta xác định được giá trị đích thực của văn hóa tâm linh, thế giới tâm linh – những biểu hiện của đời sống tinh thần phong phú Đồng thời, tác giả cũng cho chúng ta thấy sự phức tạp, ranh giới rất ngắn giữa thế giới tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo đúng nghĩa với sự lợi dụng từ tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo để phát triển mê tín dị đoan – một biến dạng của văn hóa tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo cần phải bài trừ

Ngoài ra, nghiên cứu về tâm linh và các nội dung liên quan đến tâm linh, tín ngưỡng, chúng tôi cũng đi vào tìm hiểu các công trình của Nguyễn Đăng Duy về Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam Tất cả các công trình đều liên quan đến tâm linh nhưng chỉ mang tính chất chung về tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Ở lĩnh vực nghiên cứu Truyện thơ Nôm người Việt, chúng tôi tập trung vào các công trình:

- Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện thơ Nôm bác học, luận án tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Lê

Thị Hồng Minh, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Truyện Nôm bình dân của người Việt – lịch sử hình thành và bản chất thể loại, luận án phó

tiến sĩ khoa học Ngữ văn của tác giả Kiều Thu Hoạch, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 6

- Truyện Kiều và thể loại Truyện Nôm của tác giả Đặng Thanh Lê

- Văn hóa ứng xử trong Truyện thơ Nôm, luận văn của Triệu Thuỳ Dương, trường Đại học

Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Ở các công trình trên, các tác giả tập trung đi vào nghiên cứu khía cạnh ngôn ngữ, thể loại, nhân vật của loại hình Truyện thơ Nôm và văn hóa ứng xử Các công trình này chưa đề cập đến vấn

đề tâm linh của Truyện thơ Nôm

Liên quan và gần gũi với thế giới tâm linh, chúng tôi tìm hiểu hai Luận văn:

- Truyền thống văn hóa Việt trong Truyện Kiều, luận văn thạc sĩ của Đặng Văn Kim, trường

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Tín ngưỡng dân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, luận văn của Trần

Ngọc Minh Nguyệt, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Hai công trình này tập trung vào một Truyện thơ Nôm cụ thể là “Truyện Kiều” Một công trình thì nghiên cứu theo hướng văn hóa người Việt, tác giả có sự đối chiếu, so sánh khá chi tiết giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Từ đó, công trình đã nêu lên những nét văn hóa có tính truyền thống của người Việt Một công trình thì nghiên cứu theo hướng lý giải tín ngưỡng dân gian và quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều để từ

đó xác định đâu là nguồn gốc hình thành quan niệm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

Như vậy, từ hai nguồn tìm hiểu về văn hóa tâm linh và Truyện thơ Nôm cho chúng ta nhận thấy đó là hai hướng tìm hiểu, nghiên cứu độc lập Hướng thứ nhất, các tác giả đi vào tìm hiểu tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo và sự ảnh hưởng của chúng đối với đời sống tinh thần của con người Hướng thứ hai, các tác giả đi vào nghiên cứu Truyện thơ Nôm với các khía cạnh về thể loại, nội dung, hình thức, ngôn ngữ, nhân vật xa hơn cũng mới dừng lại ở nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong Truyện thơ Nôm

Việc nghiên cứu, tìm ra sự phối kết hợp thế giới tâm linh vào các sáng tác văn học Trung đại được Lê Thu Yến và Hoàng Thị Minh Phương thể hiện qua hai công trình nghiên cứu khá hấp dẫn

Với “Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du – một biểu hiện của văn hóa Việt” [124],

nhà nghiên cứu Lê Thu Yến đã có cái nhìn bao quát và hệ thống những yếu tố tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du Qua việc phân tích, tổng hợp, thống kê những biểu hiện của thế giới tâm linh trong

sáng tác của Nguyễn Du Tác giả đã khẳng định: “Thế giới này biểu hiện rõ rệt trong sáng tác

Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra Một Văn Chiêu Hồn thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia, một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm và nhất là thơ chữ Hán nhan nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ ” [124, tr 29]

Với công trình “Văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung đại” của Hoàng Thị Minh Phương,

đây là công trình đã có sự công phu, đầu tư để nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung

Trang 7

đại Tác giả đã đề cập đến những biểu hiện phong phú của thế giới tâm linh như: giấc mộng, thờ cúng, khấn vái, điềm báo, phép thuật, tướng số, linh ứng, hồn ma hóa kiếp… Từ đó, tác giả đúc kết được hiệu quả của yếu tố tâm linh trong phản ánh hiện thực và nhận thức, tư tưởng về cuộc sống; phản ánh hiện thực đời sống xã hội Đồng thời tác giả cho thấy yếu tố tâm linh có hiệu quả nghệ thuật tạo nên sức hấp dẫn riêng của văn xuôi Trung đại

Từ hai công trình nghiên cứu của Lê Thu Yến và Hoàng Thị Minh Phương như gợi mở và cuốn hút tôi vào thế giới tâm linh trong bộ phận Truyện thơ Nôm của văn học Trung đại còn bỏ ngỏ

Có thể chúng tôi sưu tầm chưa đầy đủ về các công trình nghiên cứu liên quan đến Truyện thơ Nôm và thế giới tâm linh Nhưng qua các công trình tìm được, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào cụ thể, chi tiết, quy mô nghiên cứu về sự phối, kết hợp thế giới tâm linh vào Truyện thơ Nôm Trong xu thế chung, nhiều nhà nghiên cứu đang quay về tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc trong đó tâm linh là một khía cạnh đang được chú ý, quan tâm Từ

cơ sở đó đã giúp chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu, tiếp cận Truyện thơ Nôm với góc độ liên quan đến thế giới tâm linh – yếu tố cơ bản làm nên nét độc đáo, dấu ấn riêng của văn học Trung đại nói chung và Truyện thơ Nôm nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu, sưu tập tài liệu liên quan đến đề tài nhưng có lẽ số tài liệu cũng chưa thật sự phong phú nên chúng tôi chỉ chọn 30 tác phẩm có tần số xuất hiện nhiều yếu tố tâm linh để khảo sát, gồm có hai mảng:

* Truyện thơ Nôm hữu danh

1 “Hoa Tiên” (Nguyễn Huy Tự)

2 “Sơ Kính Tân Trang” (Phạm Thái)

3 “Truyện Kiều” ( Nguyễn Du)

4 “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)

* Truyện thơ Nôm khuyết danh

16 Trinh Thử Tân Truyện

17 Chuyện Cái Tấm – Cái Cám

18 Phạm Công Cúc Hoa

19 Truyện Từ Thức

20 Thoại Khanh Châu Tuấn

21 Gương sáng trời Nam

22 Thạch Sanh

23 Liễu Hạnh Công Chúa – Diễn Âm

24 Nhị Độ Mai

Trang 9

Chúng tôi sẽ khảo sát trên các văn bản đang hiện hành, phổ biến

Từ các thao tác thống kê, phân loại các yếu tố tâm linh trong các truyện đã xác định dựa vào văn hóa tâm linh như phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Chúng tôi sẽ đi vào giải thích một số yếu

tố tâm linh để từ đó thấy được giá trị nghệ thuật, vai trò, ý nghĩa của thế giới tâm linh Chính nó đã góp phần làm nên nét độc đáo của Truyện thơ Nôm

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung tìm hiểu sự đa dạng, phong phú của thế giới tâm linh trong một số Truyện thơ Nôm Từ đó, luận văn xác định giá trị nghệ thuật của yếu tố tâm linh trong Truyện thơ Nôm Đồng thời, luận văn cũng đúc kết những giá trị bền vững của các yếu tố tâm linh trong đời sống con người

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi sẽ sử dụng nhiều phương pháp luận nghiên cứu

Văn học Bên cạnh đó, với đối tượng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ tập trung vào các phương

pháp lịch sử, hệ thống và phân tích, tổng hợp

6.1 Phương pháp lịch sử

Tác phẩm văn học là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Vì vậy, phương pháp hướng đến việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội, môi trường văn hoá, tư tưởng chung của thời đại, mối tương tác của chúng với các tác giả, sự ra đời của các tác phẩm để lý giải các yếu tố tâm linh trong một bộ phận văn học của một thời đại

6.2 Phương pháp hệ thống

Chúng ta coi Truyện thơ Nôm là một cấu trúc, một hệ thống nhỏ trong hệ thống nền văn học Trung đại bao gồm nhiều đơn vị tác phẩm và từng tác phẩm cụ thể để có cái nhìn bao quát, đồng thời xem xét chúng trong tương quan với văn học dân gian và văn học cận hiện đại Phương pháp giúp chúmg ta có cái nhìn hệ thống trong quá trình nghiên cứu

6.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp phân tích – tổng hợp giúp chúng ta tiến hành phân tích các yếu tố tâm linh trong Truyện thơ Nôm từ đó tổng hợp lại và đưa ra những nhận định chung về ý nghĩa của yếu tố tâm linh trong tác phẩm

Ngoài ba phương pháp nghiên cứu trên, trong quá trình thực hiện Luận văn chúng tôi sẽ kết hợp các thao tác thống kê, phân loại, so sánh tần số xuất hiện của các yếu tố tâm linh trong từng tác phẩm và đơn vị tác phẩm Từ đó, các phương pháp, các thao tác này giúp chúng ta thấy mức độ ảnh hưởng của yếu tố tâm linh đối với sáng tác của các tác giả và cả thời đại văn học cũng như hiệu quả của chúng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và nghệ thuật của Truyện thơ Nôm

7 Kết cấu của luận văn

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn sẽ triển khai trong ba chương:

1.2.1.3 Thế giới tâm linh

1.2.2 Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa Việt và Truyện thơ Nôm 1.2.2.1 Cơ sở tư tưởng của Việt Nam

1.2.2.1.1 Từ triết lý âm dương 1.2.2.1.2 Từ tín ngưỡng dân gian 1.2.2.2 Cơ sở tư tưởng của Nho – Phật – Đạo

Chương 2: Những biểu hiện của yếu tố tâm linh trong Truyện thơ Nôm

2.1 Tín ngưỡng thờ cúng và thế giới Trời , Phật, Thần, Tiên

Chương 3: Yếu tố tâm linh và sức hấp dẫn của Truyện thơ Nôm

3.1 Yếu tố tâm linh phản ánh hiện thực và trí tưởng tượng phong phú của con người 3.1.1 Thế giới thiên đình

3.1.2 Thế giới âm phủ

3.1.3 Thế giới dương gian

3.2 Yếu tố tâm linh và chức năng hoá giải những vấn đề xã hội

3.3 Yếu tố tâm linh kế thừa và tiếp nối

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Truyện thơ Nôm

1.1.1 Sự ra đời và phát triển

Truyện thơ Nôm là một bộ phận Văn học khá độc đáo, có dấu ấn riêng trong văn học Trung đại Dù sự ra đời của Truyện thơ Nôm cũng chỉ dừng lại ở các giả thuyết của các nhà nghiên cứu nhưng hầu như các nhà nghiên cứu xác định Truyện thơ Nôm ra đời trên nền tảng của Văn học dân

gian Theo giáo sư Đinh Gia Khánh: “Truyện Nôm chỉ là một hiện tượng chứng tỏ ảnh hưởng sâu

sắc và mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết bằng chữ Nôm của trí thức phong kiến Đó

là ảnh hưởng của truyện cổ tích Nhưng ở đây lại còn phải thấy ảnh hưởng rất lớn của thơ ca dân gian Thể thơ trong Truyện Nôm bắt nguồn từ thể thơ dân gian Ngôn ngữ văn học trong Truyện Nôm cũng bắt đầu từ ngôn ngữ thơ dân gian Cho nên sự nở rộ của Truyện Nôm trong khoảng từ thế kỷ XVI trở đi, đặc biệt là từ thế kỷ XVIII cũng lại phản ánh tình hình thơ ca dân gian trong các thế kỷ ấy” [51, tr 67]

Khảo sát Truyện thơ Nôm trong kho tàng Truyện Nôm hiện nay, chúng ta có thể thấy Truyện thơ Nôm có hai loại: một loại viết theo thể thơ lục bát, một loại viết bằng thể thơ đường luật

Theo Nguyễn Lộc, “Truyện Nôm đường luật ra đời trước thế kỷ XVIII, từ thế kỷ XVIII trở đi

không thấy có nữa Còn Truyện Nôm lục bát thì không xác định ra đời khi nào nhưng chỉ biết nó phát triển nhiều nhất ở cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” [64, tr.30]

Theo Đặng Thanh Lê: “Sự ra đời của Truyện Nôm bắt nguồn từ một yêu cầu phản ánh xã hội

với những nội dung thời đại cũng như với những điều kiện thực tiễn của bản thân thời đại ấy” [61,

tr 50]

Kết hợp hai ý kiến của Nguyễn Lộc và Đặng Thanh Lê, chúng ta gắn vào lịch sử cụ thể của đất nước Việt Nam thì hai giả thuyết trên có cơ sở Bởi vì bắt đầu thế kỷ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa các phe phái phong kiến cầm quyền của giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa nhân dân bị trị với triều đình đã dẫn đến sự sụp đổ của triều Lê, thay vào nhà Mạc Nhà Mạc cũng không giữ được sự đoàn kết, phát triển bởi những mâu thuẫn trước đó vẫn tiếp tục ngấm ngầm và cuối cùng bùng phát qua các cuộc khởi nghĩa của nông dân Đặc biệt là đến thế kỷ XVIII, xã hội phong kiến ngày một khủng hoảng dẫn đến đời sống nhân dân ngày một đau khổ, lầm than; những truyền thống đạo đức tốt đẹp ngày một lung lay và phá vỡ Có lẽ đây là nền tảng cho những ước mơ, khao khát về công lý, tình người, cuộc đời… là cơ sở cho tư tưởng nhân văn nảy sinh và phát triển Đó cũng là cội nguồn phát triển của Truyện thơ Nôm như Đặng

