Đề tài về : Văn hóa tâm linh trong " Truyện Kiều" và " Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- -
HOÀNG THỊ THANH XUÂN
VĂN HÓA TÂM LINH TRONG “TRUYỆN KIỀU” VÀ “VĂN CHIÊU HỒN” CỦA
NGUYỄN DU
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Giá trị của tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ thể hiện quan niệm độc đáo, nghệ thuật tài hoa của tác giả mà còn ở chỗ nó mang một tầm vóc văn hóa, mang tính lịch sử và truyền thống văn hóa thời đại Thật vậy! Lịch sử Việt Nam, đất nước Việt Nam mấy trăm năm qua đã bao phen “gió
dập, sóng dồi”, nhưng chừng ấy năm trôi qua mà hai viên ngọc Truyện Kiều, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du vẫn giữ nguyên được chân giá trị của nó Nhân dân Việt Nam yêu quí Truyện Kiều
không chỉ vì có nàng Kiều tài sắc bị xã hội vùi dập, làm cho “ngọc nát, trâm chìm”, làm cho “hoa
tàn, nhị rữa”, yêu quí Văn chiêu hồn không chỉ vì đau đớn trước những mảnh đời bất hạnh, mong
manh mà vượt lên biên độ của giới hạn, Truyện Kiều và Văn chiêu hồn với nét đẹp văn hóa tâm linh - một khía cạnh của truyền thống văn hóa Việt sẽ sống mãi trong lòng người bao thế hệ, trở
thành một phần máu thịt của người dân
Thế nhưng, vẫn có ý kiền cho rằng: với Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã làm theo đơn đặt hàng của một ngôi chùa nào đó? Và Truyện Kiều cũng giản đơn chỉ là sự vay mượn của văn hóa Trung
Truyện Kiều, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du ra đời và vận động trong một môi trường văn
hóa có những đặc trưng loại hình khác biệt Đó là một nền văn hóa trung đại với mô hình hai thế giới, với hệ thống giá trị, với phương thức cảm nhận và tư duy khác chúng ta ngày nay Bên cạnh thế giới hiện hữu, người xưa hình dung ra một thế giới tâm linh với niềm tin vào sự huyền bí, những điều kì lạ siêu nhiên Chính thế giới thứ hai này đã qui định cách nhìn, cách cảm của người xưa
trong đó có tác giả Truyện Kiều và Văn chiêu hồn Cho nên mục đích mà người viết luận văn hướng
đến là cố gắng chỉ ra, hệ thống lại những biểu hiện của thế giới tâm linh trong các tác phẩm một cách rõ nét nhất, từ đó thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa tâm linh trong đời sống tinh thần của người xưa đồng thời cho thấy văn hóa tâm linh có giá trị như thế nào trong thời đại mới
Khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc tiếp thu truyền thống văn hóa Việt Từ đó góp thêm tiếng nói lí giải về sức sống lâu bền của hai tác phẩm trong lòng dân tộc
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 3Đối tượng khoa học luận văn nghiên cứu “Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn Chiêu hồn của Nguyễn Du”
Phạm vi khảo sát chủ yếu căn cứ trên cơ sở những ý kiến của các bậc nghiên cứu tiền bối,
chúng tôi chỉ tập trung khai thác thêm ở những vấn đề, những khiá cạnh có liên quan đến đề tài văn hóa tâm linh trong tác phẩm Truyện Kiều và Văn chiêu hồn
Về phạm vi tư liệu: ngày nay có quá nhiều văn bản Truyện Kiều và Văn chiêu hồn được lưu
hành trên thị trường, rất khó có thể tìm được cơ sở chính xác Do đó, để công việc nghiên cứu được
tiến hành thuận lợi, chúng tôi xin chọn văn bản Truyện Kiều và Văn chiêu hồn được in trong cuốn
“Nguyễn Du toàn tập” (tập 2) do Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến và nhiều tác
giả khác biên soạn năm 1996 Ngoài ra, để có cái nhìn tổng quát hơn, khi cần, luận văn có thể đề cập thêm một số tác phẩm của một số tác giả khác
4.1 Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh
Trong những năm gần đây, các vấn đề về văn hóa, tâm linh, mối quan hệ giữa văn hóa với văn học đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học nước nhà Đúng
hơn, vấn đề về văn hóa tâm linh thực sự được bàn luận ở góc độ khoa học chỉ từ khoảng đầu thập
niên 90 đến nay Điển hình nổi bật có thể kể đến các công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học sau:
Công trình nghiên cứu “Văn hóa tâm linh” của Nguyễn Đăng Duy xuất bản năm 2005[12]
đã đề xuất khái niệm tâm linh, văn hóa tâm linh khá đầy đủ nhất “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”[12, tr.11] “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”[12, tr.26] Công
trình chủ yếu viết về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong các lĩnh vực như: tín ngưỡng
thần thánh, trời, đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo Tác giả cũng điểm qua tâm linh trong mọi mặt của đời sống cá nhân, gia đình, tín ngưỡng, tôn giáo và cả mê tín dị đoan
Trang 4Tâm linh cũng được Sơn Nam đề cập trong bài “Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hóa Việt Nam” [62] “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa cho tới nay, từ trong truyền
thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những
ca khúc về tổ quốc và cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình thường trong cuộc sống” Tâm linh của con người ngưng đọng trong trí nhớ và con người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình đã tin, đã làm “Trí nhớ không phải đứng dừng một chỗ, lâu ngày phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh” [23, tr.130]
Gần với quan niệm tâm linh của hai tác giả trên, có thể nói đến công trình “Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ” của Nguyễn Hữu Hiếu [29] Tác giả chú ý đến văn hóa tâm linh ở khía cạnh
đời thường của người Việt Nam bộ không theo tôn giáo “Trong cuộc sống tâm linh đời thường, niềm tin thiêng liêng phong phú, đa dạng hơn nhiều và đối tượng mà họ đặt niềm tin có khi gần gũi
và thân thiết hơn” Trên cơ sở tiếp biến văn hóa Chăm, Khmer, Hoa, người Việt có hình thức sinh
hoạt văn hóa tâm linh đa dạng: hiện tượng thờ Phật và thờ Mẫu, hiện tượng đồng bóng đặc biệt là sinh hoạt tâm linh tại gia
Hồ Bá Thâm trong bài viết “Tín ngưỡng dân gian- một lĩnh vực trong đời sống tâm linh cần sự quan tâm của xã hội” [87], tác giả khẳng định “Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận cơ bản
của văn hóa tâm linh, một lĩnh vực nhạy cảm mà trong lịch sử nhận thức và giao tiếp văn hóa đã có những nhận thức , đánh giá khác nhau” Cho nên theo tác giả, chúng ta cần phải có sự quan tâm
đúng mức đối với lĩnh vực này
4.2 Văn hóa là cội nguồn của văn học Tính văn hóa là thước đo giá trị của tác phẩm
văn học Từ văn học hiểu về văn hóa Trần Nho Thìn “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” xuất bản năm 2002 [90] Trong đó, bài viết “Mô hình hai thế giới và vấn đề phương pháp
nghiên cứu văn học Việt Nam thời trung đại (khảo sát qua Truyện Kiều), tác giả đưa ra hai mô hình
cụ thể là thế giới trời- quyền năng vô hạn và thế giới linh hồn, ma quỷ - tuy không có quyền nhưng lại chi phối, ảnh hưởng rất lớn đối với người đang sống Từ đó cho thấy một đặc điểm cơ bản của người Phương Đông là xem xét con người và thế giới trong mối quan hệ hữu cơ không tách rời nhau, xem thiên địa nhân là một thể thống nhất Bài viết này, tác giả dường như hóa giải được chỗ
mà lâu nay người ta cho Nguyễn Du là mê tín, yếm thế, nặng về luân hồi nghiệp báo, thuyết thiên mệnh…
Tín ngưỡng, tôn giáo là những biểu hiện của văn hóa tâm linh Hà Như Chi trong bài viết
“Các giá trị truyện Kiều” trích trong cuốn “Việt Nam thi văn giảng luận” [7] đã phân tích ở ba mặt
rõ ràng: tư tưởng Phật giáo, tư tưởng Nho giáo và đáng chú ý là tư tưởng bình dân thông thường
Tác giả kết luận: “Nguyễn Du mặc dù vận dụng tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo nhưng cũng không cố vượt khỏi tư tưởng bình dân Do đó ta có thể nói rằng tác giả Truyện Kiều không có tham
Trang 5vọng chủ trương bênh vực một học thuyết tư tưởng cao siêu mà chỉ làm cái công việc thông ngôn diễn đạt tất cả các ước vọng, xu hướng và tin tưởng của quần chúng”[7, tr.32] Tác giả đứng về
phía nhân dân, phủ nhận các giáo lý tôn giáo, tiếc rằng tác giả chưa nói đến như một vấn đề bức thiết
Cao Huy Đỉnh qua bài viết “Triết lí đạo Phật trong Truyện Kiều” in trong cuốn Nguyễn Du
về tác gia và tác phẩm do Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu)
[17] đã không thừa nhận sự hiện diện một cách trọn vẹn, trực tiếp của Nho giáo và Phật giáo trong Truyện Kiều mà tác giả hướng đến triết lý hành động của nhân dân
Gần đây, năm 2007, Lê Nguyên Cẩn đã cho xuất bản cuốn “Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa” [6] Trong đó, tác giả để dành một phân mục viết về “văn hoá tâm linh trong Truyện Kiều” Trên cơ sở tiếp thu bài viết “mô hình hai thế giới ” của Trần Nho Thìn, tác giả đề
xuất mô hình ba thế giới Đó là thế của trời, thế giới của con người, thế giới của ma quỷ Tuy nhiên
ở vấn đề này, tác giả chỉ mới dừng lại ở Truyện Kiều Lời nhận xét của Phan Ngọc khi xem công
trình này thật đáng ghi nhận “Tôi tiếc rằng anh đã nhìn Truyện Kiều gần như cô lập Ví thử anh kết hợp phần giải thích với những tác phẩm của chính Nguyễn Du, đặc biệt là bài Văn tế thập loại chúng sinh thì giá trị thuyết phục sẽ tăng hơn” [6, tr.127]
Dành nhiều tâm huyết trong việc nghiên cứu văn học trung đại, có lẽ phải nói đến PGS.TS Lê
Thu Yến với chuyên đề “Truyền thống văn hóa Việt trong sáng tác của Nguyễn Du” [108] Bằng
giọng văn mượt mà, sâu lắng, tác giả đem lại cho người đọc những rung động, những cảm xúc và cả
niềm tri ân đối với thiên tài Nguyễn Du “Trong tác phẩm của Nguyễn Du không chỉ có không khí lễ hội mà còn có thế giới trời, Phật, thần thánh, ma quỷ; không chỉ có mồ mả, tha ma, nghĩa địa mà còn có chiêm bao, mộng mị, bói toán”
Nguyễn Du đã nói hộ chúng ta Trong tác phẩm Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, tác giả nhấn mạnh đến bản chất văn hóa tâm linh của người Việt “Dù Nguyễn Du tự sáng tác hay sáng tác theo lời xin của một nhà chùa nào đó thì qua tác phẩm này vẫn thấy rõ quan niệm của ông Ông đang làm công việc mà mỗi người dân Việt vẫn làm” Đây là ý kiến xác đáng, có tính chất gợi mở trực
tiếp trong công việc nghiên cứu đề tài “Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du” Chúng tôi xin trân trọng lĩnh hội
Nếu như Truyện Kiều thu hút khách thơ bao nhiêu, thì Văn chiêu hồn lại như vì sao tinh tú
chỉ mới được nhìn ngắm, chiêm ngưỡng từ xa, hoặc là đặt những bước chân dè dặt mà chưa đi đến
tận cùng để thấy hết vẻ đẹp của nó Xin đơn cử một ví dụ: cuốn sách “Nguyễn Du về tác gia tác phẩm” do Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu [17] Ngoài phần
giới thiệu chung thì phần nội dung có đến 74 bài viết về sáng tác của Nguyễn Du Trong đó có
65/74 bài viết về Truyện Kiều; 2/74 bài viết về Văn chiêu hồn Chúng tôi nhận thấy, dường như các
Trang 6tác giả đã dành quá nhiều ưu ái cho Truyện Kiều mà chưa có sự đánh giá cụ thể cho tác phẩm Văn chiêu hồn
Hoài Thanh trong bài viết “Văn chiêu hồn” trích trong cuốn “nghiên cứu Văn- Sử -Địa” do
Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn [81, tr.237] đã cho rằng “chủ nghĩa nhân đạo ở đây không có sức chiến đấu như trong truyện Kiều, nó đi vào chỗ hoàn toàn bế tắc” Và “Bài văn tế rất dồi dào tính quần chúng, nó dựng lên những hình ảnh rút ra từ trong trí tưởng tượng và trong cuộc đời thực của quần chúng… Nhưng về mặt tinh thần nó biểu hiện cái tiêu cực, phần mê tín dị đoan nhiều hơn là cái phần hăng hái, tráng kiện trong tinh thần quần chúng” Như vậy, đứng trên lập trường ý thức hệ
phong kiến, Hòai Thanh chỉ ra được lớp vỏ vật chất của đời sống con người mà quên đi phần tâm
linh, phần tâm hồn của người dân Việt “Sống về mồ về mả Ai sống về cả bát cơm”
Nguyễn Lộc trong bài viết “Văn chiêu hồn - một bản tổng kết” trích trong cuốn “Nguyễn Du
về tác gia và tác phẩm” do Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu
[17], tác giả đã nói về tục cúng cô hồn và sự ra đời của tác phẩm Văn chiêu hồn Theo tác giả, tục thờ cúng người qua đời “một mặt là biểu hiện tình cảm nhớ thương, lòng biết ơn và sự kính trọng của người sống đối với người đã khuất, mặt khác cúng là sự cần thiết đối với người đã khuất” [17, tr.132] Song tác giả lại kết luận “Với Văn chiêu hồn, nhà thơ đã nói thẳng những điều xảy ra trên đất nước mình nhưng dưới một hình thức tôn giáo” Tiếc rằng tác giả chưa gọi tên được vấn đề
Cũng viết về Văn chiêu hồn, Đinh Hùng với bài viết “Người thơ thuần túy Nguyễn Du trong văn tế thập loại chúng sinh” trích trong cuốn “Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm” do Trịnh
Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu [17] đã đề cao Văn chiêu hồn (Văn
tế thập loại chúng sinh) như là “viên ngọc quý” Tác giả đưa ra một nhận định xác đáng “Cả Truyện Kiều cùng văn tế thập loại chúng sinh đều giúp cho ta tìm hiểu con người nguyên vẹn của Nguyễn Du” Và chỉ với cả hai, thì “sắc thái cây bút Hồng Lĩnh” mới thực sự tỏa hết ánh sáng xuất thần của
“viên ngọc liên thành không viết” Theo đó tác giả khẳng định “ở chiêu hồn, đã dâng cao thành một niềm tin tín ngưỡng thiêng liêng”
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo ở bộ phận văn xuôi trung đại, PGS.TS Nguyễn Đăng Na
qua bài viết “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - những bước đi lịch sử” [61] nhận xét khái
quát “Cùng với các loại hình văn học khác, văn xuôi tự sự đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà thời đại giao phó: phản ánh tâm linh của người Việt Nam thời trung đại” [61, tr.77]
Mới đây, luận văn thạc sĩ “Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại” của Hoàng Thị
