Đề tài : Truyện ngắn Thạch Lam- truyện ngắn Pauxtopxki: sự gặp gỡ của phong cách nghệ thuật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thắm
TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM – TRUYỆN NGẮN PAUXTỐPXKI: SỰ GẶP GỠ CỦA PHONG CÁCH
NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị Phương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Nam Phong, người đã dịch và cung cấp nhiều tư liệu quý giúp cho tôi
có thể tìm hiểu vấn đề toàn diện hơn
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, phòng Quản lí sau đại học – trường Sư phạm TP HCM, Ban giám hiệu nhà trường – trường Dự bị đại học TP HCM, tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học
TP HCM, ngày 02 tháng 12 năm 2010 Trần Thị Thắm
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa diễn ra từ cuối thế kỉ XX, đồng đều ở mọi lĩnh vực, hầu như đã xóa bỏ sự ngăn cách giữa các nước, làm cho các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn Trong bối cảnh ấy, văn học so sánh ra đời nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa các quốc gia, bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ trước đến nay
Quả thật, ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc trên thế giới là khác nhau, nhưng tư duy, tình cảm, tâm lí, thẩm mĩ lại có nhiều điểm tương đồng Nghiên cứu văn học Việt Nam trong mối tương quan với văn học thế giới giúp chúng ta ý thức về vị thế, thân phận,
tư cách của văn học dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại Đó còn là con đường khám phá bản sắc dân tộc
Một điều không thể phủ nhận là mặc dù cách xa nhau hơn “nửa vòng trái đất” nhưng Việt – Nga có quan hệ “thâm tình”, gắn bó Văn hóa của hai nước phương Đông – phương Tây này có nhiều điểm tương đồng Hơn nữa, cả hai dân tộc đều có số phận lịch
sử thật lắm thăng trầm: từng chịu nhiều khổ đau, mất mát, từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền và cũng từng lập nên nhiều chiến thắng vẻ vang, ghi dấu son chói lọi trong trang sử hào hùng của mỗi dân tộc Vì thế mà mặc dù đến Việt Nam muộn hơn văn học Trung Quốc và văn học Pháp, song văn học Nga vừa gặp đã trở nên gắn bó, thân quen
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Thạch Lam đóng góp ở nhiều thể loại Mặc dù ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, với một số lượng tác phẩm chưa đạt đến mức “đồ sộ”, nhưng nhà văn đã sớm xác lập cho mình vị trí của một cây bút văn xuôi
có tầm vóc, một người viết truyện ngắn xuất sắc, không thể thay thế Nhìn sang văn học Nga, ta thấy có sự “hội ngộ bất ngờ” giữa Thạch Lam và Pauxtốpxki trong địa hạt văn xuôi trữ tình, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều nổi tiếng với những truyện ngắn “không có chuyện”
Tác phẩm của Pauxtốpxki được đón nhận một cách nồng nhiệt ở Việt Nam Bình minh
mưa và Bông hồng vàng trở thành tập sách gối đầu giường của độc giả yêu văn học, nhất
là giới trẻ Truyện ngắn của ông đã đi vào thơ của nhiều cây bút người Việt, những tâm
Trang 4hồn đã tìm thấy ở đây sự đồng cảm, chia sẻ, những rung động mãnh liệt, chẳng hạn Bằng Việt, Thúy Toàn, Phạm Ngọc Lan… Với bản thân người viết, những trang sách của
tuổi trẻ và cũng là nguồn cảm hứng bất tận cho những vần thơ viết về tình yêu và cuộc sống
Trong cuộc sống xô bồ, nhộn nhịp hôm nay, những truyện ngắn của Thạch Lam – Pauxtốpxki vẫn luôn là những món ăn tinh thần quý giá, là bến nước trong êm ả, an lành cho tâm hồn mỗi chúng ta tìm về neo đậu
Đặt truyện ngắn Thạch Lam và truyện ngắn Pauxtốpxki bên cạnh nhau trong thế đối sánh giúp ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về hai tác giả, đồng thời vẻ đẹp văn hóa của mỗi dân tộc cũng được phát hiện, tôn tạo thêm
Trên đây là những lí do chính thôi thúc chúng tôi lựa chọn “Truyện ngắn Thạch Lam – truyện ngắn Pauxtốpxki: sự gặp gỡ của phong cách nghệ thuật” làm đề tài
nghiên cứu cho bản luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
Thạch Lam và Pauxtốpxki lâu nay đã chiếm lĩnh được nhiều tình cảm của độc giả
Việt Nam Từ những năm 30 trở đi, xuất hiện với 3 tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937),
Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), Thạch Lam được coi như một trong những cây bút
truyện ngắn xuất sắc bậc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Từ thập niên 50, qua các bản dịch của Vũ Minh Thiều, Bửu Kế, Cẩm Tâm, Kim Ân, Mộng Quỳnh, Phan Hồng Giang…, bạn đọc Việt Nam biết đến Pauxtốpxki như một tài năng đoản thiên tự sự, làm không ít người bất giác liên tưởng đến Thạch Lam
Một thực tế rằng ở Việt Nam, từ trước 1945 đến nay, các công trình, bài nghiên cứu về Thạch Lam khá đồ sộ Khoảng mười năm trở lại đây, có nhiều công trình có quy mô, tầm cỡ nghiên cứu về đặc trưng truyện ngắn của Thạch Lam Truyện ngắn của ông đã được khám phá từ mọi giác độ, mọi bình diện: tư tưởng, quan điểm của tác giả, nội dung phản ánh, nghệ thuật thể hiện, phong cách văn xuôi nghệ thuật… Số lượng công trình, bài viết về Pauxtốpxki, so với Thạch Lam, “mỏng” hơn nhiều Những vấn đề liên quan đến đặc trưng phong cách nghệ thuật Pauxtôpxki không phải là quá mới mẻ, ở những bài giới thiệu khái quát, hầu hết các dịch giả trên đều đề cập đến Riêng việc nghiên cứu truyện ngắn Thạch
1 Thơ Bằng Việt
Trang 5Lam trong thế đối sánh với truyện ngắn Pauxtốpxki thì vẫn còn bỏ ngỏ Chúng tôi xem vấn
đề này là một mảnh đất trống đầy hấp lực và thách thức trong việc tìm hiểu, khám phá nó
Vì tránh sự trùng lặp không cần thiết với công việc nhiều nhà nghiên cứu đã làm, ở đây chúng tôi xin phép không bàn đến những công trình nghiên cứu về truyện ngắn ở mỗi tác giả (Thạch Lam hoặc Pauxtốpxki) mà chỉ quan tâm đến các tài liệu trực tiếp đề cập đến đề
tài
Phan Hồng Giang, một trong những dịch giả có đóng góp rất lớn với việc đưa tác
phẩm của Pauxtốpxki đến với người đọc Việt Nam, trong bản dịch của tập tiểu luận Một
mình với mùa thu, đã có những nhận xét rất xác đáng về Pauxtốpxki: “Có thể coi là một tấm
gương cùng soi chung của tâm hồn hai dân tộc Nga – Việt Ông đã là biểu hiện cụ thể cho
cái đồng cảm, đồng điệu giữa tâm hồn hai dân tộc vốn có rất nhiều điểm chung trong số phận lịch sử hình thành và phát triển” (Chúng tôi nhấn mạnh) [64, tr 325] Bùi Việt Thắng
trong cuốn Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại cho rằng: “Đọc văn
Thạch Lam chúng ta thấy văn của ông tựa hẳn vào cảm giác mà sinh thành Nhân vật của ông nhận biết hết thế giới xung quanh và giao hòa được với người khác cũng chủ yếu nhờ vào cảm giác Đọc Thạch Lam ta nhớ tới A Đôđê (Pháp), Pauxtốpxki (Nga), A Môroa
(Pháp) – những nhà văn có sức mạnh của trực giác trong văn” (Chúng tôi nhấn mạnh) [
80, tr 187] Đó là những nhận xét mang tính mở đường, gợi dẫn mà chúng tôi tiếp tục
nghiên cứu trong bản luận văn
Tóm lại, chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu truyện ngắn Thạch Lam trong thế đối sánh với truyện ngắn của Pauxtốpxki Tiếp thu, kế thừa những thành tựu của người đi
trước, vừa nỗ lực tìm kiếm một hướng khám phá mới, chúng tôi chọn đề tài Truyện ngắn
Thạch Lam – Truyện ngắn Pauxtốpxki: sự gặp gỡ về phong cách nghệ thuật với hi vọng
bổ sung vào phần khiếm khuyết, góp thêm một tiếng nói khiêm nhường trong việc nghiên cứu truyện ngắn của hai tác giả này, tuy chắc chắn không thể toàn diện
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiếp thu có chọn lọc thành quả nghiên cứu đã có, luận văn của chúng tôi nhằm tìm hiểu và xác lập những đặc trưng thẩm mĩ của kiểu truyện ngắn “không có truyện” ở Thạch Lam và Pauxtốpxki Trên cơ sở đó, chúng tôi soi chiếu vào văn hóa của mỗi nước để thấy được đâu là “phần giao thoa” văn hóa giữa hai quốc gia, đâu là bản sắc dân tộc của mỗi nước
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki Từ những hiện tượng văn học gần gũi nhau, chúng tôi xác định đặc trưng thẩm mĩ của loại truyện ngắn làm nên phong cách của hai nhà văn
Về Thạch Lam, chúng tôi tìm hiểu và khảo sát 33 truyện ngắn của ông Về Pauxtốpxki, chúng tôi lựa chọn những truyện ngắn tiêu biểu đã được dịch, chọn lọc trong các
tập “Bông hồng vàng” và “Bình minh mưa” Giữa các ấn phẩm của Thạch Lam và Pauxtốpxki, chúng tôi tin tưởng chọn hai cuốn: Thạch Lam – 33 truyện ngắn, Nxb Văn học,
2009 và cuốn Pauxtốpxki , Bông hồng vàng và Bình minh mưa (dịch giả Kim Ân và Mộng
Quỳnh dịch), Nxb Văn học, 2003 làm tư liệu khảo sát chính
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Bằng kết quả khảo sát, phân tích, người viết mong chỉ ra những
nét đặc sắc trong phong cách truyện ngắn ở hai tác giả, đặc biệt nhấn mạnh những chỗ tương đồng và dị biệt, phần nào chỉ ra nguyên nhân và lí giải chúng Luận văn cũng đặt ra một hướng đi mới mẻ trong việc tiếp cận truyện ngắn Thạch Lam và truyện ngắn Pauxtốpxki cũng như cung cấp một số kiến thức bổ ích về văn hóa của nước ta và nước bạn
Ý nghĩa thực tiễn: Thêm một tiếng nói khiêm nhường đưa truyện ngắn của hai nhà
văn đến gần hơn với độc giả, góp phần vào việc tìm hiểu cũng như giảng dạy truyện ngắn Thạch Lam và truyện ngắn Pauxtốpxki trong trường phổ thông và đại học
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
– Phương pháp so sánh: đặt truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki trong cái
nhìn tương quan để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt Vì không tìm thấy mối quan hệ trực
tiếp giữa hai tác giả, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh loại hình, lí giải các
tương đồng, dị biệt từ các hiểu biết về tiểu sử nhà văn cũng như đặc điểm xã hội, môi trường văn hóa mà nhà văn sống Bên cạnh đó, chúng tôi đặt hai tác giả này trong mối quan hệ với một số nhà văn xuất hiện cùng thời hoặc trước và sau họ để thấy nét độc đáo trên cái nền chung của thời đại cũng như trong tiến trình lịch sử văn học
– Phương pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các câu văn, các chi tiết nghệ
thuật, biện pháp tu từ thể hiện rõ đặc trưng thẩm mĩ trong truyện ngắn Thạch Lam và
Trang 7Pauxtốpxki, sau đó hệ thống hóa, đặt chúng vào các nội dung chung phục vụ cho mục đích nghiên cứu
– Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong luận văn nhằm
kết hợp phân tích dẫn chứng với việc đưa ra những nhận định ở các chương, các phần
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 167 trang Ngoài phần Dẫn nhập (8 trang), Kết luận (3 trang), Phụ
lục (18 trang), Thư mục tham khảo (8 trang), phần nội dung chính của luận văn gồm 130
trang, được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Thạch Lam – Pauxtốpxki: con người và quan niệm nghệ thuật
Ngoài phần giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp, những tác phẩm chính, chúng tôi trình bày
sự gặp gỡ về quan niệm nghệ thuật của Thạch Lam và Pauxtôpxki ở các phương diện: đối tượng của văn chương (cái đẹp), nghề văn, sứ mệnh nhà văn Từ sự tương đồng về quan niệm nghệ thuật, họ đã có sự gặp gỡ ở hình thức thể loại, cụ thể là loại truyện ngắn trữ tình
“phi cốt truyện” Đây là tiền đề quan trọng của sự “giao thoa” về phong cách truyện ngắn đặc sắc giữa họ
Chương 2: Nội dung tự sự trong truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki
Từ những tiền đề của chương trước, chương này nhằm cụ thể hóa những vấn đề về nội dung tác phẩm
Chương 3: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki
Tiếp theo chương 2, chương này chỉ ra sự giống và khác nhau ở những đặc điểm về hình thức và kĩ thuật kiến tạo truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki
Trang 8Chương 1:
THẠCH LAM – PAUXTỐPXKI: CON NGƯỜI VÀ QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT
1.1 Thạch Lam – Pauxtốpxki: Con người
Thạch Lam (1910 – 1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân Ông sinh ra tại Hà Nội, trong một gia đình công chức quê gốc ở Quảng Nam Còn Kônxtantin Pauxtôpxki (1892 – 1968) sinh ra tại Mátxcơva, trong một gia đình gốc Côdắc miền Dapôrôgiê Giữa hai nhà văn thuộc hai quốc gia, hai nền văn hóa khác nhau lại có
những điểm gặp gỡ tình cờ trên những chặng đường đời
1.1.1 Hoài niệm tuổi thơ
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki cùng sinh trưởng trong gia đình yêu thích văn chương