Trang 12

Thanh Lê đã nhận định “Truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kỳ phong kiến suy tàn mang ý

nghĩa phản ánh một thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến” [61,

tr.57] Theo nhiều nhà nghiên cứu, Truyện thơ Nôm ban đầu là loại truyện truyền khẩu từ các nghệ nhân hát rong Sau đó, các nho sĩ đã ghi chép lại các Truyện thơ Nôm đã có trước đó và tiếp tục sáng tác mới nên Truyện thơ Nôm với hình thức viết đã được ra đời

1.1.2 Phân loại

Truyện thơ Nôm là một bộ phận khá lớn trong văn học Trung đại Theo nhiều hướng nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau, Truyện thơ Nôm dựa vào tác giả có hai loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh; dựa vào nội dung, hình thức có Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học; cũng có hướng phân loại dựa theo nguồn gốc và đề tài

Cách phân loại Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh được thể hiện

trong “Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam” [77] của Bùi Văn

Nguyên Theo tác giả, Truyện Nôm khuyết danh thật sự là có tác giả nhưng có thể vì lý do nào đó

đã không còn xác định rõ tác giả là ai Có thể do tâm lý coi thường những sáng tác bằng chữ Nôm, văn học Nôm được coi là văn học nôm na, đơn giản nên khi tác phẩm ra đời, tác giả cũng không được chú ý đến và dần dần bị lãng quên Mặt khác, do Truyện thơ Nôm có nội dung phê phán, lên

án các tầng lớp vua quan độc ác, tham lam nên thường bị giai cấp thống trị cấm đoán Có thể vì điều này mà tác giả cũng ngại lưu tên mình trên tác phẩm Chúng ta cũng cần xét đến yếu tố trước khi có chữ viết ra đời, Truyện Nôm được truyền miệng là phổ biến Vì vậy, quá trình lưu truyền tác phẩm

từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương kia và được thêm, bớt ít nhiều nên tác giả chính đã dần dần mờ nhạt và trở thành khuyết danh Cách phân chia Truyện thơ Nôm hữu danh và Truyện thơ Nôm khuyết danh cũng được thể hiện trong Luận án của Nguyễn Thị Chiến

[12, tr.11] Tác giả xác định cách chia này xuất hiện trước những năm 1960 từ công trình “Lược

thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm nghiên cứu văn học Lê Quý Đôn”

Sau đó, Truyện thơ Nôm đã được các nhà nghiên cứu văn học cổ, trung đại đi vào hướng nghiên cứu khác Đó là hướng nghiên cứu sâu về nội dung, tư tưởng của truyện và đặc điểm nghệ thuật, cách thức biểu hiện Có thể nói đây là hướng đi có tính khoa học và đi sâu vào tác phẩm hơn Cũng từ hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời sự phân loại Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học Theo Nguyễn Lộc [63], Truyện Nôm bình dân là sáng tác của những nhà Nho không thành đạt, họ sống gần gũi với quần chúng nhân dân lao động Chính vì vậy, nội dung của Truyện Nôm bình dân gắn với cuộc sống của nhân dân với các khía cạnh đạo đức khá nhiều Vấn đề trung hiếu, tiết nghĩa, việc đấu tranh bảo vệ gia đình, tình yêu, hạnh phúc được thể

Trang 13

hiện khá tập trung nhưng hình thức nghệ thuật khá đơn giản Còn Truyện Nôm bác học thì có nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật cao hơn Truyện Nôm bình dân Nội dung Truyện Nôm bác học đã tiến đến vấn đề bảo vệ tình yêu tự do vượt khỏi lễ giáo phong kiến, bảo vệ và giải phóng cho tình cảm chân chính Đây là những sáng tác của những nhà Nho có học vấn cao, có khả năng khai thác

và thể hiện được chiều sâu tâm trạng nhân vật Cách phân loại này khoa học hơn và cũng có tính thuyết phục hơn Bởi vì so với hướng phân loại Truyện Nôm hữu danh - khuyết danh, thì hướng phân loại Truyện Nôm bình dân – Truyện Nôm bác học là sự đổi mới trong nghiên cứu: đi sâu vào thi pháp truyện Nôm Cái mới của hướng phân loại này là đi vào đặc điểm thi pháp học như kỹ năng thể hiện của tác giả qua nghệ thuật biểu hiện, qua loại hình nhân vật Đặc biệt là chủ đề, nội dung tư tưởng của tác phẩm được thể hiện khá tập trung và sinh động Đồng tình với hướng phân loại này,

Trần Đình Hượu đã có ý kiến: “Phải nói rằng cho đến Nguyễn Đình Chiểu, một số lượng đáng kể

Truyện Nôm mà ngày nay nhiều nhà nghiên cứu chia ra hai loại bác học và bình dân đã làm cho thể loại đó gần như ổn định, có nề nếp và ít nhiều đã hình thành một thứ khuôn khổ khuynh hướng”

[12, tr.12]

Ngoài ra, Truyện thơ Nôm còn được phân loại theo nguồn gốc, đề tài Những Truyện

thơ Nôm lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian như Tấm Cám, Thạch Sanh… Những Truyện thơ Nôm

có nguồn gốc đề tài từ Trung Quốc như: Truyện Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Phù Dung Tân Truyện, Lâm

Tuyền Kỳ Ngộ… Những truyện lấy đề tài từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích ở Việt Nam

như: Tống Trân – Cúc Hoa, Bích Câu Kỳ Ngộ…

Từ ba hướng phân loại trên, chúng tôi nhận thấy hướng phân loại Truyện Nôm bình dân – Truyện Nôm bác học mang tính khoa học và thuyết phục nhất Do đó trong quá trình thể hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu dựa vào hướng phân loại này Và cũng trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ khai thác yếu

tố tâm linh để thể hiện qua Truyện thơ Nôm bình dân và Truyện thơ Nôm bác học Điều này sẽ gắn liền với nội dung mang đậm tính dân dã cùng với nghệ thuật mộc mạc, giản dị của các nho sĩ bình dân và tương ứng với nội dung phức tạp, tình tiết, tâm lý nhân vật, nghệ thuật điêu luyện hơn ở các nhà Nho thuộc tầng lớp trên của xã hội

1.1.3 Nội dung

Truyện thơ Nôm bị chi phối khá lớn bởi lễ giáo phong kiến Chính vì vậy, nội dung của Truyện thơ Nôm thể hiện khá rõ những quan niệm của lễ giáo thời kỳ này Chúng ta thấy rất rõ quan niệm về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, tư tưởng trung quân của Nho giáo những quan niệm về trung, hiếu, tiết, nghĩa luôn được ca ngợi trong Truyện thơ Nôm Nhưng không vì thế mà Truyện thơ Nôm chỉ hạn hẹp trong những phạm vi gò bó của lễ giáo phong kiến Chúng ta dễ dàng thấy được những mối tình tự do vượt ra ngoài khuôn khổ khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến trong

Trang 14

Truyện thơ Nôm, những nhân vật khổ đau cùng cực trong xã hội đã biết vươn lên để thay đổi số phận, những tình yêu chân chính luôn có hậu, hợp lẽ đời… Đó là những điều mà Truyện thơ Nôm thể hiện khá phong phú, đa dạng và sinh động

Truyện thơ Nôm phản ánh khá đầy đủ các khía cạnh của đời sống xã hội phong kiến Dù

Truyện thơ Nôm thường đề cập đến “trung, hiếu, tiết, nghĩa” nhưng Truyện thơ Nôm không chỉ

dừng lại ở việc ca ngợi đạo đức phong kiến từ những khía cạnh hợp lẽ đời mà cao hơn là Truyện thơ Nôm đã thể hiện ý thức vươn lên để bảo vệ tình yêu, khát vọng sống một cách mạnh mẽ, cảm động của Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Phương Hoa…Các nhân vật nữ trong Truyện thơ Nôm thực sự là những đóa hoa hồng đầy sức sống Họ đã mạnh mẽ đấu tranh để bảo vệ tình yêu, tấm lòng họ vẫn luôn thủy chung và khao khát được sống với tình yêu, đạo nghĩa vợ chồng son sắt (Ngọc Hoa, Thoại Khanh, Công chúa Nam Việt)

Truyện thơ Nôm đặc biệt thể hiện khá đậm nét tấm lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ

Hình ảnh nàng dâu Thoại Khanh (Thoại Khanh – Châu Tuấn), Cúc Hoa (Tống Trân – Cúc Hoa) đã

đánh đổ quan niệm mẹ chồng, nàng dâu thường xung khắc nhau Thoại Khanh và Cúc Hoa đã hết

lòng, hết dạ với mẹ chồng khi Châu Tuấn bị đi đày và Tống Trân đang đi xứ Chúa Ba (Bà Chúa

Ba) nêu gương một người con đại hiếu Bởi Chúa Ba đã vượt hơn tất cả những công việc đời thường

của người con có hiếu Chúa Ba một lòng mộ Phật, dù phải trải qua biết bao oan ức, đau khổ nhưng Chúa Ba vẫn quyết tâm tu hành Nhờ công đức tu hành, nàng đã cứu được bệnh tình nguy khốn của vua cha, trừ loài yêu quái Cũng chính lòng từ bi của công chúa đã giúp vua cha tỉnh ngộ, cải hối quy thiên phật pháp và cuối cùng Ngọc Hoàng đã sắc phong ngôi Phật, toàn gia sổ chép nhập dòng tiên Chúa Ba đã giúp cho mẹ cha thoát khỏi cảnh luân hồi của số kiếp

Với tấm lòng hiếu thảo, nàng Tấm (Chuyện Cái Tấm – Cái Cám) đã sẵn sàng trèo lên cây để

bẻ cau giỗ bố và bị mẹ ghẻ hãm hại, nàng Thúy Kiều bán mình để chuộc cha (Truyện Kiều)

Trong Truyện thơ Nôm, các nhân vật nam cũng rất hiếu thảo Phạm Công nhà nghèo, cha mất sớm, chàng kiếm củi bán lấy tiền làm chay cho cha, rồi dắt mẹ đi xin ăn Ngọc Hoàng cho hai tiên nữ xuống kết duyên với chàng, Phạm Công vẫn kiên quyết từ chối để một lòng lo cho mẹ…

Hay Lương Sinh trong Truyện “Hoa Tiên”, dù đã hẹn thề, trao gởi tình cảm cho nàng Dương

Dao Tiên nhưng cũng vì chữ hiếu mà vâng theo cách sắp đặt hôn sự của cha mẹ, đính ước với tiểu thư Lưu Ngọc Khanh:

“Dẫu vàng dẫu đá với người Nặng tình đâu dám nhẹ lời song thân”

(Hoa Tiên)

Trang 15

Truyện thơ Nôm xây dựng những mối tình của những con người ở những hoàn cảnh trái

ngược nhau như nàng Ngọc Hoa, con gái một “tướng công quan đại phú gia”, yêu Phạm Tải là một

hàn sĩ nhỡ thời phải ăn xin để đi học, nàng Phương Hoa, con gái quan Thượng thư Bộ hộ, yêu Cảnh Yên, tuy cũng là con một quan ngự sử, nhưng thực tế thì đang đi ăn xin để nuôi mẹ Cô gái trong truyện Lý Công là một công chúa lại yêu say đắm một chàng trai:

“Ăn mày đèn sách gian truân, Khắp chốn xa gần ai thấy cũng thương”

Nàng Cúc Hoa yêu Tống Trân hay Cúc Hoa yêu Phạm Công tuy không phải con quan nhưng cũng là con gái gia đình phú hộ, và Phạm Công hay Tống Trân thì cũng giống như Phạm Tải Trong

truyện “Hoàng Trừu”, nàng công chúa Nam Việt yêu chàng Hoàng tử Trung Quốc, cả hai người

đều xuất thân từ tầng lớp quyền quí là một trường hợp hiếm có trong Truyện thơ Nôm Có thể nói, các tác giả Truyện thơ Nôm xây dựng những mối tình như vậy là một cách để phủ định quan niệm hôn nhân phong kiến, bắt buộc trai gái lấy nhau trước hết phải tương xứng về gia sản và đẳng cấp Chính vì vậy, những mối tình trong Truyện thơ Nôm không theo lễ giáo phong kiến nên đến rất tự nhiên, thuận theo tình cảm, đạo lý nên những mối tình ấy thường rất đẹp và sâu sắc

Tất cả những đôi trai gái trong Truyện thơ Nôm, họ không quá đặt nặng về luân lý, đạo đức,

về dư luận và thành kiến của xã hội phong kiến khi đến với tình yêu Cơ sở để họ yêu nhau là phẩm chất, tài đức của con người, là sự xúc động trước cảnh ngộ không may trong cuộc đời của họ

Ở Truyện thơ Nôm bình dân, phạm trù đạo đức được thể hiện là phạm vi gia đình mà nổi bật

là tiết, nghĩa Nội dung Truyện Nôm là cuộc đấu tranh của thiện thắng ác, của ngay thắng gian, của chính nghĩa thắng phi nghĩa, đồng thời đó cũng là cuộc đấu tranh để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng,

bảo vệ gia đình chống lại nguy cơ làm cho nó tan vỡ Các Truyện Nôm bình dân Phạm Tải – Ngọc

Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phương Hoa, Phạm Công – Cúc Hoa, Lý Công, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Hoàng Trừu, Phù Dung tân truyện,… đều có nội dung như thế