Minh Phương, năm 2007 [73] là công trình rất đáng để tham khảo Chúng tôi xin ghi nhận
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu, chúng tôi nhận thấy thực sự chưa có một công
trình cụ thể nào nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn
Du cả Song các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu khoa học trên đây, do phạm vi đề tài
Trang 7hoặc quá rộng hoặc là quá hẹp nên chỉ mới đưa ra những nhận định khái quát về phương diện tâm
linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du Trong công trình này, chúng tôi cố gắng
hệ thống và làm rõ những vấn đề trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài “Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du”,
chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê phân loại: Là phương pháp chính, nhằm thống kê và phân loại các yếu tố tâm linh sau đó rút ra nhận xét
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực
tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên
tắc chi phối sự hình thành của chúng Từ đó, rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc sáng tạo toàn bộ cấu trúc tác phẩm
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Là phương pháp nhằm làm nổi bật nét tương đồng cũng như
sự khác biệt của tác phẩm Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du so với các nhà văn khác
trên phương diện thế giới quan, nhân sinh quan
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và văn hóa để có cơ sở
đánh giá khách quan tác dụng của văn học trong việc phản ánh văn hóa dân tộc
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du
1.1 Văn hóa tâm linh:
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh
1.3 Truyện Kiều và Văn chiêu hồn
Chương 2 Yếu tố tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du
2.1 Lễ hội
2.2 Lực lượng siêu nhiên
2.3 Cõi âm, hồn ma
Trang 83.1 Yếu tố tâm linh phản ánh hiện thực đời sống
3.2 Yếu tố tâm linh - Ý nghĩa giáo dục và ước mơ của con người
3.3 Sức sống lâu bền của các tác phẩm mang yếu tố tâm linh
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Phát hiện vẻ đẹp của nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa tâm linh Một phương diện
không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của con người thông qua hai tác phẩm Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du Từ đó luận văn góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa và văn
học, khẳng định vai trò của văn học việc phản ánh văn hóa
Văn hóa tâm linh là khía cạnh tinh thần rất cần thiết của con người, nhưng đây lại là một vấn
đề phong phú, phức tạp và khá nhạy cảm, mấp mé với mê tín dị đoan Do đó trên cơ sở tìm hiểu văn hóa tâm linh trong tác phẩm văn học, người viết luận văn góp phần chỉ rõ các biểu hiện tâm linh của người Việt thể hiện trong sáng tác của Nguyễn Du Từ đó có những nhìn nhận đánh giá khách quan
về các hiện tượng này, đồng thời có ý thức trân trọng, nâng niu giá trị tinh thần của cha ông để lại
Mặt khác, luận văn góp thêm tiếng nói lý giải về sức sống trường tồn của hai tác phẩm Truyện Kiều
và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du suốt hơn hai trăm năm qua
Trang 9Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÂM LINH TRONG “TRUYỆN
KIỀU” VÀ “VĂN CHIÊU HỒN” CỦA NGUYỄN DU
1.1 Văn hóa tâm linh
1.1.1 Khái niệm văn hóa:
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả
những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa
Riêng ở nước ta, cũng có khá nhiều quan niệm về văn hóa:
Từ đầu thế kỉ XX, Đào Duy Anh đã phát hiện văn hóa phải gắn liền với sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá trình lao động và trong từng hoàn cảnh địa lí nhất định: Theo ông, nghiên cứu “Các điều kiện địa lí có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, song người là giống hoạt động cho nên trở lại cũng có thể dùng sức mình mà xử trí và biến những điều kiện ấy cho thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng biến chuyển theo Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy”.[1, tr.3]
Trong giáo trình “cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa về văn hóa như
sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [89, tr 17]
Từ định nghĩa của Trần Ngọc Thêm, có thể thấy bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Ở đây chúng tôi căn cứ vào tính giá trị của văn hóa Theo đó có thể chia giá trị văn hóa làm hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần
Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là
“tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”
Trang 10Năm 2002, UNESCO cho rằng: “Văn hóa nên được xem là tập hợp các đặc trưng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin”
Ở khía cạnh này, đầu tiên phải kể đến khái niệm văn hóa của nhà nhân học E.B Tylor trong
công trình “văn hóa nguyên thủy” năm 1871: “Văn hóa như một phức hợp bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được” [99, tr.21]
Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thần như là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”
Với đối tượng là văn hóa tâm linh, chúng tôi căn cứ trên hai định nghĩa của UNESCO để
định hướng cho việc tìm hiểu các phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng… Những vấn đề gắn liền với yếu tố tâm linh - vấn đề cơ bản trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc
1.1.2 Khái niệm tâm linh
Tâm linh gồm chữ “tâm” và chữ “linh” tạo nên Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu,
“tâm” có nghĩa là tim (lòng), thuộc về thế giới bên trong “Linh” có rất nhiều nét nghĩa như: “linh” trong linh hoạt, nhạy bén; “linh” trong thần linh; người chết cũng được gọi là “linh”; “linh” còn dùng để nói đến những ứng nghiệm, bói toán
Hoàng Phê cũng cho rằng tâm linh là “tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [72,tr.897]
Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng Một trong những xác định súc tích
và khá chuẩn về tâm linh phải kể đến, là khái niệm tâm linh của Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”[12; tr.11]
Từ khái niệm của Nguyễn Đăng Duy, chúng ta nhận thấy tâm linh trước hết phải gắn liền với
ý thức con người Cũng tức là sẽ không có tâm linh nằm ngoài ý thức con người Nhưng ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn Nên chỉ khi nào con người có ý thức về cái thiêng, cái cao cả thì mới gọi đó ý thức tâm linh Không như các dạng ý thức khác, ý thức tâm linh tựa như mạch suối ngầm nuôi dưỡng tâm hồn người, làm thăng hoa đời sống tâm linh của con người Đẹp hơn Lung linh hơn Ý thức tâm linh không chỉ tồn tại ở dạng ý niệm mà nó còn được biểu hiện ra ở những hình ảnh, những biểu tượng phát ra tín hiệu thiêng về cội nguồn đất nước, tổ tiên, tình yêu quê hương như cây đa, bến nước, đình, đền, miếu mạo Rồi tới lúc nào đó, các biểu tượng thiêng liêng này quay trở lại tác động vào tâm hồn người những rung cảm thẩm mĩ, khiến nó tự bộc lộ ra
Trang 11bằng những hoạt động hành động cụ thể như cúng vái, cầu nguyện, tham gia hội hè Tâm linh do
đó, tự bản thân nó có sức truyền cảm, tập hợp to lớn khó cưỡng lại được Tâm linh có trong mọi mặt đời sống con người từ phạm vi cá nhân, gia đình đến phạm vi cộng đồng làng xã, tổ quốc, từ các loại hình nghệ thuật đến tín ngưỡng, tôn giáo
Một câu hỏi đặt ra là, tâm linh bắt nguồn từ đâu? Phải chăng tâm linh có cơ sở từ niềm tin! Thật vậy, nói đến tâm linh là nói đến niềm tin của con người Bởi không ai sống mà không có niềm tin Nó là hạt nhân cơ bản xác lập mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên Theo Nguyễn Đăng Duy, niềm tin được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, song có thể quy về ba cấp độ: “niềm tin trao đổi”, “niềm tin lý tưởng” và “niềm tin tâm thức” Trong đó
niềm tin tâm thức gắn liền với tâm linh, gắn liền với niềm tin thiêng liêng vì nó có sự “hòa quyện cả tình cảm và lí trí, dẫn đến sự say đắm, say sưa tự nguyện hành động theo niềm tin ấy” [12; 16] Đó
là niềm tin thiêng liêng về tổ tiên, niềm tin về Mẫu, Phật, Chúa, niềm tin về các thần thành hoàng v.v Niềm tin thiêng liêng do vậy, được xem là yếu tố then chốt tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa và trang trọng Một xã hội văn minh, phát triển, niềm tin thiêng liêng, niềm tin cao cả càng có giá trị bền vững
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn nội hàm tâm linh, thiết nghĩ chúng ta nên đặt nó trong mối tương quan với các khái niệm khác: tâm linh với tín ngưỡng - tôn giáo, tâm linh với mê tín dị đoan
Tâm linh với tín ngưỡng - tôn giáo:
Hoàng Phê, tác giả của từ điển Tiếng Việt, cho rằng tôn giáo có hai nghĩa: Một là “hình thái
ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên định đoạt tất cả, con người phải phục tùng tôn thờ Tôn giáo nảy sinh từ rất sớm, từ trong xã hội nguyên thủy” Hai là “hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy”[72,
tr.1011] Thiết nghĩ, ở đây Hoàng Phê đã vô hình chung đã gộp tôn giáo với tín ngưỡng vào nhau Nhưng thực chất tôn giáo không đồng nhất với tín ngưỡng
Tín ngưỡng (tin tưởng và ngưỡng mộ) là “một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người đó tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng” [12] Cùng quan điểm này, Mai Thanh Hải cho rằng, “dù ở những trình độ khác nhau, tín ngưỡng đều có hai đặc tính: một là tin vào cái gì thiêng liêng có sức mạnh chi phối số phận con người; hai là niềm tin ấy được nhiều người thừa nhận và cùng tin theo, cùng làm theo một số nghi thức gì đó để bày tỏ niềm tin chung” [24, tr.33]
Từ các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy tín ngưỡng và tôn giáo đều có chung niềm tin
thiêng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất với nhau Điểm khác biệt giữa tín
Trang 12ngưỡng và tôn giáo là: tín ngưỡng không có giáo chủ, giáo lý, giáo hội cụ thể và đình, đền, miếu,
phủ cũng không phải là giáo đường, không phải là nơi giảng kinh thuyết pháp mà chỉ là nơi thờ tự, cúng tế, hội hè Ở tín ngưỡng, con người ta thấy mọi vật chung quanh đều trở nên linh thiêng, và chỉ tập trung giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chứ không thiết kế một thiên đàng hay một miền cực lạc nào cả Trong khi tôn giáo có giáo chủ, giáo lí, giáo hội, có giới luật, thì tín ngưỡng vẫn bó kết con người vào sự sùng kính đơn sơ với niềm tin ngóng đợi đơn giản vào thần, mẫu, tổ tiên sẽ phù hộ độ trì cho họ được mạnh khỏe, bình yên, ăn nên làm ra Tín ngưỡng mang tính địa phương nhỏ hẹp, gần gũi với đời sống nhân dân nên có sức cuốn hút mạnh mẽ với đại đa số người dân còn tôn giáo cũng là một hiện tượng xã hội nhưng mang tính tổ chức cao, hướng đến một đời sống tâm linh siêu việt nên phạm vi ảnh hưởng và lan tỏa của tôn giáo rộng khắp thế giới Suy cho cùng, tín ngưỡng và tôn giáo tuy có khác nhau nhưng không loại trừ nhau mà vẫn cùng tồn tại xen kẻ bổ sung cho nhau
Như vậy, tín ngưỡng hướng con người tới sự thịnh vượng của cuộc sống Tức là tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng) còn tôn giáo không hoàn toàn là tâm linh mà chỉ là một dạng đặc biệt của tâm linh, tôn giáo cũng phải cứu cánh ở tâm linh Cùng phát ra tín hiệu thiêng nhưng tín ngưỡng gắn liên với đời sống trần tục một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức của cá nhân
và đều hướng đến chân, thiện, mỹ cho cuộc đời này Qua đây, chúng ta cũng phân biệt được tín ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) còn gọi là tín ngưỡng dân gian hay tín ngưỡng truyền thống để phân biệt với tín ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) tôn giáo
Tâm linh và mê tín dị đoan
Trong từ điển tôn giáo, Mai Thanh Hải đã nói rất rõ về mê tín dị đoan: “Mê tín là tin nhảm, tin xằng bậy, không thấy, không hiểu mà nhắm mắt tin theo mù quáng, tin theo một cách mê muội, viễn vông, quàng xiên cả những việc, những hiện tượng trái lẽ tự nhiên, không có suy xét theo lẽ phải thông thường; dị đoan là suy luận, suy đoán một cách nhảm nhí, bậy bạ khác thường, rồi hành động bừa bãi, không lường trước được những hậu quả xấu về sức khỏe, tài sản, thời gian, có khi cả tính mạng cho mình Nói chung là những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa vào những biểu tượng trái lẽ tự nhiên, có những hành vi lễ bái, ứng xử mang tính chất cuồng tín, nhảm nhí, trái với lẽ phải
và hành vi thông thường của mọi người chung quanh, làm hại đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi người” [24, tr.107] Đơn cử ví dụ, gần đây nhất, được truyền hình Việt Nam đưa tin hiện
tượng đi cầu con ở tu viện Biển Đức Thiên Phước thuộc Q.Thủ Đức (TP.HCM), hiện tượng “truyền năng lượng” chữa bách bệnh của “cậu cò” Phạm Thị Phú ở thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên:
“bất kể người già, người trẻ, cả gái lẫn trai đều được “cậu cò” bẻ cổ, xoay tay, vạch mắt, vặn tai, thổi phù phù, kéo áo lên quá đầu, tụt quần xuống dưới mông rồi phải nằm dưới đất để “thần y” giẫm lên “truyền năng lượng chữa bệnh” Rõ ràng đây là những việc làm phản khoa học, các tin đồn thất
Trang 13thiệt, làm mất thời gian, tiền bạc của nhiều người nhẹ dạ Thậm chí dẫn tới mất mạng như chơi! Thế nhưng không ít người vẫn tìm đến
Phải chăng tâm linh là mê tín dị đoan? Tâm linh không phải là mê tín dị đoan Nhưng cũng phải thừa nhận rằng có niềm tin thì mê tín mới tồn tại được Vậy mê tín dị đoan tồn tại là do đâu?
