1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố kì ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt nam giai đoạn 1930- 1945

116 1,6K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Tác giả Trần Thanh Tùng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thành Thi
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Yếu tố kì ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt nam giai đoạn 1930- 1945

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trần Thanh Tùng

YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Trang 2

GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THÀNH THI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 3

Xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn

và phòng Khoa học công nghệ & sau đại học trường Đại học sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin cám ơn Ban giám hiệu, Tổ Văn trường THPT Trần Bình Trọng – Cam Lâm – Khánh Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi trong công tác để tôi hoàn thành luận văn này

Xin cám ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Trang 4

2.3.3 Yếu tố kỳ ảo và những khát khao về hạnh phúc lứa đôi 66

2.3.4 Yếu tố kỳ ảo và cảm hứng triết luận về con người 72

2.3.5 Yếu tố kỳ ảo và những lý giải khoa học về các hiện tượng thần bí 79

Chương 3: YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 TỪ GÓC NHÌN THẨM MĨ 3.1 Kỳ ảo như một yếu tố mang giá trị mĩ cảm 86

3.1.1 Thỏa mãn nhu cầu tưởng tượng lãng mạn 86

3.1.2 Thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh 88

3.2 Kỳ ảo như một yếu tố, phương tiện kỹ thuật trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 93

3.2.1 Tác động của yếu tố kỳ ảo lên cốt truyện 93

3.2.2 Tác động của yếu tố kỳ ảo lên thế giới nhân vật 97

3.2.3 Tác động của yếu tố kỳ ảo lên trần thuật 102

3.2.4 Tác động của yếu tố kỳ ảo lên không gian và thời gian nghệ thuật 113

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã có sự phát triển vượt bậc và đạt đến những thành tựu đỉnh cao Chỉ trong vòng 15 năm, người đọc được chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt cây bút chuyên nghiệp tài năng như: Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Lan Khai, Tchya – Đái Đức Tuấn, Thế Lữ… Tên tuổi và sự nghiệp của họ gắn liền với những tìm tòi, đổi mới về cách thức thể hiện nội dung và bút pháp nghệ thuật Sự phá cách, chất hiện đại trong phong cách sáng tác của các văn nhân thi sĩ đã làm nên sự đa sắc diện cho nền văn xuôi lãng mạn Việt Nam Những tưởng trước ngưỡng cửa cuộc sống hiện đại, trước những xâm lấn của văn hóa phương Tây vào

xã hội Việt Nam, yếu tố huyễn hoặc, kỳ ảo trong văn học sẽ không còn đất để sinh tồn Thế nhưng, khi đi sâu vào khám phá địa hạt của văn học nghệ thuật giai đoạn

1930 – 1945, lạ thay cái chất kỳ ảo, ma quái, kinh dị vẫn nảy nở và phát triển trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là trong các tác phẩm văn xuôi thuộc khuynh hướng lãng mạn Trên thi đàn văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 đã xuất hiện nhiều

trang viết đậm chất kỳ ảo, huyễn hoặc Có thể kể đến: Rừng khuya – Lan Khai;

Thần hổ, Ai hát giữa rừng khuya – Tchya Đái Đức Tuấn; Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh – Thế Lữ; Trên đỉnh non Tản, Xác ngọc lam, Loạn âm, Khoa thi cuối cùng… – Nguyễn Tuân; Lan rừng, Bóng người trong sương mu – Nhất Linh; Ngậm ngãi tìm trầm – Thanh Tịnh… Sáng tác của họ đưa người đọc vào thế giới

của những câu chuyện hoang đường kỳ ảo đậm chất huyễn hoặc, ma quái Ở đấy, trí tưởng tượng phong phú của các nhà văn lãng mạn có dịp tung hoành mà không

bị hiện thực cuộc sống kiềm tỏa Họ thỏa sức đào sâu vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, vào cái tôi nội cảm, diễn tả ước mơ, khát vọng của cá nhân, đề cập đến những

số phận cá nhân với thái độ bất hoà, bất lực trước hiện thực tầm thường, tù túng… Hơn bao giờ hết, yếu tố kỳ ảo được đưa vào trong văn học với mật độ khá dày đặc, trở thành một dòng, một nhánh riêng với nhiều tên tuổi nổi tiếng: Thế Lữ, Nhất

Linh, Nguyễn Tuân, Đái Đức Tuấn, Lan Khai, Thanh Tịnh, Hoàng Trọng Miên…

Sáng tác của họ đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn, được đông đảo người đọc đón nhận và thu hút nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình văn học

Trang 6

1.2 Sự thực, yếu tố kỳ ảo đã xuất hiện từ rất lâu trong đời sống văn học nhân loại và nó hoàn toàn không hề xa lạ với độc giả Việt Nam Yếu tố kỳ ảo đã tạo thành một dòng chảy liên tục trong lịch sử của văn học dân tộc từ thời kì cổ đại cho đến cận hiện đại Tuy nhiên, do đặc điểm xã hội, tâm lí nhận thức của mỗi thời kì khác nhau, nên yếu tố kỳ ảo ở mỗi thời kì văn học cũng không giống nhau Ngay từ buổi bình minh của văn học, văn học dân gian Việt Nam đã gắn liền với yếu tố kỳ

ảo Những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết dân gian ra đời nhằm phản ánh nhận thức, niềm tin của con người cổ đại về những biến cố, sự kiện của thế giới thuở hồng hoang Sang thời kì trung đại, yếu tố kỳ ảo tiếp tục tồn tại trong những sáng tác của các văn nhân nho sĩ Sáng tác của họ là lời cảnh báo về những chuyện xấu xa ở trần gian hướng con người đến cuộc sống tốt lành nhằm mục đích phục vụ cho quan niệm “văn dĩ tải đạo” Đến đầu thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 –

1945, hạt giống yếu tố kỳ ảo đã thực sự sinh trưởng tốt tươi trên mảnh đất văn xuôi lãng mạn và thu đạt được những thành tựu rực rỡ Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là sản phẩm của sự kết hợp độc đáo giữa yếu

tố kỳ ảo trong văn học phương Tây và văn học truyền thống Vì vậy, nghiên cứu văn xuôi kỳ ảo văn học giai đoạn này không chỉ giúp chúng ta thấy được những đóng góp của nó vào thành tựu chung của văn xuôi lãng mạn mà còn hiểu rõ hơn về truyền thống của văn học Việt Nam

1.3 Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đã góp phần tạo nên những giá trị khó phủ nhận về mặt nội dung và nghệ thuật Nó là phương thức thể hiện quan niệm mới về thế giới, cuộc sống của các nhà văn lãng mạn, là một trong những hình thức đắc dụng để nhà văn đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm với những cung bậc cảm giác của con người Đồng thời, nó mang lại giá trị thẩm mĩ đặc sắc cho những tác phẩm lãng mạn, phản ánh, lưu giữ được nhiều dấu ấn phong cách tác giả và sự đa dạng về văn phong nghệ thuật Nghiên cứu yếu

tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn là một việc làm có ý nghĩa góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về diện mạo của dòng văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945

Trang 7

Chính vì thế, trong luận văn này, chúng tôi chọn đề tài: “Yếu tố kỳ ảo trong văn

xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945” để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới, yếu tố kỳ ảo trong văn học đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu từ những thập niên đầu của thế kỉ XIX Ở Việt Nam, vấn đề này chỉ được bàn luận vào sau những năm 1975 và thực sự sôi nổi vào những năm đầu của thế kỉ XXI Nội dung các bài nghiên cứu về yếu tố kỳ ảo tập trung ở hai phương diện sau:

2.1 Nghiên cứu lý luận

Bài nghiên cứu Cái kỳ ảo và văn học huyễn ảo của Lê Huy Bắc đã xác định

đặc điểm phát triển của “văn học kỳ ảo và cái kỳ ảo” bằng việc xác định bản thể và định danh trong tiến trình lịch sử Ông đề xuất dùng khái niệm “văn học huyễn ảo”

“với mục đích nhằm bao quát cả một lịch sử sáng tạo văn chương nơi xuất hiện sự đan cài của hai yếu tố thực và ảo mà hàm lượng bao giờ cũng nghiêng qua phần ảo” Từ đó, ông nhấn mạnh “thế giới của văn học huyễn ảo là thế giới của trí tưởng tượng, nơi sự khác lạ hoang đường, thần diệu… luôn ngự trị Có lúc nó giúp người đọc bình tâm, tự tại; có lúc nó khiến họ hoang mang, khiếp đảm và có lúc khiến họ hoài nghi, bối rối…”[3] Lê Huy Bắc đã dùng khái niệm “văn học huyễn ảo “ để

thay cho khái niệm “văn học kỳ ảo” và ông dùng khái niệm văn học kỳ ảo để chỉ

một bộ phận, một giai đoạn trong tiến trình của văn học huyễn ảo Bài viết này đã

có những đóng góp nhất định trong việc xác định quan niệm về văn học kỳ ảo Bài viết Về cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo trong nghiên cứu văn học của Lê

Nguyên Long bước đầu cũng đã thể hiện sự quan tâm đến văn học kỳ ảo và khái niệm cái kỳ ảo Trong bài viết này, Lê Nguyên Long đã tổng hợp nhiều quan niệm

về thuật ngữ kỳ ảo và văn học kỳ ảo của các học giả nước ngoài Từ đó ông đưa ra ý

kiến của mình về cái kỳ ảo: “cái kỳ ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lý tính

từ điểm nhìn của chúng ta với tầm nhận thức hiện tại Chính sự không cắt nghĩa được bằng lý tính ấy đã tạo nên một “sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ” (Roger Caillois), gây ra tâm trạng hoang mang cho người nào đối diện với nó” [30] Khái

Trang 8

niệm mà Lê Nguyên Long đề xuất phần lớn xuất phát từ thực tiễn sáng tác của văn học phương Tây Chỉ có một lần duy nhất tác giả liên hệ với văn học Việt Nam khi

khẳng định: “truyền thống truyện truyền kỳ, chí quái phương Đông với những kiệt

tác như Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, hay tuyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chính xác cần được gọi tên là fantasy, vừa xét về thời điểm ra đời, vừa xét từ đặc trưng nghệ thuật của nó…” [3].