Bên cạnh những tấm lòng sắt son, thủy chung của những người vợ, Truyện thơ Nôm cũng làm nổi bật hình ảnh của những người chồng rất mực chung tình Phạm Tải đã từ chối mọi tước

quyền và “ba trăm mỹ nữ cung tần chia đôi”, dứt khoát chung thủy với Ngọc Hoa Phạm Công ba

lần đi thi đậu Trạng, ba lần vua ép gả công chúa Cả ba lần Phạm Công đều từ chối, trước sau chàng vẫn trọn vẹn với Cúc Hoa Đến khi Cúc Hoa chết, chàng còn đánh đồng thiếp xuống âm cung tìm

vợ Nhân vật Tống Trân và Châu Tuấn cũng có những nét tương tự như vậy

Truyện Nôm đặc biệt đề cao vai trò người phụ nữ Từ nàng Cúc Hoa đến nàng Ngọc Hoa, nàng công chúa trong truyện Lý Công đến nàng công chúa trong truyện Hoàng Trừu hay nàng Phương Hoa trong truyện cùng tên, tất cả đều mạnh mẽ và chủ động Họ chủ động trong tình yêu và

Trang 16

chủ động trong việc đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình Dù hoàn cảnh có trái ngang, éo le đến đâu cũng không làm họ gục ngã Họ không dễ dàng đầu hàng trước hoàn cảnh hoặc buông xuôi theo định mệnh mà họ luôn kiên quyết đấu tranh, vượt qua Khi yếu sức thì họ có thần linh giúp đỡ, đấu tranh trên dương thế không xong, chết xuống âm phủ họ lại tiếp tục đấu tranh cho đến khi chiến thắng Có thể nói vai trò của người phụ nữ trong Truyện thơ Nôm thực chất phản ánh vai trò của người phụ nữ trên bình diện gia đình, đặc biệt là gia đình trong giai đoạn chế độ phong kiến suy tàn

Ở Truyện thơ Nôm, sự liên hệ giữa chủ đề đấu tranh để bảo vệ tình vợ chồng, bảo vệ gia đình với việc đề cao đặc biệt vai trò chủ động của người phụ nữ, không phải là ngẫu nhiên mà có tính chất tất yếu của nó

Truyện thơ Nôm cũng đã bắt đầu tiến vào phản ánh hiện thực cuộc sống với nhiều mối quan

hệ phức tạp, những xung đột mạnh mẽ giữa con người với con người trong giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam trong thời kỳ suy tàn, khủng hoảng dữ dội… Chính vì vậy, nội dung của Truyện thơ Nôm trong giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX tập trung vào hiện thực xã hội với số phận con người trong cảnh bế tắc, mất phương hướng trong một xã hội bao trùm màu xám xịt từ bước thăng trầm của thế sự

Với nội dung tập trung vào hiện thực cuộc sống, Truyện thơ Nôm phê phán, tố cáo giai cấp

thống trị với bọn quan lại, tầng lớp quý tộc cho đến bọn nhà giàu phú hộ Ở truyện “Lục Vân Tiên”,

Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh những bậc thư sinh theo học sách thánh hiền nhưng lại nhỏ nhen, hiểm độc như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm… Những tên quan lại sai nha đến cướp phá của cải gia đình Thúy Kiều, trắng trợn đòi tiền hối lộ, hình ảnh quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến với hạ sách lừa gạt Thúy Kiều để chiến thắng Từ Hải…

Truyện thơ Nôm bên cạnh xây dựng những mối tình của những con người, có hai hoàn cảnh trái ngược nhau thì cũng xây dựng những mối tình của những giai nhân tài tử sống trong gia đình quan lại giàu sang Đó là mối tình giữa Phạm Kim và Quỳnh Thư, giữa Thúy Kiều với Kim Trọng, giữa Dao Tiên với Lương Sinh, Phan Tất Chánh và Trần Kiều Liên… đều môn đăng hộ đối theo quan điểm của Nho giáo phong kiến Những mối tình của những đôi giai nhân tài tử thường đi vào tan vỡ Các nhân vật tỏ ra thiếu mạnh mẽ, quyết liệt để bảo vệ tình yêu nhưng cũng có thể nói một

phần do thế lực của xã hội phong kiến chi phối mạnh mẽ “Sơ kính tân trang” diễn ra giữa một bên

là tình yêu của Phạm Kim và Quỳnh Thư với một bên là việc cưỡng hôn của viên đô đốc Trước sự nham hiểm của tên quan lại đô đốc, mối tình Phạm Kim – Quỳnh Thư tan vỡ một cách dễ dàng Người viết truyện tỏ lòng thương cảm mối duyên của họ và phê phán mạnh mẽ thế lực đen tối đã chà đạp lên mối tình đẹp đẽ ấy

Trang 17

Tình yêu trong Truyện thơ Nôm thường chứa đựng nhiều mâu thuẫn và ảnh hưởng khá lớn

bởi lễ giáo phong kiến Ở “Hoa Tiên”, mâu thuẫn ấy không biểu hiện bằng hai tuyến nhân vật đối

lập, mà thể hiện ngay trong các nhân vật chính – Lương Sinh, Dao Tiên – thành cuộc đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa cái khát vọng yêu đương tha thiết với những quan niệm chật hẹp của lễ giáo, đạo đức phong kiến

Tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng cũng là tình yêu vượt ra ngoài khuôn khổ của lễ giáo phong kiến thể hiện ở việc Thúy Kiều đã hẹn hò ở vườn Thúy với Kim Trọng và hai người đã thề ước với nhau Dù có muốn vượt qua lễ giáo phong kiến để chủ động đến với nhau nhưng có thể nói

tư tưởng phong kiến cũng ảnh hưởng khá lớn Cho nên, dù Nguyễn Du rất ưu ái Thúy Kiều, rất cảm thông với Thúy Kiều nhưng Nguyễn Du vẫn để thế lực của bọn quan lại phong kiến vùi dập Thúy Kiều và làm tình yêu giữa Kim – Kiều phải tan vỡ

Có thể nói, sức mạnh đấu tranh được thể hiện đậm nét hơn ở Truyện thơ Nôm “Lục Vân

Tiên” Thông qua hàng loạt nhân vật chia làm hai tuyến, Truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên” của

Nguyễn Đình Chiểu đã thẳng thắn lên án bọn vua quan hèn nhát, ác độc và các hạng người xấu xa,

tệ hại khác Đối lập với chúng là những con người trung trinh, tiết nghĩa, biết sống theo những điều tốt lành và biết tôn trọng lẽ phải

Nhìn chung, Truyện thơ Nôm đã dần dần đi sâu vào mối quan hệ của đời sống xã bội với cách nhận thức và phản ảnh của chủ nghĩa hiện thực nên nội dung phản ánh, phê phán những vấn đề tiêu cực được thể hiện khá rõ nét

1.1.4 Hình thức

Về thi pháp, hình thức của truyện Nôm, có lẽ Cao Huy Đỉnh là người đầu tiên nêu lên đặc

điểm thi pháp thể loại truyện này Ông cho rằng Truyện Nôm “về cơ bản bảo lưu khuôn dạng của

truyện cổ tích”, bao gồm: lai lịch nhân vật, những thử thách ngày càng khó khăn, những phấn đấu

chống lại thế lực tàn ác của thiên nhiên và xã hội, thắng lợi tất yếu, kết thúc có hậu Tuy nhiên,

Truyện Nôm là một hiện tượng khác cổ tích do có “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian”

Khi khảo sát, nghiên cứu về Truyện thơ Nôm, hầu hết loại truyện này dựa theo cốt truyện của truyện cổ tích, hay diễn ca truyện cổ tích Vì vậy, về nhiều phương diện, kết cấu nghệ thuật của nó rất giống với kết cấu trong nghệ thuật của truyện cổ tích Ở loại truyện này, câu chuyện diễn biến theo trật tự thời gian, việc gì xảy ra trước được kể trước, việc gì xảy ra sau được kể sau Câu chuyện thường bắt đầu bằng việc giới thiệu khá tỉ mỉ lai lịch của nhân vật trung tâm từ lúc mới ra đời, sau

đó kể ngay vào nội dung chính Người kể bao giờ cũng đứng ở ngôi thứ ba và luôn luôn ghi nhớ câu chuyện mình đang kể thuộc về thời quá khứ

Trang 18

Đa số Truyện Nôm thường xây dựng theo mô típ và kết cấu giống nhau Đó là thường rơi vào trường hợp một anh nho sĩ nghèo đi ăn xin lấy được người vợ đảm đang chịu khó nuôi cho ăn học

Về sau hoặc người chồng học thành tài vua ép gả công chúa, hoặc người vợ có nhan sắc bị bọn vua quan hay cường hào cưỡng bức phải bỏ chồng nhưng cả hai đều cự tuyệt, dứt khoát chung thủy với người bạn trăm năm của mình Họ phải đấu tranh quyết liệt và phải vượt qua nhiều thử thách để cuối cùng được chiến thắng và vợ chồng sum họp

Theo Nguyễn Lộc [66, tr 299] cốt truyện của Truyện Nôm bình dân có hai đặc điểm đáng chú ý Thứ nhất, những tình tiết, những sự kiện trong truyện không có ý nghĩa khách quan chân thực của nó mà chỉ có tác dụng soi sáng hay tô đậm cho tính cách nhân vật Vì vậy, trong nhiều Truyện thơ Nôm bình dân, chi tiết nhiều khi được cường điệu đến mức hoang đường Chúng ta có thể thấy

trong “Phạm Tải – Ngọc Hoa”, Phạm Tải chết rồi mà đêm đêm Ngọc Hoa vẫn mở nắp quan tài vào

nằm với chồng Nàng công chúa trong truyện Lý Công bị chặt tay chân, xẻo tai vất ra ngoài chợ mà vẫn sống Trong Truyện thơ Nôm, nhiều chi tiết được sử dụng láy đi láy lại như những mô-típ

trong truyện cổ tích, chẳng hạn trong truyện “Phạm Công – Cúc Hoa”, Phạm Công đi thi đậu trạng,

vua ép gả công chúa, Phạm Công không lấy, vua tức giận đày chàng sang Ô-qua Bên Ô-qua, Phạm Công lại đi thi đậu trạng, vua lại ép lấy công chúa, Phạm Công lại chối từ Vua tức giận, sai chặt tay chân, khoét mắt, cắt tai Phạm Công Sau đó nhờ có Ngọc Hoàng cho tiên dược nên Phạm Công thoát nạn Tới nước Triệu, Phạm Công lại một lần nữa đi thi, lại đậu Trạng và vua cũng lại ép gả công chúa nhưng lần này may cho chàng là khi Vua toan trị tội, thì nàng công chúa đứng ra xin tha cho chàng…

Một đặc điểm nữa là kết thúc của Truyện thơ Nôm thường có hậu Đó cũng là sự nối tiếp, kết thúc có hậu do ảnh hưởng của truyện kể dân gian Nhân vật tích cực trong Truyện Nôm nhiều khi rơi vào những tình thế bất lợi nhưng về phương diện tinh thần, không bao giờ họ ở thế thua kém mà

họ chống đến cùng Nàng Ngọc Hoa, nàng công chúa trong truyện Lý Công, chàng Tống Trân, chàng Phạm Công hay chàng Châu Tuấn có thể họ không thắng lợi ngay nhưng họ không thất bại, các thế lực phản động không khuất phục được ý chí phản kháng của họ Những nhân vật như thế, lô

- gic tất yếu của nó phải là kết thúc thắng lợi, phải là “có hậu”

Xét về mặt nghệ thuật, để thực hiện mô hình kết thúc có hậu, Truyện thơ Nôm thường sử dụng các yếu tố thần kỳ tương tự như trong thể loại truyện cổ tích Có thể nói, việc sử dụng các yếu

tố thần kỳ không những là một biện pháp nghệ thuật quan trọng để thực hiện mô hình cấu trúc gặp

gỡ – tai biến – đoàn tụ của Truyện thơ Nôm, mà còn là đặc trưng thi pháp không thể thiếu được của thể loại này

Trang 19

Trong Truyện thơ Nôm, mô hình cấu trúc gặp gỡ – tai biến – đoàn tụ thì trường đoạn tai biến

là trường đoạn có nhiều diễn biến phức tạp nhất của cốt truyện Đa phần, nhân vật chính phải trải qua những biến cố cực kỳ quan trọng với những thử thách rất khó vượt qua Trong những trường hợp như thế, nhân vật của Truyện thơ Nôm thường được sự hỗ trợ của sức mạnh vô hình của những yếu tố thần kỳ Nhờ vậy, các nhân vật chính mới có thể vượt qua các thử thách đi đến thắng lợi cuối

cùng để bước vào trường đoạn đoàn tụ như cấu trúc có hậu của nó (Lý Công, Phạm Công – Cúc

Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Truyện Chàng Chuối, Chuyện Cái Tấm – Cái Cám, Hoàng Trừu, Phù Dung Tân Truyện )

Song song với yếu tố thần kỳ, Truyện thơ Nôm còn sử dụng các mô - típ dân gian như đặc điểm nghệ thuật có sức hấp dẫn đặc biệt của thể loại Truyện thơ Nôm bình dân

Chúng ta dễ dàng tìm gặp mô – típ của nhân vật chính trong Truyện thơ Nôm xuống âm phủ tìm người thân như Ngọc Hoa xuống âm phủ tìm chồng là Phạm Tải, còn Phạm Công thì xuống âm phủ để tìm vợ Cúc Hoa

