Đề tài : Thơ thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thời đại nhà Trần để lại dấu ấn trong lịch sử Việt Nam với tinh thần quyết chiến, quyết thắng Dẫu trải qua bao nhiêu thế kỉ, tiếng hô “Quyết đánh! Quyết đánh!” vẫn còn làm rung động triệu triệu con tim người Việt Làm nên hào khí ấy, ngoài truyền thống yêu nước của dân tộc phải kể đến vai trò không kém phần quan trọng của tinh thần Phật giáo Thiền tông
Sự gần gũi trong tinh thần yêu nước của dân tộc với tinh thần nhân đạo của Phật giáo đã làm
nên diện mạo riêng cho thơ Thiền thời Trần Với đề tài “Thơ Thiền thời Trần trong dòng
chảy văn hóa Việt Nam”, người viết không ngoài mục đích muốn tìm hiểu mối tương giao
giữa thơ Thiền thời Trần và văn hóa Việt Nam
Để hoàn thành đề tài này, ngoài những nỗ lực của bản thân, người viết xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người thân trong gia đình Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân đã tận tình hướng dẫn cho người viết Ngoài ra, còn có sự ủng hộ của những bạn bè cũng góp phần giúp cho người viết có đủ nghị lực để hoàn thành đề tài Hi vọng, đề tài này sẽ góp thêm một tiếng nói vào việc tìm hiểu thơ Thiền thời Trần Rất mong
sự góp ý để người viết có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình để nó trở thành một tài liệu tham khảo có ích
Xin Trân trọng cảm ơn!
Lâm Ngọc Ny
Trang 3MỞ ĐẦU 1/ Lí do chọn đề tài:
Lịch sử dân tộc ghi nhận chiến công oanh liệt của thời đại nhà Trần với ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, mở ra một thời đại cực thịnh trong lịch sử phong kiến nước nhà Dưới thời đại vàng son đó, một nền văn học cũng phát triển rực rỡ mà đỉnh cao là Thiền học Thơ Thiền thời Trần – sự tiếp nối và phát triển của thơ Thiền thời Lí – là một thành tựu nổi bật của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Nếu như thơ Thiền thời kì đầu (thời Lí) mang đậm chất triết lí sâu xa có phần khó hiểu, thể hiện trí tuệ uyên áo của các nhà sư, thì thơ Thiền thời kì sau (thời Trần) cũng những triết lí ấy, cũng biểu hiện trí tuệ ấy nhưng có phần “cởi mở” hơn, nghĩa là gần gũi và dễ hiểu hơn, chan hòa hơn, ở
đó, ranh giới giữa thơ và Thiền dường như không phân định rõ, nó vừa là thơ mà cũng vừa là triết lí của đạo Phật Điều đáng chú ý là vị vua anh minh đã lãnh đạo nhân dân chiến thắng đế quốc Nguyên – Mông hùng mạnh lại là người khai sáng nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - Trúc Lâm sư tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông
Ngày nay, cuộc sống bộn bề khiến con người luôn phải chạy đua với thời gian, với bao
lo toan vất vả, nhưng đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn họ luôn muốn hướng tới những điều tốt đẹp, thanh tao như là chân – thiện – mĩ Những giây phút con người lắng lòng mình để nghe
âm thanh của tiếng mưa đêm hay nghe thanh âm trong trẻo của tiếng chuông chùa vọng lại cũng là lúc họ tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn Đôi lúc, con người ấy lắng lòng mình với một ý thơ, một lời văn để trở về với cái “tâm” vô tư, trong sáng, hồn nhiên – cội nguồn của bản tính con người Trở về với văn học, đặc biệt là văn học trung đại, chúng ta sẽ bắt gặp một dòng thơ “tĩnh lặng” mà không kém phần sâu sắc - như đóa hoa sen dù sống trong đầm lầy vẫn vươn cao và tỏa hương thơm ngát - đó là dòng thơ Thiền, đặc biệt là thơ Thiền thời
Trần Như Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong “Đề nghị một cách hiểu mối quan hệ giữa văn học
đời Trần và cuộc kháng chiến chống xâm lược đời Trần” (Tạp chí Văn học, số 3 & 4 – 1986)
đã viết: “thơ văn Lí – Trần rõ ràng sẽ có giá trị như một hồi âm phản tỉnh, bằng cách này
hay cách khác giúp chúng ta thực hiện cái quá trình đi ngược lại sự tha hóa lịch sử của chính chúng ta, giúp ta sống những giây phút tốt đẹp hơn, hồn hậu và nguyên vẹn hơn” Và