2.2 Nghiên cứu thực tiễn sáng tác

Trong tiểu luận Tìm hiểu các dạng truyện kỳ ảo trong văn học cổ trung đại

và cận đại Đông Tây nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Huệ Chi đã luận

giải khá rõ nét về lý thuyết và thực tiễn truyện kỳ ảo trong đời sống văn học Phương Tây và Trung Hoa từ cổ đại cho đến cận đại Bài viết cũng đã xác lập được diện mạo “truyện truyền kì” trong văn học cổ cận đại Việt Nam trong quan hệ đối sánh

với văn học kỳ ảo nước ngoài Ông nhận định: “Văn học Việt Nam trong hàng nghìn

năm chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn học và văn hóa Trung Quốc, lẽ dĩ nhiên, “cái

kỳ ảo” Trung Quốc vang bóng rất rõ vào “cái kỳ ảo” Việt Nam Mặc dù thế, trước khi tìm hiểu “cái kỳ ảo” Trung Quốc tưởng cũng nên nhìn sang chân trời xa hơn, thử xem “cái kỳ ảo” phương Tây có những đặc sắc gì, có những biểu hiện gì chung với “cái kỳ ảo” phương Đông, hoặc giả có thể soi tỏ được chút gì cho việc tìm tòi các dạng thức, các đặc điểm của “cái kỳ ảo” trong văn học dân tộc” [7] Với tiểu

luận này, Nguyễn Huệ Chi đã góp một phần không nhỏ giúp người đọc nhìn thấy được bản sắc của truyện kỳ ảo Việt Nam

Luận án tiến sĩ: Sự hồi sinh của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt

Nam của Bùi Thanh Truyền – Trường Đại học Huế cũng là một công trình nghiên

cứu đáng chú ý Trong luận án này tác giả đã đi tìm nguyên nhân về sự hồi sinh của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Theo tác giả, sự có mặt trở lại của yếu tố kỳ

ảo trong văn học giai đoạn này xuất phát từ những nguyên nhân: từ những thay đổi trong đời sống xã hội – văn học, từ sự mở rộng quan niệm về hiện thực và đối tượng phản ánh của văn học, từ sự mở rộng quan niệm về hiện thực và đối tượng phản ánh của văn học, từ sự mở rộng quan niệm về phương pháp sáng tác tiếp cận hiện thực

Trang 9

và xuất phát từ truyền thống văn hóa văn học dân tộc Phải thấy rằng, đây là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học lớn góp phần giúp người đọc hình dung được sắc diện của dòng văn xuôi kỳ ảo trong thời đại mới

Bài viết gần với đề tài nhất: Dư ba của truyện truyền kỳ, chí dị trong văn

học Việt Nam hiện đại của Vũ Thanh Trong bài viết này, tác giả không chỉ giới

thiệu khá đầy đủ những nhà văn mà các tác phẩm của họ mang đậm phong cách truyền kì, kinh dị như: Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Lan Khai, Thanh Tịnh, Đái Đức Tuấn… mà còn làm sáng rõ bút pháp nghệ thuật độc đáo, đa dạng của họ Hơn thế, ông đã phân tích đánh giá khá sâu về những đóng góp của dòng truyện truyền kỳ đời mới cho văn học hiện đại Việt Nam

Bên cạnh đó cũng phải kể đến: Truyện kỳ ảo Việt Nam trong đời sống văn

học đương đại của Bùi Thanh Truyền Trong bài viết này, có một phần nhỏ nhà

nghiên cứu đã đề cập đến: “những cây bút kỳ ảo với phong cách tài hoa, độc đáo:

Thế Lữ, Tchya Đái Đức Tuấn, Đỗ Huy Nhiệm, Nguyễn Tuân Sự xuất hiện của đội ngũ này đã làm sinh động đời sống văn học lúc bấy giờ…” Tuy nhiên, đó chỉ là sự

phác thảo, điểm qua một giai đoạn văn học chứ chưa có sự đào sâu nghiên cứu các

khía cạnh của vấn đề Hay bài báo: Yếu tố kỳ ảo trong sáng tác của Nguyễn Tuân

đăng trên báo Văn nghệ, số 51, năm 2008 Tuy là bài viết khảo sát cụ thể về yếu tố

kỳ ảo trong sáng tác của riêng một tác giả (Nguyễn Tuân), song nó cũng có những gợi mở cần thiết cho đề tài

Mặc dù dòng văn xuôi kỳ ảo lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chưa được quan tâm nhiều, nhưng yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi nghệ thuật sau 1975, đặc biệt là văn xuôi đương đại lại được quan tâm hơn trong những năm gần đây Có thể

kể đến luận văn thạc sĩ: Nghệ thuật kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam và luận án tiến sĩ: Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam của Bùi Thanh Truyền Hay đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi

nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (đề tài nghiên cứu cấp Bộ) của Hoàng Thị Văn

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành văn học cũng có rất nhiều những bài viết ở

khía cạnh này: Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975 của Phùng

Trang 10

Hữu Hải; Vai trò của yếu tố kỳ ảo trong truyện Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Văn Kha; Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam của Đặng

Anh Đào… Các bài viết trên đã đưa ra những nhận định, phân tích, lý giải hiệu quả nghệ thuật của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi hiện đại Việt Nam sau 1975 ở những góc nhìn khác nhau

Như vậy, cho đến nay nghiên cứu về yếu tố kỷ ảo trong văn học đã được các nhà nghiên cứu bàn luận ở nhiều phạm vi, mức độ khác nhau Nhìn chung, các bài viết nghiêng nhiều về nghiên cứu lý luận Còn nghiên cứu về thực tiễn sáng tác thì chủ yếu gắn với văn học kỳ ảo sau 1975 hoặc là văn học kỳ ảo đương đại Thực tế, cho thấy chưa có nhiều bài viết về yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn giai đoạn

1930 – 1945 hoặc có thì chỉ ở dạng phác họa, điểm qua nên còn nhiều khía cạnh quan trọng, thú vị chưa được nghiên cứu

Trên đây là một vài nhận xét của chúng tôi về các công trình nghiên cứu yếu

tố kỳ ảo trong văn học Việt Nam Vì những nguyên nhân khách quan và năng lực chủ quan, chúng tôi rất lấy làm tiếc chưa thể tiếp cận và thống kê thật đầy đủ các bài viết, công trình nghiên cứu về yếu tố kỳ ảo trong văn học đã được công bố Trong phạm vi của một luận văn chúng tôi rất trân trọng những ý kiến, quan điểm, cách đánh giá, nhận xét của các nhà khoa học đã đề xuất Những ý kiến quí báu đó

sẽ giúp chúng tôi có những định hướng đúng đắn, vững chắc về mặt phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, cũng như về mặt tư liệu tham khảo để có thể hoàn thành mục tiêu đề ra của luận văn

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn

Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 nhằm qua thế giới nghệ thuật tìm ra những quan

niệm mới của nhà văn về cuộc sống, con người và giá trị thẩm mĩ đặc sắc mà yếu

tố kỳ ảo mang lại Đồng thời, qua nghiên cứu luận văn sẽ phác thảo bức tranh chung

về dòng văn học kỳ ảo giai đoạn này

4 Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Trang 11

Luận văn khảo sát và tìm hiểu yếu tố kỳ ảo trong một số tác phẩm văn xuôi (đối tượng khảo sát là truyện ngắn và tiểu thuyết) giai đoạn 1930 – 1945 của những

tác giả thuộc khuynh hướng lãng mạn như: Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối

cùng, Xác ngọc lam, Đới roi, Loạn âm, Rượu bệnh của Nguyễn Tuân; Làng, Am culy xe… của Thanh Tịnh; Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh… của Thế Lữ; Thần

ho, Ai hát giữa rừng khuya của Tchya – Đái Đức Tuấn, Rừng khuya của Lan

Khai… Từ đó, luận văn miêu tả, lý giải sức hấp dẫn, ám ảnh của yếu tố kỳ ảo, tìm

ra những nét độc đáo của yếu tố kỳ ảo trong quan niệm thẩm mĩ cũng như phương thức thể hiện nội dung của những tác phẩm văn học này

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, luận văn chúng tôi không loại trừ phương pháp luận nghiên cứu văn học nào, song với đối tượng nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp lịch sử – xã hội

Tác phẩm văn học là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội cụ thể trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Mối quan hệ giữa văn học và thế giới thực tại khách quan là điều đã được chứng minh và thừa nhận Sự hình thành, tồn tại và phát triển của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ít nhiều chịu sự chi phối văn học truyền thống và hoàn cảnh thời đại mà người cầm bút đang sống Vì vậy, nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chúng tôi không thể không nghiên cứu lịch sử hình thành của

nó trong quá khứ, sự tác động của hoàn cảnh lịch sử trong thời đại nó ra đời Phương pháp lịch sử – xã hội với cái nhìn lịch đại sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự chi phối đó

5.2 Phương pháp sưu tầm thống kê và phân loại

Chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm, thống kê để thu thập thống kê các tác phẩm kỳ ảo của dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 từ các tuyển tập Văn học Sau khi sưu tầm, chúng tôi làm công tác thống kê các tác phẩm

kỳ ảo và sắp xếp, phân loại chúng theo từng nhóm đề tài (tùy thuộc vào sự xuất hiện

Trang 12

của yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm) để tiến hành nghiên cứu theo mục tiêu và nhiệm

vụ mà luận văn đã đề ra

5.3 Phương pháp hệ thống loại hình

Vận dụng phương pháp này, mục đích của chúng tôi là đặt các tác phẩm có

sử dụng yếu tố kỳ ảo thuộc dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945 vào trong hệ thống văn học kỳ ảo Việt Nam từ trước đến nay Đồng thời, có thể mở rộng hệ thống để liên hệ với những nền văn học trên thế giới ít nhiều có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam: Trung Quốc, Pháp, Mỹ…

Phương pháp hệ thống loại hình sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về đặc trưng của thể loại truyện ngắn kỳ ảo và những nét chính về phong cách trần thuật Đồng thời, còn giúp thấy rõ những nét độc đáo của đời sống tâm linh người Việt có trong những tác phẩm mà chúng tôi nghiên cứu

5.4 Phương pháp miêu tả so sánh

Vận dụng phương pháp này để chỉ ra những đóng góp của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945trên các phương diện nội dung

và nghệ thuật Thấy được những khác biệt của văn học giai đoạn này so với văn học

kỳ ảo truyền thống cũng như văn học hậu hiện đại Phương pháp này còn giúp chúng tôi liên hệ với những hiện tượng tiêu biểu của dòng văn học kỳ ảo thế giới như: Allan Poe, Hoffmann, Maupassant, Bồ Tùng Linh… thấy được những điểm tương đồng cũng như dị biệt giữa các tác phẩm kỳ ảo của văn xuôi lãng mạn Việt Nam với các truyện ngắn kỳ ảo của các tác giả kể trên

5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích, tổng hợp cũng được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu các văn bản kỳ ảo của dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

Trong các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi ý thức được rằng, không nên tuyệt đối hóa phương pháp nào Mỗi phương pháp có những mặt mạnh riêng Trong quá trình nghiên cứu đòi hỏi người viết phải có sự phối kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp và các thủ pháp khác để đạt hiệu quả cao nhất

Trang 13

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được tổ chức thành ba chương:

Chương 1: Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 –

Trang 14

Chương 2 YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 TỪ GÓC NHÌN THỂ TÀI

2.1 Điểm qua một số tác giả và tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo và một vài nhận xét về đặc trưng thể loại truyện kỳ ảo

2.1.1 Một số tác giả và tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo

Dòng văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 có bao nhiêu tác giả, tác phẩm sử dụng yếu tố kỳ ảo? Câu trả lời hầu như vẫn còn bỏ ngõ Bởi, cho đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào cất công biên soạn tuyển tập về văn xuôi lãng mạn

kỳ ảo giai đoạn 1930 -1945 Vì thế, để có cái nhìn tổng quan về văn học kỳ ảo giai đoạn này, thiết nghĩ việc điểm qua một số tác giả, tác phẩm có sử yếu tố kỳ ảo là

cần thiết Qua khảo sát các tuyển tập: Truyện truyền kỳ Việt Nam (3 tập) của Nguyễn Huệ Chi, Truyện không nên đọc vào lúc giao thừa của Lưu Minh Sơn tuyển chọn, Đêm bướm ma của Ngô Tự Lập và Lưu Minh Sơn tuyển chọn và giới thiệu, Tinh tuyển văn học Việt Nam, Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (8 tập), Tổng

tập văn học Việt Nam (cuốn 29B, 30A, 30B, 30C, 31)… chúng tôi nhận thấy có

khoảng 12 tác giả và gần 50 tác phẩm văn xuôi viết theo dạng kỳ ảo (Trong bài viết này, rất tiếc chúng tôi không thể tìm được văn bản các truyện đường rừng của Lan