Mô – típ “Xử kiện cành đa” được vận dụng vào việc Tống Trân xử kiện ở nước Tần Mô –

típ gái giả trai phổ biến trong truyện dân gian thì trong Truyện thơ Nôm đó cũng là một mô – típ khá

quen thuộc Nàng Phương Hoa trong truyện “Phương Hoa” đóng giả trai và đổi tên Cảnh Yên để đi thi Ngay trong “Sơ Kính Tân Trang” cũng có nàng Thụy Châu giả trai để đi dự lãm các nơi danh lam, thắng cảnh, Thị Kính giả trai để đi tu (Quan Âm Thị Kính), nàng Phi Nga giả trai để đi học, đi thi (Nữ Tú Tài)

Chúng ta cũng thấy các trò thi may áo, thi thổi cơm, làm bánh mà Tống Trân đưa ra để chọn

giữa Cúc Hoa và Công chúa nước Tần xem ai đáng là “chánh thê”, đó cũng là những mô – típ dân gian trong truyện cổ tích thần kỳ “lấy vợ cóc” Một mô – típ phong chức hương cống cho chuột để

từ đó có tên gọi chuột cống, cũng được sử dụng trong truyện Tống Trân – Cúc Hoa

Truyện thơ Nôm, còn có sử dụng mô – típ tiếng đàn Tiếng đàn nghe như trách móc, oán than

trong truyện “Thạch Sanh”, “Thoại Khanh – Châu Tuấn”

Như vậy, việc sử dụng các mô – típ dân gian trong Truyện thơ Nôm nhìn chung rất linh hoạt

Có khi người ta giữ nguyên dạng mô – típ của truyện dân gian và sử dụng nó như một tình tiết nào

đó như mô – típ xuống địa ngục tìm người thân… Song cũng có khi người ta chỉ mượn ở mô – típ dân gian cái chủ đề cơ bản để phát triển nội dung của truyện

Qua một số thí dụ vừa nêu, chúng ta thấy rằng việc sử dụng các mô – típ dân gian không những là một thủ pháp nghệ thuật, mà hơn thế việc sử dụng các mô – típ dân gian còn là một quy luật có tính tất yếu trong quy trình sáng tạo của thể loại Truyện thơ Nôm Đồng thời, việc sử dụng

Trang 20

các mô – típ này có tính phổ biến Các tác giả Truyện Nôm sử dụng những tình tiết rút ra từ kho tàng tri thức dân gian, hoặc những chi tiết mang tính chất ly kỳ, hấp dẫn của nghệ thuật dân gian Mặt khác, cách nói khoa trương, phóng đại, cách nói ước lệ tượng trưng của nghệ thuật kể chuyện dân gian hầu như cũng được các tác giả Truyện Nôm kế thừa và sử dụng rộng rãi như một đặc trưng trong phong cách tự sự của thể loại này Hoàng Trừu từng đi khắp mười tám nước chư hầu để kén vợ, Thạch Sanh lấy được Công chúa bị quân của mười tám nước chư hầu kéo đến bao

vây

Tính công thức, ước lệ, nhiều khi còn được thể hiện ngay ở những câu mở đầu hoặc ở những câu kết thúc của một Truyện Nôm Có thể kể hàng loạt dẫn chứng, chẳng kể nội dung truyện như thế nào, bao giờ truyện cũng phải được mở đầu hoặc kết thúc bằng những lời ca tụng tốt đẹp, hoặc bằng những câu mang tính chúc mừng:

“Mừng nay vừa thuận nước non,

Lê dân lạc nghiệp bốn phương yên hòa

“Nay mừng Nam Bắc thuận hòa, Chẳng còn lo ngại đường xa nỗi gần

(Hoàng Trừu) Diễn biến nội tâm của nhân vật cũng được tác giả thể hiện khá đặc sắc trong tâm trạng dằn vặt, đau khổ của Thúy Kiều, tâm trạng miêu tả có chiều sâu ở Trương Quỳnh Thư, Kiều Nguyệt Nga, Dương Dao Tiên

Xét về ngôn ngữ, Truyện thơ Nôm sử dụng từ ngữ đời thường, bởi Truyện Nôm vốn là một thể loại sinh thành và phát triển từ cội nguồn văn học dân gian Và ngôn ngữ sinh hoạt đời thường góp phần làm cho nhân vật của Truyện thơ Nôm gần gũi với cuộc sống, giàu chất sống và phản ánh hiện thực một cách sinh động Ngoài ra, Truyện thơ Nôm cũng sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục

ngữ, ca dao trong lời nhân vật (Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Hoa Tiên ) Cách vận dụng sinh động

ngôn ngữ tự nhiên của nhân dân từ trong thành ngữ, ca dao, tục ngữ đã góp phần đưa Truyện thơ Nôm không những đến với tầng lớp quí tộc mà cũng gần gũi với tầng lớp bình dân Bên cạnh đó, sự vận dụng này đã làm cho ngôn ngữ, suy nghĩ, nội tâm của nhân vật trong Truyện thơ Nôm càng hàm

súc, giàu hình ảnh và thâm trầm

Cũng nhờ sử dụng thành ngữ, tục ngữ, Truyện thơ Nôm và ngôn ngữ nhân vật Truyện thơ Nôm không những nói đúng mà còn nói rất ngắn gọn, rất hay, rất gần gũi, rất tâm lý về nhiều vấn đề của cuộc sống Chính đặc điểm này là một trong những lý do cơ bản giúp Truyện thơ Nôm được nhân dân yêu thích

Trang 21

1.2 Thế giới tâm linh và cơ sở hình thành

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Văn hóa

Văn hóa là một phạm trù rất rộng bao hàm các sinh hoạt của loài người từ sinh hoạt tinh thần,

sinh hoạt xã hội Theo từ điển Tiếng Việt 2000, “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”

Văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống, hoặc theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn… Văn hóa là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt

về văn hóa chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên và xã hội quy định

Văn hóa là một phạm trù rất rộng, nhiều học giả nghiên cứu về văn hóa đã không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, vì định nghĩa văn hóa là gì không phải là một việc dễ dàng giản dị

Như hai nhà nhân chủng học trứ danh Kroeber và Clyde KhucKhoher trong bài phi lộ cuốn Culture đã mượn lời của một học giả khác, ông Lowell mà thú nhận rằng:

“Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu mông lung hơn là danh từ văn hóa Người ta không thể tách văn hóa vì thành phần nó vô cùng tận… Người ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt Muốn cô động ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí: ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì” [5, tr 9]

Khi định nghĩa về văn hóa các nhà khoa học cũng thường chú ý đến các khái niệm văn minh,

văn hiến, văn vật và hầu như đều thống nhất văn hóa là một khái niệm bao trùm “nó chứa cả các

Trang 22

Định nghĩa này cho thấy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà là một tổng thể bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Đồng thời văn hóa là chìa khóa của sự phát triển xã hội

Trong “Cảm nhận về văn hóa”, Bùi Thiết cho rằng văn hóa gồm 3 cấu thành: văn hóa vật

chất, văn hóa tinh thần và văn hóa ứng xử [108, tr 11 – 12]

Xuất phát từ góc độ nguồn gốc P Sorokin có định nghĩa về văn hóa: “Với nghĩa rộng của từ,

văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động lối ứng xử của nhau”

Cũng chính vì thế văn hóa liên quan đến con người rất lớn và ở từng khu vực khác nhau, địa phương khác nhau với đặc điểm khác nhau của con người đã hình thành nên đặc trưng bản sắc dân tộc khác nhau

Ở Việt Nam cũng hình thành nhiều định nghĩa về văn hóa:

Theo giáo sư Đặng Thanh Lê, “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất

của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho các cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [61,

tr 11]

Cũng trên cơ sở khẳng định vai trò của con người, xã hội loài người trong việc sáng tạo và

làm nên văn hóa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc

sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát sinh đó tức là văn hóa” [123, tr 21]

Đồng quan điểm với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi định nghĩa về văn hóa với sự liên hệ mật thiết của con người Con người với vai trò chủ thể trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa,

cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú

và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… Cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng

và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu của cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu

Trang 23

động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị tư tưởng trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình cộng đồng và xã hội…” (Báo Nhân

Dân ngày 21/04/2001)

Trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta, văn hóa vẫn luôn luôn là mục tiêu quan trọng Chính

vì vậy, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã tiếp tục chú trọng phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội Đảng ta xác định:

“Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” (118, tr 647)

Số lượng định nghĩa về văn hóa rất phong phú, đa dạng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Qua nhiều tài liệu nghiên cứu, số lượng định nghĩa về văn hóa rất nhiều

Đầu tiên là định nghĩa theo lối miêu tả của E.B Taylor: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao

gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” (34) Đây là định nghĩa bao

hàm những yếu tố tinh thần của khái niệm văn hóa

Khi nói về văn hóa Việt Nam, Phan Ngọc đã nhận định: “Văn hóa Việt Nam là một văn hóa

khiêm tốn mộc mạc, không có gì cực đoan Nhưng không vì thế mà văn hóa Việt Nam thiếu cá tính”,

“Nó tránh cầu kì Nó đi vào cái nên thơ bình dị nhưng tha thiết với cuộc sống con người”, “trong học, trong thư pháp, họa, thơ văn, người Việt không tìm cái kinh người, cái phi thường mà tìm cái bình dị, tìm cái gần gũi” [75, tr 126]

Trần Quốc Vượng định nghĩa: “Văn hóa… là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao

hàm cả kỹ thuật, kinh tế … để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [123, tr 35 – 36]

Qua một số định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận thấy văn hóa theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và giá trị tinh thần, còn theo nghĩa hẹp truyền thống văn hóa chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người

Trang 24

Với đề tài “Thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm”, tâm linh thuộc lĩnh vực tinh thần, tư

tưởng, tình cảm nên các yếu tố về phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng thuộc về thế giới tâm linh bởi chúng đã gắn với yếu tố tâm linh, đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc

1.2.1.2 Tâm linh

Trong cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển, con người đã vươn tới một điều kiện sống khá cao về vật chất thì nhu cầu về đời sống tinh thần cũng được con người đặc biệt quan tâm Đời sống tinh thần, những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, những khía cạnh trong tư duy, nếp nghĩ rất được chú ý Bởi tất cả những điều đó có ảnh hưởng và chi phối rất nhiều đối với đời sống

tinh thần của con người trong xã hội Chính vì vậy, hai chữ “Tâm linh” cũng được nhắc đến rất

nhiều trong văn học, văn hóa và trong hiện thực đời sống xã hội

Trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, Tâm linh theo hướng thứ nhất là: “Khả năng biết

trước mọi biến cố nào đó sẽ xảy ra theo quan niệm duy tâm” [79, tr 1112]; theo hướng thứ hai Tâm linh là “Tâm hồn, tinh thần” (thường có tính chất thiêng liêng) [79, tr 1112]

Xét về cấu trúc, Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh kết hợp lại Tâm hiểu theo hướng tình cảm thì đó là “tấm lòng nhân ái” (sống có tâm) [79, tr 1111] Tâm hiểu theo từ tâm niệm là “nghĩ tới

thường xuyên và tự nhắc mình để ghi nhớ và làm theo” [79, tr.1112] tức là tin theo điều đó Như

vậy, tâm trong tâm linh là niềm tin Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng liêng Vậy tâm linh được hiểu khái quát là niềm tin của con người vào sự linh thiêng

Cũng từ đó, Nguyễn Đăng Duy đã đưa ra khái niệm: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả

trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”

[27, tr 11]

Ý thức tâm linh được thể hiện theo hai cách Thứ nhất là ở ý niệm của con người Thứ hai là đọng lại ở các hình ảnh, biểu tượng Biểu tượng là tiếng nói chung để biểu thị về một tín hiệu Cây

đa, giếng nước, mái đình là tiếng nói chung để biểu thị về tín hiệu làng quê người Việt Nam Mồ

mả, bát hương là tiếng nói chung về tín hiệu thờ cúng tổ tiên Ngôi đình, ngôi đền là tiếng nói chung

về tín hiệu thờ thần của người Việt Ngôi chùa là tiếng nói chung về thờ Phật ở nước ta… Tất cả đều

là những biểu tượng thiêng liêng Mọi biểu tượng thiêng liêng là cơ sở bền vững cho nhiều mối quan hệ của con người trong xã hội

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về tâm linh và văn hóa tâm linh cho chúng ta thấy tâm linh luôn tồn tại và gắn bó với ý thức của con người Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu, tâm linh

là một hình thái ý thức, được hình thành từ trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và phản ánh vào ý thức con người, không có ý thức con người thì không có tâm linh Tâm linh là niềm tin thiêng liêng cao

cả trong cuộc sống con người; nó cũng là niềm tin tôn giáo Cái niềm tin thiêng liêng đó được thể

Trang 25

hiện qua ý niệm và biểu tượng Trong sinh hoạt tâm linh, con người thể hiện đức tin, niềm xác tín về một đối tượng thiêng liêng bằng cách phải tạo ra một nơi, một chỗ thờ phượng với bài vị, tượng chân dung của đối tượng đó cùng với nghi thức cầu cúng Nói một cách khái quát, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng cách biểu hiện sinh hoạt văn hóa tâm linh thể hiện qua ba dạng:

“Văn hóa tinh thần (vô hình): đó là những hiểu biết, những suy luận, nhận thức về một niềm tin thiêng liêng đối với một đối tượng nào đó”

“Văn hóa vật chất (hữu hình): đó là cơ sở vật chất, nơi chốn thờ phượng: đình, chùa, miễu, đền thờ… với các đồ khí tự và những biểu tượng liên quan”

“Văn hóa hoạt động: đó là nghi thức cúng tế” [39, tr 8]