“hình như người đọc, dù ở thế kỉ XV, thế kỉ XVIII, hay thế kỉ XX đều có thể tìm thấy ở đây cái
ánh sáng tiềm ẩn của chính tâm hồn mình, vẻ đẹp hồn nhiên tươi tắn của cuộc sống mà chính mình đã đánh mất, sự thoáng đạt của một tư duy vừa siêu hình vừa trần tục mà mình
Trang 4không thể có” Có thể nói, với ý kiến ấy, giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã khẳng định được giá trị
cơ bản của thơ Thiền nói chung và thơ Thiền thời Trần nói riêng
Phải nói thơ Thiền thời Trần là một mảnh đất màu mỡ cho việc nghiên cứu, đào sâu tìm tòi về những giá trị của Phật giáo cũng như là của văn học dân tộc Nhiều công trình nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu thơ văn nói chung và một phần thơ Thiền nói riêng của thời Trần Tuy nhiên, dưới một góc nhìn khác, một cách tiếp cận khác, chúng tôi muốn đề xuất thêm một
cách tìm hiểu thơ Thiền thời Trần Đó là “Thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt
Nam” Với công trình này chúng tôi muốn khẳng định hơn nữa giá trị của văn học thời Trần,
đặc biệt là văn học Thiền tông trong mối quan hệ với văn hóa dân tộc Hi vọng luận văn ít nhiều sẽ góp thêm một cách nhìn nhận, tiếp cận mới về thơ Thiền thời Trần trong dòng văn học nói chung
2/ Lịch sử vấn đề:
Về đề tài này, thật sự chưa có một công trình nào dành riêng để nghiên cứu nó Tuy nhiên, như đã nói, đây là một mảnh đất màu mỡ cho nên bằng cách này hay cách khác, dưới góc độ này hay góc độ khác cũng đã có không ít công trình nghiên cứu về thơ Thiền thời Trần (chủ yếu là các công trình nghiên cứu về thơ Thiền Lí – Trần nói chung) Các tác phẩm
cổ xưa như Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn,… đã kể lại những câu chuyện lịch sử, và
đã có những nhận định về con người thời Trần cũng như thơ văn thời Trần
- Bộ Thơ văn Lí – Trần của Viện Văn học (1977 – 1989) là một công trình văn bản
học có bề thế và tầm cỡ về văn học Lí – Trần
- Nguyễn Đổng Chi trong công trình Việt Nam cổ văn học sử (Phủ Quốc vụ khanh đặc
trách văn hóa, Sài Gòn, 1970) đã trình bày tiến trình văn học theo từng triều đại phong kiến, riêng về văn học Thiền tông thời Trần tác giả chỉ điểm qua khi trình bày văn học đời Trần (chương X)
- Ngô Tất Tố trong công trình Văn học đời Trần (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1942) đã giới
thiệu một số thành tựu văn học của triều đại nhà Trần, trong đó có một phần là thơ Thiền
- Bùi Văn Nguyên trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 (thế kỉ X – XVII) (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1978) nhận xét: “Phật học đời Trần cũng có những tư tưởng độc đáo,
Trang 5không rập khuôn theo phương Bắc”, “văn học đời Trần mở đầu loại văn bút chiến và văn chương phê bình”, “các vua đời Trần thường là thi nhân hơn là Thiền sư”
- Đinh Gia Khánh trong lời giới thiệu “Tám thế kỉ của tiến trình văn học” trong sách
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2 (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1960), đã nhận định về thơ
Thiền thời Trần: “xét về mặt học thuật đời Trần, trước hết phải nói đến những trước tác về
Phật học”, “văn học đời Trần với quan niệm Tam giáo đồng nguyên, đồng thời xuất hiện xu hướng phân công giữa Phật và Nho”, “thơ của các vị vua tu Thiền, các nhà sư thể hiện một niềm yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết”
- Phạm Văn Diêu trong Văn học đời Trần Hồ (Bài giảng tại Đại học Văn khoa Sài
Gòn, 1970 – 1971) đã giới thiệu văn học thời này theo hệ thống thể loại: văn sử kí của người Việt viết ở Trung Hoa, văn truyện cổ, văn bi kí tựa, văn lí luận phê bình, văn nghị luận chính trị,… trong đó có một số tác phẩm thuộc văn học Thiền tông
- Đặng Thai Mai trong bài viết Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học (Thơ văn Lí
– Trần, tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977) đã đề cập đến thái độ tích cực lạc quan