Khai gồm: Đôi vịt con, Ma thuồng luồng, Con bò dưới thủy tề, Người lạ, Người

hóa hổ, Con thuồng luồng nhà họ Ma… để khảo sát Đây là những truyện ngắn có

giá trị của Lan Khai và cũng rất tiêu biểu cho dòng văn xuôi kỳ ảo lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945) Tuy chưa phải là con số thống kê hoàn toàn chính xác, nhưng chừng ấy cũng đủ nói lên rằng: Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 đã tạo nên một dòng riêng, một xu thế văn xuôi mới trong lịch sử văn học dân tộc Sự xuất hiện của dòng văn học này đã góp phần tạo nên sự đa hương sắc cho bộ mặt của văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -

Trang 15

1945 Sau đây chúng tôi giới thiệu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu và đây cũng chính là đối tượng để luận văn phân loại và mô tả

(Bảng thống kê tác giả và tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo)

STT Tác giả Tác phẩm Thể loại

đỉnh non Tản, Xác ngọc lam, Rượu bệnh, Lửa nến trong tranh, Khoa thi cuối cùng, Bữa rượu máu, Một truyện không nên đọc lúc giao thừa, Tâm sự nước độc

Truyện ngắn

trong câu hát, Ngậm ngải tìm trầm

Truyện ngắn

Tùng Linh

Một chuyện ghê gớm, Một đêm trăng, Tiếng hú ban đêm, Ma xuống thang gác

Hai lần chết

Tiểu thuyết Truyện ngắn

4 Tchya – Đái Đức Tuấn Thần hổ, Ai hát giữa rừng

khuya

Oan nghiệt

Tiểu thuyết

Truyện ngắn

6 Hoàng Trọng Miên Người đàn bà trong trắng,

Người bạn kì dị, Đàn bồ câu trắng, Người đẹp

Truyện ngắn

Trang 16

phương Đông, Trăng xanh huyền hoặc

mù, Lan rừng, Câu chuyện

mơ trong giấc mộng

Truyện ngắn

8 Bùi Hiển Chiều sương, Một trận bão

cuối năm, Ma đậu

Truyện ngắn

9 Đỗ Huy Nhiệm Ông rắn, Một chuyện lạ,

Ngủ với ma, Cây đa ba chạc, Tết trên Mường

Truyện ngắn

10 Phạm Cao Củng Người con gái tỉnh Bắc Truyện ngắn

11 Cung Khanh Hoàng Kim ốc, Quyến rũ,

Trên bồng lai, Mặt trời, Đi tiêu dao, Người con gái thần rắn

Truyện ngắn

Để định hướng cho việc tiếp nhận cũng như tạo sự thuận tiện cho công việc nghiên cứu, chúng tôi xin được nhắc rõ: đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo Nghĩa là tác phẩm đó phải có sự tham gia của các yếu tố kỳ ảo: hồn ma, quỷ dữ, cảnh tượng kỳ dị, sự hóa thân… vào cốt truyện Yếu tố này có thể xuất hiện thường xuyên hoặc không thường xuyên nhưng

nó có khả năng chi phối đến cốt truyện, kết cấu và chủ đề của tác phẩm Tùy vào khả năng sáng tạo của tác giả và tầm đón nhận của bạn đọc, yếu tố kỳ ảo có thể gây

ra những hiệu ứng tâm lý như sự tò mò, nỗi sợ hãi, sự hoang mang, sự hoài nghi, niềm xác tín hay một cảm xúc thẩm mĩ nào đó nơi người đọc… Đó chính là tiêu chí làm cơ sở để chúng tôi xác định những tác phẩm đã nêu (trong bảng thống kê ở trên) là những tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo Theo đó mục 2.2 sẽ giải thích rõ hơn việc xác định đối tượng nghiên cứu của chúng tôi

Trang 17

2.1.2 Một vài nhận xét về đặc trưng thể loại truyện kỳ ảo

Qua bảng thống kê ở mục 2.1.1, chúng tôi nhận thấy: Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 hầu hết chỉ xuất hiện trong thể loại truyện ngắn Truyện dài, tiểu thuyết chứa đựng yếu tố kỳ ảo chỉ đến trên đầu ngón tay Vậy tại sao yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 thường chọn hình thức thể loại truyện ngắn để tồn tại? Giải đáp vấn đề này phải dựa vào các góc nhìn sau:

Từ góc nhìn lịch sử văn học: Lịch sử thể loại truyện ngắn thế giới có điểm

tựa từ rất xa xưa dưới các hình thức truyện cổ dân gian Truyện ngắn Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Hơn nữa, nó lại có sự chuẩn bị kĩ lưỡng

trong văn học trung đại qua: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông

di thảo, Truyền kì mạn lục… để hình thành nên truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ

XX Những đặc điểm trên cho thấy, ngoài sử thi (chiếm tỉ lệ không lớn trong văn học nhân loại), thì truyện ngắn đóng vai trò chủ đạo trong việc dung chứa những yếu tố huyền ảo, kỳ dị và tâm linh Từ góc nhìn lịch sử văn học, chúng ta có thể kết luận, ngay từ buổi khởi nguyên của văn học nhân loại, hình thức ngắn ngọn đã chiếm ưu thế trong việc chuyển tải những vấn đề thuộc về thế giới kỳ ảo, linh dị, ma quái cũng như quan niệm tâm linh của con người

Từ góc nhìn nhu cầu sáng tạo: Nguồn gốc truyện ngắn là một vấn đề thú vị

gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu văn học nhưng không phải là không chứng minh được Như trên đã trình bày, truyện ngắn đã tồn tại dưới hình thức truyền miệng truyền thống và thực sự trở thành một thể loại văn học hiện đại vào thế kỉ XIX Kể từ đó, trong đời sống văn học loại hình truyện ngắn đóng một vai trò chủ chốt và nó tỏ ra gần gũi và tự nhiên với chúng ta hơn những hình thức kể chuyện dài hơi khác Truyện ngắn diễn ra trong một thời gian ngắn, cực ngắn và thường được kể một cách “chọn lọc” Hình thức ngắn gọn khiến nó thiên về biểu hiện những ấn tượng, những lát cắt sâu đậm trong cuộc sống Cách miêu tả về nhân vật, sự kiện, thời gian và không gian trong tác phẩm luôn có sự cô động và tiêu biểu Đó là cả một quá trình biên tập bao hàm trong đó sự chọn lọc, nhấn nhá và hư

Trang 18

cấu của người kể chuyện Truyện ngắn thường mang lại cho người đọc những âm vang dài và rộng hơn khuôn khổ chật hẹp về mặt hình thức của nó Loại hình truyện ngắn tỏ ra là mảnh đất màu mỡ để yếu tố kỳ ảo tồn tại và phát triển Những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí, tâm linh luôn là một phạm trù bí ẩn đối với tầm hiểu biết của con người Trong văn học dù nhà văn có dùng nó để chuyển tải niềm tin thẩm mĩ hay coi đó là phương tiện nghệ thuật thì những hiện tượng ấy luôn tạo sự

“lưỡng lự” trong tầm đón đợi của người tiếp nhận Yếu tố kỳ ảo ở trong cuộc sống

và trong văn học đều tạo ra ấn tượng cho con người Nhà văn khi viết về những ấn tượng ấy, ít tìm đến thể loại tiểu thuyết hay truyện dài Bởi hình thức dài lê thê của chúng buộc nhà văn phải bổ sung thêm sự kiện, nhân vật, tình tiết… Thời gian và không gian giãn nở ra, sự cô động, tính chặt chẽ trong truyện sẽ giảm đi Vì thế, hiệu quả ấn tượng sẽ bị mờ dần

Từ góc nhìn nhu cầu tiếp nhận: Đọc giả luôn là một yếu tố quan trọng

quyết định đến hình thức tồn tại của một thể loại văn học Vào đầu thế kỉ XX, nhu cầu thưởng thức văn học trong bộ phận người dân thành thị là rất lớn Thể loại truyện ngắn tỏ ra rất gần gũi với bạn đọc Bởi hình thức ngắn gọn của nó giúp độc giả dễ dàng tiếp cận tác phẩm một cách liền mạch từ đầu đến cuối Người đọc có điều kiện chú ý từng từ, từng đoạn và từng hành động trong truyện Dung lượng của truyện ngắn cũng làm cho cốt truyện lộ ra rất nhanh, người đọc không mất nhiều thời gian để lập luận giải thích Vì thế, hiệu ứng tâm lý do bản thân yếu tố kỳ ảo gây

ra sẽ trực tiếp hơn Khả năng gây xung đột về “cái bất khả giải” trong lòng độc giả mạnh mẽ hơn Trong quá trình sáng tác Poe là người rất chú trọng đến tầm đón đợi

của người tiếp nhận Poe cho rằng: “Một tác phẩm quá dài sẽ hạn chế tính duy nhất

của ấn tượng mà tác phẩm sản sinh ra Hiệu quả duy nhất hay “hiệu quả của tính duy nhất” là nguyên tắc mà Poe đặt ra trong truyện ngắn Bởi, nếu một tác phẩm bị

đọc gián đoạn do quá dài, bị các công việc khác xen vào, “thì tất cả những cái mà

chúng ta gọi là toàn bộ, cái tổng thể sẽ bị phá hủy lập tức” [24, tr.168] Lý thuyết

về truyện ngắn được Poe thể hiện khá rõ trong truyện ngắn kỳ ảo của ông Truyện của Poe vắng bóng những lời giới thiệu hay sự giải thích dài dòng về tiểu sử và

Trang 19

những sự kiện mà hầu như chỉ tập trung thể hiện về nỗi ám ảnh trong truyện Đó là nỗi ám ảnh về những người phụ nữ đầy huyền bí Hoặc là nổi ám ảnh về cái chết đang cận kề

Bên cạnh những khía cạnh đề cập trên, chúng tôi còn nhận thấy, sở dĩ yếu tố

kỳ ảo xuất hiện nhiều trong truyện ngắn là do đặc trưng của đời sống hiện đại Đời sống báo chí và truyền thông luôn hướng về sự ngắn gọn Nhà biên tập ngại đăng tải những truyện dài trên các mặt báo Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp tác động đến

sự hình thành và phát triển của thể loại truyện ngắn kỳ ảo

Nhìn vào thực tế sáng tác của văn xuôi lãng mạn Việt Nam, số lượng tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo đều tập trung nhiều ở thể loại truyện ngắn Các tác giả Thế Lữ, Nhất Linh, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Bùi Hiển… dù ý thức hay không ý thức về vấn đề thể loại đều nhất loạt chọn hình thức truyện ngắn để

khai thác tối đa hiệu quả nghệ thuật của yếu tố kỳ ảo Trong các tác phẩm: Bóng

người trong sương mù, Lan rừng (Nhất Linh); Chiều sương, Một trận bão cuối năm (Bùi Hiển); Làng, Ma đậu (Thanh Tịnh); Cây đa ba chạc, Một chuyện lạ, Ngủ với ma, Ông rắn, Tết trên Mường (Đỗ Huy Nhiệm)… ấn tượng về yếu tố kỳ