Theo tài liệu biên soạn của Đỗ Lai Thúy về “Phân tâm học và văn hóa tâm linh”, đây có thể

xem là một nhận xét, bàn luận khá tổng quát về tâm linh:

“Trước đây, nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng và tôn giáo, và đồng nhất

nó với tín ngưỡng và tôn giáo Thực ra, khái niệm tâm linh vừa hẹp hơn lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng tôn giáo Hẹp hơn là ở tín ngưỡng tôn giáo ngoài phần tâm linh ra còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo Bởi đó vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh thần vừa là một thiết chế xã hội, mà đã là một thiết chế xã hội thì không tránh khỏi sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị Rộng hơn vì tâm linh gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu việt không chỉ có ở đời sống tôn giáo, mà còn có trong đời sống tinh thần, đời sống xã hội Không chỉ có Thượng đế, có chúa trời, Thần, Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng thiêng liêng không kém Có như vậy, con người mới đạt đến chiều cao của con người Vì nếu những cái đó bị giải thiêng thì con người không còn biết lấy gì để khu biệt mình với động vật” [103, tr 7 – 8]

Bên cạnh đó, tâm linh còn tồn tại rất đa dạng, phong phú trên nhiều phạm vi như đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng làng xã, tổ quốc giang sơn, trong văn học nghệ thuật, trong tín ngưỡng tôn giáo Và có thể nói tâm linh còn có ranh giới rất gần gũi với mê tín dị đoan – mặt tiêu cực của đời sống tinh thần con người trong xã hội

Như vậy, tâm linh là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của con người bên cạnh

đời sống vật chất tồn tại cụ thể, bởi “trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm

linh Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó được, có thể đánh giá qua những gì cụ thể nhất định, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mong lung, nhưng lại không thể thiếu được ở con người Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó” [70, tr 36]

Trang 26

Vì thế, tâm linh là thế giới của cái cao cả, thiêng liêng mà con người luôn hướng đến Tâm linh tồn tại trong cả đời sống tinh thần, đời sống xã hội và đời sống tôn giáo

Từ những mối quan hệ phong phú giữa tâm linh đối với các phương diện, lĩnh vực khác, chúng ta cần xem xét các mối quan hệ của tâm linh để nhận thức về tâm linh toàn diện và sâu sắc hơn

 Tâm linh với tín ngưỡng

Trong Hán – Việt từ điển “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa”

[102, tr 95]

Như định nghĩa trên, tín ngưỡng không chỉ giới hạn ở lòng ngưỡng mộ và niềm tin tôn giáo

mà tín ngưỡng còn thể hiện ở phạm vi khá rộng trong đời sống tinh thần của con người Bởi trong thực tế, nhiều người không theo tôn giáo nào cả nhưng họ vẫn có niềm tin vào đấng thiêng liêng, cao cả, những đấng linh thiêng, thần bí Trên cơ sở tín ngưỡng từ quan niệm sùng bái tự nhiên và sùng bái con người, người Việt có những tín ngưỡng dân gian rất phong phú ngoài tín ngưỡng tôn giáo

Nói đến tín ngưỡng dân gian tất nhiên có nhiều điều mâu thuẫn và huyền hoặc Khoa học hiện đại cho rằng: những dạng thức sinh hoạt tâm linh, tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo – Người ta thường gọi là tín ngưỡng như thờ cúng Tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các thần linh khác đang tồn tại ở Việt Nam

Có thể nói thờ cúng là một tín ngưỡng mang tính truyền thống của dân tộc Việt Nam Gần gũi nhất là việc thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên Truyền thống này xuất phát từ quan niệm: chết là

sự luân hồi, thay đổi từ cuộc sống này sang cuộc sống khác Việc thờ cúng thể hiện khá phong phú qua: Thờ tổ tiên, cúng tế người chết, thờ các vị thần

Người Việt có một niềm tin đặc biệt vào tín ngưỡng dân gian Chính vì thế mà tín ngưỡng chi phối sâu sắc đời sống của họ Những đôi lứa thề nguyền khi yêu nhau và tin tưởng vào lời thề đó Vì tin nên họ chờ nhau đôi khi suốt cả một đời cũng như tin rằng sự trừng phạt sẽ đến với những ai

phản bội lời thề Hoặc như mỗi đứa con khi lớn lên phải học bài học về chữ “hiếu”, đạo làm con

phải hiếu thảo với cha mẹ – đó là đạo lý ở đời và màu sắc tín ngưỡng là ở chỗ người ta tin rằng những kẻ bất hiếu thì sẽ gặp quả báo, sẽ gặp nhiều bất hạnh trong cuộc đời như sự báo ứng ở thế hệ sau, bị trời trừng phạt, khi chết đi sẽ không được siêu thoát hoặc phải bị đày xuống mười tám tầng địa ngục, tắm trong vạc dầu sôi…

Những người nông dân sống thuần hậu, chân chất, thật thà bởi lẽ họ tin “ở hiền gặp lành, ở

ác gặp ác” và điều đó được xem như một lẽ dĩ nhiên ở đời Người ta tin vào sự trừng phạt hoặc ban

Trang 27

thưởng xứng đáng của một thế lực siêu nhiên ở đời nên họ không chỉ tự nhủ mình phải sống như thế nào mà còn dạy bảo con cháu bằng một lòng tin gần như tuyệt đối

Dù tin Phật, dù đi chùa nhưng người Việt coi trọng việc sống phúc đức hơn là đi chùa, coi trọng truyền thống thờ ông bà hơn là thờ Phật Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng giúp đỡ người dân thoát khỏi mọi tai họa, người ta không rạch ròi giữa những đặc trưng của các tôn giáo, họ chỉ quan tâm đến những gì có thể mang lại bình an cho cuộc sống mà thôi

Phật có thể ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ Phật,

hái lộc lúc giao thừa), cứu độ cho người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư đến cầu kinh và làm lễ tiễn đưa người chết) Người dân đi bất cứ đâu đều có thể ghé vào chùa xin dùng một bữa

cơm hoặc nghỉ qua đêm

Người Việt quan tâm nhiều đến tướng số, người ta thích coi bói để biết trước vận mạng; khi dựng vợ gả chồng thì coi tuổi, coi ngày; xây nhà thì coi phong thủy, ngày khởi công… đến chết cũng coi ngày tẩn liệm, chôn cất cho phù hợp… Đó là những phong tục, những quan niệm không thể thiếu trong cuộc sống của đại bộ phận người Việt

Tóm lại, tín ngưỡng dân gian chi phối sâu sắc đời sống xã hội Việt Nam Với người Việt đó

là một phần không thể thiếu trong cuộc sống cũng như trong cuộc đời của mỗi con người…

Ngoài mối quan hệ với tín ngưỡng dân gian, tâm linh còn có mối quan hệ với tín ngưỡng qua

niềm tin vào các tôn giáo Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, tôn giáo được hiểu theo hai hướng Thứ nhất, tôn giáo là “hình thái, ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và

sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ” [79, tr 1253] Thứ hai, tôn giáo là “hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện

sự sùng bái ấy” [79, tr 1253]

Kết hợp từ hai hướng giải thích về “tôn giáo”, chúng ta có thể khẳng định tín ngưỡng tôn

giáo, niềm tin tôn giáo tồn tại rất rõ, rất đậm nét trong tâm linh người Việt Bởi trong tâm linh người Việt không ít thì nhiều đều hướng đến những hình tượng thiêng liêng Nho giáo tin vào Trời, Phật giáo tin vào lòng từ bi của Phật, Thiên chúa tin vào Chúa sẽ cứu rỗi linh hồn con người sau khi chết Dù mỗi tôn giáo có hình tượng thiêng liêng khác nhau, có tín điều khác nhau nhưng các tôn giáo đều có điểm chung là hướng đến một thế giới khác hoàn toàn với thế giới mà con người đang sống Đó là thế giới cực lạc, linh hồn con người được hưởng cuộc sống hạnh phúc thật sự sau khi

mất (Cõi Niết Bàn, Thiên đường ) Khi còn sống, con người tin tưởng thế giới Trời, Phật, Thần,

Tiên sẽ phù trợ, giúp đỡ cho con người khi gặp khó khăn, hoạn nạn Tín ngưỡng và tôn giáo có

Trang 28

nhiều mặt tích cực nhưng bên cạnh đó cũng có mặt tiêu cực Đó là khi con người nhận thức không đúng về tâm linh hoặc dùng niềm tin tâm linh của con người để thực hiện những mục đích trục lợi

từ niềm tin, tín ngưỡng Trường hợp con người mê muội, tin tưởng mù quáng vào những biểu hiện

tín ngưỡng theo hướng tiêu cực thì đó là mê tín dị đoan

 Tâm linh với mê tín dị đoan

Chúng ta đã xác định tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng Nhưng niềm tin

ấy, sự linh thiêng ấy phải hiểu theo hướng tích cực Tâm linh hoàn toàn khác với mê tín dị đoan Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, mê tín là “tin một cách mù quáng vào thần thánh,

ma quỷ, số mệnh và những điều huyền hoặc” [79, tr 776] Theo hướng nghĩa thứ hai mê tín là “ưa chuộng, tin tưởng một cách mù quáng, thiếu suy xét” [79, tr 776] Còn dị đoan là “lòng tin vào điều quái lạ, huyền hoặc, nhảm nhí” [79, tr 328]

Vậy, mê tín dị đoan là tin một cách mù quáng vào những điều quái lạ, sự tin tưởng mà thiếu

suy xét, không có cơ sở nên dễ dẫn đến những hậu quả khôn lường Điều này hoàn toàn khác với

tâm linh – niềm tin vào sự thiêng liêng cao cả vì chính tâm linh sẽ hướng con người đến cuộc sống

tốt đẹp với lòng nhân ái, hiếu nghĩa, với những đối nhân xử thế mang tính nhân bản, nhân văn Và

tin vào sự kỳ diệu của cuộc đời nếu chúng ta sống tốt, sống phải đạo theo niềm tin “ở hiền gặp

lành”, ở đời có luật nhân quả

Bởi vì mê tín dị đoan là “những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa vào những biểu tượng,

trái lẽ tự nhiên, có hành vi lễ bái ứng xử mang tính chất cuồng tín, nhảm nhí trái với lẽ phải và hành vi thông thường của mọi người chung quanh; làm hại đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi người” (Từ điển Tôn giáo – dẫn theo Mai Thanh Hải) [36, tr 107]

Như vậy, điều quan trọng là làm sao cho mọi người hiểu được tâm linh khác với mê tín dị

đoan Mê tín dị đoan có tác hại như thế nào để mọi người bài trừ, loại bỏ

Theo ý kiến của Trương Thìn, “Cần nhận thức đúng và tách bóc thành hai vấn đề: Mê tín và

Dị đoan Vì có những điều mê tín mà không có dị đoan Thực chất tín ngưỡng, tôn giáo là mê tín (vì tin vào những điều không có thật), nhưng bản chất của nó lại không có dị đoan Ngay thuật ngữ dị đoan: dị là khác biệt, đoan là mối, là lắm mối, rắc rối Cái gì khác với chính thống gọi là dị - có nghĩa là khác biệt, tôn giáo này coi tôn giáo kia là dị - là khác biệt, nhưng không gọi đó là dị đoan được Ở đây chúng ta cần hiểu dị đoan là lắm mối, là rắc rối, là quàng xiên, dẫn đến mù quáng”

[102, tr 153 – 154]

Từ cơ sở phân tích trên, Trương Thìn cũng đã đề xuất hai vấn đề “tôn trọng tín ngưỡng” và

“bài trừ mê tín dị đoan” Bởi vì, tín ngưỡng có những mặt tích cực đáng trân trọng, duy trì còn mê tín dị đoan là tin một cách mê muội, kỳ dị, khác thường dẫn đến những tác hại nên cần phải bài trừ

Trang 29

Trương Thìn đã khẳng định “ta không chống mê tín, nhưng phải chống dị đoan hoặc phải dùng cả

cụm từ mê tín dị đoan để chỉ niềm tin đã biến dạng, quái dị, xằng bậy – đó là những tôn giáo, tín ngưỡng bị lợi dụng có hại đến con người – ta phải bài trừ, phải chống Tôn trọng tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan là chính xác, là phù hợp” [102, tr 154]

Với nhận thức về tâm linh như trên, chúng tôi sẽ trình bày trong Luận văn tâm linh trong tín

ngưỡng dân gian từ truyền thống thông qua bộ phận văn học cụ thể là Truyện thơ Nôm và trên phạm

vi đời sống tinh thần của cá nhân con người

1.2.1.3 Thế giới tâm linh

Tâm linh là thế giới thiêng liêng, cao cả Ngoài đời sống vật chất, phàm tục thì tâm hồn con người luôn hướng đến cái linh thiêng, cái cao đẹp của tinh thần Thế giới tâm linh biểu hiện rất đa dạng và vô cùng phong phú Bởi tất cả biểu hiện của con người liên thông với ngoài thế giới ta đang sống đều trở thành yếu tố tâm linh

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy, với công trình “Văn hóa tâm linh”, tác giả đã thể

hiện văn hóa tâm linh – một sự gắn bó sâu sắc đối với đời sống con người Ở công trình này, tác giả

đã cho chúng ta thấy mối quan hệ của tâm linh trong mọi mặt của đời sống

Với tâm linh trong đời sống cá nhân, điều này đã giúp cho con người có một niềm tin vào Trời Phật, Thần Tiên, vào Chúa để họ sống với một đức tin (tin vào luật nhân quả, hồn ma, hóa

kiếp) để họ sống hướng thiện, sống lạc quan hơn (tin rằng chết không phải là hết), để con người được yên tâm (tin rằng có Trời, Phật, Thần Tiên phù trợ)…

