Đề tài về : Văn hóa và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
-THÁI THỊ PHƯƠNG THẢO
VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI MIỀN TRUNG
TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU
NHỮNG NĂM 80
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆN
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể
Thầy cô khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học và Công nghệ Sau
Đại học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Tôi cũng xin được cảm ơn Thư viện Quốc gia, Thư
viện Khoa học Xã hội, Thư viện trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu
quý giá
Xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp
đã khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2010
Người thực hiện luận văn
Thái Thị Phương Thảo
Trang 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ba mươi năm miệt mài trên con đường sáng tạo văn học, Nguyễn Minh Châu đã để lại
số lượng lớn những sáng tác vừa mang giá trị nhân văn cao cả vừa độc đáo về bút pháp thể hiện Đặc biệt, trong thời kì văn học đổi mới, với những tác phẩm không chỉ đánh dấu cho bước chuyển âm thầm mà quyết liệt trong quan niệm sáng tác mà còn đạt tới sự hoàn thiện
nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã được công luận trân trọng ghi nhận là “người mở đường
đầy tài hoa và tinh anh”(Nguyên Ngọc) Ông trở thành đại diện tiêu biểu cho phong trào đổi
mới văn học thời kì sau chiến tranh với những sáng tác gây chú ý, hấp dẫn người đọc
Tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 phản ánh rất nhiều nội dung, một trong những nội dung mà ông dồn nhiều tâm huyết là phản ánh văn hóa và con người miền Trung Vấn đề văn hóa và con người ở từng địa phương, từng vùng văn hoá đang là mũi nhọn nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội trong giai đoạn Đảng ta chủ trương xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Chính vì lẽ đó mà ở lĩnh vực văn chương, tìm hiểu
“Văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80” sẽ
góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn hoá và con người Việt Nam hiện nay Hơn thế nữa, qua việc nghiên cứu văn hóa và con người miền Trung trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu ở thời kì lịch sử đầy biến động của đất nước, giúp hiểu sâu hơn về tầm nhìn, tầm cảm, tầm nhận thức, lí giải cuộc sống, con người của nhà văn Những trang viết sâu sắc về lẽ đời, nặng lòng với vùng đất và con người quê hương của nhà văn đem lại cho người đọc sự khám phá đầy lí thú, một cách nhìn chân thực, sinh động, giúp soi tỏ một phương diện của đời sống hiện thực mà Nguyễn Minh Châu đã dồn tâm huyết và tài năng đóng góp cho văn học nước nhà những năm 80 thế kỷ XX
Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu được đưa vào chương trình giảng dạy văn học ở lớp 12 phổ thông trung học Vì vậy, đề tài ngoài việc tìm hiểu những nét nổi bật thể hiện văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80, còn có tác dụng đào sâu
để nâng cao chất lượng giáo án khi giảng dạy tác phẩm của nhà văn ở trường trung học phổ thông
Những điểm đã nói trên đây, chính là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Văn hoá và con
người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80” làm luận văn thạc sĩ
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Nhận xét chung
Trang 4Nguyễn Minh Châu là một trong số ít nhà văn mà sự nghiệp sáng tác phản ánh tương đối trung thành quá trình vận động, phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại Ông cũng
là một trong số không nhiều những tác giả đương đại mà mỗi sáng tác ra đời thường được bạn đọc chú ý và có sức hấp dẫn với các cây bút phê bình Theo trình tự thời gian, cùng với
sự già giặn và tinh tế của ngòi bút tác giả, số bài viết về con người và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu cũng ngày một phong phú, đa diện, sâu sắc Khảo sát trên cơ sở các tư liệu nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu từ trước tới nay, chúng tôi thấy rằng Nguyễn Minh Châu
là một nhà văn được tiếp cận khá kĩ lưỡng: Ở góc độ tác giả, đó là một nhà văn có tư chất nghệ sĩ, có trách nhiệm với ngòi bút, luôn khao khát đổi mới tư duy nghệ thuật; Ở góc độ tác phẩm, đó là những sáng tác ghi đậm tài năng và tâm huyết của nhà văn, đặc biệt càng những sáng tác về sau càng gây được sức hấp dẫn đối với công chúng độc giả và giới phê bình Để thấy được sự diễn tiến của ngòi bút tác giả qua sự tiếp nhận của công chúng độc giả và giới phê bình, chúng tôi tạm chia thành các mốc sau:
2.1.1 Thời kỳ ban đầu từ Cửa sông (1967) đến Dấu chân người lính (1972) có hơn 17 bài
phê bình đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương (theo Tôn Phương Lan) Mặc
dù thời kì này Nguyễn Minh Châu chưa thực sự là một gương mặt nổi bật, có sức hấp dẫn lớn đối với giới phê bình nhưng số lượng đáng kể các bài phê bình ít nhiều cho thấy đã có một gương mặt nhà văn Nguyễn Minh Châu khá ấn tượng trong đời sống văn học bấy giờ
Đánh giá về ngòi bút Nguyễn Minh Châu trong tiểu thuyết đầu tay Cửa sông, nhà nghiên cứu Phong Lê nhận xét: “Nguyễn Minh Châu tỏ ra có khả năng khái quát hoá cuộc sống
anh biết chọn lựa những tình huống, những hoàn cảnh điển hình để có thể qua việc miêu tả hình ảnh cuộc sống ở một nơi mà cho ta hiểu nhiều nơi Anh biết thu gọn những vấn đề lớn của xã hội vào trong khuôn khổ câu chuyện” [59, tr.122-123] Nguyễn Đăng Mạnh – Trần
Hữu Tá khẳng định “hướng đi và triển vọng của Nguyễn Minh Châu” “nói chung là chắc
chắn” [59, tr.125] Song Thành nhận ra dấu hiệu về “những suy nghĩ và trăn trở trong ngòi bút” [59, tr.130] Nguyễn Minh Châu thời kỳ này
Nhìn chung, các ý kiến phê bình thời kì này dù chưa có sự đánh giá cao tài năng Nguyễn Minh Châu nhưng đều thống nhất ở sự khẳng định một cây bút có tiềm năng, có tâm huyết, đã ghi
được dấu ấn đáng kể trong đời sống văn học bấy giờ, đang “tiến những bước vững chắc và hứa
hẹn” (Phan Cự Đệ) [59, tr.137]
2.1.2 Thời kì từ 1975 đến 1985, với sự trăn trở và mạnh dạn trong đổi mới tư duy nghệ thuật,
sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã trở thành một hiện tượng văn học được dư luận đặc biệt chú
Trang 5ý với những ý kiến đa chiều Xung quanh những tác phẩm truyện ngắn như Bức tranh (1976),
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1982), Khách ở quê ra (1984)…đã có hẳn một cuộc
trao đổi về “Truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” do tuần báo Văn nghệ tổ
chức vào tháng 6 – 1985 Đánh giá về “ hiện tượng Nguyễn Minh Châu” thời kì này, cuộc trao đổi đã nổi lên hai luồng ý kiến: một bên tỏ ra nghi ngại, dè dặt về hướng tìm tòi đổi mới của ông; một bên khác lại khẳng định sự tìm tòi của Nguyễn Minh Châu và xem những tìm tòi đó là cần thiết và có hiệu quả tích cực
Ở luồng ý kiến thứ nhất, một số nhà nghiên cứu cho rằng sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn
Minh Châu đã được đẩy theo “một hướng có vẻ phức tạp hơn nhưng chưa chắc đã là sâu sắc
hơn” (Bùi Hiển) Cũng chính vì thế đã có không ít những “băn khoăn”, những hoài nghi về
“những con người lạ lẫm quá” (Đào Vũ), “những nhân vật dị thường” (Nguyễn Kiên) trên trang viết của anh “Một số nhân vật được xây dựng có tính chất khiên cưỡng”, “độc đáo nhưng hơi
cá biệt”, “cảm hứng của tác giả hơi gán ghép” (Phan Cự Đệ) Có ý kiến lại cho rằng nhà văn
đã “thiếu đi cái nhìn đẹp đẽ, hợp lí”, “không ít khi rơi vào tự nhiên chủ nghĩa”…(Triều Dương)
Đáng nói là, ngay trong các ý kiến xem ra còn nghi ngại và dè dặt này, hầu như ai cũng đều thừa
nhận nét mới của ông không chỉ so với mọi người mà còn so với chính ông trong thời kì trước
đó
Luồng ý kiến thứ hai đã đánh giá cao sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh Châu Lê
Lựu ngoài sự khẳng định khả năng “nhìn đâu cũng ra truyện ngắn”, còn thấy ở Nguyễn Minh Châu điều đáng kể “anh là một trong những nhà văn duy trì sự tìm tòi, góp phần làm cho văn
học không nhạt, giúp cho văn học có cái để bàn” Đặc biệt, Lê Lựu khẳng định Nguyễn Minh
Châu đã “thành công” trong “những thể nghiệm” của mình Phong Lê nhìn ra “cái đa giọng
điệu, cái đa thanh của cuộc đời đã vào tác phẩm” và do nhận thức “cái quyết định không phải
là đề tài” nên “Nguyễn Minh Châu đã dần dần tạo ra thế giới nghệ thuật của riêng mình” Với
“đối tượng mới”, văn phong Nguyễn Minh Châu như “hoạt” hẳn lên, “tỏ rõ thêm một khía cạnh trong tài năng của mình”, một sự “thật sự hết mình trong lao động nghệ thuật” (Lê
Thành Nghị)
Có thể nói những ý kiến trên đây là tương đối tập trung, tiêu biểu cho thái độ và cách đánh giá khác nhau buổi đầu đối với sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh Châu
2.1.3 Từ sau cuộc thảo luận, tin vào tấm lòng của chính mình, trung thành với con đường đã
chọn, Nguyễn Minh Châu vẫn tiếp tục gửi tới cuộc đời những thông điệp mới, những tác phẩm
đã đạt tới độ chín về nghệ thuật, có sức cảm thông sâu sắc và sự hiểu biết tinh tế về con người,
Trang 6cuộc đời Xu hướng đổi mới văn học trong thập kỉ 80 cùng giá trị đích thực của các tác phẩm khiến dư luận dần đi tới một đánh giá thống nhất: coi những sáng tác của Nguyễn Minh Châu
là bước khởi đầu của thời kì đổi mới, đồng thời khẳng định vị trí tiên phong của nhà văn Trần
Đình Sử xác định: “cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đã mang lại những đề tài và
chủ đề mới, có ý nghĩa bức thiết đối với đời sống hiện nay” [59, tr.212] “Thành công của ông trong những năm gần đây là sự gặp gỡ kì diệu giữa thời đại và cảm quan nghệ thuật nhạy bén của nghệ sĩ với những tìm kiếm chân lí kiên trì, những suy ngẫm trăn trở đầy trách nhiệm của một nhà văn tài năng và tâm huyết” (Lã Nguyên) [59, tr.288]
2.1.4 Từ 1992 cho đến nay, nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Minh Châu ngày càng
phong phú, đa diện, sâu sắc Những ý kiến phê bình, luận văn, luận án đã tiếp cận khá kĩ lưỡng trên nhiều bình diện về tác giả cũng như tác phẩm,có thể kể tới những công trình tiêu biểu như việc phân tích tác phẩm bằng việc giải mã các hình tượng ám ảnh ngay trong văn bản tác phẩm của ông (Đỗ Đức Hiểu, Chu Văn Sơn), tìm hiểu cấu trúc và tình huống của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Bùi Việt Thắng), tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan), Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học sau 1975 (Trịnh Thu Tuyết – Nguyễn Văn Long)…
Nhìn chung, Nguyễn Minh Châu đã được xem xét khá kĩ lưỡng ở từng tác phẩm cụ thể,
ở từng giai đoạn sáng tác, ở chân dung con người và cả ở khu vực phê bình tiểu luận Cũng như mọi nhà văn lớn, lịch sử sáng tác của ông sẽ còn ngắn hơn nhiều lịch sử quá trình nghiên cứu về ông
2.2 Những ý kiến bàn về văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu
Trong cái trăn trở đầy trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu đã dành tình cảm sâu nặng đối với quê hương mảnh đất miền Trung – nơi ông đã sinh ra và lớn lên Tác phẩm đầu tiên ông
viết về những con người Cửa sông quê hương, tác phẩm cuối cùng - Phiên chợ Giát – ông
cũng dành phần lớn công sức và tâm huyết để khám phá thể hiện con người miền Trung Ngay từ những năm 70, theo dõi bước đi ban đầu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên
đã tinh tế nhận ra “vùng khám phá” trong sáng tác truyện của ông: “anh đặc biệt rung động
trước những số phận gắn bó với mảnh đất miền Trung khắc khổ, thi vị, anh hùng Ở đây có những kỉ niệm quê hương của bản thân anh Anh tựa vào đó, tựa vào cái thân thiết riêng tư của
Trang 7số phận từng người để nâng lên thành mối quan hệ giữa chiến sĩ, quân đội với nhân dân và đất nước” [59, tr.124] Có thể nói đó là một nhận xét hết sức tinh tế, đã nắm được cái hồn, cái cốt
trong sự trăn trở của Nguyễn Minh Châu ngay từ những ngày đầu
Năm 1982, khi viết lời tựa cho tiểu thuyết Miền cháy được dịch và in ở Liên Xô, Nguyễn Đình Thi đã phân tích kĩ lưỡng vùng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: “cái
giải đất nơi chính khúc giữa nước Việt Nam! Cái vùng đất từ bao đời con người đánh vật với cát sỏi, gió bão mà dành lấy từng tấc đất trồng trọt, cái nơi “chó ăn đá, gà ăn sỏi” ấy!- những con người ở đây gan góc, bền bỉ thông minh dưới cái bề ngoài lam lũ, nghèo nàn…Trong cuốn tiểu thuyết Miền cháy, Nguyễn Minh Châu đã viết về tất cả những chuyện ấy” [47, tr.105] Rõ ràng, sự khái quát của Nguyễn Đình Thi về cuốn tiểu thuyết đã định