Sở dĩ mê tín tồn tại được là do yếu kém về khoa học, con người không đủ trình độ để phân tích lí giải đúng sai nhảm nhí… hoặc lợi dụng khi tình trạng quẩn bách, mụ mẫm của con người không được kịp thời giải tỏa Hoặc là một trong những giây phút thăng hoa như lạc vào thế giới khác khiến cho con người mất tỉnh táo, tin vào sự nhảm nhí Nói cách khác đây là hiện tượng nhắm mắt tin mò, chứ không có cơ sở khách quan
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta thấy được sự khác nhau giữa tâm linh với mê tín dị đoan ở chỗ, tâm linh là niềm tin thiêng liêng trong đời sống tinh thần của con người tin vào tổ tiên, thần thánh, phật, chúa hay những người không đi tu mà họ vẫn đi chùa, đền, đình; vẫn lễ Phật, ăn chay, vẫn tin vào những điều thiêng liêng của Phật, thần thánh Niềm tin vào cái thiêng vì thế đã đánh thức trong tâm hồn con người ý chí, bản ngã để sống và làm việc, xử sự tốt hơn, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha ông ta Còn mê tín dị đoan là dựa vào thần Phật để kiếm chác, thương mại hóa niềm tin, hoặc đặt ra bao nhiêu điều kì quái khác thường như trên chúng tôi vừa đề cập khiến cho người khác tin theo một cách mê muội, hành động theo sự tin ấy không những hao tốn về tiền bạc mà còn có khi thiệt hại về tính mạng bản thân
Giữa tâm linh và mê tín dị đoan chỉ cách nhau ranh giới nhỏ hẹp Điển hình như hiện tượng nói chuyện với người âm của các nhà ngoại cảm, trước đây được cho là mê tín phù phiếm thì nay đã được khoa học thừa nhận “khả năng ngoại cảm” và bước đầu được nhà nước quan tâm đặc biệt Vì thế có những trường hợp không thể qui hoàn toàn tâm linh là mê tín dị đoan, là những ngộ nhận của con người Chẳng qua đấy chỉ là những vấn đề mà khoa học không hoặc chưa có cách nào chứng minh đúng hay sai mà thôi Vì vậy tâm linh luôn là một bí ẩn Điều chúng ta nên làm và có thể làm
là cố gắng đẩy lùi và xóa bỏ dần dần hiện tượng “nghe ở đâu có ông nọ, bà tê linh thiêng lắm” rồi
đổ xô kéo đến cúng viếng mà chẳng biết rõ gốc tích thế nào
Qua sự phân biệt trên, chúng ta thấy tâm linh là một biểu hiện trong đời sống tinh thần của con người với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Do đó không nên đơn giản hóa cho rằng tâm linh là mê tín dị đoan, cũng không nên thần bí hóa, tuyệt đối hóa khái niệm tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu phi thường coi đó là cứu cánh của nhân loại Cần phải có thái độ nhận thức đúng đắn vấn đề nhạy cảm này, đồng thời khẳng định tâm linh là phương diện quan trọng, rất cần thiết cho đời sống tinh thần của nhân loại Ở đó, con người tin vào tín ngưỡng, vào tôn giáo, và có
cả niềm tin về chính cuộc sống trần thế này “không chỉ có Thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật công lí cũng thiêng liêng
Trang 14không kém”[20, tr8]
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh
Từ việc giới thuyết về khái niệm văn hóa và khái niệm tâm linh, chúng tôi nhận thấy tất cả những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn hóa tâm linh Hơn nữa đã gọi là tâm linh thì nó không thể mất đi được Tâm linh là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người và khi đó họ ứng xử với tâm linh một cách có văn hóa Chẳng hạn như những dịp xuân về, tết đến, dù xa xôi cách trở, dù đi đâu và ở đâu, thì ai cũng muốn về sum họp với gia đình, với làng quê
để thắp những nén hương lên trên bàn thờ gia tiên, trước là báo cáo với tổ tiên ông bà, con đã về; sau nữa là cầu khấn vong linh những người thân quá cố phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, ăn nên làm ra Cũng có khi do điều kiện, hoàn cảnh con người ta không được về nơi chôn nhau cắt rốn,
về với gia đình trong ngày thiêng liêng nhất, họ vẫn một lòng hướng về cội nguồn bằng cách lập bàn thờ “vọng” kính cẩn dâng lên những nén hương để tưởng niệm, khấn vái, cầu nguyện, tâm tình, chia
sẻ với ông bà, cha mẹ, người thân đã qua đời Hoặc cứ đến ngày 15/7 âm lịch hằng năm, mọi nhà đều cúng cô hồn Những việc làm này không biết tự bao giờ đã đồng hành cùng với con người Việt Nam
Như vậy, có thể khẳng định rằng đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần, ở đó con người tin vào cái thiêng Ở đó con người chủ yếu sống với phần tâm linh của mình Đó là không gian của những thần cây đa, ma cây gạo, của thần thánh, Phật tiên… Đó là thời gian giỗ, tết, các lễ hội với phần lễ thiêng liêng, những thời điểm giúp con người giao hòa với trời đất, thiên nhiên và các thế lực thánh thần Sống trong không gian, thời gian mang tính tâm linh ấy, con người được giải tỏa, cởi bỏ phiền muộn lo âu, cầu những điều tốt đẹp cho mình và người thân
Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi, khái niệm văn hóa tâm linh của Nguyễn Đăng Duy là
tương đối đầy đủ: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [12, tr.26]
Thuộc lĩnh vực tinh thần, nhưng văn hóa tâm linh không chỉ gồm giá trị văn hóa vô hình (nghi lễ, tập tục, ý niệm ) mà cả những văn hóa hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, phủ, chùa, nhà thờ )
Tóm lại, với những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn có thể khẳng định, văn hóa tâm linh là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện đã góp phần tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa dân tộc
Trong điều kiện về thời gian và khả năng của người viết, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng người Việt không theo tôn giáo
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh
1.2.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian
Trang 15*Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một trong những cơ sở hình thành văn hóa tâm linh, bắt nguồn và chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, tâm lí, thói quen và tính cách của người Việt
Sinh sống trong điều kiện địa lí sinh thái đầy khắc nghiệt, khí hậu thời tiết thay đổi thất thường, khi hạn hán, lúc lũ lụt… suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời nhưng nhiều khi kết quả chỉ là con số không tròn trĩnh Điều này tất yếu dẫn đến tâm lí phụ thuộc, ý thức tôn sùng và thái độ hòa hợp với thiên nhiên Đầu tiên phải kể đến “đất” và “nước” là hai thành tố có vai trò quyết định, mà cư dân nông nghiệp lúa nước luôn quyện chặt với nó tựa như “Người ta là hoa đất” Nhưng để có nước (mưa) thì cần đến “trời”, do vậy người xưa tín ngưỡng tôn thờ Trời, Đất, Nước
và các hiện tượng thiên nhiên có liên quan đến đời sống nông nghiệp như mây, mưa, sấm, chớp
Trong đó Trời là trên hết, vì theo người xưa trời sinh ra mọi vật “Trời sinh voi sinh cỏ” Cái gì cũng
phải xin trời, lạy trời:
“Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày”
Khi đã có mưa, người ta hân hoan biết ơn, cần cù làm việc:
"Ơn Trời mưa nắng phải thì, Nơi thì cầy cạn, nơi thì bừa sâu
"Nhờ trời mưa gió thuận hòa, Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau
Hình ảnh mặt trời vì thế đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống của cư dân lúa nước đến mức tôn sùng, quy phục:
“Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”
Chính sự phụ thuộc này đã đưa người Việt cổ hình thành lối tư duy tổng hợp và tín ngưỡng thờ đa thần! Cùng với triết lí âm dương, chú trọng yếu tố nữ - âm tính nên các vị thần được tôn vinh
trở thành các nữ thần là bà trời, bà đất, bà nước rất gần gũi gắn bó với cư dân lúa nuớc Khi có ảnh
hưởng của văn hóa ngoại lai thì bộ ba nữ thần vẫn tồn tại trong dân gian dưới dạng tam phủ (mẫu thượng thiên, mẫu thượng ngàn, mẫu thoải) cai quản muôn loài Khi Phật giáo du nhập vào ta, trong phương thức tồn tại, nó cộng sinh ngay với tín ngưỡng bản địa thì nhóm nữ thần này được nhào nặn thành hế thống Tứ Pháp: Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi - Pháp Diện
Trang 16Hình 1.1 Tranh thờ tam phủ
Cũng như hệ thống nữ thần thiên nhiên được xem như là bà đỡ của nghề nông, thì núi, sông, biển cũng được cư dân lúa nước nhân cách hóa thành thần núi, thần sông, thần biển Những vị thần
tự nhiên thờ ở nhiều làng, hầu như chỉ thấy có nghi thức thờ cúng chứ chưa có tích về thần Có lẽ do con người nguyên thuỷ chưa có nhiều khả năng tư duy, hư cấu các chuyện về thần để chúng trở thành các pho thần thoại có sức sống mãnh liệt hơn Thần núi Tản Viên, lúc đầu cũng chỉ đơn giản
là thần núi được thờ để che chở cho con người nhưng vì thần núi cao, nên uy linh hơn các thần tự nhiên khác Bước vào nhà nước Văn Lang thời cổ đại, Tản Viên được nhân hóa và lịch sử hóa trở thành vị anh hùng truyền thuyết của cả cộng đồng quốc gia dân tộc Tản Viên sơn thánh
Xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, từ con người đến con vật, cây cối, từ những vật
vô cơ như đất, đá, nước, lửa đến cả những vật do con người tạo ra như xe, chum vại… đều có linh hồn Nên trong tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên của người xưa còn có việc thờ động vật và thực vật – vật thiêng
Nếu như ở loại hình văn hóa gốc du mục, người ta thờ con vật có sức mạnh như chó sói, hổ, chim ưng, đại bàng thì ở loại hình văn hóa nông nghiệp dẫn người Việt Nam đến tục thờ các con vật hiền lành hơn như chim, rùa, rắn, cá sấu… là các con vật gần gũi với cuộc sống của cư dân lúa nước Người Việt quan niệm “nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng” nên đã nâng các con vật này lên mức biểu trưng : Tiên, Rồng thông qua các truyền thuyết về họ Hồng Bàng Trong đó Tiên được trừu tượng hoá từ giống chim sống ở trên cạn, còn Rồng được trừu tượng hoá từ hai loại bò sát rắn
và cá sấu sống ở dưới nước Theo nguyên lí âm – dương và lối sống hòa hợp, thích nghi với thiên nhiên, người nông nghiệp đã biến con vật thành chim mẹ, rồng cha làm nên cội nguồn tổ tiên của người Việt Con rồng, rắn, rùa…vì thế đã đi vào các câu chuyện thần thoại trong dân gian về con vật
Trang 17thiêng phù hộ cho con người trong công cuộc dựng nước và giữ nước Hình tương rồng cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo của
nó càng thể hiện uy quyền phong kiến Ngày nay, rồng dùng để đặt tên cho nhiều địa danh trong nước: Hàm Rồng, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long v.v Tất cả việc làm này thể hiện ý thức bảo toàn nòi giống và lòng tôn kính, tự hào dân ta thuộc dõng dõi con rồng cháu tiên
Ở thời thượng cổ, cư dân trồng lúa nước quan niệm rằng lúa sinh ra thóc gạo để nuôi sống con người nên người ta gắn lúa với hình ảnh của người phụ nữ Vì tin rằng lúa là một loại cây có
“hồn” nên dân ta nảy sinh tín ngưỡng thờ thần lúa Để được mùa, hằng năm cư dân lúa nước phải làm lễ rước mạ, gọi hồn lúa, lễ nhập lúa vào kho Thứ đến các loài cây xuất hiện sớm ở vùng nông nghiệp lúa nước như cây đa, cây dâu, quả bầu cũng được người dân tôn thờ Dân gian thường truyền tụng: “thần cây đa, ma cây gạo” hay “cây thị có ma, cây đa có thần” Tin rằng cây có linh hồn, nên có tục, hễ nhà nào có đám ma, có người chết thì gia chủ phải đeo tang cho cây, vì sợ cây buồn, héo mà chết Cây cũng là nơi ngự trị của các thần, ma Loại cây sống lâu năm đều có thể thành tinh- mộc tinh Nên với đặc tính cộng sinh, sống hòa hợp với thiên nhiên thì dù thần hay ma, người Việt cũng kính trọng, cúng vái rất trang nghiêm
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và thờ vật thiêng tạo nên bản sắc văn hóa của cộng đồng người Việt, như nhắc nhỡ người dân Việt sống chan hòa như dây bầu dây bí cũng đều chung một dàn, và đầy tính bao dung Ngoài ra, trong tâm linh người dân Việt còn tin thờ thần không gian- Bà Ngũ hành nương nương và thần thời gian – mười hai vị thần (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Múi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và mười hai bà mụ có nhiệm vụ làm cho mọi vật sinh sôi phát triển
Từ thời nguyên thuỷ người Việt cổ đã biết nhận thức về thế giới khách quan nhưng với khả năng tư duy trừu tượng của buổi đầu, con người chưa thật sự phân biệt được giữa mình với giới tự nhiên mà mình đang cùng sống, đang phải phụ thuộc Khi ấy con người đã đồng nhất giữa mình với các vật thể của thiên nhiên Tác giả cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang chỉ rõ quan
niệm người xưa: “Ông Trời ở trên cao có thể nhìn thấy mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành … Ông Trời có những thuộc hạ gần xa Gần thì có ông Sấm, bà Sét Xa có Sơn Tinh, Thủy Tinh, thần cây đa, ông Táo, ông Địa v.v Rồi linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại một thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác người chết và có thể ở chung với người thân thích còn sống trong một thời gian để che chở, bảo hộ.”