nghệ thuật Cả hai trải qua những năm tháng tuổi thơ khá êm đềm bên những người thân yêu
trong gia đình, nơi đã vun trồng nên nhân cách và tài năng cho họ Thủa nhỏ, cậu bé Nguyễn Tường Vinh (tên thật của Thạch Lam), chịu ảnh hưởng tích cực từ hai người anh trai học giỏi, ngoan ngoãn (sau này là hai nhà văn nổi tiếng Nhất Linh, Hoàng Đạo) Khi lên bảy, Tường Vinh mất cha nên cậu bé lớn lên hầu như trong sự yêu thương, chăm lo của bà nội và
mẹ Hình ảnh người bà hiền từ, rất mực yêu thương con cháu và người mẹ đảm đang, tháo vát với nghề buôn gạo nuôi con đã chạm khắc vào trái tim nhà văn từ tấm bé Còn Pauxtốpxki lại chịu ảnh hưởng nhiều từ người cha lãng mạn và vui tính, vốn là một người thích “xê dịch” và giàu mơ ước Cụ không bao giờ ngồi yên một chỗ Sau khi làm việc ở Matxcơva, cụ xin đổi đi Vinnô, rồi Pơxcốp và cuối cùng mới định cư tương đối lâu dài ở Kiép Nhà cậu bé Kôchia đông người, đủ mọi tính nết khác nhau nhưng đều là những người yêu nghệ thuật Cậu lớn lên trong những tiếng hát, những bản dương cầm, các cuộc tranh luận về âm nhạc, hội họa, văn chương
Cả hai nhà văn đều thông minh, nhạy cảm, có bản lĩnh độc lập và sớm phát lộ tài
năng bẩm sinh Theo các tư liệu tiểu sử và hồi kí của những người thân trong dòng họ
Nguyễn Tường, tuổi thơ của Thạch Lam gắn với Cẩm Giàng quê ngoại – một phố huyện nghèo đã in đậm bóng dáng trong những trang văn của ông Khi lên sáu tuổi, Thạch Lam theo gia đình rời Hàng Bạc (Hà Nội) về đây Cũng từ đó, phố thị đông vui, huyên náo và đầy
Trang 9ánh sáng chỉ còn là một nơi xa xăm trong miền kí ức đẹp đẽ mà tâm hồn trẻ thơ nhạy cảm như Thạch Lam đôi lúc vẫn khao khát tìm về
Thủa nhỏ, “người em thứ sáu” vốn là một đứa trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, dạn dĩ, “thông
minh và lãng mạn nhất nhà” [3, tr 342] Cậu bé có đôi mắt sâu trên gương mặt khôi ngô ấy
lại có một tâm hồn rất nhạy cảm, biết thương yêu, sẻ chia với những người nghèo khổ quanh mình Ngoài ra cậu còn học rất giỏi, từng khai tăng tuổi để học Ban thành chung Tuy còn nhỏ, Tường Vinh sớm có ý thức phụ giúp gia đình Công việc trông coi cửa hàng tạp hóa (cùng người chị gái) ngày ấy đã để lại những kỉ niệm khó phai mờ trong kí ức của nhà văn Thạch Lam về sau
Các tư liệu viết về Pauxtốpxki cho biết thủa nhỏ, cậu là đứa trẻ bản lĩnh, hoạt bát Khi đang học lớp 6, gia đình cậu bị khánh kiệt Đó cũng là thời điểm mở đầu cho cuộc sống tự lập của Pauxtốpxki Việc làm nghề gia sư để tiếp tục con đường học vấn dang dở đã chứng
tỏ nghị lực và ý chí phi thường đang sục sôi trong trái tim non trẻ của cậu thiếu niên ham học hỏi này
Ngoài ra, cả Thạch Lam và Pauxtốpxki cùng ước mơ về những chuyến đi xa, khát
khao khám phá những chân trời mới mẻ Ngoài thú vui “đi chơi chân không quanh quẩn
chỗ mẹ và bà ngồi” [3, tr 342] trong những đêm sáng trăng hay “đi chơi quanh quẩn nơi xóm chợ” [3, tr 344], cậu bé Tường Vinh còn có một sở thích đặc biệt là “xem tàu hỏa, ngày nào cũng ra đợi ngắm chuyến tàu kéo gạo hai giờ trưa” [3, tr 344] Với tính bạo dạn và hiếu
kì, cậu đã chui cả vào gầm toa, sờ tay vào những vành bánh sáng loáng mặc dù mọi người ở ngoài được một phen thót tim Còn cậu bé Kôchia vốn là một đứa trẻ ưa khám phá Cậu say
mê bản đồ địa lí đến mức có thể ngồi hàng tiếng đồng hồ liền với chúng Chính Pauxtốpxki
từng bộc bạch:“Tôi nghiên cứu dòng chảy của những con sông chưa bao giờ biết tới, những
bờ biển kì cục, đi sâu vào rừng Taiga, nơi những trạm không tên tuổi chuyên mua da, lông thú của những người đi săn được đánh dấu bằng những vòng tròn tí xíu, hoặc nhắc đi nhắc lại những tên đất kêu như những vần thơ: Quả cầu Iugor, quần đảo Ebriđơ, Guađagama và Invécnetxơ, Onhêga và Koócđie Dần dần tất cả những vùng đất đó sống dậy trong trí tưởng tượng của tôi rõ rệt đến nỗi tôi tưởng có thể viết nổi những cuốn nhật kí hành trình bịa đặt qua các lục địa và các xứ sở khác nhau.” [65, tr 81]
1.1.2 Biến động cuộc đời
Trang 10Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều là chứng nhân của một thời đại bão táp gắn với
những sự kiện trọng đại của lịch sử, bao đổi thay lớn lao của dân tộc Mà ta biết, mọi ba
động của đời tất thảy đều vang lên khác lạ trong tâm hồn nhạy cảm của người trí thức, nhất
là những trí thức nghệ sĩ như họ
Thạch Lam sinh ra và lớn lên trong tình cảnh “sự đã rồi” của đất nước Sau khi tạm
“bình định” Việt Nam về mặt quân sự, từ đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa theo phương thức tư bản chủ nghĩa Xã hội Việt Nam mặc nhiên phải chấp nhận bao sự đổi thay, mà đổi thay lớn nhất là cuộc sống “buổi giao thời” dưới chế độ thực dân thuộc địa Bao làng quê yên ả, thanh bình với cốt cách “dĩ nông vi dân” nay bỗng chốc “làng xoay ra phố”, dung nạp thêm lối sống thị thành Tư tưởng, văn hóa phương Tây hiện đại ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là giới trí thức Được đào
tạo bài bản như một trí thức Tây học, nhưng trước sau Thạch Lam vẫn là “một người Việt
Nam sâu xa, một người Việt Nam thành thực” [3, tr 357] Còn Pauxtốpxki đến với cuộc đời
giữa lúc xã hội Nga đang trong bầu không khí sục sôi của đêm trước Cách mạng tháng Mười Ông là người đã kinh qua hai cuộc Thế chiến chấn động cả địa cầu, sống trong đói rách, giặc giã, cách mạng, nội chiến, hòa bình
Hai nhà văn có cách “ứng xử” khác nhau trước thời cuộc Khi chiến tranh Thế giới
thứ nhất nổ ra, Pauxtốpxki rời ghế nhà trường và lao vào các công việc: làm nhân viên đường sắt, phụ lái tàu điện, bán vé tàu điện, làm y tá trên các đoàn tàu cứu thương Cuộc cách mạng tháng Hai bùng nổ khi Pauxtốpxki đang ở Matxcơva, ông bước vào ngành báo Cũng ở đây, ông hạnh phúc được tham dự Cách mạng tháng Mười, nghe Lênin nói chuyện
và tiếp tục chứng kiến những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Trong cuộc nội chiến, Pauxtốpxki gia nhập Hồng quân, nguyện hiến thân mình cho Tổ quốc Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, một lần nữa, hiện thực bề bộn ấy đã cuốn theo nhà văn trong vai trò phóng viên mặt trận phía Nam Nếu như Pauxtốpxki tích cực với các hoạt động chính trị, xã hội thì Thạch Lam dường như không tham gia một tổ chức chính trị nào Cuộc đời ngắn ngủi của ông trôi qua trong bầu không khí tù đọng, bức bối của xã hội Việt Nam thời kì đêm trước cuộc cách mạng tháng Tám Bao cuộc khởi nghĩa chống Pháp diễn ra sôi nổi, tuy có thất bại nhưng ngọn lửa đấu tranh vẫn âm ỉ cháy và được nhen nhóm để chờ thời cơ là bùng lên mạnh mẽ Hầu hết giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đều mang tâm trạng cô đơn, bất lực trước thời
Trang 11thế bởi họ chưa tìm thấy lối đi hay còn đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” 1 Có người cho rằng tuổi đời Thạch Lam quá ngắn nên ông chỉ kịp sống trọn vẹn cuộc đời của một nghệ sĩ chân chính Lại có ý kiến nhận xét Thạch Lam đã chịu ảnh hưởng của nhà văn A Gide với một quan niệm tự do gần như tuyệt đối Nếu Pauxtốpxki giống như cây kim bé nhỏ trước thỏi nam châm cuộc đời thì Thạch Lam tựa sợi tơ giăng ngang giữa một trời bão táp
Cả hai nhà văn đều có cuộc đời gắn với những chuyến đi Trong cuộc đời “ở trọ trần
gian” thoáng chốc, Thạch Lam cũng nhiều lần “xê dịch” trong phạm vi của đất nước: từ Hà Nội về Cẩm Giàng (Hải Dương), Tân Đệ (Thái Bình) Sau khi về lại Hà thành, Thạch Lam sống ở phố Hàng Bún, phố cầu Gỗ, rồi lần lượt chuyển đến Giám, Đỗ Hữu Vị, Hàng Bè, Quán Thánh… Ông cũng có vài năm theo Hoàng Đạo vào sống ở Sài Gòn Thế nhưng ông sống và sáng tác chủ yếu ở một lớp nhà gỗ nhỏ ven Hồ Tây, có cây liễu rủ bóng thướt tha ngoài cửa sổ và khóm tre xanh mát đầu nhà, mộc mạc như ở chốn quê Còn dấu chân Pauxtốpxki đã in khắp mọi miền Tổ quốc Nga, từ bán đảo Cônxki đến những sa mạc miền Trung Á, từ các thành phố băng tuyết miền cực Bắc đến bờ biển ấm áp vùng Krưm và những khu rừng Taiga rậm rạp của Xibêri Ông đã nghe giọng nói âm vang và du dương của người Ôđétxa, ngỡ ngàng với những đêm trắng ở Karêli, uống nước của những hồ trong đầm lầy đen kịt ở vùng Mêsora, rảo chân lang thang trên những nẻo đường vùng Mikhailốp… Giữa những năm 50 của thế kỷ XX, Pauxtốpxki đã mở rộng biên độ xê dịch ra nước ngoài như đến thăm Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari, đi du lịch vòng quanh Châu Âu
1.1.3 Sáng tạo nghệ thuật
Thạch Lam và Pauxtốpxki là hai nhà văn đồng đại Cùng được nuôi dưỡng với nguồn sữa nghệ thuật từ gia đình và mạch nguồn văn hóa dân tộc, các ông đã đến với văn chương
như quy luật tất yếu của tình yêu và đam mê Năm 21 tuổi, sau khi đỗ tú tài I, Thạch Lam
thôi học, bắt đầu làm báo, viết truyện ngắn, luận thuyết văn học, thời đàm Khi Nhất Linh sáng lập nhóm “Tự lực văn đoàn”, một tổ chức văn học nổi tiếng thời bấy giờ, Thạch Lam
nhanh chóng trở thành một cây bút chủ chốt của báo Phong hóa, rồi Ngày nay (cơ quan ngôn
luận của nhóm) Tuy cầm bút sáng tác theo tuyên ngôn của “Tự lực văn đoàn”, ông vẫn lặng
lẽ kiếm tìm cho mình một lối đi riêng Kết quả là sách của ông bán ế nhất bởi nó luôn đi bên
lề của “mốt thời thượng” Tuy vậy, thời gian – thước đo công bằng, khách quan nhất – đã trả lại cho văn chương ông giá trị đích thực vốn có Ngày nay, những truyện ngắn của Thạch
1 Thơ Tố Hữu
Trang 12Lam vẫn là một thứ rượu quý, nhẹ nhàng thấm vào hồn người, ngọt ngào và say sưa Bạn bè của Thạch Lam còn nhớ như in một con người khiêm nhường, nhỏ nhẹ, ít nói ở ngoài đời nhưng lại sâu sắc trong văn chương và rất nghiêm túc trong nghề nghiệp Thạch Lam viết
một cách thận trọng, khó khăn bởi mỗi trang văn được viết ra đều “có rất nhiều Thạch Lam ở
trong đó” [3, tr 148] Năm 1940, khi đang ở vào thời kì sung sức nhất trong sáng tác, Thạch
Lam phát hiện mình mang trong người căn bệnh lao phổi quái ác Nhà văn đã bình tĩnh đón
nhận điều không may và sống, làm việc như ngọn nến trong đêm cạn mình để cháy
Còn Pauxtốpxki sớm bộc lộ lòng đam mê văn chương với những truyện ngắn được
đăng trong tạp chí Những ngọn lửa ở Kiép khi ông còn là học sinh năm cuối trung học, tuy
nhiên nó chẳng để lại tiếng vang gì đáng kể Với mục đích “đặt cuộc đời lên trên trang viết”,
từ năm 1913 Pauxtốpxki đã thực hiện một cuộc sống lang thang gần như khắp nước Nga Những chuyến đi khắp các vùng miền Tổ quốc trong bối cảnh đất nước trải qua những biến
cố lớn đã cho Pauxtốpxki vốn sống phong phú, nguồn tư liệu đầy đặn, chân thực, đồng thời cũng bồi đắp cho quan điểm nghệ thuật tiến bộ ở ông Ngoài ra, Pauxtốpxki còn là tấm gương tích cực học hỏi kinh nghiệm của thế hệ nhà văn tiền bối và các đồng nghiệp đương thời
Với tâm hồn nghệ sĩ bén nhạy như dây đàn, luôn sẵn sàng rung lên trước những xung
động của cuộc sống, Thạch Lam và Pauxtốpxki đã dệt nên những trang văn nồng ấm hơi
thở đời thường Tất nhiên, với tuổi đời, tuổi nghề lớn hơn, Pauxtốpxki đã mở rộng độ xê
dịch và để lại cho hậu thế khối lượng tác phẩm đồ sộ hơn Với non mười năm cầm bút, Thạch Lam đã xác lập cho mình vị trí của một cây bút văn xuôi có tầm vóc, một phong cách
truyện ngắn đặc sắc dù khối lượng tác phẩm chưa nhiều Ông để lại các tập truyện ngắn: Gió
đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942); Tiểu thuyết: Ngày mới (1939), tập
tiểu luận phê bình: Theo dòng (1941); Bút kí: Hà Nội băm sáu phố phường (1943) Ngoài ra còn có hai cuốn truyện viết cho thiếu nhi là Quyển sách, Hạt ngọc (1940), và một số truyện dài còn đang ở dạng bản thảo như Thập niên đăng hỏa, Huyền… Đó là kết quả của một hành
trình miệt mài, cần mẫn chắt chiu cái đẹp bằng tất cả tấm lòng
Cuộc hành trình chắt chiu từng mảy bụi vàng của Pauxtốpxki đã kết thành “trái ngọt hoa thơm” – những tiểu thuyết, truyện dài, chân dung văn học, bút kí, tiểu luận, đặc biệt là
truyện ngắn Ông để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ: Những phác thảo biển khơi (1925), Những đám mây lấp lánh (1929), Vịnh Kara – Bunga (1932), Số phận Sáclơ
Longxêvin (1933), Miền Cônkhiđa (1934), Hắc Hải (1936), Những ngày hè (1937), Ôrext
Trang 13Kiprenxki (1937), Câu chuyện phương Bắc (1938), Miền rừng Mêsora (1939), Bông hồng
vàng (1955), Truyện cuộc đời (1967) Ở Việt Nam, những tác phẩm của Pauxtốpxki được
đông đảo bạn đọc biết đến qua các bản dịch: Bông hồng vàng (in 1961, tái bản 1982), tập