hướng dòng nhận thức của người đọc, người ta nhận ra sự tiếp nối cũng như nét riêng không thể lẫn trong ngòi bút Nguyễn Minh Châu ở cuốn tiểu thuyết này nói riêng và trong sáng tác của ông nói chung: đó là sự say sưa, trân trọng viết về vùng đất và những con người quê hương
Năm 1989, trong “Những ngày cuối cùng gặp Nguyễn Minh Châu”, GS.Nguyễn Đăng Mạnh trong dòng cảm xúc chân thành của mình đã bày tỏ: “tôi rất thích Cửa sông
Thích hơn Dấu chân người lính Không hiểu sao tôi cứ bị ám ảnh mãi bởi hình ảnh những người nông dân vùng biển Nghệ Tĩnh của anh Những con người chất phác, cục mịch, lực lưỡng như mọc lên từ sỏi đá, rồi nhờ sóng gió, bão táp mà luyện thành xương sắt da đồng Những con người như thuộc vào thế giới hoang sơ nào” [59, tr.94] Trong bài viết này, hình
ảnh những con người miền Trung, đặc biệt là người nông dân đã được GS ghi nhận như một điểm nhấn đặc sắc trên trang viết Nguyễn Minh Châu Có thể xem đây là tài liệu có sức khái quát khá cao về con người miền Trung, đủ thấy sự đánh giá trân trọng của GS dành cho Nguyễn Minh Châu cũng như cho những nhân vật trên trang viết của ông
Năm 1990, Nguyễn Trung Thu trong bài viết “Nguyễn Minh Châu với mảnh đất và
con người Quảng Trị” đã có sự tổng kết khái quát về sự gắn bó của Nguyễn Minh Châu đối
với vùng đất vốn được mệnh danh là “cái rốn” của chiến tranh, ôm chứa biết bao đau thương,
mất mát này: “Anh Nguyễn Minh Châu để lại bảy cuốn tiểu thuyết thì bốn cuốn anh viết về con
người và mảnh đất Quảng Trị: Dấu chân người lính, Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra, Mảnh đất tình yêu Truyện vừa Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành cùng rất nhiều truyện ngắn đặc sắc khác, và gần nhất là truyện vừa Cỏ lau – thiên truyện vào loại hay nhất của Nguyễn Minh Châu hoàn thành trước khi anh lâm bệnh vài tháng, đều là chuyện về
Trang 8con người và về vùng đất này” [59, tr.84] Cũng trong bài viết này, trên cơ sở sự thâu tóm khái
quát về vùng đất và con người Quảng Trị được Nguyễn Minh Châu thể hiện trong một loạt tác
phẩm, Nguyễn Trung Thu đã có sự đánh giá xác đáng: “Thực là rất rõ anh Nguyễn Minh Châu
muốn mượn mảnh đất nhọc nhằn của miền Trung ấy, mảnh đất mà nhà thơ Chế Lan Viên đã ngùi ngùi nói về quê hương mình:
Nơi những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ Những đồi sim không đủ quả nuôi người Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng
để thể hiện những vấn đề da diết nhất của số phận dân tộc mình” [59, tr.87]
Năm 1995, nhân “Kỉ yếu hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu” do hội văn nghệ Nghệ An tổ chức, Nguyễn Tường Lân đã đi tìm “cốt cách xứ Nghệ quê hương” trong
con người và trên trang viết Nguyễn Minh Châu Điều đặc biệt được tác giả chỉ rõ, cái cốt
cách ấy không chỉ thấm đẫm sắc nét trên những trang viết về quê hương mà “ngay những tác
phẩm anh viết về những vùng trời khác, những miền đất khác, cái tâm hồn và cốt cách xứ Nghệ của người viết vẫn lồ lộ in đậm lên mỗi trang văn” [47, tr.497] Đây là một nhận xét rất
đáng quý để khi khai triển đề tài, chúng tôi không chỉ chú trọng những tác phẩm viết về miền Trung mà còn phải luôn đặt vấn đề nghiên cứu trong hệ thống là toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Năm 2004, TS.Nguyễn Văn Kha trong bài viết “Con người miền Trung trong sáng
tác của Nguyễn Minh Châu” trên cơ sở sự phân tích khá kĩ lưỡng và thấu đáo đã đưa ra
những nhận xét tiêu biểu về con người miền Trung trên trang viết Nguyễn Minh Châu ở ba
phương diện:1 Cái nhìn sâu rộng có tính lịch sử về con người và xứ sở mảnh đất miền
Trung 2 Viết về con người miền Trung, Nguyễn Minh Châu tập trung chú ý vào thân phận con người và tính cách nhân vật 3 Khám phá và phát hiện phẩm chất con người là cảm hứng chủ đạo trong những trang viết về con người miền Trung Những đóng góp của Nguyễn Minh Châu cho vùng đất quê hương nói riêng, cho dân tộc nói chung được tác giả
khẳng định đầy trân trọng: “Mảng truyện viết về xứ sở và con người miền Trung của Nguyễn
Minh Châu là bài ca về đất nước, về năng lực người Cùng với thời gian, mảng truyện này góp phần khẳng định tư tưởng nhân văn của Nguyễn Minh Châu chứng tỏ sự lịch lãm, am hiểu sâu sắc về cuộc sống và con người Việt Nam” [54, tr.86] Đây có thể xem là những định
hướng quan trọng trong quá trình khai triển đề tài của chúng tôi
Trang 9Nhìn chung, những ý kiến của các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá về tư tưởng, nghệ thuật, về tài năng, phong cách …của Nguyễn Minh Châu có thể nói khá phong phú, đa dạng
và sâu sắc Tuy nhiên, những ý kiến liên quan đến vấn đề “văn hoá và con người miền
Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80” lại không nhiều Dù vậy, những
tài liệu đã tiếp cận ít nhiều cũng chạm đến những vấn đề mà luận văn đặt ra Chúng tôi xin ghi nhận tất cả những ý kiến trên và xem đó là những gợi ý quý báu để nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về đề tài luận văn
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Từ hướng tiếp cận văn hóa, luận văn nghiên cứu một phương diện được phản ánh trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là văn hoá và con người miền Trung Khái niệm
“miền Trung” trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu được giới hạn trong phạm vi vùng đất xứ Nghệ – mảnh đất quê hương của nhà văn, và vùng đất Quảng Trị – mảnh đất Nguyễn Minh Châu đã dồn nhiều tâm huyết và trăn trở trong sự nghiệp sáng tác của mình
Do tính chất và phạm vi của đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châu, bao gồm truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết sáng tác những năm 80 (của thế kỉ XX) Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nội dung của
đề tài, để vấn đề có hệ thống, chúng tôi cũng mở rộng sang các sáng tác thời kì trước những năm 80; bên cạnh đó các bút ký, tiểu luận của nhà văn cũng sẽ được tham khảo để thấy rõ hơn vấn đề trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cách tiếp cận văn hóa học được vận dụng như cách tiếp cận chính để giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài Từ góc độ văn hóa, lấy tiêu chí văn hóa để phân chia và soi sáng các giá trị văn học Từ cách tiếp cận này chúng tôi nhận thức được các vấn đề sau:
Đúng như nhận định của M.Bakhtin: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của
văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa” [7, tr.361]
Tìm hiểu văn hóa và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80
ta thấy được mối quan hệ nội tại của văn học và văn hóa Văn học vừa là một thành tố quan trọng của văn hóa vừa tác động đến sự phát triển của văn hóa dân tộc Với tư cách chủ thể tiếp nhận văn hóa đồng thời là chủ thể sáng tạo, nhà văn chính là người lưu giữ qua văn
Trang 10chương mình những đặc trưng của văn hóa dân tộc, đối với Nguyễn Minh Châu còn là văn hóa vùng miền Người nghiên cứu, người đọc muốn tìm hiểu văn hóa và con người miền Trung sẽ đọc Nguyễn Minh Châu, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân; cũng như muốn biết văn hóa Nam Bộ phải đọc Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc; muốn thưởng thức văn hóa ẩm thực miền Bắc phải đọc Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam…Thể hiện bằng hình tượng và thông qua hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, những nét riêng của văn hóa được người đọc cảm nhận sống động, tươi nguyên và cụ thể hơn Ngược lại, tiếp cận cuộc sống từ góc nhìn lịch sử văn hóa, nhà văn cũng đem đến những cách nhìn nhận mới mẻ về hiện thực
Dĩ nhiên không thể đánh giá văn học bằng các tiêu chí và nội dung của văn hóa nhưng xét văn học từ góc độ này sẽ nhận ra thêm những giá trị rộng hơn và bền vững hơn của nghệ thuật ngôn từ
4.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử cũng là phương pháp được vận dụng cùng với hướng tiếp cận văn hóa học Yếu tố văn hóa giúp nhà văn miêu tả và lý giải, hay nói cách khác, tầm văn hóa giúp nhà văn thể hiện về lối sống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, v.v…của cá nhân, của một cộng đồng thì lịch sử cũng chi phối đời sống của cá nhân, của cộng đồng và điều này cần được nhận thức, thể hiện Hiểu như thế thì văn hóa và con người
là sản phẩm của lịch sử Môi trường chiến tranh chuyển sang hòa bình, biến động về kinh tế, phong trào xã hội qua các thời kỳ, qua lăng kính của nhà văn đều để lại dấu ấn trong tác phẩm và nhân vật Vì vậy khi tiến hành khảo sát văn hóa và con người miền Trung trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu không thể không vận dụng quan điểm lịch
sử để xem xét
4.3 Phương pháp nghiên cứu loại hình, kiến thức về thi pháp học được vận dụng để
mổ xẻ, phân tích tác phẩm gắn với chiều sâu nhận thức về con người của tác giả; soi sáng thêm những đặc điểm về văn hóa và con người miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu gắn với đặc trưng thể loại tiểu thuyết
4.4 Phối hợp giữa các phương pháp có tính công cụ, phát huy tối đa tác dụng của chúng trong quá trình nghiên cứu để làm nổi bật vấn đề, cụ thể là:
4.4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được dùng để làm sáng tỏ các vấn đề văn
hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80, đi đến kết luận tính đặc trưng miền Trung trong hệ thống chỉnh thể văn hoá Việt Nam được Nguyễn Minh Châu thể hiện bằng tư duy nghệ thuật trong sáng tác của mình
Trang 114.4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu: phương pháp này được dùng để so sánh sáng
tác của Nguyễn Minh Châu với sáng tác của một số nhà văn theo hướng đồng đại cũng như lịch đại, nhất là với các nhà văn cùng viết về văn hóa và con người miền Trung như Nguyễn Minh Châu
4.4.3 Phương pháp hệ thống: người viết khảo sát các sáng tác truyện của Nguyễn
Minh Châu về văn hóa và con người miền Trung, đặc biệt những sáng tác ra đời vào những năm 80, trên tinh thần kết hợp các yếu tố tương đồng về đặc trưng văn hoá và con người miền Trung từ đó rút ra nhận định, đánh giá khái quát
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lí luận:
Luận văn góp phần khẳng định hiệu quả của hướng nghiên cứu: tiếp cận, tìm hiểu, đánh giá văn học từ các giá trị văn hóa, trong mối liên hệ với văn hóa
- Về mặt thực tiễn:
+ Tìm hiểu văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu sẽ thấy
rõ tài năng của Nguyễn Minh Châu, bằng tác phẩm văn học, ông đã góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu bản sắc văn hoá và con người của vùng đất nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt” này
+ Thấy được “dấu ấn riêng” của Nguyễn Minh Châu: bằng hình tượng nghệ thuật, nhà văn đã thể hiện văn hoá và con người miền Trung một cách sinh động và độc đáo
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Luận văn gồm các phần sau đây:
MỞ ĐẦU
Chương 1: Văn hóa miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu
Chương 2: Con người miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện văn hóa và con người miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12CHƯƠNG I:
VĂN HOÁ MIỀN TRUNG TRONG TRUYỆN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài người
Văn hoá là một khái niệm rất rộng Nói như Từ Chi: “Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều là
văn hoá” (dẫn theo 110, tr.23) Trong tiếng Việt, văn hoá được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ
học thức, lối sống hoặc theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn,…Trong khi đó, theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động,…Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu theo nghĩa rộng này, trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau Năm 1952, hai nhà nghiên cứu văn hoá người Mĩ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hoá Cho đến nay, số
lượng các định nghĩa về văn hoá đã vượt qua con số 400 Đúng như F.Mayor đã nói: “Ai nấy đều biết
rất khó định nghĩa văn hoá, có lẽ vì văn hoá định nghĩa chúng ta nhiều hơn là chúng ta định nghĩa văn hoá” [dẫn theo 68, tr.35]
Trong phạm vi của luận văn, để làm công cụ cho việc triển khai vấn đề, chúng tôi đồng ý với
cách hiểu về văn hoá theo định nghĩa của PGS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [93, tr.10]