*Tín ngưỡng sùng bái con người
Con người được cấu tạo bởi hai phần: thể xác và linh hồn Người Việt còn tách linh hồn ra làm hai yếu tố “hồn” và “vía” (ba hồn chín vía) Có người lành vía, người dữ vía Vía phụ thuộc nhiều vào thể xác, nên khi gặp người có vía độc thì cần phải đốt vía, giải vía (thường gặp nhất ở hoạt động buôn bán) Khi chết thì vía theo xác mà tan ra Còn “hồn” trừu tượng hơn nên có thể xem
Trang 18như tồn tại độc lập với thể xác Quan niệm dân gian cho rằng khi ngủ thì hồn lìa khỏi xác đi đây đi
đó, do vậy mà nảy sinh hiện tượng chiêm bao, mộng mị, giấc mơ vì thế lúc ngủ, theo dân gian con người không được bôi vật lạ lên mặt vì sợ hồn không nhập được vào xác…
Cũng vậy, khi chết thì chỉ chết về phần xác nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại, được thần linh mang đi sống ở một thế giới khác- thế giới âm phủ Nói theo triết lý âm dương thì khi chết là hồn đi
từ miền dương gian đến cõi âm ty, âm phủ Tuy thuộc về thế giới khác nhưng linh hồn vẫn dõi theo gây họa hay tác phúc cho người đang sống Chính điều này đã hình thành tín ngưỡng thờ cúng người chết Tín ngưỡng sùng bái con người được biểu hiện qua hình thức: thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng liệt sĩ, thờ tà thần
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trước khi Nho giáo du nhập, người Việt Nam đã có truyền thống cúng giỗ tổ tiên Cúng giỗ
tổ tiên không phải là biểu hiện tôn giáo mà là biểu hiện huyết thống Huyết thống thì bao giờ cũng
có nguồn gốc Vì vậy, thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống đẹp nhất của người Việt, là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của chúng ta Đó là đạo lí, là phong tục, tập quán của một dân tộc và còn chỉ rõ ta là người có cội có nguồn, có tổ có tông, chứ không phải là một tay ma cà bông… không có gia phả Người xưa cũng từng nói “cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” như nhắc nhỡ chúng ta khắc sâu ý thức về cội nguồn
tổ tiên trong đời sống tâm linh của mình Đồng thời cũng răn dạy con cháu mai hậu nhất thiết không được đánh mất cái mà tổ tông đã có “Giấy rách phải giữ lấy lề”
Nếu như người phương Tây chú trọng vào ngày sinh thì người Việt Nam lại chú trọng vào ngày giỗ (ngày mất) Bởi theo quan niệm của người xưa đây là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng Người xưa tin rằng thể xác tuy tiêu tan nhưng linh hồn thì bất diệt nên sau khi chết linh hồn của con người vẫn tiếp tục sống với tổ tiên, ông bà ở nơi chín suối Tin rằng nơi đó, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã qua đời vẫn có thể đi về thăm nom, phù hộ độ trì cho con cháu trong gia đình Tin rằng ở đó, người chết cũng có một cuộc sống như cuộc sống ở trần gian, tức là cũng cần đến nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, đi lại theo quan niệm “dương sao âm vậy” Chính vì vậy, ngoài
mồ mả tổ tiên ở nghĩa địa, thì trong mỗi gia đình gia chủ đều dành vị trí sang trọng, đẹp nhất của thế nhà lập nên bàn thờ cúng tổ tiên Từ việc thờ cúng, người xưa cho rằng giữa thế giới thực tại, hữu hình với thế giới siêu nhiên, vô hình; giữa con cháu với tổ tiên, ông bà, những người thân đã mất luôn luôn như có một sợi dây liên hệ mật thiết Đây cũng là dịp để người sống giao tiếp – thông linh với người đã khuất Trong khi cúng bái, người sống khấn vái, cầu nguyện một điều gì đó với tổ tiên, ông bà, người thân qua đời Nhưng nhìn chung niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, là họ mong muốn tổ tiên phù hộ cho họ được sức khỏe, hạnh phúc, ăn nên làm ra, gặp rủi hóa may, vạn sự như ý… Qua thờ cúng, con cháu một mặt thể hiện lòng tôn kính, biết ơn, tri ơn đối với tổ tiên mình, Mặt
Trang 19khác thờ cúng tổ tiên là một nhu cầu tinh thần bù đắp những thiếu hụt trong cuộc sống thực tại khó khăn, đau khổ, hiểm nguy của chính họ
Thờ cúng các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước
Nếu như trong phạm vi gia đình, dòng họ, người Việt thờ cúng tổ tiên thì trong phạm vi cả nước, dân ta cũng thờ cúng vua Hùng và anh hùng có công dựng nước và giữ nước Người Việt Nam vẫn thường nhắc nhỡ nhau ý thức về tổ Hùng Vương - cội nguồn của dân tộc:
“Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
“Dù ai sinh sống gần xa, Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười”
Đến với lễ hội vua Hùng, người dân hân hoan trong không khí thiêng liêng và bằngtấm lòng thành thắp những nén nhang cảm tạ ơn nghĩa Vua cha đất tổ đã mở đường cho con cháu Lạc Hồng
xây nền đất Việt trời Nam Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhỡ thế hệ sau: “Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải có công giữ nước”
Thật vậy! dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm sóng gió, bao gian khổ hiểm nguy, bao tủi nhục đắng cay trong suốt một thời gian lịch sử rất dài mới có được một đất nước đẹp
và thanh bình như ngày hôm nay Trong cuộc chiến trường kì đẫm máu và nước mắt đó, đã biết bao người đã ngã xuống vì tổ quốc, vì nhân dân Công lao của họ đời đời được đất nước, nhân dân ghi công Máu và nước mắt của họ đã thấm sâu vào lòng đất và đi vào lịch sử, vào cõi bất tử của miền nhân gian Để rồi với sự ngưỡng vọng và tôn kính, dân gian đã linh thiêng hóa các anh hùng tiết liệt
để họ trở thành những vị thần được thờ phụng, tưởng nhớ một cách uy linh, trân trọng
Từ nhiều thế kỉ nay, ông cha ta đã dành phần thiêng liêng nhất cho việc thờ cúng biết ơn các anh hùng có công dựng nước và giữ nước Lạc Long Quân, Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng đến Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Quang Trung, bất kể là những vị anh hùng có nguồn gốc từ tự nhiên hay có thật trong lịch sử thì họ cũng là những con người sống khôn thác thiêng, lập công trạng khi sống và hiển linh phù trợ giúp dân giúp nước khi chết
Vì thế, thờ cúng tổ tiên – gia đình và thờ cúng tổ tiên - đất nước là điều linh thiêng, hết sức quan trọng không thể thiếu được trong phong tục của người Việt Nam Qua đó, khẳng định lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cư dân Việt
Tục cúng cô hồn Xuất phát từ việc tôn kính người chết và lòng nhân ái bao dung, người
Việt có tục cúng cô hồn Cô hồn là những linh hồn cô đơn, cô độc “vô gia cư” khổ sở, đói rách, ngày đêm lang thang đi tìm miếng ăn, thức uống, kiếm chỗ ở… Nhưng mấy ai biết mà cho, mà cúng Đói rét, vất vưởng Những lúc ấy, oan hồn có thể bằng hình thức này hay hình thức khác về quấy nhiễu người sống, làm cho người ở cõi trần gian không thể sống yên ổn… Vậy nên, quan niệm
Trang 20“dương sao âm thế”, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” dân ta đã xây am chúng sinh và cúng cô hồn, một mặt làm vơi bớt phần nào sự cực khổ của những linh hồn kém may mắn không người cúng vái, mặt khác cầu cho cô hồn sớm được giải thoát, không còn quấy nhiễu người dương thế
*Tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên và con người dẫn đến việc hình thành lễ hội dân gian
Có lẽ không một nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào lại không có lễ hội Cũng như Trung Quốc và các nước khác, Việt Nam là một đất nước có rất nhiều lễ hội Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì Việt Nam có tới 500 lễ hội lớn nhỏ trải dài theo lịch sử dân tộc, rộng khắp ở mọi miền đất nước và suốt cả bốn mùa xuân hạ thu đông Lễ hội chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam Mỗi lễ hội mang một nét tiêu
biểu và giá trị riêng: Tết Nguyên đán (1-1): buổi sáng đầu năm (tính theo Âm lịch), Tết Nguyên tiêu
(15-1): đêm rằm đầu tiên trong năm, treo đèn, còn gọi là thượng nguyên, Tết Thanh minh (5-3): rẩy
mã, viếng mộ, chơi xuân, hội đố lá, Tết Đoan ngọ (5-5): tết hoa quả, diệt sâu bọ, mừng con nước, đua thuyền, Tết Thất tịch (7-7): hoặc Vu lan, xá tội vong nhân, cúng cô hồn (15-7) còn gọi Trung nguyên, Tết Trung thu (15-8): thưởng trăng, gia đình đoàn tụ, múa lân rồng, Tết Trùng cửu (9-9): còn gọi là trùng dương, số 9 là con số của trời, cầu trời mưa thuận gió hòa, Tết Hạ nguyên (15-10): tết cơm mới, mừng mùa màng thu hoạch ; Lễ hội tái hiện lịch sử nhằm suy tôn những con nguời, những anh hùng dân tộc như Lễ Hội Đền Hùng, Hội Hai Bà Trưng, Hội Gióng… và Lễ hội tái hiện phong tục tín ngưỡng như Hội chùa Dâu, hội chùa Keo, Hội chùa Hương, Hội bà chúa Sam…
Lễ Hội luôn đan xen xoắn xuýt nhau Lễ đi kèm với hội dưới hình thức cúng kiến, bái viếng đối với thần thánh, tiên, phật, hoặc người dưới cõi âm như lễ rước thần lúa, lễ cầu mưa, nghi lễ phồn thực, lễ tảo mộ, lễ cúng cầu siêu cho các vong hồn… lễ diễn ra trong một không gian thời gian nhất định Người tham gia lễ thường có thái độ nghiêm túc và có một ý thức lễ nghi rõ rệt Hội là cuộc chơi, thường mang tính chất hội hè Hội thường gắn với những trò chơi dân gian, gắn với những cuộc thi thố, tranh tài trong một số lĩnh vực nào đó Tính chất vui, trào tiếu trong hội là nét nổi bật Con người không chỉ sống trong cái thiêng mà còn sống trong cái vui Vì vậy lễ phải có hội mới cuốn hút, hội phải có lễ thì mới linh thiêng, mới đi vào nề nếp Lễ hội còn là một ngôn ngữ hoạt động làm phong phú, hấp dẫn hơn và dễ đi sâu vào tâm thức con người hơn nhưng triết lí giáo điều khô khan của các tôn giáo, tín ngưỡng Không có lễ hội thì cũng không còn tôn giáo và tín ngưỡng
Do đó nhân dân ta rất thích lễ hội Dù con người ta có ở xa đến mấy, mỗi khi có lễ hội họ đều tìm đến Lúc ấy, họ được sống trong một không gian thiêng, một khoảnh khắc thời gian thiêng Chỉ là khoảnh khắc thôi, nhưng để lại niềm lưyến lưu trong tâm hồn người để từ đó thêm có trách nhiệm với cộng đồng, thêm gắn bó với xung quanh.Lễ hội là dịp để để các giai nhân tri ngộ, nam thanh nữ
tú gặp gỡ, trò chuyện, kết bạn, vui chơi, hẹn hò…, cũng là dịp biểu dương sức mạnh, đoàn kết, gắn
bó mọi thành viên với cộng đồng Mỗi dịp lễ hội là một dịp chuyển giao văn hóa, sáng tạo văn hóa
Trang 21Vì thế, người Việt Nam rất cần đến lễ hội Đó là sợi dây tâm linh kết nối tình cảm giữa con người với con người, là nhịp cầu nối giữa quá khứ - hiện tại - tương lai Cho nên, với sự kết hợp sâu sắc giữa cái thiêng và cái phàm, giữa thần thánh cao xa và ước muốn bình dị của con người, lễ hội luôn
sống mãi với thời gian Nói như GS Phùng Quý Nhâm lễ hội chính là “bảo tàng sống của văn hóa dân tộc ta” Vì vậy chúng ta cũng như thế hệ mai sau phải biết trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa
thiêng liêng này
*Tín ngưỡng dân gian chi phối đời sống xã hội
Do có niềm tin đặc biệt vào tín ngưỡng dân gian, nên người dân Việt tin rằng tín ngưỡng dân
gian có sự chi phối sâu sắc đời sống của họ Biểu hiện dễ thấy nhất trong hoạt động xem bói, chấm
tử vi, phong thủy, coi ngày giờ
Dẫu biết rằng chuyện gì đến sẽ đến, không nên lo lắng, sầu thương, vấn vương! Hãy để nó đến tự nhiên rồi đi tự nhiên Con người ai rồi cũng phải chết! Thế nhưng trong thực tế cuộc sống, tuyệt nhiên, không ai bằng lòng với điều đó cả! Dẫu biết rằng thiên cơ bất khả lậu, nhưng không ai
là không muốn biết trước vận mệnh của cuộc đời mình Phải chăng những băn khoăn này đã thôi thúc con người đi tìm ẩn số bằng cách xem tử vi, xem tướng, xem tuổi, xem ngày cưới hỏi, xem giờ động thổ làm nhà, xem giờ hạ huyệt v.v… Những việc làm này không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Đây là vấn đề tâm linh, xét cho cùng ranh giới giữa nó với mê tín di đoan gần nhau trong gang tấc Xưa đã thế mà nay cũng chẳng có gì khác hơn! Dù cho đây là thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học nhưng đây cũng chính là thời mà con người ta bàn về tâm linh, đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh nhiều nhất Và có chăng cái điều mà các nhà khoa học đang làm là tìm cách rút ngắn khoảng cách tâm linh với khoa học mà thôi Tâm linh là mảnh đất vô cùng phong phú và phức tạp như chính sự phức tạp và phong phú có trong cuộc đời của mỗi con người vậy! Chừng nào con người còn đau khổ chừng đó tâm linh vẫn còn giá trị thiêng liêng Cho nên, bỏ qua những gì gọi
là mê tín dị đoan, mụ mị thiết nghĩ đây là việc làm đáng quý, đáng trân trọng Bởi phàm sinh ra trong kiếp con người, bất luận như thế nào con người ta cũng ý thức được giá trị của bản thân, của