ảo đạt hiệu quả khá cao Khả năng khắc sâu và gây sự bất ngờ trong tâm trí của độc giả là rất mạnh Nói như thế không có nghĩa là những truyện dài và tiểu thuyết có chứa yếu tố kỳ ảo kém hiệu quả biểu hiện nghệ thuật Nhìn vào thực tiễn sáng tác

văn học thế giới, những cuốn tiểu thuyết: Bá tước Dracula (Bram Stoker ) Trăm

năm cô đơn (Maquez), Miếng da lừa (Balzac)… đã để lại những ấn tượng sâu đậm

trong lòng độc giả về chủ nghĩa huyền ảo Trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai

đoạn 1930 – 1945 sự xuất hiện của các tác phẩm: Ai hát giữa rừng khuya, Thần hổ (Đái Đức Tuấn), Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh (Thế Lữ) cũng đã đóng góp

những thành công đáng kể cho dòng truyện kỳ ảo Có được điều này là nhờ vào khả năng kể chuyện biến hóa tài tình của nhà văn Lời kể có sự sáng tạo và luôn hấp dẫn người đọc Nội tâm nhân vật được khắc sâu Sự kiện trong truyện và các lập luận của nhân vật luôn được sắp xếp một cách logic và hợp lý… Tất cả đã tạo nên sức hấp dẫn mãnh liệt khi người đọc tiếp xúc với tác phẩm

Trang 20

Tóm lại, việc chúng tôi nêu ra một vài nhận xét về vấn đề thể loại là nhằm giải thích cho hiện tượng mang tính phổ biến trong đời sống văn học giai đoạn 1930 – 1945 chứ không phải khoanh vùng thể loại để khảo sát Nếu làm như thế, vô hình trung chúng ta chối bỏ những đóng góp quan trọng của các tác phẩm kỳ ảo được viết theo hình thức truyện dài và tiểu thuyết Trong hành trình mười lăm năm phát triển, bên cạnh những truyện ngắn kỳ ảo đã đạt đến những thành tựu nghệ thuật

đỉnh cao: Tâm sự nước độc (Nguyễn Tuân), Tình trong câu hát (Thanh Tịnh)… Truyện dài và tiểu thuyết kỳ ảo: Ai hát giữa rừng khuya, Thần hổ (Đái Đức Tuấn),

Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh (Thế Lữ) cùng hòa vào thành tựu của truyện

ngắn kỳ ảo tạo nên một diện mạo khá phong phú về thể loại cho dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

Tuy nhiên, nếu đặt dòng văn xuôi kỳ ảo lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945 vào hệ thống văn xuôi kỳ ảo thế giới, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt lớn Chỉ xét riêng về kỹ thuật viết truyện, dù xuất hiện trước gần một thế kỉ nhưng các sáng tác kỳ ảo của Edgar Allan Poe đã đạt đến kỹ thuật của truyện ngắn hiện đại Truyện của ông đã đi sâu vào khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật với những nỗi

ám ảnh triền miên Cái kỳ ảo cũng được ông đưa vào cuối truyện để tạo ra sự bất ngờ về mặt thẩm mĩ Truyện ngắn kỳ ảo thuộc đòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ra đời sau, nhưng những tác phẩm đạt đến thành tựu cao là rất ít Kỹ thuật viết truyện ngắn còn ảnh hưởng lớn từ văn học quá khứ Cách xây dựng nhân vật cũng chưa thực sự khắc họa nội tâm của nhân vật Các tác phẩm vì thế phần lớn nghiêng về tái hiện hơn là thể hiện Do vật, sức hấp dẫn của nó cũng không thể so sánh được với các sáng tác của Edgar Allan Poe hay Hoffman

Trang 21

2.2 Phân loại yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945

Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 được biểu hiện ở những dạng thức nào? Nó gồm bao nhiêu chủng loại truyện kỳ ảo? Đó

là câu hỏi rất cần được trả lời Tuy nhiên, trong quá trình tiếp xúc với các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết với đề tài của luận văn, chúng tôi nhận thấy chưa

có bài viết nào đề cập đến vấn đề này Đó chính là khó khăn lớn cho chúng tôi trong việc tiếp cận các tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Trong luận văn này, để thuận tiện cho công việc nghiên cứu, qua khảo sát các tác phẩm, chúng tôi tạm phân thành ba loại truyện kỳ

ảo như sau: Kỳ ảo ma quỷ, kỳ ảo thần linh, kỳ ảo kỳ bí Sự phân loại này chủ yếu

dựa vào những yếu tố siêu nhiên, siêu thực mà các tác giả lựa chọn để tạo nên chất

kỳ ảo, huyền hoặc Cách phân loại này có thể chưa nhận được sự đồng thuận của nhiều người nhưng hy vọng nó sẽ đem đến cho chúng ta một cái nhìn cụ thể hơn về yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

Thế giới ma quỷ xâm nhập vào trong các tác phẩm kỳ ảo giai đoạn 1930 –

1945 không phải là những hiện tượng đơn lẻ mà nó tạo thành một chủng loại “Kỳ

ảo ma quỷ” Sỡ dĩ chúng tôi mạnh dạn khẳng định như vậy, bởi thực tiễn nghiên cứu đã chứng minh điều đó Hàng loạt các câu chuyện ma quái xuất hiện trong các trang viết của những cây bút “chuyên trị” Đỗ Huy Nhiệm với các truyện ma trong

Trang 22

Truyền kiếp: ma cây đa, ma rắn, ma Mường, ma nhà xác… Tchya Đái Đức Tuấn

đưa người đọc đến với thế giới ma rùng rợn: ma hổ, ma rắn, ma xó, ma trành, ma

cụt đầu (Ai hát giữa rừng khuya, Thần hổ…), Bùi Hiển với ma thuyền chài (Chiều

sương, Một trận bão cuối năm), Thanh Tịnh với ma culy (Am culy xe), Thế Lữ với

ma khách, ma giữ của (Vàng và máu, Một đêm trăng, Một chuyện ghê gớm, Tiếng

hú ban đêm)…

Tính chất ly kỳ, rùng rợn của yếu tố kỳ ảo ma quỷ đã được các nhà văn khai thác một cách tối đa Đọc các tác phẩm kể trên, người đọc dù thần kinh có vững chãi đến mấy cũng không khỏi có cảm giác lạnh buốt ở sống lưng Dòng truyện ma quái, quỷ dữ luôn gây ấn tượng mạnh trong lòng đọc giả Đa số những tác phẩm viết

về ma quỷ đều có cốt truyện được lưu truyền trong dân gian Những câu chuyện ma

ly kỳ, quái đản từ miền ngược đến miền xuôi và ở trong người dân tộc thiểu số đã được các tác giả khai thác một cách triệt để Mặc dù loại truyện kỳ ảo ma quỷ được xây dựng trên cơ sở những câu chuyện nhân gian nhưng nội dung nghệ thuật của nó thì khác hẳn Các câu chuyện ma thuần túy thường nói về sự tồn tại của ma và nỗi

sợ hãi của con người về ma Ngược lại, mục đích tối cao của loại truyện kỳ ảo ma quỷ là đem đến cho bạn đọc một cảm xúc nghệ thuật nào đó và nỗi sợ chỉ còn là phương tiện, được sử dụng như một không gian thậm chí là một cái cớ để đạt đến mục đích đó

Quan niệm về ma ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc cũng có sự khác nhau Ma trong quan niệm của văn học phương Tây bao giờ cũng gắn liền với cái xấu và cái

ác Trong quan niệm của người phương Đông cổ xưa, ma là một thực thể tinh thần Người ta gọi linh hồn của người chết là hồn ma Ma cũng có sức mạnh siêu nhiên như thần thánh có thể tác oai tác quái, ban phúc hay tiên tri số mệnh, vận hạn cho người sống Đặc biệt, chúng có khả năng biến lẫn vào thân thể người khác hay cứ trú vào bất cứ thực thể nào (hoa lá, cỏ cây, vạn vật…), gây ra bệnh tật, chết chóc, gọi là ma nhập, ma ám hay ma cư trú Đối với họ ma quỷ là nỗi khiếp sợ Ngược lại,

ma trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 rất gần gũi thân thiện đối với con người Ngoài một số oan hồn ma gắn với nghiệp độ nhật của mình lúc sống trên thế gian:

Trang 23

Ma culy xe (Am culy xe), ma thuyền chài (Một trận bão cuối năm, Chiều sương),

ma tài tử (Đới roi, Tâm sự nước độc)… Phần lớn trong quan niệm của các nhà văn

hiện đại ma là hiện thân của người phụ nữ Vì thế, hồn ma hiện ra trong các tác

phẩm thường là các ma nữ: người con gái Mường (Tết trên mường), Pengslao, Oanh Cơ (Thần hổ, Ai hát giữa rừng khuya), Sao (Lan rừng), Hoàng Lan Hương

(Trại Bồ Tùng Linh), Ngọc Bách (Người con gái tỉnh Bắc )… và hầu hết đều rất

đẹp Nhân vật ma còn là biểu tượng cho sự minh triết và tình yêu, cho hạnh phúc và bất hạnh Tình yêu đưa con người đến tột đỉnh của hạnh phúc nhưng cũng chính tình yêu làm cho con người ta ê chề đau khổ Tình yêu ngàn đời vẫn là điều bí ẩn

Có lẽ những người đàn bà ma đã ra đời như thế

Tóm lại, nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 –

1945 chúng ta cần phải thừa nhận những tác phẩm kỳ ảo ảo ma quỷ là một nhánh, một chủng loại truyện Có như thế mới thấy hết những đóng góp của loại truyện này trong nỗ lực tìm tòi và sáng tạo của các nhà văn lãng mạn

2.2.2 Kỳ ảo thần linh

Bên cạnh việc sử dụng yếu tố kỳ ảo ma quỷ, các nhà văn giai đoạn này còn đưa vào trong tác phẩm của mình những nhân vật, chi tiết mang tính thần linh Tuy nhiên, quan niệm, niềm tin về thế giới thần linh của con người hiện đại không còn chất phác như xưa Trong văn học truyền thống, thần linh là nhân vật trung tâm của tác phẩm Thần linh thuộc về thế giới khác, thế giới siêu trần với quyền năng tối cao

và quyền uy tối thượng Thần là chỗ dựa tinh thần vững chắc, là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người và cộng đồng Thượng đế, Diêm Vương, Long Quân,

Tiên, Phật… xuất hiện trong các tác phẩm: Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh

Nam chích quái (Vũ Quỳnh, Kiều Phú), Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)… với quyền năng, phép thuật vô hạn để đem lại

hạnh phúc và cứu rỗi con người thoát khỏi hoạn nạn Trong văn học giai đoạn 1930 – 1945, thần linh không còn là nhân vật trung tâm mà thay vào đó là con người Thần linh được hình thành theo tư tưởng và đạo diễn của tác giả Sự xuất hiện của

Sơn thần Tản Viên trên núi Ba Vì (Trên đỉnh non Tản), thần hổ (Thần hổ, Ai hát

Trang 24

giữa rừng khuya), thần rắn (Ông rắn)… chính là thủ pháp độc đáo để chuyển tải

quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người Vì thế, trong văn học hiện đại yếu

tố thần linh là phương tiện nghệ thuật giúp nhà văn “thấu” tất cả những bề bộn, trăn trở của cuộc sống thực tại Từ đó gởi gắm vào cuộc đời những ước mơ, những hy vọng dù bé nhỏ, mong manh