Trong định nghĩa về văn hóa, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến quan niệm giá trị của chủ thể văn hóa Nhìn từ góc độ văn hóa, con người là giá trị cao nhất của đời sống Con người với tư cách là một thực thể của văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ căn bản: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình Trong tiến trình phát triển, con người không ngừng tìm kiếm xác lập nguyên tắc cho các ứng xử với ba mối quan hệ này Sáng tạo của nhà văn nhìn từ góc độ văn hóa là sự lắng đọng của các tầng sâu văn hóa được nhà văn tìm cách thể hiện bằng tư duy nghệ thuật Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng, đọc tác phẩm theo quan điểm văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm
Mặt khác cũng phải thấy rằng, con người là thực thể văn hóa Tính cách con người (cá nhân, cộng đồng người) là sản phẩm của môi trường địa lý, hoàn cảnh lịch sử, gắn với hệ thống tôn giáo, đạo đức, gắn với phong tục, tập quán, ngôn ngữ , v.v…trong sinh hoạt cá nhân, cộng đồng Vì vậy, những nét bản sắc nằm trong hệ giá trị của văn hóa cộng đồng, dân
Trang 13tộc được biểu hiện trong đời sống cá nhân và cộng đồng người cụ thể Chính vì vậy, đi tìm hiểu văn hóa của từng vùng miền, những giá trị con người gắn với từng vùng văn hóa làm phong phú, đa dạng hệ giá trị của văn hóa cộng đồng, dân tộc
Theo cách hiểu này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu văn hóa và con người miền Trung qua sáng tạo nghệ thuật trong truyện của nhà văn Nguyễn Minh Châu là để làm sáng tỏ thêm những giá trị văn hóa và con người miền Trung Qua đó, khẳng định sức sống, sự phong phú của văn hóa Việt Nam từ con người của vùng đất thân yêu của Tổ quốc: con người miền Trung
1.2 Vài nét về vùng văn hoá miền Trung
1.2.1 Vùng văn hoá miền Trung
Vùng văn hoá là một khái niệm dùng để chỉ một vùng lãnh thổ, trên đó các cộng đồng
cư dân có những nét tương đồng về văn hoá hình thành do những tương đồng về môi trường
tự nhiên cũng như về lịch sử - xã hội
Từ nhiều chục năm nay, các nhà nghiên cứu đã đi đến nhận thức ngày càng rõ rằng trên đất nước ta, trên cơ sở một nền văn hoá Việt Nam thống nhất quả thật có tồn tại những “vùng văn hoá” khác nhau, mỗi vùng mang những sắc thái riêng, được hình thành
do hoạt động của con người trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử riêng biệt lâu dài Vùng văn hoá miền Trung (hay còn gọi là Trung Bộ) là một vùng đất rộng lớn, có nhiều nét khác biệt về địa hình và lịch sử, bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Rang, Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay
Nói đến miền Trung người ta thường nhắc đến hình ảnh đất nước ta như một người gánh thóc, mà hai đầu là hai thúng thóc đầy, còn ở giữa là chiếc đòn gánh Miền Trung là chiếc đòn gánh oằn vai tảo tần một nắng hai sương của đất nước
Địa hình miền Trung hẹp theo chiều ngang Đông - Tây, nếu quay mặt về Đông thì trước mặt mỗi người dân Trung Bộ sẽ là biển Đông, sau lưng là dãy Trường Sơn Địa hình miền Trung chia cắt theo chiều dọc Bắc - Nam bởi các đèo là những dãy núi đồi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển Đây có thể xem như một điểm độc đáo về địa hình của miền
Trung, đúng như lời thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương “một đèo, một đèo, lại một đèo” Những tên
đèo như đèo Hoàng Mai, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, v.v…đã đi vào lịch sử, đi vào tâm hồn mỗi người dân đất Việt
Trang 14Suốt dải đất Trung Bộ, đường bờ biển Việt Nam “ưỡn cong”, “lồi” ra phía sau biển Đông, đối mặt với hướng gió bão và sóng thần Chính với đặc điểm này, miền Trung thường xuyên phải hứng chịu những trận bão lụt nặng nề Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vô Nam, Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài Bắc - Nam ghi dấu những đường biển cũ Ở giữa các dải cồn cát là một vùng trũng nổi, phân bố xóm làng và ruộng lúa ngày nay Chân cồn
là những bàu nước ngọt
Khí hậu miền Trung cực kì khắc nghiệt: gió Lào khô nóng, nắng thì chói gắt như đổ lửa…Ám ảnh bởi những cơn gió Tây khô rang, bỏng rát, nhà thơ Chế Lan Viên từng thốt lên chua xót:
Ôi gió Lào ơi, Ngươi đừng thổi nữa
Những đồi sim không đủ quả nuôi người
Trên trang thơ Hàn Mặc Tử, trong nguồn cảm xúc dạt dào, da diết của kẻ tha hương, nỗi nhớ quê được đong đầy bởi hình ảnh khó nhọc, lam lũ:
Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Có thể nói, địa hình và khí hậu miền Trung được xem như những dấu hiệu khu biệt miền Trung với các vùng miền khác
Về lịch sử, miền Trung cũng trải qua không ít thăng trầm Năm 1059, vùng Quảng Bình thuộc về nhà Lí Năm 1336, Châu Ô, Châu Lí (tức vùng Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay) thuộc về nhà Trần Năm 1470, vùng đất từ núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên) trở ra thuộc nhà Lê Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn phủ xứ Thuận Hoá Từ đó, sự nghiệp khai phá miền Trung được đẩy lên một bước mới Rồi 200 năm chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, miền Trung trở thành lãnh địa được các chúa Nguyễn tạo ra với ý thức đối kháng với Đàng Ngoài Kinh đô của vương triều này là vùng Phú Xuân Phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVIII làm lung lay chế độ phong kiến Năm
1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, đất nước được thống nhất trên cơ bản Năm
1802, dựa vào thế lực của phương Tây, Nguyễn Ánh chiến thắng vương triều Tây Sơn, cai quản một đất nước thống nhất Từ 1802 đến 1945, nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế Như vậy
là miền Trung đã có một thời ít nhất với ba vương triều: các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, có xứ Huế là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của cả nước Trải qua tiến trình lịch sử, miền Trung Bộ là trạm trung chuyển, đất đứng chân để người Việt tiến về phía Nam
Trang 15mở cõi, lại là vùng biên viễn của Đại Việt, nơi diễn ra sự giao lưu trực tiếp giữa người Việt
và người Chăm
Do Trung Bộ trong một thời kì dài là vùng đất của vương quốc Champa, nên đây là một vùng văn hoá chứa nhiều dấu tích văn hoá Champa Đó là các tháp Chàm như tháp Bình
An, tháp Khương Mĩ, các tháp ở khu di tích Mĩ Sơn, khu di tích Đồng Dương (Quảng Nam –
Đà Nẵng), tháp Bánh Ít, tháp Cánh Tiên ( Bình Định), tháp Hưng Thạnh (Qui Nhơn), tháp Nhạn (Phú Yên), tháp Pônagar (Khánh Hoà), cụm tháp Hoà Lai, cụm tháp Núi Trầu (Ninh Thuận), tháp Phú Hài (Bình Thuận)…Đó là các tượng Chàm như tượng bà Pônagar, các tượng Linga, Yoni, các phù điêu, các trụ đá, bia đá…Đó là các địa danh Việt mà gốc tích chắc hẳn là các địa danh Chăm như Cồn Ràng, Cồn Lồi, Cồn Mọi…
Truyền thống văn hoá của cư dân vương quốc Champa cổ vẫn còn tồn tại một cách sống động trong đời sống cư dân miền Trung Đó là những truyền thống văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước khai thác vùng đồng bằng ven biển và các thung lũng chân núi ở miền Trung Các yếu tố núi, đồng bằng và biển đều có mặt trong văn hoá Chăm Yếu tố đồng bằng thể hiện rõ trong các nghi lễ nông nghiệp như các nghi lễ gắn với chu kì sinh trưởng của cây lúa, các nghi lễ có liên quan đến hoạt động thuỷ lợi như lễ khai mương đắp đập, lễ chặn đầu nguồn nước Yếu tố núi hiện còn được thể hiện trong tục thờ cúng tổ tiên dòng Núi
là dòng cổ xưa nhất của người Chăm Yếu tố biển thể hiện trong truyền thống đánh bắt hải sản, trong tục thờ cúng tổ tiên theo dòng biển, trong tín ngưỡng thờ cá voi, thờ thần Biển, trong một số kiến trúc có motip hình thuyền Chất biển trong văn hoá Chăm ngày trước, văn hoá các vùng Trung bộ Việt Nam ngày nay rất mặn mòi, như chượp, mắm nêm, mắm ruốc, nước mắm, các loại đặc sản miền Trung
Khi người Việt đến sinh sống ở vùng đất này, họ đã tiếp nhận những di sản văn hoá Chăm và Việt hoá nhiều yếu tố văn hoá Chăm Một thí dụ tiêu biểu là hiện tượng chuyển hoá các nữ thần Chăm thành các nữ thần Việt, như nữ thần Mưjưc của người Chăm chuyển hoá thành Bà Chúa Ngọc Tục thờ cá voi (cá Ông) của người Việt ở vùng duyên hải kết hợp tín ngưỡng của người Việt với tín ngưỡng của người Chăm
Trong văn hoá của cư dân Việt ở vùng đất đồng bằng và ven biển Trung Bộ có những yếu tố nằm trong cội nguồn văn hoá Bắc Bộ, như tục thờ thần thành hoàng, những nghi lễ nông nghiệp như lễ động thổ, tục cúng thổ công, thổ địa…Nhưng cũng lại có những yếu tố văn hoá mới nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên và xã hội mới Như bên cạnh làng nông nghiệp có sự tồn tại đan xen các làng của ngư dân, bên cạnh lễ hội
Trang 16đình của làng nông nghiệp có lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông của các làng làm nghề đánh cá; như lễ cúng đất ở Khánh Hoà, lễ tá thổ ở Phú Yên mà đối tượng là các vị thần Đất của Champa xưa kia, phản ánh một khía cạnh tâm linh trong cách ứng xử của người Việt di cư đến lập nghiệp tại một vùng đất khách, quê người
Văn hoá miền Trung như đã trình bày là một vùng văn hoá vừa có tính thống nhất vừa có tính đa dạng Tính đa dạng khiến liền một dải “khúc ruột miền Trung” có thể được phân vùng thành vùng văn hóa đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế), vùng văn hóa duyên hải Trung Bộ (từ Quảng Nam đến Bình Thuận) [dẫn theo77, tr.352] Như ở phần giới hạn đề tài đã trình bày, khái niệm miền Trung trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu chủ yếu được giới hạn trong vùng văn hoá Bắc Trung Bộ với tâm điểm là văn hoá xứ Nghệ nên ở đây chúng tôi chú ý trình bày về vùng văn hoá xứ Nghệ
1.2.2 Văn hoá xứ Nghệ
Nằm trong tổng thể văn hoá miền Trung, xứ Nghệ hay còn gọi là Nghệ Tĩnh, vừa có dấu ấn chung của văn hoá vùng, vừa có nét riêng đầy ấn tượng Đây là một vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam nhà nước Văn Lang và Âu Lạc xưa Xa hơn, Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường thời cổ Vùng đất này có những đặc điểm riêng về thiên nhiên, lịch sử, tiếng nói, con người, về sinh hoạt văn hoá rất
dễ dàng phân biệt với những vùng văn hoá khác trên đất nước Những điều kiện địa lí, lịch
sử, những thăng trầm đau thương và anh dũng đã hun đúc cho người xứ Nghệ những tính cách riêng biệt
Là một phần máu thịt của Việt Nam, Nghệ Tĩnh gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với
16 ngàn cây số vuông diện tích, cùng chung một dải đất liền với các địa phương khác
Trước hết, về địa hình, địa mạo, Nghệ Tĩnh có núi rừng trùng điệp, mênh mông, chiếm ngót hai phần ba diện tích Núi trải dài và dày đặc ở phía tây, bốn mùa mây phủ, được nhân dân quen gọi là dãy Trường Sơn, núi đâm thẳng ra biển gọi là Đèo Ngang (hay
Hoành Sơn) Sách Đại Nam nhất thống chí gọi Nghệ An là “đất tứ đắc” ý nói bốn bề hiểm
trở, có lẽ cũng vì thế Gần như đây là một vùng chỉ choáng ngợp những núi và biển, nhiều sông ngòi Trong đó có dòng sông Lam (hay sông Cả) vừa dài vừa sâu, vắt ngang từ thượng nguồn trên đất nước Lào anh em xuôi theo hướng đông nam, qua nhiều núi đá hiểm trở có trên 130 ghềnh thác lớn Núi sông như thế vừa tạo nên nét đẹp nên thơ vừa tạo nên cái vẻ gân guốc rắn rỏi cho Nghệ Tĩnh, đồng thời nó cũng chia cắt mảnh đất này thành nhiều khu
Trang 17vực Thiên nhiên Nghệ Tĩnh hiểm trở gập ghềnh nhưng không đến nỗi hỗn độn Đối với việc trồng trọt, thiên nhiên quả thực không có sự hào phóng, buộc con người phải vất vả nhiều, nhưng cũng luyện cho con người chí phấn đấu cao
Nghệ Tĩnh là khu vực có khí hậu khá đặc biệt Mùa nóng phải chịu những đợt gió Lào khô rang cùng lượng bụi khô thu góp từ đại lục xa xôi trút về Đây cũng là nơi phải chịu những trận bão xuất phát từ Thái Bình Dương mang theo những cơn gió xoáy hoặc một khối lượng nước lớn tạo thành những trận lụt, gây ra không ít thiệt hại về người và của Nghệ Tĩnh là vùng vừa lạnh vừa khô, kiểu khí hậu hết sức khắc nghiệt với sinh vật, trước hết là con người và cây lương thực Hết nạn này đến nạn khác, tình trạng oái oăm thường gặp là nhiều khi lo chống hạn chưa xong thì bão lụt đã bất ngờ ập tới Cuộc vật lộn giữa con người và thiên nhiên diễn ra khá liên tục, từng tấc đất ở đây đều thấm máu và mồ hôi của cha ông Hạnh phúc dường như luôn bị đe doạ nếu không nói là bị lãng quên
Có thể nói thiên nhiên đã phần nào qui định nếp sống cũng như cảm nghĩ, nói chung
là tính cách riêng, là cá tính của con người ở đây Không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến cho
rằng: “Không có miền nào lại có bản ngã rõ rệt bằng miền này…có thể nói có một tinh
thần Nghệ Tĩnh…Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt lòng phụng thờ, sự cố gắng cùng những tính nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp chật vật tranh giành lấy một chỗ sống dưới mặt trời” [36] Người Nghệ Tĩnh quen nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen
sống trong sự hồi hộp lúc nào cũng cần tự vệ, họ có tiếng là gân guốc, khô khan, rắn rỏi; tư duy thường cứng nhắc rạch ròi, ngay cách nói cũng nặng nề, thiếu uyển chuyển Trong sách
Văn thơ Phan Bội Châu có viết: “Các nhà viết phong thổ ngày xưa cho rằng con người xứ Nghệ can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan và tằn tiện đến
…cá gỗ”[chuyển dẫn từ 52, tr.142]
Từ tính cách này con người Nghệ Tĩnh đã góp phần làm nên lịch sử của Tổ quốc, mở
ra những trang sử vẻ vang cho xứ Nghệ Vùng đất này đã nhiều phen là bức thành ngăn chặn hoặc là mũi tiên phong làm tan rã nhiều đội quân xâm lược của các quốc gia, các tộc người Nghệ Tĩnh là nơi có nhiều người con nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh thiên nhiên cũng như trong đấu tranh xã hội Nhiều tài năng xuất chúng, nhiều bậc anh hùng hào kiệt đã được sinh ra và nuôi dưỡng từ mảnh đất nhọc nhằn nhưng nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt” này Những lãnh tụ kiệt xuất như Quang Trung, Phan Bội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh, v.v…là niềm tự hào của người dân xứ Nghệ, là những sao sáng của nước Việt Đúng như câu phương ngôn cổ:
Trang 18Ngàn Hống chon von Biển ngư bát ngát Thịnh trị gặp thời Nhân tài đua phát
Nổi bật của người xứ Nghệ là hành động, hành động đấu tranh đến quên mình Thế nên, tính tình người xứ Nghệ cũng có phần hơi khác: chịu gian khổ chứ nhất quyết không chịu nhục, gan góc có phần bướng bỉnh, mưu trí đến liều lĩnh Nhưng nổi bật hơn hết đó là khẳng khái, thẳng thắn, biết quên mình vì nghĩa lớn, ý thức cộng đồng mạnh mẽ, tha thiết yêu quê hương đất nước
Nơi đây còn tự hào là vùng đất học Sự học ở đây không chỉ cho hiểu biết mà còn để
“đổi đời”, học để “lấy chữ làm sang” Thời đại nào cũng vậy, học trò xứ Nghệ thường đỗ đạt cao, đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa học Nhắc đến con người xứ Nghệ, người ta hay nhắc đến “ông đồ xứ Nghệ” với biệt danh “ông đồ gàn” Gàn của ông đồ Nghệ là bắt nguồn từ ý thức buộc thiên nhiên, buộc hiện thực phải theo lí trí; bắt nguồn từ tính cách của một cộng đồng bất chấp cái khắc nghiệt của vùng đất khô cằn, sỏi đá nhằm
“vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” để tạo nên sự sống; bắt nguồn từ ý thức biết vượt qua hoàn cảnh bằng lòng quyết tâm nhiều khi đậm màu…duy ý chí của người xứ Nghệ Có thể nói tính gàn, tính cương trực, rắn rỏi, bất chấp là nét chung của người dân xứ Nghệ
Miền đất xứ Nghệ hùng vĩ, hữu tình, con người xứ Nghệ thông minh quả cảm Những tên núi, tên sông, tên làng, tên xã, những phong tục tập quán, con người xứ Nghệ đã bước vào trang viết Nguyễn Minh Châu vừa như một lẽ giản dị, vừa như niềm trăn trở thao thức khôn nguôi Điều đặc biệt, dấu ấn của con người và vùng đất xứ Nghệ hằn trên trang viết Nguyễn
Minh Châu không chỉ khi ông viết về vùng đất và con người quê hương mà “ngay những tác
phẩm anh viết về những vùng trời khác, những miền đất khác, cái tâm hồn và cốt cách xứ Nghệ của người viết vẫn lồ lộ in đậm lên mỗi trang văn” [47, tr.497]
1.3 Nguyễn Minh Châu với mảnh đất và con người miền Trung
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 trong một gia đình nông dân ở thôn Kẻ Thơi, vùng Lạch Thơi, huyện Quỳnh Lưu Quê hương nhà văn là mảnh đất cửa ngõ xứ Nghệ, nằm ven biển miền Trung Cũng như bao làng quê miền Trung, làng Kẻ Thơi của Nguyễn Minh Châu là một vùng đất sơn thuỷ hữu tình nhưng cũng rất khắc nghiệt và
dữ dội Thật khó có một vùng quê nào có cấu trúc cảnh quan vừa hài hoà vừa tương phản như nơi đây
Trang 19Dưới bầu trời miền Trung lồng lộng là những xóm duyên hải chen chúc trên những cánh đồng nhỏ hẹp Biển Đông bao la và những dòng sông oằn mình uốn lượn như đang cố thoát ra bể khơi Màu đất gan gà đỏ quạch của các sườn núi trọc hằn lên màu xanh ngắt của núi, biển, trời…
Nằm kẹp giữa Lạch Thơi và Lạch Quèn, phía Tây là đồi núi ăn lan ra tận biển như Hòn Rồng, Hòn Kiến, làng Thơi là một vùng đất dữ dội mà hiền hoà, với thiên nhiên nước biếc non xanh, với tiếng sóng biển rì rào và những ngọn gió nồm mát rượi Nhưng Kẻ Thơi cũng là vùng đất của những cơn gió Lào bỏng rát về mùa hè và những trận cuồng phong chao đảo cả đất trời vào mùa mưa lũ
Có lẽ sự hùng vĩ và khắc nghiệt của thiên nhiên, đất đai đã in dấu lên con người của làng quê ông Bằng niềm yêu đau đáu, da diết, Nguyễn Minh Châu đã kể về con người Kẻ
Thơi – làng quê của nhà văn, như sau: “Quê tôi là Quỳnh Hải, thôn Kẻ Thơi, vùng Lạch
Thơi, Lạch Quèn Dữ dội lắm Dân Lạch Thơi nhiều nơi sợ vì chỉ có uống rượu và đánh nhau Rượu say, ngủ luôn ở bãi biển Mỗi đêm, những người đàn bà phải đi “nhặt” chồng
về Cả làng làm nghề chài lưới, chẳng học hành gì cả Tôi còn nhớ ông Điềm mỗi khi say rượu, cởi truồng nồng nỗng, quần vắt lên vai, đi vào trong xóm, lấy quần đánh chó Gặp ai cũng chửi tuốt Nhưng vớ phải một mụ bán bánh đa ở chợ làng còn dữ dội hơn Mụ tuột váy
ra, lấy váy đánh vào mặt Lão Điềm phải thua Có người uống rượu say, lấy mảnh thuỷ tinh (dùng để cạo tinh những thanh giang chẻ lạt) rạch ngang bụng, ruột sổ ra Trẻ con chúng tôi lấy rổ đựng ruột cho ông ta, buộc lại rồi đưa đi bệnh viện Ông ta chết Có một chuyện cũng lạ: một anh đi biển gặp bão, chết ngoài khơi xa, xác trôi về, cứ trôi quanh co theo con Lạch Thơi mà vào đến tận cửa nhà mình mới dừng lại Mùa bão, sau mỗi trận bão, người làng khóc như ri vì có người nhà chết ngoài biển…”[47, tr.429] Đó chính là hình ảnh những
người nông dân vùng biển Nghệ Tĩnh quê ông Nói như nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, họ là
“những con người chất phác, cục mịch, lực lưỡng như mọc lên từ sỏi đá, rồi nhờ sóng gió
bão táp mà luyện thành xương sắt da đồng Những con người như thuộc vào thế giới hoang
sơ nào”[47, tr.428]
Tuổi thơ Nguyễn Minh Châu lớn lên trong tiếng mẹ ru, tiếng sóng biển rì rào và cả trong những tiếng mưa gào gió giật của những trận cuồng phong Sinh ra trong một gia đình nông dân đông con (ông bà thân sinh có bốn trai hai gái), Nguyễn Minh Châu là út nên được cha mẹ và các anh chị thương yêu, được học hành đến nơi đến chốn Người mẹ phúc hậu và tần tảo đã để lại niềm yêu kính và cả nỗi day dứt trong ông vì suốt đời ông xa nhà không
Trang 20chăm chút được tuổi già của mẹ Bà Doanh, vợ ông, kể: khi nghe tin mẹ qua đời vì bị bỏng than, ông kêu lên: “ Ôi mẹ! Nỗi thương vô vọng của con!” Cũng từ đấy, mỗi lần đau ốm mê sảng lại nghe ông gọi: “Mẹ! Mẹ ơi!”
Trong hồi ức của nhiều người bạn cùng quê, mỗi lần nhớ lại, họ thường xuýt xoa thán phục tấm gương hiếu học và cái tài chịu khổ của ông Nơi mảnh đất người nông dân bốn mùa bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, vắt cục đất làm ra củ khoai hạt lúa, Nguyễn Minh Châu cũng như bao học trò nghèo xứ Nghệ từng nếm trải cái đói vàng mắt của những năm thất bát và khi được mùa dư dật cũng chỉ là “cơm gạo lốc, trốc cá thèn” rất đạm bạc mà thôi Vậy mà, cái khổ nghèo của quê hương lại thân thương với ông đến mức tận những ngày sắp
từ giã cõi đời, ông còn thổ lộ với vợ: “Giá bây giờ lại được về ăn bát cơm chiêm với con cá thèn cửa Lạch quê nhà!”
Như vậy đấy, quê hương với một thiên nhiên nước biếc non xanh, một truyền thống nghìn năm văn hiến, một làng quê dữ dội mà hiền hoà, một gia đình thanh bạch nhưng đầm
ấm, một người mẹ nhẫn nại hi sinh…tất cả hoà quyện chung đúc nên nhân cách Nguyễn Minh Châu, thấm đượm trên từng trang văn đặc sắc của ông Nhà văn Nguyễn Tường Lân
khẳng định: “Ai từng một lần ghé thăm huyện Quỳnh Lưu, thăm vùng Lạch Thơi, mảnh đất
dồi dào mạch thư hương và rất “phát về văn” này, sẽ càng thấy rõ cái cốt cách xứ Nghệ đậm đà trong con người và tác phẩm của ông” [47, tr.494]
Tác phẩm đầu tay Cửa sông dù có gợi những nét hồi ức về một vùng địch hậu nào đấy
thì dấu ấn vùng quê Cửa Lạch vẫn đằm thắm, đậm đà : bầu trời, biển cả, đồng lúa xanh, đồng muối trắng, những lò nấu muối đỏ lửa thâu đêm, đặc biệt là những con người chân chất, hồn hậu, bậm bạp, mang đầy “sắc thái Nghệ” …Theo dấu chân nhà văn - “dấu chân người lính” - người đọc cùng đi qua “những vùng trời khác nhau”: qua vùng “miền cháy” đau thương, qua
“mảnh đất tình yêu” đầy lòng nhân ái, qua vùng “cỏ lau” bi kịch…Tất cả đều ghi đậm dáng nét cảnh vật và con người xứ Nghệ quê hương
Những năm cuối đời, Nguyễn Minh Châu có tâm huyết viết về mảnh đất quê cha đất
tổ đầy ân tình sâu nặng Trong một lá thư gửi cho huyện uỷ Quỳnh Lưu, ông viết: “Tôi muốn
thu xếp đi về vùng biển Quỳnh Lưu một chuyến, có lẽ “cáo chết ba năm quay đầu về núi”, tôi tin rằng cuốn tiểu thuyết cuối đời mình là cuốn sách viết về vùng quê của mình…”[47,
tr.497] Cũng trong những lời tâm sự với bạn bè, ông thổ lộ: “Bao giờ rỗi, tôi sẽ viết kĩ về làng tôi, một cái làng nó còn thiên nhiên, thiên bẩm lắm” Căn bệnh ác nghiệt kéo ông đi khi cuốn sách chưa kịp viết Ngay trên giường bệnh, trong những ngày giành giật quyết liệt với
Trang 21tử thần, ông đã “hối hả rứt ruột gan, rứt từng mẩu sống” viết kì xong Phiên chợ Giát - bản di
chúc nghệ thuật hoà quyện máu và nước mắt - để lại cho đời
Hành trình văn nghiệp của Nguyễn Minh Châu đã kết thúc bằng một tác phẩm nặng sâu ân nghĩa với quê hương như thế
Với Nguyễn Minh Châu, miền Trung không chỉ là quê hương mà còn là những gì thân thương nhất, gắn bó máu thịt nhất, luôn day dứt, trăn trở trong tâm khảm Như một cái duyên tiền định, khi trưởng thành, rời xa quê hương xứ Nghệ ông lại gắn bó thiết thân với mảnh đất Quảng Trị - một dải đất hẹp miền Trung cằn lên những sỏi đá và bị bằm nát bởi bom đạn
chiến tranh Chính ông từng chân thành bày tỏ với nhà văn Nguyễn Trung Thu: “Cái mảnh
đất Quảng Trị gần như tôi si mê nó, hình như trong con người tôi và mảnh đất ấy có chung một sợi dây thần kinh mà hễ cứ chạm đến đấy thì cả con người tôi rung lên Tôi đã gắn bó với nó - cái vùng quê hương của chiến tranh và khổ ải ấy - hơn cả với quê mình” [47,
tr.439]
Ngay từ năm 1973, Nguyễn Minh Châu đã ôm ấp viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc chiến đấu ở thành cổ Quảng Trị Tháng 3-1975, khi Quảng Trị được giải phóng, Nguyễn Minh Châu là người đầu tiên vào đây Trong hồi ức của mình, Nguyễn Xuân Thiều đã ghi
lại: “Cuối năm 1975 tôi từ Sài Gòn ra Huế và được biết Nguyễn Minh Châu đang ở ngoài
Quảng Trị Hoàng Phủ Ngọc Tường kể rằng anh vừa gặp anh Châu rất tình cờ Anh vừa vào Diên Sanh thăm cái khu địch dồn dân hồi trước nay đã trở nên hoang phế thảm hại Trên bãi cát chỉ còn dây thép gai vương vãi, những túp lều xiêu vẹo trống hoác, ngoài gió và cát nóng ong ong, chẳng có ma nào hết Sinh vật đầu tiên mà Tường gặp là con chó gầy giơ xương, mắt chảy rỉ bước thất thểu, hẳn là một chú chó đói lạc chủ Và sinh vật thứ hai là Nguyễn Minh Châu Anh gặp Châu đang ngồi hí hoáy ghi chép gì trong túp lều hoang…”[47,
tr.469]
Tháng 5-1975, Sài Gòn được giải phóng, Nguyễn Minh Châu theo đại quân rong ruổi khắp miền Nam nhưng vẫn thấy trong người thiếu một cái gì, và như tuân theo một thứ quán
tính, anh lại quay trở về miền Trung, lại về Quảng Trị - “Về những đồn bốt giữa cồn cát trắng
phau và những xóm làng hoang đến rợn người, trở về cái xứ người chết đầy vui tươi (những khu tha ma rộng bát ngát và rực rỡ dưới trời xanh) và cái thế giới người sống thì vắng tanh vắng ngắt, cái xứ mà sự thù hằn, chết chóc, li tán đã trở thành nếp sống” (trích thư Nguyễn
Minh Châu gửi nhà văn Nguyễn Trung Thu) [47, tr.437]
Trang 22Khẳng định về mối lương duyên “tiền định” giữa Nguyễn Minh Châu và mảnh đất nhọc nhằn này, Nguyễn Trung Thu đã cho chúng ta một con số tổng kết đầy sức thuyết phục:
“Anh Nguyễn Minh Châu để lại bảy cuốn tiểu thuyết thì bốn cuốn anh viết về con người và
mảnh đất Quảng Trị: Dấu chân người lính, Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra, Mảnh đất tình yêu Truyện vừa Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành cùng rất nhiều truyện ngắn đặc sắc khác, và gần nhất là truyện vừa Cỏ lau – thiên truyện vào loại hay nhất của Nguyễn Minh Châu hoàn thành trước khi anh lâm bệnh vài tháng, đều là truyện về con người và về vùng đất này” [47, tr.433] Lịch sử của vùng đất Quảng Trị nói riêng, của mảnh
đất miền Trung nói chung với những nét đẹp lâu đời, những giá trị vĩnh hằng của xứ sở, với những cuộc vật lộn đằng đẵng không ngừng không nghỉ…đã được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ đầy chân thực và sống động Người đọc dẫu chưa một lần được đặt chân tới Quảng Trị nhưng qua trang viết của Nguyễn Minh Châu cũng như được tận mắt chứng kiến, được sống cùng những con người và cảnh vật nơi đây