sự sống Tránh xa cái rủi ro đem lại điều may mắn cho người đang sống mà không xúc phạm người
đã khuất quả là một việc rất nên làm Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Niềm tin linh thiêng chi phối sâu sắc đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người
Lời thề cũng là một yếu tố thuộc về tâm linh Lời thề được thể hiện giữa con người với con
người trong cuộc sống hàng ngày Khi chứng minh một điều gì đó là đúng là chân xác, người Việt thường nói “thề có trời đất chứng giám…”, “tôi thề, tôi mà nói sai sự thật thì…” Hay cao xa hơn,
đó lời thề của công dân đối với đất nước Trong hoàn cảnh chống giặc ngoại xâm, lời tuyên thệ của các anh hùng vì tổ quốc quên thân trở nên thiêng liêng vô cùng… Và rõ nhất, dễ thấy nhất là trong tình yêu, đôi lứa yêu nhau thường hay thề nguyền Tin vào lời thề mà họ có thể chờ đợi nhau, hy
Trang 22sinh cho nhau Họ cũng rất sợ bị trừng phạt, quả báo nếu phản bội, phá vỡ lời thề Cho nên lời thề chính là khía cạnh tâm linh không thể không có ở mỗi con người
Tóm lại, tín ngưỡng dân gian người Việt vô cùng đa dạng, bao gồm tín ngưỡng thờ thánh thần, trời đất (thành hoàng làng, thần hộ mệnh cá nhân, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hoá…); tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin tướng số phép thuật…Các tín ngưỡng song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam Và điều này cũng rất dễ thấy trong sáng tác của
Nguyễn Du đặc biệt là Truyện Kiều và Văn chiêu hồn Trong ấy ta thấy cả một thế giới tâm linh ẩn
hiện, bàng bạc mang nhiều nét tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Đó là niềm tin thiêng liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (trời, phật, cầu cúng cầu hồn, báo mộng…), đó là tập tục khấn nguyện hay tướng số, tử vi… Cho dù sau này các tôn giáo khác từ bên ngoài du nhập vào như : Đạo Phật, Thiên Chúa… thì cũng không thể nào xóa bỏ được văn hóa bản địa này, mà rốt cuộc phải sống chung với nó, nếu muốn thu phục tín đồ…
1.2.2 Từ sự tiếp biến tư tưởng Nho – Phật – Đạo
Việt Nam nằm ở ngã tư đường thuộc khu vực Đông Nam Á, là nơi gặp gỡ giữa các nền văn minh và đã có lịch sử ngàn năm Bắc thuộc do đó không tránh khỏi bị Trung Quốc hóa Trên cái vốn sẵn có của dân tộc là nền tảng yêu nước, thương nòi, ta tiếp thu những yếu tố ngoại lai, biến đổi nó, đồng hóa nó để tự xây dựng và phát triển Biểu hiện cụ thể là việc tiếp nhận và biến đổi ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và hòa trộn chúng theo cách thức của người Việt
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng Đầu tiên,
Phật giáo Tiểu thừa được truyền trực tiếp từ Ấn Độ Khoảng đầu công nguyên và hạ bán thế kỉ thứ hai đã có một trung tâm văn hóa Phật giáo ở Luy Lâu Về sau Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc truyền vào nước ta với nhiều tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông
Phái Thiền tông đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Phật, là niết bàn, nên nó đòi hỏi người tu thiền phải mất nhiều công phu và có trí tuệ, giữ tâm tĩnh lặng, suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lí Do
đó, Thiền tông chủ yếu gắn với tầng lớp trí thức, thượng lưu
Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông gần gũi và phổ biến trong đời sống quần chúng nhân dân hơn Đi đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu: “Nam mô A - Di - Đà Phật” Tịnh độ tông ra đời
ví như con thuyền bát nhã nâng đỡ con người đến với niết bàn tịch tịnh Bởi quan niệm cho rằng, đời sống của người bình dân khốn khó, vất vả, suốt ngày bận lo việc cơm áo nên không thể tự mình tĩnh tâm thiền được và do đó sẽ khó lòng đạt được bản thể chân như
Riêng Mật tông, chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (linh phù, mật chú, ấn quyết…) mau chóng được giải thoát để đến niết bàn Do vậy khi vào nước ta, Mật tông hòa nhập vào dòng tín ngưỡng của cư dân Việt như dùng pháp thuật yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh…
Trang 23Đạo giáo gồm hai phái: phái thần tiên và phái phù thuỷ Phái thần tiên có hai cách tu: nội tu
và dưỡng sinh Dưỡng sinh thì người tu đạo dùng thuốc linh đan để được trường sinh Nội tu là cách con người chủ yếu dựa vào mình, tự mình rèn luyện khí công mà chứng ngộ Đạo Phái Tu tiên khá thịnh hành nhưng chủ yếu dành cho giai cấp thống trị Phái phù thủy lấy bùa chú, phương thuật, nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người
Cũng như Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ thứ II gắn liền với tích Cao Biền lùng tìm yểm huyệt, hy vọng cắt đứt long mạch hòng triệt tiêu nhân tài đất Việt Đạo giáo khi vào Việt Nam đã tìm thấy rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người Việt xưa như việc sùng bái ma thuật, phù phép, tin rằng có thể dùng bùa chú để chữa bệnh, trừ tà, làm tăng sức mạnh…vì vậy đạo giáo phù thủy rất dễ dàng len lõi vào cuộc sống của người bình dân còn phái tu tiên vì gắn liền với thoát tục nên chỉ thịnh hành với tầng lớp trên Các nhà Nho ở nước ta, do ảnh hưởng của phái tu tiên, nên có khuynh hướng ưa thanh tịnh, thích nhàn lạc Nhất là đối với những nhà nho sinh bất phùng thời, gặp chuyện bất bình nơi chốn quan trường nên thường cáo quan lui về ở ẩn, sống cuộc đời thanh bần, giản dị, làm bạn với thiên nhiên
Khác với Phật, Đạo, Nho giáo với thế mạnh “trị quốc bình thiên hạ” không đi sâu được vào
các tầng lớp lao động mà chỉ đến với tầng lớp trí thức trong xã hội Nhưng khi nhà nước giành lại được chủ quyền, các triều đại phong kiến Việt Nam, nhất là triều Lê, Nguyễn đã học tập rất nhiều cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa Giáo dục và khoa cử lúc đầu còn lấy nội dung của ba giáo Phật, Đạo, Nho, nhưng từ đời Hậu Lê trở đi chỉ dùng Nho học Nho học do đó lan rộng trong xã hội Từ thế kỉ XVI về sau, chế độ phong kiến suy thoái, Nho giáo sa sút trở thành một lực cản trong sự phát triển của xã hội
Người Việt Nam ta đã tiếp thu tích cực ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và biến đổi nó cho phù hợp với mục đích yêu cầu cuộc sống của dân tộc ta Từ đó mới nảy sinh chủ trương “tam giáo đồng nguyên” Đây là một sản phẩm văn hóa thông minh và sáng tạo, cho thấy khả năng điều hòa và dung hòa của dân tộc đối với các hệ tư tưởng du nhập từ bên ngoài để làm giàu bản sắc dân tộc mình
Về Đạo Nho, dân tộc ta đã tiếp thu quan niệm sống tích cực nhập thế, trung quân đi liền với
ái quốc, trung quân hiếu thân (nghĩa là tận tụy với đất nước làm thỏa chí nguyện của ông cha) Mặt khác, trung hiếu của Nho gia cũng bị chi phối bởi tư tưởng nhân đạo của dân tộc ta: Chữ “trung” trong nho giáo chỉ một chiều, còn chữ “trung” ở Việt Nam đòi hỏi mối quan hệ hai chiều đầy tình nghĩa Trong tuồng của người Việt có câu: “Quân đãi thần như thủ túc, thần sự quân như phụ mẫu Quân thị thần như thảo giác, thần thị quân như khấu thù” Nhân nghĩa của ta là phải gắn liền với yêu nước thương dân, vì dân mà trừ bạo ngược chứ không giản đơn chỉ quan hệ người và người:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Trang 24(Đại cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi)
Ngư rằng tôi chẳng lòng sờn Xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàng”
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Chữ “nghĩa” trong quan niệm của người Việt có nội dung gần như trùng khít với chữ “tình”:
“Đường dài ngựa chạy biệt tăm Người dưng có nghĩa trăm năm cũng chờ”
Bài ca dao dưới đây phần nào cho thấy khả năng đồng hóa Nho giáo mãnh liệt của truyền
thống văn hóa Việt Nam:
“Mình về em chẳng cho về
Em nắm vạt áo em đề câu thơ Câu thơ ba chữ rành rành Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba Chữ Trung thì để phần cha Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình”
Đối với Phật giáo, ta tiếp thu sự bình đẳng, lòng từ bi, bác ái Những điều này phù hợp với
tinh thần nhân ái dân chủ truyền thống của dân tộc
“Mái chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của Tổ tông”
Nó hiện thành ông bụt, bà tiên cứu giúp người hoạn nạn như các câu chuyện cổ tích Tấm
Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa lưu truyền mãi muôn đời… Đồng thời cũng loại bỏ chủ trương tu hành
khổ hạnh, diệt dục giáo điều mà nhập thế giúp đời như nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác thiền sư
Như vậy, Phật giáo là sự lựa chọn tối ưu của người Việt, bởi họ nhận thấy tư tưởng Phật giáo
không phải là một hệ thống lí thuyết phức tạp mà căn bản là dựa vào con người, lấy con người làm
trung tâm Trước Phật, tất cả chúng sanh đều bình đẳng như nhau, ai cũng có thể tìm đến Phật Tìm
đến với Phật là tìm đến ông bụt, Phật bà, Mẫu để được cảm thông, chia sẻ, được chở che, bảo vệ,
được phù hộ độ trì cho cuộc sống hằng ngày đầy khó khăn vất vả nhưng cũng rất hạnh phúc này
Cho nên người Việt chỉ tiếp nhân đạo Phật chủ yếu như một phương thức làm giàu cuộc sống tinh
thần, làm đẹp thêm mối quan hệ giữa người với người theo quan niệm “ở hiền gặp lành”, “tu nhân
tích đức” để đức cho con cháu mai sau hoặc lấy triết lí nhân quả “ác giả ác báo” để răn mình không
phạm điều sai quấy Sống tin tưởng vào lẽ phải ở đời, có lòng yêu tương cuộc sống làm điều thiện,
giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, sống vị tha nhân ái, hiếu thảo với bố mẹ ông bà…là niềm tin thiêng
liêng cao cả không khác gì niềm tin tôn giáo cao siêu
Trang 25Sống trong một xã hội luôn có những bất trắc rình rập, đe dọa, con người bất lực trước những mối hiểm họa không ngờ, khi đó Đạo giáo đến và giúp con người ta những biện pháp cầu khẩn, lễ bái, trừ ta ma để con người cảm thấy yên tâm rằng có thể khống chế mọi nguy hiểm Vì vậy người Việt rất tin thuật bói toán, phong thủy, tướng số Người Việt còn tiếp thu tinh thần thanh cao, trong sạch, an bần lạc đạo, tu dưỡng tinh tình khí tiết chứ không đề cao chủ trương xuất thế một cách tiêu cực Khi xã hội có nạn xâm lăng, các đạo sĩ, thiền sư, nho sĩ đều cầm giáo diệt giặc
Từ sự hội nhập ý thức ấy cho thấy, các mặt tích cực của ba hệ tư tưởng góp phần tỏa sáng hai mặt yêu nước, thương người trong bản lĩnh tư tưởng của dân tộc, phục vụ đắc lực cho đời sống dân tộc ta Đã đưa tới sự gặp gỡ với tín ngưỡng dân gian nhất là ở Phật và Đạo, rồi trở thành hành vi, lễ tục ở từng cộng đồng làng xóm Dân gian truyền tụng câu “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” Quả vậy! Bất kì ở làng nào cũng có đình thờ các vị thần có sắc vua phong, đền thờ các vị tiên thánh, các bậc có công đức lớn như Quan Thánh Đế quân, như Hưng Đạo Đại vương… Chùa không chỉ là không gian dành riêng cho việc thờ Phật mà còn là nơi thờ Mẫu, thánh hiền Đạo Nho, các tiên thánh Đạo Lão và cả các linh hồn người đã khuất Sự chung cùng ấy có từ xưa và tồn tại mãi đến ngày hôm nay trong đời sống dân gian Việt Nam Trong tâm thức người Việt, cảnh chùa đẹp, hội chùa vui, cửa chùa rộng mở và đó còn là nơi phong cảnh hữu tình để cho bao chàng trai cô gái tình tự như lời ca dao xưa “Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”
Người Việt nhận ra rằng, tam giáo thoạt đầu thì thấy khác nhau nhưng nhìn kĩ thì thấy nhiều khi chỉ là cách diễn đạt khác nhau về cùng một khái niệm Đàn ông dương tính thiên về Nho Phụ
nữ âm tính thiên về Phật Cùng một con người Việt Nam, khi trai trẻ thì học Nho để ra giúp nước; khi khổ ải trầm luân thì cầu trời khấn phật; khi ốm đau già yếu thì mời đạo sĩ chữa bệnh, trừ tà Ca dao Việt Nam có câu:
Dân tộc ta bốn nghìn năm lịch sử
Từ Đinh, Lý cho đến Trần, Lê Dân ta giữ đạo bồ đề Nữa tu chân chính, nữa tề quốc gia
Hay như bài thơ được lưu truyền trong nhân gian nói về việc vua Lý Nhân Tông ca ngợi bản lĩnh cao cường của thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền:
“Giác Hải tâm như hải Thông Huyền đạo diệc huyền Thần thông kiêm biến hóa Nhất Phật, nhất thần tiên”
Khi Nho giáo được coi là khuôn vàng thước ngọc trong việc xây dựng thể chế nhà nước thì Phật giáo và Đạo giáo vẫn có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống quần chúng nhân dân Có thể kể
Trang 26đến vua Lê Thánh Tông là một người tôn sùng đạo Nho, ấy thế mà ông vua này lại hay giao du với thần tiên Có truyền thuyết cho rằng vua Lê Thánh Tông đến thăm chùa Ngọc Hồ, gặp một nàng tiên đẹp tuyệt trần, vua cảm hứng đề tặng bài thơ trong đó có hai câu đến nay vẫn được lưu truyền