Bóng dáng của thần linh trong các tác phẩm văn học hiện đại phảng phất dư

vị của truyền thuyết dân gian Câu chuyện về Quan Ôn có trong Loạn âm và sự bất

tử của Thần Tản Viên (Trên đỉnh non Tản) đều tồn tại trong quan niệm nhân gian

và phảng phất dư âm của truyện Dạ xoa bộ soái lục và Tản Viên từ soái sự luc trong Truyền kì mạn lục Chuyện thần giữ của trong tác phẩm Một truyện không

nên đọc lúc giao thừa, truyền thuyết chuột tha lá phủ mặt trong tác phẩm Thần hổ,

hay thần hổ trong Ai hát giữa rừng khuya rất gần với những câu chuyện dân gian

vẫn tồn tại ở vùng đồng bằng Bắc bộ, một số dân tộc ít người ở vùng núi Đông – Bắc và trong quan niệm của người Mường Chính sự gần gũi đó đã khơi gợi trong tâm thức người đọc những ý niệm của cha ông ta về đời sống tâm linh Và cái dưỡng chất truyền thống ấy được gia vị bằng chút cảm quan nghệ thuật hiện đại Vì thế, người đọc luôn có cảm giác vừa quen, vừa lạ Quen vì nó gần với đời sống tâm linh bản địa Lạ, vì nó in đậm dấu ấn sáng tạo của nhà văn hiện đại

So với kỳ ảo ma quỷ, kỳ ảo thần linh chiếm một tỉ lệ khiêm tốn hơn Nhưng

với thành công của các tác phẩm: Thần hổ, Loạn âm, Trên đỉnh non Tản, Một

truyện không nên đọc lúc giao thừa (Nguyễn Tuân), Ông rắn (Đỗ Huy Nhiệm), Mặt trời, Người con gái thần rắn (Cung Khanh) … cũng đủ để chúng ta thừa nhận

đây là một dòng truyện kỳ ảo có giá trị nghệ thuật cao Các tác giả văn học giai đoạn này sử dụng yếu tố kỳ ảo thần linh như là một thủ pháp sáng tạo trong văn chương Cùng với kỳ ảo ma quỷ, kỳ ảo thần linh góp phần minh hiển những ước nguyện của con người trong cuộc sống Chính vì vậy, yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 vừa thấp thoáng bóng dáng của văn học truyền thống nhưng lại vừa thoát ra khỏi những truyền thống đó Nó đã được xã hội hiện

Trang 25

đại khoác lên mình một tấm áo tươi mới hơn, làm cho con người vừa được thỏa mãn niềm tin, tín ngưỡng tâm linh lại vừa phải suy ngẫm về cuộc sống

Trang 26

2.2.3 Kỳ ảo kỳ bí

Thế giới chúng ta đang sống quả là vô cùng rộng lớn Nó càng rộng lớn hơn bởi đang ẩn chứa quá nhiều điều bí ẩn mà trí tuệ loài người, dù có tiến bộ đến đâu, vẫn chưa dễ cắt nghĩa Trong thực tế, vẫn có những vấn đề không thể giải đáp thuần túy về mặt khoa học hay văn hóa tâm linh, hay về tín ngưỡng, tôn giáo Thực tế quá kỳ bí Và cũng bởi có loại vấn đề mà người đời càng cố công tìm lời giải đáp thì

sự tình lại có vẻ trở nên huyền bí hơn Ý thức được giá trị nghệ thuật của yếu tố kỳ

ảo kỳ bí, các nhà văn lãng mạn giai đoạn 1930 –1945 đã sử dụng nó như một phương tiện để gây những “cú sốc”, “cú hích” tâm lý trong lòng độc giả

Giống như truyện kỳ ảo ma quỷ và kỳ ảo thần linh, truyện kỳ ảo kỳ bí cũng

sử dụng các thế lực siêu nhiên để tạo nên tính ly kì rùng rợn của tác phẩm Bản chất của cái siêu nhiên trong truyện kỳ ảo ma quỷ và kỳ ảo thần linh chính là sự hiện hữu của những ma, quỷ, oan hồn, thần linh… Sự hiện hữu đó được người đọc chấp nhận như một thế lực quyền năng tối thượng và không phải mất công tìm hiểu lý giải Còn cái siêu nhiên trong loại truyện kỳ ảo kỳ bí là cái siêu nhiên không thể nhận

diện được về bản chất Nó là cái “bất khả tri” và “bất khả giải” Cái siêu nhiên “bất

khả tri” (không thể nhận biết) ấy trở thành những ảo ảnh mang hình hài ma quái,

quỷ dữ đeo đuổi ám ảnh con người một cách khủng khiếp Vì thế, nó luôn đặt con người trong tình trạng phải hoài nghi với chính mình: đó là nỗi sợ hãi trong phút chốc không làm chủ được lý trí Hay là nỗi khiếp sợ trong vô thức? Hay cũng có thể

là những ẩn ức dồn nén từ bấy lâu bột phát? Chính sự lưỡng lự, không chắc chắn giữa các cách giải thích đã đưa người đọc vào những mê lộ, những bát quái trận đồ

kỳ ảo Tạo nên những mê lộ, bát quái trận đồ như thế không phải là để bóp nghẹt trái tim người đọc bằng nỗi khiếp sợ Ngược lại, các tác giả muốn đem chút ánh sáng khoa học để giải mê người đọc ra khỏi những nỗi ám ảnh đó Hơn thế, những

mê lộ kỳ ảo còn là hình thức đắc dụng để nhà văn chuyên chở những ước mơ, những trăn trở, những lo âu về con người về cuộc đời Vì thế, nó đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc

Trang 27

Đặt các tác phẩm văn học kỳ ảo kỳ bí Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 vào trong quan hệ đối sánh với văn học kỳ ảo thế giới, chúng tôi nhận thấy loại truyện này rất gần gũi với truyện kinh dị của văn học phương Tây ở thế kỉ XIX Hơi hướng truyện trinh thám của Hoffman, Poe luôn phảng phất trong sáng tác của các nhà văn Thế Lữ, Đỗ Huy Nhiệm, Nguyễn Tuân… Điều này cũng dễ hiểu, bởi trong quá trình tiếp xúc với văn học phương Tây, các nhà văn Việt Nam của thế kỉ XX đã tìm thấy một thủ pháp nghệ thuật mới rất phù hợp với cảm quan nghệ thuật hiện đại của mình Và, họ đã tiếp thu chúng để làm đa dạng thêm và mới mẻ hơn sắc điệu của dòng văn xuôi kỳ ảo Vậy nên, chúng ta có thể gọi: các tác phẩm văn xuôi kỳ ảo kỳ

bí của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là sản phẩm của xã hội hiện đại, là

tư duy sáng tạo nghệ thuật của những đầu óc duy vật biện chứng Và, cũng chính dòng văn xuôi này đã tạo năng lượng để văn học kỳ ảo Việt Nam bứt ra khỏi văn học kỳ ảo truyền thống hòa vào guồng chạy của văn học kỳ ảo thế giới

Tiếp cận văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chúng tôi nhận thấy có rất nhiều trang viết đậm chất kỳ ảo kỳ bí Có thể kể đến một số tác phẩm

tiêu biểu: Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh, Ma xuống thang gác, Một đêm trăng (Thế Lữ), Lửa nến trong tranh (Nguyễn Tuân), Bóng người trong sương mù

(Nhất Linh)… Đó là những tác giả và tác phẩm có đóng góp và thành công nhất định về nghệ thuật Xét về công lao của người tiên phong mở đường phải ghi nhận

sự đóng góp của Thế Lữ Chính cây bút chủ lực của phong trào thơ mới đã có những trang viết kỳ ảo kỳ bí mang đậm màu sắc của Á Đông và Thái Tây Đọc tác

phẩm Trại Bồ Tùng Linh, người đọc sẽ thấy được sự kết hợp nhuần nhuyễn bản sắc

văn hóa dân tộc – văn học vùng, với văn học hiện đại thế giới Các nhân vật, sự kiện, tình tiết… đời thường trong sáng tác của Thế Lữ luôn được xây dựng trên cái nền kỳ ảo, liêu trai, ma quái của phương Đông pha chút kinh dị phương Tây Vì thế, câu chuyện của ông bao giờ cũng có sự trộn lẫn giữa thực hư, giữa mộng mị và đời thường Nhân vật trong tác phẩm theo đó cũng trở nên kỳ bí, khó đoán định Ví dụ,

nhân vật Hoàng Lan Hương (Trại Bồ Tùng Linh) là người hay ma, là ảo hay thực?

Dấu hỏi mập mờ về thân thế nhân vật cũng là dấu hỏi cho chính số phận rủi may về

Trang 28

tình yêu của đôi bạn trẻ Đó chính là tài năng đạo diễn độc đáo của nhà văn Ông buộc người đọc phải đứng trước hai lựa chọn: hoặc là lý giải rằng đó chẳng qua là những ảo ảnh, là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hoặc là có những qui luật khác, tồn tại ngoài sự hiểu biết của chúng ta Tất nhiên, mỗi người đọc có một cách giải thích khác nhau tùy theo trình độ và quan niệm sống của họ Còn đối với tác giả, câu trả lời bao giờ cũng là dấu chấm lửng Chính dấu chấm lửng đó đã đem đến một kết thúc mở cho tác phẩm Buộc người đọc phải suy ngẫm, phải trăn trở nhiều hơn về con người, về tình yêu và cuộc sống chứ không phải là những thắc mắc vụn vặt mang tính đời thường

Xét về cách tổ chức cốt truyện, các tác phẩm kỳ ảo kỳ bí của Việt Nam tuy mang hơi hướng tư duy “trinh thám” của Edgar Allan Poe nhưng nội dung lại rất gần gũi với truyền thống tâm linh người Á Đông Lối viết truyện này không chỉ nhằm vào ý thích của người đọc khi đem lại cảm giác sợ hãi nhờ tưởng tượng mà còn gây ngạc nhiên, bất ngờ khi kết thúc theo hướng khoa học viễn tưởng Đó cũng chính là cách để nhà văn đối lập với cuộc sống duy lý thường ngày cũng như đa dạng hóa hiện thực

Tóm lại, chính sự xuất hiện của các tác phẩm kỳ ảo, linh dị đã đem đến cho văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 một sự tươi mới hơn Nó là cầu nối, là những gợi hứng cho dòng văn học kỳ ảo đương đại Tiếc rằng, trong một hoàn cảnh

xã hội nhất định những trang viết kỳ ảo kiểu Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Cung Khanh,

Đỗ Huy Nhiệm không nhiều Nhưng dù sao văn học kỳ ảo lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cũng đã kết thúc thành công vai trò mở đường Bởi thế, bóng dáng của nó vẫn còn in dấu trong các tác phẩm của một số nhà văn đương đại:

Những ngọn gió Hua tát của Nguyễn Huy Thiệp; Bóng đè của Hoàng Diệu; Cô gái đầm sen của Nguyễn Văn Hách, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh; Cõi người rung chuông tận thế, Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái… Nơi

các nhà văn trẻ này, yếu tố kỳ ảo, ly kỳ lại có dịp tái xuất và phát triển mạnh mẽ hơn Với lối viết đầy ngẫu hứng sáng tạo, đan xen tài tình giữa hư và thực, sử dụng các môtíp điềm triệu, báo oán, lời nguyền, hồn ma… để xâm nhập, khám phá những

Trang 29

vấn đề nhạy cảm của văn học Những nhà văn trẻ này đã tiếp bước lớp nhà văn đi trước thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học đương đại