Sự “si mê” với Quảng Trị cùng những ngày bám sát mảnh đất này đã giúp Nguyễn Minh Châu viết nên nhiều tác phẩm có giá trị, làm nên tên tuổi của ông Nhưng cho đến những ngày cuối đời, nhà văn vẫn trăn trở về cuốn sách quan trọng nhất của đời mình:
“Riêng đối với tôi, viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của ta, về chiến tranh kéo
dài mấy chục năm nay ở Việt Nam, không thể không viết về cuộc chiến tranh ở thành cổ Quảng Trị Rất là tiếc, tôi không kịp làm” [47, tr.437] Giữa những bản thảo dở dang để lại,
ông đã có những trang phác thảo đề cương cuốn tiểu thuyết của đời mình là Chân trời và
vỏ đạn, cuốn tiểu thuyết về thành cổ Quảng Trị Cùng với đó là không ít đề cương cốt
truyện khác (truyện ngắn và truyện vừa) ông dự định viết về vùng đất này Có thể nói, Quảng Trị như có một ma lực đặc biệt, hấp dẫn nhà văn đến như quyến rũ
Sinh ra và lớn lên từ cái nôi văn hoá miền Trung - xứ Nghệ, những năm tháng chiến tranh khốc liệt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu sống gắn bó với người dân miền Trung Nhà văn đã viết về miền Trung bằng sự am hiểu sâu sắc và nhất là bằng tấm tình sâu nặng, bằng mối trăn trở đầy tâm huyết Nguyễn Kiên, ngay từ những năm 70, đã ghi
nhận: “Anh đặc biệt rung động trước những số phận gắn bó với mảnh đất miền Trung khắc
khổ, thi vị, anh hùng Ở đấy, có những kỉ niệm quê hương của bản thân anh” [59, tr.124]
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu đã dành phần lớn công sức và tâm huyết để khám phá, thể hiện con người và vùng đất này Nhà thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn
Trọng Hoàn đã khẳng định “vùng khám phá” trong truyện Nguyễn Minh Châu: “Có những
Trang 23miền đất như miền Trung một thời khói lửa, có những vấn đề như cuộc sống cực nhọc của người nông dân…ông cứ trở đi trở lại như một niềm ám ảnh, day dứt khôn nguôi” [47, tr.44]
Dường như mỗi lúc Nguyễn Minh Châu lại về gần hơn với nông dân, với làng quê miền Trung đói nghèo, lam lũ của mình Ông đã đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết viết về một làng quê
miền Trung là Mảnh đất tình yêu Vùng đất và con người miền Trung được gọi là “địa linh
nhân kiệt” đi vào sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã trở thành những áng văn rất đẹp, góp phần làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam hiện đại
Ngày 23 tháng 1 năm 1989, sau một cơn đau dữ dội, Nguyễn Minh Châu bảo vợ
mang giấy bút tới, rồi lịm đi tắt thở Ông ra đi “khi tâm hồn sáng tạo đang độ chín Chín
trong sự thương yêu cảm thông với những con người vất vả lam lũ, chịu nhiều hi sinh mất mát Chín trong sự từng trải, hiểu biết những gì được mất, những nỗi niềm gần xa của các sự kiện đời sống trong thời chiến cũng như trong thời bình và chín trong cả bút pháp với một giọng văn nhiều trắc ẩn” (lời nói đầu tập Cỏ may)[47, tr.513] Ông ra đi còn để
lại ngổn ngang, dang dở những dự định sáng tác về vùng đất Quảng Trị từng bao năm lăn lộn, gắn bó, về làng Thơi mảnh đất quê hương nhọc nhằn, lam lũ Nhưng bằng tài năng và tấm lòng, bằng một hành trình dẻo dai và gian khổ, bằng cả tâm huyết và sự dũng cảm, Nguyễn Minh Châu đã để lại một di sản văn chương quý giá, trong đó nổi bật nhất là những trang viết đặc sắc về văn hoá và con người miền Trung
1.4 Văn hóa miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu
1.4.1 Cái nhìn sâu rộng có tính lịch sử về vùng quê miền Trung
Lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc luôn sáng lấp lánh trong những trang sử hào hùng của mỗi miền quê Trong từng bước đi lên của dân tộc, “khúc ruột miền Trung” luôn gắn với bề dày truyền thống của đất nước Nhịp bước cùng bao thăng trầm biến thiên của lịch sử, mảnh đất miền Trung được hun đúc từ nỗi khó nhọc của nhiều thế hệ
để làm nên truyền thống lịch sử của làng xã Việt Nam
Truyền thống lịch sử của đất và người nơi đây trước hết được khẳng định trong sự tiếp
nối của lớp lớp thế hệ góp sức làm nên những tên đất tên làng Trong Những người đi từ
trong rừng ra, qua sự hồi tưởng của ông lão Đuốc, bóng dáng những con người làm nên
truyền thống lịch sử cho vùng đất quê hương được dựng dậy:
Trang 24…Ông lão cũng không muốn nhắc lại những thời xa xưa hơn nữa, về những
đoàn người từ ngoài Đèo Ngang, từ cửa Nhật Lệ kéo về đây với lính tráng đi kèm, những đoàn tù chung thân, những kẻ đạo tặc, những tử tù chờ ngày ra pháp trường; hoặc những dân xứ biển mạn ngoài Nghệ An, Thanh Hóa hoặc tận ngoài Bắc đã lang thang phiêu giạt trên con đường đi tìm miếng sống, hoặc
vì bão lụt đắm thuyền, hoặc để chạy trốn cái xứ sở của hào lí phong kiến lâu đời, hoặc vì can qua chiến tranh, giặc Minh giặc Thanh từ phương Bắc kéo xuống… [18, tr.486]
Trên bước đường loạn lạc lưu đày, như một sự ngẫu nhiên đầy may rủi của số phận, chính
những con người đó đã đóng vai trò làm nên lịch sử: “Ông lão nghĩ, chính những con người cùng
đường kiệt lối hoặc khốn khổ vì miếng sống đó đã mở rộng đất đai bờ cõi, đã đổ mồ hôi khai phá nên cái cửa biển đẹp đẽ này, rồi lại có những người lấy máu xương để gìn giữ bảo vệ nó…”[18,
tr.487]
Trong Mảnh đất tình yêu, qua việc tái hiện quá khứ của một làng ven biển miền
Trung, toàn bộ lịch sử của làng chài Hiền An sống dậy, thấm đượm mồ hôi và xương máu
của biết bao thế hệ: “Hết thời này sang thời khác, những con người bị phát vãng và lưu đày
biệt xứ đã góp một phần nhỏ dân cư để tạo lập nên những khóm nhà thưa thớt đầu tiên bám vào cửa sông cửa lạch Rồi thôn ổ cứ đông đúc mãi lên…”[19, tr.779]
Vùng đất miền Trung, vùng đất với đèo núi “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”, con người dựa vào thế núi mạch sông để định cư, từ đó mà hình thành nên thôn ổ, làng xã Nếu với Bùi Hiển quê hương dồn tụ nơi cái nhìn thân thương trong những khoảnh khắc sống động của cuộc sống hôm nay thì với Nguyễn Minh Châu, quê hương luôn gắn với bề dày truyền
thống Bút kí Miền Trung mùa gió thổi (in trên báo Nhân dân, 3-10-1982) cho ta một cái nhìn sâu rộng về lịch sử nơi đây: “…miền Trung của ta đó, mảnh đất để đi qua, mảnh đất để
dừng lại như một chặng dừng chân nghỉ ngơi trên cả cái tiến trình suốt hàng nghìn năm khai phá, mở rộng đất đai bờ cõi của những thế hệ con người Việt Nam đầm đìa mồ hôi…” [23,
tr.952-953]
Trong bút kí Trò chuyện ở huyện ủy, qua việc khẳng định những chứng tích đánh dấu
sự có mặt từ rất lâu đời của con người trên đất Quỳnh Văn (một huyện thuộc Nghệ Tĩnh) dường như nhà văn cũng muốn khái quát về truyền thống lịch sử lâu đời của dải đất miền Trung:
Trang 25…Những tầng đất sâu cao dần lên làm thành nền ngôi chợ.Người ta đã tìm thấy nhiều chiếc chày bằng đá lẫn giữa các lớp Quỳnh Văn là đây Năm ngàn năm
về trước; con người đã xuất hiện ở đây, sống bằng việc lượm nhặt những con điệp bên mép biển Khi ấy đất Quỳnh Lưu còn là biển và chân những hòn lèn đứng rải rác trên cánh đồng các xã ngày nay đều thấy dấu vết bị sóng biển đánh hõm vào… (23, tr.989)
Suốt hàng nghìn năm khai phá với bao máu xương đổ xuống, bao thế hệ hôm qua đã biến mảnh đất miền Trung nhọc nhằn, gian khó trở thành chốn neo đậu vững chắc và bình yên:
…chỉ cần biết bốn bàn chân chúng tôi đang dậm trên mảnh đất làng xóm, trên những lớp thời gian và nỗi vui buồn của bao người trước- những con người thân yêu đã trao gửi lại cho chúng tôi xương thịt và linh hồn của họ rồi trở về trong đất Trước khi trở về nghỉ ngơi mãi mãi trong đất cát, họ đã cật lực lao động để
để lại cho chúng tôi bây giờ những thôn ổ, làng mạc, những kinh nghiệm, thói quen làm ăn và cả giọng nói, tiếng cười như sấm của người ven biển Ai đếm được có bao nhiêu đời con người đã sống, làm ăn ở đây? Chúng tôi lật từ lòng đất lên từng vỉa đời sống quá khứ…[19, tr.959-960]
Truyền thống lịch sử đã trở thành chỗ dựa vững chắc, thành những gì thân thương gần gũi nhất trong tâm hồn mỗi người con đất quê hương Trở đi trở lại như một nỗi quan hoài, như niềm tâm đắc, dường như nhà văn muốn truyền đến người đọc niềm tự hào và tình yêu tha thiết với mảnh đất miền Trung
Bề dày truyền thống của mảnh đất miền Trung còn được Nguyễn Minh Châu khắc họa trong dáng vẻ vững chãi, trong nếp sống ngàn đời của mỗi thôn làng Dẫu qua bao thăng trầm những thôn làng miền Trung vẫn tồn tại “lâu bền như những hằng số lịch sử”(chữ dùng của Ma Văn Kháng) Chẳng thế mà xa quê đã hơn chục năm, Định vẫn nhớ,
vẫn ám ảnh bởi những lề thói luật tục vững bền của quê hương Quy, nhân vật trong Mảnh
đất tình yêu, sau bao thất bại đã tìm thấy cho mình những khoảnh khắc thật bình yên khi
quay về sống giữa đất quê hương: “Sau lưng tôi vẫn là sông, là phá, là nhà cửa và thôn
xóm ấm cúng, là cuộc sống lâu đời và bất diệt của con người với những con sóng đời vô hình đầy nghiệt ngã…” [19, tr.858]
Cũng chính làng quê hiền lành, thân thương ấy đã chôn vùi bao nhiêu thứ giặc ngoại
xâm: “Hàng chục năm nay cũng như từ ngàn đời, bao nhiêu thứ giặc ngoại xâm đến đây đều
Trang 26bị chết gục trong cái làng quê hiền lành một màu xanh rì ấy” [15, tr.576] Tiếp nối truyền
thống của các thế hệ cha anh, mỗi người dân miền Trung đều thắp trong lòng ngọn lửa nhiệt tình yêu nước và đấu tranh cách mạng Những lão Khúng cần cù, lam lũ nuôi con và sẵn sàng
mang con lên đường nhập ngũ Những người như chị Khơi, ông ngoại bé Quy (Mảnh đất tình
yêu), như Thai (Cỏ lau) là những người không quản hiểm nguy, lặng thầm cưu mang cách
mạng từ những ngày gian khó nhất; như bà Điểm (Mảnh đất tình yêu), sẵn sàng đón nhận cái chết để bảo vệ cán bộ cách mạng; như Hòa (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) sẵn
sàng hi sinh niềm say mê cá nhân để lao mình góp sức cho cuộc chiến tranh của toàn dân tộc…
Vùng đất miền Trung vốn nổi tiếng với sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên, “cái
miền đất quê nhà, nhiều sỏi đá, nhiều khoai sắn, nhiều vất vả, nhiều bom đạn và lồng lộng suốt mùa hè những cơn gió thổi như quạt lửa vào mặt người” [23, tr.952] Chính vì thế để tồn
tại nơi mảnh đất này, con người phải gồng mình lên gánh trên vai những nỗi gian truân, vất vả không dễ khuất phục Trong truyện của Nguyễn Minh Châu, âm thanh địa hình của vùng đất này đi vào trang viết như nói bao điều về sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nỗi gian truân trong
lịch sử của một vùng đất Vùng đất cửa biển của Quy (Mảnh đất tình yêu) cứ khoảng vài ba giáp trời đất lại vẽ lại bản đồ một lần Vùng đất khai hoang của Khúng (Khách ở quê ra), một
vùng phía Tây của miền Trung, cái vùng “chó ăn đá, gà ăn sỏi”, văng vẳng tiếng chim “bắt tép kho cà”, như gợi lên sự cằn cỗi, nghèo khó, sự tần tảo của con người nơi đây Vùng đất
Quảng Trị (Cỏ lau) đổ nát vì bom đạn vang lên tiếng chim “khó khăn khắc phục”, như nhắc
nhở, như thách thức, như gợi lên một thời binh lửa tàn khốc Cả thế núi, dáng đá cũng mang tâm sự, nỗi niềm con người, để góp vào kho tàng truyện cổ dân tộc một truyền thuyết về lịch
sử một vùng đất:
…khắp bốn phía trời, hòn vọng phu đứng nhan nhản (…), thật là đủ hình dáng
đủ tư thế, cả một thế giới đàn bà đã sống trải bao thời gian, qua chiến binh dường như đang tụ hội về đây, mỗi người một ngọn núi, đang đứng một mình vò
võ, chon von trên các chóp núi đá cao ngất, người ôm con bên nách, người bế con trước ngực, người cõng con sau lưng, người hai tay buông thõng xuống, mặt quay về đủ các hướng, các ngả chân trời có súng nổ, có lửa cháy… [15,
tr.493]
Trang 27Cùng với cái nhìn sâu rộng có tính lịch sử về quê hương, bằng việc khắc họa những
gian khó trong lao động đấu tranh, Nguyễn Minh Châu còn cho thấy cả một truyền thống lịch
sử đáng khâm phục trong những con người lao động với công cuộc xây dựng quê hương
Như vậy, trải qua thiên tai, giặc dã, qua lao động đấu tranh, con người và làng xã miền Trung đã tồn tại và phát triển Đời sống con người đã in dấu lên dáng núi, mạch sông,
cửa biển, cồn cát: “Năm ngón chân con người tõe ra mỗi ngày lại bám vào mặt cát chặt
hơn…”[19, tr.780] Thế hệ này kế tiếp thế hệ khác làm nên truyền thống lịch sử của một
vùng đất, để dải đất miền Trung trường tồn đầy kiêu hãnh trong sự trường tồn vững bền của lịch sử dân tộc
1.4.2 Nét đẹp văn hóa của làng quê miền Trung