“Gió thông đưa kệ tan niềm tục Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời”
Có thể truyền thuyết này chỉ là hư cấu nhưng cảnh ông vua “Nho” đi lễ chùa “Phật” lại gặp nàng tiên “Đạo” quả thật đã phản sự thực hiện tượng Nho, Phật, Đạo sống chan hòa với nhau trong tâm thức người dân Việt
Đáng chú ý là, ở chùa Dâu và lễ hội chùa Dâu thì tập quán phong tục, tín ngưỡng lễ thức dân gian giữ vai trò chủ đạo Trong hội chùa Dâu, các lễ thức liên quan đến Phật giáo rất mờ nhạt Trái lại các lễ thức và các trò diễn xướng dân gian liên quan đến các nữ thần: Mẫu Man Nương, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi lại nổi bật lên hàng đầu
Tựu chung lại, ba học thuyết Phật, Đạo, Nho khi vào nước ta đã bị đồng hoá thành “tam giáo đồng nguyên” Quần chúng nhân dân vẫn giữ vai trò chủ đạo Họ tiếp nhận các giáo theo cách của mình, theo cảm xúc tâm hồn của mình về cuộc sống
Sống thoải mái trong thế giới tam giáo đồng nguyên ấy, người Việt tỏ ra không bị ràng buộc nhiều bởi một giáo nào Họ được tự do lựa chọn điều mình muốn, tin theo điều mình cần Tuy thế vẫn còn chút phân biệt, trong gia đình, đặc biệt là các gia đình nho sĩ, khuôn phép, nho giáo là yếu
tố ràng buộc; còn trong xã hội, niềm tin vào phật giáo, vào khả năng luân hồi chuyển kiếp thông qua con đường tu nhân tích đức thì đức tin giữ vai trò quan trọng Tin vào kiếp sau là một niềm tin lạc quan, cổ vũ cho cuộc sống hướng thiện và tích cực làm điều thiện Trong thực tế cuộc sống, chùa, đền, đình…là trung tâm văn hóa của làng xã Tại đây diễn ra các lễ hội dân gian mà trong đó các tín ngưỡng, các tôn giáo đan quyện vào nhau tạo nên phần hồn linh thiêng của lễ hội, là tác nhân đoàn kết cộng đồng Người Việt luôn tâm niệm “Phật tức tâm, phật tại tâm” và cũng định chuẩn: thứ nhất
tu nhà, thứ nhì tu chợ , thứ ba tu chùa Đối với người Việt Nam, đạo nào cũng đuợc coi trọng, miễn
là không đi ngược lại đạo đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mĩ tục của nhân dân, không phản lại lợi ích của cộng đồng, của đất nước
1.2 Truyện Kiều và Văn chiêu hồn
Trang 27Hình 1.2
Tượng đài thi hào Nguyễn Du
(1766-1820)
1.2.1 Quan niệm và cách nhìn của Nguyễn Du
Một sự thật hiển nhiên rằng tư tưởng của Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều là rất phức tạp và lắm khi mâu thuẫn nhau Nhưng tựu chung lại, nghiên cứu tác phẩm của ông, người ta cho rằng ở đó có sự chi phối mạnh mẽ của ba luồng tư tưởng Nho- Phật – Đạo Điều này không sai Song vấn đề đặt ra là, liệu chúng ta có thể qui tất cả mọi sự, việc xảy ra trong sáng tác của Nguyễn
Du nói chung, Truyện Kiều và Văn chiêu hồn nói riêng vào trong vòng cương tỏa của tam giáo? Khi
mà Nguyễn Du là người Việt, huyết mạch chảy trong người ông là dòng máu Tiên Rồng? Và khi mà các hệ tư tưởng tôn giáo du nhập vào nước ta đã có quá trình thích nghi và hỗn dung với tín ngưỡng dân gian, được dân gian hóa mặc nhiên trở thành chất truyền thống văn hóa đậm đà sắc Việt? Và nếu thế, hạt nhân thực sự làm chất mới, sắc màu mới cho truyện Kiều phải có cơ sở từ truyền thống văn hóa Việt Cho nên trước hết và trên hết, phải khẳng định rằng quan niệm và cách nhìn của người con xứ Nghệ chịu sự chi phối của tín ngưỡng dân gian- tín ngưỡng truyền thống của người Việt chứ không phải là những triết lí, những học thuyết cao siêu kia Thật vậy, yếu tố tâm linh gắn liền với tín ngưỡng truyền thống bàng bạc khắp sáng tác của ông không chỉ có trời, Phật, thần linh trong vũ trụ hay linh hồn người đã chết mà còn có không khí Lễ hội; không chỉ có mồ mã tha ma, nghĩa địa hay chiêm bao, mộng mị, bói toán mà còn có cả khấn vái, thề nguyền…Dù rằng trừ Văn chiêu hồn, nội
Trang 28dung chính của Truyện Kiều không nói đến vấn đề này, cũng không phải do sự sắp xếp định lượng trước mà dường như tất cả cứ chực tuôn trào tư trong sâu thẳm tiềm thức của thi nhân
1.2.2 Truyện Kiều
Cũng như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du là một trong những thiên tài sớm được hấp thụ tinh hoa từ văn học, văn hóa dân gian kết hợp với chất xúc tác của thời đại “lịch sử đầy biến động” đã làm thăng hoa, hiện hữu một tác phẩm mang dấu ấn văn hóa Việt sâu đậm “Truyện Kiều”
“Truyện Kiều” hay “Đoạn trường tân thanh” là do Nguyễn Du sáng tạo lại từ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân Tình tiết, cốt truyện, những biến cố, những địa danh đều được tác giả vay mượn từ Kim Vân Kiều truyện Nhưng một tác phẩm văn học khi ra đời, bao giờ cũng ảnh hưởng nền văn hóa nước đó Nguyễn Du là người Việt, nên văn hóa Việt thấm sâu vào máu thịt của ông Do đó, dù Truyện Kiều có đề cập đến địa danh, tình tiết của Trung Quốc thì cũng không ảnh hưởng gì đến giá trị tác phẩm Cuộc sống, cách sống và thái độ sống của các nhân vật trong Truyện Kiều là của người Việt Nam
Thật thế! Nếu Truyện Kiều chỉ giản đơn là câu chuyện về cuộc đời khổ nhục, bị đày đọa của một người con gái như trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân thì chắc chắn rằng Truyện Kiều không thể có sức sống mãnh liệt, hay có vị trí sâu sắc trong lòng quần chúng nhân dân đến thế Truyện Kiều là cả một bức tranh xã hội rộng lớn về cuộc sống dưới thời phong kiến thối nát Mà
Nguyễn Du đã nói lên được nỗi day dứt đến đau đớn, khi nhìn thấy quyền sống của con người trong cảnh dâu bể, trong những đổi thay trớ trêu khôn lường của cuộc đời, trong sự áp bức bạo tàn của chế
độ phong kiến Trong cơn dâu bể, thân phận của con người thật mỏng manh, bị quăng quật, bị vùi dập, bị dày xéo đến xác xơ mà ở đó đâu chỉ có thế lực hữu hình, đồng tiền, nhà chứa mà còn có cả thế lực vô hình, đủ mọi tầng lớp hùa vào nhau để hành hạ con người, nhất là đối với người tài sắc Đọc Truyện Kiều, hẳn không ai không xót xa trước cảnh ngộ của Thúy Kiều, cuộc đời của nàng là một tấm gương oan khổ, một câu chuyện thê thảm về vận mệnh con người trong xã hội cũ Đó là lí
do giải thích vì sao đến một người Việt, dù không biết chữ cũng thuộc dăm ba câu Kiều Người bình
dân thích Kiều không chỉ vì Truyện Kiều dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc mà sâu hơn vì ít nhiều đã bắt gặp
mình trong đó Bắt gặp mình trong những lời buồn thương, trong những câu oán thán, trong thân thế trầm luân của Thúy Kiều, trong niềm tin tín ngưỡng về lực lượng siêu nhiên, linh hồn người đã khuất… Những tình, những cảnh trong đời Kiều cũng là những tình, những cảnh trong đời họ Nói
rộng ra, người bình dân thấy cuộc sống diễn ra muôn hình vạn trạng trong Truyện Kiều cũng như
trong thực tế Với tình thương vô bờ bến, Nguyễn Du đã phẫn nộ trước những thế lực chà đạp con người, hủy hoại tài năng, là sự đồng cảm vượt không gian thời gian bênh vực con người tài sắc trong xã hội mục ruỗng thối nát Cái xã hội ấy không dung nổi hồng nhan và “hồng nhan bạc mệnh” đâu phải là một thành kiến để thở than, bốn chữ này là bản tổng kết kinh nghiệm của sự đời ngàn
Trang 29năm dưới chế độ phong kiến Do đó, như có một sợi dây vô hình ràng buộc những con người đồng hội đồng thuyền “nhất phiến tài tình thiên cổ lụy” lại với nhau, cảm thông nỗi niềm của nhau
Truyện Kiều là cả một thế giới Người ta bói Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều…
Từ những cách nhìn nhận đánh giá trên cho thấy, Truyện Kiều của Nguyễn Du dường như đã
ăn sâu vào trong từng nếp nghĩ của mọi người dân Việt Nam và có một ý nghĩa khá quan trọng trong đời sống tâm linh của họ Vì vậy, theo chúng tôi, một trong những yếu tố làm nên sức sống
của Truyện Kiều do bởi tác phẩm đã mang trong mình những nét đặc sắc của truyền thống văn hóa
Việt, đặc biệt là văn hóa tâm linh (văn hóa tín ngưỡng)
1.2.3 Văn chiêu hồn
Văn tế là hình thức khá quen thuộc trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc Nó thể hiện tâm trạng tiếc thương của người sống đối với người đã chết Đó là nỗi đau xót trước sự mất mát, tan vỡ của mỗi con người, là nhu cầu thể hiện lòng mình và cũng là để gieo vào lòng người một sự cảm hoài và sâu lắng
Trong giai đoạn thế kỉ XVIII này văn tế xuất hiện rất nhiều: Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái, văn tế Quang Trung của Lê Ngọc Hân… Song có
lẽ văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một tác phẩm có một không hai trong nền văn học chúng ta Bởi với Chiêu hồn, cả loài người được bàn đến Chiêu hồn từng con người trong cái chết, từng giới, từng loài với những nét riêng khác nhau Nói như Chế Lan Viên: “Nghĩ mà xem, trước
“Chiêu hồn” chưa hề có bài văn nào đem cái “run rẩy mới” ấy vào văn học Sau “Chiêu hồn”, lại càng không “Truyện Kiều” nâng cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã mở rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai động tới: cõi chết”[11,tr245]
Với 184 câu thơ, Văn chiêu hồn đem lại sức sống mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân Mở
đầu là cái nhìn bi thiết về cuộc đời, tiếp đó là hàng loạt cô hồn hiện ra, mỗi loài mỗi khác nhưng đều thở than dưới đất ăn nằm trên sương, cuối cùng là tác giả đã nguyện cầu phép Phật tế độ các oan
hồn sớm được siêu thoát Thử lùi xa hơn, ta không quên, văn học Việt Nam từng có một Thập giới
cô hồn quốc ngữ văn của vua Lê Thánh Tông Vị vua giàu đức nhân này nghĩ về những kiếp người,
vì mệnh bạc phải ra cô hồn vất vưởng Nhưng tác phẩm của ông, với lối văn biền ngẫu, qua bài kệ luật Đường, đã không len lỏi được, lan rộng tới quảng đại quần chúng Lại nữa, tác phẩm ấy còn mang lời lẽ, khẩu khí của một ông vua, ngồi từ ngôi cao, mà khuyên răn bá tánh, thành ra khó chan
hòa cùng nước mắt sùi sụt của lê dân Trong khi đó, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du lại tuôn chảy
theo thể thơ song thất lục bát, thiết tha trầm bổng Tác phẩm này mới thật sự là tiếng khóc (tế) Nguyễn Du viết về mười sáu loại người bất hạnh, trong tư cách một số phận đã, đang, rồi cũng phải
chìm trong bể khổ Viết Văn chiêu hồn, Nguyễn Du viết cho người mà thành ra như viết cho mình
Gan ruột và nước mắt giãi bày cả ra, chính vì lẽ đó
Trang 30* *
* Văn hóa tâm linh, văn hóa tinh thần có một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của văn hóa Việt Nam Hiện diện ở khắp mọi nơi, mọi ngóc ngách của đời sống xã hội nhưng trên hết tâm linh vẫn là của con người, ở niềm tin thiêng liêng của con người vào cuộc sống, vào tín ngưỡng, tôn giáo Văn học là một biểu hiện của văn hóa, là sản phẩm của văn hóa, là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của dân tộc Do đó, việc tìm hiểu và phản ánh văn hóa thông qua tác phẩm văn học là rất cần thiết Nó vừa thể hiện hiện tư tưởng, cách nhìn, quan niệm của tác giả khi sáng tác tác phẩm, đồng thời khẳng định sức sống, sức ảnh hưởng của tác phẩm trong trái tim người dân Việt cũng như khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam, văn học Việt Nam với bạn bè thế giới Dựa vào những vấn đề chung về văn hóa tâm linh, chúng tôi đi vào thống kê, phân loại và đánh giá các biểu
hiện của tâm linh trong tác phẩm Truyện Kiều, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du
Trang 31Chương 2:
YẾU TỐ TÂM LINH TRONG “TRUYỆN KIỀU” VÀ
“VĂN CHIÊU HỒN” CỦA NGUYỄN DU
Mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc, của đất nước mà nơi đó tác phẩm được sinh ra Quả vậy, Nguyễn Du là người Việt, được nuôi dưỡng từ nền văn hóa Việt nên dù ông có viết nhiều, viết rất hay về con người và văn hóa Trung Quốc thì cơ sở nền tảng cho những trang viết ấy vẫn là tín ngưỡng truyền thống văn hóa Việt chứ không phải là văn hóa Trung Hoa xa vời Tất nhiên truyền thống văn hóa của hai nước có nhiều điểm trùng nhau
nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt Một trong những điểm khác biệt có thể kể đến là thế giới tâm linh Thế giới này hiện lên rõ rệt trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, ở đó không chỉ có không khí
lễ hội mà còn có thế giới của trời, phật, thần thánh, của những hồn ma, nghĩa địa, không chỉ có chiêm bao (mộng mị) mà còn có bói toán, thề nguyền Mà tất cả những điều này hầu hết đều tồn tại thường xuyên trong đời sống người dân Việt Nam
2.1 Lễ hội
2.1.1 Tiết thanh minh và hội đạp thanh
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.”