Với tâm linh trong đời sống gia đình, mồ mả, bát hương, việc thờ cúng ông bà tổ tiên là

những biểu tượng thiêng liêng có sức tập hợp to lớn trong mỗi gia đình “Có thể nói bàn thờ tổ tiên

là biểu tượng máu thịt thiêng liêng nhất, lôi cuốn người ta quây quần đoàn tụ, nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị thiêng liêng chuyển giao cho con cháu Những giá trị tâm linh là hết sức bền vững, là hằng số của văn hóa gia đình, mấu chốt là ở chỗ đó” [29, tr 34 – 35]

Tâm linh trong đời sống gia đình được thể hiện trong những ngày họp mặt, giỗ chạp đông vui, những lúc tất cả những thành viên trong gia đình tập trung về để cùng quây quần tưởng nhớ đến những người thân đã khuất Tâm linh trong đời sống gia đình đã tạo cho mỗi người chúng ta một nếp nghĩ thường trực, bất biến: gia đình là nơi ta về trong mỗi ngày, mỗi chuyến đi xa Đó cũng là nơi ta về và được yên tâm cả lúc còn sống và cả khi đã qua đời Vì khi đã mất linh hồn cũng mong được có nơi trở về trong khói hương thờ cúng

Rộng hơn khuôn khổ gia đình, chúng ta sẽ thấy được tâm linh từ đời sống cộng đồng, làng

xã Vậy tâm linh ở đây được biểu hiện như thế nào? Đó là thần tượng thiêng liêng về các anh hùng

có công dựng làng, giữ nước đang được tôn thờ trong những không gian thiêng liêng, những ngôi

Trang 30

đình, đền Ở những không gian thiêng liêng ấy, hàng năm lễ thần và hội làng diễn ra, thì lại là những dịp niềm tin thiêng liêng được củng cố Thần thánh thiêng liêng nhắc nhở chúng ta nhớ về cội nguồn, lễ hội thiêng liêng nhắc nhở chúng ta xóa bỏ những gì khúc mắc bất hòa Đó là những sợi dây tình cảm vô cùng thiêng liêng cố kết xóm làng, củng cố khối cộng đồng Đó là những quan

hệ thiêng liêng nhất trong đời sống cộng đồng làng xã Nó là cái nền vững chắc trong mối quan hệ làng xã Cũng từ đó, khi xa quê hương, xứ sở gặp người đồng hương không hề có quan hệ huyết thống, ruột thịt nhưng người ta sẽ cảm thấy rất vui và họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau trên nhiều phương diện có thể Đó là nét đẹp của con người xuất phát từ tâm linh trong đời sống cộng đồng, làng xã

Vượt qua giới hạn của cộng đồng làng xã, người Việt cũng có tâm linh với Tổ quốc, giang sơn Người Việt của chúng ta chắc chắn sẽ tự hào về ý chí kiên cường của Bà Trưng, Bà Triệu, tự hào về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đầy vẻ vang của dân tộc và cũng chạnh lòng khi tưởng nhớ đến các thế hệ chiến sĩ, đồng bào đã nằm xuống vì quê hương, đất nước… Những chiến tích anh hùng gắn liền với những địa danh, địa phương làm cho chúng ta khó có thể quên… Chắc chắn trong mỗi người dân Việt Nam của chúng ta đều cảm thấy thiêng liêng khi nghe bài hát quốc

ca, sẽ thấy xúc động khi vào viếng thăm lăng Bác…

Bên cạnh đó, tâm linh còn thể hiện trong văn học nghệ thuật, tâm linh với mê tín dị đoan Phân biệt giữa tâm linh với mê tín dị đoan ta thấy tâm linh là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt đời sống tinh thần Những người tin vào Phật và Chúa, đi tu, theo đạo, suốt cuộc đời tâm niệm vào Phật, vào Chúa có thể giải thoát về cái chết cho mình ấy là tâm linh Hoặc những người không theo tôn giáo nào, nhưng vẫn tin vào thần Phật thiêng liêng, tự đến đình chùa thắp hương khấn lễ, cầu mong sự phù hộ bình yên, mạnh khỏe gặp nhiều may mắn ấy cũng là tâm linh Còn xuất phát từ

số người muốn kiếm lợi bằng dựa vào thần Phật, thương mại hóa niềm tin, đặt ra những phán bảo, nhiều điều kỳ dị khác thường, cúng lễ cho người khác, khiến cho người khác tin theo mê muội, hành động theo họ, gây tốn kém sức khỏe, tiền bạc vô ích, thậm chí nguy hại tính mệnh, ấy là mê tín dị đoan Để tâm linh thật sự là cái thiêng liêng, cao cả mọi người cần hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa biểu hiện tích cực của tâm linh

Với đề tài “Thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm”, chúng tôi sẽ tìm hiểu những yếu tố

tâm linh được thể hiện trong một số Truyện thơ Nôm mà chúng tôi chọn khảo sát Với sự phong phú của các yếu tố tâm linh về thế giới Trời, Phật, Thần, Tiên và tín ngưỡng thờ cúng; duyên kiếp số mệnh; hồn ma và không gian âm phủ; phép thuật, tướng số; lời thề; chiêm bao mộng mị, chúng biểu hiện sự liên thông của con người với thế giới ngoài mà nhân vật đang sống và chúng đã làm nên

Trang 31

chiều rộng, chiều sâu của thế giới tâm linh Đồng thời tạo nên nét độc đáo, đặc sắc riêng cho Truyện thơ Nôm

1.2.2 Cơ sở hình thành thế giới tâm linh trong văn hóa Việt và Truyện thơ Nôm

1.2.2.1 Cơ sở tư tưởng Việt Nam

Trên cơ sở tư tưởng xuất phát từ bản chất của vũ trụ về triết lý âm dương, người Việt Nam đã hình thành tư duy lưỡng phân lưỡng hợp Cuộc đời có sự phân chia giàu – nghèo, bản chất con người tồn tại giữa tốt – xấu, thế giới âm – dương là sự phân định gữa người chết và người sống… Nền văn hóa, văn học, tín ngưỡng dân gian mang nhiều dấu ấn thể hiện ước mơ bay bổng của con người trước hiện thực thiên nhiên, xã hội còn nhiều trở lực, khó khăn Đồng thời, sự ảnh hưởng, tiếp thu tinh thần của ba hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo đã tạo nên sự phong phú trong quá trình hình thành và phát triển đời sống tinh thần của người Việt Đó cũng là nền tảng, là cơ sở cho sự hình thành thế giới tâm linh trong văn hóa Việt và Truyện thơ Nôm

1.2.2.1.1 Thế giới tâm linh ảnh hưởng từ triết lý âm dương

Theo Trần Ngọc Thêm: “Triết lý âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ

của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người Từ hai cặp đối lập gốc “mẹ – cha” và “đất – trời”, người xưa dần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộc tính của âm dương Lối tư duy đó tạo nên ở người Đông Nam Á cổ đại một quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp có phần chất phác và thô sơ về thế giới mà nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã từng nói” [100,

tr.56]

Người Việt hình thành tư tưởng theo triết lý âm – dương qua biểu tượng âm – dương có

truyền thống lâu đời từ biểu tượng “vuông – tròn” Có vuông có tròn, tức có âm có dương; nói

“vuông tròn” là nói lên sự hoàn thiện

Thành ngữ có câu: “Mẹ tròn con vuông; Ba vuông bảy tròn…”

Ca dao thì có: “Ba vuông sánh với bảy tròn

Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!”

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng theo triết lý âm - dương:

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn, Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông;

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?”

(Truyện Kiều) Biểu tượng vuông tròn còn là biểu tượng cho trời – đất Trời được biểu tượng là tròn, đất biểu tượng là vuông Sở dĩ trời tròn vì trời là dương, mà biểu tượng của dương là tròn, đất vuông vì đất là âm, mà biểu tượng của âm là vuông

Trang 32

Người Việt Nam còn nhận thức rõ về hai quy luật của triết lý âm dương Những quan niệm

dân gian: “Trong rủi có may, trong dở có hay, trong họa có phúc”; “Chim sa, cá nhảy chớ mừng,

Nhện sa, xà đón xin đừng có lo”… Đó cũng là sự diễn đạt cụ thể của quy luật “trong dương có âm”

và “trong âm có dương” Cũng từ đó mà đã hình thành nhận thức dân gian về quan hệ nhân quả ở đời: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Yêu nhau lắm, cắn nhau đau; Nhất sĩ nhì nông, hết

gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ; Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa, Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa… Đó cũng là sự diễn đạt cụ thể của quy luật âm

dương có sự chuyển hóa, liên thông

Cũng chính nhờ có lối tư duy âm dương từ trong máu thịt mà người Việt Nam có được triết

lý sống quân bình Trong cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm dương trong cơ thể và hài hòa với môi trường thiên nhiên… Triết lý quân bình âm dương được vận dụng không chỉ cho người sống mà ngay cả cho người chết Chính triết lý quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt Nam một khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh với lối sống linh hoạt, dù khó khăn đến đâu vẫn không chán nản Người Việt Nam là dân tộc sống bằng tương lai (tinh thần lạc quan): thời trẻ khổ thì tin rằng về già sẽ sướng, suốt đời khổ thì tin rằng đời con mình

sẽ sướng (Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời )

Triết lý âm dương còn cho thấy sự phân định giữa cõi thực (dương thế) và cõi hư vô (âm phủ) Và con người tin rằng giữa hai cõi âm dương này có sự liên thông vô hình mà luôn luôn tồn tại trong nếp nghĩ của nhân dân

Điều này cũng được thể hiện khá rõ trong truyện “Phạm Công – Cúc Hoa”, Nghi Xuân –

Tiến Lực hai đứa con khốn khổ của Cúc Hoa bị mẹ kế Tào Thị hành hạ, bạc đãi phải bỏ nhà ra đi Thương hai con bất hạnh, hồn Cúc Hoa từ âm cung lên dương thế để vỗ về, ru ngủ cho con trong bước đường lưu lạc Hay cảnh Phạm Công xuống âm cung tìm vợ Cúc Hoa, hay nàng Ngọc Hoa tự

tử để được xuống âm phủ gặp chồng

Theo triết lý âm dương, chết tức là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, hồn đi từ cõi

Dương (Dương gian, Dương thế) sang cõi Âm (Âm ti, Âm phủ) Đó là một thế giới bên kia, là nơi

hồn người chết trở về còn được gọi là nơi chín suối Với niềm tin chết là về với tổ tiên nơi chín suối, nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất Người Việt Nam quan niệm dương sao âm vậy cho nên cúng tổ tiên bằng cả đồ ăn lẫn đồ mặc, đồ dùng,

tiền nong (làm bằng giấy, gọi là vàng mã) Cùng với đồ ăn đồ mặc là hương hoa, trà rượu Rượu

(rượu gạo) có thể có hoặc không, nhưng ly nước lã thì nhất thiết không thể thiếu Nhất thiết có, vì

nó đơn giản nhất, nhà nào, lúc nào cũng sẵn, nhất thiết có, còn vì ý nghĩa triết lý: nước là thứ quý

Trang 33

nhất (sau đất) của dân nông nghiệp lúa nước Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã được đem đốt,

chén rượu cúng đem rót xuống đống tàn vàng – có như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế

Hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất – trước mắt ta là một sự hòa

quyện lửa – nước (âm dương) mang tính triết lý sâu sắc

1.2.2.1.2 Thế giới tâm linh ảnh hưởng từ tín ngưỡng dân gian

Từ sơ khởi, dân ta tôn thờ và tin tưởng tất cả những sức mạnh vô hình hay hữu hình mà người ta cho rằng có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến con người như: trời, đất, sấm, sét, gió, mưa, nước, lửa

Dần dần, với sự hiểu biết và giao lưu văn hóa với các nước chung quanh ta, trong sự tín ngưỡng của dân ta chỉ còn tôn thờ: Trời, Phật, Thần thánh và Tổ tiên

Thờ cúng là biểu hiện rõ nhất của thế giới tâm linh Là hình thức thể hiện nguyện vọng, mong ước của con người vào thế giới siêu nhiên Con người gởi gắm niềm tin vào Trời, Phật, Thần linh… và mong được các đấng siêu nhiên ấy phù trợ Việc thờ cúng có thể diễn ra tại nhà, tại chùa, tại miếu, đền, tại những nơi tổ chức các lễ hội… và ngay cả những lúc con người cảm thấy bất an,

bế tắc cần được các đấng siêu nhiên chở che, giúp đỡ để giải thoát…

Trong gia đình, ngoài việc thờ tổ tiên, người Việt còn thờ các vị Phật, Thánh khác như: Ngọc

Hoàng thượng đế, Phật Bà Quan Âm (thường đặt trên bàn thờ tổ tiên) Thờ ngũ hổ (thường đặt dưới

bàn thờ tổ tiên) Sở dĩ bàn thờ được đặt chồng nhau ba bốn tầng như vậy là theo quan niệm: bàn thờ

là nơi tượng trưng cho tổ tiên, xã hội, vũ trụ, trời và đất Do vậy, bàn thờ thường để ở gian giữa – là nơi trang nghiêm nhất để nhìn ra cửa chính