Đối với Nguyễn Minh Châu, ẩn trong niềm say mê về mảnh đất và con người miền Trung là niềm say mê về văn hóa truyền thống miền Trung với những chắt lọc trong chiều dài của những biến thiên lịch sử, trong chiều sâu của tập quán, lối sống Và dấu ấn những nét văn hóa cổ truyền của quê hương miền Trung toát lên trên trang viết Nguyễn Minh Châu thật đằm sâu, đầy ám ảnh Đằm sâu bởi nhà văn rất am hiểu và nặng lòng với truyền thống văn hóa quê nhà, ám ảnh bởi dường như nhà văn không chủ đích phản ánh nhưng tất cả cứ ùa về thấm đượm trong từng lời nói, từng hình ảnh, chi tiết…
Sâu nặng với vùng đất quê nhà, Nguyễn Minh Châu đã dồn bao tâm huyết để khắc tạc nên một làng quê miền Trung với những dấu ấn văn hóa đặc sắc Có thể nói cảm hứng viết
về nét đẹp văn hóa của làng quê miền Trung dường như đã trở thành nguồn cảm hứng xuyên
suốt trong tác phẩm của ông Với tiểu thuyết đầu tay Cửa sông, ông viết về hình ảnh một
làng quê hiền hòa bên sông Kiều (thuộc Bắc miền Trung) với những con người hồn hậu và bình dị, nhưng trong khói lửa chiến tranh họ đều được trui rèn, hun đúc và trở thành những
người con quả cảm, gan dạ bên bến sông Trong Dấu chân người lính, dù cảm hứng chủ đạo
là phản ánh cuộc sống chiến đấu vô cùng ác liệt, gian khổ nhưng rất anh hùng của các chiến
sĩ ta trong kháng chiến chống Mĩ, nhưng vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng ngôi làng miền Trung trong những khoảnh khắc hồi tưởng của Lữ, của Kinh…Cái khoảnh khắc Lữ ngửi mùi khói và anh bỗng cồn cào nhớ mùi khói quê nhà gieo vào lòng người đọc những ấn tượng
khó quên về một vùng quê nghèo mà lưu dấu bao thi vị Tiểu thuyết Miền cháy, câu chuyện
của đất nước sau chiến tranh, viết về Quảng Trị “miền đất cháy, miền đất chết, miền đất giao tranh” và ở đó ngôi làng tan nát xiêu tán, từng quằn quại trên bờ vực của sự sống và cái chết đang được hồi sinh từ chính những người dân quê chân phác, hồn hậu, bao dung như mẹ Êm,
Trang 28như Hiển Trong một loạt những sáng tác giai đoạn những năm 80 như Mảnh đất tình yêu,
Cỏ lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát…Nguyễn Minh Châu vẫn tiếp nối mạch cảm hứng
từ trước, ông đưa người đọc đến với làng quê miền Trung với những nét văn hóa cổ truyền của một “tầng đời nền móng” căn cốt và vững trãi
Như chúng ta đều biết, làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt, đã hình thành từ rất sớm (trước khi có Nhà nước) và là tế bào sống của xã hội Việt Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hóa làng cũng ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Làng xã Việt Nam từ bao đời nay lưu giữ những tinh hoa văn hóa của dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, nền nếp gia phong, đạo lí làm người, tình làng nghĩa xóm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng…Đối với người Việt, làng là một ý niệm sâu sắc và thiêng liêng, là tượng trưng của quê cha đất tổ
Trên trang viết của mình, Nguyễn Minh Châu đã cho chúng ta thấy một ngôi làng miền Trung với những đặc thù rất riêng:
…Làng anh, cái làng Khơi nửa biển nửa đồng, sỉa chân từ trên tàu hỏa xuống, phải đi gần chục cây số về phía biển mới thấu và chỉ có một cách cuốc bộ ấy, nó
có một sức nhai người ghê gớm Nó nghiền nát những con người ra rồi vắt lại theo cái hình thù đã có từ ngàn đời của nó, rồi bắt những con người ấy phải sống theo cái luật cũng đã có từ ngàn đời nhưng không bao giờ viết thành văn của nó… [15, tr.576]
Đặc thù địa hình của miền Trung được in dấu rất rõ qua hình ảnh ngôi làng Khơi rất đỗi thân thương của Định Đây cũng là nét đặc thù của hình ảnh ngôi làng miền Trung nói chung Nếu như làng quê Bắc Bộ được biểu trưng bởi hình ảnh cổng làng cùng những lũy tre xanh râm mát, ở Nam Bộ là cây cầu khỉ, là con xuồng ba lá, con đò nhỏ thì ở miền Trung cấu trúc cảnh quan đó được thay thế bằng hình ảnh bao la của biển phía trước mặt và cái mênh mông của đồng ruộng phía sau lưng Nhà văn đặc biệt lưu ý chúng ta về nếp sống cũng như phong tục tập quán ngàn đời của những làng xã miền Trung Ấn tượng khó quên trong lòng người đọc là cái sức nhai người ghê gớm của sự đi bộ - một hoạt động sống quen thuộc của con người nơi đây Tại những vùng quê heo hút lạc hậu miền Trung dường như người ta chỉ biết tới phương tiện di chuyển trên bộ duy nhất là đôi bàn chân nhẫn nại, kiên trì Sức mạnh vô hình của những luật tục ngàn đời đã khuôn con người nơi đây, hay thậm chí cả những người từ
nơi khác đến, vào một nếp sống với những đặc thù riêng biệt Ví như với Huệ (Khách ở quê
ra) – một cô gái thành phố chính gốc - khi bước chân về sống trên mảnh đất này thì cũng dần
Trang 29bị biến cải, trở thành “một người đàn bà thôn quê thực sự, một bà ké miền rừng thực sự” [15,
tr.563] Đủ thấy dấu ấn sâu đậm của những phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng nơi những làng quê miền Trung khổ nghèo, lam lũ
Trong Mảnh đất tình yêu, qua việc miêu tả cuộc sống của những con người nơi làng
chài Hiền An, nhà văn đã cho người đọc thấy được cả quá trình hình thành và phát triển của làng Hiền An cửa, cũng như của bao thôn làng miền Trung khác Khởi đầu làng chài Hiền An,
mà hiện đã có tên trên bản đồ, chỉ là một dải cát dài dằng dặc, lơ thơ vài khóm nhà dân chài,
“đi đến rũ cẳng suốt ngày, không gặp một bóng người, một bóng nhà, không nghe một tiếng
gà chó, chỉ thấy mọc độc một giống cây lá cứng, có khía và quả của nó không bao giờ chín gọi
là quả mật sát” [19, tr.779] Ấy vậy mà dần dần những con người bị phát vãng, lưu đày biệt
xứ, những kẻ khốn khó lỡ đường, những người chạy giặc…đã góp công góp sức để tạo nên những khóm nhà thưa thớt đầu tiên bám vào cửa sông, cửa lạch Và thôn ổ cứ đông đúc mãi lên…
Cũng như thế, quá trình khai hoang vỡ đất của gia đình Khúng hay cũng chính là những bước đầu tiên để một thôn làng mới ra đời Rõ ràng, từ gia đình Khúng đến gia đình lão chắt Hòe đã là một bước tiến mới trong quá trình hình thành một thôn làng Ở phương diện này nhà văn muốn nhấn mạnh đến sự can đảm, lòng kiên trì của những con người đóng vai trò “mở cõi”: khai phá, tạo lập vùng đất mới Vốn là dân kẻ biển, khi thấy rõ trước mắt cái khó khăn của việc đất chật người đông, Khúng đã quyết định dắt díu vợ con lên vùng rừng để khai phá Nơi khoảng bìa rừng xanh um, chỉ nghe văng vẳng tiếng hót của chim “bắt tép kho cà”, Khúng đã cùng gia đình đổ bao mồ hôi công sức để cải tạo đất hoang thành
những ruộng hoa màu màu mỡ: “Vùng đất đó là một triền phía tây của miền Trung - cái
vùng “chó ăn đá, gà ăn sỏi” - mà giá như không có bàn tay của những người như lão Khúng, lão chắt ruột của Định kia thì vẫn mặc sức ngủ kĩ dưới lốt chân hổ báo, dưới gió Lào, dưới giông bão, dưới bom đạn” [15, tr.544] Và từ “cái gia đình loài người độc nhất giữa lòng rừng” [15, tr.601], chỉ sau mười bốn năm “đã mọc lên một vùng xóm mạc sầm uất (…) Như thế là đã ra đời trên tấm bản đồ của đất nước tên một cái xã mới, bắt đầu từ cái bàn tay khai phá đầy gian nan của lão Khúng” [15, tr.578] Bước chân của Khúng đã trở
thành bước chân của người mở đường, dẫn lối để rồi sau đó những người đến sau cứ lần theo dấu chân lão mà tiến sâu mãi về phía Tây
Từ sự hình thành, Nguyễn Minh Châu cho ta thấy những đặc trưng khác biệt của các thôn làng miền Trung Ngay từ đầu mới hình thành, những làng xã miền Trung không thuộc
Trang 30một tộc, họ như ngoài Bắc Nó gồm nhiều tộc, họ bởi đó là vùng đất của sự cộng cư Đó là những xóm nhà được mọc lên như một sự ngẫu nhiên có tính tất yếu trên bước đường tha phương cầu thực hay trong công cuộc khai hoang tìm kiếm những vùng đất mới cho sự sinh tồn
Những thôn làng ra đời và cùng với những thăng trầm biến thiên trong quá trình tạo dựng, những lớp trầm tích văn hóa cũng dần được kết lắng Trong niềm yêu tha thiết của nhà văn, quê hương hiện lên thật đẹp với cánh bãi sông Lam vàng như nghệ, với hình ảnh những đường cày thẳng tắp và sâu hoắm, với những thôn ổ, làng mạc, những kinh nghiệm, thói quen làm ăn và cả giọng nói, tiếng cười như sấm của người ven biển…Và nhà văn đã rất hào hứng khi tái hiện nếp sống và những giá trị tinh thần như đạo đức, gia đình, quê hương hay phong tục tập quán…của vùng đất miền Trung
Thôn làng được hình thành cùng với quá trình khai phá, quá trình cộng cư của con người và cũng từ đó nghề biển, nghề nông được hình thành Nguyễn Minh Châu đã tập trung khắc họa “tầng đời nền móng” của vùng đất miền Trung qua những tập quán sinh hoạt, những phong tục hay những kinh nghiệm sản xuất hết sức thú vị gắn với nghề nông, nghề biển của con người nơi đây
Mở đầu thiên truyện Khách ở quê ra, có một chi tiết rất đáng chú ý: “Định rót rượu ra
chiếc chén hạt mít Khách nhìn áng chừng lấy làm sốt ruột và có lẽ cho là nhiêu khê liền cầm lấy chai rượu từ trên tay chú Trong tay ông khách, chai rượu chảy ồng ộc, xối rượu xuống cái bát ăn cơm còn để không đặt ở rìa mâm” [15, tr.547] Định là chú ruột của Khúng, vốn
đã rời quê hương khá lâu, sống ngay tại Hà Nội nên cách sinh hoạt của anh ít nhiều đã có sự thay đổi Anh dường như quên mất một điều rằng người dân quê anh thường uống rượu bằng bát sành, bát chiết yêu hoặc chén tống Chi tiết này chứng tỏ Nguyễn Minh Châu rất am tường về phong cách sinh hoạt của con người miền Trung Hoàn cảnh sống khắc nghiệt tạo nên nếp sống rất riêng ở họ Người ta uống không phải để nhâm nhi, tận hưởng mà dường như uống là để tìm quên những sự vất vả, gian khó trong cuộc đời Dấu ấn văn hóa vùng còn
in đậm trong việc lưu giữ những bộ xương mỗi khi họ đánh được cá lớn: “Ở vùng quê tôi, hễ
nhà nào đánh được cá lớn đều cố giữ lại bộ xương Có nhà có gần một chục bộ xương cá treo la liệt khắp các bức vách và bộ xương nào cũng có đủ hai con mắt” [19, tr.876] Với họ,
sự lưu giữ được xem như bằng chứng cho sức mạnh của lòng kiên trì, dũng cảm đấu tranh khuất phục, cải tạo thiên nhiên Nó là minh chứng cho chiến thắng của con người trước thiên nhiên hung bạo
Trang 31Đặc biệt không thể không kể đến những kinh nghiệm của nghề đi biển đã được con người nơi đây đúc rút từ bao đời và truyền lại cho các thế hệ:
…Người ta học và dạy nhau cách ghép bè mảng, cách đan lưới, cách uốn lưỡi câu, cách đóng thuyền Mành câu, mành rút, lưới vây, xăm bãi…cơ man những cung cách dử con cá Con cá mỗi ngày một hiếm hoi và con người mỗi ngày một tinh khôn Bàn tay con người cứ mỗi ngày một khéo léo hơn… [19, tr.780]
Chính cuộc sống gian khó đã dạy cho con người phải tinh khôn hơn, phải dựa vào đất đai, vào biển cả để tồn tại Không chỉ đơn giản vì kiếm cái ăn, tìm chỗ trú thân mà vì sống thác
với biển khơi, với đất đai từ nhiều đời đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm: “Làng tôi, cái làng
đánh cá lâu đời từ thời ông bà đến giờ, bao giờ cũng có những người lái thuyền tài giỏi, mang trong mình tất cả những khát vọng và trí khôn của cả làng để đi chinh phục biển cả” [19,
tr.1098] Trong Mảnh đất tình yêu, cuộc săn bắt con sủ của người ông ngoại Quy quả thực là
một cuộc chinh phục của ý chí, khát vọng lớn lao, của nghị lực phi thường và nhất là của một
“trí khôn đầy lọc lõi” với bao kinh nghiệm đúc rút được từ một đời lăn lộn với sóng nước Đứng trước một con cá lớn đến mức “đuôi nó quẫy lên, đứng đàng xa nhìn, cứ tưởng một chiếc tàu ngầm vừa ngoi lên”, con người muốn chinh phục nó không thể chỉ bằng sức mạnh Bởi rõ ràng nếu chỉ cần đến sức mạnh thì đội vó thuyền của Phan có thừa khả năng chinh phục Sau khi tiếp cận con sủ, nhận thấy nó chẳng mặn mà gì với những khúc thân đẻn và vàng câu khơi, người ông ngoại Quy đã nhanh chóng nắm ra được điểm yếu của nó: chính là
cái thói quen lãng mạn, rất mê ánh sáng đèn của nó Và quả thực không ngoài dự đoán, “chùm
ánh sáng trắng từ cái chóa đèn hắt xuống nước đã trở thành sợi dây câu vô cùng mỏng manh – và con sủ già lão đã cắn ngập răng vào chiếc lưỡi câu vô hình” [19, tr.872] Rất kinh
nghiệm, người ông ngoại Quy biết rằng những giống cá lớn chỉ ăn đèn khoảng mươi, mười lăm phút là cùng, rồi bỏ đi Chính vì thế ông đã nhanh chóng cho ra tín hiệu để sửa soạn đón đèn Sự căng thẳng lên đến cao độ khi mọi người theo dõi ông ngoại Quy trực tiếp đón đèn Có thể nói lúc này, công việc tuy chỉ diễn ra trong khoảnh khắc nhưng phải huy động kinh nghiệm
cả một đời sông nước cùng những bài học của biết bao thế hệ làm nghề:
…Tất cả giây phút lịch sử đời ông tôi lẫn đời con cá nằm gọn vào một cái lúc này: Trong lúc ông tôi dẫn chiếc thuyền đèn đến trước tấm lưới, chỉ cần thuyền đèn hơi để lộ ra một chút xíu vẻ khác lạ khiến cho con cá thấy nó đang bị luồng ánh sáng dắt đi, hoặc chỉ cần tấm lưới hơi động đậy ở bốn góc đèn dấu là con sủ
sẽ nhảy vọt lên, chắc chắn sẽ rách lưới và chìm thuyền… [19, tr.874]