* Lễ tảo mộ Căn cứ theo lịch cổ truyền của Trung Quốc, tiết thanh minh là một trong hai
bốn tiết trong năm, thường ứng với các ngày mồng bốn, mồng năm và mồng sáu tháng tư dương lịch tức là vào khoảng tháng ba âm lịch
Ở nước ta, phong tục cổ truyền đan xen với lễ thức Trung Quốc nên tiết thanh minh thực sự
đã trở thành nét đẹp của truyền thống văn hóa Việt Vì tảo mộ (viếng mộ) là hành vi tôn kính thiêng
liêng gắn tập tục gắn liền với tục thờ cúng tổ tiên
Thế nào là thờ cúng? Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tình cảm biết ơn, tưởng nhớ,
hướng về cội nguồn, quá khứ Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên cho con cháu
Cúng là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hành một loạt động tác (khấn, vái, quì, lạy) và được qui
định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc Thờ và cúng là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh thể Sự “thờ”, “tôn thờ” là nội dung, còn hoạt động “cúng” là hình thức biểu đạt của nội dung thờ cúng Qua thời gian, phong tục này vẫn có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh người dân Việt Tục thờ cúng tổ tiên cha mẹ là một mĩ tục lâu đời Nó có cái nền nội sinh ngay trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước và ý thức tổ tông, quan niệm “sống gửi thác về”
Trang 32Nước ta có truyền thống đi viếng mộ vào tiết thanh minh Đây là dịp tiết trời tháng ba trong xanh, quang đãng, mát mẻ mọi người ra đồng, ra nghĩa trang thăm viếng mộ phần của gia đình mình, quét dọn sửa sang ngôi mộ cho sạch sẽ Bởi vào dịp này khí hậu chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt tươi trùm kín lăng mộ, có thể làm cho mộ sạt lở, do vậy người đi viếng mộ cần phải phát quang và đắp thêm đất vào mộ Sau đó người ta thường sắm một lễ mặn nhỏ gồm: hương, đèn (nến) trầu cau, tiền vàng, rượu, thịt, hoa, quả rồi thắp hương khấn vái, đốt vàng bạc cho ông bà
tổ tiên, người thân quá cố
Tùy vào đặc điểm của từng vùng miền mà người dân Việt đi tảo mộ vào những dịp khác nhau: Chẳng hạn vùng Thanh - Nghệ Tĩnh thường tảo mộ vào tháng giêng, dân tộc Tày tảo mộ vào mồng ba tháng ba âm lịch, còn dân tộc Dao lại đi tảo mộ vào mồng năm tháng năm âm lịch hằng năm… Cũng có nơi đi thăm viếng sửa sang lại mồ mả tổ tiên vào tháng chạp mà dân gian thường
nói đi chạp mả là vậy
Hình 2.1
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
Khi đi tảo mộ, có một thực tế diễn ra là tất cả những nấm mộ có chủ đều được sửa sang, thường xuyên được hương khói, lẽ tất nhiên vong hồn người quá cố luôn luôn được ấm áp, gần gũi với dương gian… Còn những ngôi mộ vô chủ hương khói lạnh tàn, cỏ hoang mọc rậm, nấm thấp dần và có thể mất đi… có lẽ những người nằm dưới mộ rất buồn tủi, cô đơn… Trên tinh thần nhân
ái, đoàn kết, người dân Việt mỗi khi đi viếng mộ, nếu phát hiện mộ hoang, cũng động lòng từ tâm cắm một nén hương cầu mong linh hồn người nằm trong mộ đỡ bị lạnh lẽo, bơ vơ…
Trang 33Sau buổi tảo mộ, con người ra về với một trạng thái bâng khuâng thơ thẩn Lúc này Kiều phát hiện ra nấm mồ hoang, nói đúng hơn là “nấm đất” “sè sè” bên đường, rồi nàng thảng thốt kêu lên:
“Rằng nay: trong tiết Thanh minh
Mà sao hương khói vắng tanh thế này?”
Phát hiện ra một ngôi mộ hoang, chứng tỏ Kiều là một cô gái rất tinh, có tài quan sát Không như Vương Quan và Thúy Vân, khi Kiều thấy một nấm mồ vô chủ lạnh lẽo, bơ vơ nàng đã động lòng thương cảm Biết được người dưới mộ “nổi danh một thời” tên là Đạm Tiên ra đi trong sự quên lãng của người đời, càng khiến nàng xót xa:
“Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương
Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho.”
Phải chăng Kiều hay chính Nguyễn Du đang vấn vương, chia sẻ niềm cảm thông đối với người bạc mệnh?
Thanh Tâm Tài Nhân cũng viết tình tiết này như sau: Khi đến trước mộ Đạm Tiên, Thúy Kiều bùi ngùi than thở “Chị Đạm Tiên! Lúc chị sống, phồn hoa biết chừng nào mà nay thác rồi lại hiu quạnh đến thế! Lúc này em được gần bạn sắc tài, đáng lẽ phải dâng chị một chén rượu, song vì không sẵn rượu đem theo, vậy em xin đề một bài thơ, gọi là tỏ chút tình thương xót Hồn chị dưới suối vàng có biết, âu cũng không phụ một chút nhiệt tình của em”[75, Tr.35] Qua tình tiết này, ta
dễ dàng nhận thấy Kiều của Nguyễn Du cũng như Kiều của Thanh Tâm tài nhân đều có điểm giống nhau đấy là tình cảm, là thái độ trân trọng của người còn sống đối với người đã mất Có thể xem đây
là một trong những điểm tương đồng văn hóa giữa hai nước Trung –Việt Nhưng cũng phải thừa nhận, chính sự cộng hưởng các yếu tố nội sinh và ngoại nhập, người Việt đã phát huy những đặc trưng của văn hóa mình: sống và đối xử với nhau rất tình cảm, nhất là đối với người đã mất Dù cho khi còn sống họ là người thân hay sơ, độc ác hay hiền lành, đã gây nhiều tội lỗi hay gieo nhân tích đức thì lúc chết, họ vẫn được người còn sống tôn kính…
Người dân Việt quan niệm Lễ trước Hội sau Đến với lễ, con người dường như tuân theo các
lễ tục thiêng liêng, làm tròn bổn phận trách nhiệm của mình một cách tự nguyện, thấm đẫm tình yêu thương… và hơn hết là làm sống dậy mối giao cảm thiêng liêng với thế giới vô hình Đó là một trong những nét đẹp của truyền thống văn hóa nước ta
*Hội đạp thanh Hội là cuộc chơi, là sự giao tiếp giữa con người với con người trong thế
giới hiện thực Cũng như các hội khác, hội đạp thanh, mọi người cũng nô nức đi hội
Gần xa nô nức yến anh,
Trang 34Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân, Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Lễ hội tuy đan xen xoắn xuýt nhau nhưng vẫn là hai hình thức sinh hoạt văn hóa khác biệt,
Lễ tảo mộ, tiết thanh minh hay ở các dịp lễ tết khác, con người thực tại luôn ngưỡng vọng hướng về quá khứ tưởng niệm, tri công tri ơn các bậc tiên tiền phụ mẫu, những người quá cố Hội đạp thanh (dẫm lên cỏ mới), là dịp để con người hiện tại thể hiện những khát khao và hoài vọng trước cuộc đời
Hội cuốn hút tất cả mọi người Khi có hội, mọi người nô nức tìm đến, từng dòng người, ngựa
xe, những trang phục đẹp lộng lẫy, đông đúc, chen chúc Trong không khí ấm áp, trong trẻo của mùa xuân, người đến chơi hội được tắm mình trong những hoạt động nhộn nhịp, náo nhiệt, tươi vui Đây còn là dịp nam thanh nữ tú, tài tử giai nhân trò chuyện kết bạn với nhau Và trong hội đạp thanh đó, Thúy Kiều gặp một văn nhân tài tử - Kim Trọng:
“Nền phú hậu bậc tài danh, Văn chương nết đất thông minh tính trời
Phong tư tài mạo tót vời
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”
Trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, tác giả giới thiệu Kim Trọng trước rồi
mới đến chi tiết Kiều gặp mộ Đạm Tiên Chàng là một người có tướng mạo giống Phan An, văn tài như Tử Kiến từng hâm mộ tài năng và dung nhan của Thúy Kiều, mong đợi có dịp được gặp giai nhân Thanh Tâm cũng gợi cho người đọc biết được suy nghĩ của chàng Kim khi đối diện với hai
kiều: “nếu mình không lấy được hai nàng làm vợ thì sẽ suốt đời chăng lấy ai” vô hình chung tác giả
đã làm giảm đi chất phong nhã hào hoa của Kim Trọng Ở Truyện Kiều có khác, Nguyễn Du sắp xếp cho Kiều tiếp xúc với mả Đạm Tiên rồi mới đến gặp Kim Trọng Cái buổi gặp gỡ ấy rất tình cờ
Vì tình cờ nên mới luyến lưu, mới xao xuyến Buổi hội ngộ tình cờ mà đẹp đẽ, nên thơ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng nhân tiết thanh minh như thế đã mở đầu cho mối tình đẹp nhất trong lịch sử văn học Việt Nam
Người quốc sắc kẻ thiên tài, Tình trong như đã mặt ngoài còn e
Những chàng trai cô gái gặp gỡ nhau qua tục chơi xuân khá thú vị: tục đố lá
“Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa”
Tục chơi đố lá tuy có từ đời nhà Đường, vào khỏang thế kỉ III, nhưng trên cơ sơ tiếp biến văn hóa, tập tục đố lá trở thành một trò chơi dân gian, tìn ngưỡng của người Việt Theo đó, khi du xuân,
Trang 35các chàng trai cô gái tiện tay bẻ một cành cây, rồi đố nhau xem số lá chẳn hay lẻ mà đoán việc may rủi Đây là dịp tốt để họ làm quen với nhau, tìm hiểu nhau
Như vậy, chỉ bằng một vài nét chấm phá, bậc thầy ngôn ngữ Nguyễn Du đã khắc họa một cách thực sinh động sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống của nước ta Dân gian Việt Nam cũng thường nhắc đến hội chùa Thầy là nơi chở che cho bao đôi trai gái tự tình “Trai chưa vợ đến hội chùa Thầy”, đến những danh lam thắng cảnh như động Hương Tích, hang Cắc Cớ… cũng là nơi đã chứng kiến biết bao mối tình rung động bởi “cái buổi ban đầu lưu luyến ấy” (Thế Lữ)
2.1.2 Ngày rằm tháng bảy (Tết trung nguyên)
Từ xa xưa, các lễ tục trong gia đình cũng như của cộng đồng người dân Việt chủ yếu được thực hiện theo lời giáo huấn truyền miệng từ thế hệ trước đến thế hệ sau Song các lễ tục không vì thế mà mai một mà ngày càng được áp dụng rộng rãi có qui cách hơn Tạm gác lại mặt tiêu cực, hầu hết các nghi lễ, hội hè đã có những đóng góp tích cực cho việc xây dựng đạo đức xã hội Làm cho con người ta biết sống tốt hơn, biết nhớ ơn nguồn cội và biết sống vì nhau hơn
Rằm tháng bảy là một trong những ngày lễ được dân ta chú trọng Theo quan niệm của đại
đa số người Việt, nhất là người bình dân, người ta thường quan niệm:
“Cả năm được một rằm tháng bảy
Cả thảy được một rằm tháng giêng”
Hay truyền tụng:
“Tháng giêng ăn tết ở nhà Tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà
Tháng sáu buôn nhãn bán tràm Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân ”
Đối với người dân Việt, rằm tháng giêng và rằm tháng bảy có ý nghĩa tâm linh thiêng liêng Tháng giêng là tháng đầu tiên của năm, ngày rằm tháng giêng là ngày trăng tròn đầu tiên của một năm mới được gọi là tết Thượng Nguyên (tết nguyên tiêu) Vào ngày này, người dân thường hay đi chùa lễ Phật để cầu mong cho sự bình yên quanh năm Bên cạnh đó, người ta còn tùy thuộc vào điều kiện cá nhân mà sắm sanh những lễ vật như nhang, đèn (nến), muối, gạo làm thành lễ nhỏ để dâng hương Trời, Phật, Thần thánh cúng sao giải hạn Vì vậy, rằm tháng Giêng được dân ta coi trọng
nhất: “Lạy Phật cả năm không bằng một rằm tháng Giêng” Tiếp đến, dân ta đề cao ngày rằm tháng
Bảy, hay còn gọi là tết Trung Nguyên, cũng gọi đó là ngày xá tội vong nhân Theo giáo sư Hoàng
Xuân Hãn “ngày rằm tháng Bảy trong lịch ta xưa là tiết Trung Nguyên của Đạo giáo, mà cũng là ngày lễ Vu Lan của Phật tử Ảnh hưởng giao kết của hai tôn giáo ắt đã đưa đến tục lệ cúng các cô hồn vào ngày ấy” [11,Tr.759] Cũng theo tác giả, ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân còn được
dựa trên hai tích của Phật giáo là sự tích Mục Kiền Liên cứu mẹ và sự tích quỉ đói Diệm Khâu
Trang 36Tương truyền, ngày lễ Vu lan - ngày xá tội vong nhân, là truyền thống của Phật giáo gắn liền với sự tích Mục Kiền Liên cứu mẹ đang ngày đêm chịu kiếp đọa đày dưới mười tám tầng địa ngục Được tổ chức vào đêm mười lăm tháng bảy âm lịch mỗi năm Theo kinh Vu Lan, khi mới đắc ngũ thông, Mục Kiền Liên đã dùng huệ nhãn quan sát, thấy mẹ ngài là bà Trần Thanh Đề bị tái sinh làm ngạ quỷ (quỷ đói) nên ngài muốn đến cứu mẹ Dù đã đắc quả A La Hán thế nhưng ngài vẫn không thể tự bản thân mình cứu mẹ được, Mục Kiền Liên bày tỏ với Đức Phật Cảm động trước lòng hiếu thảo của Mục Liên đối với bậc sanh thành, Đức Phật dạy cho Mục Liên hãy phối hợp sự nỗ lực của tất cả chư tăng trong ngày an cư kiết hạ vào rằm tháng bảy cùng làm lễ mới có thể cứu giúp cho mẹ ngài thoát khỏi vòng ngạ quỷ- nơi bà Thanh Đề, mẹ của Mục Liên đang ngày đêm chịu cảnh đói khát do hành động tham lam độc ác trong kiếp trước
Khi Phật giáo truyền vào nước ta sớm bị đồng hóa với tín ngưỡng dân gian nên có thể nói ngày Lễ Vu Lan là một ngày lễ truyền thống của người dân Việt, mang dấu ấn Việt