trong các bài thơ Thiền của các nhà thơ Thiền và về một đạo Phật khoan dung cởi mở, từ đó sinh ra những nhà thơ có bản lĩnh, có tâm hồn phóng khoáng, giàu chất nhân bản với những bài thơ Thiền độc đáo, có khí sắc, đạo nhưng rất đời
- Kiều Thu Hoạch trong Tìm hiểu thơ văn các nhà sư Lí – Trần (Tạp chí Văn học, Hà
Nội, số 6 – 1965) đã cho thấy rằng bên cạnh thơ văn đề cao ý thức tự cường dân tộc, tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, còn có thơ văn của các Thiền sư Thơ văn này có nhiều yếu
tố siêu thoát, nhưng nó cũng là một hiện tượng khá đặc biệt trong lịch sử văn học Thời Lí – Trần là thời kì phồn thịnh nhất của đạo Phật nên có nhiều nhà sư nổi tiếng về văn học Các Thiền sư hay làm thơ và có thơ hay; trong kệ, chất thơ cũng bàng bạc, giáo lí đạo Phật được trình bày khá bóng bẩy, sinh động, giàu nghệ thuật
- Nguyễn Phạm Hùng trong Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền (Tạp chí Văn học, Hà
Nội, số 10 – 1994) đã tiếp thu ý kiến của Suzuki, của Nguyễn Lang để nêu lên tính trực giác của thơ Thiền Thơ Thiền có hai yếu tố: mặt vật chất là cái tượng trưng, còn triết lí là cái được tượng trưng Nhưng giá trị thẩm mĩ của thơ Thiền lại nằm ở mặt vật chất của hình tượng thơ
Trang 6- Nguyễn Huệ Chi trong Đề nghị một cách hiểu mối quan hệ giữa văn học đời Trần và
cuộc kháng chiến chống xâm lược đời Trần (Tạp chí Văn học, số 3 & 4 – 1986) đã khẳng
định những nội dung của thơ văn (trong đó quan trọng là thơ Thiền) chính là động lực sâu xa góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của quân dân nhà Trần trước đế quốc Nguyên – Mông hùng mạnh
- Đoàn Thị Thu Vân qua thống kê, phân loại để khảo sát về ngôn ngữ thơ Thiền Lí -
Trần và tìm hiểu quan niệm con người trong thơ Thiền Lí - Trần, trong luận án PTS Khảo sát
một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ XI – XIV (Bảo vệ tại Đại học Sư
phạm TP Hồ Chí Minh, 1995), đã đề cập đến ngôn ngữ thơ Thiền, hình tượng con người, hình tượng thiên nhiên ngoại vật, không gian - thời gian nghệ thuật, thể thơ, kết cấu, cách miêu tả, giọng điệu và so sánh đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Lí – Trần với thơ Nho cùng thời cũng như với thơ Thiền Trung Quốc, Nhật Bản Nhìn chung, tác giả cho rằng thơ Thiền
Lí – Trần là sản phẩm kết hợp của nền triết học giàu chất tự do phóng khoáng và một thời đại đậm tính nhân văn nên đã đem lại nhiều nét độc đáo, mới mẻ cho thơ ca dân tộc Đó là thế giới nghệ thuật đầy sức thu hút, có xu hướng vươn tới không gian và thời gian vô hạn đạt
sự hợp nhất Các Thiền sư là những con người nhập thế giúp đời Thơ Thiền với hệ thống kí hiệu nghệ thuật khác hẳn thơ Nho, đã đánh đổ cái nhìn nhị nguyên và con người trong thơ Thiền là con người phá chấp, tùy duyên, đạt đạo ngay giữa cuộc đời
- Nguyễn Công Lý trong chuyên luận Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lí
– Trần (NXB Văn Hóa thông tin, Hà Nội, 1997)đã đi từ việc tìm hiểu khái niệm Thiền tông,
văn học Thiền tông đến tìm hiểu nét đặc sắc của Thiền học Việt Nam làm cơ sở nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học Thiền qua thơ văn viết về triết lí tư tưởng Thiền, về thiên nhiên và con người, cuộc sống với tinh thần lạc quan, phong cách bình thản tin tưởng; cuối cùng xác định vị trí và những đóng góp của văn học Thiền Lí – Trần trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam; tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với văn học, và về trạng thái tư duy nghệ thuật kiểu trực cảm tâm linh
- Trong Văn học Phật giáo thời Lí – Trần diện mạo và đặc điểm (NXB ĐH Quốc gia,
TP Hồ Chí Minh, 2003), tác giả Nguyễn Công Lý (2003) khái quát tình hình nghiên cứu, đặc điểm và diện mạo văn học Phật giáo thời Lí – Trần Theo lời mở đầu của GS.NGND Nguyễn