Truyện ngắn Pauxtốpxki (1962), Vịnh Mõm Đen (1978), Bình minh mưa (1982)
Những nét tương đồng giữa Thạch Lam và Pauxtốpxki ngoài đời là tiền đề cho cuộc gặp gỡ thú vị trong nghệ thuật giữa họ mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần tiếp theo của luận văn
1.2 Thạch Lam – Pauxtốpxki: Quan niệm nghệ thuật
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo phương thức “cá thể” Vì vậy, mỗi tác phẩm là một “chứng minh thư” tâm hồn của nhà văn, nó chịu sự chi
phối sâu sắc của quan niệm nghệ thuật của ông ta Thuật ngữ quan niệm nghệ thuật có nội hàm rộng, là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật,
đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [25, tr.229] Quan
niệm nghệ thuật của một nhà văn là một phương diện quan trọng góp phần định dạng phong cách nghệ thuật của nhà văn ấy
Ở Thạch Lam và Pauxtốpxki có sự gặp gỡ trong quan niệm nghệ thuật về tác phẩm văn chương, về cái đẹp và vai trò của người nghệ sĩ Những quan niệm ấy hé mở với người đọc cái nhìn độc đáo của các ông về thế giới và con người
1.2.1 Văn chương đòi hỏi “sự thật và giản dị”
Giá trị và ý nghĩa của nội dung tác phẩm văn học được đánh giá theo mức độ phản ánh chân thật và sâu sắc hiện thực đời sống Do vậy, tính chân thật, giản dị là những phẩm chất không thể thiếu của một tác phẩm đích thực Theo Thạch Lam, để có được điều đó, người
nghệ sĩ phải “bỏ hết những cái sáo, những cái kêu to mà trống rỗng, những cái giả dối đẹp
đẽ, tìm cái giản dị, sâu sắc và cái thật, bằng cách quan sát và rung động đúng” (Chúng tôi
nhấn mạnh) [43, tr 322] Thạch Lam từng nhắc lại câu nói của André Bellesort với sự chia
sẻ sâu sắc: “Không gì bằng sự thực; sự sống là cái chuẩn đích, là mực thước của mọi vật”
[43, tr 328] Quan niệm về tác phẩm văn học của Thạch Lam trực tiếp hé lộ mĩ cảm của nhà
văn: cái đẹp là sự sống được cảm thấy Nhà văn đã đề cao tính chủ thể trong việc phát hiện,
thụ hưởng và miêu tả cái đẹp, cái thẩm mĩ “Cái đẹp được cảm thấy” nghĩa là nó phải sống động, tự nhiên, giản dị và chân thật Nó hoàn toàn xa lạ với cái trơ cũ, đoán định, sáo mòn
Nó là cái cốt lõi làm nên tác phẩm văn học (Đành rằng văn chương không chỉ nói đến cái
Trang 14đẹp) Điều đó có nghĩa là phẩm chất chân thật, giản dị của tác phẩm văn học chỉ có thể được
dưỡng nuôi từ tình cảm, sự rung động thành thực trong con tim tác giả Đó là vì “cái gì nhà
văn không cảm thấy mà bịa ra, nó vẫn có vẻ một vật thừa, một vật vô ích” [43, tr 311]
Thạch Lam lưu ý“sự rung động thật với sự văn chương” Khi được khơi nguồn, hoài thai từ
cái đẹp được cảm thấy bởi tâm hồn nhà văn, tác phẩm tự bản thân nó đã mang một vẻ đẹp vô
cùng – vẻ đẹp của sự sống xanh non
Thạch Lam thú nhận bản thân ông từng ca tụng hoa liễu, bắt chước những câu văn sáo
rỗng “như người ta thường vẫn làm” nhưng rồi nhà văn sớm nhận ra sự tẻ nhạt, giả dối trong
hành động đó Không né tránh những mặt trái kém phần thi vị của cuộc đời, những góc khuất tăm tối trong hồn người, nhưng Thạch Lam cũng không tô đậm hay bôi đen chúng mà chuyển tải hiện thực đó lên trang văn của mình với thái độ chia sẻ, cảm thương Cái đói khổ, túng quẫn của kẻ làm thuê; sự cay cực vì miếng ăn của người trí thức; việc mưu sinh khó khăn của người lao động nghèo… Tất cả hiện lên sống động, xác thực qua những truyện
ngắn như Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Người bạn cũ, Đói, Người bạn trẻ… Không chỉ miêu tả
hiện thực đời sống con người, Thạch Lam còn đi sâu vào cái chân thật trong cảm xúc, tâm trạng của họ Đó là những tình cảm “phiền phức” nhưng hiện hữu ở con người: nỗi băn
khoăn khó hiểu khi lần đầu làm cha (Đứa con đầu lòng); niềm hạnh phúc say sưa của cô gái lần đầu biết đến men say tình yêu (Tình xưa); cảm giác ngỡ ngàng khi suýt nữa chạm tay vào việc xấu (Sợi tóc), hay ân hận, dày vò vì đã trót làm điều ác (Một cơn giận)…
Cùng quan niệm với Thạch Lam, Pauxtốpxki cho rằng tác phẩm văn học nói chung,
truyện ngắn nói riêng cần phải có “sự thật và giản dị” [65, tr 45] Ông chia sẻ kinh nghiệm viết truyện ngắn đầu tiên của mình: “Tôi vật lộn mãi với truyện ngắn này và không hiểu
được vì sao khi viết ra nó lại cứ khô héo và nhợt nhạt mặc dầu nội dung câu chuyện thật thê thảm” [65, tr 44] Để có một truyện ngắn đích thực, tác giả đã viết lại “và ngạc nhiên vì không sao đặt được vào trong truyện những từ cầu kì và đẹp” [65, tr 45] Pauxtốpxki nhấn
mạnh: “Tôi viết không phải vì tôi đã đặt ra cho mình nhiệm vụ ấy mà là vì tâm hồn, trái tim,
khối óc tôi đòi hỏi phải làm như vậy” [65, tr 47] Do vậy, ông đã mạnh dạn đưa “những cái tưởng chừng như vặt vãnh” vào truyện ngắn của mình và chúng đã phát huy hết nội lực Một
món quà, một cuộc gặp gỡ tình cờ, thoáng qua mà đầy dư âm dư vị… đã được diễn tả chân
thực, cảm động qua các truyện ngắn Lẵng quả thông, Gió biển, Tuyết, Cây tường vi…
Mặt khác, cái đẹp được cảm thấy theo Thạch Lam và Pauxtốpxki là cái đẹp mới mẻ,
trong trẻo, thuần khiết như lần đầu được biết đến Trong bài tiểu luận Chất thơ của văn xuôi,
Trang 15Pauxtốpxki cho rằng người nghệ sĩ phát hiện ra cái đẹp ấy nhờ “khả năng nhìn cuộc sống lúc
nào cũng như mới, như lần đầu được thấy, trong tất cả dáng vẻ tươi nguyên và đầy ý nghĩa”
[64, tr 10] Trong truyện ngắn Thạch Lam, vẻ đẹp thanh tân, tràn đầy sức sống của các thiếu
nữ như Lan (Tình xưa), Hậu (Nắng trong vườn), Mai (Trăng sáng)… luôn được tác giả miêu
tả qua sự rung cảm của các chàng trai trẻ – những thanh niên đang sống trong men say của mối tình đầu Thạch Lam cũng nhiều lần nói đến cái sự sống bí ẩn mà thiêng liêng trong bản
thân mỗi sự vật: “Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như sắt lại vì rét” [44, tr 88]; “Trong cái giờ khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù
kia là tâm hồn của đất màu đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người” [44, tr 100];
“Bông hoa vừa hé nở, cánh nhỏ còn khép giữ một giọt sương long lanh trong như ngọc Từ đóa hoa bốc lên một mùi hương quen mến, mùi hương mộc mạc và đầm ấm của hồng nhà”
[44, tr 250] Cùng quan niệm với Thạch Lam, Pauxtốpxki tập trung mô tả những tình cảm
đột khởi trong tâm hồn con người: cái mới mẻ của tình yêu chợt đến (Tuyết, Suối cá hương,
Cầu vồng trắng…), sự rung cảm kì lạ trước sức lay gọi mãnh liệt của âm nhạc (Lẵng quả thông, Người đầu bếp già)…v.v
1.2.2 Đi tìm cái đẹp tiềm tàng, khuất lấp
Có thể nói người nghệ sĩ là tín đồ của cái Đẹp Cái đẹp, cái thẩm mĩ là đích đến trong hành trình nghệ thuật của họ Thế nhưng, quan niệm về cái đẹp của họ cũng muôn màu vạn
vẻ như chiếc kính vạn hoa Có người say đắm với cái đẹp của những giá trị văn hóa tinh thần một thời quá khứ huy hoàng đã qua, lại có kẻ thích cái đẹp ước lệ kiểu phong, hoa, tuyết,
nguyệt… hay đi tìm cái đẹp kì bí, siêu phàm Với Thạch Lam, “nhưng cái đẹp chỉ cứ ở hoa,
ở liễu thôi đâu mà? Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm
tàng ở mọi vật tầm thường” (chúng tôi nhấn mạnh) [43, tr 326] Quan niệm về cái đẹp của
Thạch Lam tương đồng với quan niệm của Pauxtốpxki Nhà văn xứ bạch dương cho rằng
trong mọi sự vật bình thường đều tiềm ẩn bụi quý:“Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và
mỗi cái nhìn tình cờ ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc vui đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, cũng như cả đến một bông xốp của hoa hướng dương đang bay hay lửa sao trong một vũng nước đêm – tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng” [65,
tr 20] Đó chính là cái đẹp khuất lấp, tiềm tàng trong đời sống hằng ngày
Quan niệm trên của Thạch Lam và Pauxtốpxki đã mở ra nguồn “chất liệu” phong phú
và vô tận của tác phẩm văn chương Quả thật, cái đẹp là một trong những hiện tượng thẩm
Trang 16mĩ phong phú nhất và phạm vi bộc lộ rất rộng rãi Có cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp của những sản phẩm do con người tạo ra, cái đẹp trong hoạt động của con người, cái đẹp của con người và cái đẹp trong nghệ thuật Những “mảy bụi vàng” ấy hiện diện quanh ta, kể cả những nơi tưởng chừng khó tìm thấy nhất nhưng chúng vốn khuất lấp, ẩn chìm Chúng đòi hỏi người nghệ sĩ phải có con mắt tinh tường, sự dấn thân để khám phá và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm để phát hiện, lĩnh hội Thạch Lam và Pauxtốpxki đã đề cao việc phát hiện nhân tố mới của cái đẹp, cái thẩm mĩ Ngược lại, chúng cũng xác lập vị trí, yêu cầu đối với nghề văn
– một hình thái lao động đặc thù – là “phát hiện cái đẹp ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái
đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn, thưởng thức”
(chúng tôi nhấn mạnh) [43, tr 26], hay: “Nghề văn không phải là một nghề thủ công và cũng
không phải là một thứ công việc”, đó chính là “cái lao động tuyệt mĩ nhưng cay cực” [65, tr
24] Quan niệm về nghề văn của Thạch Lam và Pauxtốpxki gần gũi với quan niệm của Nam Cao Cây bút truyện ngắn xuất sắc bậc nhất của văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam cho
rằng: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa
cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” 1
Thạch Lam đã phát hiện cái đẹp trong cái nên thơ, bình dị, yên ả của những làng quê,
phố huyện nghèo ở Việt Nam (Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Tình xưa, Nắng trong
vườn), còn Pauxtốpxki thiết tha với vẻ đơn sơ, trong lành mà đầy quyến rũ của các làng mạc,
tỉnh lị xa xôi trên đất Nga (Tuyết, Bình minh mưa, Cây tường vi, Bình nguyên tuyết phủ)
Một buổi sớm mai tươi mát, trong lành, một con đường làng mấp mô bước chân trâu, cánh đồng lúa rập rờn theo làn gió, khu rừng bạch dương màu trắng bạc, ngọn núi phủ tuyết khi đông về… tất cả đều được các nhà văn khơi dậy cái chất sống tươi mới bên trong “Bóng tối” thường tạo ra một ấn tượng kinh hoàng, lo sợ cho con người, nhưng Thạch Lam tìm thấy vẻ
đẹp bí ẩn, mê hoặc của nó: “Trời đã bắt đều đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng
qua gió mát Đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối” (Hai đứa trẻ) [44, tr 149] Dưới
cái nhìn của Pauxtốpxki, bóng tối trở nên thân quen như một người bạn Bóng tối trộn hòa
với mưa bụi, tạo ra một không gian êm dịu, những giọt âm thanh khẽ khàng, xôn xao (Bình
minh mưa) Bóng tối bao bọc và làm thăng hoa tình cảm thiêng liêng của con người (Suối cá hương) Nếu như Thạch Lam phát hiện ra cái đẹp ở những đối tượng mà khi nhắc đến họ,
người ta nghĩ ngay đến cái xấu, cái ác như Huệ và Liên (Tối ba mươi), bà cả (Đứa con), bà
1 Theo sách Văn học 11, tập 2, Sách chỉnh lí hợp nhất 2000, trang 198
Trang 17đầm (Bà đầm), thì trong con người đại diện cho quyền lực quân đội, Pauxtốpxki tìm thấy một tâm hồn nhạy cảm, khát khao tình yêu (Suối cá hương) Với Thạch Lam và Pauxtốpxki,
cái đẹp không chỉ toát ra ở những cô gái đôi mươi, trẻ trung, ngời ngời xuân sắc như Nga
(Dưới bóng hoàng lan), Hậu (Nắng trong vườn), Mai (Đêm sáng trăng), Đanhi (Lẵng quả
thông), Masa (Cây tường vi), Maria Tsernưi (Suối cá hương) mà ngay cả những phụ nữ đứng
tuổi, có vẻ ngoài thô kệch như mẹ Lê (Nhà mẹ Lê), Mađam Bôvê (Lời cầu nguyện của
Mađam Bôvê) cũng nổi bật với nét mặn mà, đằm thắm, đặc biệt là vẻ đẹp của lòng nhân hậu,
vị tha
Quả thật, trong bất cứ hoạt động nào con người cũng đều sáng tạo “theo quy luật của
cái đẹp”,1 nhưng không ở đâu quy luật ấy lại bộc lộ rõ nét, không ở đâu việc tìm tòi và phát hiện ra những nhân tố mới của cái đẹp lại chiếm một vị trí quan trọng đến như vậy trong nghề văn Những nhà văn tận tụy, tâm huyết với nghề sẽ biết cách chọn cho mình một đường hướng phù hợp, tránh sa vào lối mòn và tạo ra “những đứa con tinh thần” xơ cứng, yểu mệnh Và nghề văn sẽ dẫn dắt người nghệ sĩ đến với chân trời vô tận của cái đẹp nếu họ có năng lực nhìn cuộc sống bằng cặp mắt “xanh non”
1.2.3 Chắt chiu “bụi quý”, đúc “bông hồng vàng”
Sứ mệnh cao cả của nhà văn là nghệ thuật hóa cái đẹp mà mình đã khổ công chắt chiu, gom góp trong đời sống thường nhật, biến chúng thành những “bông hồng vàng” (theo cách
nói hình tượng của Pauxtốpxki) Một khi đã “tìm được hạt nhân tiêu biểu chứa đựng trong
từng điều vặt vãnh” [64, tr 19], nhà văn làm đầy vốn sống của mình bằng sự cần mẫn chắt