2.3 Chức năng của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn

mà đã vứt bỏ lương tri để chạy theo cám dỗ của vật chất Sáng tạo và thưởng thức cái đẹp chỉ còn là những mĩ từ xa xỉ Trước những đổi thay của con người và xã hội, văn học giai đoạn này đã sử dụng yếu tố kỳ ảo như một phép màu để cảnh tỉnh lương tri và hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp hơn

Hai lần chết (Thế Lữ), là câu chuyện về hai lần chết của nhân vật Tâm Ở

lần chết hụt thứ nhất, Tâm đã nhận rõ tâm địa xấu xa của người bạn chí cốt (Mão) Người bạn mà Tâm đã đặt trọn niềm tin, tình cảm, người mà Tâm đã từng xem như anh em ruột thịt lại chính là kẻ sát nhân mất tính người Mão muốn Tâm phải chết

để tờ di chúc kia sớm được trở thành hiện thực Vì thế, lợi dụng lúc Tâm đang ngất

đi vì căn bệnh thần kinh hành hạ, Mão đã ra tay tống tiễn bạn vào quan tài Và một cái đám ma cho Tâm là sự hợp pháp hóa toàn bộ gia sản của Tâm thuộc về Mão Để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh con người về sự băng hoại, đổ vỡ của đạo đức nhân bản, Thế Lữ đã để nhân vật Tâm sống lại và trừng phát Mão Tâm sống lại để đọc bản cáo trạng về sự bất lương của Mão Đoạn văn miêu tả sự xuất hiện của Tâm tại gác trọ hết sức ly kì rùng rợn Các bạn Tâm cứ ngỡ đó là một hồn ma trở về, trong không khí nửa hư nửa thực ấy, bản chất cái ác, cái xấu xa trong con người của Mão

bị lột trần qua những lời giãi bày của Tâm: “…Trong có một giây đồng hồ tôi cũng

đã thoáng thấy được cái kế hiểm độc của bạn với cái tình thế nguy hiểm lúc bấy giờ Tôi căm giận không biết ngần nào, đấm nát tay lên nắp săng Nhưng cái nắp

Trang 30

bật hé lên lại bị ấn xuống Chân tôi không bị buộc trói như thói thường trong khâm liệm, nhưng không thể cử động được dễ Bên ngoài tôi nghe thây bước chân vội vàng chạy xa dần Tôi đoán chắc hắn đi tìm cái gì để đè lên mặt săng cho nặng thêm Nhân cơ hội tôi thét lên một tiếng rất dữ, đạp một cái hết sức mạnh, nắp săng bật ra một chỗ, tôi ngồi dậy thì hắn đã tiến đến, cái ống tiêm thuốc độc cầm ở một tay Tôi vùng đứng lên, vừa sợ vừa giận Hắn bước tới, tôi liền níu lấy tóc, nghiến răng ấn đầu hắn xuống rồi nhảy xổ lại đè lên mình hắn: cái ống tiêm rơi xuống, vỡ tan ra Hắn bị tôi cưỡi lên ngực, hai cánh tay bị dập dưới đầu gối tôi, và cổ bị hai bàn tay tôi thắt vào đến hai mươi phút Tôi càng nhìn cái mặt thú vật của nó, cái bộ mặt mà mới hôm trước đây, tôi còn yêu quý, thì cơn giận cứ bốc lên mãi, tôi bóp ghì lấy cổ nó mà vẫn không rõ là mình làm gì Lúc nó đã tắt thở rồi, tôi mới buông tay

ra Bấy giờ đúng mười hai rưỡi” [34, tr 206, 207] Gieo nhân nào, gặp quả đó Mão

đã phải chết cho những suy nghĩ ti tiện và hành động bất nhân ác độc Nhưng với Tâm, cái chết mà mình gây ra cho Mão là không thể tha thứ Mặc dù, bạn bè thông cảm cho anh, pháp luật đã cho anh trắng án nhưng tòa án lương tâm không cho phép anh vô tội Vì thế, Tâm đã tự giam mình và chết trong gian nhà phố Hàng Bột Đó

là cái chết mang nhiều ý nghĩa; cái chết của một con người chân chính; cái chết của một con người không thỏa hiệp với cái xấu xa, cái ác độc; cái chết của ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn…

Tác phẩm Một truyện ghê gớm (Thế Lữ), là một câu truyện ghê gớm, kỳ dị

mà nhân vật tôi chứng kiến trong một lần đi săn Qua lời kể của nhân vật tôi, người đọc phải uất hận trước những hành động tác oai tác quái của tên quan cao phẩm Mã Hồng Một kẻ đam mê nữ sắc, chuyên cưỡng bức đàn bà con gái Và ghê rợn trước những hành động giết người man rợ, hãm hại phụ nữ như súc vật của tên khách trú

Lý Thạch Sự thù hận đã biến Lý Thạch trở thành một tên sát nhân khát máu Trong

tiềm thức của hắn luôn in đậm oán thù: “Cha mẹ ta đang an cư lạc nghiệp, tổ phụ

nhà người dùng thủ đoạn thái ác mà giết hại, khối máu căm hờn chưa biết bao giờ mới tan Ta may còn lọt sống lại đây, nên quyết đem cái mạng thừa này làm cho ba đời nhà ngươi cùng chịu với cha mẹ ta một số phận Bấy lâu ngươi chưa phải chết

Trang 31

vì người chưa có gia đình để ta đến phá Bây giờ người đã có vợ, là đã đến giờ ta

ra tay Thủ cấp ngươi ta đem tế cha ta, còn tính mạng vợ ngươi ta sẽ đem tế mẹ ta ngày nay ở dưới cửu tuyền vẫn đợi trông ta báo phục” [10, tr.48] Con người Lý

Thạch đã bị khuôn theo cách nghĩ “nợ máu trả bằng máu” nên tội ác mà hắn gây ra chẳng kém gì với tội ác của tổ phụ nhà họ Mã Ba đời nhà họ Mã đã phải chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của Lý Thạch dù họ là những người vô tội Oan oan tương báo? Con người chẳng lẽ sống để hận thù? Thế thì còn đâu nhân tính, đạo đời Viết tác

phẩm Một truyện ghê gớm phải chăng Thế Lữ muốn gởi đến người đọc thông điệp:

Trong bể đời bao la, để hướng đến cuộc sống tốt đẹp con người cần phải phá chấp Thật vậy, lời tâm tình của Thúy Liễu ở cuối tác phẩm chính là biểu hiện cho quan

niệm ấy: “… Những việc trên đây, đáng lẽ thiếp phải giữ kín, nhưng nghĩ rằng

chiếc thân gửi nơi đất lạ, không đành làm một khối oan hồn kỳ bí, khiến cho ân nhân không hiểu những tội tình kia thiếp chịu là duyên cớ vì đâu Vậy tiện thiếp không quản bại nhược cố tỉnh tâm thần, để lại máy hàng này, xin ân nhân soi xét.”

[10, tr.50]

Giống như tác phẩm Một truyện ghê gớm của Thế Lữ, tác phẩm Oan nghiệt

(Tchya Đái Đức Tuấn) cũng viết về mối thâm thù truyền kiếp giữa hai dòng tộc Vương và Hoàng Bằng niềm tin vào thuyết quả báo và kiếp luân hồi, Đái Đức Tuấn

đã đưa người đọc vào một thế giới mà âm – dương kề cận bên nhau Trong thế giới

ấy, sự thù hận của hai dòng họ diễn ra dai dẳng Vương Tổng Đốc lạnh lùng vô cảm trước lời cầu xin của mẹ và vợ của Hoàng Sinh Mẫn nên đã gieo nỗi oán hận vào lòng người vợ trẻ họ Hoàng Người thiếu phụ tuổi mười tám tuổi với lời nguyền báo

thù oan thiêng: “Ta năm nay mới có mười tám tuổi đầu, ta chết đi sẽ theo dõi dòng

họ mày mà báo thù cho đến thuở đá mòn sông cạn, ta sẽ làm cho họ mày, cũng như

họ chồng ta, tuyệt tự, ta sẽ làm cho con cái nhà mày cũng như ta, chết giữa thời niên thiếu, lúc trên đầu chưa đội hết đôi chín xuân xanh” đã gieo biết bao oan khốc

lên đầu họ Vương Oán thù che lấp lí trí, che mờ nhân tính con người Con người cứ chạy theo vòng xoáy của oán – ân thì cuộc sống vẫn còn nhiều điều bi thảm Nhằm giúp con người thoát khỏi cái vòng uẩn khúc ấy, tác giả đã mượn lời tuyệt bút của

Trang 32

Liễu (kiếp trước là vợ của Hoàng Sinh Mẫn): “Trời là đấng chí công chí minh, ta có

ra ngoài cõi thế, nhìn vào phàm trần, mới trông thấy lắm điều chí lý mà khi làm người, ta không bao giờ tưởng tượng được” [10, tr.116] để cảnh tỉnh cuộc đời, con

người Đó là lời cảnh tỉnh mang nhiều ý nghĩa nhân văn

Một đêm trăng (Thế Lữ) là lời tố cáo nhưng kẻ lừa tình Đó là tội ác không

thể tha thứ Bằng lối kể chuyện kỳ ảo ma quái, Thế Lữ đã đưa người đọc bước vào địa hạt của những câu chuyện liêu trai Trong không gian thơ mộng của một đêm trăng giữa đại ngan tịch mịch âm u, nhân vật “tôi” đã gặp một người con gái Thổ trẻ đẹp Cuộc gặp gỡ và dạo chơi đó không phải để dệt nên mối tình lãng mạn của lứa

đôi Đó chỉ là cái cớ để nhân vật tôi (người kể chuyện) khẳng định câu chuyện mà

mình đã chứng kiến Đó là cảnh trả thù rùng rợn của cô gái Mán đối với kẻ lừa tình

(ông Ba – đi – ghệt): “Nói xong, nó đứng dạng chân ra, cái mép váy đằng trước căng thẳng bởi hai ống chân hơi thô và trắng Một tay nó xốc ông Ba đứng dậy, một tay nữa nâng ở ngang lưng Tôi toan dò bước đến gần thì đã thấy người con gái dướn mình văng cái thây chết xuống Rồi, không biết vì quá đà hay cố ý, cả người con gái cũng văng theo ” [34, tr.119] Cái chết thảm hại của ông Ba là án phạt tất

yếu, là hồi chuông cảnh tỉnh đạo đức, lương tri những kẻ trăng hoa chuyên lợi dụng tiền bạc để chiếm đoạt tiết trinh của người phụ nữ Ngược lại, hành động tự vẫn theo chồng của cô gái gợi người đọc nhận rõ vẻ đẹp về lòng thủy chung son sắt của người phụ nữ cùng ước mơ được sống với người mình yêu

Bữa rượu máu (Nguyễn Tuân), là câu chuyện về đao phủ Bát Phẩm Lê có

lối chém “treo ngành” sắc ngọt Bát Phẩm Lê được quan Đổng lý quân vụ sai chém

mười hai dư đảng giặc Bãi Sậy cho quan công sứ Nam kì xem Đoạn văn miêu tả

cảnh xử trảm thật ghê rợn: “Viên công sứ Pháp chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn

giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những đầu tội nhân bị quỳ kia chẻ ngục đến đấy Những tia máu phun lên kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều Mà trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống” [68, tr.83] Cái chết của

mười hai con người làm niềm vui cho một viên công sứ Pháp Đó là một sự thật trớ trêu mà cuộc sống đương thời đem lại Ngòi bút Nguyễn Tuân tưởng chừng lạnh