Trang 32Cuộc săn bắt thành công chính là nhờ những kinh nghiệm bao đời con người đúc rút được từ cuộc chinh phục đối mặt với thiên nhiên Và để viết được những trang văn như thế này, Nguyễn Minh Châu phải huy động tất cả sự am hiểu sâu sắc của mình về nghề biển của quê hương Đôi lúc chỉ trong vài câu văn ngắn gọn nhưng đã bao chứa được vốn kinh
nghiệm đúc kết từ bao đời: “…Về sau này lớn lên tôi có dịp nghiên cứu sâu về nghề đánh cá cùng
các thứ dụng cụ, đồ nghề đánh bắt của vùng quê tôi trong gần trăm năm nay Nào rê lộng, rê khơi, xăm trụ, lưới bãi, mành rút, thuyền câu, vó đèn, v.v - toàn là các mưu kế để đánh lừa, rình bắt con cá
cả Các mưu mẹo mỗi ngày một hoàn chỉnh dần, mỗi đời người một tinh vi dần…” [19, tr.877]
Cũng trong truyện, hình ảnh ông lão Bờ bắt cá bằng tiếng gọi rủ rê chúng gây cho người đọc những ấn tượng khó quên Để có được tiếng gọi cá hết sức điêu luyện, rủ rê chúng
đi vào chỗ chết, hẳn rằng ông lão Bờ phải đúc rút bằng cả cuộc đời lăn lộn với nghề của mình
Có khi trong tác phẩm, Nguyễn Minh Châu chỉ miêu tả cảnh làm ăn của dân chài ở một
vùng đầm phá nước mặn (Chiếc thuyền ngoài xa) nhưng qua đó người đọc cũng thấy được bao kinh nghiệm làm ăn lâu đời của họ: “…chính là những tiếng động đầy vẻ náo nhiệt ở cách
xa hàng cây số cũng nghe tiếng của một nhóm thuyền đánh cá đêm bằng vó bè Tôi chỉ được nghe cái âm thanh của sự làm ăn có cái gì như ma quái ấy vào những đêm thật tối trời và chỉ được nghe thấy vào quãng gần sáng…”[15, tr.115] Kinh nghiệm làm nghề cho họ bài học
đánh cá đêm bằng vó bè chỉ được áp dụng vào quãng gần sáng của những đêm thật tối trời Đối với những dân chài lấy mặt nước làm đất, lấy thuyền làm nhà như gia đình người đàn bà làng chài ở đây, để tồn tại được giữa mênh mông sóng nước nếu không có những kinh nghiệm truyền đời này chắc chắn rằng con người sẽ gặp rất nhiều khốn khó trong công cuộc mưu sinh Ông ngoại Quy, trong những ngày cuối đời, đã dặn dò Phan những lời, những kinh nghiệm rút ra từ suốt một đời chứng kiến hết mọi thăng trầm, gian nan của nghề sông nước
Ông khuyên con cháu phải biết thành tâm, kiên nhẫn tìm hiểu Ông cụ dặn dò Phan: “Anh
phải nên luôn nhớ rằng: nghề làm ăn của dân biển mình là nghề đấu trí, đấu lực với ông trời Thò tay vào cái rốn bể để dò tìm cái miếng ăn đâu phải một việc dễ, có thể bất chấp Trời Đất được” [19, tr.878]
Nếu không có những kinh nghiệm quý báu được lưu truyền qua các thế hệ hẳn rằng con người sẽ phải chịu mất mát, thua thiệt khá nhiều trong những cuộc đối mặt với thiên nhiên nhiều bí hiểm và cũng nhiều hung bạo Chẳng thế mà quá trình khai hoang của gia đình Khúng dù không nguy hiểm như những cuộc chinh phục của con người trên biển cả
Trang 33nhưng cũng không hẳn là ít gian nguy Và cũng chính những khó khăn đã đem lại cho con người bao kinh nghiệm của nghề làm nông Bước chân lên vùng rừng, ngoài mối đe dọa của hổ, beo, rắn rết, gia đình Khúng còn phải đối mặt với sự khó khăn trong việc cải tạo đất đai - “một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy những đá Viên bé chỉ là một hòn đá
kì lưng, hòn to cũng ngang cái đầu, và lại còn cơ man là rễ cỏ gianh” Công việc khẩn đất tại đây nặng nhất là khâu nhặt đá Ban đầu người ta chỉ biết tới công cụ lao động duy nhất
là đôi bàn tay Dần dần mới tiến lên đan kị, đan sọt để khiêng và gánh Một bước cải tiến
mà Nguyễn Minh Châu cho là “nhảy vọt” chính là việc người ta đóng xe cút kít để chở đá
Trong bài bút kí Trò chuyện ở huyện ủy, Nguyễn Minh Châu đã đánh giá rất cao phát
minh này của người dân quê hương:
…tôi đã lôi anh bạn dậy, đốt thuốc, lên tiếng hùng hồn chứng minh cho anh tất cả cái trí tuệ đầy thông minh của con người miền Trung trong việc chế tạo chiếc xe sộc, để chở củi, chở phân, chở thóc, chở muối, biết bao là nguyên lí vật lí nằm trong một chiếc xe cút kít vô cùng giản dị, hoàn toàn bằng gỗ và chỉ có một bánh
có thể len lỏi đi vào mọi thứ đường xá nhỏ hẹp… [23, tr.979]
Kinh nghiệm khai phá đất hoang được đúc rút không chỉ trong những công cụ sản xuất tuy thô sơ mà vô cùng hữu ích, có khi nó nằm ngay trong ý đồ làm ăn lâu dài của con người Lúc đầu Định rất ngạc nhiên khi thấy gia đình Khúng rời làng lên đã nửa năm mà chưa chịu làm nhà, “hắn vẫn để vợ con chui rúc dưới mấy tấm phên cỏ che trên cái hầm thùng” Khác hẳn với quan niệm “an cư lạc nghiệp” của người Việt nói chung, Khúng đi ngược lại: “lạc nghiệp” rồi mới “an cư” Đây là cách sống ứng biến rất phù hợp hoàn cảnh, bởi đúng như lời Khúng nói với vợ: “Dựng nhà làm khỉ gì, làm mục tiêu cho tàu bay nó bắn ư?” Chính vì vậy bao nhiêu sức lao động trong “bước đi ban đầu”, Khúng đem dồn hết vào việc vỡ đất Và cái
“cơ ngơi” mà Khúng có được: “Chung quanh cái “ổ gấu” dần dần mọc lên một vành đai sẵn
ở phía ngoài, sắn lên xanh ngắt chen chúc cây dại Đậu xanh, đậu tương ở sau nhà Lúa tẻ, lúa nếp trước nhà…” chính là những thành quả mà Khúng đã đổ bao công sức để giành giật
từ thiên nhiên khắc nghiệt Chính từ cuộc mưu sinh đầy gian khó này mà Khúng đã tích lũy được cho mình bao kinh nghiệm quý báu Và xung quanh những kinh nghiệm của nghề đi biển, của việc khai hoang cải tạo những vùng đất khô cằn sỏi đá, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra bao điều thú vị trong nếp sống, nếp sinh hoạt, lao động của con người miền
Trung Ông nhìn thấy sâu xa trong mảnh đất quê hương “biết bao là trí lực và tình yêu cuộc
Trang 34sống, tình yêu con người và đất đai”, “là toàn bộ cái triết lí nhân bản của người Việt” [23,
tr.980]
Đời sống tâm linh- một nét văn hóa đặc sắc của làng xã miền Trung - được Nguyễn Minh Châu tâm huyết thể hiện trong tác phẩm của mình Nhà văn đã mang lại cho người đọc những trang viết rất tinh tế và sâu sắc về tín ngưỡng, phong tục của vùng đất quê hương
Trong sách Văn hóa tâm linh của Nguyễn Đăng Duy, khái niệm tâm linh được hiểu
như sau: Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, khái niệm [30, tr.14] Nguyễn Đăng Duy khẳng định có phần thiêng liêng trong ý thức con người, và niềm tin tâm thức cũng là niềm tin thiêng liêng [30, tr.20] Mà đã thiêng liêng thì chẳng ai dám khinh nhờn, chẳng ai bỏ được, ai cũng phải trân trọng Mọi biểu tượng thiêng liêng đều chứa đựng những giá trị cao cả, giá trị thẩm
mĩ [30, tr.16] Như vậy, đời sống tâm linh chính là đời sống hướng về những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và nhân loại Hướng đến thế giới tâm linh dường như là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người, đồng thời là một trong những cách để con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn Có thể nói, lọc bỏ những yếu tố có màu sắc thần bí và mê tín dị đoan, phần tinh tuý, trong sáng của đời sống tâm linh sẽ hiện ra, đó là những giá trị văn hoá đầy bản sắc và chứa đựng ý nghĩa nhân văn
Trong tâm thức của người miền Trung nói riêng, của người Việt nói chung, những người chết vì nghĩa cả bao giờ cũng được ngưỡng mộ, tôn kính Vì thế, những người có công với dân, với nước, những người làm ích nước lợi dân đều được lập bàn thờ Họ trở thành thần thánh Liễu Hạnh, ngoài cuộc đời, được nhân dân tôn sùng một cách thành kính
là Thánh Mẫu Lý Nhật Quang – hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, làm tri châu Nghệ An trong gần 20 năm (từ 1039 – 1055) được lập đền thờ và phong thánh Uy Minh Vương… Không chỉ những bậc anh hùng được thành kính tôn sùng, những người đã hy sinh vì nghĩa
cả trong cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc cũng đã được hóa thân, trở thành thiêng
liêng Nguyễn Minh Châu đã miêu tả cảnh cả làng Hiền An (Mảnh đất tình yêu) hướng về
ngày giỗ trận Nhà văn đã thể hiện sự giao cảm giữa người sống và người chết, giữa cõi
dương và cõi âm qua sự “trở về” của tất cả bà con làng Hiền An nhân ngày giỗ trận: “Sáng
ngày ra vừa mở mắt, làng đã đầy ắp người đã chết…Từ khắp gò đống, tha ma, ngổn ngang kéo lên hàng trăm ngàn vị khách của làng lũ lượt đi trên đường làng” [19, tr.1008] Văn
Trang 35hóa tâm linh ăn sâu trong nếp cảm nếp nghĩ của mỗi con người miền Trung, trở thành dấu
ấn văn hóa vừa thiêng liêng vừa gần gũi của vùng đất này Trong tâm thức của họ, dường
như không có ranh giới giữa cõi âm và cõi dương: “ theo quan niệm của “dân kẻ bể”
làng tôi thì cõi âm và cõi dương cũng như hai nhà bố mẹ và con cái, bước qua một cái “bờ rào” là sang nhà nhau được Bên này khua bát khua đũa hay ho lên một tiếng, bên kia cũng nghe thấy” [19, tr.1007] Cậu bé Quy đã tận mắt chứng kiến ông ngoại “nói chuyện”
với người cha đã hy sinh của mình: “Tôi cố lắng tai nghe thử xem ông tôi nói với bố tôi
những gì nhưng chỉ nghe được mấy tiếng lí nhí, gần giống như ngôn ngữ gọi loài cá của ông lão Bờ Tôi biết đó là thứ ngôn ngữ nói chuyện với người chết ”[19, tr.855] Ở đây, sự
gặp gỡ giữa người sống và người chết trong khi thờ cúng chính là cội nguồn của cái thiêng trong đời sống tâm linh Người Việt thường nói "có thờ có thiêng" Cho nên cái linh thiêng
ấy bao trùm lên cả sự sống và cái chết, nó nối cái tâm của người sống với tổ tiên ông bà, với người đã khuất Thực chất, Nguyễn Minh Châu bằng trực giác nhạy bén của mình đưa vào tác phẩm những cảnh này để nói lên tình cảm ruột rà máu thịt, tình cảm bà con, làng xóm rất gần gũi thân thuộc và thiêng liêng Các thế hệ gắn kết với nhau, đùm bọc, truyền cho nhau niềm tin, nghị lực để giữ gìn và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, hướng về những điều mơ ước mà vì nó bao thế hệ nối tiếp nhau cùng theo đuổi,
cùng chịu gian khó, hy sinh để thực hiện: “Những lớp người đã chết nhưng những điều mơ
ước còn lại mãi mãi” [19, tr.1010] Đây cũng chính là cốt lõi giá trị của đời sống văn hóa
tâm linh
Trong đời sống tâm linh của người Việt nói chung, người miền Trung nói riêng, việc thờ cúng tổ tiên đã trở thành thuần phong mĩ tục và được gìn giữ lưu truyền qua nhiều thế hệ
Với Cỏ lau, nhà văn cũng đã chạm đến vẻ đẹp gốc rễ, sự thiết tha với cội nguồn, luôn khắc
khoải hướng vọng về quá khứ của những con người miền Trung Nơi đây, tục thờ cúng trở thành một truyền thống có ý nghĩa trường tồn và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống mỗi gia đình Nơi vùng núi Đợi với thế giới cỏ lau bạt ngàn ta gặp những con người đang “sống về mồ về mả”, sống những nỗi giao tiếp tâm linh âm thầm huyền nhiệm Thai trong suốt mười sáu năm trời đã sống bằng dưỡng chất từ những kí ức tình yêu với Lực, dù chị đã trở thành vợ của người khác Đi bất cứ nơi đâu chị cũng đem theo phần mộ của anh như để tìm một sự trú ẩn cho linh hồn nhiều khổ đau của chị Chẳng năm nào chị quên ngày giỗ của anh, ngày thường lại càng chăm cúng “cúng ở nhà xong lại còn ra đồng cúng” – như lời đứa con gái chị hồn nhiên nói với “ông khách” Hình ảnh Thai trong những ngày chạy di
Trang 36tản, dù đang ở cữ mới được nửa tháng nhưng vẫn tất tả lo cúng giỗ cho Lực, gieo vào lòng người đọc những cảm xúc đầy trân trọng, thiêng liêng, thành kính Mất anh điều đó cũng có nghĩa chị đã mất tất cả, chỉ còn lẽ sống duy nhất duy trì nghị lực sống trong chị ấy là sự nối kết với linh hồn anh qua những lần cúng giỗ Với Phi Phi cũng thế Dù lẫn trong đám đàn bà
“ăn sương” buôn bán, phe phẩy ở ngã ba đường nhưng chính sự ngưỡng vọng, tha thiết hướng về người tình đã chết trận khiến chị luôn tiềm ẩn vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, thanh cao Phi Phi luôn ý thức về sự khinh bỉ của người đời đối với hạng đàn bà như chị nhưng với
chị điều đó chẳng có ý nghĩa gì: “tôi giả lại cái vinh dự, vinh quang với lại những gì gì cho
các ông, tôi chỉ thiết có một chút nắm xương của người tình của tôi đang bị lẫn lộn với đất ở đây” [15, tr.513] Chị đã cùng đám bạn thân thiết lăn lộn nơi vùng núi Đợi tìm bằng được
phần hài cốt của Phi Có thể nói đức tin cùng mối giao cảm tâm linh đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, thành sợi dây vô hình gắn kết người sống với người đã chết Cũng như thế bao người dân nơi vùng núi Đợi sau chiến tranh đã tìm về lại mảnh đất quê hương, trong lòng họ luôn chan chứa một niềm thành kính, biết ơn với cốt nhục của tổ tiên, ông bà, cha
mẹ cùng biết bao anh em bộ đội giải phóng Quay về lại mảnh đất quê hương chính là sự trở
về nguồn cội, là sự tìm về nguồn sức mạnh tinh thần vô giá Vì thế trong những ngày đầu khai hoang phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, dù chưa có gì để bày cỗ cúng bái nhưng nhà nào cũng mang theo bát hương cùng mấy thẻ hương để đốt lên cho người đã khuất Tục thờ cúng người chết, với người miền Trung nói riêng, người Việt nói chung, đã trở thành một đạo lí sống tốt đẹp, giúp con người ta không bao giờ dứt lìa khỏi mối liên hệ với quá khứ và nhất là đem lại nguồn sức mạnh tinh thần vô giá cho những con người hôm nay