chiu từng mảy “bụi vàng” Với hoạt động sáng tạo nghệ thuật, chính họ đã làm cho cái đẹp
thăng hoa, bất tử Bởi “nghệ thuật không phải là nơi độc quyền sản xuất ra cái đẹp, nhưng
nó là hình thức chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao nhất, tập trung nhất, lãnh trách nhiệm nặng nề nhất trong việc thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của xã hội” [48, tr 155], nên vai trò, vị
trí và tư chất của người nghệ sĩ luôn được đưa lên hàng đầu
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều nêu cao vai trò của nhà văn trong hành trình chiếm
lĩnh và sáng tạo cái đẹp Dù Thạch Lam nêu ra trực tiếp: “Chúng ta không cần bắt chước ai
(mà công việc bắt chước không phải là công việc sáng tác) Chúng ta cứ việc diễn tả tâm hồn (An Nam) của chúng ta, những tư tưởng, những ý nghĩ mà chúng ta ấp ủ trong thâm tâm” [43, tr 318] hay Pauxtốpxki phát biểu gián tiếp bằng hình tượng: “Chúng ta, những
1 Chữ dùng của Mác, dẫn theo Lê Ngọc Trà [ 48, tr 155]
Trang 18nhà văn, chúng ta bòn đãi chúng (bụi vàng) trong hàng chục năm, hàng triệu những hạt cát
đó, lặng lẽ thu góp lại cho mình, biến chúng thành một hợp kim rồi từ hợp kim đó ta đánh
‘bông hồng vàng’ của ta, truyện, tiểu thuyết hay là thơ” [65, tr 20], thì sự sáng tạo của
người nghệ sĩ luôn được các ông đặt lên hàng đầu Điều đó có nghĩa là từ vô vàn hạt bụi vàng quý hiếm – nguồn chất liệu sống, cái “vốn” của nhà văn – sẽ có những “bông hồng vàng” được khai sinh bằng tài năng và cảm xúc của họ Mỗi nhà văn có những “bông hồng vàng” – tác phẩm – của riêng mình Chúng có số phận hoàn toàn khác nhau nhưng cái thành quả ấy một mặt chứng tỏ nhà văn đã chạm đến “đích” của hành trình nghệ thuật, mặt khác xác lập vị trí và sự đóng góp của họ đối với nền văn học nước nhà (và cả trên thế giới) Vì vậy, sự sáng tạo là điều kiện tiên quyết để nhà văn sản sinh ra cái đẹp trong nghệ thuật Ở bài
tiểu luận Niềm vui sáng tạo, Pauxtốpxki đã chia sẻ niềm hạnh phúc lớn lao của nhà văn khi dấn thân trên hành trình nghệ thuật: “Nhà văn đi rất sâu vào mỗi cuốn sách của mình, như
các nhà thám hiểm và chinh phục đi đến miền đất bao la của xứ sở xa lạ Nhà văn nhiều khi không biết cái gì đang đợi anh, dòng sông, cánh rừng, dãy núi nào anh sẽ ghi lại trên bản
đồ, những con người bất ngờ nào anh sẽ gặp, những sự kiện nào anh sẽ may mắn chứng kiến” [64, tr 54] Còn Thạch Lam chỉ rõ hậu quả của việc chạy theo lối mòn: “Những nhà văn nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra được những số phận mỏng manh Bởi họ chỉ nghe theo tiếng gọi của sự háo hức, lòng hám danh, sự chiều lòng công chúng” [43, tr 313]
Ngoài sự sáng tạo, bản lĩnh, cá tính là nhân tố không thể thiếu trong lao động nghệ
thuật của một nhà văn Đó là “cái can đảm mình dám là mình” như Thạch Lam chia sẻ [43,
tr 319] hay việc “thể hiện mình một cách đầy đủ nhất và rộng rãi nhất trong bất cứ tác
phẩm nào, dù chỉ ở một truyện ngắn nhỏ” [65, tr 45] mà Pauxtốpxki tâm đắc tỏ bày Nếu cá
tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng, giọng điệu riêng, thì đó là một sự tự sát trong văn học Bởi văn học làm giàu cho xã hội không phải ở số lượng của cải như sản xuất vật chất mà ở những giá trị về mặt tinh thần Nếu như chân lí mà khoa học mang lại chỉ mang tính khách quan, duy nhất thì chân lí của văn học còn xuyên thấm những sắc thái chủ quan Quan niệm trên của Thạch Lam và Pauxtốpxki có sự gặp gỡ với quan niệm L Tônxtôi
Đại văn hào Nga vĩ đại này từng cho rằng: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ
thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ Anh ta có gì khác với tất cả những người
mà tôi biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc cần phải nhìn cuộc sống chúng ta như thế nào” (dẫn theo Lê Ngọc Trà [48, tr 204])
Trang 19Bên cạnh đó, hai nhà văn còn cho rằng sự sáng tạo trong nghệ thuật luôn song hành với “tiếng gọi trái tim” Bởi chỉ có dấn bước trên hành trình sáng tạo, trái tim người nghệ sĩ mới đột khởi những tình cảm “phức tạp” trước những điều mới mẻ, kì lạ Thạch Lam thường lưu ý người cầm bút nên có thái độ quan tâm nhiều hơn đến những cảm giác và ý nghĩ của
mình Còn Pauxtốpxki lí giải cụ thể “niềm xúc động” của nhà văn: “Lo âu và mừng vui – hai
tình cảm mạnh mẽ nhất ấy đã đi theo nhà văn trên suốt chặng đường” [64, tr 54] Nhà văn
lo âu “liệu có tìm ra được những từ ngữ rõ ràng, đầy sức thuyết phục để kể lại tất cả những
gì đã nhìn thấy, đã suy nghĩ, kể lại tất cả cho người dân, mà với nhà văn, thì anh luôn cảm thấy nhân dân là bạn”, hay “cảm thấy niềm vui từ sự quan sát cuộc sống, từ những điều nghiền ngẫm, từ tâm trạng căng thẳng và lặng lẽ đặc biệt bên trong vẫn thường thấy trước khi cuốn sách ra đời” [64, tr 55]
Với tư chất nghệ sĩ sẵn có, Thạch Lam và Pauxtốpxki đã mang đến cho người đọc cái
đẹp của sự sáng tạo từ quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, nghiêm túc Với 32 năm
ngắn ngủi ở cõi đời, Thạch Lam đã khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong dòng chảy của văn xuôi hiện đại Việt Nam, còn Pauxtốpxki cũng xác lập tên tuổi trên văn đàn bên cạnh những trụ cột của dòng văn học Nga đương thời như M Gorki, A Tônxtôi, A Fađêep,
M Sôlôkhôp… Cuộc đời và hành trình nghệ thuật của hai nhà văn đã trở thành tấm gương của người nghệ sĩ chân chính
Cái đẹp của “sự thật và giản dị”, cái đẹp tiềm tàng khuất lấp, cái đẹp của sự sáng tạo
là những nét đặc sắc trong quan niệm nghệ nghệ thuật của Thạch Lam và Pauxtốpxki, hé lộ cái nhìn độc đáo, tiến bộ của họ về thế giới và con người
1.3 Thạch Lam – Pauxtốpxki: nhà văn của thể loại truyện ngắn
1.3.1 Sự gặp gỡ trong sở trường truyện ngắn
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều cầm bút ở nhiều thể loại: tiểu luận phê bình, chân dung văn học, bút kí, tiểu thuyết, truyện dài… nhưng có thể nói truyện ngắn mới là thể loại
“đo ni đóng giày” của hai nhà văn này, làm nên tên tuổi và thành công cho họ Ngày nay, nhắc đến Thạch Lam là người ta nghĩ ngay đến những truyện ngắn nhẹ nhàng mà ám ảnh,
chẳng hạn như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa… Một số
truyện ngắn của ông được xem là mẫu mực của thể loại này Tương tự, ở Nga, Pauxtốpxki được xưng tụng là bậc thầy về truyện ngắn, những đồng nghiệp đương thời và lớp nhà văn hậu thế luôn xem ông là tấm gương để học hỏi, noi theo Thế giới biết đến tên tuổi của
Trang 20Pauxtốpxki cũng do bởi những câu chuyện ngọt ngào của ông trong tập Bông hồng vàng,
Bình minh mưa, Truyện ngắn chọn lọc Pauxtốpxki
Để chuyển tải đến người đọc cái đẹp – những mảy bụi quý được chắt lọc từ những sự vật bình dị, nhỏ bé của đời thường hay của tâm hồn con người, Thạch Lam và Pauxtốpxki
đều tâm đắc với hình thức tự sự cỡ ngắn Gọn, cơ động, nhanh nhạy, cập nhật – những đặc
trưng và cũng là “lợi thế” của truyện ngắn – đã được hai nhà văn khai thác tối đa để khai sinh những đứa con tinh thần, cho chúng đạt đến tầm cao và chiều sâu ý tưởng mà vẫn sống động,
tự nhiên
Tìm tòi một đường hướng sáng tạo phù hợp với “điệu tâm hồn mình”, cả Thạch Lam
và Pauxtốpxki đều lấy thế giới tâm trạng của con người làm hướng khai thác chủ đạo,
quan tâm tới những cảm xúc đột biến, tức thì, thoáng qua, cỏn con Truyện ngắn Thạch
Lam, Pauxtốpxki được khơi nguồn từ dòng chảy của văn xuôi trữ tình, xác lập một diện mạo
độc đáo: truyện ngắn trữ tình phi cốt truyện
“Trữ tình” là một trong dãy khái niệm về “loại” trong văn học, gồm trữ tình, tự sự, kịch Đây là quan niệm của Châu Âu, nguồn gốc từ Aristote, du nhập vào phương Đông (Đông Á) và vào Việt Nam thời hiện đại, ngày nay trở thành “chuẩn” của lí thuyết văn học thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng Nhắc đến thuật ngữ này, người ta thường nghĩ ngay
đến một thể loại của “loại trữ tình” là thơ Truyện ngắn trữ tình là thuật ngữ chỉ một thể loại
của “loại tự sự” (văn xuôi) có sự kết hợp hài hòa giữa tố chất “tự sự” và “trữ tình” Theo M.Khrapchencô, dấu ấn chủ quan và chất trữ tình đậm đặc là hai đặc điểm nổi bật của truyện ngắn trữ tình G.N.Pospelov chỉ ra bản chất của văn xuôi trữ tình (cũng là của truyện ngắn
trữ tình) là “tự sự một cách trữ tình” [69, tr 100] Hoàng Ngọc Hiến cho rằng một trong
những đặc điểm quan trọng của truyện ngắn hiện đại là “gần với thơ” [30, tr 113] Phan
Quốc Lữ khẳng định sự ảnh hưởng của thơ với văn xuôi: “Tiến trình văn học hiện đại đã ghi
nhận sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ ca và phá phách lãnh địa độc quyền của thơ ca Nhưng sự thâm nhập theo chiều ngược lại – tức là sự trộn hòa trở lại của thơ vào văn xuôi cũng không phải là hiếm và điều này được xem như là một dấu hiệu biến đổi tất yếu của truyện ngắn hiện đại” [46, tr 51]
Mặt khác, tính chất “phi cốt truyện” ở truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki quy định
sự thưa thoáng, gọn nhẹ, ít sự kiện của câu chuyện Mỗi truyện là một tâm tình, gây ấn tượng mạnh bởi phong vị trữ tình và chất thơ bàng bạc, man mác tỏa ra từ những trang văn
Trang 21Khám phá truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki, người đọc như bước vào địa hạt của chất thực và chất thơ, giữa tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Việc phân định rạch ròi đường biên của các trào lưu, phương pháp, thể loại là không đơn giản bởi chúng có sự trộn lẫn, chuyển hóa và xuyên thấm vào nhau
1.3.2 Khái quát về truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki
1.3.2.1 Về chất thực
Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn Thạch Lam – Pauxtốpxki tuy chưa phải là bức tranh toàn cảnh nhưng đó là những mảnh ghép của cuộc đời thực và chúng đủ sức tái tạo hình ảnh một xã hội khá đầy đủ
Chất thực trong truyện ngắn Thạch Lam bắt nguồn từ cuộc sống khổ cực của bao cảnh đời, bao số phận trong cái “ao đời” phẳng lặng, mòn mỏi, đơn điệu Thạch Lam thường đặt các nhân vật trong không gian hiu hắt và ngập đầy bóng tối để cuộc sống tù túng, tẻ nhạt và tình cảnh bế tắc, cùng quẫn của họ đồng hiện Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi con người một duyên phận, nhưng mẫu số chung của cuộc đời họ là sự đói nghèo, bất hạnh Mẹ
con bác Lê (Nhà mẹ Lê) phải đối diện với cảnh đói rét và chạy ăn hàng ngày như đó là một phần định sẵn của cuộc đời họ Mai, Sinh (Đói) vì cái đói hành hạ mà phải hành động theo
bản năng để rồi phải “hy sinh” cả nhân phẩm như một nỗi cùng đường tuyệt vọng Bác Dư
phu xe và cái gia đình khốn khổ của mình sống trong “một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè,
xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà” (Một cơn giận) [44, tr 32] Vì vợ đau, con ốm, bác phải chạy một cuốc xe lậu và bị bắt, bị hành hạ,
thật là thân phận con ong cái kiến
Không chỉ cái đói nghèo, thiếu thốn mà chính cái chất tù đọng, mỏi mòn trong cuộc đời của những dân nghèo thành thị hay dân quê tỉnh lẻ này đã làm nên “hạt nhân” của chất thực Trong cái kiếp sống nhỏ nhoi giữa dòng đời xám nhờ, nhạt nhẽo, các nhân vật là nạn nhân của thất nghiệp, của túng nghèo và hàng trăm thứ tai họa bỗng nhiên ập đến Họ sống lay lắt trong cái vòng đời luẩn quẩn, kéo lê từ ngày này sang tháng nọ cho hết kiếp người Điều đó
còn nặng nề và cay cực hơn cả cái đói dày vò Cuộc đời Tâm (Cô hàng xén) gắn liền với
chiếc đòn gánh trên vai – gánh hàng xén và cũng là gánh nặng cơm áo gia đình Từ khi là thiếu nữ cho đến lúc trở thành thiếu phụ, gánh hàng ấy vẫn đeo đẳng lấy Tâm và dường như
theo thời gian, nó càng oằn nặng trên vai nàng Cuộc đời của những cô gái như Dung (Hai
lần chết), Liên (Một đời người) lại là những bức tranh sẫm màu hơn bởi họ không chỉ chịu
Trang 22cảnh khổ về thân xác mà còn phải chịu sự đọa đày về tinh thần ở nhà chồng Trong Hai đứa
trẻ, những mảnh đời lầm lụi như mẹ con chị Tý, chị em Liên, An, bác Siêu bán phở, bà cụ
Thi nghiện rượu hơi điên, gia đình bác xẩm… như ngọn đèn con trước cái tối tăm, mênh mông của đất trời Đọc truyện ngắn Thạch Lam, người ta không khỏi rùng mình, ám ảnh trước cái đói nghèo và thực trạng trì trệ, tối tăm của xã hội Việt Nam thời bấy giờ
Cũng như Thạch Lam, Pauxtốpxki không né tránh thực tại mờ xám, đói nghèo của bao