Trang 33

lùng, trơ cảm nếu người đọc không chú ý đến yếu tố kỳ ảo ở cuối tác phẩm cho dù

đó chỉ là : “…một trận lốc xoáy tất mạnh”, “Trận gió xoắn giật, hút cát bụi lên,

xoay vòng quanh đám tử thi, và đuổi theo các quan ra về.” [68, tr.84] Thông qua

yếu tố kỳ ảo, Nguyễn Tuân muốn thể hiện một ước mơ về công lý và tố cáo những hành động phi nhân tính của xã hội đương thời

Trong tác phẩm Khoa thi cuối cùng (Nguyễn Tuân), yếu tố kỳ ảo tham gia

vào cốt truyện không chỉ để diễn giải một thực tế, một quan niệm nhân sinh mà còn

để lên án cái ác Hình ảnh kỳ ảo: “Người người đàn bà trẻ, xoã tóc, ẵm con, hiện

ngay lên dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ rịt lấy tay không cho viết quyển nữa Gào khóc chán, người đàn bà ấy lấy mớ tóc xoã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên Lại cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển của ông Lần ấy ông xin đổi quyển đến hai ba lần Vẫn người đàn bà quấy nhiễu không tha để quyển ông cứ tỳ ố mãi” [68, tr.189] Oan hồn người phụ nữ trẻ cố phá không cho ông đầu xứ Anh và

ông đầu xứ Em thi cử là bởi từ hành động thất đức của ông Huấn lúc sinh thời: “Hồi

còn mồ ma cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài hoa nổi tiếng một thời Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy tháng Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi” [68, tr.190] Chính tội lỗi đó của ông Huấn đã để lại cho

con cháu của ông một âm oán khủng khiếp và dai dẳng, món nợ máu phải trả: “Nó

còn đi thi, cô còn báo mãi Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô

âm oán trường thi tác giả muốn kí gởi đến người đọc: việc đỗ đạt của người xưa

đâu phải là nhờ tài thông kinh thuộc sử, mà còn phụ thuộc vào chuyện phúc đức

của sĩ tử và dòng họ của sĩ tử đó Vì thế, trong cuộc sống con người cần phải biết

tạo phúc, phải biết sống hợp với đạo trời

Có thể thấy rằng, cái ác qua yếu tố kỳ ảo đã được các nhà văn khai thác ở nhiều khía cạnh hết sức đa dạng Có khi đó là lòng tham cố hữu của con người như

nhân vật Mão trong Hai lần chết (Thế Lữ) Có khi đó là sự ham mê sắc dục như trong Một truyện ghê gớm, Một đêm trăng (Thế Lữ), Khoa thi cuối cùng (Nguyễn

Trang 34

Tuân) Cũng có khi là những hành động bất nhân, phi nhân tính đem cái chết làm

trò mua vui như trong Bữa rượu máu (Nguyễn Tuân) Vậy, cái ác, cái xấu xa đã

được hữu hình hóa qua yếu tố kỳ ảo, và qua đó các tác giả văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 đã thể hiện sự lo âu, khắc khoải về sự sói mòn nhân tính, đạo lý truyền thống của dân tộc Giữa lúc con người đang nghiêng ngả, choáng ngợp trước cuộc sống hiện đại, đạo đức đang bị tấn công từ nhiều phía, ở hiền chưa chắc đã được gặp lành Vì thế, con người đã nhờ đến yếu tố kỳ ảo như một giải pháp để cân bằng tâm linh giữa một xã hội xô bồ và phức tạp Đồng thời, khuyên răn người đời phải sống có đạo đức, người thiện được phúc, kẻ ác tất yếu phải lãnh nhận hậu quả khôn lường

Nghiên cứu các tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo thuộc dòng văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chúng tôi nhận thấy: các tác phẩm văn học này không chỉ nghiêng về cảm hứng khai thác, khám phá những mặt trái của đời sống con người, mà còn thể hiện cái nhìn bao dung độ lượng và niềm tin bất diệt vào bản tính tốt đẹp của con người Để khẳng định sức sống lâu bền của những giá trị đạo đức truyền thống, để hướng con người đến cuộc sống cao cả tốt đẹp, các tác giả thuộc dòng văn học này đã lùng sục vào tận cùng của thế giới yêu ma, thần quỷ

để săn tìm cái đẹp Qua đó, các nhà văn muốn chuyển tải đến cuộc đời, con người những khúc ca về giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mĩ

Tác phẩm Loạn âm (Nguyễn Tuân) là sự ngợi ca lòng liêm chính, cương

trực, ngay thẳng của con người Câu chuyện kể về vị Quan Ôn (cõi âm) vì nể tình riêng mà muốn châm chước cho người nhà của họ Trịnh (cõi dương) Nhưng ông Kinh Lịch không vì tình riêng mà chữa lại mệnh trời – nghĩa là xin xóa tên những

người thân trong cuốn sổ bắt phu của Diêm Vương: “Thưa Quan Lớn, trong cái đời

liêm chính của tôi, chưa lúc nào tôi có làm điều gì khuất tất trong lòng Nay Quan Lớn hành tạt qua đây, lại nghĩa cái tình đồng song cũ và thứ nhất có nghĩ đến cha tôi mà vào chơi, thế là quí rồi Việc Quan Lớn gia ơn cho làng Phú Giang này, tôi rất thâm tạ, nhưng thực không dám xin cho ai Việc sống chết của chung quanh tôi, xin quan lớn cứ phải mà làm và người áo vải này không dám nói thêm vào lấy nửa

Trang 35

lời” [68, tr.310] Hình ảnh, khí phách của quan Kinh Lịch và sĩ hạnh của Quan Ôn

chính là bản tính tốt đẹp của con người vẫn còn xót lại trong xã hội xô bồ, lắm bon chen

Xác ngọc lam (Nguyễn Tuân), là truyền thuyết về hôn nhân giữa ông Tổ

nghề giấy Chu Hồ và cây dó thần Thông qua truyền thuyết linh dị, đầy sắc thái kỳ

ảo ấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã khám phá những chất ngọc đáng quí trong thiên tính của con người Đó là một câu Năm nhà họ Chu vừa có chữ, vừa lại có khí phách Đó là một cô Dó sâu nặng nghĩa tình – người con gái của rừng đại ngàn- có

giọng hát “trong trẻo như pha lê và vui như tiếng thông reo giữa trời nổi gió” Và,

đó là một Chiêu Hiện rất trọng nghĩa khí, biết ăn năn hối hận vì trót “thờ nhầm

người có nhân cách đê hạ”, đã quyết từ chối mọi tặng phẩm quí giá của ông Huyện

để trở về quê chịu chết trong cảnh nghèo đói

Một truyện không nên đọc lúc giao thừa, Rượu bệnh, Đới roi (Nguyễn

Tuân) là những thiên truyện ca ngợi vẻ đẹp về nhân cách của con người Nguyễn

Tuân viết Một truyện không nên đọc lúc giao thừa là để ca ngợi tấm lòng nhân hậu, biết yêu thương con người của vợ chồng ông Bá Viết Rượu bệnh, là để ca

ngợi nghĩa khí cương thường và mà chân chất của Bố Ô Kì nhân không biết đói nhưng chỉ thấy khát rượu mà thôi Bố Ô một mình dám xông vào dinh quan Thượng

– kẻ “quyền trấn một góc trời lấy đầu người trị hạ cứ dễ như bỡn” – la hét đòi thả

cô gái quê bị cậu ấm con quan bắt hãm hiếp Đó là hành động của lòng cam đảm, nghĩa khí không chịu khuất phục trước bạo tàn Và, cái chết kì lạ của Bố Ô càng

làm tăng thêm vẻ đẹp dị thường của một dị nhân Sáng tác Đới roi, Nguyễn Tuân

cũng muốn gởi đến người đọc một nhân cách, một lối sống cao đẹp và khác thường qua hình tượng nhân vật Ấm Đái Ấm Đái dù rơi vào hoàn cảnh bần cùng mà vẫn tỏ

ra khẳng khái: thà thắt cổ chết để làm con ma tài tử chứ không chịu nhận tình thương bố thí của một đào nương Đó cũng chính là khí tiết, lối sống cao đẹp một thời còn sót lại giữa biển đời lắm bon chen

Trong Tâm sự nước độc (Nguyễn Tuân), vẻ đẹp tài hoa khí phách của con

người được nhà văn Nguyễn Tuân đặc biệt ngợi ca Đó là một Lãnh Út chung thủy

Trang 36

đến cuồng si trong tình yêu, một Bá Nhỡ tài hoa, tận tụy trung thành hết lòng với ân

nhân Một cô Tơ có “tiếng hát mọc cánh, thăm thẳm trong trắng tinh khiết quá pha

lê gọt”, và một con ma linh hồn Chánh Thú – “cũng là một nòi tài tử”

Tác phẩm Am culy xe (Thanh Tịnh), là câu chuyện cảm động về cuộc đời và

số phận nghèo khổ của người nông dân nghèo, nhưng lại chan chứa niềm tin vào tình yêu thương bao la và lòng nhân hậu của con người trong cuộc sống Hành động

sẻ chia, bảo bộc của người dân xứ Quảng trước mảnh đời bất hạnh của lão phu mù:

“dân trong xóm thương tình, người ít kẻ nhiều dồn nhau mua cái hòm mới và chôn

cất người kéo xe già tử tế” Và, “dân làng Quảng sốt sắng góp tiền rất nhiều Con thuyền xưa đã nối lại hai bờ Lòng từ thiện đã qua sông” đã nói lên nghĩa cử cao

đẹp “nghĩa tử là nghĩa tận” và đạo lý ngàn đời của dân tộc “lá lành đùm lá rách”

Có thể nói, thông qua tác phẩm, nhà văn Thanh Tịnh đã gởi gắm niềm tin vào sự trường tồn của cái đẹp

Tình trong câu hát (Thanh Tịnh), là câu chuyện đậm chất kỳ ảo, huyền hoặc

nhưng sâu nặng nghĩa tình Đạt và Liên yêu nhau bằng tình yêu trong sáng thiết tha

nhưng mối tình sâu nặng ấy lại sớm “uyên ương sảy mái” Sau ba năm nên vợ thành

chồng, Liên đã vĩnh viễn ra đi trong kỳ thai sản Đạt sầu muộn rời chốn cũ đi làm ăn

xa Nhưng chiều hôm ấy trở về chốn cũ, kỷ niệm xưa chợt vỡ ào trong tâm trí Đạt Trước mắt Đạt một chiếc thuyền ai rẽ nước giống hệt thuyền Liên Đạt cố gắng

dong buồm đuổi theo cô lái thuyền nhưng “chiếc thuyền trước chạy như bay thấp

thoáng trong chiều sương trông như bóng nhạn” Chỉ vẳng nghe điệu hò tha thiết

đến nao lòng: “Tình về Đại Lược

Duyên ngược Kim Long Đến đây là chỗ rẽ của lòng Gặp nhau còn biết trên sông bến nào”

Với cách viết nhẹ nhàng, bay bướm cùng sự đan cài giữa cái hư và cái thực tác giả đã tạo nên một câu chuyện đầy huyền ảo, thơ mộng Ẩn đằng sau cái thơ mộng huyền ảo ấy là tiếng nói ngợi ca tình nghĩa vợ chồng thủy chung son sắt