Trong các dạng tín ngưỡng, thờ cúng là một hình thức tồn tại rất phổ biến và lâu dài trong đời sống tinh thần của nhân dân Con người thờ cúng tổ tiên, cúng tế người chết, thờ thiên thần,

nhiên thần Bởi con người có quan niệm về thế giới: mọi vật đều có linh hồn (thuyết vạn vật hữu

linh), thuyết luân hồi chuyển kiếp đầu thai của đạo Phật, triết lý sinh tử của Nho giáo, quan niệm

chết là về cõi tiên của Đạo giáo, nhận thức của dân gian chết là một dạng sống mới ở môi trường khác và niềm tin âm phù dương trợ đã hình thành tục thờ cúng Bởi mọi người quan niệm rằng khói hương sau khi khấn vái, thờ cúng sẽ là mối liên thông giữa người sống với người chết, giữa con người với Trời Phật, Thần Tiên, giữa con người ở trần gian với thế giới âm ty, âm phủ

Xuất phát từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người, tín ngưỡng thờ cúng trở thành một dạng của tâm linh rất gần gũi và rất phổ biến ở người Việt

 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Việt Nam là một đất nước thuộc nền văn minh lúa nước nên người Việt từ xưa đã từng gắn

bó với đời sống nông nghiệp Và chính vì vậy, thế giới tâm linh cũng bắt đầu từ đó Với điều kiện

Trang 34

khí hậu, thời tiết thất thường và hoàn cảnh địa lý không thuận lợi nên người dân sống theo nông nghiệp luôn gặp phải những trở lực, khó khăn từ thiên nhiên như: lũ lụt, hạn hán dẫn đến thất mùa, đời sống khó khăn Cũng từ đó, khí hậu, thời tiết, thiên nhiên rất quan trọng trong đời sống nhân dân Việc thờ cúng thần sông, thần nước, thần lửa… tục tế lễ trời, đất khá phổ biến Vì vậy, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được hình thành và rất phổ biến trong nhân dân

Với bản chất hiền lành, chân chất và tâm lý cam chịu của người nông dân nên khi đứng trước những trở lực, khó khăn của thiên nhiên người nông dân thường rơi vào thụ động Do đó, người Việt không đi theo hướng nhận thức để đối phó với tự nhiên, chế ngự, làm chủ nó mà họ tìm cách thích nghi với tự nhiên, hài hòa, tôn trọng tự nhiên Thái độ tôn trọng cùng với nỗi lo lắng trước những cơn thịnh nộ của thiên nhiên đã dẫn đến tín ngưỡng sùng bái các vị thần tự nhiên như thờ thiên thần, nhiên thần tức là tục thờ các vị thần có nguồn gốc từ trời, từ các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm chớp, nước, núi, đất, đá… Thờ vật thiêng như: rắn, chim, cá sấu, rồng,… Và cũng từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên đã dẫn đến tục tế lễ trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa…

Theo Phan Đại Doãn: “Ở gốc độ vũ trụ quan, người Việt Nam và cả một số nước Đông Á

quan niệm về quan hệ giữa con người và thiên nhiên có ba yếu tố: trời – đất – người (thiên, địa, nhân) mà trong đó con người là bộ phận của thiên nhiên, đúng như tục ngữ của người Việt Nam đã nói người là hoa của đất, nghĩa là con người là tinh hoa của đất nhưng không tách khỏi đất Trời và đất, theo cách nói ngày nay là thiên nhiên, được xem như một thực tế ngoài con người Con người

là cao quý, nhưng không thể thoát ly khỏi thiên nhiên, mà chính là do thiên nhiên tạo nên” [28, tr

205]

Cũng theo Phan Đại Doãn, trong vũ trụ quan của người Việt (cũng như ở một số nước Á

Đông), ba yếu tố thiên – địa – nhân thì trong ý thức vẫn lấy cái “thiên” làm yếu tố thứ nhất Triết

học phương Tây thường coi trọng nhận thức luận, thường sử dụng cặp phạm trù “tư duy” và “tồn

tại” làm hệ quy chiếu Ở người Việt thường chú ý nhiều đến các mối quan hệ, thường hay dùng cặp

phạm trù “thiên” và “nhân” để khảo sát thiên nhiên và xã hội Trong mối quan hệ “thiên” và

“nhân”, theo quan điểm phương Đông là hợp nhất, là tương cảm (những biến chuyển của thiên nhiên đều ảnh hưởng trực tiếp đến con người) Trong mối quan hệ đó, thế ứng xử của con người là

phải giữ mối hài hòa, tạo thế cân bằng, tôn trọng thiên nhiên

Không thể cho rằng quan niệm truyền thống về quan hệ giữa con người với thiên nhiên của người Việt đã hoàn chỉnh khoa học Thậm chí trong quan niệm về thiên nhiên vẫn còn nhiều yếu tố

duy tâm, thần bí Thuyết “phong thủy” khá sâu rộng trong dân gian đã tạo ra quan niệm cái gọi là

“mạch đất” của “thầy địa lý” hạn chế tính năng động của con người, mặt nào đó cũng là sự khuất

Trang 35

phục của con người trước thiên nhiên Đồng thời quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá, rừng

núi có sơn thần” là tư tưởng thần thánh hóa, tôn giáo hóa lực lượng thiên nhiên

Trên đường khai hoang mở cõi về phương Nam, lưu dân người Việt có cơ hội tiếp xúc với nhiều tộc người bản địa như Chăm, Khơme và cả người Hoa nhập cư ở Nam bộ vào thế kỷ XVII và sau đó Sự giao lưu văn hóa tất yếu dẫn đến hiện tượng giao thoa của con người trong trời đất bao la

trên vùng đất mới Do đó, đời sống tâm linh (ngoài niềm tin tôn giáo) của lưu dân từng bước hình

thành bên cạnh niềm tin, thần linh chính thống được họ mang theo từ quê cũ, những tín điều mới có pha trộn ít nhiều tín ngưỡng của các tộc người bản địa Giao tiếp tín ngưỡng là một quá trình sàng lọc qua tâm thức, qua nếp sinh hoạt của lưu dân trên vùng đất mới dưới sự tác động của hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể Từ đó, từng nơi, từng lúc, từng bước hình thành hệ thống tín điều mang nét riêng của mỗi địa phương

Để được bình yên trong cuộc sống mới nơi xứ lạ, để được an toàn khi vào rừng lấy cây, lấy củi, lấy mật, săn bắn…; ra sông chài lưới bắt tôm cá… lưu dân tin là có một vị thần nào đó phù hộ

và phải cầu cúng để gởi gắm niềm tin Đó là cơ sở để hình thành một số dạng sinh hoạt tâm linh trên vùng đất mới, với miễu thờ ông Tà, ông Địa, bà Chúa Xứ, Ngũ Hành, Hà Bá, Sơn Thần, Long Vương, Bà Thủy, dinh Ông, dinh Bà, dinh Cậu, dinh Cô… lần lượt xuất hiện ở nơi mà họ cho là thích hợp

Nhìn chung, quan niệm truyền thống của người Việt về quan hệ giữa con người với thiên nhiên không phải là đối lập mà ngược lại cho rằng: con người với thiên nhiên là một chỉnh thể Tạo lập một mái nhà, một ngôi chùa, một chốn ở hay tổ chức một lễ hội con người đều tìm cách gắn bó, hòa nhập với thiên nhiên Trong sản xuất nông nghiệp, người Việt cũng luôn giữ mối cân bằng, hài hòa với thiên nhiên Từ đó, hình thành tín ngưỡng sùng bái tự nhiên qua thờ thiên thần, nhiên thần; thờ vật thiêng; tục tế lễ trời đất

Nông thôn Việt Nam hiện nay có nhiều đình, chùa, miếu Đó là di sản kiến trúc truyền thống còn lại, là địa điểm tổ chức lễ hội dân gian, nơi thờ cúng những người có công với nước với dân,

những người khai cơ lập ấp tại địa phương, tổ tiên ông bà thuở trước, mang đạo lý “ăn quả nhớ kẻ

trồng cây” và nếp sống của người Việt Đình, chùa và sinh hoạt đình, chùa phản ánh đặc điểm của

văn hóa và văn minh Việt Nam từ ngàn xưa tới nay

 Tín ngưỡng sùng bái con người

Người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” để bắt đầu chú ý về mối quan hệ giữa

thế giới hữu hình và vô hình, nhất là giữa sự sống và cái chết Họ tin rằng mỗi con người đều có phần hồn và xác Trong nhận thức dân gian, thể xác và linh hồn của con người vừa gắn bó vừa tách biệt Khi con người chết đi, xác hòa vào cát bụi nhưng phần hồn vẫn tồn tại ở một thế giới khác và

Trang 36

liên hệ với người sống bằng hiện tượng “linh hồn” Người sống có thể liên thông với người đã

khuất qua giấc mộng, chiêm bao Người sống có thể cầu xin người chết che chở, phù trợ cho sự bình yên của cuộc sống hằng ngày Không biết sự cầu xin ấy có hiệu quả như thế nào nhưng trước hết con người thấy thanh thản về mặt tinh thần, điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc sống Người chết cần có sự cúng lễ của người sống để có thể yên ổn ở thế giới bên kia, không thành ma đói lang thang, con người sống có thể an bình, thanh thản khi được che chở, phù trợ một cách bí ẩn của người chết Với mong ước bình dị và niềm tin có thật ở người Việt, thờ tổ tiên được coi là thứ tín ngưỡng ở mọi lớp người Ở đây, việc ứng xử với quá khứ, với những người đã khuất không phải chủ yếu là vì họ, cho họ mà là vì những người đang sống, chính vì thế mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tồn tại vững chắc trong mọi thời gian

Lý do chủ yếu cho việc hình thành và tồn tại tín ngưỡng đó là lòng yêu nước và tự tôn dân tộc đã trở thành một đặc trưng sâu đậm của tâm thức dân gian người Việt Sinh sống trên một mảnh đất luôn bị giặc ngoại xâm dòm ngó, người Việt ý thức được sự tồn vong của đất nước phụ thuộc vào ý chí tự lực, tự cường của mình Có thể nói đã tồn tại một dòng truyền thuyết về những người anh hùng chống giặc ngoại xâm và họ được thờ như những vị thần mà rõ nhất là Thánh Gióng, Hai

Bà Trưng, Vua Hùng,… đó cũng là một dạng tín ngưỡng, họ tôn sùng những người anh hùng đã góp phần quan trọng giữ gìn đất nước So với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì tín ngưỡng thờ thần có qui

mô rộng lớn hơn, có ảnh hưởng đến cả một vùng cả một dân tộc và được mọi người chấp nhận dạng tín ngưỡng này một cách hết sức tự nhiên

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam giản dị như chính con người họ Ở Việt Nam, tín ngưỡng chủ yếu phục vụ đời sống tinh thần Đó là một niềm tin lý giải ước mơ về một chỗ dựa trong tinh thần, tâm linh của người Việt Tín ngưỡng người Việt không có những kiểu lễ bái, thờ cúng phức tạp đậm chất tôn giáo như một số quốc gia ở châu Á Đối với người Việt, tín ngưỡng đôi khi chỉ là sự tin tưởng vào lời thề son sắt trong tình yêu đôi lứa, lòng tin vào quy luật nhân quả trong cuộc đời, tin vào duyên kiếp, số mệnh, bói toán Từ lòng tin đó họ tự răn dạy bản thân, con cháu, tự an ủi trong những lúc khó khăn… Cũng từ đó, người xưa tin vào thế giới Trời, Phật, Thần, Tiên Thế giới Trời, Phật, Thần, Tiên với những phép lạ nhiệm màu có thể giúp cho con người thực hiện công lý, trừng trị những kẻ bạc ác, đem đến hạnh phúc cho người bất hạnh

1.2.2.2 Cơ sở tư tưởng của Nho – Phật – Đạo

Các tư tưởng Nho – Phật – Đạo đã thâm nhập sâu sắc vào tâm hồn của người dân đất Việt bởi ba đạo này du nhập vào nước ta rất sớm và cùng tồn tại “hòa thuận” trên đất nước ta Do đó, chính các tư tưởng của ba đạo này đã góp phần làm phong phú thế giới tâm linh trong văn hóa Việt

và trong tư tưởng của nhân dân

Trang 37

Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo… đều là những tôn giáo ngoại sinh sớm du nhập vào Việt Nam và có ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống tinh thần của người Việt Bên cạnh tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, sùng bái con người, tục thờ Mẫu, thờ Thần, tục thờ cúng ông bà… chúng ta không thể bỏ quên những tư tưởng và ảnh hưởng của các tôn giáo ngoại sinh Ngay trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, văn học dân gian đã có những bằng chứng cho thấy nét văn hóa đạo đức, truyền thống của người Việt đó là sự bình đẳng trước mọi tôn giáo và khả năng tiếp thu, chuyển hóa các tôn giáo ngoại sinh cho hòa hợp với tín ngưỡng bản địa Trong đó, tam giáo Nho – Phật – Đạo có một ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống tinh thần của con người Việt Nam

Xuất phát từ một đất nước theo nền văn minh nông nghiệp, con người Việt Nam luôn có tư tưởng sống ôn hòa, gần gũi với thiên nhiên; tâm lý luôn được sống trong sự che chở, phù trợ của đấng thiêng liêng nào đó để được vững vàng trong tinh thần… Cũng vì vậy, các tư tưởng Nho – Phật – Đạo khi vào Việt Nam đã được người Việt Nam tiếp nhận khá nhanh và có rất nhiều người xem tư tưởng của các tôn giáo là phương châm để tự điều chỉnh cách sống và ứng xử của mình Phật giáo được truyền bá đến Việt Nam từ đầu công nguyên Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộng khắp và có ảnh hưởng rất sâu rộng trong

nhân dân Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy đã nhận định: “Từ hơn hai nghìn năm nay, người Việt

với tính chất là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm, lại sớm bị xâm lược thống trị, nên đời sống có tinh thần ghét áp bức bất công, yêu chuộng hòa bình bác ái, trọng nhân nghĩa Phật giáo với tính chất bình đẳng bác ái, nêu cao cứu khổ cứu nạn cho con người, nên đã được người Việt Nam sớm tiếp thu một cách sâu rộng” [27, tr.210]