cảnh đời trong xã hội Sự tàn tạ, túng thiếu của ông lão (Ông lão trong quán điểm tâm ngoài
ga); cảnh sống và chết trong đơn chiếc, tủi buồn của bà cụ Katêrina (Bức điện); cuộc đời cô
đơn, thiếu thốn, u buồn của Alan – một văn sĩ có tài (Bình nguyên tuyết phủ)… đã đi vào
trang văn của Pauxtốpxki thật chân thực, cảm động.(Trong văn học Xô Viết thời bấy giờ ít ai đưa ra bức tranh hiện thực này) Thế nhưng, về nỗi khổ, niềm đau và sự bất hạnh của phận người, Pauxtốpxki chỉ đề cập thưa thoáng, mờ nhạt trong một vài tác phẩm chứ không dành nhiều bút lực như Thạch Lam Có thể nói gương mặt chiến tranh là một hiện thực rộng lớn,
bao trùm lên không khí thời đại trong những truyện ngắn của Pauxtốpxki Ở Trái tim nhút
nhát, chiến tranh hiện ra với những mảng màu đậm đặc khói súng Chiến tranh mở đầu với
việc ngụy trang: “lấy bùn nâu màu đất chung quanh nhà để quét lên tường” [65, tr 266]; tiếp diễn trong tâm trạng hoang mang, lo sợ của người dân: “lạnh toát người khi nhìn thấy
những con chim sắt khổng lồ gầm thét, lượn đi lượn lại trên thành phố và ở dưới chân chúng, trên mặt đất bùng lên những cột lửa vàng” [65, tr 268] Bức tranh chiến sự có đầy đủ
cái ác liệt trong một trận đối đầu đầy căng thẳng giữa những chiếc phi cơ Xô Viết và trọng
pháo của quân Đức: “Đất rung chuyển theo mỗi tiếng nổ Ngói rơi lả tả Bụi bốc lên thành
những đám mây lớn bên trên thành phố Súng cao xạ gầm thét hết giọng Những cành da hợp gẫy văng vào tường Bọn lính mặc áo choàng xám xịt và chạy đi chạy lại, những mảnh bom
rú rít, những ngọn lửa của trận bom nhấp nhoáng liên hồi trong những đám mây đen Còn ở ngoài cảng, lửa đã cháy phần phật trong những kho hàng, làm bung những tấm mái kẽm”
[65, tr 267] Chiến tranh bộc lộ tính hai mặt, có sự mất mát, hy sinh: “một thiếu phụ còn trẻ
và ông lão chủ hiệu thuốc đang ốm bị chết bom” [65, tr 268], anh phi công dũng cảm Ivan
Gêraximốp bị bắt và xử tử; có chiến công vang dội “Trọng pháo của Đức bị đánh tan tác,
đất cát phủ đầy Ngôi nhà cổ có những cửa cuốn tò vò ngoài phố chính, nơi Bộ chỉ huy Đức đóng, cháy rừng rực Ngoài bến, chiếc tàu vận tải Rumani xanh lốm đốm như một con ếch, bốc khói, chìm dần Xác lính Đức ngổn ngang khắp phố” [65, tr 268] Bóng dáng chiến
tranh còn hiện ra ở các chi tiết rải rác trong phần lớn truyện ngắn của Pauxtốpxki: cuộc sống
Trang 23tản cư của mẹ con ca sĩ Tachianna, công việc biểu diễn trong “các trạm quân y lưu động” của cô, bức thư anh lính thủy Nicôlai Pôtapôp gửi cho người cha kính yêu (Tuyết); một chuyến đi trên chiếc xe tải quân sự đầy bất trắc vì máy bay địch xả liên thanh, “đạn cày lên
từng cột bụi” (Trên thùng xe tải); anh thiếu tá Kuzmin chuyển giùm người bạn nằm cùng
quân y viện một bức thư cho người vợ anh ta nhân chuyến nghỉ phép (Bình minh mưa); anh
sĩ quan “bị thương vào đầu” được gửi đến một nhà nghỉ để hồi sức sau vết thương nặng nề (Cầu vồng trắng); chú bé bỏ bức thư vào chai để gửi cho người cha ngoài mặt trận (Chú bé
chăn bò)… Hiện thực chiến tranh hiện lên qua trang viết của Pauxtốpxki mang màu sắc bi
tráng, trong đó chất “tráng” bao giờ cũng lấn lướt, nổi bật hơn “bi”
Dù luôn nỗ lực chắt lọc lấy phần thi vị trong cuộc sống nghèo nàn, tối tăm nhưng ngòi bút Thạch Lam, Pauxtốpxki không vì thế mà lãng quên những vấn đề có phần bi thảm, dữ dội của hiện thực Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều sống ở thời đại đất nước trải qua nhiều biến cố lịch sử, bao cuộc “chuyển dạ” đớn đau Hiện thực phản ánh của hai nhà văn khác nhau vì họ có xu hướng phản ánh chính cái đời sống xã hội đã và đang diễn ra xung quanh mình Xã hội Việt Nam thời kì này đã bị Pháp “bình định”, mối xung đột giữa nông dân và thực dân nằm ở bề sâu chứ không nổi lên ở bề mặt như giai đoạn trước đó Bóng dáng thực dân không hiện lên trực diện trong trang viết của Thạch Lam Dưới sự khai thác bóc lột của Pháp, xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc, cuộc sống người dân rơi vào thảm họa đói nghèo, nhất là ở làng quê, tỉnh lẻ Thực tại ấy đã phả vào truyện ngắn Thạch Lam tính chất
“âm âm, u u” của những số phận, kiếp người Còn hiện thực mà Pauxtốpxki đắm mình trong
đó là những sự kiện long trời lở đất: chiến tranh thế giới, cách mạng, nội chiến, chiến tranh
vệ quốc Đề tài chiến tranh trở thành đề tài quán xuyến toàn bộ văn học Xô Viết thời bấy giờ
Do vậy, những trang viết của ông, dù ít dù nhiều, không thể thiếu mùi “khói súng”
Tuy nhiên, Thạch Lam và Pauxtốpxki đều không chiếm lĩnh và đồng hóa hiện thực với cái nhìn nghiêm nhặt, tỉnh táo như các cây bút của chủ nghĩa hiện thực cùng thời Viết về chiến tranh, Sôlôkhốp đã đào sâu tận cùng nỗi đau, sự mất mát của những con người chịu
nạn Chất thực trong truyện ngắn Số phận con người của ông thật đậm đặc, xù xì với bi kịch
của người lính Anđrây Xôcôlốp và cậu bé Vanhia Chiến tranh đã cướp đi của họ mái ấm gia đình và tất cả những người thân, để lại cho họ sự cô đơn, trơ trọi với khoảng trống hun hút trong tâm hồn Còn chất thực trong truyện ngắn của Pauxtốpxki đã được giảm bớt chất “thô mộc” của nó Cùng viết về cuộc sống bế tắc của người dân nghèo trong xã hội thực dân bán phong kiến, nếu Thạch Lam có phần “nâng đỡ” các nhân vật về đạo đức, phẩm chất thì Nam
Trang 24Cao lạnh lùng phanh phui, mổ xẻ tính cách lưu manh hóa ở họ Nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của ông là một điển hình cho lớp người nông dân bị dồn đến bước đường cùng, bị biến dạng về nhân hình (quỷ dữ), méo mó về nhân tính (lưu manh), rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người và phải tìm đến cái chết như một hướng giải thoát duy nhất Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều lấy cuộc đời thường nhật làm điểm xuất phát để vươn tỏa đến những ước mơ, khát vọng tươi sáng, điểm tô thêm cho những tin yêu, mong
mỏi ở lòng tốt, điều thiện của con người Đó là cái nhìn hiện thực theo phương thức nội
cảm hóa Tố chất hiện thực trong truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki có màu sắc riêng bởi
nó được khúc xạ qua tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của tác giả với cái nhìn thương yêu, trìu mến Tuy chiều rộng của hiện thực có phần co lại nhưng chiều sâu và sức gợi của nó thì thăm thẳm khôn cùng
1.3.2.2 Về chất thơ
Với cái nhìn chuyên chú phát hiện cái đẹp, vẻ nên thơ giữa bộn bề cuộc sống, cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều tạo nên những áng văn xuôi mượt mà, truyền cảm Không thiếu chất thực để neo giữ câu chuyện ở cõi đời, tránh sa vào “ánh trăng lừa dối” nhưng có thể nói, mức độ, liều lượng dồi dào của chất thơ mới là phần nổi trội trong truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki, hình thành nên một phương thức chiếm lĩnh cuộc sống độc đáo
Chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki, trước hết được chắt lọc từ cuộc đời thường nhật Dường như cả hai nhà văn đã gạn lọc đi nhiều “lớp váng” vẩn đục của cuộc sống hàng ngày và phủ lên bao thứ vụn vặt, bình thường một chất thơ bàng bạc, một cảm xúc trữ tình dồi dào, khiến nó có sức lay động mạnh mẽ, sâu xa Điều này thì Thạch Lam và Pauxtốpxki giống cách nhìn của Mácxim Gorki
Dưới ngòi bút của Thạch Lam, cuộc sống hiu hắt, quẩn quanh vẫn toát lên vẻ lãng mạn, thi vị từ những cảnh đời lam lũ, nhỏ nhoi Đó là niềm hạnh phúc nguyên sơ được cất
lên từ những căn lều lụp xụp của một phố chợ tồi tàn.“Những ngày nắng ấm quanh năm”,
“những buổi chiều mùa hạ”, “những đêm sáng trăng” là thời khắc nhàn hạ, vui vẻ:“Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông đẹp và lấp lánh sáng Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng lẫn mùi rác bẩn và mùi cát Mọi người họp nhau nói chuyện, trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ Hình như quên cái khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài của người lớn xen lẫn tiếng khúc khích của các
cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối”[44 tr 16] (Nhà mẹ Lê) Đó còn là một thiên
Trang 25đường giữa cõi nhân gian xô bồ – ngôi nhà tuổi thơ thân quen với con đường gạch Bát Tràng rêu phủ, bể nước giếng ngọt lành, giàn thiên lí tỏa bóng mát, hương thơm hoàng lan quyến
rũ… và nhất là người bà hiền từ và cô bạn gái xinh đẹp luôn chờ đợi, thương yêu (Dưới bóng
hoàng lan) Ở các truyện ngắn như Hai lần chết, Một đời người, Người bạn cũ, Người lính cũ… Thạch Lam đã đánh thức ở người đọc nỗi niềm xao xác, da diết trước những số phận
mờ xám, tối mịt như bóng đêm
Cùng lối khám phá đầy rung cảm, xôn xao trước thực tại, Pauxtốpxki đã tìm thấy chất thơ từ những cuộc gặp gỡ vô tình mà như định mệnh giữa cõi đời Mặc dù họ gặp nhau rồi chia xa mãi mãi hay hứa hẹn cuộc hội ngộ đầy hạnh phúc về sau, thì cuộc đời của mỗi người
dường như đẹp hơn, có ý nghĩa hơn từ lần gặp ấy Cuộc hội ngộ trong Bình minh mưa, Tuyết,
Gió biển, Chú bé chăn bò, Suối cá hương tựa như luồng gió lạ, làm dịu đi cái ác liệt, căng
thẳng của chiến tranh, thổi vào tâm hồn con người niềm tin yêu mãnh liệt vào ngày mai Chiến tranh dữ dội, mất mát là thế, nhưng Pauxtốpxki đã khéo léo khơi cái phần thi vị, nồng
ấm bị nhòe lẫn, khuất lấp trong đó, mang đến chất “tráng” cho những trang văn
Một trong những ưu thế nổi trội, làm nên thế mạnh của ngòi bút Thạch Lam, Pauxtốpxki chính là việc khám phá chất thơ của tâm hồn con người với tất cả chiều sâu, sự tinh tế, vẻ phong phú vô tận của nó Trước hết, đó là thái độ, cách nhìn đời đầy trân trọng, nâng niu, soi chiếu tâm hồn giàu cảm xúc, nhân hậu của nhà văn Các ông như trải lòng mình lên những trang văn, những gì viết ra đều thấm đượm cái nhìn, nếp nghĩ và không ít máu thịt của nhà văn trong đó Ngoài ra, chất thơ còn được lắng lọc qua tâm hồn của nhân vật Thạch
Lam bước vào tâm hồn trẻ thơ để khám phá lòng tốt thuần khiết, vô tư (Gió lạnh đầu mùa); nỗi buồn thơ ngây (Hai đứa trẻ) Ông phát hiện những rung động khẽ khàng, tế vi trong tâm hồn người con gái đang yêu (Bắt đầu, Tình xưa, Nắng trong vườn), hay vẻ đẹp ngời sáng của đức hi sinh, lòng nhân hậu, vị tha của người phụ nữ Việt Nam (Nhà mẹ Lê, Hai lần chết, Một
đời người)…
Vẻ đẹp của lòng nhân ái là ngọn nguồn trong lành làm tuôn chảy chất thơ ngọt ngào,
tươi mát cho những trang viết của Pauxtốpxki Qua những truyện ngắn như Lẵng quả thông,
Âm nhạc Vécđi, Bông hồng vàng, Người đầu bếp già, Chiếc nhẫn bằng thép… người đọc bắt
gặp vẻ đẹp của lòng tốt vô biên; nét trong trẻo của tâm hồn trẻ thơ hay xúc cảm mãnh liệt, dạt dào của con người trước âm nhạc
Mặt khác, thiên nhiên với gương mặt muôn màu muôn vẻ cũng là những nguồn thơ phong phú, tạo cảm hứng cho Thạch Lam và Pauxtốpxki trong phần lớn truyện ngắn của các
Trang 26ông Thiên nhiên trong truyện của Thạch Lam là những bức tranh có hồn về cảnh sắc bình dị
của làng quê Việt Nam Cảnh chiều tà ở một phố huyện nghèo gợi nhiều thi hứng, nhạc cảm
cho tâm trạng: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang ra
để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời” (Hai đứa trẻ) [44, tr
149] Đêm sáng trăng đẹp, yên ả, sắc sảo từng đường nét, chẳng khác gì một bức danh họa chốn đồng nội: “Ngày chưa tắt hẳn, mặt trăng đã lên rồi Mặt trăng tròn, to và đỏ từ từ lên ở
chân trời, sau rặng tre đen của làng xa Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần, rồi đứt hẳn Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng dâng hương thơm ngát Sau tiếng chuông của ngôi chùa độ một giờ, thì thật là trăng sáng hẳn: trời bấy giờ trong thăm thẳm và cao; mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc, du như sáo diều; ánh trăng trong chảy khắp cả trên ngành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường trắng xóa”
[44, tr 196] Cánh đồng quê, con đường làng mấp mô, mùi của cỏ, ao, bèo, rơm rạ, đất ẩm…, tất cả quyện hòa vào nhau, khơi gợi cảm giác bình yên, ấm áp, thoảng chút hiu hắt, man mác buồn nhưng rất nên thơ
Nếu như hình ảnh, màu sắc, hương vị của làng quê Việt Nam đem lại cho văn Thạch
Lam vẻ thi vị, quyến rũ thì những tỉnh lị xa xôi hay các miền thảo mộc của Nga đã làm nên
khí sắc mượt mà cho trang viết của Pauxtốpxki Đó là cảnh “khi đông về và tuyết rơi phủ đầy […] sông mãi chưa đóng băng, mặt nước màu xanh lá cây bốc khói” (Tuyết) [65, tr 275];