Ngày rằm tháng bảy là dịp người ta báo hiếu phụ mẫu, cầu nguyện cho ông bà cha mẹ cửu huyền thất tổ được siêu sanh tịnh độ và cha mẹ hiện tiền được khỏe mạnh sống lâu Là dịp để con cái tỏ lòng hiếu kính Với trọng tâm này, Lễ Vu Lan càng đánh động vào tập tục thờ cúng tổ tiên và truyền thống hiếu đạo của người Á Đông khiến lễ Vu Lan trở nên một lễ hội ngày càng phát triển
Nói đến rằm tháng bảy- ngày lễ Vu lan tự tứ, người ta còn gọi đó là ngày cúng cô hồn Tuy nhiên có sự khác biệt giữa lễ cúng cô hồn với lễ Vu Lan Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng Theo điển tích Phật giáo, sự tích cúng cô hồn đại khái có liên quan đến câu chuyện giữa ngài A Nan Ðà (thường gọi tắt là A Nan) với một con quỷ miệng lửa (Diệm Khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (Diệm Nhiên) Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên” A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng Diệm Khẩu “thả quỷ miệng lửa”, tức là cúng để bố thí
và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, dân gian gọi là cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái, hiểu rộng
ra là “tha tội cho tất cả những người chết”
Dù không biết rõ các tích bác học kia nhưng người bình dân Việt Nam vẫn biết đến ngày rằm
tháng Bảy là ngày cúng các cô hồn, ngày xá tội vong nhân, ngày mà người sống cầu nguyện cho
Trang 37những vong hồn được no đủ, được siêu sanh tịnh độ, ngày của lòng thương yêu- một truyền thống đẹp của dân tộc Việt Nam Cứ đến rằm tháng bảy, người dân cúng lễ khắp nơi, từ tư gia đến các nơi công cộng như chợ búa, bến xe, bến tàu tập trung nhất vẫn là tại các chùa, chư tăng ni làm lễ thí thực, tụng kinh cầu nguyện và bố thí cháo bánh đốt vàng mã cho người chết Nghi thức này, không biết tự khi nào đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt, và trở thành ngày lễ không thể thiếu được đối với người dân Việt Nam
Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh) mục đích mời các cô hồn đến
dự lễ cầu siêu, không cần biết họ là ai, là kẻ thế nào, chỉ biết đó là hồn oan của những người đã mất,
là các hồn không nơi nương tựa, đói ăn, đói mặc mà hơn hết là đói sự quan tâm của người sống, của tiếng kinh cầu nguyện Cho nên, rằm tháng bảy- lập đàn chẩn tế là dịp người chết dù có tội, cũng được xá tội, được siêu thoát Nguyễn Du, với tấm lòng thành đã lập đàn cầu chư phật, thánh thần cứu độ chúng sanh Tục này đến nay vẫn còn, không chỉ cúng ở chùa mà ở nhà, người Việt cũng thường làm chiếc thuyền nan, phất giấy màu, cắm cờ, bày hình nhân cúng ở ngã ba đường hay thả
nổi trên sông…
Nói tóm lại, với người Việt Nam, ngày rằm tháng bảy, ngày thanh minh, ngày hội đạp thanh, tục chơi đố lá, tục cúng cô hồn cũng như các lễ tết, lễ tục khác đã thực sự là những tín ngưỡng mang
giá trị tinh thần rất lớn Giá trị đó ẩn sâu trong đời sống tâm linh của mỗi người, trong gia đình và cả cộng đồng mà ta có thể gọi chung là nét đẹp của văn hoá tâm linh Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu văn - sử, thì Thập giới Cô hồn Quốc văn của Lê Thánh Tông và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đều được lấy cảm hứng ở đoạn văn thỉnh thập loại cô hồn trong
Khoa Nghi Du Già của Phật giáo Có phải Nguyễn Du làm bài văn tế này theo đơn đặt hàng của nhà Phật hay không, hay vì một nguyên nhân nào khác, nếu có dịp chúng tôi sẽ bàn đến Ở luận văn này,
khảo sát văn bản Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, chúng tôi nhận thấy: Nguyễn Du đã khắc họa sống
động hình ảnh truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa và một phong tục giàu tính nhân văn của người Việt Nam Đây còn là bài học đầu tiên về mối quan hệ giữa Trời - Người - Đất, để con người tìm cách sống hoà nhập với thiên nhiên theo nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất của triết học Phương Đông
2.2 Lực lượng siêu nhiên: Trời – Phật – Thần thánh
Trong cảm thức của người Việt, con người không chỉ sống trong “miền nhân gian”, trong
“cõi người ta” mà còn sống trong thế giới tâm linh, thế giới của những lực lực siêu nhiên như Trời, Phật, Thần thánh
2.2.1 Trời
Trong cuộc sống đời thường, lắm khi chúng ta bắt gặp những cảnh tượng: khi ai đó gặp điều
gì bất trắc hay bực mình “trời ơi”, “trời ạ…”; khi sầu khổ bế tắc “khổ rứa trời”; lúc ốm đau bệnh tật
Trang 38“cầu trời khấn phật”; lúc thề thốt “xin trời đất chứng giám”; nhìn kẻ ác bị trừng phạt “trời có mắt”; Việc đại sự không thành “tại trời”; nói về đường con cái thì là “trời cho” v.v trời được sử dụng tùy lúc tùy thời, khi thì đáng ghét, khi thì thân mật dễ thương; lúc được tôn vinh, ngưỡng mộ lúc lại oán thán, muốn đánh chết trời…Từ đó cho thấy, ông trời mang một ý nghĩa nhất định nào đó trong tâm thức của con người Dẫu rằng các biến cố sự kiện đích thực là do con người tạo ra, song chúng lại mang sắc thái bất ngờ, đột ngột tạo ra những buớc ngoặt, làm thay đổi ít nhiều cuộc sống thực của mỗi người Khiến cho con người ta không thể không tin vào trời hay lực lượng vô hình nào đó chi phối, sắp đặt cuộc sống con người Trong dân gian, người ta còn gọi thiên (trời) bằng nhiều từ ngữ
khác nhau: ông trời, bà trời, trời xanh, trời già, tính trời, duyên trời, hóa công, hóa nhi, ông xanh, con tạo…
Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam, triết lí trời đất sinh ra muôn loài và tư tưởng về số mệnh của Nho giáo cũng không thể nào làm mất đi nhiều quan niệm và tín ngưỡng bản địa, ngược lại mệnh trời của Nho giáo nhanh chóng được hòa tan thành số trời phù hợp với đời sống tinh thần đông đảo người Việt xưa
Trời chi phối mọi mặt trong đời sống trần thế
Như trên đã nói, trong quan niệm của người Việt xưa, họ đều tin rằng, từ hành động bên ngoài đến suy nghĩ bên trong tâm tưởng của con người đều có sự can thiệp của trời
Xuất phát từ sự gắn bó mật thiết của con người nông nghiệp với thiên nhiên, người xưa cho rằng ông trời đã sinh ra tất cả muôn loài “trời sinh voi trời cũng sinh cỏ” Vì vậy, trong các lực lượng siêu nhiên, Trời được xem là đấng tối cao có quyền năng vô hạn, hơn hẳn các bậc siêu nhiên khác Dân gian vẫn truyền tụng câu nói: “Mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên”, nghĩa là muốn nhấn mạnh “muôn sự tại trời”
Xem xét cấu trúc Truyện Kiều, ngay từ khúc dạo đầu cho đến lúc kết thúc tác phẩm, Nguyễn
“Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
Trang 39Tại sao Nguyễn Du cho rằng có sự tồn tại của qui luật bỉ sắc tư phong? Có sự chi phối của Trời?
Mười lăm năm của một đời người có thể chưa dài, nhưng mười lăm năm đối với cuộc đời người con gái, của tuổi trẻ như Kiều lại là một thời gian đằng đẳng, một đi không trở lại Chỉ nói riêng về mặt thời gian thì mười lăm năm trôi qua, Kiều không thể nào quay về với cái thời vui tươi,
êm đềm của cái tuổi “xuân xanh” Xót xa hơn nữa là trong mười lăm năm ấy, Kiều phải đối mặt với
bể thảm, mưa sầu, phải lặn ngụp trong lưu lạc, phải chịu cảnh sống đọa thác đày, nhị rữa hoa tàn,
“thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” Tình cảnh đó của cô gái vừa bén hương đời như Thúy Kiều là
do ai? Liệu có phải tự bản thân nàng gây nên hay do tác nhân từ bên ngoài chi phối, quyết định? Xét trong 3254 câu lục bát, không có dòng nào Nguyễn Du nói về quá khứ, tiền kiếp của nàng như thế nào, có chăng là khi Thúy Kiều lâm vào bước đường cùng không lối thoát, nàng mới viện dẫn
nguyên do kiếp xưa đã…vụng đường tu Và như thế khép lại Truyện Kiều, hẳn ai cũng phải thừa
nhận sự chi phối, áp bức, chà đạp cuộc đời Kiều là cả một thế lực hữu hình cụ thể trong xã hội phong kiến: quan lại thống trị, nhà chứa, đồng tiền Song theo Trần Bích Lan, Trần Nho Thìn, Lê Thu Yến… thì đày đọa Kiều còn một thế lực vô hình cũng không kém phần ghê rợn đang đè nén, thống trị, giày xéo, bóp nghẹt ước mơ và hạnh phúc của nàng Thế lức đó là gì nếu không phải là định kiến xã hội, những trói buộc về mặt tinh thần mà con người không sao vượt thoát được!
Nhìn lại cuộc đời của Vương Thúy Kiều: từ khi chào đời, Thúy Kiều đã mang trong mình thiên bẩm: thông minh, xinh đẹp, nhưng cũng mang mầm mống “nghìn thu bạc mệnh” Khi trưởng thành, yêu nhau rồi kết hôn là chuyện tất yếu của đời người Trong xã hội phong kiến, có thể việc hôn nhân đại sự là do cha mẹ quyết định, nhưng đối với người đương đại, kết hôn là chuyện tự nguyện, tự do Vậy mà, chuyện duyên tình và cuộc đời của Thúy Kiều có vẻ khác:
Từ việc Kim – Kiều gặp nhau rồi hẹn ước “ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây”, tiếp đó là tai
họa dáng xuống gia đình Kiều khiến Kiều phải bán mình chuộc cha và em:
“Trời làm chi cực bấy trời
Này ai vu thác cho người hợp tan”
Từ khi Kiều rơi vào Mã Giám Sinh, một tay buôn thịt bán người, trở thành gái làng chơi, thoát ra lần thứ nhất lại bị hãm hại trở lại nhà chứa “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” cũng là tại trời Tưởng đến với Từ Hải nên duyên chồng vợ, ân đền oán trả, khuyên Từ trở về triều đình với mong ước rất giản dị gia đình hạnh phúc nhưng hóa ra lại mang tiếng giết chồng Tủi nhục ê chề Kiều tìm đến sông Tiền Đường tự trầm mình:
“Thôi thì một thác cho rồi
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông”
Phải chăng tất cả đều do trời, tại trời, số trời đã ban cho Kiều?
Trang 40Cũng như Nguyễn Gia Thiều cho rằng, trời tranh đoạt hết thảy quyền họa phúc của con người:
Quyền họa phúc trời tranh mất cả, Chút tiện nghi cũng chả phần ai (Nguyễn Gia Thiều)
Cuộc đời chìm nổi của Thúy Kiều hết nạn nọ đến nạn kia tựa như những lớp sóng bể khơi ngày đêm cuồn cuộn không dứt hầu như một phần là sự trói buộc, qui định bởi những căn do bên ngoài nhân thế “Tất cả tương lai của Thúy Kiều đã bị quyết định từ trước Tất cả một tương lai đã
bị “dĩ vãng hóa” bị ràng buộc, trói chặt vào dĩ vãng và con người chỉ còn là một phương sách là cam chịu” [11, tr.127]
Không chỉ có Kiều mới chịu sự chi phối của trời mà cả Đạm Tiên, Tiểu Thanh, cô kĩ La Thành, cô gái ở Thăng Long hay Ngu Cơ, Dưong Quí Phi; Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Liễu Tông Nguyên hay Liêm Pha, Nhạc Phi, Hàn Tín cũng đồng chung số phận Dù khách văn chương hay các bậc võ tướng; dù người phương Bắc hay người phương Nam; dù người giàu sang hay kẻ hèn mọn, tất cả cuộc đời, dẫu cuộc đời thực có khác nhau nhưng rút cục phải gánh lấy mẫu số chung số mệnh
“bi thảm” khôn lường Đó cũng là số mệnh hẩm hiu trong nấm đất lạnh:
“Cũng có lúc màn loan trướng huệ Những cậy mình cung quế hằng Nga, Một phen thay đổi sơn hà, Tấm thân chiếc là biết là về đâu”
(Văn chiêu hồn)
Tin vào trời, Nguyễn Du mới thống thiết “thiên nan vấn” trước những số phận bi thảm của người hồng nhan bạc mệnh, tài hoa bạc mệnh Ông thắc mắc, phẫn uất mà hỏi trời: “Tại sao
trời đã ban cho tài lạ mà không có chỗ dùng?” Tại sao người giỏi như thế, tài hoa, tài tình đến thế
mà cuộc đời gặp nhiều oan khốc đến thế kia? Tại sao cô cầm hai mươi năm trước tài sắc nổi tiếng đất Long Thành, thế mà giờ đây đã thành một bà già tàn tạ? Tại sao Đạm Tiên xưa là ca nhi, nổi danh tài sắc một thì thế mà “thoắt gãy cành thiên hương” chỉ còn nấm đất sè sè bên đường không người hương khói? Tại sao một Thúy Kiều “khi sao phong gấm rủ là” mà giờ sao “Tan tác như hoa giữa đường”? Những câu hỏi ấy cứ xoáy vào tâm can của Nguyễn Du khiến nhà thờ muốn cất cánh bay vào cõi trời, bắt trời giải thích Nhưng Nguyễn Du lại là một con nguời bằng xương bằng thịt, không thể làm được điều đó, đành để cho thơ cất cánh, nói hộ lòng mình Quả là
“Nỗi lòng dâu bể kiếp nhân sinh, Người gửi vào thơ cả biển tình Lời sóng trùng khơi vang vọng mãi,