Có thể nói trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam đều chứa đựng ít nhiều triết lý nhà Phật, về hình ảnh ngôi chùa, tiên, bụt, về kiếp luân hồi, nhân quả, về thờ cúng tổ tiên… Phật giáo giáo dục con người lòng từ bi, hỷ xả, đề cao cái tâm, cái đức của con người, điều này đã tạo nên truyền thống đạo đức tốt đẹp trong truyền thống văn hóa của người Việt

Sự sống của con người theo quan điểm của Phật giáo chỉ là cõi tạm “trăm năm như quán

trọ” Mọi người cho rằng đã phàm là con người thì ai cũng có hỷ – nộ – ái – ố – tham – sân – si nên

luân hồi, nghiệp báo luôn theo đuổi trong mỗi kiếp người Tư tưởng của Phật giáo cho rằng nếu ở kiếp này ta làm điều lành, điều tốt thì sẽ có nghiệp tốt, báo ứng điều lành điều tốt cho kiếp sau Ngược lại nếu ở kiếp này ta làm điều ác, điều xấu thì sẽ có nghiệp xấu, báo ứng xấu cho kiếp tiếp theo Chúng ta có thể nhận thấy tư tưởng luân hồi, nghiệp báo rất có giá trị trong giáo dục đạo đức

ngày nay khi chúng ta đang ở trong nền kinh tế thị trường Người Việt Nam cho rằng “cha làm con

Trang 38

chịu”, “đời cha ăn mặn đời con khát nước” hay “quả báo nhãn tiền”, nên có tác dụng răn dạy con

người không làm điều ác, sống phải để đức cho đời sau, làm việc thiện để tích đức cho con cháu

Phật giáo Việt Nam coi trọng “cái tâm”, “cái đức” nên phù hợp với giá trị đạo đức truyền

thống của văn hóa dân tộc Việt Nam ta Và Phật giáo cũng là cơ sở để thế giới tâm linh của người Việt Nam tồn tại và phát triển

Ở Việt Nam, Nho giáo có lịch sử phát triển lâu dài Nho giáo vào Việt Nam, trước hết là vì mục đích xâm lược, mục đích thống trị của phong kiến phương Bắc Mặt khác, Nho giáo thích hợp với nhu cầu của xã hội phong kiến Việt Nam trong công việc tổ chức và quản lý Nhà nước Do đó, truyền thống văn hóa Nho gia vẫn còn lưu giữ đậm nét trong văn hóa của người Việt Trong cuộc

sống hiện thực, bên ngoài nó là quy phạm lễ nghĩa, bên trong là đức tính nhân ái và trật tự “luân

thường”, cùng kết cấu một trật tự đẳng cấp khác nhau suy từ mình đến người, có sức duy trì quan hệ

tam cương (vua – tôi, cha – con, chồng – vợ), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) và sự nương nhờ

nhau của con người trong xã hội nông nghiệp Người Việt yêu thích tình cảm tự nhiên và chú trọng, sùng kính: trọng hiếu, quý hòa, bổn phận, phụng thờ trên, thịnh hành nguyên tắc danh phận… Và phía sau tất cả lại chứa đựng nhiều màu sắc thiết thực nghĩa tình, nương tựa nhau… Tất cả những điều này chủ yếu ảnh hưởng từ các phạm trù lễ giáo của Nho gia: hiếu, lễ, nhân, nghĩa… Chính vì vậy, Nho gia đã trở thành một phần truyền thống văn hóa Việt, có ảnh hưởng đậm nét trong đời sống tinh thần người Việt Theo Nho giáo, mọi việc đều do ý trời Họa hay phúc, may hay rủi, vui hay buồn, giàu hay nghèo… tất cả đều do thiên mệnh tiền định

Để tư tưởng nhân nghĩa, hiếu, lễ, trí, tín… của Nho gia được tròn vẹn thì phải có các yếu tố tâm linh như sự trợ giúp của Trời Phật, Thần Tiên, phải có sự hỗ trợ của phép thuật nhiệm màu, con người phải có niềm tin vào duyên số, phải tin rằng chết đi vẫn chưa hết vẫn còn linh hồn tồn tại và

có thể tái sinh từ cõi chết trở về Cũng chính vì vậy mà thế giới tâm linh như giấc mơ, lời thề, hồn

ma, hóa kiếp, phép thuật khá phổ biến trong suy nghĩ, trong tinh thần của người Việt

Bên cạnh Phật giáo, Nho giáo, chúng ta có thể nói Đạo giáo khi vào Việt Nam đã sớm tìm được chỗ đứng do tư tưởng của Đạo giáo tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu của người Việt Nam Bởi người Việt Nam từ xa xưa rất sùng bái ma thuật, phù phép… Đạo giáo, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền đến mức hầu như không còn ranh giới Người Việt tin vào những phép thuật, những quyền lực siêu nhiên Thế giới tâm linh của người vô cùng bí ẩn với những niềm tin tôn giáo mãnh liệt: người chết có thể giao tiếp với người sống, linh hồn người đã chết cần phải được cầu cúng, lập đàn tràng để giải oan, có những phép thuật linh nghiệm có thể cứu giúp con người… Đạo giáo nguyên thủy với tư cách là một triết lý sống đã được người Việt trộn lẫn với tín ngưỡng bản địa của

Trang 39

mình để hình thành quan niệm Đạo phù thủy với những bùa chú và phép thuật mà đến nay rất nhiều người Việt vẫn còn tin tưởng Từ vị trí là một thành tố ngoại lai, Đạo giáo đã hội nhập một cách tự nhiên với đời sống văn hóa của người Việt Do đó, đạo giáo cũng là cơ sở quan trọng thể hiện thế giới tâm linh của người Việt Các phép thuật, bói toán, tướng số… của Đạo giáo đã ảnh hưởng và được thể hiện khá phổ biến trong tư tưởng của nhân dân

Như vậy, các tư tưởng của ba đạo Nho – Phật – Đạo đã góp phần làm phong phú thế giới tâm linh người Việt Nam chúng ta Do đó, tư tưởng của Nho – Phật – Đạo cũng là một trong những cơ

sở hình thành yếu tố tâm linh quan trọng đối với con người Việt Nam trên tinh thần tiếp thu, chọn lọc phù hợp với tâm lý, tinh thần của người Việt

Như vậy, từ cơ sở văn hóa Việt với triết lý âm dương, từ tín ngưỡng dân gian cùng với tư tưởng tôn giáo Nho – Phật – Đạo đã hình thành thế giới tâm linh trong văn hóa Việt Đây cũng là cơ

sở, nền tảng cho sự phát sinh, tồn tại của thế giới tâm linh trong văn học Việt Nam qua các thời kỳ Ngoài sự kế thừa của văn hóa tâm linh trong văn học và tín ngưỡng dân gian, Truyện thơ Nôm còn ảnh hưởng và chi phối bởi tinh thần, tư tưởng khá lớn của văn hóa ngoại sinh qua tín ngưỡng tôn giáo Nho – Phật – Đạo Cả văn xuôi và Truyện thơ Nôm của văn học Trung đại đều mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng dân gian qua phong tục thờ cúng, qua niềm tin vào thế giới linh thiêng Bên cạnh đó, những tư tưởng của tôn giáo Nho – Phật – Đạo chi phối rất rõ trong đời sống tinh thần của người Việt Nam Với tư tưởng của Nho giáo, con người tin tưởng có trời, có thần nên hiện tượng thờ Cha trời, Mẹ đất, thờ Thành hoàng khá phổ biến So với Nho giáo thì Phật giáo có ảnh hưởng đối với đời sống nhân dân khá rõ Dù tiếp thu Phật giáo có sự chọn lọc nhưng tư tưởng Phật giáo thật sự có ảnh hưởng lớn đối với mọi người Nhiều người tin cuộc đời có luật nhân quả, cuộc sống theo vòng luân hồi, kiếp người có sự tiếp diễn… Tư tưởng của Đạo giáo đã làm cho con người tin tưởng vào thế giới thần linh Nên khi bị bệnh nhiều người cũng tin vào phép thuật, tà ma, cất nhà thì xem phong thủy; họ gởi gắm niềm tin vào thầy cúng, tin tưởng vào thuật xem tướng, bói toán, gieo quẻ… Tất cả những tư tưởng này được thể hiện thật sinh động trong Truyện thơ Nôm Và chúng ta có thể khẳng định ảnh hưởng của văn hóa ngoại sinh Nho – Phật – Đạo đối với văn học viết nói chung và Truyện thơ Nôm nói riêng sâu đậm hơn so với văn học dân gian Nếu ảnh hưởng của các tôn giáo Nho – Phật – Đạo tạo nên thế giới tâm linh khá phổ biến về mộng ảo, cầu cúng, khấn vái, điềm báo, linh ứng, phép thuật, tướng số, hồn ma, hóa kiếp trong văn xuôi Trung đại thì Truyện thơ Nôm ngoài những yếu tố tâm linh trên còn thể hiện niềm tin của con người vào thế giới Trời – Phật – Thần – Tiên, duyên kiếp, số mệnh, lời thề thật sâu sắc

Trong Truyện thơ Nôm sự chi phối của Nho giáo được thể hiện rất rõ qua những mối quan hệ của con người trong đời sống như vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, bè bạn với những phẩm chất

Trang 40

tốt đẹp trung, hiếu, tiết, nghĩa của con người Đó cũng là cơ sở giúp con người vượt qua những bế tắc khi gặp phải biến cố và giúp họ có thêm nghị lực trong đấu tranh để bảo vệ tình yêu, tình cảm vợ

chồng để sống tròn đạo nghĩa (Phạm Công – Cúc Hoa, Phảm Tải – Ngọc Hoa, Lý Công, Hoàng

Trừu, Truyện Chàng Chuối, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Phù Dung tân truyện, Lâm Tuyền Kỳ Ngộ, Lục Vân Tiên )

Nho giáo cho rằng mọi việc đều do ý trời: Họa – phúc, mai – rủi, vui – buồn, giàu – nghèo, sống – chết đều do thiên mệnh tiền định Muốn biết được nguồn gốc của tất cả các mặt đối lập trên thì Phật giáo, Đạo giáo lại là chỗ dựa tinh thần nhiều nhất và giúp con người lý giải những căn nguyên trong cuộc đời Những tư tưởng và tinh thần của Phật giáo là nơi trú ngụ, tồn tại cho niềm tin của con người trong xã hội lúc bấy giờ Vì thế, Phật giáo giúp cho con người củng cố niềm tin đối với cuộc đời Tấm qua nhiều lần hóa thân cuối cùng trở lại thành hoàng hậu xinh đẹp và sống hạnh phúc bên nhà vua, Thạch Sanh nên duyên cùng công chúa, Phạm Tải – Ngọc Hoa được sum họp, Chàng Chuối và Lý Dung được mãi sống bên nhau giúp con người tin rằng người hiền lành sẽ được phù trợ, sẽ được hạnh phúc, kẻ bạc ác gian tham sẽ bị trừng trị Sự quyết tâm tu luyện của Chúa Ba, sự chịu đựng oan ức của Thị Kính cho con người hiểu rằng sự nhẫn nhục, khổ đau, hy sinh của con người ở thế gian đều được Trời, Phật, Thần, Tiên thấu rõ và sẽ có sự can thiệp để đem đến kết thúc có hậu, hợp lẽ đời

Với ảnh hưởng của Phật giáo, Truyện thơ Nôm thể hiện sự phong phú trong trí tưởng tượng của con người Thế giới thiên đình là nơi thần tiên thoát tục, nơi đến cho những người sống hiền lương, nhân đức Còn thế giới âm phủ với nhiều chi tiết ghê sợ, con người bị trừng phạt sau khi chết

đã có tính giáo dục, răn đe khá cao Sự kỳ ảo qua lời khấn nguyện thành tâm của Chúa Ba đã cứu được ngục tù thoát khỏi cảnh khảo tra và thực sự mang đến cho âm phủ cảnh yên vui, hạnh phúc của thiên đường Cũng chính yếu tố kỳ ảo, sau khi trải qua nhiều oan ức trong cuộc đời, Thị Kính được tôn ngôi Phật và những người thân của Thị Kính, của Bà Chúa Ba cũng được nhập dòng tiên, cũng được lên thượng giới dể sống một cuộc đời mới Một cuộc đời thoát tục, yên bình, chấm dứt mọi khổ đau

Có thể nói chính những yếu tố tâm linh là cơ sở, là yếu tố “kỹ thuật” dể giúp Truyện thơ

Nôm đi đến kết thúc có hậu Dù tác giả xây dựng, tạo ra tình tiết phát triển rắc rối của câu chuyện đến đâu đi nữa nhưng cuối cùng người kể cũng phải dừng lại ở chỗ đẹp nhất, có hậu nhất thì mới thỏa mãn được tâm lý người đọc Bởi vì, triết lý ngàn đời của dân gian đã ăn sâu trong tiềm thức của con người: thiện phải thắng ác, chính phải thắng tà, hạnh phúc phải đến với người hiền, kẻ gian ác phải bị trừng phạt Yếu tố kỳ ảo, thần kỳ được kế thừa từ văn học dân gian, những kết thúc có hậu như trong truyện cổ tích nhưng thế giới tâm linh trong Truyện thơ Nôm đã làm cho truyện vừa có

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w