“Trời mưa phùn […] tiếng mưa rơi tí tách trong những bụi cây, mùi thìa là, mùi hàng rào ướt và hơi ẩm của sông bốc lên” (Bình minh mưa) [65, tr 308] Theo mỗi bước chân, cảnh
hiện ra “thêm vẻ bí ẩn và nên thơ”: “Lúc thì có những cánh rừng nhỏ toàn liễu hoàn diệp
làm thành một bức ường màu xám trên bờ sông dựng đứng và những dây hốt bố vàng treo lơ lửng trên từng khóm liễu những chiếc chiếu gai mới Lúc thì một cây liễu thủng lỗ chỗ nằm vắt ngang sông như một cái cầu, và bên cầu, những con cá tung mình lên trên mặt nước Lúc thì dòng sông oai vệ uốn khúc đi vào những cánh rừng vàng óng và xanh biếc mùa thu” (Chú
bé chăn bò) [65, tr 295] Ngắm bức tranh bình minh ở vùng thảo nguyên, người thưởng thức
như đi lạc vào xứ sở thần tiên, tâm hồn trở nên tươi mát, thanh thản lạ thường: “Trời nổi gió
Màn sương mù lay động và gió cuốn trôi đi từng mảng trên mặt sông Những bờ bụi hiện ra, ướt đẫm sương đêm và ở giữa nhô lên một túp lều mái lợp bằng những cành liễu kết lại với nhau Bên vạnh là một đống lửa bập bùng […] Ngay lúc đó mặt trời đã nhô lên khỏi đám sương mù Cỏ mọc xung quanh xanh thẫm như mặt nước lặng lờ và sâu thẳm Giá lạnh buổi
Trang 27đêm toát ra từ đám cỏ” (Cây tường vi) [65, tr 253] Không chỉ ghi lại dáng vẻ, hương sắc
của thiên nhiên mà Pauxtốpxki còn gợi ra cái thần thái riêng của chúng
Chính cái khí sắc lãng mạn kết hợp với bút pháp trữ tình đã tạo nên chất thơ mượt
mà cho từng truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki Đây cũng là điểm “giao thoa” giữa hai nhà văn với các cây bút xuôi tự sự của văn học Nga và Việt Nam như Tuôcghênhep, Sêkhôp, Bunhin, Prisvin, Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Tuân…
Không hẹn mà gặp, cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều lựa chọn thể loại truyện ngắn trữ tình để dệt nên những trang đời từ nguồn chất liệu dung dị, nhỏ bé, bình thường của cuộc sống hàng ngày Cả hai nhà văn đều bước lên văn đàn dân tộc khi khuynh hướng văn học hiện thực và lãng mạn đã đạt được những thành tựu đáng kể Việc xác lập cho mình một
“chỗ đứng” đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi, dấn bước Nét đặc sắc ở truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki là tính chất “trữ tình”, “phi cốt truyện”, biểu lộ không phải ở chất thực hay chất
thơ mà là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhụy giữa chúng
Sự dung nạp chất thơ vào văn xuôi, sự hòa quyện, thẩm thấu lẫn nhau giữa tố chất
“hiện thực” và “trữ tình” đã mang lại cho truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki vẻ mềm mại, tinh tế, có khả năng biểu hiện những rung cảm tinh tế, khẽ khàng của tâm hồn con người Bởi vì chất thực khi đi vào văn xuôi thường giảm đi cái xô bồ, xù xì của “chất liệu đời sống” Ngược lại, chất thơ dựa trên nền tảng vững chãi của chất thực thường có sức ngân vang, lan tỏa khôn cùng nhưng vẫn bám rễ vào cuộc sống thực tại
Việc gặp gỡ về hình thức thể loại giữa Thạch Lam – Pauxtốpxki, rõ ràng chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi quan niệm nghệ thuật của hai nhà văn Mặt khác, đó còn là sự gặp gỡ của
“tạng riêng” người nghệ sĩ Rõ ràng, cách cảm, nếp nghĩ, giọng điệu thiên bẩm … của tác giả
có sự tham gia rất quan trọng của cá tính sáng tạo Chúng tôi hiểu tạng riêng của chủ thể sáng tạo ở đây tuy có một quan hệ nhất định với con người tác giả ngoài đời (theo phương diện tiểu sử) nhưng không hoàn toàn trùng khít Đó là bản sắc tinh thần bên trong của tác giả – những dấu ấn riêng được hiện diện và khắc ghi ở văn bản Do vậy “tạng riêng” của Thạch Lam, Pauxtốpxki là yếu tố góp phần định dạng phong cách nghệ thuật của hai nhà văn này
Tóm lại, Thạch Lam và Pauxtốpxki là hai nhà văn có những gặp gỡ tình cờ về cuộc đời, về phương diện con người tiểu sử cũng như con người tác giả trong văn học Từ sự tương đồng về quan niệm nghệ thuật, họ còn “gặp nhau” ở việc lựa chọn loại truyện ngắn trữ tình phi cốt truyện trong sáng tạo nghệ thuật Những nét đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật
Trang 28của hai nhà văn sẽ chi phối sâu sắc và có hiệu lực đến cách lựa chọn nội dung và nghệ thuật
tự sự của họ mà chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét ở các chương tiếp theo của luận văn
Trang 29đồng tình với quan điểm cho rằng nội dung tự sự phải là “những nội dung đã thực sự trở
thành cảm hứng nghệ thuật và chịu sự chi phối của đặc trưng thể loại” [93, tr 49]
Trong hầu hết truyện ngắn của mình, Thạch Lam và Pauxtốpxki thường kể với người đọc những câu chuyện về các cảnh đời, số phận trong xã hội, những buồn vui thế sự mà bề mặt chúng dường như vặt vãnh, cỏn con nhưng ẩn sâu trong đó là vẻ đẹp của cuộc sống và con người Hai nhà văn đều không cốt tả chân các biến cố, sự kiện mà chỉ cốt diễn tả cho chân xác tâm trạng, tình cảm con người Nhiều khi đó chỉ là những cảm xúc bất chợt, thoáng qua nhưng nếu tập hợp lại, chúng trở thành chiếc kính vạn hoa của tâm hồn
2.1 Cảm xúc mới mẻ, bất chợt…
2.1.1 …Trong tình yêu lứa đôi
Tình yêu lứa đôi là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cũng là một cánh cửa hé mở thế giới tâm hồn con người Viết về tình yêu, Thạch Lam và Pauxtốpxki không “gia công”, sắp đặt mà để cho nhân vật lắng nghe và cảm nhận những biến thái, rung động tế vi diễn ra trong hồn mình
Khác với các các nhà “tiểu thuyết luân lí” hay “tiểu thuyết sầu thảm” đương thời, Thạch Lam không mượn tình yêu phát ngôn cho tư tưởng hay phủ lên chúng màu sắc lâm li Tình yêu trong truyện ngắn của ông mang màu sắc tươi tắn, lãng mạn và dù kết thúc không trọn vẹn, nó vẫn rất đẹp và đầy dư âm dư vị Tình yêu, trước hết là những cảm giác chân
thực, sống động mà nhân vật “nghe thấy”, “cảm thấy”: cảm giác “dịu ngọt chăng tơ” (Dưới
bóng hoàng lan) hay “tâm hồn say sưa như nhấp rượu” (Cô hàng xén) của tình yêu mới
chớm; “một cảm giác êm dịu tràn lấn vào người” và “tim đập mạnh” khi bồi hồi thương nhớ người yêu (Bắt đầu); lòng “chán nản”, “khó thở”, “đau đớn nghẹn ngào” lúc tình yêu
Trang 30đứng bên bờ vực tan vỡ (Trong bóng tối buổi chiều)… Bước vào thế giới của tình yêu, nhân
vật phơi trải tâm hồn với đầy đủ các cung bậc của cảm xúc Có cảm xúc hồn nhiên thơ trẻ
của một cậu bé với một người đẹp lớn tuổi hơn: “Khi Thúy để tay lên vai tôi, tôi cảm thấy
rung động cả người Tôi cảm thấy tôi bắt đầu yêu nàng” [44, tr 192] (Bên kia sông) (Chúng
tôi nhấn mạnh) Chẳng hạn, trong Tình xưa, tâm hồn Bình đã có một quá trình tiếp diễn
“phiền phức” (từ dùng của Thạch Lam), từ một khởi đầu êm đềm:“Đôi mắt nàng nhìn tôi,
tôi bỗng rung động cả người; đôi mắt nàng phản chiếu một tình yêu mãnh liệt và tha thiết quá Tôi hiểu ngay rằng nàng yêu tôi Tự nhiên, một sự cảm động tràn lấn vào người.[…]
Tôi còn trẻ và tình yêu của một cô gái khiến tôi tự đắc” [44, tr 232]; đến lúc sóng gió: “tôi thấy lòng nao nao vừa bực vừa buồn như thấy một sự gì êm đẹp đang mất đi mà không còn can đảm giữ lại được nữa”, “thấy lòng dửng dưng” [44, tr 237]; và một kết thúc buồn trong
xa cách: “một sự bâng khuâng nhẹ nhàng dìu tâm hồn người đến những tình cảm man mác,
tôi bỗng thấy cả người xúc động vì nhận ra trong bọn người lác đác ở bến một cái xe đỗ vội,
và trên xe bước xuống một người con gái ngơ ngác nhìn về phía tôi” [44, tr 239] Trong tình
yêu, cảm xúc mới mẻ, bất chợt thường đi cùng trạng thái tâm lí khác lạ, kì quặc, tưởng chừng
vô lí nhưng lại rất phù hợp với quy luật riêng của nó – quy luật dành cho những người lần
đầu bước vào thế giới của ái tình Chàng trai và cô gái (Cô áo lụa hồng) cùng “bịa” ra cái tên
(Tân và Lan) và mối quan hệ quen biết để “tiếp cận” nhau, rồi họ cùng vui vẻ tha thứ cho
nhau vì những cái cớ dễ thương đó Lan (Tình xưa) vốn là một cô gái hiền lành, nhu mì, ít nói mà nay “tính nết nàng hình như đổi hẳn, hay bây giờ nàng mới biểu lộ hết cái tính nết
thực của nàng ra Nàng không còn là cô gái lặng lẽ và kín đáo như trước kia nữa Lan nói năng luôn miệng và tiếng cười của nàng vang lên trong nhà, mắt nàng sáng lên, và hơi một chút việc cũng làm cho nàng vui sướng [44, tr 233] Còn Hậu (Nắng trong vườn) cũng trở
thành một con người mới: “Hậu thành điềm đạm băn khoăn hơn trước, với những lúc bồng
bột, những lúc tin yêu, càng ngày càng trở nên kì dị” [44, tr 113] Nếu như ngày trước cụ
Nguyễn Du – bậc thầy miêu tả tâm lý con người – đã để cho Thúy Kiều “Xăm xăm băng lối
vườn khuya một mình” đến nơi hẹn hò với Kim Trọng thì các nhân vật của Thạch Lam, các
cô gái vốn là “gái quê” như Mai (Đêm sáng trăng), Lan (Tình xưa), Loan (Bắt đầu), Hậu (Nắng trong vườn) cũng bạo dạn, mạnh mẽ hành động theo tiếng gọi của trái tim
Tình yêu còn có một sức hút ma mị không cưỡng nổi Chuyện của Thân và Tiến trong
Tiếng sáo là một trường hợp điển hình Mặc dù biết Tiến là một gã đàn ông vũ phu, “tính rất cộc, hàng xóm ai cũng chê anh chàng lười và bất hiếu”, lại nổi tiếng là “con người lừa lọc,
Trang 31tệ bạc” mà Thân, “cô thiếu nữ xinh đẹp, người rất có duyên và biết chữ nghĩa” lại mê mẩn
tiếng sáo tài hoa của Tiến và bỏ nhà đi theo cậu ta Dường như Thạch Lam đã gửi gắm vào câu chuyện trên một thông điệp thú vị: Tình yêu chân thực vốn không có “bài học” Những người đi sau cứ phải dẫm lên bước chân của người đi trước, dẫu đó là bi kịch, thì mới chắt chiu, gom góp được cho mình chút buồn vui cùng vài ba sự nhận biết về lẽ đời từ những trải nghiệm thiết thực của bản thân
Phần lớn các câu chuyện tình trong truyện ngắn Thạch Lam được xây dựng theo môtíp: chàng là học sinh, sinh viên hoặc công chức từ chốn thị thành về thăm quê, hoặc trọ học; nàng là cô bạn thủa thiếu thời hoặc con gái gia chủ; họ gặp nhau, nảy sinh tình yêu
nhưng rồi phải xa cách nhau vì nhiều nguyên do Có nguyên do khách quan (Đêm sáng
trăng) Nhưng phần lớn là nguyên nhân chủ quan, do người trong cuộc cảm thấy sự cách biệt
về mặt tâm hồn, nếp sống (Tình xưa, Nắng trong vườn, Trở về) Chàng trai chia tay với cô
gái cũng là chia tay với chính mình, với những tình cảm hồn nhiên thơ trẻ Cùng với sự ra đi
để tiếp nhận cái mới mẻ, để nhận biết cuộc sống toàn diện hơn, họ không còn cách nào khác
là giã từ dĩ vãng và những xúc cảm bồng bột vừa trải qua Ở đây, dấu ấn của buổi giao thời
đã thấp thoáng qua mỗi câu chuyện, bởi con người được đặt giữa điểm giao tranh văn hóa, nếp sống cũ – mới, việc lựa chọn một hướng đi phù hợp là không dễ dàng, có khi phải kèm theo cả sự đánh đổi
Với cảm quan của một bậc thầy tâm lý, Thạch Lam đã thấu hiểu và miêu tả chân thực tâm trạng, cảm xúc của những đôi lứa đang yêu
Trong các truyện ngắn của Pauxtốpxk, “tình yêu giống như gió thoảng” [65, tr 287] –
những cơn gió mát lành thổi vào hồn người, chữa lành những vết nứt đau, làm tươi lại con tim cằn héo, đem lại chút ấm êm cho những chiếc đời vắng lạnh… Để rồi, cõi “kì bí, huyền diệu” của tâm hồn lại đột khởi những cảm xúc mới mẻ, trong trẻo từ sự rung động của con
tim Cuộc đời của Nikôlai – Tachiana (Tuyết), Onga – Kuzmin (Bình minh mưa), vị thống chế quân đội Napôlêông – Maria Tsernưi (Suối cá hương), Pêtrốp – Êlêna Pêtrốpna (Cầu
vồng trắng), anh lính thủy – người thiếu phụ (Gió biển) đã được sưởi ấm bởi những cơn gió
kì diệu ấy Trong truyện Tuyết, Tachiana tình cờ biết được nỗi khát khao về hạnh phúc bình
dị của Nikôlai qua nội dung bức thư anh gửi cho người cha Chính sự đồng cảm sâu sắc với người con trai chưa một lần gặp mặt đã khiến nàng nỗ lực làm tất cả đúng như ước nguyện
của anh Khi Nikôlai trở về thăm nhà, anh “không sao xua đuổi được cái cảm giác kì lạ là
mình đang ở trong một giấc mộng nhẹ nhàng nhưng vững chắc” [65, tr 277] Bất chợt ở anh
Trang 32một sợi dây cảm xúc nối liền giữa quá khứ và hiện tại, anh có linh cảm nàng là người con gái mình đã thầm yêu và chờ đợi cả quãng đời Tình yêu của Maria đã mang đến cho vị thống
chế, vốn là “người nhà binh”, “chẳng hề biết gì gia đình, lễ tết và yên vui cả” niềm xúc động lớn lao: “những giọt lệ của đàn ông về điều mà trái tim không bao giờ ngờ trước, về sự
dịu hiền, sự âu yếm, về tiếng thì thầm không dây mối giữa đêm rừng tịch mịch” (Suối cá hương) [65, tr 407] Khi hai tâm hồn giá lạnh, hai nỗi cô đơn tìm thấy và hòa vào nhau, nó
sẽ biến thành một niềm vui chất ngất – “cảm giác của một niềm hạnh phúc hư ảo gần như
không thể chịu đựng nổi” [65, tr 330] Đó là chuyện tình giữa Êlêna Pêtrốpna, cô gái có
giọng nói “nghe như một lời hứa hẹn của hạnh phúc”, và anh sĩ quan Pêtrốp (Cầu vồng
trắng) Vì muốn mang lại sự ấm áp, an ủi dành cho người con trai cô đơn “đang bị thương ở đầu”, Êlêna đã không quản ngại bao khó khăn, nguy hiểm để tìm đến với anh vào thời khắc
nửa đêm, và cô đã tìm thấy tình yêu đích thực mà mình chờ đợi cả cuộc đời Ở Bông hồng
vàng, tình yêu với “tất cả sự trìu mến” mà Giăng Samet dành cho Xuyzan đã cho anh được
nếm trải sự loạn nhịp của con tim: “Ai chưa từng được xúc động với hơi thở nhè nhẹ của
thiếu nữ trong giấc ngủ, người đó chưa hiểu thế nào là dịu dàng Môi nàng tươi hơn cả những cánh hoa ẩm ướt và đôi hàng mi nàng lấp lánh những giọt lệ đêm” [65, tr 16], và cả
nỗi đắng cay tuyệt vọng: “Thoạt đầu, Samet thậm chí còn thấy nhẹ hẳn người Nhưng rồi tất
cả sự chờ đợi cuộc gặp gỡ đầm ấm với Xuyzan, không hiểu sao, đã biến thành một mảnh sắt
gỉ Mảnh sắt nhọn ấy mắc trong lồng ngực anh, ngay ở bên tim và Samet cầu trời cho nó mau mau đâm thẳng vào trái tim ốm yếu ấy đi, cho tim anh vĩnh viễn ngừng đập” [65, tr
18] Tình yêu, đôi khi chỉ là dự cảm mơ hồ nhưng dư âm của nó hẳn còn vang vọng mãi
trong lòng những con người có duyên hạnh ngộ Tình yêu của Onga – Kumin (Bình minh
mưa) là một trường hợp như thế Với việc chuyển giúp cho người bạn nằm cùng quân y viện
một bức thư cho vợ cậu ta, Kumin đã gặp Onga trong một hoàn cảnh thật đặc biệt Tình yêu của họ, hay chính xác – những xúc cảm dường như là…tình yêu – tựa một bản nhạc không
lời giữa đêm tối, nơi “mưa vẫn đều đều xào xạc” [65, tr 317] Tình yêu ấy sưởi ấm hai tâm hồn buồn bã, cô đơn để giờ phút li biệt, họ cảm thấy “tim se lại”, lưu luyến, bùi ngùi
Hầu hết các câu chuyện tình trong truyện ngắn của Pauxtốpxki thật bất ngờ và lãng mạn, giữa một bên là “người nhà binh”, một bên là người phụ nữ nhạy cảm và đầy nữ tính Những người lính vốn là những tấm gương về lòng gan dạ, quả cảm, phi thường, hình ảnh của họ thường được bao bọc trong cảm hứng lãng mạn, anh hùng ca Ở họ, phần “riêng tư” dường như là một khoảng trống bị lãng quên Đồng cảm sâu sắc với nỗi niềm của người lính,
Trang 33và trên hết là mong muốn tạo ra những nhân vật văn học mang dáng dấp của con người đời thường, Pauxtốpxki đã đi vào thế giới tâm hồn họ: nỗi cô đơn, sự mong chờ, khao khát hạnh phúc, niềm vui khi tìm thấy tình yêu Với tấm lòng ấm áp thương yêu, Pauxtốpxki “mang
lại” cho người lính những cuộc gặp gỡ bất ngờ, thoáng qua nhưng hứa hẹn hạnh phúc, bởi
ông hiểu rằng họ cũng cần lắm một điểm tựa tinh thần, một “hậu phương” vững chắc Tất cả dịu ngọt như “chăng tơ” trong tâm hồn người lính, khiến chân dung họ hiện ra chân thực hơn
Không phải là kiểu tình yêu sét đánh, không có sự hiện diện của dối trá, phụ bạc, lọc lừa, tình yêu trong truyện ngắn của Pauxtốpxki mang vẻ đẹp trong trẻo, thuần khiết, lấp lánh ánh sáng của lòng bao dung, vị tha
Cùng viết về đề tài tình yêu, Thạch Lam và Pauxtốpxki đều cố gắng diễn tả sâu sắc đời sống nội tâm phiền phức của những người đang yêu Đó là một “dải quang phổ” tình cảm cực kì tinh tế, phức tạp của những cảm xúc, cảm giác mới mẻ đột khởi từ tâm hồn, sự rung động của con tim Bởi lẽ, bản chất của tình yêu là luôn tươi mới, nhất là với những ai lần đầu bước vào thế giới đầy bí ẩn, mê hoặc của nó Những câu chuyện tình trong truyện ngắn của Thạch Lam có màu hồng của hạnh phúc, đam mê; vị chát của lãng quên và duyên nợ không thành; chút bâng khuâng, ngậm ngùi tiếc nhớ… Dấu ấn của xã hội buổi giao thời hiện lên qua khoảng cách giữa chốn thị thành và thôn quê Tình yêu tan vỡ vì sự xa cách về tâm hồn, lối sống nhưng ý thức cá nhân của nhân vật được khẳng định Còn tình yêu trong trang viết của Pauxtốpxki là những chuyện tình đẹp như cổ tích, dù chỉ mới những dự cảm ban đầu thì
nó cũng đầy ám ảnh Nó phảng phất tính chất hồi sinh và khả năng cứu rỗi của tình yêu cá
hưởng của thời đại đã chi phối cách xây dựng những con người lí tưởng với tình yêu lí tưởng qua cái nhìn lãng mạn, bay bổng ở Pauxtốpxki
2.1.2 …Trong khoảng tối tâm hồn
Tâm hồn con người là một thế giới phong phú, huyền bí với bộn bề cảm xúc Có những trạng thái vui buồn, hờn giận, yêu thương… người ta có thể đoán định qua các hành
vi, cử chỉ của nhân vật Nhưng cũng có các cảm giác, cảm xúc mới mẻ nảy sinh trong vùng khuất lấp, nó là cả một kho bí mật, “thách thức” sự khám phá của con người
1 Tình yêu của Onhêghin – Tachianna ( Épghênhi Ônhêghin), Anđrây – Natasa (Chiến tranh và hòa bình), Rakônikốp – Sonya (Tội ác và trừng phạt)
Trang 34Tìm vào nội tâm, đào sâu cảm giác, Thạch Lam nhẹ nhàng xâm nhập lãnh địa tâm hồn con người, bóc tách các vỉa tầng sâu thẳm của nó và trải lên trang viết những trạng thái cảm xúc phức tạp, sống động, bất ngờ Thạch Lam đã chạm đến “khoảng tối” của tâm hồn: một
cơn giận vô cớ xui khiến người ta hành động nhẫn tâm với người phu xe khốn khổ (Một cơn
giận); một ý định muốn lấy cắp tiền của bạn vốn được “xếp đặt đâu vào đấy rất chu đáo, phòng ngừa đủ mọi việc xảy ra” (Sợi tóc); một ý nghĩ vô tâm, tàn nhẫn với người yêu (Tình xưa, Nắng trong vườn); cơn tự ái nhỏ nhen khiến người chồng mặc dù biết lỗi vẫn “giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình” [44, tr 11] Đó là những điều người ta không hề chờ
đợi bởi chúng phô ra cái xấu xa, đớn hèn trong mỗi cá nhân Thế mà, chúng ào đến, không
hề báo trước Mặt khác, Thạch Lam còn cho ta thấy tâm hồn con người vốn đa đoan, phức
tạp, day trở nhiều chiều Trong Một cơn giận, khi nỗi bực tức đi qua, nhân vật Thanh không thể nguôi yên với sự dày vò diễn ra trong trí: “Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi; tôi
thấy một cái chán nản, bực tức rung động trong người […] Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu” [44, tr 31] Tâm trạng của Thành lúc thức tỉnh ở truyện Sợi tóc
lại càng “phúc tạp” hơn : “Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kì dị, khe khẽ và thầm lặng
rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc” [44, tr 248] Tân sau khi ân hận đã “nhận thấy chính những cái bé nhỏ, hèn mọn hằng ngày nó phá hoại cuộc đời” (Đứa con đầu lòng) [44,
tr 8] Bình từng đến với tình yêu bằng cả con tim thiết tha, say đắm: “Hậu chiếm đoạt hết cả
ý nghĩ của tôi Tình yêu của nàng vừa làm tôi say sưa vừa làm tôi kì dị, như người đầu tiên bước vào một mảnh vườn đầy hoa cỏ lạ” (Nắng trong vườn) [44, tr 113] Thế mà chẳng bao
lâu sau, ở Bình lại xuất hiện những ý nghĩ tàn nhẫn đến không ngờ: “Tôi nghĩ đến những cô
gái lộng lẫy và đài các ở Hà thành, những bông hoa quý Trong tâm can tôi đầy những ham
muốn, nhớ tiếc, và tôi bắt đầu thấy hận mình vì một cô gái còn non mà những lời âu yếm đối với tôi bỗng trở nên xa lạ” [44, tr 116] Tương tự, nhân vật Bình trong Tình xưa cũng có lúc
thật vô tâm: “Tôi không kịp có thì giờ hối hận cho sự tàn ác vô tình có thể thấy trong câu
đùa cợt Tôi cũng không muốn nghĩ rằng Lan lúc đó lại có thể đau lòng vì tôi Lan không còn liên lạc với tôi nữa” [44, tr 239] Những nét tính cách trên tưởng chừng mâu thuẫn, loại trừ
nhau nhưng chúng lại “chung sống hòa bình” trong cấu trúc tâm lí nhân vật, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, hài hòa Bởi tâm trạng, cảm giác của con người vốn là một chuỗi phức hợp, tập hợp cả những phần khuất lấp, tiềm tàng
Trang 35Ở truyện ngắn của Pauxtốpxki, các nhân vật hầu hết là người tốt, có nhân cách cao đẹp Naxtia – cô thư ký xinh đẹp, giỏi giang trong Hội nghệ sĩ Mỹ thuật – là trường hợp hiếm hoi mà Pauxtốpxki soi ngắm cả những ý nghĩ khuất tối của tâm hồn Naxtia là người có công đưa một họa sĩ tài năng ra ánh sáng nhưng cô lại lãng quên người mẹ già ở chốn quê
Người con gái vốn bận rộn này ngại về thăm nhà với những lý do:“Nàng nghĩ đến những
chuyến tàu chật ních, đến việc phải chuyển từ xe hỏa sang tàu thoi, đến chiếc xe ngựa xóc nảy người, khu vườn khô héo, những giọt nước mắt không thể nào tránh được của mẹ, về cái buồn dai dẳng không có gì tô điểm được của những ngày sống ở làng quê” (Bức điện) [65,
tr 342] Trong buổi triển lãm, mặc dù “cảm động, lúng túng” và chìm vào niềm hân hoan
được ngợi ca, Naxtia “lúc nào cũng cảm thấy có một đôi mắt nặng nề nhìn mình, thấu suốt
tâm can và nàng không dám ngẩng đầu lên”, “cảm thấy như Gôgôn nói khẽ qua hàm răng nghiến chặt: Ồ, mày !” [65, tr 342]
Quả thật, những cảm xúc mới lạ đột khởi từ “khoảng tối” của tâm hồn đã góp phần làm cho tính cách nhân vật trở nên “đầy đặn”, chân thực hơn Tuy vậy Thạch Lam và Pauxtốpxki không để nhân vật đi đến tận cùng chiều dài và chiều sâu vùng khuất tối đó Bao giờ họ cũng “phanh” lại kịp thời Bên cạnh những “bí mật”, vùng khuất lấp của tâm hồn còn lấp lánh điểm sáng của những tình cảm cao đẹp chợt đến, đánh dấu sự thức tỉnh của lương tri Thạch Lam, Pauxtốpxki đã nắm bắt rất “nhạy” những vang động tinh tế đó Vân, người
chồng từng hành hạ, ngược đãi vợ, bất chợt thấy “rùng mình cho sự tàn ác ấy, tự giận mình
đã ích kỉ và tự ái nhiều” (Bóng người xưa) [44, tr 260] Bính, người con từng ăn chơi trụy
lạc khiến người mẹ già nhiều lần khóc vì con, nay lại thấy “lòng thương mẹ rung động khẽ
trong tâm” (Một buổi sớm) [44, tr 253] Tân lần đầu nhận ra sợi dây tình cảm thiêng liêng
vô hình nối chàng với đứa con: “lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu
xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy” (Đứa con đầu lòng) [44, tr 12] Bà cả, người đàn bà
nổi tiếng “kiệt ác” bất chợt nảy nở tình thương : “Tôi thấy người bà rung động, một tiếng thở
dài sẽ thoát ra môi rồi đôi mắt ráo của bà bỗng mờ đi như ướt lệ Bà lặng nhìn đứa bé đang rúc bú đôi vú căng sữa trong yếm mẹ” (Đứa con) [44, tr 165] Khi cơn giận vô cớ “bốc
hơi”, Thanh bất ngờ với cảm xúc: “Sự hối hận dần thấm vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán
nản, bực bức rung động trong người” (Một cơn giận) [65, tr 31] Naxtia bừng tỉnh khi tình
yêu thương mẹ trong cô đột nhiên trỗi dậy: “Naxtia rùng mình vì lạnh và bất thần, nàng chợt
hiểu rằng không có ai yêu nàng như cái bà lão bé nhỏ, già yếu và bị hết thảy mọi người quên lãng kia, trong cái làng Zabôriê đáng ngán ấy” (Bức điện) [65, tr 343]
Trang 36Chính tình cảm cao đẹp bất chợt nảy sinh là sợi dây bảo hiểm cao đẹp giúp các nhân vật được bảo toàn về nhân cách Vì vậy, tuy có những lúc chòng chành, chông chênh giữa lằn ranh thiện – ác, tốt – xấu nhưng hầu hết các nhân vật đều kịp thời điều chỉnh để luôn sống đúng với nghĩa vụ làm người Khác với việc miêu tả tính cách, tâm trạng nhân vật một cách nghiêm ngặt, tỉnh táo của các nhà văn hiện thực, Thạch Lam và Pauxtốpxki đã dành cho nhân vật sự trân trọng, nâng niu, dường như là sự nâng đỡ về mặt tâm hồn
2.1.3 …Trong sự “giải mã” bản thân
Không tìm hiểu, nắm bắt hiện thực khách quan, con người còn tìm vào cõi nội tâm nhằm thỏa mãn nhu cầu tri giác của mình Tuy nhiên, thế giới nội cảm của con người vô cùng phong phú đa dạng với bao chuyện bất ngờ, bí mật, chẳng phải điều gì cũng nói cho rành rọt, tường minh Vì vậy, khát vọng “giải mã” chính bản thân mình là biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân ở nhân vật
Các nhân vật chính trong truyện ngắn của Pauxtốpxki thường có nỗi băn khoăn về những trạng thái cảm xúc bất chợt hiện hữu trong tâm hồn mình Masa, một cô gái vừa tốt nghiệp đại học lâm nghiệp và đang đi về hạ lưu sông Vônga để trồng rừng cho một công
trường, tự vấn bản thân: “Không hiểu tại sao mình lại buồn thế này nhỉ ? […] Có lẽ tại mình
đang chờ đợi một cái gì chăng? Mà chờ gì, chính mình cũng không biết nữa” (Cây tường vi)
[65, tr 248] Tuy tự trấn an mình bằng câu trả lời có vẻ logic: “Cuộc sống tự lập của mình
đang bắt đầu, và vì thế mình mới có vẻ lo sợ ít nhiều đấy thôi” [65,tr 249] nhưng nỗi buồn
của cô vẫn không dứt Êlêna trăn trở với hàng loạt suy tư khi trở lại Maxcơva: “Lại về với
công việc quen thuộc, với bạn bè Mọi chuyện lại như cũ Còn muốn gì hơn nữa? Vậy mình còn mong muốn điều gì hơn nữa […] Giá mà biết được hạnh phúc bí ẩn là gì? Nó ở đâu?”
