Đề tài : Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tục ngữ là kho báu kinh nghiệm, tài sản tinh thần quý giá và tinh hoa của dân tộc được gìn giữ qua nhiều thế hệ Trong kho tàng văn học Việt Nam, so với các thể loại khác, tục ngữ là một trong những thể loại văn học dân gian có sức thu hút mạnh mẽ đối với nhiều người trong giới nghiên cứu Sức hấp dẫn ấy không chỉ vì tục ngữ là sản phẩm của tư duy mà còn là công cụ diễn đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh sâu sắc thâm thúy và không kém
phần nghệ thuật, được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Thực tế cho đến nay vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, có giá trị nhưng đòi hỏi phải tìm hiểu, nghiên cứu thêm vì còn nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng, còn nhiều ý kiến tranh luận, thậm chí có vấn đề còn bỏ ngỏ
Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay ngoài ý nghĩa tái hiện lại một giai đoạn nghiên cứu, tổng kết những điều mà người đi trước đã làm được, đã đặt ra
và giải quyết, còn có thể qua đó tìm thấy những vấn đề hết sức cần thiết cho nghiên cứu tục ngữ hôm nay và mai sau
Vì vậy, về mặt khách quan, tổng thuật những công trình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam để tìm ra những hướng nghiên cứu mới về thể loại này là một việc làm hết sức cần thiết Hơn nữa, về mặt chủ quan, người viết rất hứng thú với đề tài đã chọn vì qua đó, học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, hiểu sâu hơn về bản chất, đặc điểm, giá trị thể loại tục ngữ Chọn đề tài
“Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay” để nghiên cứu,
chúng tôi hy vọng đóng góp được phần nào trong công việc tổng thuật ấy
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tục ngữ từ trước đến nay là vấn đề thú vị, đã thu hút được
sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu trong cả nước Có thể kể đến các công trình sau:
Trong công trình “Tục ngữ Việt Nam” (1975), Chu Xuân Diên đã giới thiệu một số thành
tựu chủ yếu của những người đi trước về các vấn đề nghiên cứu tục ngữ Việt Nam qua phần “Tiểu luận về tục ngữ” Đó là những nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, nhận thức luận và ngữ văn
học Theo tác giả, nghiên cứu và khai thác tục ngữ Việt Nam về mặt xã hội học thường được tiến hành theo hai hướng: thứ nhất, tục ngữ là đối tượng của chính sự nghiên cứu, đó là tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa các câu tục ngữ và nội dung khái quát của tục ngữ Hướng thứ hai, tục ngữ được dùng như tài liệu bổ trợ, loại tài liệu xã hội học trong việc nghiên cứu những đối tượng thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau: khoa học lịch sử, dân tộc học, tâm lý học, đạo đức học, lịch sử tư tưởng Sau khi điểm qua vai trò của nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, Chu Xuân Diên ghi nhận: “Kết
Trang 3quả bước đầu trong việc nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học ở ta chứng tỏ hướng nghiên cứu này
là quan trọng và hiện nay đang được nhiều người quan tâm đến” [37, 36] Tác giả nhận thấy có một hướng nghiên cứu đến nay chưa được quan tâm đúng mức, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt nhận thức luận Nghiên cứu về mặt xã hội học và nhận thức luận là nghiên cứu tục ngữ với tư cách là một hiện tượng ý thức xã hội Ngoài ra, tục ngữ còn được nghiên cứu về mặt ngữ văn Trong từng góc độ, Chu Xuân Diên đã nêu lên các vấn đề và phương pháp nghiên cứu, có minh họa bằng một
số công trình tiêu biểu Những vấn đề và phương pháp mà người viết đưa ra có tính chất lý luận nhằm giới thiệu những thành tựu của người đi trước và tìm ra những triển vọng trên con đường nghiên cứu tục ngữ, làm cơ sở cho phần nghiên cứu tiếp theo của công trình trên
Năm 1997, qua công trình “Tục ngữ Việt Nam- cấu trúc và thi pháp”, Nguyễn Thái Hòa
đã lược thuật những kiến giải và thành tựu nghiên cứu về phương diện lý thuyết của thể loại tục ngữ Đó là những vấn đề của tục ngữ nhìn ở góc độ nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học Ở góc độ nghiên cứu văn học, theo ông, nhìn một cách tổng quát, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn
đề của tục ngữ: xác định khái niệm (phân biệt tục ngữ với thành ngữ, tục ngữ với ca dao), nội dung, hình thức diễn đạt của tục ngữ, sự vận dụng và mối quan hệ giữa tục ngữ với các thể loại văn học khác Ở góc độ ngôn ngữ học, tác giả cũng điểm qua một số quan niệm về tục ngữ: tục ngữ là cụm
từ cố định; là câu hoàn chỉnh diễn đạt một ý trọn vẹn có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm; tục ngữ
là những câu cố định, thành ngữ là những cụm từ cố định; tục ngữ là ngữ thông báo; những đơn vị ngữ cú và câu- thông điệp nghệ thuật Tuy nhiên, Nguyễn Thái Hòa chỉ lược thuật một vài kiến giải cũng như thành tựu của một số công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong cuốn sách trên, vì thế, nhiều vấn đề của tục ngữ không được đề cập đến
Năm 1999, qua bài viết “Tình hình sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu tục ngữ Việt Nam
từ năm 1975 đến nay” in trong tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, (số 1), Nguyễn Việt Hương đã
cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về quá trình sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu tục ngữ
Việt Nam từ 1975 đến nay Các công trình nghiên cứu được tác giả phân loại theo từng vấn đề, cụ
thể là: nhận diện tục ngữ của các nhà văn học và ngôn ngữ học; khái quát về tục ngữ; ý nghĩa, nguồn gốc của những câu tục ngữ cụ thể; nội dung; giá trị nhận thức, giáo dục của tục ngữ; hình thức; so sánh tục ngữ; tục ngữ là tài liệu để nghiên cứu lịch sử- xã hội, triết lý nhân sinh, tâm lý, đạo đức của con người; đưa tục ngữ vào chương trình giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài Trong từng vấn đề, sau khi liệt kê một vài công trình tiêu biểu, tác giả có nhận xét và ghi nhận thành tựu nhưng chưa đi vào phân tích sâu những đóng góp của từng công trình cũng như tìm ra những khoảng trống mà các công trình chưa đề cập đến
Trong phần thứ nhất “Tổng quan về tục ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam” của công trình
“Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” , nhà xuất bản KHXH, HN phát hành
Trang 4năm 2000 do Trần Thị An (chủ biên), tác giả đã giới thiệu sơ lược về thành tựu nghiên cứu tục
ngữ người Việt ở phương diện lý thuyết từ các góc độ Trong mỗi góc độ, người viết điểm qua những thành tựu với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu Cụ thể: ở góc độ ngữ văn có các công trình nghiên cứu về thi pháp thể loại tục ngữ; ở góc độ nhận thức luận có các công trình nghiên cứu
về vấn đề nghĩa của tục ngữ Ngoài ra, tác giả còn giới thiệu sơ lược lịch sử sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ các dân tộc thiểu số Việc nghiên cứu tục ngữ các dân tộc thiểu số được người viết giới thiệu qua một số công trình với các vấn đề theo tiến trình thời gian và ghi nhận chưa có nhiều thành tựu: “Trong khi tình hình sưu tầm tư liệu tục ngữ các dân tộc thiểu số đã thu được một số thành tựu nhất định thì việc nghiên cứu lại chưa được tiến hành bao nhiêu”.[1,50]
Năm 2002, trong công trình “Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 1”, nhà xuất bản
KHXH, HN ở phần III của “Khải luận”, Nguyễn Xuân Kính đã giới thiệu khái quát vấn đề nghiên
cứu tục ngữ Đó là quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ và những vấn đề chung quanh việc nghiên cứu tục ngữ người Việt Trong phần quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ, tác giả chia thành ba giai đoạn: trước Cách mạng Tháng Tám; trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và sau hiệp định Giơnevơ (1954), miền bắc hoàn toàn giải phóng; sau năm 1975 Khi đề cập đến tình hình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam trước năm 1945, Nguyễn Xuân Kính đã nhận định: “Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở nước ta chưa có quan niệm thật xác đáng, khoa học về tục ngữ với tư cách là một thể loại văn học dân gian Trong một thời gian dài tục ngữ được quan tâm chủ yếu trên phương diện sưu tầm, biên soạn” [117, 41] Để chứng minh cho nhận định trên, tác giả
đã liệt kê một số công trình nghiên cứu tục ngữ trong thời gian này đồng thời đi đến kết luận: “Các bài viết thiếu tính hệ thống Việc nghiên cứu được tiến hành có tính chất tự phát, nghiệp dư, chưa
có cuốn sách nào bàn chuyên về tục ngữ, chưa có những tập hợp bài viết tìm hiểu, phân tích thể loại này một cách hệ thống”[117, 42, 43] Ở giai đoạn từ 1945 đến năm 1975, người viết giới thiệu sơ
bộ một số hoạt động nghiên cứu văn học dân gian: việc giảng dạy, xuất bản, sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu (trong đó có tục ngữ), có liệt kê một số công trình với những tác giả tiêu biểu, đồng thời ghi nhận thành tựu: “Cho đến đầu những năm 1970 tuy còn một vài chỗ yếu về lý luận và phương pháp, ngành nghiên cứu văn học dân gian ở miền bắc có những bước trưởng thành rõ rệt” [117,44] Giai đoạn đất nước thống nhất (1975) đến nay, nghiên cứu tục ngữ đã được tác giả giới thiệu qua nhiều thành tựu, có minh họa một số công trình tiêu biểu và đi đến nhận định: “Tục ngữ trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học: khoa nghiên cứu văn học dân gian, ngành ngôn ngữ học, khoa nghiên cứu văn hóa dân gian ”[117,46]
Phần tiếp theo, Nguyễn Xuân Kính xoay quanh những vấn đề nghiên cứu tục ngữ, đó là: vấn đề bản chất thể loại; khai thác, phân tích nội dung tục ngữ; thi pháp tục ngữ; so sánh tục ngữ; khai thác tục ngữ phục vụ cho hôm nay; tìm hiểu tục ngữ với tính chất là chất liệu trong sáng tác
Trang 5văn học thành văn, trong sự vận dụng của các tác gia và những vấn đề khác… Tuy nhiên, trong mỗi vấn đề, tác giả chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu theo tiến trình thời gian Có thể nói, các vấn
đề xoay quanh việc nghiên cứu tục ngữ đã được người viết đề cập nhưng chưa đi vào phân tích cụ thể để từ đó tổng hợp, khái quát thành những đóng góp cũng như hạn chế của các công trình
Qua bài viết “Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học” in trong tạp chí Văn hóa dân gian,
số 1(103), HN, năm 2006, Hoàng Minh Đạo đã giới thiệu một cách tổng quát việc tìm hiểu giá trị thể loại tục ngữ của các nhà folklore học Việt Nam dưới các góc độ chủ yếu sau đây: ở góc độ xã hội học, tục ngữ được xem là một hiện tượng ý thức xã hội có tính đặc thù (đại diện cho xu hứớng này là các công trình của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan); ở góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đi vào phân biệt tục ngữ với thành ngữ (đại diện là Nguyễn Văn Mệnh, Cù Đình Tú, Hoàng Văn Hành); từ góc độ văn học, tục ngữ được xem là đối tượng nghiên cứu của bộ môn văn học dân gian (tiêu biểu là Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu); tiếp cận tục ngữ từ góc độ kí hiệu học, thi pháp học (tiêu biểu là Hoàng Trinh, Nguyễn Thái Hoà, Phan Thị Đào, Nguyễn Xuân Đức), tiếp cận tục ngữ từ góc độ nhận thức luận (đại diện là Chu Xuân Diên) và từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện (tiêu biểu là Nguyễn Xuân Kính) Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở sự liệt kê vài tác giả tiêu biểu qua các góc độ nghiên cứu tục ngữ
Trong công trình “Khảo luận về tục ngữ người Việt” do Nxb Giáo dục, TP HCM phát
hành năm 2006, Triều Nguyên đã giới thiệu khái quát hai hướng tiếp cận tục ngữ của các nhà
nghiên cứu ở chương I “Tình hình nghiên cứu tục ngữ và các vấn đề đặt ra” Đó là hướng tiếp cận
của các nhà folklore học và các nhà ngôn ngữ học Riêng ở lĩnh vực folklore học, ông giới thiệu các vấn đề đã được các nhà nghiên cứu xem xét như: khái niệm (xác định tục ngữ); nội dung; hình thức kết cấu (hay cấu trúc); nghĩa và cơ chế tạo nghĩa; sự vận dụng và mối quan hệ giữa tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác Bên cạnh tác giả folklore học quan tâm đến vấn đề của tục ngữ trên, theo Triều Nguyên, tác giả ngành ngôn ngữ học cũng chú ý đến các vấn đề: quan niệm xem tục ngữ thuộc cấp độ ngữ, ngữ vị, ngữ cú; xem tục ngữ là câu, câu cố định; xem tục ngữ vừa là câu, vừa là thông điệp nghệ thuật Với mục đích trình bày các kiến giải của người đi trước như là những chỉ dẫn, định hướng cho việc tiếp tục xem xét vấn đề nghiên cứu trong công trình của mình, mỗi hướng tiếp cận tục ngữ, người viết giới thiệu một số công trình tiêu biểu, có phân tích, lý giải những đóng góp cũng như hạn chế của từng công trình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ trình bày một cách khái quát lịch sử sưu tầm, biên soạn cũng như nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay Một
số công trình giới thiệu các góc độ nghiên cứu tục ngữ và một số tổng thuật chung về tình hình nghiên cứu tục ngữ Trong các công trình tổng thuật về nghiên cứu tục ngữ, các tác giả chỉ giới thiệu vấn đề nghiên cứu và điểm qua các công trình tiêu biểu, chưa phân tích sâu để có thể tổng hợp,
Trang 6khái quát những đóng góp cũng như những hạn chế của các công trình, tìm ra những khoảng trống, các khía cạnh tục ngữ chưa được nghiên cứu
Như vậy, điểm qua lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng đây là những công trình gợi ý
quý báu, là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp tục khảo sát, thực hiện đề tài nghiên cứu Đó là: “Tìm
hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay”
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công trình nghiên cứu đã in thành sách hoặc đăng
trên các báo, tạp chí trong nước, các luận án, luận văn nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam
Phạm vi luận văn khảo sát là các công trình nghiên cứu tục ngữ người Việt và các dân tộc thiểu số từ 1975 đến nay theo từng vấn đề
Do điều kiện khó khăn trong việc sưu tầm tài liệu, nhất là các tài liệu nghiên cứu tục ngữ xuất bản ở địa phương, có một số ít công trình chúng tôi chưa tìm được Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi khảo sát 249 công trình mà chúng tôi đã tiếp cận Tuy vậy, với một khối lượng các công trình vừa nêu, có thể nói, các vấn đề nghiên cứu tục ngữ đã được khai phá, lý giải
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là phương pháp được tiến hành đầu tiên nhằm thống kê, phân loại những công trình nghiên cứu về tục ngữ theo từng vấn đề một cách hệ thống
4.2 Phương pháp so sánh
So sánh để thấy được những điểm tương đồng cũng như những khác biệt, những điểm đặc sắc, mới mẻ của các công trình nghiên cứu theo từng vấn đề hoặc thời gian Trên cơ sở đó, người viết có thể miêu tả lịch sử nghiên cứu thể loại này
4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp vấn đề
Phân tích các công trình nghiên cứu về tục ngữ từ đó có thể tổng hợp, khái quát những đóng góp cũng như những hạn chế của các công trình, qua đó tìm ra những khoảng trống, các khía cạnh tục ngữ chưa được nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng còn nhiều bàn cãi, qua đó đề xuất, kiến nghị các hướng nghiên cứu tục ngữ sau này
Thực tế, bức tranh nghiên cứu tục ngữ Việt Nam cũng vô cùng phong phú và đa dạng Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên cứu tục ngữ: thứ nhất, tục ngữ được khám phá dưới nhiều góc độ: ngữ văn học, ngôn ngữ học, đạo đức học, dân tộc học, xạ hội học thứ hai, tục ngữ được lý giải, tìm tòi với nhiều vấn đề Cả hai hướng nghiên cứu tục ngữ đều đã đạt được những thành tựu đáng kể Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách tổng thuật theo từng vấn đề, sắp xếp để giới thiệu các công trình theo trình tự thời gian vì cách làm này có thể giúp mọi người dễ dàng nhận
ra tiến trình nghiên cứu tục ngữ, thuận lợi đối với người đọc khi tìm ra vấn đề trong từng công trình,
Trang 7qua đó tiếp tục phần nghiên cứu sau này.Với cách tổng thuật như trên, trong quá trình tìm hiểu, có thể một công trình được nhắc lại nhiều lần với các vấn đề khác nhau
5.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
Qua việc tổng thuật tình hình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay, luận văn có thể giúp người đọc khám phá bức tranh toàn cục về nghiên cứu thể loại, học hỏi những thành tựu trong nghiên cứu tục ngữ của những người đi trước Từ đó, mọi người có thể nhận thức đúng đắn hơn về bản chất, đặc điểm, giá trị thể loại này cũng như hiểu được những nỗ lực của các nhà khoa học trong việc chiếm lĩnh, khám phá kho tàng tục ngữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Giúp mọi người thêm yêu quý di sản, tinh hoa trí tuệ của cha ông, dân tộc trong đó có tục ngữ Nâng cao ý thức giữ gìn và quý trọng vốn tục ngữ vô giá vì tục ngữ là kho kinh nghiệm quý báu của cha ông đúc kết lại trên tất cả các lĩnh vực cuộc sống, vì nó thể hiện lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc
6 KẾT CẤU LUẬN VĂN:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm có 4 chương:
+Chương 1:Giới thiệu chung về tục ngữ và tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam
Ở chương này, chúng tôi trình bày một số vấn đề mang tính lý thuyết làm cơ sở, nền tảng cho việc nghiên cứu của luận văn như: khái quát về tục ngữ, tục ngữ - một thể loại văn học giàu tiềm năng nghiên cứu và vài nét về tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam
+Chương 2: Những công trình nghiên cứu về vấn đề nội dung tục ngữ Việt Nam
Đây là chương chúng tôi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về sự phong phú, đa dạng của nội dung tục ngữ; những quan niệm về nghĩa của tục ngữ và giải thích ý nghĩa từng câu tục ngữ
+Chương 3: Những công trình nghiên cứu về vấn đề thi pháp tục ngữ Việt Nam
Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về cú pháp; vần, nhịp, sự hòa đối và phương thức tạo nghĩa trong tục ngữ
+Chương 4: Những công trình nghiên cứu về các vấn đề khác của tục ngữ Việt Nam
Các vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu ở chương này là: nhận diện tục ngữ; so sánh; vận dụng và sáng tạo tục ngữ; mối quan hệ giữa tục ngữ và các thể loại văn học dân gian khác; khai thác tục ngữ phục vụ cho hôm nay và cội nguồn tục ngữ
Ở mỗi chương, chúng tôi sẽ tóm tắt nội dung, nhận xét các công trình nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo cho những vấn đề còn bỏ ngỏ
Ngoài ra luận văn còn có phần Phụ lục, gồm:
+Bảng thống kê các công trình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay (theo trình tự thời gian)
Trang 8+Giới thiệu một số hình ảnh sách, luận án, luận văn nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ
Trang 9Từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ
Vũ Ngọc Phan trong công trình “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, năm 1965 đã định
nghĩa như sau: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán”[182, 39]
Trong bài viết “ Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm 1985, Nguyễn
Đức Dân đã quan niệm:“Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [ 18, 58]
Hoàng Tiến Tựu trong công trình “Văn học dân gian Việt Nam”, tập 2 năm 1990 đã cho
rằng: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [257,109]
Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong “Văn học dân gianViệt
Nam” do Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa
hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [112, 244]
Có thể nói: tục ngữ là một đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức cấu trúc của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ
Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm của nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo Nó là một thể loại văn học ra đời rất sớm, có số lượng phong phú và sức sống lâu bền trong folklore của các dân tộc trên thế giới
Tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ Là sự đúc kết trí tuệ
và tâm hồn của nhân dân lao động, vì vậy mỗi câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý
mà còn là văn bản nghệ thuật có giá trị Tục ngữ được ví như “túi khôn nhân gian”, “kho báu của trí tuệ nhân dân”
Tục ngữ được nhân dân sáng tạo ra để vận dụng Trong đời sống và tư duy, tục ngữ thể hiện và hướng dẫn kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử, thực hành các hiện tượng Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói, giúp mọi người diễn đạt cả những điều
Trang 10khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp Vì vậy, khi giao tiếp qua ngôn ngữ nói hàng ngày cũng như trong văn viết, từ xa xưa cha ông cha ta thường hay mượn thành ngữ, tục ngữ để diễn đạt các khái niệm, các ý tưởng, khiến cho cách nói, cách viết vừa có hình ảnh, gợi cảm, đồng thời có sức thuyết phục mạnh mẽ
1.1.2 Đặc điểm tục ngữ:
1.1.2.1 Đặc điểm về nội dung:
Tục ngữ có thể gọi là “túi khôn” của dân tộc vì trong bản thân nó chứa đựng vô vàn tri thức của đời sống Đó là những tri thức về giới tự nhiên, mối quan hệ của con người với giới tự nhiên và con người trong mối quan hệ với đời sống, xã hội
Những câu tục ngữ phản ánh tri thức về tự nhiên và mối quan hệ của con người với giới tự nhiên phần lớn là những câu nói về thời tiết và kinh nghiệm lao động, nảy sinh trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên của nhân dân ta Nội dung của các câu này thể hiện sự nhận xét
tinh tế của nhân dân ta trước các hiện tượng tự nhiên hoặc dự đoán thời tiết: “Ráng mỡ gà ai có nhà phải chống”, “Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa”, “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”,
“Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão”, “Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét”, “Mùa hè đang nắng cỏ
gà trắng thì mưa” Còn những câu tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh tập quán làm ăn lâu đời
của nhân dân trong hoàn cảnh một nước nông nghiệp với kỹ thuật sản xuất thô sơ như kinh nghiệm
về trồng trọt: “Cày thưa hơn bừa kỹ”, “Hòn đất nỏ là một giỏ phân”, “Năm trước được cau, năm sau được lúa”, làm ruộng: “Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc”, “Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”, “Chiêm cập cợi, mùa đợi nhau”, “Nhất cày ải, nhì vãi phân”, “Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen” trong đó chủ yếu là kinh nghiệm trồng lúa Tục ngữ về kinh nghiệm chài lưới và chăn nuôi
chiếm phần nhỏ hơn so với tục ngữ về kinh nghiệm làm ruộng, do hai nghề này không được phát
triển như nghề trồng lúa Những câu phản ánh kinh nghiệm chài lưới: “Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông”, kinh nghiệm chăn nuôi, chọn giống gia súc: “Chấm trán, lọ đuôi, không nuôi cũng nậy”(chọn lợn) Bên cạnh đó, còn có những câu nói về các nghề thủ công như nghề gốm: “Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ”, nghề dệt: “Con gái thấy hoa vải to như bò thấy nhà táng” Nhìn
chung, tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh trên một số nét chính điều kiện phương thức lao động của dân tộc ta, phản ánh một số đặc điểm của đời sống dân tộc Nhưng do chức năng đặc biệt của
nó, tục ngữ về lao động sản xuất không mang những nội dung cuộc sống phong phú như tục ngữ về con người-đời sống-xã hội
Đại bộ phận tục ngữ Việt Nam là những câu phản ánh con người-đời sống-xã hội Có thể nói đời sống xã hội của con người được thể hiện qua tục ngữ vô cùng phong phú Qua tục ngữ, những
ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta đã được ghi lại: “Ăn lông ở lỗ”, “Con dại cái mang”,
“Năm cha ba mẹ”, “Chồng chung vợ chạ” Những hiện tượng và nhân vật lịch sử cá biệt, những
Trang 11biến đổi về kinh tế, chính trị ảnh hường đến đời sống nhân dân cũng được phản ánh trong một số
câu tục ngữ: “Đít Lý Râu, đầu Án Cộng”, “Lệnh ông, cồng bà”, “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”,
“Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, “Một nhà hai chủ không hòa-Hai vua một nước ắt là không yên” Rất nhiều câu phản ánh tập tục sinh hoạt hàng ngày như ăn, ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạt tôn giáo , như: “Cơm có bữa, chợ có chiều”, “Ếch tháng ba , gà tháng bảy”, “Tương cà gia bản”, “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”, “Bánh giầy nếp cái, con gái họ Ngô”, “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”, “Áo rách thay vai, quần rách đổi ống”, “Hết tang trải chiếu ngang mà ngồi” Có những câu ghi lại những đặc điểm trong tổ chức và tập tục của xã hội-đơn vị cơ sở của quốc gia phong kiến Việt Nam: “Phép vua thua lệ làng”, “Đất có lề, quê có thói”, “Sống lâu lên lão làng”, “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” Nhiều câu tục ngữ phản ánh tổ chức gia đình và những quan điểm thân tộc của nhân dân ta trong xã hội phong kiến: “Thế gian một vợ một chồng”, “Chết trẻ còn hơn lấy lẽ”,
“Cha truyền con nối”, “Chim có tổ người có tông” Tục ngữ còn phản ánh đời sống của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân khác nhau, chủ yếu là nông dân lao động: “Canh một chưa nằm, canh năm đã dậy”, “Con đóng khố, bố cởi truồng”, “Muốn nói oan làm quan mà nói”,“Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, “ Tuần hà là cha kẻ cướp” và tình hình đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân trong xã hội phong kiến: “Được làm vua thua làm giặc”, “Thượng đẳng
sợ kẻ bất đẳng”, “Quan bất phiền, dân bất nhiễu”, “Quan cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang” Bên cạnh đó, tục ngữ còn phản ánh khá đầy đủ những đức tính của nhân dân lao động như tính cẩn thận: “Một người biết lo bằng kho người hay làm”, tính cần cù “Siêng làm thì
có, siêng học thì hay”, tính kiên trì, nhẫn nại “Còn nước, còn tát”, tinh thần lạc quan "Sông có khúc, người có lúc”, “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, ý thức cao về cái đẹp của tâm hồn “ Tốt danh hơn lành áo”, “Đói cho sạch rách cho thơm”, “Cái nết đánh chết cái đẹp” Tình cảm gia đình cũng được phản ánh đa dạng, phong phú qua những câu tục ngữ: đó là tình cảm vợ chồng: “Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xương”, “Gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm”, “Vợ chồng đầu gối tay ấp” , tình cảm cha mẹ đối với con cái cũng như con cái đối với cha mẹ: “Con lên ba, mẹ sa xương sườn”, “trẻ cậy cha, già cậy con”, “nhiều con, giòn mẹ”,
“Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể” , tình cảm anh em: “ Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em”, “Con chị cõng con em, con em lèn con chị”, “Anh em hạt máu sẻ đôi” Một số câu
phản ánh sâu sắc truyền thống, tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của nhân dân lao động Đó là tư tưởng
nhân đạo chủ nghĩa chân chính Tư tưởng này này thể hiện ở sự quý trọng con người: “Người ta là hoa đất”, “Người sống, đống vàng”, “Người như hoa ở đâu thơm đó” ; đó là truyền thống yêu lao động, đánh giá cao lao động, xét đoán con người qua thái độ lao động: “Ăn không thì hóc, chẳng xay thóc phải ẳm em”,“Của một đồng, công một nén”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” ; lòng
Trang 12tự hào của nhân dân đối với đất nước giàu đẹp và con người tài hoa: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An”, “Ăn Bắc mặc Kinh”, “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”
Tóm lại, nội dung của tục ngữ bao hàm tất cả tinh hoa của tính cách, truyền thống dân tộc, nó
là một kho tàng phong phú và quý báu gồm những kinh nghiệm đời sống, lịch sử - xã hội đã tích lũy
lại được từ hàng nghìn năm lao động và đấu tranh của nhân dân ta Đó là những kiến thức của nhân
dân lao động thời xưa về khoa học - kỹ thuật, về lịch sử - xã hội, về triết học… Những kiến thức này tuy còn gắn chặt với kinh nghiệm nhưng so với những hình thức văn hóa tinh thần dân gian khác, đó là dạng kiến thức đã tiến gần hơn cả đến dạng kiến thức khoa học và trình độ nhận thức của nhân dân lao động thời xưa có thể đạt tới
Kho tàng tục ngữ Việt Nam còn có rất nhiều câu tục ngữ mới ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám Nhiều câu xuất hiện trên cơ sở cải biên những câu tục ngữ cũ Tục ngữ mới ra đời phản ánh được sự hình thành trong nhân dân Việt Nam nhiều phẩm chất mới Nội dung của chúng phản ánh cuộc sống mới của dân tộc ta Cụ thể, đó là cuộc kháng chiến chống xâm lược vĩ đại của dân tộc ta với chân dung sinh động về những người chiến sĩ trong chiến đấu cũng như những người lao động ở
hậu phương: “Gái mười bảy bẻ gãy cổ Mỹ”, “Ăn pháo thủ, ngủ lái xe”, “Đi dân nhớ, ở dân thương”,
“Đôi vai ngàn cân, đôi chân vạn dặm”, “Thính như tai lính phòng không”, “Hố phân đầy chôn thây giặc Mỹ” Một số đặc điểm quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nay được tổng kết dưới dạng tục ngữ: “Một tấc không đi, một ly không rời”, “Ngày đêm trông chờ, một giờ đứng lên” Đặc biệt tục ngữ mới giới thiệu và khẳng định những quan hệ xã hội mới tốt đẹp, trong
đó nổi bật lên mối quan hệ giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa Đảng và nhân dân: “Ý Bác lòng dân”,
“Đảng viên đi trước làng nước đi sau”, “Dễ mười điều không dân cũng chịu, khó trăm điều dân liệu cũng xong” Tục ngữ mới còn là vũ khí sắc bén của sự phê bình đối với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội mới “Đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị”, “Làm thì láo, báo cáo thì hay”
Tục ngữ mới vẫn đang trên đường phát triển Những câu tiêu biểu nhất trong tục ngữ mới xứng đáng có được một chỗ đứng quan trọng trong kho tàng tục ngữ quý báu của nhân dân ta
Tóm lại, từ những biểu hiện đa dạng, phong phú trong nội dung, tục ngữ thể hiện một số đặc điểm như sau:
*Tính lịch sử: Tục ngữ là sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân trong quá trình lao
động sản xuất và nhận thức thế giới khách quan Do trải dài theo thời gian, những dấu ấn lịch sử của
xã hội, của dân tộc dù ít dù nhiều cũng được lưu lại trong nhiều câu tục ngữ Thực tế việc xác định thời gian ra đời của tục ngữ không phải là dễ Rất nhiều câu đã bay rất xa, vượt thời gian và mang thêm cho mình một lớp nghĩa mới trong lớp vỏ bọc ngữ âm vốn có Theo chiều dài của lịch sử và sự
Trang 13đào thải của thời gian cũng có một số câu hiện không còn phù hợp với xã hội hiện tại, nhưng chúng vốn vẫn là những thành viên đã từng góp sức làm nên kho tàng tục ngữ Việt Nam
*Tính dân tộc: Nghiên cứu ngôn ngữ của một dân tộc, tất phải liên hệ đến lịch sử, văn
hóa… của dân tộc đó Có thể nói chính đặc điểm lịch sử, văn hóa dân tộc đã hóa thân vào từng câu tục ngữ khiến chúng thấm đượm tính dân tộc
Tính dân tộc của tục ngữ còn thể hiện ở sự khác nhau trong tập quán và chất liệu ngôn ngữ Cùng biểu đạt một ý nghĩa, cùng một quan hệ logic nhưng mỗi dân tộc lại có cách diễn đạt khác nhau
Tục ngữ còn là một kho tàng phong phú về tài liệu ngôn ngữ dân tộc, gồm hàng nghìn câu nói ở dạng làm sẵn, có thể dùng để diễn đạt hàng loạt những tư tưởng khác nhau từ những vấn đề cụ thể đến những vấn đề trừu tượng về thế giới khách quan và đời sống con người
1.1.2.2 Đặc điểm về thi pháp:
*Tính ngắn gọn, hàm súc: Tục ngữ ra đời bắt nguồn từ những nhận xét, phán đoán, suy
luận của con người về các hiện tượng của tự nhiên và xã hội Những nhận xét, phán đoán này cần phải được đúc rút lại thành những kinh nghiệm, chân lý Hơn nữa những kinh nghiệm này cần phải được lưu giữ, phổ biến từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác…nhưng sự lưu giữ và phổ biến này chủ yếu bằng con đường truyền miệng Do đó, tục ngữ cần phải thật ngắn gọn
để tiện lợi cho trí nhớ Vì vậy, câu càng ngắn gọn, hàm súc, càng gần với đặc trưng tục ngữ, ngược lại càng dài, càng xa tục ngữ và dài đến một độ nào đó thì mất tính tục ngữ, trở thành ca dao hoặc
vè Ý nhiều mà lại được gói trong một lượng lời ít, tiết kiệm ngôn ngữ đến mức tối đa, đó là nguyên tắc lớn nhất, là đặc điểm nổi bật nhất của sự sáng tạo tục ngữ Tục ngữ ưa nói ngắn, quen nói ngắn, nói ngắn một cách thường xuyên, cũng nội dung ấy nói càng ngắn càng hay Lời nói ngắn của tục ngữ (xét về hình thức biểu đạt) là cốt để nói nhiều (xét về phương diện nội dung), nghĩa là nhằm làm tăng mức độ khái quát cho bài học kinh nghiệm Câu tục ngữ bao giờ cũng ngắn Câu ngắn nhất
chỉ có ba tiếng: “May hơn khôn”, “Túng thì tính” Thông thường là những câu có từ 4 đến 8 tiếng:
“Mất con còn cháu”, “Bụt chùa nhà không thiêng”, “Buôn có một, bán có mười”, “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” Những câu dài nhất chỉ khoảng 15-18 tiếng nhưng số lượng này rất ít Ví dụ: “Đen đông, chớp lạnh, quái vàng hoa bầu, trong ba điều ấy có lành đâu” (15 tiếng), “Dưa La,
cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (16 tiếng), “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ” (18 tiếng)
Câu tục ngữ không chỉ ngắn gọn mà còn chặt chẽ, không một tiếng nào thừa Mỗi tiếng, mỗi từ đều cần thiết và đều đứng ở vị trí tối ưu đến mức chỉ một sự chuyển dịch nhỏ cũng đủ phá vỡ toàn bộ câu tục ngữ Gọn chắc là yêu cầu cao nhất của sự sáng tạo tục ngữ Câu càng gọn chắc với
số tiếng càng ít thì nội dung càng hàm súc, ý càng nhiều Trong thực tế ứng dụng, người ta có thể
Trang 14chen thêm các kết từ hoặc các cụm từ có giá trị nối hai vế của câu tục ngữ Và như vậy, trên nền nghĩa cơ bản vốn có, câu tục ngữ đã có sự nới rộng nghĩa Nhờ tỉnh lược đi một từ (hoặc cụm từ) mà câu tục ngữ có thêm biết bao hàm nghĩa và do đó, chức năng ứng dụng thực hành càng được mở ra một phạm vi rộng rãi biết bao nhiêu Hoàng Tiến Tựu đã nói: “Trong tục ngữ có những hệ từ và từ liên kết (thì, là, mà, nhưng, bởi, vì vậy, do đó, cho nên, vả chăng, song le, tuy thế ) thường bị bỏ đi
và nhiều khi cả những thành phần cơ bản của câu (như chủ ngữ, vị ngữ, ) cũng bị tỉnh lược Do đó, mối quan hệ giữa các phán đoán cũng như hình thức suy luận của nhân dân thường không được thể hiện rõ trong tục ngữ” [256, 122] Như vậy, sự cô đọng, hàm súc của tục ngữ là do chủ ngữ, vị ngữ
và các hệ từ, kết từ bị tỉnh lược Trong khi đó, các từ còn lại đều rất cần thiết, không thừa Hơn nữa, tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm ở dạng khái quát Dễ thấy nhất là ở tục ngữ không có loại từ, đại
từ chỉ định, không có hạn định về thời gian-không gian một cách rõ ràng mà là phiếm định Chẳng
hạn, tục ngữ nói “con gà tức nhau tiếng gáy” chứ không thể nói “con gà chuồng này tức nhau tiếng
gáy”
Câu tục ngữ là những loại câu tương ứng với các phán đoán Nhưng ở dạng câu rút gọn, có thành phần bị tỉnh lược thì kết cấu không còn phù hợp hoàn toàn với kết cấu logic của phán đoán
Thử xét câu “Lời nói gói bạc” Đây là một câu rất cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa Do đó trong ứng
dụng thực tế người ta có thể mở rộng nội dung, ý nghĩa câu tục ngữ bằng cách chêm xen các kết từ hoặc hiểu ngầm nghĩa khi đặt vào một ngữ cảnh cụ thể và phù hợp với dụng ý của người sử dụng Người ta có thể chêm xen như sau:
- Lời nói quý như gói bạc
- Lời nói quý hơn gói bạc
- Lời nói chỉ bằng gói bạc
- Lời nói phải kèm gói bạc
- Lời nói đi sau gói bạc
- Lời nói làm ra gói bạc
Nếu câu trên có dạng cố định như một trong những dạng chêm xen trên thì nội dung của nó
sẽ bị hạn hẹp, bị “chết cứng” trong một nghĩa Tức là các hệ từ, kết từ sẽ hiện thực hóa nội dung, ý nghĩa của câu tục ngữ Như vậy, tính ngắn gọn, hàm súc, cô đọng do tỉnh lược của tục ngữ là một
“mã nghệ thuật”, một “tiềm năng tiếp nhận”
*Tính đối xứng: Đây là một đặc điểm nổi bật của câu tục ngữ Nó không những góp phần
tạo nên tính ngắn gọn, chặt chẽ của lối nói trong tục ngữ mà còn tạo nên tính nhịp nhàng, dễ làm
“ngọt tai” người tiếp nhận Bởi lẽ tiếng Việt vừa là thứ tiếng đơn âm tiết vừa là thứ tiếng giàu thanh điệu có rất nhiều điều kiện để tạo nên tính hòa đối Kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu có
Trang 15tính chất đối xứng Hình thức cú pháp của tục ngữ thường rất phức tạp, đa dạng Có hai kiểu câu đối xứng trong tục ngữ là câu đối xứng đơn và câu đối xứng kép
-Câu đối xứng đơn: là câu đảm bảo được hai đặc điểm sau:
Về mặt logic: nội dung của mỗi câu tục ngữ là một phán đoán
Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu đơn mà mỗi thành phần câu tương đương với một vế
Thí dụ: “Con gái là cái bòn”,“Của mua là của được”, “Tham thì thâm”
-Câu đối xứng kép: là câu đảm bảo đủ hai yêu cầu sau:
Về mặt logic: có sự liên kết hai hoặc hơn hai phán đoán
Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu phức mà mỗi thành phần câu tương đương với một câu đơn Thí dụ: “Trẻ dôi ra, già rụt lại”, “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, “Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cổ”
Trong hai loại câu đối xứng trên thì câu đối xứng kép phổ biến hơn, chiếm số lượng nhiều hơn và căn bản đáp ứng, thỏa mãn được những yêu cầu, đặc điểm của một câu tục ngữ có tính đối xứng Chúng tôi xin lấy một câu tục ngữ cụ thể thuộc loại đối xứng kép, có phân tích để thấy rõ hơn
tính đối xứng của tục ngữ: “Đói ăn vụng, túng làm liều” Ta thấy câu tục ngữ bao gồm 6 tiếng, tạo
thành hai vế đối xứng nhau, mỗi vế gồm có 3 tiếng Tính đối xứng được thể hiện ở các bình diện sau:
-Đối ý: là đối xứng giữa hai vế của câu tục ngữ với nhau về ý (đói ăn vụng đối với túng làm liều) Quan hệ đối ý này được thể hiện qua kiểu cấu trúc so sánh trùng điệp có dạng a=b Nghĩa là
hai vế của câu tục ngữ đối ý nhau nhưng có tác dụng liên kết, bổ sung cho nhau nhằm tô đậm, khẳng định một ý chung
-Đối lời: là sự đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của câu tục ngữ Đối lời có quan hệ chặt chẽ với đối ý đã nói ở trên, vì nhờ có quan hệ đối lời mà quan hệ đối ý mới có và thể hiện ra được
Cũng trong câu tục ngữ trên, quan hệ đối lời được thể hiện như sau: Đói đối xứng với túng, ăn vụng đối xứng với làm liều Cần nói thêm rằng, sự đối ý, đối lời trong câu trên được xác lập nhờ vào
thuộc tính tương đồng về ngữ pháp- ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong hai vế đó Cụ thể:
Nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế đều thuộc cùng một
phạm trù ngữ nghĩa: Đói/ túng: đều thể hiện trạng thái, hoàn cảnh của con người; Ăn vụng / làm liều: đều là hiện tượng, việc làm xấu của con người
Các yếu tố đối xứng phải cùng từ loại: Đói/ túng: đều là tính từ; Ăn vụng/ làm liều:
đều là động từ
Thực tế thì các dạng đối trong tục ngữ rất nhiều Quan hệ giữa các vế cũng rất nhiều loại, muôn màu muôn vẻ, thêm vào đó hình thức cú pháp của tục ngữ thường rất phức tạp, đa dạng Do
Trang 16vậy, việc tìm hiểu cấu trúc đối xứng có ý nghĩa rất quan trọng, giúp ta hiểu đúng nội dung, ý nghĩa câu tục ngữ
*Tính vần điệu: đây là yếu tố không thể thiếu trong việc tạo dựng cấu trúc của câu tục ngữ
cả về phương diện hình thức nghệ thuật lẫn phương diện nội dung
Về vần: Vần là “chất keo” có chức năng kết dính, liên kết các yếu tố, các vế để tạo thành
một phát ngôn hoàn chỉnh, chặt chẽ, bền vững, khó bị tan vỡ Bên cạnh đó, nhờ vần điệu mà câu tục ngữ có âm hưởng mượt mà, xuôi tai, thuận miệng, người tiếp nhận tục ngữ có thể nhớ, thuộc, vận dụng một cách dễ dàng hơn Có hai loại vần trong tục ngữ là vần sát và vần cách
+Vần sát: là khuôn vần được láy lại liền sau nó, giữa chúng không có yếu tố trung gian và
chúng thường xuất hiện ở vị trí giữa câu Những câu có vần sát như: “Hay ở, dở đi”, “Được làm vua, thua làm giặc”, “Gạo da ngà, nhà gỗ lim”, “Xa mỏi chân, gần mỏi miệng”, “Ngày lắm mối, tối
nằm không”
+Vần cách: là những khuôn vần được láy lại mà giữa chúng có yếu tố trung gian và thường
xuất hiện ở các vị trí khác nhau trong câu Những câu có vần cách như: “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”, “Chết trong còn hơn sống đục”, “Việc người thì sáng, việc mình thì quáng”
Về nhịp: nhịp là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên và làm rõ tình đối xứng của câu tục ngữ
Thực tế thì nhịp trong tục ngữ rất đa dạng, linh hoạt, “tự do” Sự đa dạng của nhịp được biểu hiện ở một số khía cạnh:
Cùng một câu tục ngữ nhưng khi nói có thể ngưng giọng ở những chỗ khác nhau sẽ tạo nên những sự ngắt nhịp khác nhau Ví dụ:
-Dâu hiền hơn/ con gái
Dâu hiền/ hơn con gái
-Rể hiền hơn / con trai
Rể hiền / hơn con trai
Giữa nhịp (hình thức) và ý nghĩa (nội dung) của một câu tục ngữ có liên quan mật thiết với nhau
Trong một câu tục ngữ có thể có nhiều loại nhịp đan xen với nhau Ví dụ: “Ruộng bề bề/ không bằng/ nghề trong tay” (nhịp 3/2/3); “Chăn tằm / kiếm cá/ nuôi con/ trong ba việc ấy/ ai còn khoe hay” ( nhịp 2/2/2/4/4); “Lúc thì chẳng có ai/ lúc thì ông xã/ ông cai đầy nhà (nhịp 5/4/4) Phần lớn các câu tục ngữ nhịp trùng với ranh giới giữa các vế có số lượng tiếng bằng nhau, đối nhau Thí dụ: “Tay đứt/ ruột xót”, “Nhất nghệ tinh/ nhất thân vinh”, “Quan cứ lệnh/ lính cứ truyền”
Trang 17Đối với những câu tục ngữ bị tỉnh lược kết từ thì vai trò của nhịp vô cũng quan trọng, nó trở thành nơi “trú ẩn” của trục đối xứng Còn đối xứng với những câu có thể chêm xen những kết từ khác nhau thì nhịp của nó cũng thay đổi và dĩ nhiên ngữ nghĩa cũng thay đổi ít nhiều Dựa vào nhịp của tục ngữ, chúng ta có thể phân tích và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo trong giao tiếp
Cần lưu ý rằng, nhịp dù linh hoạt đến đâu cũng phải ăn nhập với ý vì nó là một trong những hình thức thể hiện ý của tục ngữ
Như vậy, nhịp và vần luôn gắn bó với nhau để tạo nên tính nhạc, sự hài hòa, sinh động, cân đối cho câu tục ngữ Nhịp và vần còn làm cho tục ngữ dễ ăn sâu vào trí nhớ con người Trong tục ngữ, vần và nhịp tự nhiên đồng thời là vần và nhịp logic giữa các vế Nhịp và vần cũng góp phần làm cho tục ngữ mặc dù là câu nói dùng hằng ngày nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
*Tính hình tượng: Tục ngữ rất giàu hình tượng Những quan sát cụ thể về thiên nhiên, cuộc
sống xung quanh đã giúp nhân dân tìm được kho hình tượng ẩn dụ, so sánh, nhân hóa… vô tận, ngụ suy nghĩ, tình cảm của mình Hình tượng tạo nên vẻ đẹp tươi mát, sinh động, tính hàm súc và trong nhiều trường hợp tạo khả năng mở rộng nghĩa cho tục ngữ Từ quan sát cụ thể đi tới hình ảnh, từ hình ảnh cụ thể, giản đơn nâng lên thành hình ảnh khái quát và từ hình ảnh khái quát vận dụng vào các hiện tượng cuộc sống- đó là quy luật, con đường sáng tạo, sử dụng hình tượng của nhiều câu tục ngữ Cũng nhờ hình tượng chính xác, sinh động, cụ thể và khái quát, kinh nghiệm, chân lý của tục ngữ trở nên có sức thuyết phục hơn Tục ngữ không đơn thuần chỉ là những hình thức nhận thức duy
lý mà còn là những hình thức đánh giá thẩm mỹ về các hiện tượng tự nhiên, xã hội Hình tượng trong tục ngữ được tạo ra bằng nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ, cường điệu
So sánh (tỉ dụ): là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở
đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng làm nổi bật đặc điểm, đặc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia Trên thực tế, những câu tục ngữ dùng thủ pháp so sánh rất nhiều: “Người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân”, “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, “Gái có chồng như gông đeo cổ, gái không chồng như phản gỗ long đanh”,
“Miệng quan trôn trẻ”
Ẩn dụ (so sánh ngầm): đây là biện pháp nghệ thuật phổ biến trong tục ngữ Biện pháp này sử
dụng phương pháp tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự nhẳm thể hiện cái này qua cái kia mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi một cách kín đáo Đây là lối nói bóng gió, ngụ ý Do lối nói này mà tục ngữ gợi lên sự liên tưởng phong phú khi muốn xác định ý nghĩa của nó Nghĩa là tục ngữ sử dụng lối nói gián tiếp, ngầm ẩn mà muốn nắm được ẩn ý phải qua công phu khai thác,
suy luận Đây là phương thức phổ biến nhất trong tục ngữ Chẳng hạn: “Giấy rách phải giữ lấy lề”,
Trang 18“Tre già măng mọc”, “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, “Con sâu bỏ rầu nồi canh”, “Sẩy đàn tan nghé”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Nhân hóa: là cách thức gán cho sự vật vô tri, đối tượng trừu tượng đặc tính của con người
thể hiện ở động từ, tính từ chỉ hành động hoặc phẩm chất riêng vốn có ở con người Trong tục ngữ
nhân hóa thường được sử dụng kèm với ẩn dụ: “Lá lành đùm lá rách”, “Con voi voi dấu, con chấu chấu yêu”, “Cái nết đánh chết cái đẹp”, “Mèo khoe mèo dài đuôi”
Tóm lại, những đặc điểm thi pháp của tục ngữ biểu hiện một cách tập trung những đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam Chính vì thế, tục ngữ Việt Nam không chỉ là kho tàng kinh nghiệm, tri thức vô cùng phong phú và quý giá, nó còn là một kho mỹ từ pháp, là những văn bản mang tính nghệ thuật tiêu biểu cho lời ăn tiếng nói của nhân dân
1.2Tục ngữ- một thể loại văn học dân gian giàu tiềm năng nghiên cứu:
Tục ngữ là một hiện tượng văn hoá đa diện, đa dạng Tục ngữ tồn tại như lời nói, chứ không phải là lời kể, lời hát như các thể loại khác của sáng tác truyền miệng dân gian Chức năng quan trọng và cơ bản nhất của tục ngữ là diễn đạt, truyền bá kinh nghiệm đời sống Các thể loại khác cũng có chức năng này nhưng không trực tiếp, tập trung Kinh nghiệm đời sống trong tục ngữ so với các thể loại khác cũng toàn diện và đa dạng hơn Bởi vì đề tài của nó rất rộng, bao quát hầu như tất
cả các lĩnh vực của thực tại, trong khi các thể loại khác có đối tượng phản ánh giới hạn hơn
Tục ngữ phản ánh không chỉ những kinh nghiệm được nhìn thấy, nghe thấy từ các giác quan bên ngoài, mà cả những kinh nghiệm được nhìn nhận, suy ngẫm từ các giác quan bên trong tinh tế của con người
Ngoài ra, tục ngữ còn là một tác phẩm nghệ thuật, một kho mỹ từ pháp, một kho kinh nghiệm sử dụng lời nói để tổng kết tri thức, diễn đạt tư tưởng rất lâu đời, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc
Vì vậy, có thể nói, tục ngữ là một thể loại, một văn bản nhỏ nhất, nhưng không kém phần phức tạp Do đó, ở Việt Nam, từ lâu gia tài tục ngữ đã từng lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà hoạt động văn hóa khoa học và đã từng được nhiều ngành khoa học khác nhau tìm hiểu và khai thác Bên cạnh đó, tục ngữ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ, hiện tượng của tư duy mà còn
là hiện tượng của văn học dân gian Vì thế, sự diễn đạt của nó đã hấp dẫn, lôi cuốn các nhà ngôn ngữ, các triết gia và các nhà văn hoá dân gian Cho nên, tục ngữ không chỉ là đối tượng của nghiên cứu văn học mà còn là đối tượng của các bộ môn: văn hóa học, sử học, dân tộc học, triết học, ngôn ngữ học, đạo đức học…Từ tục ngữ, các nhà khoa học ở những lĩnh vực khác nhau có thể nghiên cứu những giá trị khác nhau, phát hiện ra những vấn đề khác nhau Trong khi nhà nghiên cứu văn học chú ý vào vẻ đẹp của tư duy sáng tạo thể hiện qua tục ngữ thì nhà dân tộc học lại say sưa khám phá những tri thức về phong tục tập quán, kiến trúc làng xã, những ứng xử đạo đức tinh thần… Nhà sử
Trang 19học lại nhìn thấy ở tục ngữ những dấu ấn của từng thời đại, cấu trúc xã thôn và những quan hệ chính trị- kinh tế- văn hóa được lưu lại trong mỗi sáng tác tục ngữ Mỗi ngành khoa học xã hội và cả một
số ngành khoa học tự nhiên (địa lý, thiên văn, khí tượng…) đều có thể nghiên cứu tục ngữ Từ lâu, tục ngữ đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và ở góc độ nào cũng đem đến cho chúng ta những điều thú vị Từ thành thị đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi xa xôi, ở đâu có cuộc sống con người thì ở đó có tục ngữ Tục ngữ không ngừng được sáng tạo và lưu truyền rộng rãi trong dân gian Tục ngữ của người Việt cũng như của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam đã và đang
là nguồn đề tài vô hạn cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm khai thác, tìm hiểu
Đây là một đối tượng nghiên cứu nhận được những kiến giải, nhìn nhận chưa được thống nhất ở các nhà nghiên cứu đi trước Có những câu tục ngữ ra đời từ khi mới có ngôn ngữ của con người, được lưu truyền và tích lũy cho tận đến ngày nay Có những câu của các thời đại, các thế hệ khác nhau trong quá khứ cũng như trong hiện tại, lại có những câu mới xuất hiện Bên cạnh rất nhiều câu tục ngữ toàn dân còn có không ít những bộ phận có nguồn gốc, xuất xứ khác nhau Có tục ngữ từ các địa phương, các vùng trên lãnh thổ, có tục ngữ từ các nhóm thuộc tầng lớp xã hội, nghề nghiệp khác nhau…Chưa kể đến những tục ngữ mượn từ các ngôn ngữ khác như từ các dân tộc anh
em, các tiếng nước ngoài… Như vậy, làm sao con người có thể biết hết, hiểu hết, giải thích được hết cùng một lúc Mặt khác, là những phán đoán, nhận định, những lời nói, kinh nghiệm rút ra từ tri thức thực tiễn cuộc sống của xã hội loài người, tục ngữ vừa có sự phong phú về nội dung, ý nghĩa, vừa đa dạng về hình thức cấu tạo Phần lớn tục ngữ cũ lại được qua tay hàng triệu con người trong đời sống hàng ngày, đi vào văn chương, qua các thời đại đã trở thành những sản phẩm sáng tạo đặc thù của nhân dân Bởi thế, có những câu tục ngữ hết sức dễ hiểu, quen thuộc với mọi người, thậm chí có thể hiểu được ngay, cả đối với trẻ em người bản ngữ chưa có nhiều vốn sống Bên cạnh đó, còn có một bộ phận không nhỏ những câu ít dùng, ít người biết đến và đôi khi rất khó hiểu, khó giải thích, vì chúng được cấu tạo cả bằng những từ cổ, từ địa phương hoặc bằng những cách nói riêng rất độc đáo, hàm súc và phần nào được cách điệu hóa, có khi tưởng như xa lạ với cách nói, cách nghĩ của con người hiện nay Cho nên, việc nhận thức về tục ngữ là điều không đơn giản
Đây là một đối tượng phong phú, đa dạng mà không thể thu hẹp, giới hạn ở mức độ có thể cho là đủ bởi nếu làm như vậy kết quả nghiên cứu sẽ trở nên lạc lõng khi có những bằng chứng dựa trên một cứ liệu đầy đủ hơn Một di sản mênh mông cực kỳ phong phú, đa dạng, dân tộc nào cũng
có hiện còn bao nhiêu bí ẩn bên trong cái thế giới tưởng là đơn giản đó nhưng vẫn còn thách đố khoa học, nhiều môn học mới, nhiều cách tiếp cận mới đã ra đời Giao lưu quốc tế càng mở rộng, càng đòi hỏi sự tự giới thiệu lẫn nhau về trí tuệ và kinh nghiệm truyền thống… Vì vậy, sự giàu có, phong phú của tục ngữ Việt Nam là kết quả của nhiều công phu khai thác, tích lũy, quản lý một cách có tổ chức, có kế hoạch Hơn nữa, vẻ đẹp của tục ngữ không bộc lộ một cách dễ thấy mà phải
Trang 20qua sự cắt nghĩa, phân tích của nhiều người, nhiều thế hệ mới bộc lộ được nhiều khía cạnh ẩn náu bên trong, phát huy được bản chất trong sáng của nó
1.3Vài nét về tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu tục ngữ trước 1975:
Từ những năm đầu thế kỷ XX, tuy khoa nghiên cứu văn học dân gian nước ta chưa ra đời nhưng đã có nhiều nhà nho ghi chép, biên soạn tục ngữ Nhìn chung chưa có quan niệm xác đáng, khoa học về tục ngữ với tư cách là một thể loại văn học dân gian Trong một thời gian dài tục ngữ được quan tâm chủ yếu trên phương diện sưu tầm, biên soạn Bên cạnh những công trình sưu tầm còn có những tài liệu thích ngữ và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp của người Pháp hoặc của
người Pháp làm chung với người Việt như phần Tục ngữ, thành ngữ trong sách Quảng tập viêm văn (Chreastomathie annamite) của E Nordemann; bài viết về Tín ngưỡng và tục ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Sơn, Quảng Bình (Croyances et dicteens populair de la valle1e de Nguồn Sơn, Quảng
Bình) của linh mục L.Cadiè đăng trên BEFEO, I, 1909)…
Về nghiên cứu tục ngữ, theo trình tự thời gian, có một số công trình sau đây:
+Phạm Quỳnh (1921),“Tục ngữ ca dao”, Tạp chí Nam Phong, HN, (số 46)
+Phan Khôi (1929),“Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta”,
Báo Phụ nữ tân văn, Hà Nội, (số 5,7,8,12,13,14,15,16,17,18)
+Tản Đà (1932),“ Phong dao tục ngữ”, An Nam tạp chí, HN, (số 45)
+Phan Khôi (1939),“Tục ngữ, phong dao và địa vị của nó trong văn học”, Tạp chí Tao đàn,
Trang 21+Hoa Bằng (1944),“ Tục ngữ, ca dao nguồn văn liệu rất phong phú”, Tạp chí Tri Tân, HN,
+Lê Văn Hòe (1953),“Tục ngữ lược giải”, Nxb Quốc học thư, HN
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Trong tình hình đất nước ổn định, các nhà nghiên cứu có điều kiện cần thiết để nghiên cứu tục ngữ Một số các công trình sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ lần lượt ra đời Về sưu tầm, biên soạn tục ngữ, có thể kể đến
công trình sau: “Một ít ca dao tục ngữ (tìm trong vốn cổ)”(1956), tạp chí Văn Nghệ, HN, (số 127),
(số 128), (số 129) do Thạch Hãn (sưu tầm)
Trong giai đoạn này, nhiều vấn đề của tục ngữ đã được đề cập, trong đó vấn đề nội dung
được nhiều tác giả lưu tâm Có thể kể đến các công trình: “Giải thích vài tục ngữ về trồng lúa” (1958), Nxb Nông Thôn, HN của Tam Phương; “Kinh nghiệm làm chiêm qua ca dao, tục ngữ”, (1961), Nxb KH, HN của Ngô Xuân Minh, Trần Văn Doãn; “Kỹ thuật sản xuất qua tục ngữ và ca
dao Việt Nam”(1961), tạp chí Phổ thông, Sài Gòn, số 51 của Lê Huy Cận; “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (1965), Nxb KHXH, HN của Vũ Ngọc Phan; “Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao về lời
ăn tiếng nói” (1969), tạp chí Ngôn ngữ, HN, số 2 của Anh Đào; “Tính chất nhân bản của tục ngữ,
ca dao” (1969), tạp chí Phổ thông, Sài Gòn, số 218 của Trần Đức Rật, “Tìm hiểu phong cách ăn của dân tộc (qua ca dao, tục ngữ)” (1970), báo Văn nghệ, (số 355-356) của Từ Giấy; “Rượu qua
ca dao, tục ngữ Việt Nam” (1972), tạp chí Văn học, Sài Gòn, số 147 của Đỗ Nam Bên cạnh đó,
các vấn đề nhận diện tục ngữ cũng được giới nghiên cứu tìm cách lý giải Đó là các bài viết “Ranh
giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, (1972), tạp chí Ngôn ngữ, HN, (số 3) của Nguyễn Văn Mệnh;
“Góp ý kiến về sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ”, 1973, tạp chí Ngôn ngữ, HN, (số 1), của Cù Đình Tú Tìm hiểu sự vận dụng của tục ngữ cũng được Lê Anh Trà nghiên cứu qua bài viết “Cách
viết của Hồ Chủ tịch” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, HN, (số 5), năm 1960; Nguyễn Phan
Cảnh với bài viết “Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ tịch qua “ Những lời kêu gọi” in trong tạp chí Văn học, HN, số 6 năm 1965; Cù Đình Tú với bài viết “Hồ Chủ tịch dùng thành
ngữ”, tạp chí Ngôn ngữ, HN, (số 2), năm 1970 Mối quan hệ giữa tục ngữ và các thể loại văn học
dân gian khác đã được Trần Đức Các tìm hiểu qua công trình “Tục ngữ với câu thơ lục bát trong
ca dao, dân ca” đăng trên tạp chí Văn học, HN, (số 1), năm 1973
Trang 22Nhìn chung, trước năm 1975, các công trình nghiên cứu có số lượng chưa nhiều, các vấn đề của tục ngữ cũng được tìm tòi nhưng chưa bao quát, toàn diện Trong đó, vấn đề nội dung đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm nhiều nhất nhưng chưa lý giải triệt để với nhiều góc độ qua nhiều ngành khoa học khác nhau Ngoài ra, vấn đề thi pháp tục ngữ cũng được khám phá nhưng chưa sâu sắc trên nhiều bình diện để tìm ra mọi “bí mật” làm nên sức mạnh biểu đạt của tục ngữ
1.3.2 Tình hình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay:
Năm 1975, đất nước hòa bình, thống nhất đã tạo tiền đề và mở ra một triển vọng tốt đẹp cho
sự phát triển của khoa học, trong đó có ngành nghiên cứu văn hóa dân gian Về mặt tố chức, hội Văn nghệ dân gian Việt Nam được củng cố: năm 1989, đại hội lần thứ hai; năm 1995, đại hội lần thứ ba; năm 2000, đại hội lần thứ tư Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian cũng được thành lập (1983) Trong và sau thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988- 1997), công việc nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trước, tuy khó khăn vẫn còn không ít Việc sưu tầm cũng như nghiên cứu văn học dân gian, trong đó có tục ngữ đã được quan tâm Với phương châm bảo tồn và phát huy vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc, các công trình nghiên cứu về văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, thành ngữ, vè…) được khuyến khích xuất bản Các nhà nghiên cứu có điều kiện khai thác vốn tục ngữ trên mảnh đất non sông liền một dải Kho tàng tục ngữ như một mảnh đất màu mỡ cho các nhà nghiên cứu tìm tòi, khai phá
Từ 1975 đến nay, ở các trường đại học và viện nghiên cứu đã có nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chọn đề tài nghiên cứu tục ngữ, theo trình tự thời gian, có các công trình sau:
“Vị trí của tục ngữ trong mối quan hệ với một số thể loại folklore và văn học thành văn” của
Trần Đức Các, luận án Tiến sĩ, năm 1992
“Khảo sát việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong “Kho tàng ca dao người Việt”của Hồ
Tuyên, luận văn Cử nhân, năm 1996
“Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao tục ngữ”
của Trần Thúy Anh, luận văn Thạc sĩ, năm 1998
“Tục ngữ ca dao và việc phản ánh danh lam thắng cảnh” của Tạ Thị Hương, luận văn Cử
nhân, năm 1998
“Con số trong ca dao, tục ngữ”của Phan Thị Hoa Lý, luận văn Cử nhân, năm 1999…
“Tục ngữ Việt Nam, bản chất thể loại qua hệ thống phân loại” của Nguyễn Việt Hương, luận
án Tiến sĩ, năm 2001
“Cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ Việt (trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân
tộc khác” của Nguyễn Quý Thành, luận án Tiến sĩ, năm 2002
“Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ Nghệ Tỉnh (trong quan hệ với văn hóa địa phương)” của Nguyễn Trí Sơn, luận án tiến sĩ, năm 2004
Trang 23“Khảo sát một số câu tục ngữ có nhiều cách hiểu” của Nguyễn Thanh Đảm, luận văn Thạc sĩ,
năm 2007
“Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Văn Nở, luận án Tiến sĩ, năm 2007
“Khảo sát việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trên báo chí” của Võ Nguyễn Bích Duyên,
luận văn Cử nhân, năm 2008
“Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam” của Nguyễn Thị Thịnh, luận văn
Thạc sĩ, năm 2008
Nhiều tạp chí công bố các công trình nghiên cứu về tục ngữ: Văn học, Ngôn ngữ, Ngôn ngữ
và đời sống, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật…
Bên cạnh đó, Nxb Khoa học xã hội, Nxb Văn học… đã công bố rất nhiều công trình nghiên
cứu cũng như các chuyên luận có giá trị về tục ngữ
Lực lượng nghiên cứu tục ngữ trong giai đoạn này rất phong phú Đó là những tác giả dày dặn kinh nghiệm và có tên tuổi đã được giới học thuật cũng như công chúng biết đến như Chu Xuân
Diên với “Tục ngữ Việt Nam” (1975),Vũ Ngọc Phan với “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (1975), Nguyễn Xuân Kính-Phan Hồng Sơn với “Tục ngữ Việt Nam” (1995), Nguyễn Lân với “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (1994), Vũ Dung với “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (1995), Vương Trung Hiếu với “Tục ngữ Việt Nam chọn lọc”(1996) , Việt Chương với “Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam”(1995), Trần Mạnh Thường với “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (1996), Các tác giả Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Nghĩa Dân, Nguyễn Việt
Hương, Nguyễn Văn Nở, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dương, Đỗ Bình Trị, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Thái Hòa, Phan Thị Đào với nhiều công trình nghiên cứu tục ngữ có giá trị Ngoài ra còn
có một số tác giả trẻ đã tìm hiểu tục ngữ ở nhiều hướng mới Các tìm tòi của họ phần lớn được đăng trên “Ngữ học trẻ”(Kỷ yếu hội thảo ngôn ngữ học do hội Ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức vào mùa xuân hàng năm, bắt đầu từ năm 1996) Theo tiến trình thời gian, có thể điểm qua một số công trình sau:
+Nguyễn Phương Trang (1998), “Hai hiện tượng gieo vần đặc biệt trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt”, Ngữ học trẻ, hội Ngôn ngữ học VN
+Nguyễn Thị Hương (1999), “Đặc trưng ngữ pháp-ngữ nghĩa của lớp từ chỉ đơn vị tính toán,
đo lường trong tục ngữ”, Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ học VN
+Nguyễn Quý Thành (2000), “Cấu trúc cú pháp ngữ nghĩa của những câu tục ngữ Việt có dạng A là B”, Ngữ học trẻ, Hội ngôn ngữ học VN
+ Nguyễn Trí Sơn (2000), “Những kinh nghiệm trồng lúa ở xứ Nghệ qua thành ngữ, tục ngữ và phương ngôn”, Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ học VN, HN
Trang 24+Nguyễn Văn Nở (2002), “Hình ảnh sông nứớc trong tục ngữ Việt Nam”, Kỷ yếu Ngữ học trẻ,
đề của tục ngữ cũng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, khai phá Cụ thể, về vấn đề nội dung, các công trình đã khai thác sự đa dạng, phong phú của nội dung, những quan niệm về nghĩa của tục ngữ
và giải thích ý nghĩa của từng câu tục ngữ Nghiên cứu thi pháp tục ngữ, các nhà nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu cú pháp, vần nhịp, sự hòa đối và phương thức tạo nghĩa Ngoài ra, tục ngữ cũng được
lý giải, tìm tòi qua các vấn đề nhận diện, so sánh, vận dụng, mối quan hệ giữa tục ngữ với một số thể loại văn học dân gian khác, khai thác tục ngữ phục vụ cho hôm nay và cội nguồn tục ngữ
Có thể nói, nghiên cứu tục ngữ Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Hàng loạt những công trình có quy mô lớn, nhỏ xuất hiện qua các sách báo, các hội thảo ở trung ương và địa phương đã tạo ra một bức tranh đa dạng trong lịch sử nghiên cứu văn học trong nước Hơn thế nữa, sự phong phú của các công trình nghiên cứu tục ngữ về số lượng lẫn chất lượng đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại, góp phần rất lớn vào tiến trình phát triển của văn học Việt Nam
Trang 25Chương 2: NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ NỘI
DUNG TỤC NGỮ VIỆT NAM
Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong “Từ điển thuật ngữ
văn học”, nội dung của tác phẩm văn học là “hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm
nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn” [66, 240] Nói một cách khác, nội dung tác phẩm văn
học là toàn bộ hiện thực được phản ánh chứa đựng trong một hình thức nghệ thuật nào đó, thông qua ngôn ngữ và hình tượng văn học.Vì vậy, nội dung của tục ngữ cũng là toàn bộ hiện thực được chứa đựng trong nó, là các kinh nghiệm đời sống, xã hội, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân,
có khi được tổng kết lại dưới dạng các tư tưởng triết lý dân gian, là giá trị phản ánh sinh hoạt, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân lao động
2.1 Tìm hiểu các công trình:
2.1.1 Sự phong phú, đa dạng của nội dung tục ngữ:
Tục ngữ là một thể loại đặc biệt trong văn học dân gian Tuy ngắn gọn nhưng phạm vi phản ánh của tục ngữ rất rộng Tất cả các lĩnh vực của đời sống con người đều là đối tượng phản ánh của tục ngữ, tục ngữ còn là nguồn tư liệu phong phú không thể bỏ qua khi nghiên cứu những đối tượng thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau
Một trong những công trình nghiên cứu nội dung tục ngữ công phu và có giá trị cao đó là
“Tục ngữ Việt Nam” năm 1975 của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Phần nội dung tục ngữ được Chu Xuân Diên phân tích rất sâu sắc qua chương II: “Tục ngữ và lối sống của thời đại” Đó là những tri thức về giới tự nhiên, con người và đời sống con người trên cả
ba lĩnh vực: đời sống vật chất, xã hội và tinh thần Xuất phát từ quan niệm tục ngữ không những là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là hiện tượng ý thức xã hội, tác giả đã nghiên cứu tục ngữ không chỉ là sản phẩm của hoạt động nhận thức mà còn là công cụ của hoạt động nhận thức Từ nội dung, người viết đã phân tích tổng hợp để đi đến nhận định tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội hỗn hợp thuộc lĩnh vực nhận thức khoa học và lĩnh vực nhận thức nghệ thuật Theo ông: “Nội dung tư tưởng của tục ngữ không chỉ gắn với những hiện tượng lịch sử-xã hội nhất định, mà còn có khả
năng không ngừng mở rộng để trở thành công cụ nhận thức”[37,115]
Giới thiệu khái quát nội dung tục ngữ còn có các công trình “Văn học Việt Nam” (năm 2004) của Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, “Tổng tập văn học dân gian người
Việt”(năm 2002) của Nguyễn Xuân Kính (Phần “Khải luận về tục ngữ”) Đó là những kinh nghiệm
trong lao động, chăn nuôi, chài lưới, các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, phong tục, tập quán sinh hoạt của nhân dân các vùng quê khác nhau, cách ứng xử của nhân dân và những yếu tố triết học
thô sơ Triều Nguyên trong công trình “Khảo luận về tục ngữ người Việt” năm 2007 đã thống kê
những câu tục ngữ theo 4 chủ đề lớn và 75 tiểu chủ đề: quan hệ của con người với giới tự nhiên, con
Trang 26người với đời sống vật chất, con người với đời sống xã hội, những quan niệm đa dạng về nhân sinh,
vũ trụ Từ đó, ông lý giải nội dung tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng như chính cuộc sống mà nó phản ánh
Bên cạnh những công trình giới thiệu, miêu tả nội dung tục ngữ là các công trình đánh giá tổng quát về nội dung tục ngữ ở các phương diện đề tài hay nội dung phản ánh của tục ngữ Việt, tính nhiều nghĩa của tục ngữ Có thể kể đến nhóm tác giả của sách đào tạo giáo viên Trung học cơ
sở hệ Cao đẳng sư phạm, “Văn học dân gian Việt Nam” năm 1998, phần “ Tục ngữ”, trong sách
“Văn học dân gian Việt Nam”, tập II của Hoàng Tiến Tựu (1990) Trước tiên, các công trình nhận
xét về đề tài (hay đối tượng phản ánh của tục ngữ), sau đó nhận xét tính nhiều nghĩa của tục ngữ, lý giải tính nhiều nghĩa của tục ngữ do đâu mà có và phương pháp luận của nó như thế nào
Có thể nói, không một thể loại văn học dân gian nào mà phạm vi đề tài lại rộng lớn như tục ngữ Hầu như tất cả mọi lĩnh vực của đời sống con người (tinh thần, vật chất, đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội, công cuộc xây dựng đất nước, lịch sử chống giặc ngoại xâm, giữ gìn bản sắc văn hóa và sức sống dân tộc Việt Nam…) đều là đối tượng phản ánh, nhận xét của tục ngữ Đằng sau mỗi câu tục ngữ, đằng sau những hình ảnh, kinh nghiệm khái quát từ chính cuộc sống là bản sắc văn hoá, phong cách sống, lối nói, cách nghĩ của người Việt Cho đến nay, có thể nói rằng đã có
nhiều bài viết đề cập đến nội dung tục ngữ xoay quanh nhiều mảng đề tài như “Vẻ đẹp tâm hồn Việt
Nam trong cách đối xử qua tục ngữ ca dao” (1978) của Nguyễn Văn Mệnh, “Qua ca dao, tục ngữ
Hà Nội tìm hiểu công cuộc xây dựng đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc” (1983), “Ca dao, tục ngữ
Hà Nội và sự phản ánh lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm” (1984), “Qua tục ngữ ca dao tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc của người Thăng Long Hà Nội”(1983), “Vẻ đẹp văn hóa của người Hà Nội qua ca dao, tục ngữ” (1994), “Cái chợ trong ca dao tục ngữ xưa”(2002) của
Nguyễn Xuân Kính, “Sức sống dân tộc Việt Nam qua tục ngữ” của Bùi Văn Nguyên (1994) “Đôi
nét về văn hóa ăn uống qua thành ngữ tục ngữ Tiếng Việt” của Nguyễn Xuân Hòa, các công trình
“Tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt qua tục ngữ”(2000), “Đặc trưng đa dạng của ẩm thực
Việt Nam qua mảng tục ngữ về văn hóa ẩm thực”(2001) của Nguyễn Văn Thông, “Một vài nhận xét về tục ngữ người Việt nói đến ốm đau chữa bệnh” của Hoàng Kim Ngọc, “Bước đầu tìm hiểu tên làng với tục ngữ, ca dao, dân ca” (1986) của Nguyên Thanh, “Hội làng xưa qua tục ngữ
ca dao”, (1996) của Yến Li, bài viết “Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt ở châu thổ Bắc
bộ thể hiện qua ca dao, tục ngữ”(1999) của Trần Thúy Anh, “Cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng người Việt thể hiện qua tục ngữ” và “Hình ảnh gia đình qua tấm gương tục ngữ, ca dao”
của Phạm Việt Long, bài viết “Dấu ấn tự nhiên, văn hoá và con người trong thành ngữ, tục ngữ
Nam bộ” (2005), “Tìm hiểu yếu tố tục trong cấu tạo thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt” của Đỗ Anh
Vũ (2004), các bài viết của Nguyễn Văn Nở như: “Hình ảnh sông nước trong tục ngữ Việt Nam”
Trang 27năm 2002, “Biểu trưng "hoa" trong tục ngữ Việt” năm 2003”, các bài viết “Biểu trưng nước
trong tục ngữ Việt Nam”, “Dấu ấn văn hóa dân tộc qua chất liệu biểu trưng đồ dùng trong tục ngữ Việt Nam”, “Dấu ấn văn hóa dân tộc qua biểu trưng động vật và thực vật trong tục ngữ Việt Nam”, “Dấu ấn văn hóa dân tộc qua chất liệu biểu trưng tự nhiên và từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ Việt Nam”, “Triết lí về giao tiếp trong tục ngữ Việt Nam”, “Biểu trưng Trời
và Đất trong tục ngữ Việt” năm 2006, các bài viết “Văn hóa lúa nước trong tục ngữ người Việt”(2006), “Trường ngữ nghĩa về cây lúa và các sản phẩm từ lúa thể hiện đặc trưng văn hóa lúa nước trong tục ngữ người Việt”(2006) của Đỗ Thị Kim Liên
Bên cạnh những công trình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân tộc thể hiện qua tục ngữ là các
bài viết “Tìm hiểu những yếu tố triết học( hay triết lý dân gian) trong tục ngữ Việt Nam (2008) của Vũ Hùng, “Tục ngữ- châm ngôn và thời đại” (1979) của Đỗ Quang Lưu Các tác giả nghiên
cứu loại tục ngữ- châm ngôn khác với loại tục ngữ truyền thụ tri thức kinh nghiệm Loại tục ngữ này thường mang một ý nghĩa chính trị xã hội to lớn, có sức sống bền vững và tác động mạnh mẽ trong nhân dân
Tục ngữ còn là một phương tiện giáo dục đạo đức nhân văn rất độc đáo Điều đó đã thể hiện
qua bài viết “Tục ngữ, ca dao và lời ru với việc giáo dục giá trị đạo đức, nhân văn” (1998) in
trong tạp chí Văn hóa dân gian của Tạ Đăng Tuyên Ông cho rằng, đối với tục ngữ, giáo dục tình cảm và trách nhiệm đạo lý của các thành viên trong gia đình chiếm vị trí quan trọng Vì vậy, tác giả
đã khảo sát, thống kê trong kho tàng tục ngữ và thu thập được kết quả: quan hệ vợ chồng chiếm 55%, quan hệ cha mẹ con cái chiếm 44,7%, quan hệ anh em chiếm 5,3% Bên cạnh giáo dục gia
đình là giáo dục nhà trường với địa vị người thầy rất được tôn trọng Qua bài viết “Tìm hiểu sự
phản ánh các cặp chủ đề mang ý nghĩa đối lập trong tục ngữ” năm 2000, Nguyễn Việt Hương đã
khảo sát 2900 câu trong “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc và thống kê, sắp xếp thành hai nhóm chủ đề lớn: nhóm không đối lập và nhóm đối lập Trong nhóm đối lập, tác giả đã thống kê, miêu tả 76 cặp chủ đề có nội dung trái ngược nhau Từ đó, người viết đi đến nhận định khái quát:
“chính những nghịch lý trong tục ngữ đã làm cho thể loại này phát huy mạnh mẽ và trực tiếp nhất trong việc giáo dục đạo đức, rèn luyện nhân cách con người” [104,82] Việc giáo dục đạo đức qua
tục ngữ còn được Lê Huy Thực lưu tâm qua bài viết “Tiêu chuẩn kiểm định đạo đức con người
qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam” năm 2008 Ông đã phát hiện những tài triết lý sâu sắc qua
tục ngữ được đúc kết từ thực tiễn của cha ông ta, chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận cũng như những băn khoăn, trăn trở xung quanh vấn đề xác định tiêu chí kiểm định đạo đức con người Chỉ trong phạm vi một bài viết nhưng Nguyễn Việt Hương và Lê Huy Thực đã gợi ra nhiều ý kiến cho các nhà nghiên cứu nội dung tục ngữ dưới các góc độ khác nhau
Trang 28Với dung lượng 444 trang, quyển sách “Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt nam”
xuất bản năm 2000 của Nguyễn Nghĩa Dân là một công trình nghiên cứu khá công phu Trong phần thứ nhất, tác giả đã phân tích những đặc điểm của tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người cũng như những biểu hiện của đạo làm người không chỉ thể hiện ở tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét ở lối sống trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó Trong phần hai, ông lựa chọn giải thích hơn 1300 tục ngữ ca dao sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt, phân làm 4 mục: tục ngữ ca dao về lao động, học tập, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đạo làm người trong quan hệ gia đình, đạo làm người trong quan hệ xã hội tự nhiên, chống thói hư tật xấu và hành vi vô đạo đức
Quyển sách “Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình” xuất bản năm 2004 của Phạm Việt Long
là một công trình nghiên cứu có giá trị Quyển sách gồm hai phần chủ yếu: phần 1, tác giả nghiên cứu gia đình truyền thống qua tục ngữ ca dao, phần 2 thống kê và phân nhóm nội dung ca dao tục ngữ và mối quan hệ gia đình Trong phần 1, ông đã tiếp cận mối quan hệ gia đình truyền thống qua tục ngữ, ca dao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Vận dụng các phương pháp liên ngành: thống kê, so sánh, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học…, người viết lý giải quá trình hình thành và phát triển lâu bền của gia đình truyền thống đã tạo dựng nên các nét độc đáo của văn hóa gia đình Việt Người đọc còn thấy rõ trong mối quan hệ gia đình, vật chất và tinh thần luôn luôn gắn bó, tác động lẫn nhau, là cơ sở cho sự bền vững của gia đình và xã hội Công trình là kết quả bước đầu của tác giả rất cần được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu toàn diện về gia đình truyền thống, góp phần xây dựng gia đình hiện đại Việt Nam ngày nay Trong phần 2, người viết thu thập 7.040 câu tục ngữ, đánh dấu theo tiêu chí thể loại, nội dung, ghi chú những câu tục ngữ nói về gia đình và thống kê được 730 câu tục ngữ về gia đình (chiếm 10,36%) Tuy nhiên, công trình chỉ tiếp cận mối quan hệ gia đình truyền thống qua tục ngữ, ca dao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Vì vậy, đây là một gợi ý để các nhà nghiên cứu tiếp tục khai phá tục ngữ về quan hệ gia đình từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Đặc biệt, các hình ảnh, con vật thân quen trong cuộc sống hàng ngày đã đi vào kho tàng tục ngữ, biểu hiện những hành vi ứng xử của con người, những bài học về đối nhân xử thế, thể hiện một cuộc sống lao động cần cù, gian lao, vất vả nhưng vẫn lạc quan, yêu đời của dân tộc Cụ thể qua các
bài viết “Hình ảnh con trâu trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam ” (1997) của Hà Quang Năng, bài viết “Con trâu đi vào tục ngữ ca dao xưa” của Trần Quang Nhật, “Con voi trong ca dao,
tục ngữ Mơ Nông” của Tấn Vịnh (1999), “Thân phận chú khuyển qua tục ngữ các dân tộc”
(1994) và “Con chuột trong tục ngữ” (2000) của Nguyễn Đức Dân, “Con rắn trong tâm thức
người Việt (qua thành ngữ- tục ngữ)” (2001) của Trí Sơn, “Năm ngựa tìm hiểu về con ngựa trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca” của Nguyễn Nghĩa Dân (2002), “Con gà trong tục
Trang 29ngữ Việt Nam”(2005) của Nguyễn Văn Nở, “Hình ảnh con gà trong tục ngữ, ca dao và thơ ca, nhạc, họa”(2005) ) và “Hình ảnh con chó trong tục ngữ, thành ngữ, ca dao” (2006) của Lê
Xuân
Không chỉ con vật mà các con số cũng có ý nghĩa trong tục ngữ Hai tác giả Nguyễn Xuân
Kính và Phan Thị Hoa Lý trong bài viết “Ý nghĩa và cách dùng những con số thường gặp trong ca
dao, tục ngữ” (1999) đã thống kê 4139 câu tục ngữ trong sách “Tục ngữ Việt Nam” của Chu Xuân
Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri và thấy rằng số câu có số từ số lượng là 404, chiếm 9,7 % Từ
đó, các tác giả tìm hiểu ý nghĩa của 6 con số thường gặp trong tục ngữ: 1,2,3,4,5,1000, có so sánh với nhiều nơi trên thế giới Qua việc tìm hiểu cách dùng các con số trong tục ngữ, người viết nhận thấy có nhiều con số được sử dụng nhưng đó là một số lượng hữu hạn, có sự khác nhau về mật độ
sử dụng con số xét trên một đơn vị tác phẩm
Ngôn ngữ không chỉ thuần túy để chuyển tải thông tin khách quan mà còn nhằm vào đối
tượng, chinh phục đối tượng hoặc thể hiện sự đánh giá tình cảm của mình Trong bài viết “Logic
ngôn giao trong tục ngữ Việt Nam”(2002) Nguyễn Văn Nở đã khảo sát kinh nghiệm sử dụng ngôn
ngữ của dân tộc qua tục ngữ Theo tác giả: “Việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với điều kiện giao tiếp cụ thể là một thao tác tự nhiên, tất yếu, khách quan…Giá trị đích thực của hoạt động ngôn giao không chỉ là thông tin mà còn là để con người gần nhau, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau”[156, 25]
Năm 2007, với luận án tiến sĩ “Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam”, Nguyễn Văn Nở đã
nghiên cứu nghĩa biểu trưng của tục ngữ Việt Nam trên cơ sở so sánh với biểu trưng của ca dao Từ
đó, người viết làm rõ đặc trưng của từng thể loại qua các vấn đề: về chức năng: tục ngữ thiên về diễn đạt các phán đoán logic còn ca dao thiên về phản ánh bức tranh đời sống xã hội, tình cảm con người; biểu trưng của tục ngữ là biểu trưng của toàn bộ cấu trúc, còn biểu trưng của ca dao là biểu
trưng của từng thành tố (Các vấn đề trên đã được tác giả công bố qua các bài viết “Tiếp cận nghĩa
của tục ngữ trong ngữ cảnh” năm 2006, “Vài nét về sự dị biệt giữa biểu trưng của văn bản tục ngữ và biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh” năm 2008 và “So sánh biểu trưng tục ngữ với ca dao” năm 2009) Tác giả quan niệm biểu trưng của văn bản tục ngữ với biểu trưng của tục ngữ
trong ngữ cảnh vận dụng có sự tương đồng và dị biệt cũng như biểu trưng của tục ngữ còn có điểm khác biệt với biểu trưng của ca dao Chính vì thế, tiếp cận biểu trưng của tục ngữ trong ngữ cảnh là vấn đề cần tìm hiểu sâu hơn để bổ khuyết cho khuynh hướng nghiên cứu tục ngữ trước đây, vốn đa
phần chỉ dừng lại ở văn bản mà thôi
Người phụ nữ cũng là một trong những đề tài phản ánh rất sinh động của tục ngữ Qua luận
văn “Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam” năm 2008, Nguyễn Thị Thịnh đã
phát hiện những định kiến giới đối với người phụ nữ và biểu hiện cơ bản của định kiến giới trong
Trang 30tục ngữ Việt Nam Người viết đã lý giải khá sâu sắc những định kiến giới liên quan đến đặc điểm ngoại hình, tính cách, năng lực, công việc của người phụ nữ; những định kiến đối với người phụ nữ biểu hiện trong gia đình (trong quan niệm về giá trị con trai, con gái, mối quan hệ vợ - chồng như: chồng là người cai quản, trị vì, vợ là người lệ thuộc, qua thân phận người vợ lẽ, qua quan niệm
"tòng phu”, quan niệm về vai trò của cha mẹ đối với con cái trong gia đình); qua kỳ vọng giới và quan niệm của cộng đồng xem phụ nữ là dấu hiệu của sự không may mắn (điềm gở) Tác giả còn đề cập đến hậu quả của định kiến giới qua tục ngữ đồng thời đề xuất một số kiến nghị trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trong gia đình, nhà trường, xã hội cũng như với bản thân mỗi người phụ nữ để hạn chế và tiến tới xóa bỏ định kiến giới trong đời sống xã hội hiện nay Tuy nhiên, công trình chỉ tìm hiểu định kiến giới trong tục ngữ của giai đoạn trước thời kỳ Pháp thuộc Vì vậy, nghiên cứu định kiến giới từ 1858 đến nay sẽ là một hướng đi cho các nhà nghiên cứu tục ngữ sau này
Công trình biên soạn "Địa danh Việt Nam trong tục ngữ - ca dao" (Nxb Từ điển Bách
khoa, năm 2007) của Vũ Quang Dũng là một công trình khá công phu Tuy cuốn sách còn những hạn chế nhất định cụ thể là về tài liệu tham khảo, cách thức ghi nguồn, làm bảng tra cứu, lỗi morát, chú giải nội dung mục từ, việc xác định địa danh nhưng có thể nói lần đầu tiên có một số lượng lớn các địa danh ở Việt Nam xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ đã được tác giả tập hợp, chú giải theo dạng từ điển Với dung lượng 772 trang, thông qua các địa danh xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ ở khắp mọi vùng Tổ quốc, người đọc có được những hiểu biết phong phú về phong tục tập quán, đặc sản, làng nghề truyền thống, các nhân vật lịch sử, di tích, thắng cảnh của đất nước mình
Với tính chất khoa học thần bí và hư ảo của tử vi, tướng số, tục ngữ về tử vi và tướng số cũng trở thành một đối tượng nghiên cứu Mảng tục ngữ này tuy chiếm một tỷ lệ không lớn trong kho tàng tục ngữ người Việt nhưng đã phản ánh khá rõ một số quan niệm về nhân sinh của người Việt
do sự tác động, chi phối bởi quan niệm của một số nhà chiêm tinh học Trung Hoa cổ đại Trong bài
viết “Tìm hiểu quan niệm của người Việt qua những câu tục ngữ về tử vi và tướng - số” năm
2007, Nguyễn Văn Thông đã tìm hiểu vấn đề này và lý giải quan niệm của người Việt qua những câu tục ngữ về tử vi và tướng số Ông cho rằng nội dung của những câu tục ngữ loại này vừa mang tính khoa học thống kê, vừa mang tính bói toán và có phần dị đoan Nó có cả một hệ thống lý luận riêng với những tính toán và cách tiếp cận nghiên cứu nhân học độc đáo Theo tác giả, mặt tích cực của niềm tin vào số phận giúp con người dịu bớt nỗi đau khi gặp những điều chẳng lành Nhưng chính niềm tin này cũng làm cho con người chủ quan, không tự vươn lên Ngày nay, người Việt nói nhiều đến số phận con người chỉ vì theo một thói quen hoặc là để an ủi, động viên kẻ bất hạnh chứ không hẳn là một niềm tin
Trang 31Năm 2009, Nxb Thanh Niên, TPHCM phát hành quyển “Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ ca
dao” của Nguyễn Nghĩa Dân Quyển sách gồm có hai phần: khảo cứu tục ngữ, ca dao về lịch sử và
sưu tầm, tuyển chọn, giải thích 136 câu tục ngữ về lịch sử Sau khi tiến hành khảo cứu, tác giả đã xác định vai trò quan trọng của tục ngữ về lịch sử Nó là bộ phận hữu cơ trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta tìm hiểu những sự kiện lịch sử trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Một trong những đóng góp của công trình là xác định tiêu chí của tục ngữ về lịch sử từ đó giúp người đọc tìm ra những câu tục ngữ về lịch sử trong kho tàng tục ngữ Việt Nam vô cùng phong phú
Bên cạnh những công trình nghiên cứu nội dung tục ngữ người Việt là các công trình nghiên cứu nội dung tục ngữ các dân tộc thiểu số Sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của nền văn hóa các dân tộc này được biểu hiện qua trình độ tư duy, lối sống, cách ứng xử, các nghi lễ, phong tục tập quán…mà tập trung hơn cả là lời ăn tiếng nói của họ Trong số đó, dân tộc Thái là một trong những dân tộc có nhiều thành tựu phát triển văn hóa rực rỡ Qua một số công trình nghiên cứu, các tác giả
đã phản ánh được tục ngữ của người Thái luôn sáng lấp lánh với những vẻ đẹp, cái đẹp đó bắt nguồn từ kinh nghiệm đấu tranh với thiên nhiên, xã hội để tự khẳng định giá trị chân chính ở mỗi
con người riêng lẻ và cả dân tộc Đó là các công trình: “Vẻ đẹp của phương ngôn tục ngữ Thái”, Phan Xuân Thành (1989),“Những nét đẹp trong giáo dục thế hệ trẻ của người Thái ở Nghệ An
qua ca dao, tục ngữ” của Nguyễn Doãn Hương (1997), “Tìm hiểu lời khuyên truyền thống về lao động nông nghiệp qua tục ngữ Thái”, Cầm DZịn (1998), “Nét đẹp trong dân ca, tục ngữ dân tộc Thái Quỳ Châu, Nghệ An” của Trần Đức Việt (2001), “Một số bài dân ca tục ngữ Thái Xia, Mìn huyện Quan Sơn, Thanh Hóa”, Phạm Xuân Cừ (2002), “Tục ngữ Thái về lời ăn tiếng nói” của Tạ
Văn Thông (2004),“Hình tượng cầu thang nhà sàn trong một số tác phẩm phương ngôn, tục ngữ
và ca dao, dân ca của người Thái” của Đặng Thị Oanh (2005), “Tìm hiểu quan niệm truyền thống về xây dựng quê huơng, đất nước của người Thái qua ca dao, tục ngữ” của Lò Văn Hặc
(2007)
Các cộng đồng dân tộc ít người khác như HMông, Mường, Tày, Nùng…cũng được các nhà nghiên cứu xem xét ở nhiều khía cạnh thể hiện qua nội dung như kinh nghiệm trong cuộc sống, nhân sinh quan, phong tục tập quán của từng dân tộc …mang nét đặc thù riêng, thể hiện đậm đà bản
sác văn hóa của mỗi dân tộc Cụ thể là các công trình: “Một số câu đố và tục ngữ Mạ ở Lâm Đồng” của Lâm Tuyền Tĩnh (1989), “Lời nói vần và thơ dân gian Mường”, Nguyễn Hữu Thức, Bùi Thiện (1990),“Tục ngữ, đồng dao và câu đố của các dân tộc thiểu số của nước ta bổ ích và lí thú” của Nguyễn Tri Tâm (1995),“Một số tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm thực dân gian” của Bùi Chi (2001), “Một số câu tục ngữ - thành ngữ dân tộc H’Mông nói về trẻ em và học hành”, của Mã A Lềnh (2002), “Quam xon côn lời khuyên răn dân gian”, Vi Trọng Liên (2002), “Một nét về nhân
Trang 32sinh quan của người Tày Cao Bằng (qua các thành ngữ- tục ngữ)” của Hoàng Thị Minh Hiển
(2002), “Một số câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm trồng trọt của người Tày, Nùng Cao Bằng” của Hoàng Thị Nhuận (2002), “Những lời răn dạy con cái của người Tày Cao Bằng” của Bế Thanh Tuyền (2002),“Tìm hiểu tục ngữ và câu đố trong văn học dân gian Tày Nùng” của Hà Đình Thành (2004), “Tục ngữ, ca dao của người Sán Dìu vùng chân núi Tam Đảo” của Lâm Quang
Hùng (2006)
2.1.2 Những quan niệm về nghĩa của tục ngữ:
Nghĩa của tục ngữ là một trong những vấn đề phức tạp Vì vậy, bên cạnh những công trình tìm hiểu nội dung khái quát của tục ngữ thì ở góc độ nhận thức luận với các quan niệm về nghĩa của tục ngữ đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
Khi viết về tục ngữ trong mối quan hệ với lối nghĩ của nhân dân, Chu Xuân Diên trong công
trình “Tục ngữ Việt Nam” năm 1975 đã quan niệm rằng: “Trong vốn tục ngữ của người Việt, bên
cạnh những câu có một nghĩa-nghĩa đen, còn có rất nhiều câu có hai nghĩa-nghĩa đen và nghĩa bóng”.[37,142-143] Theo tác giả, nghĩa đen thường đề cập đến những vấn đề tự nhiên, cá biệt, khi chuyển sang nghĩa bóng thường nói về các hiện tượng xã hội, mang tính khái quát, trừu tượng thông qua những nhận xét, phán đoán, kết luận Đây là quan niệm được nhiều người đồng tình, được giới nghiên cứu chấp nhận trong một thời gian dài, đặc biệt là các giáo trình đại học Cụ thể là các tác giả Lê Chí Quế, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Văn Hầu, Phan Thị Đào
Trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” (Giáo trình đào tạo giáo viên TH cơ sở hệ
Cao đẳng SP), Nxb GD, HN năm 1998, Hoàng Tiến Tựu đã quan niệm tục ngữ có thể chia làm hai loại cơ bản: loại đơn nghĩa và đa nghĩa Những câu tục ngữ thuộc loại đơn nghĩa là những câu chỉ có thể hiểu theo nghĩa đen Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa có thể chia thành hai loại: thứ nhất gồm những câu vừa được hiểu theo nghĩa đen vừa có thể (và thường) được hiểu theo nghĩa bóng, thứ hai gồm những câu chỉ được dùng theo nghĩa bóng Những câu thuộc loại đa nghĩa chiếm tỷ lệ lớn hơn hẳn so với những câu đơn nghĩa
Các tác giả Lê Chí Quế (chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong công trình “Văn
học dân gian Việt Nam” đã khẳng định: “Tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen (hay là
nghĩa gốc) và nghĩa bóng (trường nghĩa)” [192, 197] Chúng tôi thấy rằng các tác giả khẳng định
tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng là chưa bao quát được hết tất cả các
hiện tượng vì trên thực tế có một bộ phận tục ngữ chỉ có nghĩa đen mà thôi
Theo Bùi Mạnh Nhị trong phần “Tục ngữ” của “Văn học dân gian những công trình
nghiên cứu”, Nxb GD, HN năm 1999 thì: “Trong tục ngữ, cái cụ thể và cái khái quát liên quan đến
nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, gắn với sự việc và hiện tượng ban đầu, còn
Trang 33nghĩa bóng là nghĩa gián tiếp, nghĩa biểu tượng, ẩn dụ (…) Nghĩa đen và nghĩa bóng của tục ngữ có quan hệ hữu cơ với nhau” [152,256]
Nghĩa đen và nghĩa bóng của tục ngữ cũng được Phan Thị Đào đề cập đến trong công trình
“Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” năm 2001 Theo tác giả, tục ngữ được coi là hoàn chỉnh
thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng (còn gọi là nghĩa hẹp và nghĩa rộng) Nghĩa đen là nói
về sự vật, về hiện tượng thiết thực mà tục ngữ đề cập Nghĩa bóng thì mở rộng ý nghĩa của sự vật, hiện tượng bằng cách gợi liên tưởng những hình tượng ẩn dụ
Một số tác giả khác lại cho rằng không thể đoán định được nghĩa của tục ngữ trên văn bản
mà phải dựa vào ngữ cảnh lời nói cụ thể Tiêu biểu là Nguyễn Xuân Đức qua các bài viết công bố
liên tiếp trên tạp chí Văn hóa dân gian Trong bài viết “Về nghĩa của tục ngữ” in trong tạp chí Văn
hóa dân gian, số 4 năm 2000, tác giả đã phân tích, khảo sát một số câu tục ngữ và đi đến nhận định:
“Một câu tục ngữ bao giờ cũng tồn tại nghĩa từ vựng và nghĩa ứng dụng”, “không nên nói tục ngữ
có nhiều nghĩa, lại càng không nên nói tục ngữ là đa nghĩa”, “tục ngữ xét trên văn bản có từ một đến hai nghĩa nhưng xét trong môi trường ứng dụng, tức là môi trường lưu truyền và tồn tại đích thực thì với mỗi lần phát ngôn chỉ có một nghĩa (có thể là nghĩa đen hay nghĩa bóng), tức là nghĩa đang được ứng dụng theo mục đích phát ngôn” [55, 52] Tiếp tục bàn về vấn đề đa nghĩa của tục ngữ, qua
bài viết “Về tính nhiều nghĩa của tục ngữ”(2002), Nguyễn Xuân Đức đã đặt ra vấn đề “hai nghĩa”
có phải là “đa nghĩa” không? Qua vài lập luận, ông cho rằng “tục ngữ thường có hai nghĩa” là thỏa đáng, không nên nói “đa nghĩa” hay “nhiều nghĩa” Đáng chú ý là theo tác giả, không thể nói tục ngữ có tính đa nghĩa vì mục tiêu của tục ngữ là truyền đạt kinh nghiệm nên phải đảm bảo tính rõ ràng, chính xác và không thể đa nghĩa trong mỗi lần phát ngôn Điều đó cũng có nghĩa là mỗi lần phát ngôn tục ngữ chỉ có một nghĩa- nghĩa ứng dụng Cũng chính vì vậy, trên tạp chí Văn hóa dân gian số 5, năm 2003, Nguyễn Xuân Đức đã đề ra yêu cầu cấp thiết đối với việc nghiên cứu tục ngữ
qua bài viết “Trở lại vấn đề tính một nghĩa trong phát ngôn của tục ngữ” Theo ông, không thể
nghiên cứu tục ngữ trên văn bản mà phải nghiên cứu chúng trong hoạt động lời nói và việc nghiên cứu tục ngữ trong ứng dụng phải được xem là nguyên tắc cấp thiết hơn cả Cũng xuất phát từ quan niệm này, Nguyễn Xuân Đức đã không đồng tình với việc xác định một số nghĩa của các câu tục ngữ cụ thể trong một từ điển về tục ngữ Tác giả còn đề xuất ý kiến về các bộ tục ngữ nên sắp xếp theo thứ tự chữ cái trong bảng chữ cái, không nên sắp xếp theo chủ đề
Trái với quan niệm không nên nói tục ngữ đa nghĩa của Nguyễn Xuân Đức, Phan Trọng
Hòa trong bài viết “Tính nhiều nghĩa hay đa nghĩa của tục ngữ” in trong tạp chí Văn hóa dân
gian, số 3, năm 2003 đã cho rằng tục ngữ nhiều nghĩa, đa nghĩa là hoàn toàn đúng, thỏa đáng vì
“nhiều” là “đa” mà “hai” là “nhiều” thì có quyền suy ra “hai” là “đa” [84, lược trích 68-70]
Trang 34Khảo sát các ý kiến trên ta thấy các nhà nghiên cứu dù có sự diễn đạt khác nhau nhưng có một điểm chung là đều cho đại bộ phận tục ngữ có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tuy nhiên không chỉ dừng lại ở đây, nghĩa của tục ngữ đã không ngừng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, khám phá Một số tác giả đề cập đến nghĩa khái quát của tục ngữ Có thể kể đến Phan Thị Đào
trong công trình “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” Theo tác giả, tục ngữ có ba nghĩa: nghĩa
đen, nghĩa bóng (nghĩa hình tượng) và nghĩa khái quát Về nghĩa khái quát, tác giả quan niệm: “Có những câu tục ngữ mà ở đó mỗi vế tồn tại như một tiền đề mang ý nghĩa khái quát cao, còn kết đề
là một phán đoán mang ý nghĩa khái quát cao hơn, nhưng không phải tồn tại trên văn bản mà được rút ra từ tư duy của người tiếp nhận” Ví dụ:
Tiền đề Thợ may ăn giẻ
Thợ vẻ ăn hồ
Thợ bồ ăn nan
Thợ hàn ăn thiếc
Kết luận ( Làm nghề gì ăn nghề nấy) [52, 122]
Tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, từ góc độ folklore học, Triều Nguyên đã đồng ý xác lập ba loại nghĩa của tục ngữ gồm: nghĩa đen, nghĩa bóng và nghĩa khái quát qua bài viết
“Nghĩa của tục ngữ” in trong tạp chí Văn hóa dân gian, số 5 (95) năm 2004 và sau này tiếp tục được triển khai trong công trình “Khảo luận về tục ngữ người Việt” năm 2006 Trong công trình
này, Triều Nguyên thống nhất tục ngữ có ba loại nghĩa và có thể gộp tục ngữ làm hai nhóm lớn: nhóm những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa và nhóm những câu tục ngữ có nhiều loại nghĩa Theo tác giả, tục ngữ có 7 dạng sau: những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa đen (“Tháng bảy nước nhảy lên bờ”); những câu chỉ có nghĩa khái quát (“Cái sảy nảy cái ung” ); những câu chỉ có nghĩa bóng (“Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”…); những câu vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa khái quát (“Trâu he hơn bò khỏe” ); những câu vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa bóng (“Ngựa hay chạy đường dài mới biết” ); những câu vừa có nghĩa khái quát vừa có nghĩa bóng (“To thuyền thì to sóng”); những câu vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa khái quát, lại vừa có nghĩa bóng (“Cá kể đầu, rau
kể mớ”) [ lược trích 150,8-9]
Việc tìm hiểu nghĩa của tục ngữ nói chung đã được quan tâm từ góc độ lý luận và nghiên cứu ứng dụng Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng tục ngữ mang nghĩa biểu trưng Nói đến nghĩa của tục ngữ cần nói đến nghĩa biểu trưng vì cách nói của nó đa phần là cách nói biểu trưng
Năm 1987, Nguyễn Đức Dân trong bài viết “Đạo lý trong tục ngữ” in trong tạp chí Văn
học, số 5 đã cho rằng “đạo lý của một tục ngữ được thể hiện qua nghĩa biểu trưng của nó Nghĩa của đại bộ phận tục ngữ là nghĩa bóng, được hình thành theo phương pháp biểu trưng Và chúng tôi gọi đó là nghĩa biểu trưng của tục ngữ”[18, 72] Ông quan niệm rằng nghĩa biểu trưng làm nội dung
Trang 35của tục ngữ trở nên đa dạng và sinh sôi không ngừng trong ngôn ngữ giao tế Do đó, mỗi tục ngữ có thể đề cập đến những phạm trù khác nhau và các phạm trù khác nhau được thể hiện không đồng đẳng Từ đó, tác giả đưa ra phương pháp xác định thứ bậc các phạm trù Phương pháp này cung cấp thao tác để nhận biết biểu trưng của tục ngữ so sánh Nó còn có thể giúp chúng ta có một cái nhìn logic về quan niệm, đạo lý của người Việt Để minh họa và lý giải vấn đề, người viết đã đưa ra nhiều ví dụ, chẳng hạn: “Một người biết lo bằng kho người hay làm” Theo ông, câu này có 3 phạm trù: khối lượng (một người, kho người), trí tuệ (biết lo), sự cần cù (hay làm), với các hệ thức:
Một người + biết lo = kho người + hay làm (1)
Kho người một người
hay làm < biết lo (a)
Nghĩa là: trí tuệ > sự cần cù (b)
(a) và (b) là hai nghĩa khái quát của (1) và bậc của (a) thấp hơn bậc của (b) [18, 64]
Trong bài viết “Bàn thêm về một số đặc điểm của tục ngữ Việt” đăng trên tạp chí Ngôn
ngữ và đời sống số 7 năm 2006, Phạm Thanh Hằng đã đề cập đến sự hình thành nghĩa biểu trưng của tục ngữ theo quan điểm của mình đó là quy luật biện chứng của nhận thức Cụ thể: “Nghĩa biểu trưng của tục ngữ được hình thành từ cách dùng hình ảnh cụ thể để phản ánh cái khái quát, quy luật”[77, 11]
Theo Nguyễn Văn Nở trong luận án tiến sĩ “Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam” năm
2007: “Tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa biểu trưng Chính nghĩa biểu trưng tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa của tục ngữ Hiện tượng nhiều nghĩa của tục ngữ là hiện tượng mang tính phổ quát và vì thế mà nó có thể được vận dụng trong những hoàn cảnh, đối tượng, mục đích khác nhau”.[174, 42]
2.1.3 Giải thích ý nghĩa của từng câu tục ngữ:
Tục ngữ là một hiện tượng văn hóa đa dạng, chứa đựng nhiều tri thức, phản ánh nhiều lĩnh vực của cuộc sống Thêm vào đó, trong quá trình lưu truyền, nghĩa của nó được mở rộng bởi quan niệm và cách dùng của người sử dụng Do đó, tục ngữ được hiểu khác nhau và sinh ra hiện tượng nhiều nghĩa
Trước đây, sách chú giải tục ngữ nói chung rất hiếm, ngoài cuốn “Tục ngữ lược giải” của
Lê Văn Hòe xuất bản lần đầu tiên vào năm 1950, lẻ tẻ trên các báo có những bài phân tích, giải thích, bình luận một vài câu tục ngữ Do nhu cầu đọc hiểu tục ngữ ngày một nhiều hơn, đòi hỏi phải
có những cuốn chú giải tục ngữ theo kiểu từ điển, bộ sách “Kể chuyện thành ngữ và tục ngữ” phát
hành năm 1988, 1991, 2005 do Hoàng Văn Hành chủ biên đã đáp ứng phần nào nhu cầu của độc
giả Đúng như tên gọi của nó, đây không phải là dạng sách tập hợp, sắp xếp, biên soạn, đây là những chuyện kể về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, về cách hiểu (có thể có nhiều cách hiểu khác
Trang 36nhau), xuất xứ, ý nghĩa và được đặt trong các cảnh huống thích hợp để dễ hình dung Không chỉ dừng lại ở việc nêu lên những ý nghĩa thông thường của các thành ngữ, tục ngữ, công trình còn mở rộng giới hạn nghĩa cũng như phạm vi sử dụng của các thành ngữ và tục ngữ, nhiều khi còn đi sâu vào cấu trúc câu cũng như phân tích các hoạt động ngôn ngữ của chúng Ngoài ra, cuốn sách cũng
đề cập đến biến thể, gần nghĩa, khác nghĩa, biểu hiện trạng thái và đặt trong so sánh tương quan của những thành ngữ, tục ngữ được đưa ra giải thích Việc chú giải và trình bày tường tận như vậy về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam không những giúp người đọc hiểu rõ và đầy đủ hơn (để vận dụng chính xác) mà còn giúp trau dồi kiến thức về kho tàng văn học dân gian xưa của cha ông ta, góp phần làm cơ sở cho những hiểu biết một cách khoa học về những điển tích, điển cố, giá trị văn chương hay giá trị sử dụng Trên thực tế nhiều khi ý nghĩa (hiện thời hoặc nguyên gốc) của tục ngữ
lại hoàn toàn khác xa với cách hiểu và cách sử dụng hiện tại So với cuốn “Tục ngữ lược giải” của
Lê Văn Hòe, cuốn sách này có ưu điểm và lợi thế hơn cả về hình thức lẫn nội dung
Bên cạnh đó, công trình giải thích ý nghĩa tục ngữ có bề dày đáng kể là “Về cội, về
nguồn”(1995) của Lê Gia (4 quyển) Đây là một trong những công trình giải thích tục ngữ công
phu và có giá trị Tác giả đã giải thích một số lượng lớn tục ngữ (4754 câu), đặc biệt đã liệt kê các cách hiểu khác nhau đối với câu tục ngữ ở một số sách và có ý kiến đồng tình hay bác bỏ với nhiều
lý lẽ, dẫn chứng Có thể nói, công trình này đã giúp cho người đọc hiểu nghĩa câu tục ngữ cả chiều rộng lẫn chiều sâu cũng như có cái nhìn tương đối bao quát, toàn diện về các cách hiểu và gốc tích, xuất xứ câu tục ngữ
Ngoài ra, giải thích ý nghĩa từng câu tục ngữ còn có các công trình: “Từ điển thành ngữ -
tục ngữ Việt Nam” Nxb Giáo dục, HN, 658 trang của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
(1993); “Từ điển thành ngữ, tục ngữ - ca dao Việt Nam”, Nxb Đồng Nai, hai quyển, quyển thượng
846 trang, quyển hạ 828 trang của Việt Chương (1995); “Tục ngữ Việt Nam chọn lọc” của Vương Trung Hiếu, Nxb Văn Nghệ, TPHCM (1996); “Tục ngữ ca dao Việt Nam” của Trần Mạnh Thường, Nxb Văn hóa dân tộc, HN, 1996; “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân, Nxb
Khoa học Xã hội, 1997
Sách “Kho tàng tục ngữ người Việt”(2002) do Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) là một công
trình đầu tiên giới thiệu tục ngữ với số câu nhiều nhất: 16.098 câu (có trong 52 đầu sách - 63 tập) Đây cũng là một công trình chú giải được nhiều câu tục ngữ nhất, giới thiệu tục ngữ theo nhiều hệ thống: thứ nhất là tục ngữ người Việt sắp xếp theo trật tự chữ cái của tiếng đầu, thứ hai là hệ thống tra cứu theo chủ đề Ngoài ra còn có bảng tra tên đất, tên người và thư mục về tục ngữ Có thể nói kho tàng tục ngữ người Việt qua bộ sách trên thật vô cùng giàu có
Kho tàng tục ngữ Việt Nam rất phong phú Nhiều câu dễ hiểu nhưng cũng không ít câu khó hiểu Một số câu có nguồn gốc Hán, một số câu có từ cổ, từ địa phương, ít người biết đến, một
Trang 37số câu bắt nguồn tứ các điển tích, điển cố, truyện dân gian… Vì vậy, muốn hiểu đúng tục ngữ cần
phải có tri thức liên ngành Trong bài viết “Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học” năm 2006,
Hoàng Minh Đạo đưa ra cách tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hoá học Cách tiếp cận đó đòi hỏi phải xem xét tục ngữ trong cái nhìn hệ thống, vận dụng tri thức liên ngành để chỉ ra bản sắc văn hóa trong một thể loại văn học dân gian có quan hệ mật thiết nhất với đời sống từng dân tộc Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học cũng giúp tác giả góp thêm tiếng nói vào việc giải quyết vấn đề nghĩa của tục ngữ Theo ông, muốn biết câu tục ngữ chỉ có một nghĩa hay nhiều nghĩa phải căn cứ vào từng loại: đối với loại câu đúc kết tri thức tự nhiên thì chỉ có một nghĩa, loại câu đúc kết tri thức xã hội thì thường có nhiều nghĩa
Đặc biệt bên cạnh những quyển sách từ điển giải thích ý nghĩa các câu tục ngữ, những bài viết phân tích, giải thích, bình luận về một vấn đề hoặc ý nghĩa của từng câu tục ngữ đã ra đời Nhiều bài viết đăng trên các tạp chí đã thu hút sự quan tâm của độc giả Nghĩa của câu tục ngữ đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, lý giải dựa trên nhiều cứ liệu khác nhau Nhiều câu tục ngữ được bàn luận, tranh cãi Tiêu biểu là các câu tục ngữ sau đây:
“Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ” là một trong những câu tục ngữ được hiểu theo nhiều
cách khác nhau Theo Nguyễn Đức Dân, trong bài viết “Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ” (1996)
thì nghĩa của câu tục ngữ này là: “cái cảnh đi hỏi vợ thì cực trăm bề, bị xét nét đủ điều (…) tốt mười mươi vẫn có thể bị quở trách, đánh đòn, vô ý một chút là bị loại ngay khỏi …cuộc đua-mất vợ”.[ 22 ,19] Thật không công bằng đối với chàng trai khi ở vào trường hợp này! Đó là lý do để Hoàng Văn
Hành trong bài viết “Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, (số 7) năm
1998 đưa ra kiến giải mới Theo ông, “ăn hết” là ăn có ý tứ, gắp đều khắp các món ăn, không kén chọn hoặc ăn hết nhẵn, không khách khí Ăn như vậy là đã “đánh đòn” thắng lợi trước thử thách (được đánh đòn chứ không phải bị đánh đòn) Còn “ăn còn” là ăn không hết, bị coi là chê thức ăn hoặc khách khí, không thực bụng Ăn như vậy là bị “mất vợ” Đứng ở góc độ khác (quan hệ lý luận giữa các thành phần trong hai mệnh đề) thì câu tục ngữ sẽ cho ta một cách hiểu khác và có thể chấp
nhận được Đó là cách hiểu của của Trần Thị Đan Phượng trong bài viết “Nhàn bàn về cách hiểu
một số câu tục ngữ, thành ngữ”, tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, (số 7) khi xét nó theo nguyên tắc
đối xứng Theo tác giả, nghĩa của câu tục ngữ là chàng trai ăn hết thì được vợ (chủ nhà mất con), ăn còn thì chủ nhà không gả con (chàng trai mất vợ)
Cũng có trường hợp do tính biến thể của tục ngữ mà sinh ra hiện tượng câu tục ngữ có
nhiều cách hiểu khác nhau Cụ thể là câu “Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng” Câu này nghĩa
phổ biến là sự so sánh mức thu nhập cao thấp của hai nghề làm thầy và làm thợ Tuy nhiên trong bài
viết Về câu tục ngữ “Làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng”, Trương Xuân Tiếu đã giải thích ý
nghĩa như sau: đối với nghề làm thầy (thầy đồ, thầy giáo) phải có kiến thức uyên bác, sâu rộng và
Trang 38khả năng sư phạm để truyền thụ cho học sinh Vì vậy, phải thường xuyên sưu tầm, tích lũy, sáng tạo sao cho vở của thầy thật phong phú (giáo án, giáo trình), còn nghề làm thợ (thợ mộc) đòi hỏi tay nghề cao trước hết là ở kỹ thuật gia công bộ phận “mộng” trên vật phẩm sao cho đảm bảo vừa vặn,
khít khao, không bị hở, bị vênh
Câu tục ngữ “Muốn sang thì bắc cầu Kiều” trên thực tế đã có nhiều ý kiến bất đồng Theo
tư liệu mà chúng tôi thu thập được, có rất nhiều cách hiểu về “cầu kiều” Qua bài viết “Về hai chữ
cầu Kiều trong tục ngữ xưa” của Phan Xuân Thành in trong tạp chí Văn hóa dân gian số 2 năm
1994 thì câu tục ngữ trên có 2 cách hiểu về “kiều”: cầu và đẹp Theo Nguyễn Xuân Lạc trong bài
viết “Muốn sang thì bắc cầu Kiều…” in trong tạp chí Văn hóa dân gian số 3 năm 1997 thì muốn
sang trọng phải bắc cái cầu đẹp và cái cầu đẹp ở đây là cái cầu nổi kiểu quần thể kiến trúc “thương
gia hạ kiều” Theo Nguyễn Cảnh Phúc trong bài viết “Cầu Kiều” nghĩa là gì” in trong tạp chí Văn
hóa dân gian số 3 năm 1997 thì “cầu” là một phương tiện để giúp người ta vượt qua dòng nước Từ
đó câu tục ngữ khuyên những bậc cha mẹ muốn con học giỏi phải biết yêu mến, quý trọng thầy
giáo Trong bài viết “Bàn thêm về hai chữ cầu Kiều trong câu tục ngữ cổ” của Trương Xuân Tiếu-
Trần Đức Nguyên trong tạp chí Văn hóa dân gian số 1 năm 1996, hai tác giả đã giải thích cầu kiều
là một loại cầu làm trò chơi chứ không phải là cầu đẹp hay cầu nổi Như vậy, các cách hiểu về “cầu kiều” rất đa dạng: người thì hiểu ở từ ngữ, ở câu chữ, người thì giải thích ở góc độ cuộc sống như xuất xứ, nguồn gốc
Câu tục ngữ “Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng” có 2 cách hiểu hoàn
toàn trái ngược nhau về “nàng dâu” Trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” của Việt Chương năm 1985 và trong “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân năm
1997 thì câu này được giải thích: chỉ sự nhường nhịn lẫn nhau trong ăn uống (nàng dâu tốt) Còn
trong bài viết “Nên hiểu câu nói “Rau muống tháng chín nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn”như
thế nào?” in trong tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, (số 4) năm 1987, Phan Văn Hoàn sau khi
phân tích động từ “nhịn” trong mối quan hệ nàng dâu mẹ chồng đã hiểu nghĩa của câu tục ngữ trái với các tác giả trên là muốn ám chỉ nàng dâu xấu
“Có của lấy của của che thân, không của lấy thân che của” được Đào Thản trong bài viết
“Hiểu và giải thích một câu tục ngữ” năm 2001 lý giải nặng về ý nghĩa tinh thần và người ta sẵn
sàng hi sinh thân mình để bảo vệ “của cải tinh thần” Còn Nguyễn Thị Nhung trong bài viết “Thêm
một cách hiểu về một câu tục ngữ” in trong tạp chí Ngôn Ngữ số 6, năm 2001 đã băn khoăn về
cách giải thích của Đào Thản ở bài viết trên nhưng cũng nghĩ như Đào Thản và xem “ thân” ở vế
sau là biểu tượng của đạo đức tinh thần Trong bài viết “Cái của là cái của ơi” in trên tạp chí Ngôn
ngữ và đời sống, số 7 năm 2001, Đặng Thanh Hòa đã xem chữ “của” cuối cùng là cái của nợ của
người ta Phạm Thuận Thành trong bài viết “Dựa vào xuất xứ để hiểu đúng một câu tục ngữ” in
Trang 39trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 3, năm 2000 thì cho rằng muốn hiểu đúng một câu tục ngữ phải dựa vào nguồn gốc để xem xét Theo tác giả: “của” là của cải vật chất, tiền bạc cụ thể, “thân”
là thân người, mạng người và “che” là che chắn, bảo vệ, giữ gìn
Vì không có cơ sở, căn cứ nào thật sự thuyết phục để xác định nguồn gốc ra đời nên câu tục
ngữ “Gái thương chồng đang đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm” đã được giải
thích với những tiền giả định khác nhau Nhìn chung ở nét nghĩa thứ nhất là nói về thời điểm và
mức độ tình cảm giữa vợ và chồng Cụ thể qua các bài viết “Trao đổi về ý nghĩa một số câu tục
ngữ, ca dao” năm 1997 của Nguyễn Thục Hiền, “Gái thương chồng đang đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm” in trong tạp chí Nguồn sáng dân gian năm 2005 của Phan Bá
Hàm,“Về các cách hiểu câu tục ngữ “Gái thương chồng…”, đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian,
(số 03), năm 2006 của Nguyễn Nghĩa Dân – Nguyễn Hanh Để đưa ra cách nhìn nhận và lý giải
riêng về câu tục ngữ trên, Triều Nguyên trong bài viết “Tìm hiểu câu tục ngữ “Gái thương chồng
đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm” in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời
sống, số 5, (2006) đã giải thích ý nghĩa câu tục ngữ trên là thời điểm mà vợ chồng thường hay nghĩ
đến nhau trong khi phải lao động vất vả để mưu sinh Nguyễn Đức Dương qua bài viết “Người xưa
nhắn gì qua câu tục ngữ: Gái thương chồng đương đông buổi chợ ” năm 2008 không đồng tình
với cách giải thích của Hoàng văn Hành trong sách “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” về ý nghĩa
câu tục ngữ trên Theo ông, không nên xem câu tục ngữ trên là câu so sánh như các tác giả trước mà
xử lý nó như là câu tỉnh lược, cần phải đi tìm những biểu thức ngôn từ súc tích nhưng có thể diễn đạt thỏa đáng cho những phần bị tỉnh lược Không đồng tình với cách lý giải của Nguyễn Đức
Dương, Nguyễn Thị Thanh Ngân trong bài viết “Tình thương-cội nguồn của hạnh phúc trong một
câu tục ngữ” (năm 2008) đã đưa ra hai cách hiểu thông qua biện pháp khôi phục tỉnh lược Cụ thể:
gái (nên biết) thương chồng (khi chồng phải một mình giữa lúc) đương đông buổi chợ Trai (nên biết) thương vợ (khi vợ phải một mình giữa lúc) nắng quái chiều hôm Từ cách hiểu này, tác giả dẫn đến hệ quả cách hiểu thứ hai như sau: gái (nên biết) thương chồng hơn (khi thấy chồng tháo vát lúc đương đông buổi chợ Trai (nên biết) thương vợ (hơn khi thấy vợ phải đảm đang) lúc nắng quái
chiều hôm Bài viết “Cùng nhắc lại câu “gái thương chồng…”, in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời
sống, 2006,(số 08) của Sầm Văn Bình đã lý giải hai cặp danh từ và tính từ có độ đậm đặc thông tin lớn nhất là: buổi chợ / đương đông và nắng / quái Tác giả đã khảo sát đồ thị biểu diễn 5 thành phần tạo nên “chợ” và sức nóng gay gắt của “nắng quái” để dẫn đến ý nghĩa của câu tục ngữ trên là sự khác nhau trong cảm xúc ân ái giữa nam và nữ có tính khách quan (tính giai đoạn và tính thời điểm)
Trong tiếng Việt có một số lượng lớn từ đa nghĩa (hai nghĩa trở lên) Các nét nghĩa này có quan hệ rất đa dạng Chính vì thế nghĩa của một số câu tục ngữ được nhiều tác giả giải thích khác
Trang 40nhau, xuất phát từ nguyên nhân do những từ đồng âm đa nghĩa Kho tàng tục ngữ Việt nam có câu:
“nhiều con giòn mẹ” Từ “giòn” trong câu trên là một từ đa nghĩa Theo “Từ điển thành ngữ và tục
ngữ Việt Nam”, của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào và “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân, căn cứ trên ý nghĩa của từ “giòn”, các tác giả đã giải thích ý nghĩa câu
này là lời nói đùa người phụ nữ có nhiều con càng đẹp ra Có tác giả lại giải thích: có nhiều con thì
mẹ được vui vẻ mọi mặt như trong công trình “Về cội về nguồn” của Lê Gia Theo Phan Thị Đào
và Phan Trọng Hòa, cách hiểu trên cũng có cơ sở hợp lý nhưng chưa thực sự thuyết phục Vì vậy,
trong bài viết “Về nội dung của một câu tục ngữ” in trong tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, năm
1995, các tác giả đã đề xuất cách hiểu khác đối với từ “giòn” “Nhiều con, giòn mẹ” nghĩa là được con (về số lượng) thì mất mẹ, hao mòn mẹ (về thể chất), phản ánh quan niệm tiến bộ của nhân dân
ta về việc sinh con đẻ cái, đối lập với quan niệm “rậm người hơn rậm của” Việt Chương trong “Từ
điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” năm 1985 cũng giải thích câu này giống như hai tác
giả trên đó là nhiều con thì thân xác mẹ khổ cực, tiều tụy
Câu tục ngữ “Nuôi con trong dạ đổ vạ cho ông vải” cũng được Triều Nguyên lý giải qua bài
viết “Tìm hiểu câu tục ngữ “Nuôi con trong dạ đổ vạ cho ông vải”, in trong “Khảo luận về tục ngữ người Việt” năm 2006 Sau khi dẫn lại cách giải thích của sách “Kho tàng tục ngữ người
Việt”, tác giả đã giải thích: “Nếu nuôi dưỡng cái thai cho to, thì sản phụ không đẻ được (và sẽ chết)
Nói “đổ vạ cho ông vải” vừa hàm ý trách oan ông bà ông vải không muốn cho cháu chắt sống, vừa
là cách nói kiêng, nói tránh chuyện chết chóc vốn đang là vấn đề nhạy cảm đối với người đang mang thai”.[150,248]
"Ếch tháng ba, gà tháng bảy" là câu tục ngữ có nhiều ý kiến hoàn toàn trái ngược nhau về
cách hiểu Trong cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (1989), Nguyễn Lân giải thích:
“Kinh nghiệm cho biết ếch về tháng ba và gà về tháng bảy thì béo, thịt ngon” Đồng tình với
Nguyễn Lân, Trần Quang Đại trong bài viết “Đi tìm ý nghĩa của một câu tục ngữ”(2008) đã cho
rằng “ếch tháng ba” và “gà tháng bảy” (hay “gà tháng mười”) là kinh nghiệm về những món ăn
ngon Còn Nguyễn Đức Dương trong bài “Ếch tháng ba, gà tháng bảy” có phải là món ăn khoái
khẩu của người Việt? trên báo Lao động cuối tuần số 4 (243) năm 2006 lại cho rằng cách giải thích
như Nguyễn Lân là không đúng bởi vì tháng ba và tháng bảy (âm lịch) là hai thời kì giáp hạt, đói kém, con người điêu đứng nên gà và ếch không thể no, béo được Do đó, Nguyễn Đức Dương cho rằng nên hiểu “ếch tháng ba” và “gà tháng bảy” là hai món ăn dở nhất
Câu tục ngữ “Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại” trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca
dao Việt Nam” của Việt Chương (1985) được giải thích là: sự phân biệt đối xử, xem trọng cháu nội
hơn cháu ngoại Còn trong “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân (1997), câu
tục ngữ này khuyên những người vợ kế nên thương yêu con vợ trước Theo các tác giả Vũ Dung,