Trang 37

Tóm lại, yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 là nguồn mạch để nhà văn khai phá những mảng tối – sáng bên trong con người Chính việc tiếp cận con người ở hai chiều tốt – xấu là sự dằn lòng đầy đớn đau của con người để vươn đến những khát vọng chân chính Hơn thế, nó còn là lời nhắc nhở con người cần phải có thái độ ứng xử chừng mực, phù hợp hơn Làm cho con người ghê sợ, xa lánh cái ác cũng chính là đích hướng đến Chân – Thiện – Mĩ của văn xuôi kỳ ảo lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

2.3.2 Yếu tố kỳ ảo và cõi bí ẩn tâm linh

Hiện hữu trong cuộc sống của con người là những điều mơ hồ, vô hình nhưng có thật trong cảm xúc của con người về thế giới, đó chính là thế giới tâm linh Trong văn học trung đại, thế giới tâm linh là niềm tin, là sự xác tín vào sự tồn tại của đấng siêu nhiên Trong thế giới đó, lực lượng siêu nhiên luôn chi phối đời sống con người bằng quyền năng tối thượng Kế thừa truyền thống ấy, con người hiện đại cũng đã thừa nhận nó như một phần không thể tách rời của cuộc sống Tuy nhiên, thế giới tâm linh trong văn học hiện đại đã phát triển lên một tầm cao mới

Nó không đơn thuần là niềm tin, tín ngưỡng của con người mà còn là nơi diễn ra đời sống vô thức đầy bí ẩn, trừu tượng, là những biến động tinh tế trong tâm hồn con người Vì vậy, việc sử dụng yếu tố kỳ ảo có một ý nghĩa rất lớn, nó như là một phương tiện nghệ thuật hữu dụng để hiện hữu hóa những điều lạ lùng kì diệu đang diễn ra bên trong cõi tâm linh bí ẩn của con người

Thế giới tâm linh được biểu hiện trước hết qua niềm tin vào sự tồn tại của thế giới siêu nhiên bên trên con người Đó là niềm tin vào sự linh thiêng của tiên tổ, của

cha ông: “Dọc phá tôi mới sực nhớ năm nay đến phiên tôi “hương khói” am Cô

Giang và tôi tự bảo có lẽ vì thế nên “ông bà” bắt mình phải nóng lòng nóng ruột”

(Làng của Thanh Tịnh) Là quan niệm về sự linh thiêng và bất tử của thần Sơn Tinh

trên đỉnh núi Ba Vì trong tác phẩm Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân Hay là

niềm tin vào thần giữ của (trong quan niệm của đồng bào một số dân tộc thiểu số)

trong truyện ngắn Một truyện không nên đọc lúc giao thừa của Nguyễn Tuân

Trang 38

Trong tác phẩm: Chiều sương, Một trận bão cuối năm (Bùi Hiển) thế giới

tâm linh chính là niềm tin vào sự tồn tại quấn quýt, gần kề của cõi âm bên cạnh cõi dương Và, những sinh thể của cõi âm (ma) cũng có lúc muốn gặp gỡ, chuyện trò hoặc trêu đùa với con người (cõi dương) như thể để tìm thấy chút hơi ấm của cuộc đời Với quan niệm như thế, nên chuyện kể của Bùi Hiển tuy đậm chất ma quái nhưng lại ấm áp và xúc động lòng người

Thế giới tâm linh còn được biểu hiện qua những biến động tinh tế diễn ra trong tâm hồn con người Thế giới ấy tồn tại cả chiều không gian thứ tư: không gian tâm trạng Trong không gian tâm trạng đó xuất hiện con người tâm linh với những suy tư trăn trở và dằn vặt của tâm hồn Ở đó, con người tự đối thoại với lòng mình với tư cách là một con người riêng lẻ không nhân danh ai, không dựa vào ai

Viết Người đàn bà trong trắng, Đỗ Huy Nhiệm sử dụng yếu tố kỳ ảo để đi

sâu vào khai phá thế giới nội tâm của nhân vật Hình ảnh kỳ bí của người đàn bà hiện lên đằng sau cửa sổ là lời nhắc nhở con người về đời sống vợ chồng Và đồng thời, cũng chính là lời tự vấn lương tâm của người họa sĩ Với ông quãng đời còn lại

là quãng ngày dài của sự ăn năn sám hối, của sự tiếc nuối khôn nguôi vì đã đánh

mất nghĩa tình chồng vợ Ta hãy nghe lời tâm sự ấy: “Trước đây nhà tôi mắc bệnh

bại đang thời kỳ còn xinh đẹp, về đây hơn hai mươi năm trời, ngày ngày ngồi trên chiếc ghế bành đặt trước cửa gương, nhìn xuống đồi ngong ngóng chờ tôi về Thuở

ấy tôi mải ham mê theo những người đàn bà khác, ít khi nghĩ đến người vợ cần đến

sự thương yêu của mình Tôi chỉ hối lại khi nhà tôi đã có phần yếu, tôi liền từ chức

về đây, nhưng chẳng được bao lâu thì nhà tôi qua đời Khi đã biết yêu thương thì đã chậm lắm rồi, tôi chỉ còn trong lòng một hình ảnh in trên mặt gương này mà thôi”

[18, tr.781] Đó là lời tâm sự ngậm ngùi của một tâm trạng dằn vặt và khổ đau, của một con người đã gây nên lỗi lầm trong quá khứ Lời hối lỗi ấy tuy muộn màng xong nó rất cần thiết, bởi sự hối lỗi ăn năn sẽ giúp con người sống trở nên tốt và đẹp hơn

Viết Làng, Thanh Tịnh cũng đã đi sâu vào khai phá thế giới nội tâm của con

người Sự hiện diện của yếu tố kỳ ảo như là nỗi ám ảnh nhắc nhở về những rủi ro, là

Trang 39

dấu ấn của quá khứ, cộng đồng Cái ảo ảnh của làng quê, sông nước với hiện tại luôn đan cài với quá khứ khiến cho người đọc suy tư ngỡ ngàng Đằng sau sự sợ hãi

là sự lo âu và ân hận dày vò, nếu một ngày nào đó, con người không nhớ về nguồn

cội, tổ tiên Lời tự vấn trong tác phẩm Làng (Thanh Tịnh): “Nghe xong, tôi buồn

uất, khóc không ra tiếng Từ đó, tôi cứ chèo thuyền đi làm ăn thật xa, không mấy khi trở về làng Về thêm khổ và về với ai?”… “ [54, tr.133] là lời nhắn gởi, nhắc nhủ

của nhà văn đối với bạn đọc về trách nhiệm của con người đối với quê hương, tiên

tổ

Trong Câu chuyện mơ trong giấc mộng (Nhất Linh), thế giới tâm linh mà

tác phẩm hướng đến là giấc mộng để hé mở những bí ẩn của con người Đó là giấc mộng kỳ lạ của Sinh Trong giấc mộng ấy, Sinh nghe Tuyết tâm sự về cuộc đời giang hồ của cô ta (Tuyết) Cuộc đời ấy khởi nguồn vào một đêm Tuyết nằm mơ

thấy ba cô gái lạ đến rũ đi chơi, lúc đi với họ, Tuyết thấy “phảng phất một thứ

hương thơm mát, nhưng không đoán ra được thứ hương gì” Tuyết tỉnh dậy “khi giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài” Và, từ hôm ấy Tuyết không còn: “là cô gái mười sáu tuổi trong sạch nữa … em bước mãi vào con đường nhơ nhuốc… cho đến hôm nay… Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sách kia, nhưng không thẻ nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi sống

bao trăn trở, lo âu của con người về nhân phẩm, thân phận trong cuộc sống Giải đoán được giấc mơ kỳ lạ của Sinh, người ta sẽ thể thấu hiểu nỗi lòng của người con gái giang hồ đang khao khát hướng về một cuộc sống trong sạch, lương thiện

Con người tâm linh cũng được bộc lộ qua sự linh ứng không thể giải thích

được Trong truyện ngắn Bóng người trong sương mù, Nhất Linh đã sử dụng yếu

tố kỳ ảo để đưa người đọc đến với vấn đề ảo giác – tâm linh Chất hư – thực hợp

lôgic và không hư cấu thái quá như các tác giả khác đã khiến cho câu chuyện Bóng

người trong sương mù mang một sắc thái riêng Khi người đọc không tin vào ma

quỷ nhưng tin vào thần giao cách cảm thì câu chuyện của Nhất Linh mãi được tin là câu chuyện xúc động, có thật Và nó chỉ xảy ra và đến được với những ai sống trọn

Trang 40

tình trọn nghĩa với nhau ở đời Bóng người đàn bà (người vợ) – cánh bướm kỳ dị trong đêm hiện ra cứu người lái tàu (người chồng) thoát hiểm là minh chứng cho điều ấy

Trong tác phẩm Ngủ với ma (Đỗ Huy Nhiệm) thế giới tâm linh được biểu

hiện qua sự thông linh giữa cõi âm và cõi dương, giữa địa phủ và trần gian Sa nhiều lần đến ngủ nhà sơ Célina ở cạnh hồ Tây nhưng thực chất là ngủ ở bãi tha ma bên cạnh bốn cái mả mới bốc Tình tiết này gây không ít hoang mang, hoảng loạn cho người đọc nhưng vẫn chứng tỏ có một sự thông linh kỳ lạ giữa người sống với linh hồn người đã chết Đây chính là một hiện tượng tâm linh mờ khuất nhưng vẫn tồn tại hiển nhiên trong đời sống thực Nó chỉ xảy ra giữa những con người cực kỳ gần gũi nhau về huyết thống hoặc về tình cảm

Để khai phá cõi bí ẩn trong thế giới tâm linh của con người, các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 đã sử dụng rất nhiều các dạng thức của yếu tố kỳ ảo Dưới tác động của yếu tố kỳ ảo, các sự việc được diễn ra theo một logic khác thường và cuộc sống được cảm nhận khai phá dưới cái nhìn đa diện nhiều chiều… Soi sáng cõi tâm linh bí ẩn của con người, chúng ta chợt nhận ra rằng cuộc đời này vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn, những điều con người chưa thể biết trước và đầy bất trắc

2.3.3 Yếu tố kỳ ảo và những khát khao về tình yêu đôi lứa

Văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 là tiếng nói đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân và tình yêu đôi lứa Tuyên ngôn thời đại ấy đã thấm đẫm vào trong từng trang viết kỳ ảo Mượn yếu tố kỳ ảo, các nhà văn giai đoạn này thường đi sâu vào khai thác chủ đề về tình yêu đôi lứa Đó là những cuộc tình thắm thiết sâu đậm vượt qua những ràng buộc, những định kiến của lễ giáo phong kiến, là sự chủ động

và sẵn sàng đấu tranh đến cùng cho hạnh phúc lứa đôi

Trại Bồ Tùng Linh (Thế Lữ), là câu chuyện tình ngọt ngào, say đắm nhưng

buông thả vượt qua khuôn phép Tình yêu giữa Tuấn và Hoàng Lan Hương theo cách nhìn thông thường của lễ giáo phong kiến là lén lút, bất chính nhưng được bao bọc bởi một không gian thơ mộng nhạt nhòa sương khói, đượm vẻ liêu trai Chàng

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(Bảng thống kê tác giả và tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo) - Yếu tố kì ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt nam giai đoạn 1930- 1945
Bảng th ống kê tác giả và tác phẩm có sử dụng yếu tố kỳ ảo) (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w