Niềm tin thiêng liêng cùng những điều huyền nhiệm từ thế giới tâm linh luôn có tác dụng bao bọc con người trong một lẽ sống thấm đẫm những giá trị văn hóa tốt đẹp Có thể nói trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đức tin cùng sự thành kính, ngưỡng vọng với những người đã khuất của người dân miền Trung đã trở thành một giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của vùng đất này Trong khoảnh khắc hồi tưởng hay sự tự vấn của người sống với người đã chết, những kí ức, những kỉ niệm, kỉ vật ngày thường khi chia xa bỗng được
trân trọng đến thành thiêng liêng hóa Khúng (Phiên chợ Giát) khi mất đi đứa con trai thân
yêu, nỗi đau khiến lão như tê liệt và trong hoàn cảnh đau đớn đó lão chỉ biết ôm lấy “cái kỉ vật vô cùng quý báu” mà con lão để lại, dù đó là cái ba lô bẩn thỉu, rách rưới, chẳng khác gì
“chiếc đẫy của đứa ăn mày” Trong cơn say của nỗi đau đớn tuyệt vọng, lão mân mê trên tay
đôi đũa vót dở của con những mong tìm được chút hơi ấm còn sót lại Khoảnh khắc Lực (Cỏ
Trang 37lau) tự vấn lương tâm mình về cái chết của Phi gieo vào lòng người đọc những ám ảnh da
diết về sự tồn tại đầy quyền uy của thế giới tâm linh trong đời sống con người Bởi nếu không thế thì Lực đã không phải day dứt về những tội lỗi trong quá khứ của mình với người
đã khuất Chiến tranh đã đi qua, cỏ lau đã mọc lên tươi tốt, phủ kín trận địa ngày nào trong một màu xanh bạt ngàn Tuy nhiên, mặc cảm tội lỗi trong Lực thì không một cánh rừng cỏ
lau nào có thể che phủ được Khi mà “những chiếc rễ cỏ lau xoắn xuýt đầy sức sống nằm lẫn
lộn trong đất mới được đào lật lên trên cái gò đất đỏ như máu, đang xông lên mùi ngai ngái hăng hắc…” [15, tr.532] thì cũng chính là lúc Lực trở thành quan tòa của chính mình Chỉ vì
một chút tư thù cá nhân cùng sự háo danh và tính ích kỉ mà Lực đã đẩy Phi vào chỗ chết Ánh mắt trách móc đầy kiêu bạc khi Phi đã ra khỏi căn hầm sẽ mãi mãi như một vết cứa đầy nhức nhối trong tâm hồn Lực Rõ ràng đời sống tâm linh ở đây có tác dụng giáo dục nhân cách, thanh lọc tâm hồn con người, hướng họ đến việc tu dưỡng nhân cách sống có văn hóa Hiểu tầm quan trọng của thiên nhiên đối với con người nhất là trên lĩnh vực tinh thần, Nguyễn Minh Châu đã khai thác thế giới tâm linh của con người miền Trung qua mối
giao hòa với thiên nhiên Trong những tác phẩm như Mảnh đất tình yêu, Phiên chợ Giát,
Cỏ lau, …người đọc bắt gặp hình ảnh con người trò chuyện tâm tình với các loài cây cỏ,
với đất mẹ, hay cảm nhận về sự tồn tại của những giá trị vĩnh hằng trong cuộc sống con người Các nhân vật tìm về với thiên nhiên như tìm về với thế giới tâm linh của mình Ở
đó, họ có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn, có thể tìm được trạng thái cân bằng cho đời sống tinh thần
Người ông ngoại của Quy có một khả năng kì lạ, ấy là tài nói chuyện với cây cỏ
muông thú: “Ông tôi có thể ngồi nói chuyện suốt ngày với biển cả, thậm chí có thể trò
chuyện tâm sự thân mật với cả con dã tràng” [19, tr763] Do phải chống chọi với một thiên
nhiên nhiều khắc nghiệt, luôn bất ngờ ập tai họa lên cuộc sống cho nên người dân miền Trung đã tạo cho mình một nếp sống gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên Có lẽ chỉ với những con người miền Trung với cuộc sống như đánh đu cả số phận, cả cuộc đời mình với thiên nhiên mới có được khả năng thần diệu đó Sự giao cảm đem lại cho con người những khoảnh khắc bình an và nhất là giúp con người có thể lắng nghe, có thể thấu hiểu tâm tính của thiên nhiên đặng mà biết cách ứng xử cho phù hợp “Cửa” Hiền An vốn nổi tiếng là một cái cửa
“hỗn” nhất, tàu thuyền khó vô, khó ra nhất Đội tàu đánh cá của Phan đã bao phen phải gặp khó khăn khi ra vào “cửa” Những kinh nghiệm mà ông ngoại Quy trong phút hấp hối truyền
lại cho Phan là những lời khuyên về sự gần gũi, hòa thuận với thiên nhiên: “Thế đấy, bên
Trang 38ngoài ngụy tặc nhưng bên trong luật trời đất đều có quy củ cả Hãy thành tâm kiên nhẫn tìm hiểu, hỏi han nó Rồi nó khắc bảo cho mà biết cái quy củ của nó Ông trời đã bầy ra cái
“cửa” để tàu thuyền của con người ta ra vào thì cánh cửa có cách đóng, cách mở Cũng như cái cửa của từng nhà ta vậy thôi” [19, tr.879] Tục cúng “cửa” ra đời bắt nguồn từ cái ngụy
tặc, khôn lường của thiên nhiên nhưng như lời người ông của Quy nói: “Nhưng cúng vái
cũng chẳng được, mà coi khinh coi thường, bất chấp nó lại càng chẳng được” [19, tr.879]
Chỉ có sự thành tâm kiên nhẫn tìm hiểu thiên nhiên con người mới tìm được sự bình yên cho cuộc sống của mình
Quan tâm đến phần sâu kín trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân miền Trung, Nguyễn Minh Châu đã nói được điều mà ông tâm đắc: nơi những làng quê miền Trung khô cằn, lam lũ, hoang tàn luôn ăm ắp tràn trào một đời sống tinh thần phong phú Những phong tục, tập quán, tín ngưỡng của con người nơi đây luôn gắn với vẻ đẹp căn cốt, bền vững của một đời sống tâm linh thuần khiết, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nét đẹp văn hóa của làng quê miền Trung có khi còn được nhà văn khắc họa trong chất giọng đặc thù của quê hương Dân miền Trung vẫn lưu truyền câu thành ngữ dân dã “chửi cha không bằng pha tiếng” Chẳng nơi đâu như ở những làng quê miền Trung, giọng quê hương lại được trân trọng, yêu quý và tự hào đến thế Giọng nói trở thành một biểu hiện đặc trưng, hết sức gần gũi, thân thuộc, dễ nhận ra của vùng đất miền Trung Dù có xa quê bao năm người dân miền Trung vẫn lưu giữ giọng nói của quê hương như lưu giữ sợi dây gắn kết với cội nguồn
Định (Khách ở quê ra) vẫn nhớ như in khoảnh khắc được nghe giọng nói làng quê trên đường hành quân: “…một lần ban đêm hành quân giữa rừng Trường Sơn, chỉ nghe một giọng nói
người làng cất lên trong hàng quân đi ngược chiều, Định đã phải kêu lên một tiếng xiết bao mừng rỡ, và chính tiếng kêu của anh đã khiến một cái bóng người khoác súng từ hàng quân bên kia nhảy bổ sang với anh” [15, tr.577] Giọng quê hương đã kéo con người lại gần nhau,
trở thành một thứ hành trang tinh thần con người luôn mang theo khi xa đất, xa quê Sau bao
năm xa quê trở về, chỉ nghe qua giọng nói của người chào hỏi mình, Định đã “nhận ngay được
giọng “kẻ biển” của làng mình, - vừa nặng trình trịch vừa véo von như hát” [15, tr.545] Có
thể nói tình cảm sâu nặng với tiếng quê hương cũng là một nét đẹp văn hóa căn cốt của mỗi làng quê miền Trung nói riêng, của cả dải đất miền Trung nói chung
Viết về vùng đất mà mình tâm huyết, lại chính là vùng đất mà mình đã sinh ra và lớn lên nên những trang viết của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện một sự am hiểu sâu sắc, kĩ càng Bức tranh quê hương mà Nguyễn Minh Châu khái quát trong những sáng tác của ông
Trang 39không chỉ có con người với cuộc sống của con người mà có cả bề rộng lẫn chiều sâu của một vùng văn hóa đa dạng, phong phú Những nét văn hóa cổ truyền (tín ngưỡng, phong tục, tập quán…) của làng quê miền Trung đã làm nên “tầng đời nền móng” vững chắc cho vùng đất
và con người nơi đây Soi vào bề dày văn hóa ấy, người đọc vừa thấy được bản sắc riêng của vùng văn hóa miền Trung, vừa thấy được sự hòa điệu trong dòng chảy chung của văn hóa dân tộc Đặc sắc và tài năng của Nguyễn Minh Châu chính là ở chỗ đó
1.4.3 Miền Trung – dải đất tỏa sáng truyền thống đấu tranh cách mạng
Miền Trung được biết đến như là một vùng đất kiên cường, hứng chịu nhiều thiên tai
và đặc biệt là sự khốc liệt của bom đạn chiến tranh Nói theo cách dùng từ của Nguyễn Minh Châu thì đây là “vùng quê hương của chiến tranh và khổ ải” Vì thế nhắc đến miền Trung người ta thường hình dung vùng đất này như “cái nôi” của phong trào đấu tranh cách mạng Biết bao tên tuổi những lãnh tụ cách mạng kiệt xuất là những người con của vùng đất này: Quang Trung Nguyễn Huệ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp Bên cạnh đó là vô số những tên tuổi vô danh – những con người đã góp phần làm nên lịch sử Theo chiều dài lịch sử có thể kể đến những cuộc khởi nghĩa lớn như khởi nghĩa Tây Sơn (thế kỉ XVIII) – cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, phong trào chống thuế ở Trung kì (3/1908), phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (9/1930) – đỉnh cao của phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1930-1931, phong trào du kích Ba Tơ (3/1945)…Đến với miền Trung, những địa danh như ngã ba Đồng Lộc, cầu Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, Đường 9 Khe Sanh, thành cổ Quảng Trị,…sẽ còn vang vọng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và thế giới về khí phách anh hùng và chiến công hiển hách Chỉ lấy riêng những con số do chiến tranh hôm qua để lại nơi vùng đất Quảng Trị - một phần của dải đất miền Trung nhỏ hẹp – cũng khiến người đọc phải giật mình vì sự cống hiến của dải đất này cho độc lập dân tộc Quảng Trị có nhiều nghĩa trang liệt sĩ nhất cả nước với 72 nghĩa trang Hơn 52.200 liệt sĩ đang yên nghỉ trên mảnh đất này Cả nước có 4 nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia thì tại Quảng Trị có 2 Tất cả các huyện của Quảng Trị đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Những con số này nói lên sự ác liệt và kiên cường của Quảng Trị nói riêng, của miền Trung nói chung
Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, quê hương gắn với bề dày truyền thống ấy Từ mỗi làng quê ra đi, mỗi người dân nơi đây luôn mang theo những tình cảm sâu nặng, nhất là niềm tự hào về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất của quê hương Chính tại những làng quê rất đỗi hiền lành thân thương này đã chôn vùi bao nhiêu thứ giặc ngoại
Trang 40xâm Định (Khách ở quê ra), trong mối hoài niệm về quê hương, luôn giữ một niềm tự hào đầy kiêu hãnh: “Hàng chục năm nay cũng như từ nghìn đời, bao nhiêu thứ giặc ngoại xâm đến
đây đều bị chết gục trong cái làng quê hiền lành một màu xanh rì ấy” [15, tr.576] Tấm lòng
yêu nước, yêu quê hương và nhất là ý chí sắt đá bảo vệ quê hương trở thành ngọn lửa đấu tranh cách mạng kiên cường nơi mỗi người dân miền Trung Điều này, ít nhiều đã được kiểm chứng trên trang viết của Nguyễn Văn Xuân, Tố Hữu, Phùng Quán…Những khí phách lẫm liệt như Tổng đốc Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Bá Phiến…và biết bao những người dân chân lấm tay bùn, những người lính vô danh như anh Bốn, như viên đội hầu… (trong sáng tác Nguyễn Văn Xuân), như những em bé trong đội Vệ Quốc Đoàn (trong sáng tác Phùng Quán)…tất cả đều gây một ấn tượng kính phục trong lòng người đọc về tinh thần quả cảm, đấu tranh quên mình, về sự hi sinh vô điều kiện cho Tổ quốc
Trong những sáng tác những năm 80 viết về dải đất miền Trung, Nguyễn Minh Châu không chủ đích đi vào phản ánh không khí đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Trung nhưng như một hằng số lịch sử trong tâm thức, tất cả cứ dội về, nhuốm lên cảnh vật và con
người nơi đây Mảnh đất tình yêu chủ yếu là câu chuyện những con người, những thân phận
nơi làng chài Hiền An bằng tình yêu thương đã cùng nhau chống chọi với bão táp của số phận, của cuộc đời nhưng bên cạnh đó còn thấy ngời sáng tinh thần và ý chí của người dân khi cưu mang, đùm bọc cách mạng Có thể nói tình yêu là căn cốt trên mảnh đất này, chính tình yêu đã nối kết những thân phận bơ vơ bất hạnh, đem lại cho họ một sự hồi sinh Và cũng chính cái tình đời, tình người bền vững đó cho phép nối liền những mẫu người cổ sơ nhân hậu như ông ngoại Quy, mụ Điểm,… với những người cộng sản trẻ tuổi như Tùng, Phan
Chính người ông ngoại của Quy và mẹ Quy đã cưu mang che chở cách mạng từ những ngày gian khó nhất Đọc tác phẩm hẳn người đọc sẽ khó quên hình ảnh hai bố con hì hục đào hầm suốt mấy ngày trời để nuôi giấu cán bộ cách mạng Điều đáng nói là họ phải làm trong bí mật, vì thế một người đào, một người kì khu đem đất gói thành từng gói như cái bánh chưng chờ đến đêm đem đi giấu Chỉ nói riêng hành động đào hầm đã là biết bao công sức Nhưng khó
khăn, căng thẳng nhất là những ngày nuôi giấu: “Cũng trong gần nửa năm, mỗi giây thần kinh
của mẹ tôi căng ra.(…) ngày bấy giờ, đi ra ngoài đường làng hay bước vào các ngõ xóm đều giáp mặt lính, không Mỹ thì ngụy, không thì cũng chỉ điểm, hoặc tai mắt của chúng cài trong dân” [19, tr.793] Nếu không có tình cảm và nhiệt tình cách mạng của những người dân như ông
ngoại, như mẹ của Quy, hẳn rằng đúng như lời Quy nói: