Đề tài : Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Quý thầy cô ngành Văn học Việt Nam trường Đại học Sư phạm
Tp Hồ Chí Minh tham gia giảng dạy lớp Cao học khóa 18 (năm học 2007-2010) đã nhiệt tình trong giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS Tiến sĩ Lê Thu Yến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cám ơn tất cả những tác giả, những nhà nghiên cứu, đã giúp tôi có nguồn tư liệu quý gía để tham khảo và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình đã động viên, ủng hộ tinh thần tôi trong suốt thời gian qua
TP HCM, ngày 30/11/2010
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Hoàng Trung Thông trong bài “ Hồ Xuân Hương – Người đó là ai” có những câu thơ khá hay
viết về Hồ Xuân Hương:
…Nàng Hương ơi
Người ta bình luận về dâm và tục trong thơ nàng Nhưng tôi vẫn thấy mùi hương phảng phất Mùi hương của thơ ca
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đã xuất hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ, thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến già nua và rải khắp nhân gian mùi hương kì diệu: hương của đất, của nước, của gió, của trăng, của
đá, của rêu, của lạch, của khe, của những hội hè đình đám (đánh đu), của những sinh hoạt đời thường (tát nước, dệt cửi), đến cả chiếc bánh trôi, con ốc nhồi, chiếc lá đa cũng dậy hương dưới bút
thơ của nàng Đó là mùi hương của sự sống phập phồng, của xuân tình phơi phới, của khát khao cháy bỏng, của nhựa sống tràn trề…Đó là tất cả những gì rạo rực, đắm say nhất, tự nhiên nhất và vì thế mà cũng mang đậm tính người nhất
của không gian, thời gian đến tận hôm nay vẫn hiện diện trong đời sống văn học của chúng ta Không sao thống kê hết con số chính xác những bài viết, những công trình nghiên cứu, những phê bình, nhận định, đánh giá của nhiều thế hệ độc giả đủ mọi lứa tuổi, trình độ, giới tính … bàn về Hồ Xuân Hương và thơ bà Trong lịch sử văn học nước nhà đây quả là một hiện tượng lạ lùng hiếm thấy!
chưa rõ thực hư, vẫn đối lập đâu đấy những ý kiến khen chê trái ngược gay gắt Nhưng ngay cả khi
không ít ý kiến cho thơ bà chỉ nói điều thông tục, tầm thường, chỉ rặt những thứ tục và dâm thì vượt
trên tất cả, thơ bà vẫn sống mãnh liệt và nguyên vẹn trong lòng nhân dân nhiều thế hệ Phải chăng chính nhân dân mới là những người tri kỉ, những bạn đọc tri âm thấu rõ hơn ai hết những giá trị của thơ bà? Phải chăng vì trong thơ nữ sĩ mang sức sống kì diệu của tâm hồn nhân dân và văn hóa dân tộc nên dù có ý kiến khen chê khác nhau nhưng không ai có thể phủ nhận những độc đáo về nghệ thuật và tầm tư tưởng nhân văn lớn lao vượt thời đại chứa trong những vần thơ của nữ sĩ
sáng tác trữ tình trong nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay có đề cập đến vấn đề tính dục qua đề
Trang 4tài: “ Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh”, nhằm lý giải vì sao
cùng một cảm hứng, đề tài có đề cập đến vấn đề tính dục nhưng chỉ thơ Hồ Xuân Hương mới tạo thành hiện tượng tranh luận suốt bao thế kỉ trên văn đàn thi ca và vì sao sử dụng yếu tố này thơ Hồ Xuân Hương lại tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt, sức sống mãnh liệt như thế trong lòng bạn đọc muôn thế hệ.?
2 Mục đích nghiên cứu
Nhiều công trình nghiên cứu đã khám phá những điều độc đáo, mới mẻ trong sáng tác của Hồ Xuân Hương cả về nội dung lẫn nghệ thuật Trên cơ sở học tập, tiếp thu những nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề có nhiều quan điểm trái ngược trong thơ Hồ
Xuân Hương là vấn đề tính dục
Từ trước đến nay, vấn đề này trong thơ Hồ Xuân Hương có nhiều cách đánh giá, lý giải khác nhau Trước kia, Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh giải thích vấn đề tính dục - mà hai ông gọi là yếu
tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, dựa trên lý thuyết phân tâm Freud là kết quả của quá trình
thần kinh nữ sĩ có những ẩn ức tình dục Về sau một số nhà nghiên cứu hoặc dựa vào cơ sở xã hội
học hoặc lấy văn hóa học làm nền tảng, luận giải thơ Hồ Xuân Hương mượn yếu tố tục, dâm để phản kháng lại những bất công thối nát của xã hội phong kiến; thậm chí có nhà nghiên cứu còn tôn vinh Hồ Xuân Hương là nhà cách mạng có tư tưởng tiến bộ và thái độ dũng cảm Gần đây nhất, những nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy đặt lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương dưới góc nhìn của tín ngưỡng phồn thực… Do khả năng hạn hẹp, chúng tôi không có tham vọng đưa ra một
ý kiến, quan niệm hay cách lý giải mới nào về vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, mà chỉ muốn qua luận văn này bày tỏ một cách nghĩ riêng
Theo chúng tôi, thơ Nôm Hồ Xuân Hương có cách thể hiện thật dí dỏm, tinh nghịch, cách nhìn
và nghĩ thật hồn nhiên, đôi bài với cách nói nước đôi, ngôn ngữ đa nghĩa tài hoa đã khéo léo mở ra trường nghĩa ngầm; lạ lùng, độc đáo hơn nét nghĩa nào cũng gợi người đọc tự nhiên liên tưởng đến vấn đề tính dục: các bộ phận sinh dục nam nữ, những hoạt động tính giao….thậm chí từ cả hình sông thế núi hay tư thế lao động, những hoạt động vui chơi hội hè ….cũng gợi người đọc tự nhiên nghĩ đến, hướng đến “cái ấy”, “chuyện ấy” Nhưng nếu cứ cho là trong thơ Hồ Xuân Hương có sử dụng yếu tố tính dục đi chăng nữa thì quan trọng là nữ sĩ sử dụng nó nhằm mục đích gì? Đâu phải
cứ sáng tác nghệ thuật nào có đề cập đến chuyện ái ân trai gái, vấn đề tính dục thì đều bị coi là dâm
ô, gợi dục Đó là quan niệm hẹp hòi và có phần phiến diện Nên chăng khi xem xét, đánh giá một vấn đề cần đặt nó trong cái nhìn tổng thể, toàn diện với nhiều mối quan hệ: hoàn cảnh lịch sử, mục đích sáng tác, quan niệm thẩm mĩ của người sáng tác…
Bằng cách so sánh thơ Nôm của Hồ Xuân Hương với một số sáng tác trữ tình có xuất hiện yếu tố tính dục trong thi ca Việt Nam từ xưa đến nay, chúng tôi muốn lý giải vì sao cùng sử dụng những
Trang 5yếu tố này mà các sáng tác khác lại không gây nhiều tranh luận, không tạo sức hấp dẫn và sức sống mãnh liệt bằng thơ Nôm Hồ Xuân Hương Phải chăng cội nguồn làm nên sức sống của thơ Nôm Hồ Xuân Hương chính bởi ngoài tài năng, bà đã nhìn, nghĩ, sống và sáng tác thơ bằng cách nhìn, cách nghĩ, bằng lối sống của cha ông ? Phải chăng mượn đề tài tính dục là cách để nữ sĩ đề cao quyền sống chính đáng của con người, nhằm phủi sạch thứ đạo đức giả trói buộc con người và đôi lúc nó
là thứ vũ khí phản kháng lại những gì đi ngược, trái với tự nhiên, trái với sự sống chính đáng của con người? Phải chăng chỉ có trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, khái niệm tính dục gắn với quyền sống hạnh phúc của con người mới được nhìn nhận một cách trọn vẹn, đúng đắn, khoa học nhất đồng thời cũng đậm chất nhân văn nhất ? Và phải chăng viết về vấn đề tính dục là cách Hồ Xuân Hương thể hiện rõ nhất tấm lòng mình, một trái tim luôn biết yêu thương, quan tâm, coi trọng con
người, lấy con người làm gốc “ con người với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất
người ( bao gồm các bản năng vốn có và những giá trị khác)” [82:5]
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
Nội dung luận văn chủ yếu đi sâu tìm hiểu: “Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân
Hương dưới góc độ so sánh” Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tính dục
trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhưng mới dừng ở mức độ khẳng định có yếu tố tục và dâm trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương mà chưa làm rõ mục đích việc sử dụng các yếu tố đó, nhất là chưa có sự
so sánh ở bình diện lịch đại với nhiều tác phẩm xuyên suốt tiến trình lịch sử văn học như: văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại
chúng tôi chỉ xin đi sâu vào hai ý chính: nội dung và nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh
Về thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi dựa trên tài liệu “Thơ Hồ Xuân Hương” của nhà nghiên
cứu Nguyễn Lộc xác định có khoảng bốn mươi bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, giáo
sư Lê Trí Viễn trong “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” cũng cho rằng thơ Nôm xác định tương đối
chính xác là của Xuân Hương thì có độ khoảng bốn mươi bài Luận văn sẽ không xét những bài thơ
Nôm trong “ Lưu hương ký” vì có phong cách khác, không liên quan nhiều đến đề tài tìm hiểu của
luận văn
Trong văn học dân gian, chúng tôi sẽ khảo sát một số câu ca dao, tục ngữ, câu đố có yếu tố tính dục Trong văn học trung đại, chúng tôi sẽ khảo sát một số câu thơ, đoạn thơ có yếu tố tính dục
trong các tác phẩm: Truyện Kiều – Nguyễn Du ; Cung oán ngâm khúc – Đặng Trần Côn, Chinh phụ
ngâm – Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn, bản dịch chữ Nôm: Đoàn Thị Điểm, Song Tinh Bất
Dạ của Nguyễn Hữu Hào
Trang 6Trong văn học hiện đại chúng tôi sẽ khảo sát một số bài thơ có yếu tố tính dục trong các tác phẩm của Xuân Diệu, Bích Khê và Vi Thuỳ Linh Cụ thể như sau:
Xuân Diệu: chỉ tìm hiểu những tác phẩm viết trước Cách mạng tháng Tám trong hai tập: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945)
Bích Khê: một số bài trong hai tập thơ: Tinh Huyết (1939), Tinh Hoa (1941)
Vi Thùy Linh: một số bài thơ trong bốn tập thơ: Khát”( 1999), “Linh” (2000), “Đồng Tử”( 2005),“ Vili in love”( 2008)
Đồng thời chúng tôi mạn phép có tham khảo những công trình nghiên cứu từ trước tới nay có liên quan đến vấn đề tính dục và thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương
4 Lịch sử vấn đề
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ lớn của dân tộc Thế nhưng, cho đến nay, cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của bà vẫn là “ cuộc tìm kiếm giữa màn sương huyền thoại” Là một hiện tượng văn
học nên dù số lượng tác phẩm để lại không nhiều, trong đó có cả những tác phẩm vẫn còn hồ nghi
về gốc tích tác giả, nhưng qua nhiều thời đại, cuộc đời và sự nghiệp văn học của Hồ Xuân Hương vẫn luôn tạo ra nhiều luồng đánh giá, nhận định khác nhau, thậm chí có cả những tranh luận, ý kiến đối lập nhau gay gắt Trong đó nổi bật lên vấn đề gây nhiều tranh luận nhất là : vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương nảy mầm, ươm hạt và lớn lên từ nền văn hóa dân gian Ở Xuân Hương, ta thấy có sự chọn lọc, tiếp thu và sáng tạo thi liệu từ nguồn văn hóa dân gian Nhưng bằng tài năng và lòng dũng cảm của người nghệ sĩ thiên tài, Xuân Hương lại chọn lọc những chỗ “gai góc” nhất của dân gian Những chỗ mà ngay cả thiên tài trước và sau Xuân Hương cũng không dám lại gần, đó là vấn đề vốn được xem là cấm kị trong văn học: đề tài tính dục
Vì thế, với một hiện tượng độc đáo như thơ Hồ Xuân Hương, quanh đề tài tính dục trong thơ bà
đã có rất nhiều hướng tiếp cận Theo dòng lịch sử hơn hai thế kỉ qua kể từ khi một chân dung văn học được khẳng định, người ta vẫn chưa thôi tranh luận về thơ bà, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm được tiếng nói chung trong hướng lý giải vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương Thậm chí hình thành cả những trường phái, khuynh hướng tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương theo nhiều góc độ như: phân tâm học, xã hội, văn hóa…
nhận định, quan điểm, các công trình nghiên cứu từ trước đến nay có thể tạm chia làm hai khuynh hướng, hai cách đánh giá : phê phán và bênh vực
Quảng Hàm nhận xét: “ Suốt tập thơ của nàng mấy bài là không có ý lả lơi, dầu tả cảnh gì, vịnh vật
Trang 7gì cũng vậy” [24:387] Năm 1933, trên An Nam tạp chí (số 3-1933), Tản Đà cũng viết: “ Thơ của
Hồ Xuân Hương thật là linh quái, những câu hay đọc đến ghê người Người ta thường có câu “thi trung hữu hoạ” nghĩa là “trong thơ có hoạ”, nhưng thơ Hồ Xuân Hương thời lại là “thi trung hữu quỷ” nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời là tục”
Về sau, chịu ảnh hưởng của lý thuyết phân tâm học, ở Việt Nam có Nguyễn Văn Hanh và Trương Tửu là hai nhà phê bình đã khẳng định trong thơ Hồ Xuân Hương có yếu tố tục, dâm Họ lý giải nguồn gốc yếu tố tục, dâm trong thơ nữ sĩ là căn bệnh tâm thần do nỗi ám ánh tính dục bị kìm
hãm Trong Hồ Xuân Hương, Tác phẩm, Thân thế và văn tài, Nguyễn Văn Hanh viết: “ Xuân
Hương không bao giờ thoả thích dục vọng, nàng bị dồn ép luôn luôn Nàng bệnh thần kinh Dục tình chiếm cả đầu óc, ám ảnh nàng mãi Nó nhuộm các tư tưởng của nàng Bao nhiêu thơ của Xuân Hương đều biểu lộ sự khao khát, sự bất mãn Dục tính được biến chuyển qua mỹ thuật trong thơ”
[19:111] Còn Trương Tửu trong Kinh thi Việt Nam lại cho rằng Hồ Xuân Hương có “căn tính
dâm”, là “thiên tài hiếu dâm đến cực điểm", “ cái nhãn quan độc nhất của Hồ Xuân Hương về sự vật là một nhãn quan dâm” [76:104] Cùng quan điểm với hai nhà phê bình trên, Văn Tân cũng chịu
ảnh hưởng của lý thuyết phân tâm học Freud khi cho rằng Hồ Xuân Hương do phải sống trong cảnh
thiếu thốn tình cảm, góa bụa cô đơn nên “ tất không khỏi bị những đòi hỏi về tính dục giày vò” Mặt
khác, Vân Tân còn kết hợp so sánh với văn hóa dân gian để chỉ ra điểm kế thừa yếu tố tính dục
trong thơ Hồ Xuân Hương là từ “cái tục, cái dâm ở ca dao tục ngữ và ở những câu đố tục giảng
thanh……đã hòa hợp với sự khủng hoảng tính dục trầm trọng ở con người Xuân Hương để tạo nên một phần ý thức tư tưởng của Xuân Hương, rồi chi phối hầu hết thi phẩm của Xuân Hương”[62:115]
Nhìn chung, các ý kiến trên có phần hơi phiến diện, cực đoan khi chỉ đi sâu lý giải cội nguồn của hiện tượng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương ở góc độ những uẩn ức của đời sống tình cảm, tâm lý, nghĩa là chỉ chú trọng con người sinh lý, tâm lý mà bỏ quên con người xã hội , con người nhân văn… trong mối quan hệ hữu cơ của con người
cuốn Nữ lưu văn học sử đã nhận xét: “ Văn Nôm của nàng thật có đặc tài đặc thú, đứng hẳn riêng là
một thi gia, cứ kể cho là vô song được, thơ nàng xưa nay ai cũng kêu là có ý thô tục, nhưng xét kỹ tục mà thanh…”
tư tưởng và nghệ thuật thanh nhã, một loại gồm những bài có yếu tố tục và loại thứ ba là những bài
có yếu tố dâm Ông khẳng định nhân tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương là có thật nhưng“ nó
là một hiện tượng xã hội không phải là một biểu hiện bệnh thái” [: 488]
Trang 8Những đóng góp mang đến cho người đọc cái nhìn thấu đáo khi soi sáng vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương dưới góc nhìn xã hội phải kể đến là khuynh hướng tiếp nhận xã hội học với những tên tuổi các nhà nghiên cứu uy tín như: Phạm Thế Ngữ, Nguyễn Lộc, Lê Hoài Nam, Lê Trí Viễn… Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc có cách lý giải yếu tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương
khi gắn thơ bà với văn học dân gian: “ Trong một số bài thơ của Xuân Hương quả có yếu tố tục
Điều này cũng không ai chối cãi được Trong văn học dân gian, nhất là trong truyện tiếu lâm, truyện Trạng Quỳnh, chúng ta từng thấy nhân dân lao động dùng cái tục làm phương tiện để đả kích giai cấp thống trị, những kẻ sống rất tục mà làm ra vẻ sợ cái tục Hồ Xuân Hương đã học tập phương pháp đó của văn học dân gian”[61:263]
Hồ Xuân Hương:“ Xuân Hương nhân danh một sự sống theo lẽ phải của tự nhiên, Xuân Hương
xuất phát từ sự sống gốc nguồn, sự sống là phối hợp âm dương, là sinh sôi nảy nở Nên Xuân Hương mới trở lại hình ảnh cụ thể của sự giao hợp ấy Cái đó, ngày nay ta gọi là tục, kỳ thực không phải”[61:520]
tục, chuyện buồng kín, Đổ Đức Hiểu nhiệt thành ngợi ca thơ Xuân Hương: “ Ở đây không hề có
“cái tục”, mà chỉ có cái tự nhiên, cái đẹp, sức sống của tồn tại con người Không phải vấn đề đạo
lý mà vấn đề triết lý, triết lý tự nhiên và triết lý cái đẹp: Nó hướng tới hạnh phúc và tự do”[61:576]
Hương cũng cho rằng: “ Hồ Xuân Hương coi thân thể và cả bộ phận sinh dục trên cơ thể con người như là tự nhiên, thiên tạo, nó giống như tự nhiên, thiên nhiên vậy Đã thế quyền miêu tả nó trong văn chương cũng là một quyền năng tự nhiên” [61:530]
N.I Niculin- giáo sư tiến sĩ ngữ văn người Nga, còn so sánh việc thể hiện nội dung tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương rất giống với cách thể hiện của Rabelais:
“ Trong sáng tác của bà, cũng như thường hay thấy ở các nhà thơ Việt Nam, thơ trữ tình phong
cảnh chiếm một vị trí quan trọng và điều này không có gì đáng lạ Đáng lạ chăng chính là bản thân những bức phác hoạ phong cảnh của Hồ Xuân Hương Ở đây nhục tình đã xâm nhập vào cũng như trong những bài thơ khác của bà Con người, thân thể con người tựa hồ đã hoà lẫn với thiên nhiên Nhà nữ thi sĩ đã sáng tạo những bài thơ biểu tượng hai mặt trong đó hình ảnh kỳ dị của thân thể con người lẫn với những chỗ lồi lõm trên mặt đất, một loại hình ảnh như của Rabelais, đã song song xuất hiện với phong cảnh” ”[61:630]
Hồ Xuân Hương còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của những nhà phê bình theo khuynh hướng văn hóa học Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Đỗ Lai Thúy với công trình nghiên
Trang 9cứu Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực Dựa trên cơ sở lý luận là lý thuyết phân tích văn hóa
của Bakhtin khi đặt sáng tác của Rabelais vào bối cảnh nền văn hóa phục hưng thời Trung cổ để rút
ra kết luận: hiện tượng Rabelais có cội nguồn sâu xa trong đời sống văn hóa và tinh thần con người,
từ đó Đỗ Lai Thúy đã có những lý giải hợp lý về vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương: “Tiếp
cận từ tín ngưỡng phồn thực chẳng những tìm ra được nguồn tinh huyết của thơ Hồ Xuân Hương, ý nghĩa dâm tục như là một hình thức thị phạm ma thuật để cầu phồn thực phồn sinh”[69:51]
Nhìn chung, các khuynh hướng nghiên cứu trên tuy có những xuất phát điểm khác nhau, cách tiếp cận khác nhau và mặc dù còn nhiều quan điểm đánh giá khác nhau nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất: thơ Hồ Xuân Hương có một sức sống mãnh liệt và đậm đà sắc thái dân gian Ngay cả trong vấn đề tính dục còn nhiều tranh cãi người ta vẫn tìm thấy có sự tương đồng với những sáng tác dân gian Thế hệ chúng ta hôm nay nhờ độ lùi thời gian có thể nhìn vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương một cách khoa học hơn, cởi mở hơn khi đặt nó trong dòng chảy văn học Việt Nam nói riêng, văn học thế giới nói chung để đối sánh Rõ ràng, hiện tượng Hồ Xuân Hương không còn là cá biệt nhưng vẫn thật riêng biệt, độc đáo do cách thức thể hiện và mục đích sử dụng, khai thác vấn đề tính dục trong thơ bà
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những công trình, đề tài nghiên cứu trên chỉ mới hoặc khẳng định có yếu tố tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hoặc chỉ dừng lại lý giải vấn đề tính dục trong bản thân cấu trúc tác phẩm hay dựa vào cuộc đời, thời đại, nguồn cội văn hoá dân gian, hoặc vận dụng cái nhìn xã hội học, tâm lý học, văn hoá học… để tìm hiểu vấn đề; chưa có công trình nào
mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối tượng với những tác phẩm cùng chủ đề, cùng đề tài của những tác giả khác Vì thế, với luận văn này, chúng tôi mạnh dạn mở rộng phạm vi nghiên cứu bằng
cách chọn một vấn đề vốn gây nhiều tranh luận quanh thơ Nôm Xuân Hương là vấn đề tính dục,
đặt yếu tố này vào hệ thống những tác phẩm cùng thể loại (sáng tác trữ tình), cùng đề tài (tính dục)
để so sánh tìm những điểm tương đồng, dị biệt nhằm mục đích góp một cách nhìn, cách hiểu cụ thể hơn vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương, đặt trong hệ thống tác phẩm cùng đề tài; qua đó góp phần lý giải phần nào sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Nôm Hồ Xuân Hương
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành Dưới đây là một số phương pháp chủ yếu:
Phương pháp hệ thống: Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn Mỗi tác
phẩm lại trở thành một thành tố, một bộ phận trong hệ thống lớn hơn: hệ thống văn học dân tộc, hay
hệ thống đề tài, hệ thống cốt truyện, biểu tượng…Vì thế tác phẩm của từng tác giả cần được đặt
Trang 10trong những hệ thống lớn hơn để có thể cho ta có cái nhìn đa chiều, toàn diện, sâu sắc hơn về vấn đề đang nghiên cứu
Bài viết này chọn một số sáng tác trữ tình của nhiều tác giả trong nền văn học dân tộc, khác nhau về thời đại nhưng cùng nằm trong hệ thống đề tài chung: đề tài tính dục- để tìm hiểu, hầu có cái nhìn đầy đủ, sâu sắc về đề tài này trong nền văn học dân tộc Hạt nhân trọng tâm để so sánh, đối chiếu là thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Trên cơ sở so sánh, đối chiếu giữa thơ Nôm Hồ Xuân Hương với các sáng tác: thơ ca dân gian, thơ trung đại, thơ hiện đại có xuất hiện yếu tố tính dục, chúng tôi sẽ thống kê, phân loại một số nội dung thể hiện và hình thức nghệ thuật được sử dụng nhằm phục vụ cho mục đích so sánh
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chủ yếu, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh thơ
Nôm Hồ Xuân Hương viết về đề tài tính dục với các tác phẩm khác có yếu tố tính dục để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt ở một số khía cạnh như nội dung, nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục;
lý giải nguyên nhân có sự giống, khác đó Từ đó, chúng ta có thể thấy rõ những ảnh hưởng qua lại giữa các sáng tác cùng đề tài, có cái nhìn toàn diện, khái quát ở bình diện rộng và cái nhìn sâu ở bình diện hẹp của những tác phẩm viết về đề tài tính dục trong văn học Việt Nam hầu tìm ra những giá trị riêng của từng sáng tác, đóng góp riêng của từng tác giả Trên hết, luận văn muốn đi đến kết luận: khẳng định ý nghĩa đặc biệt của vấn đề tính dục là một trong những yếu tố góp phần làm nên giá trị và sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để thấy
được những nét tương đồng, dị biệt trong các sáng tác có đề cập đến vấn đề tính dục nhằm làm rõ sự ảnh hưởng, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc cùng sự sáng tạo độc đáo của Hồ Xuân Hương
6 Kết cấu luận văn
Luận văn có 162 trang chính văn Ngoài phần mở đầu 10 trang, kết luận 6 trang, nội dung luận văn 146 trang được triển khai trong ba chương:
Chương 1: TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
Chương 2: SO SÁNH VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM
HỒ XUÂN HƯƠNG VỀ MẶT NỘI DUNG Chương 3: SO SÁNH VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM
HỒ XUÂN HƯƠNG VỀ MẶT NGHỆ THUẬT
7 Đóng góp của luận văn
Trang 11Ý nghĩa khoa học:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, luận văn này có sự kế thừa và phát huy những thành tựu rất đáng trân trọng của những người đi trước Luận văn nêu lên và đi sâu vào
một phương diện trong tư tưởng nhân văn và phong cách sáng tạo của Hồ Xuân Hương: vấn đề tính
dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh
Ý nghĩa thực tiễn:
Người viết mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ hơn vẻ đẹp nhân văn của yếu tố tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Từ đó khẳng định tài năng của nữ sĩ có sự kế thừa, phát huy nền văn hoá dân gian của dân tộc
Nghiên cứu về Hồ Xuân Hương là niềm đam mê đồng thời để tự trang bị cho bản thân vốn hiểu biết về nhà thơ mình yêu thích nhằm phục vụ, hỗ trợ tốt cho công tác giảng dạy văn học sau này trong nhà trường phổ thông
Trang 12Chương 1:
TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1.Khái niệm tính dục và vấn đề tính dục ở phương Đông, phương Tây
1.1.1 Khái niệm tính dục
Tính dục – theo Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: là “thú
vui của xác thịt giữa nam và nữ” Còn Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt thì cho rằng tính
dục là những “đòi hỏi về quan hệ tính giao”[85:1593]
Tính dục xét về mặt hoạt động là khái niệm chỉ hoạt động tính giao, là thuộc tính của một sinh thể sống, một nhu cầu thiết yếu, phổ biến của con người, một hành vi có tính bản năng Nói cách khác con người dưới góc nhìn khoa học vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một sinh vật xã hội
mà trong đó khái niệm tính dục được hiểu như là mặt sinh vật tự nhiên thuộc về bản năng của con
người, là phần “con” trong con người Trong Bốn bài giảng mỹ học, Lý Trạch Hậu đã khẳng định
con người song song tồn tại trong sự thống nhất tính động vật và tính xã hội và nhân tính chính là sự
thống nhất giữa cảm tính và lý tính, tự nhiên và xã hội Khi con người “trở lại tính động vật, trở lại
với tính dục là trở về với sự sống đích thực, bởi vì chỉ có như thế thì cái tôi có một lần mới có thể tồn tại như một thực thể” [29]
Nhìn ở phương diện khác văn hoá chẳng hạn, tính dục là sự thăng hoa của những xúc cảm thẩm mỹ, đầy nhân tính: tình yêu, khát vọng, cội nguồn của sự sống, hoạt động duy trì nòi giống của muôn loài Trong văn học, khái niệm tính dục được dùng chủ yếu để phản ánh hoạt động luyến ái trong quan hệ nam nữ
Tính dục thuộc về bản năng con người, đời sống tình dục, quan hệ ân ái là bản năng sinh lý
tự nhiên của loài người không thể cấm đoán hay phủ nhận Xưa Mạnh Tử đã khẳng định: “ Thực
sắc, tính dã ” nghĩa là ham ăn uống, mê sắc dục là bản tính tự nhiên có sẵn của con người
Cùng trường nghĩa với khái niệm tính dục ta còn có những khái niệm khác như: tục, dâm, giới tính, tình dục…
Giới tính: “Những đặc điểm của cấu tạo cơ thể và của tâm lý làm cho có chỗ khác nhau giữa nam
và nữ, giữa giống đực và giống cái”
Tục: “Tầm thường, không thanh cao”
Dâm: “Ham muốn thú vui nhục dục quá chừng độ hoặc không chính đáng”
Tình dục: “sự ham muốn thú vui nhục dục”
Như vậy, so với những khái niệm trên thì khái niệm “tính dục” phù hợp với đề tài chúng tôi muốn thực hiện vì nói đúng bản chất hiện tượng được phản ánh trong đối tượng nghiên cứu, vừa là khái niệm chứa trong nó ít nhiều những nét nghĩa có liên quan trong các khái niệm còn lại
Trang 13Mặt khác, chúng tôi cho rằng dùng khái niệm “ tính dục” là cách thể hiện quan điểm riêng của chúng tôi khi cho rằng thơ Nôm Hồ Xuân Hương có gợi liên tưởng đến vấn đề tính dục nhưng không tục, không dâm, tuyệt nhiên thơ bà không lấy việc khêu gợi tình dục làm mục đích Khi viết
về đề tài tính dục, nữ sĩ chỉ muốn qua nó ngợi ca, khẳng định quyền sống bản năng chính đáng ở mỗi con người Vấn đề tính dục được đề cập trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương vì thế là cái đẹp của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật vì con người; đó cũng là vẻ đẹp đậm chất nhân văn trong thơ bà
Ngoài ra, liên quan đến khái niệm tính dục còn có khái niệm hoạt động tính giao được xem
là thuộc tính của mọi sinh thể sống Nằm trong từ khoái, sướng, thích của người bình dân, hoạt động
tính giao được mặc nhiên nhìn nhận như một nhu cầu phổ biến thiết yếu của con người, bất kể giàu - nghèo, sang – hèn; từ đó ý nghĩa của tình dục – một hành vi bản năng, được nhìn nhận như là sự khơi nguồn, khởi đầu cho tình yêu và những cảm xúc nhân tính
Hiện nay, tình dục học là một khoa học nghiên cứu về tính dục của con người, một bộ môn vừa thuộc khoa học xã hội nhân văn vừa thuộc lĩnh vực y học, tâm lý học, nó giúp cho con người hiểu biết thêm về các vấn đề liên quan đến các hoạt động tính dục, học nghệ thuật kiềm chế, giải toả
những ức chế để làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn
1.1.2 Vấn đề tính dục ở phương Đông, phương Tây
Lần theo cội nguồn của vấn đề tính dục, dựa vào chứng tích văn hóa – tôn giáo, cũng như những dấu tích còn lại qua tâm thức của người nguyên thủy thì người xưa đã biết phân biệt cái
thiêng với cái tục ( tục hiểu theo nghĩa là những gì dâm tục, ô uế) Đặc biệt, tư duy nguyên thủy coi
khái niệm tục và thiêng không đối lập mà là một thể xoắn luyến vào nhau: thiêng là tục, tục là thiêng Bởi cái thiêng lẫn cái tục đều gây cho họ một thái độ vừa sợ hãi vừa thèm muốn tiếp xúc Mãi đến khi xã hội có giai cấp, cái thiêng và cái tục mới bắt đầu tách rời nhau, mờ dần những quan
hệ ban đầu, dần tách biệt và trở nên đối lập, nhất là trong ý thức chính thống của xã hội phong kiến
Có lẽ vì thế mà trong ý thức dân gian những biểu tượng phồn thực không bị coi là dâm tục, mà chỉ trong ý thức chính thống của xã hội phong kiến thì mới cho đó là tục dâm vì người ta đã tách rời những biểu tượng này khỏi cái thiêng là cầu mong phồn thực, phồn sinh
Thậm chí, người xưa còn nâng những biểu tượng phồn thực lên thành tín ngưỡng Tín ngưỡng phồn thực là một hiện tượng tôn giáo phổ biến trong đời sống nhân loại từ xa xưa Biểu hiện chủ yếu của tín ngưỡng phồn thực này là thờ sinh thực khí nam nữ Dấu vết của tín ngưỡng
được biểu hiện trong di sản văn hóa vật chất và tinh thần của người xưa còn lưu lại trong nếp phong tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian, trong vốn văn hóa dân tộc…Ở Châu Âu, tín ngưỡng phồn thực nhất
là tục thờ dương vật rất phổ biến Ở Hy Lạp, La Mã trong các buổi lễ Tửu thần, người ta cúng
Trang 14Phallus –sinh thực khí nam Ở Châu Á, các nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, tín ngưỡng phồn thực còn phát triển lên thành triết học, văn hóa tính dục…
Sau này, F.Ăng ghen trong cuốn “Nguồn gốc gia đình, tư hữu và nhà nước” đã viết rằng, có hai hình thức sản xuất quan trọng nhất: “Một mặt, đó là sản xuất phương tiện sống - đồ ăn, đồ mặc,
nhà cửa, công cụ cần thiết, mặt khác, đó là việc sản xuất bản thân con người, là sự kế tục giống nòi” Đây là cơ sở thực tiễn dẫn đến nhận thức khái quát làm cơ sở cho thuyết âm - dương, mặt khác
đó là ý thức tôn giáo của quần chúng liên quan đến việc thần thánh hóa các cơ quan sinh sản, các sinh thực khí (sinh: đẻ, thực: nảy nở, khí: công cụ )
Phương Đông cổ đại lấy lý thuyết âm dương và ngũ hành làm cơ sở để giải thích mọi hiện tượng trong đời sống tính dục Theo đó nam là dương, nữ là âm Nếu âm dương không cân bằng, không hoà hợp thì con người sẽ phát sinh bệnh tật và tổn thọ Kinh Dịch được xây dựng trên quan niệm âm dương, âm – dương là hai phạm trù đại biểu cho hai dạng sự vật phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính (cứng cỏi, nồng nhiệt, tích cực), một dạng có âm tính (mềm yếu, lạnh lùng, tiêu cực) Hai thế lực âm dương tác động lẫn nhau tạo thành vũ trụ, vạn vật Bất cứ vật gì trong vũ trụ cũng có âm dương, từ những năng lượng, vật chất đến động vật, thực vật, từ cơ thể con người, tâm
lý con người đến cơ cấu xã hội Tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch là biến hoá, phát triển, bao gồm hai nguyên lý có quan hệ chặt chẽ Trong đó nguyên lý thứ nhất là âm dương tương ứng, âm dương giao hoà, khí dương là trời, khí âm là đất, khí dương ở dưới do có tính chất thăng mà giao tiếp với khí
âm, hai khí giao hoà, mọi vật yên ổn Âm – dương giao hoà thì sự sống mới tồn tại và phát triển: “
Trời đất cảm nhau mà vạn vật mới hoá sinh”, “Giống đực giống cái kết hợp tinh khí mà vạn vật sinh nở biến hoá” [43:112] Tóm lại, âm dương phải tương ứng, tương sinh, đó là nguyên lý bao
quát trong cả đời sống tình dục Lão Tử có viết: “ Bốn mùa, trời đất, âm dương, con người phải
luận theo” Cách thức giao hợp cũng phải theo những thế đối nghịch nhau của sự vật như trời
(dương) trùm lên đất (âm), trời đất hoà quyện liền nhau thành nhất thể nên mãi mãi trường tồn
Rõ ràng, tín ngưỡng phồn thực, sự hòa hợp âm dương đã được người xưa coi trọng như là một qui luật tất yếu có tính tự nhiên và xã hội để giúp loài người tránh họa diệt vong Vấn đề tính dục do đó cũng có tính chất lâu đời và tính qui luật như thế Điểm qua nền văn hóa nhân loại từ phương Tây đến phương Đông, xét ở một số lĩnh vực như văn học, hội họa, điêu khắc, lễ hội…ta thấy quan niệm vấn đề tính dục ở các nước phương Đông và phương Tây có nhiều nét giống nhau nhưng sắc thái và mức độ phản ánh trong mỗi nền văn hóa thì thật phong phú, muôn màu muôn vẻ
1.1.2.1.Vấn đề tính dục trong văn học
Thời cổ đại, trong thần thoại Hy Lạp có một bộ phận truyện kể về sự gặp gỡ của các vị thần
và những con người đầu tiên có liên quan đến việc các nam thần (nhất là Zeus) quyến rũ hay cưỡng bức một người phụ nữ và tạo ra những người con anh hùng, hay việc các nữ thần kết hợp với một
Trang 15người đàn ông trần thế như trong “Vần thơ của Homer về Aphorodite” trong đó nữ thần này kết hợp
với Ankhises và sinh ra Aeneas, hay cuộc giao hoan giữa Peleus và nữ thần Thetis sinh ra Achilles Trong quan niệm người cổ đại, tính dục là chuyện tự nhiên, thậm chí thần thoại còn khoác cho vấn
đề tính dục màu sắc thiêng liêng, đậm tín ngưỡng dân gian, ngoài chức năng sáng tạo con người, tính dục còn là nguồn cội sáng tạo anh hùng, văn hoá, thi ca, triết học, tôn giáo, sáng tạo ra thế giới con người từ vật chất đến tinh thần ( mỗi nhân vật sinh ra từ những cuộc hôn phối ấy đều ẩn dụ biểu tượng cho một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống )
Ở phương Đông, cùng với hai nền văn minh rực rỡ của Ấn Độ và Trung Quốc, hai bộ sách
tính dục Kamasutra và Tố nữ kinh xứng đáng được xem là những tác phẩm cổ điển đề cập một cách
sâu sắc đến lạc thú gối chăn trên bình diện khoa học
Kamasutra được xem là một trong những“tính dục kinh” cổ điển của nhân loại, do
Vatsyayana một nhà hiền triết nghiên cứu về tôn giáo sống ở Ấn Độ viết bằng tiếng Phạn, trong khoảng năm 200 đến 300 Tác phẩm gồm 1.250 khổ thơ chia làm 36 chương và 64 đoạn, trong tiếng
Phạn: Kama là khóai lạc, sutra là kinh nên Kamasutra có nghĩa là “Dục lạc kinh” Bộ sách dạy con
người biết cách tận hưởng những lạc thú của cuộc đời nhất là thú vui ái tình Theo tín ngưỡng Hindu giáo, của cải vật chất trên trần thế, tính dục và sự cứu rỗi của linh hồn đều có tầm quan trọng như nhau Nếu thiếu vắng một trong những yếu tố trên thì cuộc sống con người sẽ không hoàn hảo Không có tính dục, xã hội loài người sẽ biến mất, điều đó lý giải vì sao mỹ thuật tính dục lại chiếm
vị trí vừa quan trọng vừa thiêng liêng trong kinh cổ của người Hindu
Ở Trung Quốc, Tố nữ kinh được coi là sách kinh điển về tính dục học suốt thời kì phong
kiến, chủ yếu ghi lại những câu hỏi của nhà vua và lời giải đáp của Tố nữ quanh chuyện ái ân, qua
đó cho người đời những hiểu biết sâu xa và lý thú về cuộc sống phong the, những kinh nghiệm ái
ân
Ngoài ra Kinh Dịch được xem là bộ bách khoa toàn thư của Trung Quốc, thể hiện cách nhìn
thế giới qua lăng kính tình dục của người xưa: các trạng thái vận động của vũ trụ được miêu tả bằng
các hành vi tính dục như “nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh”, “thiên điạ bất giao như vạn vật bất
hưng”…những tiếng “mây”, “mưa”, “giao”, “cảm”, nam “động thì thẳng”, nữ “động thì mở”…đều là những thuật ngữ tình ái [43:101]
Sử thi Ramayana của Ấn Độ xuất hiện dày đặc môtip sinh sôi, trạng thái giao hoan của vạn
vật, theo đó tính dục tồn tại để thực hiện chức năng duy trì giống nòi, con người có quyền thoả mãn nhu cầu khoái lạc thể xác, không có khoái lạc tình dục và hạnh phúc thể xác, cuộc sống gia đình không thể tồn tại, dòng giống sẽ bị tuyệt diệt Quan niệm đó đuợc cố định thành luật – luật Manu
Sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường ( Việt Nam) coi ông Thu Tha bà Thu Thiên là cặp
vợ chồng khai sáng vũ trụ Trời đất được sinh ra từ sự hôn phối của hai ông bà có tầm vóc kỳ vĩ
Trang 16này Chuyện Ông Đùng Bà Đà trong cộng đồng người Mường của dân tộc Việt kể về cuộc gặp gỡ, giao hoan giữa Ông Đùng Bà Đà làm rung chuyển trời đất sinh ra mưa to gió lớn Ngày nay ở Hòa Bình còn thờ sinh thực khí Ông Đùng
Ở Nhật, từ thời đại Edo (triều đại Tokugawa, 1603-1867), người ta thấy đề tài tính dục đã có một lịch sử lâu đời, một truyền thống văn hoá tính dục thể hiện trong văn hoá nghệ thuật có chung các chủ đề giống phương Tây như quan giới (heterosexual), đồng giới (homosexual), hành lạc tập thể (group sex), có cả tính dục bái vật (fetishism)….Đây là thời đại mà Thần đạo (Shinto) phục hưng, tín ngưỡng vật linh (animism) chi phối tinh thần dân chúng, người ta có xu hướng mê tín thích trộn lẫn những chuyện hoang đường truyền tụng trong dân gian với hành vi tính dục
giải khác nhau về nguồn gốc vũ trụ, loài người nhưng đều giống nhau trong môtip cây vũ trụ Cây sinh ra từ cõi hỗn mang, là kết quả chung đụng của đất trời Do đất trời chung đụng mà cây mang thuộc tính đối cực: âm – dương, nóng – lạnh, sáng – tối
Thế kỉ XV, XVI, xã hội phương Tây bước vào thời đại Phục Hưng – thời kì quá độ từ thời
Trung cổ phong kiến sang thời cận đại tư bản Ăng ghen xem đây là “ bước ngoặt tiến bộ vĩ đại nhất
từ trước đến bây giờ loài người chưa từng thấy” Phong trào nhân văn bừng lên sức sống mới báo
trước thời kỳ sụp đổ không tránh khỏi của chế độ phong kiến già nua và giáo hội khắc nghiệt đè nén sức sống của con người lâu nay, giải phóng con người và trả lại cho họ quyền sống chính đáng về
cả mặt vật chất lẫn tinh thần, tâm hồn lẫn thể xác Chủ nghĩa nhân văn lên án tất cả những gì kìm hãm tự do của con người, đấu tranh cho con người được hưởng quyền sống chính đáng và hạnh
phúc tự nhiên ngay trên thế gian này Chủ nghĩa nhân văn xem con người là “ sản phẩm của tự
nhiên” với những nhu cầu tự nhiên về vật chất cũng như tinh thần, nó chống lại tất cả những gì trái
tự nhiên như chủ nghĩa khổ hạnh, chủ nghĩa cấm dục Đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn vào thế kỉ
XVIII- “thế kỉ ánh sáng” là những kiệt tác của Ruxô: July hay nàng Hêlôiđơ mới, Môngtexkiơ với
Những bức thư Ba Tư…lên án sự phân biệt đẳng cấp, ca ngợi tình yêu tự do, lãng mạn, say đắm
Giai đoạn này, ở phương Đông vấn đề giải phóng con người cá nhân cũng trở nên cấp thiết Cùng với trào lưu chủ nghĩa nhân văn đang phát triển ở phương Tây, văn học ở các nước phương Đông cũng đồng hành với con người trong hành trình đấu tranh với rào cản hệ tư tưởng và những thế lực phong kiến để khẳng định giá trị đích thực của con người cá nhân trong tự nhiên và đời sống
xã hội Ở Ấn Độ, hàng loạt tác phẩm văn học lấy tình yêu đôi lứa làm cảm hứng ngợi ca, cũng như Êrôx của Hi lạp, Cupidong của La Mã, Kama được tôn là thần tình yêu của Ấn Độ Theo cách giải
thích của người Ấn Độ: “sự sinh sôi nảy nở trong trời đất là do sự phối hợp giữa giống đực
(Purusha) và giống cái (Prakriti) Hai giống ấy có khắp nơi luôn luôn tìm gặp nhau theo ý muốn tự nhiên, nghĩa của Kama là như vậy” [80: 36] Kama – thần tình yêu trở thành biểu tượng của khát
Trang 17vọng hạnh phúc trần thế mà con người muốn đạt đến: “ Hỡi Kama ! Thần có chiếc tên nhằm trúng
đích Cánh tên là sầu muộn, lòng tên là mong mỏi, mũi tên là dục tình, mong thần đến xuyên qua trái tim con người”[80: 37] Còn trong tiểu thuyết Genji monogatari, cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất
của văn học Nhật Bản thường được so sánh với tác phẩm Decameron
( Mười ngày ) của Boccaccio – tác phẩm tràn ngập những yếu tố nhục thể, thì nhân vật Genji lại được xem là một “Don Juan Japonais ”[4:122]
Trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, con người vừa bị trói buộc bởi những quan niệm khắt khe vừa phải ép mình vào những khuôn khổ luân lý, đạo đức khắc nghiệt mà xã hội đặt ra
nhằm tiết chế tình cảm, không cho phép con người sống hợp lẽ tự nhiên:“ Trong tất cả các thứ tình,
thứ dục thì Nho giáo sợ nhất là sắc đẹp đàn bà và tình yêu Đó là thứ tình mạnh nhất, thứ dục thiết tha nhất, thứ đam mê da diết, dai dẳng, bất trị nhất Cho nên đối với tình yêu, các nhà nho tỏ ra có nhiều nghi ngại, đặt ra nhiều lễ tiết, lo nghĩ, phòng phạm rất cẩn thận” [30:172]
kiến Giai cấp thống trị đề ra những chuẩn mực, khuôn mẫu gò con người vào khuôn khổ đạo đức theo tư tưởng Nho giáo:
Gái thời tiết hạnh là câu trao mình
Nhiều thế kỉ con người bị giam cầm trong vòng kiềm toả của những lễ giáo phong kiến nặng
nề Đến thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX, cùng với sự khủng hoảng của nhà nước phong kiến là sự bùng nổ các phong trào nông dân khởi nghĩa và tinh thần Phục hưng trong văn học Nhiều tác phẩm
có gía trị nở rộ giai đoạn này: Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm, thơ Nôm Hồ
Xuân Hương, Song Tinh Bất Dạ…thể hiện sự thức tỉnh của con người, lên tiếng đòi quyền sống, đòi
giải phóng tình cảm cho con người Chính Trần Thanh Đạm trong bài viết :
“ Giới tính và Văn nghệ” có nhận xét : “ Không phải sang thời hiện đại thì con người mới có ý thức
về giới tính, mới tiến hành cái gọi là cuộc “Cách mạng tình dục” như một vài người muốn rêu rao
để tỏ ra mình hiện đại Trong văn chương ta trên vấn đề này từ lâu đã có truyền thống dân gian, có thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc….Nhân loại cũng như dân tộc từ lâu đã có
ý thức được tính tất yếu, và cả tính thẩm mĩ nữa của giới tính và quan hệ giới tính trong cuộc đời cũng như trong nghệ thuật”[18]
Ngày nay, phương Tây quan niệm tình dục cũng là một trong những nhu cầu cần thiết như
đói ăn, khát uống, như không khí sống hàng ngày Đề tài tính dục trở nên phổ biến, đại chúng trên mọi lĩnh vực Tính dục trở thành một thuộc tính nhân sinh phổ biến Đề tài tính dục phổ biến, thậm chí thành một trào lưu, xu hướng sáng tác ở nhiều quốc gia phương Đông (Trung Quốc, Nhật, Việt Nam…), đặc biệt hình thành cả một khuynh hướng văn học sex phát triển mạnh, phổ biến rộng nhờ
Trang 18các phương tiện nghe nhìn và do tư tưởng dân chủ, tự do, cởi mở của thời đại Trong thế giới phẳng, văn hoá tính dục được mở rộng không giới hạn, phương Đông phương Tây có sự giao lưu và ảnh hưởng trong mọi lĩnh vực trong đó có văn học Vấn đề tính dục trong văn học phương Tây có xu hướng tìm về phương Đông huyền bí, chú trọng đa dạng hoá thế giới cảm xúc, ngược lại phương Đông lại tiếp thu phương Tây tinh thần dân chủ đề cao tự do trong hôn nhân tình yêu và cả tình dục Tính dục xuất hiện không chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật như văn học, hội hoạ, phim ảnh mà nó còn được đưa vào học đường nhằm giáo dục giới tính cho giới trẻ
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong một bài viết trên diễn đàn VietNamnet có khẳng định: đối với những nhà văn tài năng thì “ những trang liên quan tới sex là một phần làm nên giá trị văn
chương của họ và quả thật chỉ bằng cách đó mới biểu hiện được tư tưởng cao đẹp… và bởi tính dục
là một nhu cầu tự nhiên của con người thì việc quan tâm tới nó cũng là tự nhiên” Tuy nhiên, ông
cũng lưu ý “việc phân biệt giữa tác phẩm khiêu dâm, vi phạm đạo đức nhân bản, và tác phẩm dùng
sex để biểu hiện khao khát nhận thức, khao khát tự do của con người, cái đó bao giờ cũng quá khó
và dễ bị giải thích sai lệch”[58] Đó cũng là nỗi boăn khoăn chung của những người cầm bút chân
chính trong ý thức trách nhiệm với xã hội, với nghề khi viết về vấn đề khá nhạy cảm: tính dục
1.1.2.2 Vấn đề tính dục trong hội họa, điêu khắc
Từ cổ xưa, những hình vẽ trong hang động, những tượng đá cổ sơ đào được ở miền Nam nước Pháp, phía Bắc của Tây Ban Nha là những người đàn bà mặt mũi không rõ nét nhưng mông,
vú, âm vật thì rất to Các nàng vệ nữ thời ấy được tôn sùng vì mắn đẻ Ở Ấn Độ, Nê Pan, trong nghệ thuật của họ và của các dân tộc chịu ảnh hưởng (nghệ thuật Chàm chẳng hạn) tục thờ Linga - Yoni rất phổ biến Đó là hai vị thần biểu trưng cho hai nguyên lý của vũ trụ, phân biệt và hòa hợp để sáng tạo thế giới Ở các ngôi đền Ấn giáo, Phật Mật Tông, trên mặt tiền, dưới chân cột hoặc nội điện đầy các tượng thần nam và nữ đang ở trạng thái hoan lạc, người xem tưởng như đang xem các minh họa
của các sách dạy kỹ thuật làm tình như Dục lạc kinh, Tố nữ kinh Còn người Trung Hoa nâng các
yếu tố đực – cái thành nguyên lý phổ quát âm - dương của vũ trụ Như vậy, ước vọng phồn thực của cha ông: gia súc sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi, con người vui vẻ chan hòa ham sống được thể hiện thông qua tín ngưỡng phồn thực và hoạt động tính giao nói trên Đó chính là biểu tượng kỳ
diệu nhất về sự bất diệt của cuộc sống con người và vạn vật trong không gian và thời gian
nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo: Hội họa có tranh loã thể với tác phẩm Les
Desmoiselles d’Avignon của Picasso, điêu khắc có tượng Nữ thần Tự do biểu tượng của nền dân chủ
Mỹ và sự giải phóng thiên tính nữ, hay tượng Nữ thần tình yêu và sắc đẹp Apherođit khỏa thân bằng
cẩm thạch ở bảo tàng Luvere (Pháp)
Trang 19Phương Đông có tín ngưỡng phồn thực, trước hết biểu hiện ở tục thờ sinh thực khí, biểu tượng của năng lượng thiêng sinh ra muôn loài Các nền văn hoá cổ đều chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ như Thái Lan, Mianma, Campuchia, Inđonesia và ở Việt Nam, hầu hết các công trình kiến trúc mang tín ngưỡng tôn giáo ở Chăm đều có thờ Linga - Yoni Ở Ấn Độ, người dân có tục tôn thờ, tín ngưỡng thần Mẹ và thờ cúng âm lực, coi âm vật (Yoni) là nguồn gốc của mọi sáng tạo Cạnh Yoni, họ thờ cúng dương vật (Linga) Hai thần đó được biểu hiện bằng một khối đá hoặc đất sét cứng hình trụ có chóp tròn hoặc tháp tròn đặt trên một cái bệ hình tam giác Họ cho rằng mọi sự sinh sôi nảy nở trong trời đất, con người, súc vật ngày càng đông đúc, mùa màng cây cối tươi tốt đều do đực - cái hay âm - dương kết hợp với nhau Theo quan niệm dân gian, hoa sen Đức Phật cầm tay hay toà sen Phật ngồi là biểu tượng âm vật thể hiện sự an lành, thịnh vượng, sự sinh sôi nảy nở
Theo Đỗ Lai Thuý, tục thờ sinh thực khí thường liên quan đến các hành động tính giao Sự
mô phỏng các hoạt động này mang ý nghĩa thị phạm ma thuật Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh có hình các cặp trai gái trong tư thế giao hợp, người đàn ông nằm chồng lên người đàn bà, tư thế mặt đối mặt Tranh dân gian ở làng Đông Mai, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh được mọi người biết đến
với cái tên tranh Đông Hồ có bức Hứng dừa vẻ cảnh các chàng trai mình trần đóng khố leo lên cây hái dừa ném xuống, các cô gái đứng dưới hai tay kéo váy để hứng dừa ( trai trên gái dưới, trai hứng
gái cho, trái dừa có nước là tinh dịch) [69: 93]
Nghệ thuật điêu khắc đình làng cũng mang đậm dấu ấn tính dục gắn với tín ngưỡng phồn thực: đình Đệ Tứ ( Nam Định), đình Đông Viên (Hà Tây): khắc hình nam nữ đùa giỡn nhau khi tắm
hồ sen; đình Phù Lão (xây dựng năm 1688) chạm hình ảnh một người đàn bà khoả thân bụng lớn,
âm vật lộ rõ; Chùa Ông (Hưng Yên) chạm hình người đàn bà đầu đội mặt trời, hai tay mở sang hai bên để lộ rõ ngực, bụng, bộ phận sinh dục; bia chùa Phúc Hải và đình Hải Trung( phỏng đoán xây dựng nửa đầu thế kỷ XVII ) có khắc hình người đàn bà khoả thân ngồi xổm, hai chân dạng ra hai bên lộ bụng lớn, bộ phận sinh dục…
1.1.2.3 Vấn đề tính dục trong lễ hội, tín ngưỡng
Ở phương Tây, thời Hi Lạp cổ đại, con người có tục rước sinh khí thực trong lễ cúng thần Dyonisos, vị thần rượu nho dũng cảm, thần làm cho đất đai màu mỡ, đem lại cho con người niềm vui sống và sự yêu đời Và vì sinh thực khí được quan niệm là nguồn gốc sự sống nên trên thế giới
có 190 dân tộc thì có đến 13 dân tộc lấy bộ ngực nữ làm bái vật giáo tính dục Người phương Tây
đặc biệt đề cao vai trò của bộ ngực như là biểu tượng của sự sống và sự dồi dào trong tính dục, đôi
vú nở nang đầy đặn của người đàn bà thu hút nam giới một cách kì lạ vì nó liên quan đến cơ năng sinh sản của người đàn bà Các dân tộc ở Châu Phi lại xem âm vật là biểu tượng của tính dục nữ nên mới có hủ tục cắt bỏ âm vật như một sự kìm hãm dục tính Người Trung Hoa thì mê đắm tôn thờ
Trang 20những bàn chân của nữ giới Chính sự khác biệt về văn hoá đã đưa ra những quan điểm thẩm mỹ dị biệt về bái vật giáo tính dục nữ
Những biểu tượng sinh thực khí cũng xuất hiện trong nhiều lễ hội ở các nước phương Đông
có liên quan đến tín ngưỡng phồn thực như Tục cầu mưa, Lễ cầu nước Mẹ, Tục té nước, Tục đi lấy
nước thờ của người Thái, người Lào và của một số dân tộc ở Campuchia, Mianma, Philippin, Việt
Nam… Tục nhảy múa tập thể của người Lào, người Khơme, tục đánh đu, tục hát đối nam nữ của
nhiều dân tộc và hàng loạt hình thức cúng bái, tế lễ cấu trời khác của cư dân Đông Nam Á cho mùa màng bội thu, cho các giống loài sinh sôi nảy nở đều phần nào biểu hiện nghi thức phồn thực của một xã hội nông nghiệp
Theo Chu Xuân Diên, trong các hình thức thực hành tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt, thường có các nghi lễ cầu mong cho sự sinh sản dồi dào của cây cối và gia súc Đó là nghi lễ phồn thực Tín ngưỡng và nghi lễ phồn thực của người việt rất đa dạng Trước hết là tục thờ sinh thực khí
mà nhiều địa phương gọi là nõ nường ( nõ = cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường = nang, mo nang tượng trưng cho sinh thực khí nữ), tục rước sinh thực khí diễn ra trong hội làng ở nhiều nơi
những chứng tích về ý nghĩa quan trọng của tục thờ hành vi giao phối như tượng bốn đôi nam nữ giao hợp trên thạp đồng Đào Thịnh, tượng các cặp thú như chim, cóc trên trống đồng Trong điệu
múa Tùng dí ở hội Đền Hùng, từng đôi thanh niên nam nữ cầm những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam nữ trong tay, và làm cử chỉ giơ tay cho hai vật đó chạm vào nhau (dí) mỗi khi nghe tiếng trống đánh (tùng) Ở làng Đông An, huyện Châu Giang (tỉnh Hưng Yên) có thờ tượng đá Ông Đùng
và Bà Đà ở hậu cung đình làng Hàng năm đầu tháng ba âm lịch, làng mở hội, có lễ rước Ông Đùng
Bà Đà quanh làng và tục diễn tượng trưng hành vi giao phối của hai hình nhân Ông Đùng Bà Đà ( làm bằng nan tre ), rồi băm vụn ném xuống ao, ruộng để cầu mong ruộng tốt lúa, ao nhiều cá
đón dâu về người nhà trai cầm chày mà giã vào cối không mấy tiếng Tục này có ý nghĩa cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu Từ thời Đông Sơn, ý nghĩa này từng được thể hiện qua hình ảnh từng đôi nam nữ giã gạo, khắc trên các trống đồng Cũng xuất phát từ ý nghĩa ấy mà
có tục hát giao duyên nam nữ kèm theo động tác giã cối chày tay [10:171,172]
Ngoài ra trong lễ hội còn kèm theo nhiều trò chơi dân gian như: tắt đèn, đánh đu, ném còn,
bắt vịt…Lễ hội rước sinh thực khí ở làng Đông Kỵ (Từ Sơn- Bắc Ninh): rước hai lễ vật bằng gỗ có
hình thù như sinh thực khí âm - dương Đám rước vừa đi vừa hát, đồng thời làm những động tác đưa
hai sinh thực khí vào nhau như hoạt động giao hợp gọi là vũ điệu âm – dương Hoặc như trò múa
mo ở xã Sơn Đông, Hà Sơn Bình vào ngày mồng sáu tháng hai ta Khi tế lễ xong, trai gái tụ họp tại
Trang 21đình Một người vừa múa, vừa hát trước bàn thờ, tay trái cầm khúc tre, biểu tượng của dương vật, tay phải cầm mo cau, biểu tượng âm vật Người múa dùng khúc tre đập vào mo cau gợi lên hành động giao phối Sau đó tung hai vật vào đám đông, trai gái tranh nhau giành lấy mong gặp được
may mắn trong hôn nhân Tục tắt đèn được tổ chức ở nhiều nơi như ở làng Ngô Xá (Bắc Ninh), lễ
hội Chùa Hương…lễ hội tiến hành một lúc thì đèn đột nhiên tắt để trai gái sờ soạng đùa nghịch với
nhau, “tục lệ này cho phép con người trở lại với tính tự nhiên trong một thời gian ngắn dựa trên
một thần tích kỳ quặc”[36:172] Đó là các sinh hoạt văn hóa đậm tín ngưỡng phồn thực mang màu
sắc thiêng liêng, cao quý cầu cho cuộc sống con người phồn thịnh, tốt đẹp
1.2 Thơ Nôm Hồ Xuân Hương
1.2.1 Tác giả
1.2.1.1 Cuộc đời
Tài liệu nghiên cứu đầu tiên tương đối cụ thể về Hồ Xuân Hương là của Dương Quảng Hàm
( Việt văn giáo khoa thư, 1940) cho rằng Hồ Xuân Hương là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng
Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An Nhân ông Diễn ra dạy học ở Hải Dương lấy người thiếp ở đây sinh ra bà Thân thế của bà không có sách nào chép rõ Bà ở về đời Lê mạt- Nguyễn sơ, cha mất sớm, mẹ cho đi học Học giỏi thường hay lấy văn thơ thử tài các văn nhân nho sĩ lúc bấy giờ Có lẽ, cũng vì sự thử thách, kén chọn ấy cho nên duyên phận long đong Sau bà lấy lẽ một ông thủ khoa làm đến tri phủ Vĩnh Tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú) nhưng được ít lâu sau vì gia cảnh lại phải lấy người cai tổng tục danh là Cóc Không bao lâu ông Tổng Cóc cũng chết Từ bấy giờ hình như bà chán nổi số phận hẩm hiu nên thường đi chơi các nơi thắng cảnh và ngâm vịnh thơ ca
để khuây khỏa nỗi buồn
Năm 1995, nhà xuất bản Giáo dục cho in tài liệu Thơ Hồ Xuân Hương, từ cội nguồn vào thế
tục của Đào Thái Tôn lại đưa ra một ý kiến khác về tiểu sử Hồ Xuân Hương: nàng là con gái của Hồ
Sĩ Danh (1706-1783), em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738-1786), nguyên quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Hồ Sĩ Danh đậu Hương Cống (cử nhân) năm 1732 Tuy không ra làm quan nhưng vì có con làm quan to nên ông được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và hàm Thái Bảo Sách còn viết mẹ Xuân Hương người họ Hà, là hầu thiếp của Hồ Sĩ Danh Khi cha mất, Xuân Hương cùng mẹ ra Thăng Long sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây-
Hà Nội, có ngôi nhà đặt tên là Cổ Nguyệt Đường Đây là nơi Xuân Hương đón tiếp những khách văn nhân tài tử cùng đến đàm đạo, xướng hoạ thơ văn Trong đó có nhiều bạn thơ như ông Tốn Phong Thị, ông Hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần, ông Sơn Phủ, ông Trí Hiên, và cả Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu tức Nguyễn Du…Họ ít nhiều đều để lại dấu ấn trong các bài thơ đối đáp, xướng hoạ của Xuân Hương
Trang 22Trong bài viết “ Sức sống thơ Hồ Xuân Hương và việc tiếp nhận”, tác giả Nguyễn Hữu Sơn
và Vũ Thanh có thống kê một số giả thiết xoay quanh cuộc đời của Hồ Xuân Hương như sau:
- Có một Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm 1770, con của Hồ Phi Diễn (1703-1786), quê
ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An (theo Dương Quãng Hàm, Trương Tửu, Văn Tân, Thanh Lãng, Nguyễn Lộc, Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tuấn Niêm,….)
- Có một Hồ Xuân Hương cũng sinh khoảng năm 1770 nhưng là con của Hồ Sĩ Danh (1706-1783), người anh em họ của Hồ Phi Diễn ( Theo Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn,…)
- Có một Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm 1770 từng là bạn tình của ông Nguyễn Du (1766-1820), Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ, Hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần, Hiệp trấn Sơn Nam hạ họ Trần, có thơ bỡn cợt với Chiêu Hổ- Phạm Đình Hổ và là vợ Tham hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển ( ?- 1819)
- Có một Hồ Xuân Hương là vợ kế cử nhân Phạm Viết Đại (1802-1842) Ông này từng làm quan ở các tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn Tây và có làm Tri phủ Vĩnh Tường
- Có một Hồ Xuân Hương qua đời khoảng năm 1822, hoặc năm 1833, trước khi Tùng Thiện Vương Miên Thẩm làm thơ (1842) đã nhắc đến nấm mồ tài nữ Xuân Hương
……
lên hai quan niệm được xem là chính thống: một giả thiết do một số nhà nghiên cứu hồi đầu thế kỉ
XX cho Hồ Xuân Hương là con của Hồ Phi Diễn, quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An là đáng tin cậy vì được sự công nhận, đồng tình nhiều nhất của các nhà nghiên cứu từ trước đến giờ và hiện nay ý kiến này cũng trở thành tài liệu học tập chính thức cho học sinh trong nhà trường phổ thông; một quan niệm khác gần đây của Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn trong những nghiên cứu của mình xác định
Hồ Xuân Hương lại là con của Hồ Sĩ Danh (1706-1783) và là em họ Hồ Sĩ Đống (1738-1786) Nhìn chung, so với những ý kiến khác, hai ý kiến trên được đánh giá là có cơ sở khoa học hơn cả
lại vấn đề Hồ Xuân Hương” (Tạp chí Văn học ngày 17/6/1964), Trần Thanh Mại dựa vào năm sinh
năm mất của Hồ Sĩ Danh (1906-1983) để phỏng đoán năm sinh Hồ Xuân Hương là vào khoảng
1755-1760 và năm mất có thể là trước năm 1842 do căn cứ vào tập thơ “ Thương Sơn” của Tùng
Thiện Vương Miên Thẩm sáng tác năm 1842 khi hộ giá Thiệu Trị ra Bắc, khi đi ngang qua mộ
Xuân Hương có viết bài thơ “ Long Biên trúc chi từ thập tứ thủ” trong đó có hai câu nhắc đến Xuân
Hương:
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá Tuyền đài do hận thác khiên ti
Trang 23( Tạm dịch: Chớ đi qua bên trên phần mộ của nàng Xuân Hương
Dưới suối vàng nàng còn ôm mối hận vì rút nhầm tơ đấy )
có thề khẳng định chắc chắn có một nàng Xuân Hương giỏi thơ, hay chữ trong thực tế sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
1.2.1.2 Thời đại
Thời Hồ Xuân Hương sống, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, nhà nước phong kiến bước sang giai đoạn suy tàn, chính sách chuyên chế càng nghiệt ngã, cuộc sống con người càng bị bóp nghẹt cả về vật chất ( chiến tranh phi nghĩa tranh giành quyền vị giữa các tập đoàn phong kiến, nỗi khổ của nhân dân) lẫn tinh thần (phủ nhận con người cá nhân, tước đoạt quyền sống hạnh phúc của con người: tự do yêu đương, tự do trong hôn nhân, quan niệm hôn nhân “cha
mẹ đặt đâu con ngồi đó”, vấn đề yêu đương nam nữ, tình cảm đôi lứa, con người bản năng tự nhiên,
đề tài tính dục bị xem là xấu xa, cấm kị) Nhưng xã hội phong kiến cũng bộc lộ bộ mặt giả dối, phi nhân tính: trai năm thê bảy thiếp, vua chúa có tam cung lục viện, hàng trăm cung tần mĩ nữ phục dịch, bọn quan lại sống hoang dâm, sa đoạ…
Bản chất của xã hội phong kiến thối nát mục ruỗng không qua đuợc cái nhìn sắc sảo, nghiêm khắc của nhân dân, nhiều phong trào nông dân nổi dậy, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn như mở đường cho một tinh thần mới, một triết lí mới của thời đại: dân chủ - bình đẳng, triết lý vì con người Tinh thần ấy đã đi vào văn học làm nên nền văn học giàu giá trị nhân văn mang màu sắc của dân gian, của cuộc đời
Tinh thần ấy thể hiện trong nhiều lĩnh vực: phong trào nông dân, văn hóa dân gian giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, nhiều giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc được phục hưng Làm tiền đề cho
văn học vì con người, nói lên tiếng nói đòi quyền sống cho con người vút cao Và “hiện tượng nói
tục, nói dâm cũng là một hình thái của sự quật khởi như vậy trong văn học dân gian” Trong văn
học chính thống xuất hiện nhiều tác phẩm mang màu sắc tính dục, thơ Nôm Hồ Xuân Hương là ví
dụ
Từ nội dung tìm hiểu trên, ta có thể rút ra vài điểm chính trong cuộc đời và thời đại đã có ảnh hưởng đến sáng tác của Hồ Xuân Hương: xuất thân trong gia đình nho học, cha mất sớm, mẹ là thiếp, cuộc đời riêng lại lận đận tình duyên nên bà cũng nhiều nếm trải, thấu hiểu những vui buồn của cuộc đời, nhất là mối đồng cảm sâu sắc với người phụ nữ không có hạnh phúc trọn vẹn Vì thế, việc đấu tranh hay mưu cầu hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình dường như là nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào nhất trong thơ bà Dù viết về số phận của mình hay của người khác thì Hồ Xuân Hương đều bộc lộ thái độ hết sức chân thành, tình cảm vô cùng tha thiết và một đòi hỏi quyết liệt
Trang 24Mặt khác Xuân Hương có tính tình phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, đi nhiều, biết rộng, kết thân với nhiều bạn thơ trong đó có Nguyễn Du, Chiêu Hổ …lại sống gần gũi với nhân dân, hiểu rõ cuộc sống nơi đất kinh kỳ lẫn chốn làng quê dân dã, bà dễ dàng hấp thụ lời ăn tiếng nói dân gian và tinh thần Phục hưng của thời đại; nên thơ bà là tiếng nói mạnh mẽ nhất đại diện cho sự thức tỉnh của con người cá nhân đòi quyền sống chính đáng, trong đó có quyền được hạnh phúc trong hôn nhân, quyền tự do luyến ái Với tiếng thơ độc đáo, táo bạo trong cách dùng từ ngữ hình ảnh, phá vỡ nhiều
quy phạm của thơ cổ điển, bà xứng đáng được tôn vinh là “ Bà Chúa thơ Nôm” ( Xuân Diệu)
1.2.2 Sự nghiệp thơ ca
1.2.2.1 Tác phẩm
Về thơ văn của Hồ Xuân Hương, trong tài liệu đã nêu trên, Nguyễn Hữu Sơn – Vũ Thanh có thống kê những công trình văn bản học tiêu biểu nhất về thơ Xuân Hương như sau:
* Văn bản chữ Nôm và in kèm chữ quốc ngữ:
- Theo Đào Thái Tôn, hiện ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 18 cuốn sách có chép thơ
Nôm Hồ Xuân Hương và 3 văn bản khắc ván chữ Nôm - có kèm phiên âm ra chữ quốc ngữ
- Theo khảo tả của Hoàng Xuân Hãn, phần thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương được tập hợp
trong Xuân Hương thi gồm Phần A (13 bài), Phần B (18 bài), Phần C (46 bài, góp làm 40 tiểu mục),
cộng chung 77 bài
- Cũng theo Hoàng Xuân Hãn, thơ truyền tụng của Hồ Xuân Hương trong Quốc âm thi tuyển ( chữ Nôm và quốc ngữ, khắc in năm 1909 và 1914) có tổng số 27 bài
* Văn bản chữ quốc ngữ:
- Theo Hồ Xuân Hương thi tập do Xuân Lan phiên âm, xuất bản năm 1913, tổng số có 62 bài thơ và
một đôi câu đối với Chiêu Hổ
- Theo Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trong Giai nhân di mặc ( Đông Kinh ấn quán, 1916, 80 trang)
thì tác phẩm này tàng trữ 45 bài thơ, một số câu đối và một bài ca khuyết danh viết về Hồ xuân Hương
- Theo Nguyễn Lộc có 46 bài thơ Nôm in đậm phong cách thơ Hồ Xuân Hương, xếp phần Phụ lục
có 9 bài thơ Nôm và 13 bài trích trong tập Lưu hương ký
- Theo Đào Thái Tôn, Hồ Xuân Hương có 30 bài thơ chữ Hán và Nôm thuộc dòng mạch Lưu
hương ký, có 26 mục bài “ Thơ Nôm truyền tụng” và 27 mục bài thuộc phần phụ lục
- Theo Nhan Bảo trong Phát hiện mới về Hồ Xuân Hương, cộng 6 văn bản Hán Nôm thì Hồ Xuân
Hương có 213 bài thơ
……
Cũng theo hai tác giả thì những tư liệu văn bản học trên là quan trọng nhất, đánh dấu những chặng mốc chủ yếu trong lịch sử nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương
Trang 25 Văn bản thơ chữ Nôm
Do phạm vi nghiên cứu của luận văn có liên quan nhiều đến mảng thơ Nôm truyền tụng nên trong rất nhiều những công trình nghiên cứu quý giá về văn bản thơ Hồ Xuân Hương, chúng tôi mạn
phép chọn ra khoảng 40 bài trong quyển Thơ Hồ Xuân Hương do Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới
thiệu ( Nxb Văn học, 1982), để làm tư liệu, do chúng tội nhận thấy có sự trùng lặp với tác giả Nguyễn Lộc trong lựa chọn của một số nhà nghiên cứu về những bài thơ Nôm truyền tụng xác định
là của Hồ Xuân Hương Cũng theo Hữu Sơn – Vũ Thanh thì đây là văn bản được phổ biến sâu rộng nhất trong khoảng hai chục năm gần đây Con số 40 bài thơ Nôm truyền tụng đó được lựa chọn trong bài viết của một số nhà nghiên cứu như:
- Trong tập Hồ Xuân Hương - thơ và đời do Lữ Huy Nguyên viết lời giới thiệu năm 1996 xác định
thơ Nôm Hồ Xuân Hương có khoảng 40 bài
- Giáo sư Lê Trí Viễn trong Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương thì dựa vào các tiêu chí như phong cách,
nội dung, tư tưởng để sàng lọc thơ Nôm Hồ Xuân Hương trước hiện tượng dân gian hoá Dựa vào
đó, tác giả xác định : “ Tính như vậy có được 40 bài, kể cả những bài một nghĩa, những bài hai
nghĩa Trong đó 24 bài ít hay nhiều đều có dính đến nghĩa thứ hai hoặc gợi liên tưởng đến sự chung đụng nam nữ, nhưng đều mang tính tư tưởng tích cực, ít nhất là vô hại, nhiều nhất là đáng ca ngợi” [61: 517]
- Đào Thái Tôn trong bài viết Văn bản thơ Hồ Xuân Hương , điểm qua những công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Hoa Bằng, Văn Tân…sau này thì “chưa mấy ai dám “phóng
tay” công bố được chừng 60 bài thơ Tình hình chung là từ sau 1913, “Các sách Nôm có, quốc ngữ
có, in có, chép tay có, đều có chép thơ Xuân Hương, nhưng rất xô bồ, linh tinh Tính những bài được tất cả các sách ấy nhất trí cho là của Xuân Hương hoặc nhiều người công nhận là của Xuân Hương thì có quãng bốn mươi bài” [61: 50]
- So sánh văn bản thơ Nôm được Đỗ Lai Thuý chọn trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, có
50 bài thì hết 40 bài trùng lặp với lựa chọn của Nguyễn Lộc
- Gần đây nhất, trong quyển Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Kiều Thu Hoạch, trong số 84 bài ông
chọn thì cũng có 40 bài trùng với những lựa chọn của Nguyễn Lộc
Văn bản thơ chữ Hán: Tập “Lưu hương ký”:
Lưu hương ký mới được phát hiện từ năm 1964 do công của giáo sư Trần Thanh Mại, bao
gồm thơ chữ Hán và chữ Nôm, được ghi là của Xuân Hương, người Nghệ An, sáng tác ở Cổ Nguyệt
Đường, tập thơ “ chỉ có 22 trang giấy viết hàng 8, tổng cộng 30 đầu đề và 52 bài Trong 52 bài này
có 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm” [61: 59] Nội dung tập thơ chủ yếu ghi lại tâm sự và tình
cảm của tác giả mang đậm yếu tố trữ tình và nghệ thuật trau chuốt, già dặn
Trang 26Khác với Nguyễn Lộc lấy dòng thơ Nôm truyền tụng làm “chính văn” thì Đào Thái Tôn
trong công trình tìm hiểu Văn bản thơ Hồ Xuân Hương có phần nghiêng về những văn bản thơ chữ Hán Lưu hương ký do tính xác thực của nó, ông cho rằng “ Tuy được phát hiện muộn nhưng bằng sự
nỗ lực của các nhà nghiên cứu, bằng các phát hiện nhiều tư liệu mới có những sự trùng hợp, hô ứng nhau, chúng ta có thể tự tin hơn vào phần sáng tác thơ chữ Hán của nữ sĩ họ Hồ” [61: 51] Đến
năm 1978, trên tạp chí Văn học số 6, Đào Thái Tôn tiếp tục khẳng định: “đã đến lúc chúng ta cần
mạnh dạn hơn nữa, xem Lưu hương ký như một mảng thơ chính thức của Hồ Xuân Hương, chính Lưu hương ký chứ không phải là tác phẩm nào khác đã là “khởi hình” cho tính cách Hồ Xuân Hương để từ đó – qua lăng kính chính thống của người đương thời, qua sự nhuận sắc không tự giác của văn hoá dân gian mà hình thành “Vấn đề Hồ Xuân Hương”, “Hiện tượng Hồ Xuân Hương”
[61: 361]
ta so sánh phong cách rất khác của tập thơ này so với mảng thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân
Hương Nguyễn Lộc trong bài viết Hồ Xuân Hương, tuy không phủ nhận giá trị của tập Lưu hương
ký nhưng thái độ tiếp nhận vẫn còn dè dặt, thận trọng: “Tập Lưu hương ký phát hiện gần đây gồm
24 bài thơ chữ hán và 26 bài thơ chữ Nôm Đầu đề ghi là của Xuân Hương, người Nghệ An, sáng tác ở nhà Cổ Nguyệt đường (Hoan trung, cổ Nguyệt đường, Xuân Hương nữ sử tập) Trong tập thơ, tác giả viết về tình cảm và tâm sự của mình đối với những người bạn trai như các ông Tốn Phong Thị, ông Hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần, ông Sơn Phủ, ông Trí Hiên, và có cả “người cũ”, ông Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu tức Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều Tình cảm trong những bài thơ này thắm thiết, táo bạo, nghệ thuật nói chung già dặn nhưng về phong cách thì có những chỗ không khớp với phong cách trong những bài thơ Nôm lâu nay được coi là của Hồ Xuân Hương Vì vậy một
số người nghiên cứu còn dè dặt chưa dứt khoát coi tác phẩm này là của Hồ Xuân Hương” [61: 35]
Ý kiến của giáo sư Nguyễn Lộc cũng là thái độ chung của các nhà nghiên cứu đối với tập Lưu
hương ký Kể cả Đào Thái Tôn dù xem Lưu hương ký là “chính văn” nhưng khi nghiên cứu về Hồ
Xuân Hương cũng khảo sát trên cơ sở những bài thơ Nôm truyền tụng
1.2.2.2 Giá trị thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương
Do đề tài của luận văn tìm hiểu về Vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương dưới góc độ so
sánh nên chúng tôi chỉ khảo sát mảng thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương là chính, căn cứ
trên tài liệu Thơ Hồ Xuân Hương do Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu
nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương còn nhiều nghi vấn, tranh luận từ các nhà chuyên môn nhưng khi chúng tôi khảo sát 49 bài nghiên cứu, chuyên luận, giáo trình lịch sử văn học, các tiểu luận và các bài bình giảng của những nhà nghiên cứu uy tín như Nguyễn Lộc, Đào Thái Tôn, Hoa Bằng, Lê
Trang 27Trí Viễn, Trần Thanh Mại, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Đăng Na, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thuý, Đỗ Đức Hiểu, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Hữu Sơn, Hoàng Hữu Yên, Hà Như Chi, Nguyễn Văn Hoàn, Trương Xuân Tiếu, Nguyễn Khắc Phi, Ngô Gia Võ,….,và một số tác giả người nước ngoài
như: N.I.Niculin, M.Durand,….,trong quyển Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm do Nguyễn
Hữu Sơn - Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, tập hợp những bài viết của nhiều tác giả từ trước đến nay nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, chúng tôi tìm thấy sự tương đồng, sự nhất trí cao của các tác giả khi nhìn nhận giá trị mảng thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương ở cả hai mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật
Về nội dung tư tưởng, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng thơ Nôm Hồ Xuân Hương có
“giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc khi lần đầu tiên những vấn đề phụ nữ được nhìn bằng con mắt
của phụ nữ” [61:362], thơ Xuân Hương đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ (từ hình thể đến tâm hồn,
lòng ham sống yêu đời), nhà thơ trân trọng khát vọng sống của con người trong đó có khát vọng
tình yêu hạnh phúc, nên nữ sĩ nhân danh người phụ nữ, nhân danh con người để “đòi cho con người
cuộc sống đầy đủ, kể cả lạc thú tình yêu” và “chống lại những gì phản tự nhiên” [61:234], vì thế
những vần thơ của Xuân Hương là những vần thơ có tính chiến đấu dùng để “bênh vực người phụ
nữ, đánh vào lễ giáo phong kiến và bọn đạo đức giả” [61:513], “Xuân Hương hăng hái đứng dậy chống lại tất cả những lễ giáo, luân lý, pháp luật, tập quán, phong tục … bấy lâu nay vẫn đầy thành kiến khinh phụ nữ” [61:94], thơ của bà “là thơ của những người phụ nữ bị áp bức” [61:195]
và trào phúng, trong đó mượn yếu tố tục làm phương tiện để tạo nên tiếng cười Lê Trí Viễn khẳng
định thơ Hồ Xuân Hương “dùng tiếng cười làm vũ khí và lấy tục để gợi cái cười”; Hoàng Hữu Yên đánh giá “yếu tố tục trở thành biện pháp đắc dụng để nữ sĩ thể hiện quan niệm tích cực của mình
đối với cuộc sống”, đó là “cái tục đề cao bản ngã, tục mà thanh” [61:113] “Tục là phương tiện, vũ khí châm biếm lợi hại “đánh đòn chí tử” vào bọn hiền nhân, quân tử, vua chúa tàn nhẫn, đạo đức giả” [61:334]
Thơ Nôm Xuân Hương trong mắt các nhà nghiên cứu còn là tiếng thơ trữ tình chan chứa yêu
đời, yêu người “ Xuân Hương là một nhà thơ yêu con người, yêu cuộc sống Tình cảm chân thành
làm cho thơ Hồ Xuân Hương dường như lúc nào cũng che giấu bên trong một nụ cười” [61:234],
Xuân Hương đã góp vào văn học “tiếng thơ đầy nhạc, biểu đạt sức sống và cái đẹp cơ thể, của tấm
thân và trái tim rất trẻ của người phụ nữ, trong định mệnh đầy cay đắng” [61:570]
Tiếng thơ trữ tình đó còn thể hiện ở lòng yêu mến thiên nhiên “Cảnh thiên nhiên nhà thơ yêu
mến là những cảnh bình thường mà cao rộng, có hình khối, có cây, có gió, có âm thanh, màu sắc…Thiên nhiên trữ tình trong bài thơ dài của tạo hoá…Tấm lòng hồn nhiên, yêu đời của Xuân Hương mang đến cho thiên nhiên chất sống ngồn ngộn như nhựa mùa xuân” [61:263]
Trang 28Nhìn chung, đánh giá của các nhà nghiên cứu đã giúp ta khái quát phần nào nội dung chính trong những sáng tác thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, có thể lấy ý kiến của Ngô Gia Võ kết luận giá
trị nhân đạo quan trọng nhất trong thơ bà là “đả kích, phê phán để mà ngợi ca, khẳng định và bênh
vực….Thơ Hồ Xuân Hương là khúc hát bay bổng và rạo rực ngợi ca, khẳng định hạnh phúc trần tục của con người…khẳng định khát vọng tự nhiên, ngợi ca hạnh phúc trần tục, đòi giải phóng bản năng con người khỏi mọi trói buộc khổ hạnh của cường quyền và thần quyền” [61:489] Bên cạnh Truyện Kiều của Nguyễn Du, các sáng tác của Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều….,chủ nghĩa
nhân đạo của thơ Xuân Hương góp tiếng nói làm mạnh mẽ hơn, phong phú hơn trào lưu nhân đạo chủ nghĩa giai đoạn thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX
Nhưng chính nghệ thuật mới làm nên sức hấp dẫn đặc biệt trong thơ Hồ Xuân Hương Các nhà nghiên cứu ghi nhận đóng góp lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Xuân Hương cho nền văn học
nước nhà chính là bà đã góp phần Việt hoá thể thơ Đường luật “Dưới ngòi bút bản lĩnh và vạn năng
của bà, Đường luật mất hẳn cốt cách quý tộc mà ngoan ngoãn cung hiến vần điệu cân xứng của mình cho bà sử dụng theo ý muốn độc đáo của bà.” [61:505] “Xuân Hương ra cái gương mẫu hoàn toàn nhất về việc dân tộc hoá và đại chúng hoá những điệu thơ vay mượn của nước ngoài…Xuân Hương chỉ chuyên dùng thể thất ngôn luật Đường, thế mà không một chút nào ta nghĩ rằng đó là một điệu thơ nhập nội Thơ Hồ Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, tự nhiên, lời cứ trong veo, không gợn, đọc cứ thoải mái, dễ thuộc, những câu đối nhau thì cân chỉnh già dặn đến ai cũng phải sợ, mà vẫn như lời nói thường” [61:321]
tận của văn học dân gian là con đường chung của những nghệ sĩ lớn chọn lựa, trong đó có Hồ Xuân
Hương Thật vậy, thành công của Xuân Hương chính là nữ sĩ đã “ không phủ định dân gian, cũng
không lặp lại dân gian, mà chỉ góp phần làm cho kho tàng dân gian ngày càng phong phú”
[61:550] Nét đặc sắc nổi bật trong thi pháp ngôn ngữ của thơ Nôm Xuân Hương là “ tiếp thu đến
mức tối đa và vận dụng đến độ thành thục điêu luyện nhất những chất liệu, yếu tố của tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt” Theo thống kê của Trương Xuân Tiếu, trong số 50 bài thơ Nôm truyền tụng
của Xuân Hương từ trước tới nay có 15 bài đã tiếp thu, vận dụng thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt ( chiếm tỷ lệ 3o%)
Ngoài ra, bà còn tiếp thu dân gian trong nghệ thuật chơi chữ, nói lái, gieo vần; sắc sảo trong dùng khẩu ngữ, tiếng chửi; đặc biệt là cách nói lấp lửng đa nghĩa….Phong cách thơ Xuân Hương là phong cách bình dân nhưng không tan biến mà vẫn mang sắc thái cá nhân đậm nét Ví như ngôn ngữ thơ bà là thứ ngôn ngữ mộc mạc dân dã, đề tài thơ bà cũng là những sinh hoạt thường nhật quen
thuộc của người dân lao động nhưng Xuân Hương đã lấy cái thường ngày đó“mô tả đậm nét chúng
và kèm vào đó là thú vui khám phá ngộ nghĩnh của mình, để rồi truyền đến người đọc cái cảm, cái
Trang 29nghĩ đó” [86:12].(sức hấp dẫn) hoặc cũng là đề tài chẳng khác gì so với văn học dân gian nhưng nếu
như dân gian hướng đến thế giới phong phú muôn màu muôn vẻ để phản ánh thì trong thơ Hồ Xuân
Hương thế giới đó lại thu hẹp trong “những sinh hoạt gắn với người phụ nữ” và được nhìn bằng cái
nhìn của giới nữ nên rất đặc biệt và phù hợp để gởi những khát vọng của người phụ nữ
Xuân Hương “thiên tài kỳ nữ” ,“bà chúa thơ Nôm” chiếm vị trí trang trọng trong nền văn học cổ nước nhà “Trong nền văn học cổ điển của ta, bên cạnh ngôi sao sáng nhất là Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương là ngôi sao đặc biệt nhất” [61:158]
sẽ được chúng tôi làm rõ hơn, cụ thể hơn trong quá trình phân tích, so sánh với những bộ phận văn học khác ở những chương sau
1.3 So sánh trong nghiên cứu văn học
1.3.1 Khái niệm
“So sánh ( hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu được dùng trong nhiều ngành
khoa học khác nhau Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tuỳ thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng.”
sở khoa học
Ngày nay, so sánh đã vượt quá giới hạn và tính chất một phương pháp khoa học để thở thành một khuynh hướng, thành bộ môn văn học so sánh của khoa nghiên cứu văn học Bộ môn văn học
so sánh ra đời đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó là sự giao lưu văn hoá diễn ra trên toàn thế giới trong đó
có cả văn học Vì thế, văn học so sánh là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu tiến trình văn học trên toàn thế giới và sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn học của các dân tộc
Nền văn học dân tộc là văn học của một cộng đồng nhân dân, nơi nó được sinh ra ở chính cộng đồng này trong sự phát triển của mình để đạt đến trình độ dân tộc Còn văn học nhân loại không đơn thuần là sự lắp ghép thô sơ giữa các nền văn học đơn lẻ mà nó là một chỉnh thể thống nhất là hệ thống của tất cả những gì tinh hoa, đặc thù, độc đáo nhất của mỗi nền văn học dân tộc
Trang 30Trên chặng đường phát triển, văn học các dân tộc có sự cọ sát, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Sự chuyển giao các giá trị văn chương từ dân tộc này sang dân tộc khác không thể không thông qua quá
trình giao lưu ảnh hưởng “ Chính vì khó có thể tìm thấy một nền văn học nào thuần tuý dân tộc cho
nên văn học so sánh mới càng có lý do tồn tại để nghiên cứu vấn đề liên dân tộc, đa dân tộc, đa ngôn ngữ của văn học”
Như vậy văn học so sánh là một bộ môn khoa học xã hội nghiên cứu văn học vượt ra ngoài giới hạn của một nước riêng biệt và nghiên cứu các mối quan hệ giữa văn học với các lĩnh vực khác
của tri thức nhân loại ( nghệ thuật, triết học, tôn giáo, kinh tế…) Không nên nhằm văn học so sánh với khái niệm so sánh văn học vì so sánh văn học là một thao tác ngang với chứng minh, phân tích
còn văn học so sánh nghiên cứu tính chất thế giới của văn học
Như vậy, nghiên cứu hiện tượng thơ của một dân tộc mà hiện tượng ấy có mối liên hệ vối các dân tộc khác được xem là công việc của người làm văn học so sánh, còn nghiên cứu khám phá ra cái duy nhất độc đáo của những hiện tượng văn học trong phạm vi một nền văn học dân tộc bằng việc
so sánh tác giả với tác giả, tác phẩm văn học và tác phẩm văn học, giữa hiện tượng văn học với hiện tượng văn học là ta đang thực hiện phương pháp so sánh văn học
Tóm lại, phương pháp phụ thuộc vào đối tượng, mục đích ngiên cứu và phải phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng Từ đó, ta sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp để nghiên cứu Chính phạm vi liên dân tộc hay nội dân tộc đã quy định vần đề phương pháp Tất cả các phương pháp khác, không phải là phương pháp vốn có của văn học so sánh, khi sử dụng so sánh văn học của hai dân tộc thì được xem là văn học so sánh Còn những phương pháp của văn học so sánh khi sử dụng so sánh trong phạm vi dân tộc thì không phải là làm văn học so sánh
Theo giáo sư Nguyễn Văn Dân trong “ Những vấn đề lý luận của văn học so sánh” có lưu ý
cần phân biệt hai cấp độ: Ở cấp độ phương pháp ta có phương pháp so sánh văn học, ở cấp bộ môn
ta có bộ môn văn học so sánh Như vậy văn học so sánh ban đầu chỉ là phương pháp so sánh văn học Về sau người ta phân biệt hai thuật ngữ này qua đối tượng và mục đích nghên cứu Ở đây,
chúng tôi giới hạn vấn đề tìm hiểu trong phạm vi so sánh như là một phương pháp văn học
1.3.2 So sánh trong nghiên cứu văn học
Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học “là phương tiện, con đường, thao tác đi vào
tác phẩm để xác định đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau”
[50:152]
Đối tượng của phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học là các hiện tượng văn học của
cùng một nền văn học dân tộc Mục đích của việc so sánh nhằm xác định các mối liên hệ, các điểm
tương đồng, khác biệt để phát hiện vẻ độc đáo của từng hiện tượng, cái riêng làm phong phú cái chung
Trang 31Khảo sát các công trình phê bình, nghiên cứu văn học có giá trị của một số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng, ta dễ nhận thấy phương pháp so sánh đã dược sử dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất định Đọc Hoài Thanh, nhà phê bình thơ nổi tiếng, chúng ta thấy phương pháp so sánh được ông sử dụng một cách tài tình và linh hoạt Những nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Chế Lan Viên trong những bài phê bình, phân tích văn học cũng thường sử dụng phương pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của từng bài văn, bài thơ, phong cách riêng của từng tác giả; như khi Xuân Diệu so sánh thiên tài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương, ông viết
“Nguyễn Du là những ý tình phổ biến, những cảm nghĩ sâu sắc đến tuyệt độ, diễn tả hay đẹp đến
tuyệt diệu, đến nỗi thành ra đột xuất, duy nhất Nhưng Xuân Hương thì khác Trong Xuân Hương, phần lớn là những ý tình phổ biến của mọi người (chống bọn áp bức, căm ghét cái xấu xa, bênh vực phụ nữ, khao khát yêu đương, yêu thiên nhiên, đất nước…) nhưng cũng có một phần như là riêng biệt của cá tính Xuân Hương Cái phần kỳ dị đó, ta không thể chối cãi rằng nó cũng là thiên tài của Xuân Hương như là cái phần phổ biến” [61:308] Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu khi tìm hiểu thơ
Nôm Hồ Xuân Hương cũng có những trang viết rất hay làm nổi bật nét độc đáo của thơ Nôm Hồ Xuân Hương, phong cách đặc biệt của nữ sĩ khi so sánh với phong cách của nhà thơ nữ cùng thời
Bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi chỉ xin lược trích: thơ Hồ Xuân Hương là thơ hành động, thơ Bà
Huyện Thanh Quan là thơ tâm tình, trạng thái.…Thơ Hồ Xuân hương là thơ nổi loạn, thể hiện trước hết ở những vi phạm quy tắc từ, vần, nhịp, những đổ vỡ của âm điệu…Thơ Bà Huyện Thanh Quan
là thơ tĩnh, với những hồi âm, những vang vọng buồn bã kéo dài…những câu thơ ít động từ, một giọng và một nhịp đều đều… Thơ Bà Huyện Thanh Quan là hồi ức, thơ Hồ Xuân Hương là hiện tại Thơ Bà Huyện Thanh Quan thể hiện cái không tính cách, không xác định, cái trung tính, thơ Hồ Xuân Hương biểu hiện cái cụ thể, cái hằng ngày, cái xác định….Cuối cùng tác giả kết luận “thơ Bà Huyện Thanh Quan, một phong cách tuyệt vời của cái vắng mặt, sự chối từ, sự phủ nhận (hiện tại), cũng như thơ Hồ Xuân Hương là phong cách tuyệt vời của sự có mặt, sự khẳng định, niềm vui sống” [61:573]
cao tăng sức thuyết phục và sự phong phú cho bài viết Tuy nhiên trong thực tế vận dụng, có những khuynh hướng lạm dụng so sánh dẫn tới hiện tượng thoát li tác phẩm Vì thế trong so sánh văn học
cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong so sánh văn học là không lấy nội dung so sánh thay thế cho việc khám phá, phân tích bản thân tác phẩm So sánh không phải là mục đích, so sánh chỉ là phương tiện, là con đường đi vào tác phẩm Chính vì bất lực trước bản thân tác phẩm, hiện tượng văn học mà nhiều người đã lạm dụng việc so sánh đối tượng với những yếu tố ngoài tác phẩm dẫn đến tình trạng liệt kê những những hiểu biết nặng về xã hội học…
Trang 32Một nguyên tắc nữa cần tuân thủ là những liên hệ so sánh ngoài tác phẩm, không được làm đứt mối với đường dây chủ đề của tác phẩm, với vấn đề, đề tài cần so sánh Mặt khác, khi so sánh cũng phải tôn trọng tính chỉnh thể của đề tải, của hiện tượng văn học hay văn bản Việc so sánh có chiều sâu và chiều rộng với những tác phẩm, hiện tương văn học khác có nét tương đồng hay dị biệt
là điều cần thiết nhưng ngòi bút người viết luôn làm chủ kiến thức, việc nối kết những tác phẩm, hiện tượng, vấn đề văn học lại với nhau cần sự khéo léo và trên hết phải hướng về một sợi dây xuyên suốt là chủ đề, đề tài, nội dung vấn đề cần so sánh
Ngoài ra, giới hạn so sánh trong phân tích văn học có thể chia nhiều hình thức: So sánh đối tượng phân tích với những tác phẩm cùng đề tài, chủ đề, môtip nhưng khác nhau về loại hình; so sánh đối tượng phân tích với cuộc sống lớn và nhỏ của tác phẩm; so sánh trực tiếp với sự kiện thực làm cơ sở cho tác phẩm; so sánh nhân vật trong tác phẩm với nguyên mẫu; so sánh đối tượng với những tác phẩm cùng chủ đề, cùng đề tài của bản thân tác giả hay của những tác giả khác và so sánh những yếu tố trong bản thân tác phẩm
So sánh là phương pháp quen thuộc và hữu hiệu trong nghiên cứu văn học đã được chứng minh trong thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu văn học vừa có tính khoa học nghiêm ngặt vừa có tính nghệ thuật đậm đà
Bài viết này vận dụng phương pháp so sánh là chủ yếu để tìm hiểu những sáng tác trữ tình trong nền văn học Việt Nam cùng viết về đề tài tính dục Cụ thể là so sánh vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương với những tác phẩm cùng đề tài của những tác giả khác nhau trong nền văn học Việt Nam xếp theo tiến trình lịch sử: văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại nhằm tìm ra những điểm tương đồng, dị biệt trong các sáng tác để khẳng định sự phong phú của đề tài này đồng thời hướng tới mục đích khẳng định chính yếu tố tính dục là một trong những nét độc
đáo góp phần làm nên tên tuổi của một hiện tượng văn học: thiên tài kỳ nữ – Hồ Xuân Hương
Trang 33Chương 2:
SO SÁNH VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM
HỒ XUÂN HƯƠNG VỀ MẶT NỘI DUNG 2.1 Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương và văn học dân gian
Văn học Việt Nam hình thành và phát triển khá sớm, trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt của lịch sử, nền văn học ấy ngày càng phong phú, có bản sắc riêng, chứng tỏ một sức sống mãnh liệt, bền bỉ Nhìn tổng quát, nền văn học nước ta gồm hai bộ phận song song tồn tại và có ảnh hưởng qua lại là văn học dân gian và văn học viết Trong đó, văn học dân gian là những sáng tạo nghệ thuật tài hoa cùa nhân dân, có vị trí vô cùng quan trọng góp phần nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc và tác động mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển của văn học viết từ nội dung đến hình thức
tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…ít nhiều đều có sự kế thừa, phát huy vốn quý từ văn học dân gian Hồ Xuân Hương cũng là một điển hình như thế Hồ Xuân Hương đã tiếp thu nguồn thi liệu từ văn học dân gian nhất là từ ca dao, tục ngữ, câu đố trong những sáng tác bằng chữ Nôm của mình Ngược lại, chính thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng góp phần làm phong phú hơn, độc đáo hơn vốn thi liệu văn học dân gian qua cách nhìn, cách nghĩ mới lạ, độc đáo, ngòi bút tài hoa Do chưa có điều kiện tìm hiểu thấu đáo, trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi so sánh, đối chiếu thơ Nôm truyền tụng của Xuân Hương với ca dao, tục ngữ, câu đố dân gian chủ yếu ở khía cạnh nội dung thể hiện vấn đề tính dục
2.1.1 Tính dục thông qua đề tài tình yêu, hôn nhân, gia đình
Nội dung của văn học dân gian nói chung của ca dao, tục ngữ, câu đố nói riêng chính là tâm trạng của nhân dân lao động nảy sinh trong những hoàn cảnh xã hội nhất định Đối tượng phản ánh của nó là con người với tất cả những quan hệ xã hội phức tạp Qua lăng kính văn học dân gian, hình ảnh đất nước, con người, lịch sử và xã hội Việt Nam hiện lên thật sinh động phong phú Trong ca dao, tục ngữ, câu đố lấy đề tài về đời sống gia đình thì số lượng câu viết về tình yêu nam nữ chiếm phần lớn Nội dung của mảng đề tài này cũng thật phong phú Mọi biểu hiện của tình yêu trong từng chặng đường phát triển của nó đều được đề cập: gặp gỡ, giao duyên, thề thốt, ước hẹn rồi kết thúc bằng hạnh phúc hay chia lìa, tan vỡ Tình yêu trải qua đủ mọi cung bậc: nhớ nhung, giận hờn, đau khổ, oán trách…và dĩ nhiên với tâm hồn khỏe khoắn, trong sáng, lối nghĩ hồn nhiên táo bạo, người bình dân cũng không ngại ngần khi đề cập đến vấn đề tính dục trong quan hệ luyến ái nam nữ Qua khảo sát hơn hàng nghìn văn bản ca dao, tục ngữ, câu đố, chúng tôi nhận thấy: văn bản có đề cập đến vấn đề tính dục chiếm số lượng tương đối trong tục ngữ, đến ca dao thì phong phú hơn và đặc biệt trong câu đố dân gian có riêng loại câu đố đề cập đến sinh thực khí nam nữ, nhiều hình ảnh gợi
Trang 34liên tưởng trạng thái, hoạt động giao hoan nam nữ nhưng khi giải nghĩa lại rất thanh nhã, xác thực,
đó là loại câu đố tục giảng thanh và đố thanh giảng tục
Khảo sát hàng nghìn câu tục ngữ, chúng tôi thấy số lượng câu tục ngữ có đề cập đến vấn đề tính dục chiếm số lượng khá khiêm tốn với nội dung chủ yếu nêu lên những kinh nghiệm, lời
khuyên dạy trong mối quan hệ đời sống vợ chồng Ví dụ trong số 2.536 câu tục ngữ của quyển Tục
ngữ Việt Nam, chúng tôi chỉ tìm thấy khoảng 20 câu trong 191 câu tục ngữ thuộc chủ đề nòi giống,
con trai – con gái, hôn nhân – vợ chồng có nội dung liên quan vấn đề tính dục Với cách nói súc tích như lời nói cửa miệng, tục ngữ cũng truyền tải nhiều kinh nghiệm lí thú xoay quanh vấn đề tính dục
Từ mối quan hệ gần gũi giữa nam nữ, dễ dẫn đến tình yêu và những chuyện tất yếu không tránh khỏi:
- Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy
Đến trạng thái hoan lạc khi trai gái được gần gũi, yêu đương:
- Bố dòng lấy được gái tơ, đêm nằm mê mẩn như mơ thấy vàng
- Nạ dòng lấy được trai tơ, đêm nằm mê mẩn như mơ được vàng
Và cả những hậu quả do “cái sự gắng sức” quá mức ấy là:
- Vợ đẹp càng tổ đau lưng
- Vợ đẹp kém ngủ
Hầu hết những câu tục ngữ còn lại sắc thái thể hiện nội dung tính dục khá mờ nhạt hoặc không trực tiếp, rõ nghĩa, ví dụ như:
- Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời, bán buôn là nghĩa ở đời với nhau
- Vợ chồng như đũa có đôi
- Gái phải lòng trai đem của về nhà
Trai phải lòng gái lăn cả cột nhà đem đi
- Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa
- Chồng như đó, vợ như hom
- Vợ chồng đầu ấp tay gối
- Chiều người lấy việc, chiều chồng lấy con
- Gái có chồng như rồng có vây
Gái không chồng như cối xay chết ngõng
- Cơm trắng ăn với chả chim
Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà no
- Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng người
tạm nghĩ phải chăng với vai trò là túi khôn của nhân loại, có chức năng đúc kết kinh nghiệm trong
Trang 35nhiều mặt của cuộc sống để truyền đạt, khuyên răn thế hệ sau học tập, kế thừa, nên tục ngữ đã tự gọt giũa, đào thải những yếu tố tục, những nội dung chưa tốt, chưa thanh nhã, chỉ giữ lại những lời hay
ý đẹp có giá trị như những chân lí, gương sáng soi đời
Trái lại, trong ca dao - loại hình văn hóa dân gian đậm chất trữ tình, ngoài những nội dung như: tình yêu quê hương đất nước, câu hát than thân, hay phê phán châm biếm thói hư tật xấu trong
xã hội - thì ca dao còn bộc lộ chân thật những tâm tư tình cảm, thậm chí những khát khao sâu kín nhất, bản năng nhất của con người Trong hệ thống ca dao viết về tình cảm gia đình, ở nội dung tình yêu đôi lứa, quan hệ vợ chồng, bên cạnh những bài ca dao trữ tình thể hiện tình yêu đôi lứa duyên dáng, ý nhị, kín đáo, có bộ phận không nhỏ những bài ca dao bộc lộ tình cảm nam nữ thật mãnh liệt, táo bạo; đã xuất hiện nhiều câu ca dao có những hình ảnh biểu hiện tình yêu thông qua cảm giác được gần gũi vật chất, xác thịt
nói thật, dám nói cả những điều mà con người vốn chỉ dám nghĩ, dám ước ao do bị ràng buộc bởi những chuẩn mực đạo đức Như ham muốn tình dục của vợ chồng, trai gái được thể hiện thật tự nhiên, dí dỏm trong bài ca dao sau:
Lấy chồng từ thuở mười năm, Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám, đôi mươi,
Một rằng thương, hai rằng thương,
Hoặc chàng trai trong bài ca dao sau có một tình yêu thật sôi nổi Yêu nhau là không muốn rời xa; vì hoàn cảnh, đôi lứa chưa đến được với nhau, anh gởi gắm ước mơ được gắn bó, được sống chung nhà, được tay liền tay, mặt tận mặt như hình với bóng với người thương, ước mơ ấy thật da diết làm sao:
Ước gì em ở chung nhà, Chung cha chung mẹ, chung bà chung ông
động thì ước ao được chung chăn chiếu, hòa hợp trong đời sống tình dục cũng là khát khao thật chính đáng:
Đêm qua anh nằm nhà ngoài,
Để em thở ngắn than dài nhà trong
Trang 36Ước gì anh được vô phòng,
khẳng định nếu thiếu đi nguồn giao hòa thể xác, cuộc sống hôn nhân chỉ vì nghĩa mà nhạt đi tình ân
ái thì cuộc sống đó không còn ý nghĩa Thử lắng nghe tâm trạng não nề, lời than thở da diết của người phụ nữ gặp bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân khi không được hưởng trọn vẹn niềm vui ái ân của đời sống vợ chồng:
Tham giàu em lấy thằng bé tỉ tì ti, Làng trên xóm dưới thiếu gì trai tơ,
Em đem thân cho thằng bé nó giày vò, Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng Cũng đa mang là gái có chồng,
Chín đêm chực tiết, nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh,
Em cũng liều mình vì thằng bé trẻ ranh, Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn
Buồn mình, em lại bế thằng bé nó lên,
Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì
Một giấc đến sáng còn gì là xuân
Chị em ơi! Hoa nở mấy lần
Thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng đề cập đến chuyện quan hệ nam nữ như điều tự nhiên, hiển nhiên tốt đẹp vốn phải có trong quan hệ của tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng theo lối nghĩ của dân gian, theo qui luật của đời sống:
Đá kia còn biết xuân già dặn, Chả trách người ta lúc trẻ trung
( Đá Ông Chồng Bà Chồng )
Nhiều bài thơ Nôm truyền tụng của bà hoặc mô tả trực tiếp hoặc ám chỉ đến bộ phận sinh dục
và hoạt động giao hoan của nam nữ như dệt cửi, đánh đu….Đôi lúc ta còn bắt gặp nhiều câu thơ của
nữ sĩ có nội dung rất giống với ý ca dao:
Trong khi lửa tắt cơm sôi Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem
Trang 37Bố cu lổm ngổm bò trên bụng, Thằng bé hu hơ khóc dưới hông
(Cái nợ chồng con )
Bên cạnh ca dao tục ngữ, không thể không nhắc đến loại hình câu đố dân gian, một hình thức trò chơi dân gian đậm tính bác học, giàu chất trí tuệ Tính bác học của câu đố dân gian thể hiện ở
chỗ : “người giải phải vận dụng cả kiến thức về địa lý, thiên văn, khí tượng thủy văn, phong tục học,
dân tộc học, chính trị, đạo đức, triết học đông tây, lịch sử, công nghiệp, nông nghiệp, kể cả sự hiểu biết về tình dục học…thì mới hiểu nổi”[83:9]
Theo Đông Vân, tác giả quyển Kho tàng báu truyền câu đố dân gian, bên cạnh tính bác học
ở phần lớn câu đố, thì ở mảng câu đố tục giảng thanh, chính yếu tố tục được ví : “ như một chất nam
châm hút chặt tình cảm thích thú say mê đối với tác phẩm Câu đố dân gian được người nghe thú vị say mê chính là vì cái chất dâm tục này ….Xin đừng quên rằng nhờ có yếu tố tục mà câu đố dân gian vẫn sống mãi”[83:87] Ở loại câu đố này, nhân dân đã chứng tỏ khả năng quan sát tinh tế, trí
tưởng tượng phong phú, đặc biệt là cách xây dựng hình ảnh, sử dụng ngôn ngữ luôn gợi cho người nghe đố sự liên tưởng xoay quanh các vấn đề sinh lý, hoạt động tính dục Điều đó khiến hình thức câu đố nhiều khi chứa yếu tố tục gây cười, gợi sự tò mò, kích thích trường liên tưởng tinh nghịch rồi bất ngờ người đố đưa ra lời giải rất nghiêm túc, thanh tao đến khó ngờ, có lẽ nhờ thế mà trò chơi đố càng lắt léo, càng tạo hứng thú, thú vị bội phần
Khó ai dù là kẻ trí thức đạo mạo hay người bình dân đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn lại ngăn trí óc mình không nghĩ đến những chuyện khó nói khi nghe những câu đố tục giảng thanh kiểu như:
Trèo lên cái bụng, hai chân chòi chòi
( Đạp xe )
Hoặc:
Một người nằm một người ngồi Đút vào sướng lắm em ơi Rút ra đánh choạch, miệng cười toét tòe loe
Câu đố vừa gợi tư thế “kẻ nằm, người ngồi”, vừa tả hành động “đút vào, rút ra” lại kèm cả cảm giác “sướng lắm”, rồi nào là âm thanh hỗ trợ “đánh choạch”, hình ảnh minh họa “cười toét tòe
loe”…buộc người nghe phải liên tưởng ngay đến “chuyện ấy”, bụng tin chắc mình đoán ra gì rồi mà
không dám nói, dạ còn thầm trách người đố bậy bạ, thô lỗ quá Thế mà khi biết đáp án giải: mẹ ngồi
Trang 38cho con bú hẳn ta sẽ ngã ngửa người ra vì bất ngờ và không thể không cúi đầu thán phục sự thú vị,
đáo để, lạ lùng của những câu đố tục giảng thanh Thật vậy, vấn đề tính dục được khai thác công khai, không chút kiêng dè trong hệ thống câu đố tục giảng thanh Từ những câu gợi liên tưởng đến các bộ phận sinh dục nam nữ:
Mình tròn trùng trục, đầu toét tòe loe Đút vào con gái, con gái nghe
Đút vào bà lão, bà lão lắc
( Đôi hoa tay ) Đến những câu gợi liên tưởng đến hoạt động tính giao:
Bụng thì bảo dạ rằng ư đút vào Đút vào thì sướng làm sao Dập lên dập xuống nó trào nước ra
( Cảnh ăn mía )
về nội dung thể hiện, mức độ sử dụng thật táo bạo, trực tiếp, nhằm hướng người nghe liên tưởng đến những hình ảnh, hoạt động có liên quan đến vấn đề tính dục, để không còn tỉnh táo tìm ra câu giải đúng Phải chăng đó cũng là một mẹo lừa, nhằm đánh lạc hướng người nghe, từ đó nghĩa thực không dính gì đến tục sẽ được giải mã, lúc đó hiệu quả gây bất ngờ, thú vị càng tăng Nhưng chúng tôi thắc mắc vì sao tác giả dân gian không chọn những cách thể hiện khác mà lại chọn cách nói ỡm
ờ, cứ muốn người nghe phải liên tưởng đến cái ấy chuyện ấy ? Phải chăng vốn dĩ đó là chuyện ai
cũng quan tâm, mong muốn, ai cũng thấy không thể thiếu trong cuộc sống nhưng lại ngại nói huỵch toẹt ra sẽ bị thiên hạ cho là thiếu đứng đắn, không đàng hoàng, hoặc do bị ràng buộc bởi quan niệm
xã hội vốn xem tính dục là điều cấm kị, thì việc chọn cách nói bông đùa của câu đố để gửi vào điều khó nói cũng là một cách đối phó với cấm kị an toàn nhất
Điều đó cũng làm nên sự khác biệt về mục đích sử dụng yếu tố tính dục trong ca dao, tục ngữ với câu đố Ca dao, tục ngữ dù nói trực tiếp hay gián tiếp vấn đề tính dục thì đó là tiếng lòng có thật, bộc lộ khao khát hạnh phúc rất thật, ước mơ hòa hợp trong quan hệ vợ chồng, đôi lứa vô cùng mãnh liệt Khác với câu đố, tính dục chỉ là lớp vỏ ngụy trang bên ngoài còn nội dung chứa bên trong lại lành mạnh, trong sáng sử dụng yếu tố này, câu đố chủ yếu dùng để mua vui giải trí Nhưng chính ở chỗ dám nói điều khó nói công khai giữa thanh thiên bạch nhật, trong đám đông tụ tập vui chơi, hội
hè, hay phút thư giãn sau buổi lao động, đố huỵch toẹt, không cần bóng gió xa xôi những vấn đề vốn được xem là cấm kị thì ắt hẳn người bình dân xưa thật dũng cảm, tiến bộ khi khẳng định chuyện
Trang 39tình dục, quan hệ yêu đương trai gái là chuyện đời thường, tự nhiên, đẹp đẽ không việc gì phải né tránh, kiêng dè, úp mở
Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương theo cảm nhận của chúng tôi lại có vẻ như là sự dung hòa giữa ca dao, tục ngữ và câu đố trong việc sử dụng yếu tố tính dục Xuân Hương học cách nói ví von bóng gió, ý nhị của ca dao để gửi gắm khát vọng hạnh phúc lứa đôi:
Trách người thợ vẽ khéo vô tình
Chỉ một chút vô tình mà người thợ vẽ đã đánh mất đi một lạc thú trần gian khiến chân dung tố nữ đẹp là thế bỗng trở nên vô hồn, nhạt nhẽo vì thiếu đi một phần sức sống dạt dào của con người trong cõi nhân gian Rồi cũng chính Xuân Hương với lối nói táo bạo như cách thể hiện của loại câu đố tục giảng thanh, qua thế giới hình tượng sinh động, ngôn từ ỡm ờ, buộc độc giả không thể không hướng trường liên tưởng đến việc ấy, chuyện ấy:
Hay
Trang 40Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Ca dao có hẳn đề tài về tình yêu, hôn nhân, gia đình với số lượng phong phú đề cập đến vấn
đề tự do luyến ái, ước mơ về tình yêu son sắc, thuỷ chung; câu đố có cả một loại riêng sử dụng yếu
tố tính dục làm mẹo lừa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương suốt tập thơ hơn bốn mươi bài, không bài nào
đi ra ngoài quỹ đạo của chữ tình, chữ duyên, bể ái ân, nguồn hạnh phúc Nữ sĩ và dân gian cùng gặp nhau trong tiếng nói chung về quyền yêu và quyền hạnh phúc cho con người
pháp nghệ thuật độc đáo: vừa có cái táo bạo, sinh động mà không quá lộ liễu, thô nhám của những câu đố tục giảng thanh; vừa mang cái duyên ngầm, ý vị mà không kém phần chân thực của ca dao, tục ngữ; quả thật thơ Nôm của Xuân Hương đã tiếp thu văn học dân gian một cách điêu luyện và sáng tạo đến thế là cùng
ít hơn so với thơ Nôm Hồ Xuân hầu như bài nào cũng ít nhiều gợi liên tưởng đến nét nghĩa này; riêng câu đố thì có cả một loại đố tục giảng thanh sử dụng với tần số cao các yếu tố có liên quan đến vấn đề tính dục
Sắc thái biểu hiện vấn đề tính dục cũng thật đa dạng: ở tục ngữ vấn đề tính dục chỉ được
đề cập đến khá nhẹ nhàng và nghiêm túc do bị chi phối bởi tính chất răn dạy, truyền kinh nghiệm của tục ngữ Ca dao có cách thể hiện mộc mạc, chân thành, khác với tục ngữ, vấn đề tính dục xuất hiện dày đặc, cách nói thẳng, trực tiếp như cố ý hướng người nghe đố phải nghĩ ngay đến những gì
có liên quan đến tính dục Còn trong thơ Nôm Hồ Xuân Huơng lại chọn cách nói lấp lửng, đa nghĩa tạo hứng thú khám phá thú vị nơi người đọc Tuy có những nét khác nhau nhưng về cơ bản yếu tố
tính dục xuất hiện trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương và văn học dân gian đều giống nhau ở mục đích
phản ánh khát vọng của con người về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi rất rõ ràng, nghiêm túc và
vô cùng chính đáng
2.1.2 Tính dục thể hiện tiếng cười trào lộng, phê phán
Văn học dân gian đề cập đến vấn đề tính dục để chỉ ra sự tự nhiên, hợp lý và đúng đắn của yếu tố tính dục như là sự thăng hoa trọn vẹn nhất giúp cho đời sống hôn nhân, tình yêu lứa đôi hòa hợp trọn vẹn về cả hai mặt vật chất và tinh thần, nghĩa và tình Vì thế những gì đi ngược với tự