(Cầu vồng trắng) [65, tr 326] Và dường như cô đã giải đáp được ngọn nguồn của cảm xúc
bí ẩn len lỏi trong lòng – nỗi cô đơn: “Khó mà sống thui thủi mãi một mình và nhìn thấy tất
cả, dù chỉ là đêm nay, và suy nghĩ về mọi điều, không mỉm cười với ai, không đặt tay lên vai
ai và không bảo: Anh xem, tuyết đang rơi kìa” [65, tr 327] Tương tự, chàng sĩ quan Pêtrốp
vô cùng ngạc nhiên trước sự đổi thay diễn ra trong tâm hồn mình: “Pêtrốp ngạc nhiên nghĩ
rằng thành phố này một năm trước đây tưởng chừng như ảm đạm và dữ dội, giờ đây kí ức khô cứng của anh lại hé ra trong quá khứ những ngày tươi sáng, bầu trời trong trẻo, mùi lá mục và vẻ yên tĩnh của những khu vườn xưa, trước đây, anh không nhận ra điều đó Vì sao?” [65, tr 330] Và trái tim anh tìm được sự lí giải: “Có thể vì anh chỉ một mình và nhìn
Trang 37tất cả chỉ có một mình Vì bên anh không có bàn tay ấm áp, không có đôi mắt tươi cười và giọng nói trầm ấm” [65, tr 330] Còn thiếu tá Kuzmin lại bất ngờ với cảm xúc chợt đến
trong đêm mưa bụi: “Ý nghĩ về sự qua đi không thể nào lấy lại mỗi khoảnh khắc nhỏ nhất
của thời gian, cái ý nghĩ dằn vặt con người thế kỉ này qua thế kỉ khác, đã đến với chàng chính lúc này, ban đêm, trong ngôi nhà xa lạ, và từ ngôi nhà ấy, mấy phút nữa thôi, chàng sẽ
ra đi và không bao giờ trở lại” (Bình minh mưa) [65, tr 316] Kuzmin phân vân đưa ra lời
giải cho tâm trạng: “Do tuổi già mà mình nghĩ thế hay sao?” [65, tr 316]
Nếu như các nhân vật của Pauxtốpxki băn khoăn với các trạng thái cảm xúc bất chợt xâm chiếm tâm hồn mình và nỗ lực giải đáp chúng (và họ đã tìm thấy lời giải) thì những nhân vật của Thạch Lam lại day dứt với các trạng thái nhân cách của bản thân Hàng tá câu hỏi chất chứa trong tâm họ: Tôi là ai mà bất chợt biến đổi thành con người khác: kẻ có ý
muốn ăn cắp (Sợi tóc), kẻ độc ác nhẫn tâm (Một cơn giận), người chồng và người cha tử tế (Đứa con đầu lòng), kẻ bạc tình (Tình xưa, Nắng trong vườn), kẻ an phận (Người bạn cũ)…
Họ không dễ gì tìm được lời lý giải thấu đáo Khi kể những câu chuyện như thế, điều tác giả quan tâm không phải ở câu trả lời hợp lí của nhân vật mà chủ yếu là khơi gợi được một suy
tư chân thật, tâm đắc với người đọc Vấn đề này không chỉ khiến nhân vật trong truyện riết róng với việc “giải mã” mình mà còn khiến độc giả suy tư về những thói tật vốn hiện hữu ở bản thân: Đôi khi ta cũng vô tâm, tàn nhẫn, hèn yếu, an phận, thỉnh thoảng những thói tật lại trỗi dậy theo bản năng Bên cạnh nỗi băn khoăn rất lành mạnh về nhân cách, các nhân vật của Thạch Lam còn nỗ lực khám phá nguyên do chi phối, quy định mọi ứng xử khác thường
ở họ Không cố gắng đưa ra câu trả lời duy lí như các nhà tâm lý học xã hội, Thạch Lam dẫn
dắt, khơi gợi vấn đề bằng hình tượng “sợi tóc”: “Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết Có lẽ
chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên… Tôi
có tiếc đã không lấy hay không, hay bằng lòng mình vì đã chống giữ lại cái ý xấu? Tôi cũng không tìm biết rõ hơn Hình như ý nghĩ ham muốn hay trù trừ tối ấy không phải là của tôi, hình như của ai ấy, của một người nào khác lạ, khác với cái người thường của tôi bây giờ”
[44, tr 248] Những suy tư về trạng thái, tình cảm bất chợt của nhân vật đã đem đến cho người đọc một thoáng “giật mình”: ranh giới giữa cái Thiện và cái Ác rất mong manh Con người lương thiện vẫn có thể bị xui khiến làm điều ác một cách dễ dàng Lý giải rành rọt cái bản năng xui khiến con người làm điều ác (cũng như đột nhiên kéo họ trở về với điều thiện)
Trang 38là không dễ dàng Câu trả lời là vấn đề của triết học và tâm lí học với sự hiện diện của cái vô giác, vô thức trong tầng sâu tâm hồn con người
Mang trong mình khát vọng giải mã bản thân, các vai chính trong truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki đã thể hiện đầy đặn ý thức cao độ về bản ngã, về quá trình tự hoàn thiện mình để phần “người” trong mỗi con người luôn thắng thế
Những khám phá của Thạch Lam và Pauxtốpxki về cảm xúc mới mẻ, bất chợt trong tâm hồn con người đã mở ra một diện rộng cho sự phản ánh của văn học, đồng thời xác lập một kiểu con người trong văn chương – con người tâm lý với cõi nội tâm thầm kín
Lựa chọn và xem thế giới nội tâm của con người như một hiện thực phong phú để đặt những “đường cày”, Thạch Lam và Pauxtốpxki đã tạo ra một nội dung tự sự mới mẻ trong truyện ngắn của mình Sự lựa chọn ấy là phù hợp với quy luật vận động và phát triển của văn học Việt Nam và văn học Nga (không ít thời kì phát triển của văn học ở hai quốc gia có sự tương ứng) Trước thời Thạch Lam và Pauxtốpxki, trong các loại hình tự sự dân gian, nhân vật chỉ khóc, cười, buồn, vui đúng theo “chức năng” đã định vị Trong văn xuôi trung đại, các tác giả đã chú ý miêu tả các trạng thái cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Sự đóng góp của nhà văn thể hiện ở chỗ họ đã xây dựng thành công những hình tượng nghệ thuật về con người với những nét tính cách khó lẫn Thế nhưng miêu tả nội tâm suy cho cùng vẫn chỉ được coi như một yếu tố thuộc về kĩ thuật của truyện ngắn, tiểu thuyết Đến với văn học hiện đại, nhiều tác giả đã chú trọng đến gương mặt tinh thần, đời sống bên trong của con người và
có sự “đột phá” về kĩ thuật miêu tả nội tâm của nhân vật Một số cây bút hiện thực bậc thầy ở Việt Nam và Nga, chẳng hạn như Nam Cao, Sôlôkhốp đã gửi gắm vào tác phẩm của mình nhiều trang phân tích nội tâm đặc sắc với sự khám phá hay diễn tả thành công những xung đột hay quá trình biện chứng tâm hồn của nhân vật Tuy vậy, với nhiều lí do, không phải bao giờ mô tả nội tâm cũng trở thành một nội dung tự sự chủ yếu
Mặt khác, việc lựa chọn nội dung tự sự trên ở Thạch Lam và Pauxtốpxki còn có sự chi
phối bởi xu hướng của thời đại Triết học thế kỉ XX đã trôi qua dưới khẩu hiệu “Sự phồn
vinh của nhân học” Mọi vấn đề đều xoay quanh cái trục là con người Con người trở thành
trung tâm của vũ trụ, là chiếc chìa khóa để mở ra mọi vấn đề Hơn nữa, những thành tựu của khoa tâm lý học thế kỉ XX mà tiêu biểu là học thuyết tâm lý học vực thẳm (phân tâm học) của Sigmund Freud đã gián tiếp trở thành chiếc cầu nối cho người nghệ sĩ, trong đó có Thạch Lam tìm đến được với bờ cõi vừa huyền bí, sâu thẳm vừa kì diệu của tâm hồn con người
Trang 392.2 Cái đẹp tiềm tàng, khuất lấp…
Cái đẹp tiềm tàng, khuất lấp cũng là một nội dung tự sự trong truyện ngắn Thạch Lam
và Pauxtốpxki, một “kênh” thể hiện chân xác những tìm tòi của hai nhà văn về cuộc sống và con người Đồng thời, đó cũng là một hướng tiếp cận giúp họ thể hiện bản thân mình đầy đặn nhất trong văn chương
2.2.1 …Trong những con người dung dị, đời thường
Thạch Lam và Pauxtốpxki hiếm khi kể chuyện về các “đại nhân” Các nhà văn thường
đi sâu vào những mảnh đời, số phận của bao con người nhỏ bé, bình thường trong xã hội để lắng nghe “tiếng lòng”, những xao động trong tâm tư nhân vật và trên hết là phát hiện ra những hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn họ
Con người từ khi sinh ra đã được đặt trong vô vàn giềng mối phức tạp Thạch Lam và Pauxtốpxki đã khai thác văn hóa ứng xử, giao tiếp của con người, thể hiện trong mối quan hệ giữa con người với quê hương, đất nước, nguồn cội, với đồng loại, gia đình và bản thân Do vậy những vẻ đẹp của họ lần lượt được khơi mở, bóc tách và trải lên trang văn Thạch Lam và Pauxtốpxki thật sống động, bất ngờ
2.2.1.1 Tấm tình gắn bó thiết tha với quê hương xứ sở
Tình yêu quê hương đất nước vốn là “mẫu số” chung của con người ở mỗi quốc gia, mọi thời đại Tuy vậy, cách biểu lộ tình cảm thiêng liêng ấy lại in dấu cách nhìn, cách nghĩ, hướng tiếp cảm của mỗi dân tộc Theo quan niệm của Thạch Lam và Pauxtốpxki, trước hết
đó là tình cảm thiết tha với những sự vật bình dị, thân quen trong cuộc sống hằng ngày Đây
cũng là cảm xúc thường trực trong mỗi con người Đọc truyện ngắn Thạch Lam, ta bắt gặp
ở người lao động chân chất hay người trí thức bình dân sự gắn bó thiết thân với đồng đất quê
hương Chẳng hạn, ở Cô hàng xén tần tảo tên Tâm, dù trên vai trĩu nặng gánh hàng mưu sinh nhưng cô “bớt mệt hẳn đi khi thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù” [44, tr 210] Tâm thuộc cả con đường “mấp mô vì trâu bước”; quen với tiếng lá tre khô “xao xác”;
dễ dàng nhận ra “mùi bèo dưới ao và mùi rạ đưa lên ẩm ướt”, “mùi phân trâu nồng ấm sặc
ngay vào cổ” [44, tr 211] Cả “cái cổng gạch cũ”,“con cá sấu phục ngay trên bệ” ngoài
đình cũng quá gần gũi với cô Với Tân, con người mà cuộc đời vốn gắn chặt lối sống ở chốn
đô thành lại tiềm ẩn một tình yêu sâu đậm với hương đồng gió nội chốn quê Sau quãng thời gian bươn bả ở phố thị, Tân chợt nhận ra quê nhà mới là nơi đem lại cho chàng niềm hạnh
phúc thực sự Hòa mình vào “cái đời giản dị của người làm ruộng”, sống chân thành, gắn
bó với những người nông dân chất phác, thật thà, Tân đã tìm thấy cảm giác bình yên, thanh
Trang 40thản:“Mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt” đã “làm chàng say sưa
như men rượu” [44, tr 95] Khi không còn “dửng dưng với những cái chung quanh mình”,
Tân thụ cảm được cái đẹp của đời và cái đẹp trong tâm chàng nảy nở thật diệu kì: “Tân có
cảm giác rằng mình sống” [44, tr 100] Tương tự, tình cảm cao đẹp ấy cũng chất chứa trong
tâm hồn anh thanh niên trẻ trai hay những đứa trẻ thơ dại Sự trìu mến, yêu thương với
những cảnh vật thân thuộc chốn quê đã khiến Thanh “vẫn có cảm giác như ở nhà” dù chàng
xa nhà đã gần hai năm Cái trường kỉ, ngọn đèn con và cái điếu cũ kĩ, con mèo già mắt lim
dim… cảnh tượng cũ mà có một sức hút mạnh mẽ đối với chàng: “Lần nào trở về với bà
chàng, Thanh cũng thấy thong thả và bình yên như thế” (Dưới bóng hoàng lan) [44, tr 181]
Chàng đón cảm giác thanh lọc tâm hồn với mùi hoàng lan thoảng trong gió ngát: “Thanh
thấy tâm hồn nhẹ nhõm tươi mát như vừa tắm ở suối Chàng tắm trong cái không khí tươi mát này” [44, tr 182] “Ngôi nhà và thửa vườn”, người bà nhân hậu, cô bạn láng giềng xinh
xắn…, tất cả trở thành “máu thịt” của Thanh, quyến luyến bước chân ra đi, chắp cánh niềm vui mỗi lần trở về Khi mở rộng các giác quan để thu nhận mọi cảnh vật của miền hạ du quê
mình, cậu bé thiếu niên trong Bên kia sông đã khám phá bao điều mới mẻ: “Tôi qua ở đấy
tất cả cái tuổi niên thiếu của tôi, sung sướng và nhảy nhót như một con chim giữa cuộc sống hoạt động kia bao bọc lấy tôi, để hết cả mắt mà trông, cả tai mà nghe, cả mũi mà ngửi cái mùi cát, mùi đất lẫn mùi khói rác người ta đốt ở đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố” [44, tr 188] Vì thế sự gắn bó đến thật tự nhiên như hơi thở: “Tất cả chợ huyện, những kẽ ngách bãi không đối với tôi đều quen thuộc, thân mật như một vật cũ trong nhà” [44, tr 189] Trong tâm hồn ngây thơ của hai đứa trẻ cũng vang động những tình
cảm mến yêu đối với phố huyện nghèo: “một mùi âm ấm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn
mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” [44, tr 150] Ở Bính, con người mà cuộc sống chỉ đo đếm bằng những cuộc truy hoan,
vẫn le lói ngọn lửa yêu đời, yêu sống, chờ những cơn gió khơi nguồn là bùng lên mạnh mẽ
Chính không khí mát mẻ, trong lành của buổi sớm mai với “tiếng gà gáy” báo hiệu ngày mới, vẻ quen thuộc của “thềm gạch”, “gốc cau”, “mảnh vườn nhỏ” đã đánh thức những
tình cảm trong trẻo, tốt đẹp ở chàng, người con từng lầm lạc, chìm đắm trong bao cuộc truy
hoan: “Nhưng hôm nay, cái mát của buổi mai làm tươi lại những cảm giác trong sạch, thanh
cao ngày nhỏ Tiếng gù gù của chim bồ câu bên hàng xóm không còn nữa, nhưng tiếng cười nói của những người đi chợ sớm vẫn vang lên bên giậu thưa Nước mưa bên bể vẫn mát như ngày còn trẻ; trên cao, trời xanh thẳm không một gợn mây, trời lát nữa sẽ rực rỡ những ánh