Đình Chú thì “một trong những kết quả nâng cao công trình của Nguyễn Công Lý chính là ở
chỗ làm rõ hơn phương diện văn chương của văn học Phật giáo Lí – Trần” Trong đó tác giả
Trang 7đã chú ý đến việc “giới thuyết, làm rõ hơn mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học trong sự
sống nhân loại nói chung”
- Thích Thanh Từ trong bài Thiền Trúc Lâm qua vấn đáp (Thiền học đời Trần, Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995) đã giải thích ý chỉ của Trúc Lâm đệ nhất tổ trong
những câu đối đáp về Phật về Thiền với các đệ tử Ở bài Thiền Trúc Lâm qua thơ văn chữ
Hán (Thiền học đời Trần, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995), tác giả đã nhận xét về
hồn thơ, về chất Thiền độc đáo, đậm sắc màu dân tộc trong thơ Trần Nhân Tông Còn trong
Tam tổ Trúc Lâm giảng giải (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh, 2005), tác giả đã trình bày
rõ về công đức, hành trạng cũng như phân tích một số câu nói, bài thơ, bài kệ của ba vị tổ sư phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Công trình này theo Thích
Thanh Từ, được viết ra “trên tinh thần khôi phục lại Phật giáo đời Trần” Từ đó ông khẳng định sách Tam tổ Trúc Lâm giảng giải ra đời nhằm mục đích phục vụ cho việc nghiên cứu và
học tập Phật giáo
- Đỗ Văn Hỷ trong Câu chuyện Huyền Quang và cách đọc thơ Thiền (Tạp chí Văn
học, Hà Nội, số 1, 1975) đã nêu lại chuyện oan tình của Huyền Quang và cho rằng ông chẳng
có oan tình gì Trên cơ sở đó, bài viết nêu lên một khía cạnh nhỏ về thủ pháp biểu hiện của thơ Huyền Quang và cách tiếp nhận thơ Thiền
- Nguyễn Phương Chi với bài Huyền Quang, nhà sư thi sĩ (Tạp chí Văn học, Hà Nội,
số 3 – 1982) thì cho rằng cái cốt lõi của Huyền Quang không phải là con người Thiền mà chính là con người thi sĩ Thiền sư chỉ là cái vỏ, là hình thức cho con người thi nhân sống thực, cảm xúc thực đầy sáng tạo
- Mai Quốc Liên trong Các nhà thơ đời Trần (Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ, Sở Văn
Hóa thông tin Nghĩa Bình – 1986) đã đề cập đến những điểm cơ bản của mĩ học Thiền: vắng lặng, hư tịch, phản ánh chân như của vũ trụ theo quan điểm Phật giáo Từ đó nêu ra những đặc trưng trong thơ Thiền của Trần Nhân Tông, của Huyền Quang
- Minh Chi trong Thơ Huyền Quang (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995) thì
không đồng ý với ý kiến của Nguyễn Phương Chi cho rằng ở Huyền Quang con người thi nhân rõ nét hơn con người tôn giáo Theo tác giả, thơ Huyền Quang mang đậm nét trữ tình
và văn chương Phật giáo không phải là văn chương khô khan Các Thiền sư không phải là con người lạnh lùng không cảm xúc Thơ văn là trực cảm, cảm xúc với người, với cảnh và
Trang 8với bản thân mình Đó không phải là cái ta hời hợt mà là cái ta đại ngã cùng một bản thể với chúng sinh, vạn vật mà chỉ có bậc giác ngộ mới thể nghiệm được
- Minh Tuệ trong Thiền sư Huyền Quang, một nhà thơ lớn (Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam, 1995) thì cho rằng Huyền Quang vừa là Thiền sư ngộ đạo, vừa là người nghệ sĩ lớn với thi hứng dạt dào, phóng khoáng
- Phạm Ngọc Lan trong Trần Nhân Tông và cảm hứng Thiền trong thơ (Tạp chí Văn
học, Hà Nội, số 4 – 1992) đã đề cập những cảm hứng trong những bài thơ viết về thiên nhiên của Trần Nhân Tông
- Thích Đồng Bổn trong Vai trò chính trị của các tăng sĩ Phật giáo ở thời đại Lí –
Trần (NXB Tôn giáo, Hà Nội – 2006) đã khái quát một số đặc điểm của Phật giáo cũng như
hành trạng của các vị tăng sĩ Phật giáo trong đời sống chính trị của triều đại Lí – Trần Tác
giả cũng đã khẳng định ở “đời Trần Phật giáo đã đi vào đỉnh cao nhất và đi sâu vào chính
sự qua những con người cụ thể lãnh đạo triều đại, các vị vua nhà Trần đã là tăng sĩ hay đang trị vì cũng đã uyên thâm Phật học”
Tóm lại, thơ Thiền Lí – Trần nói chung, thơ Thiền thời Trần nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ngày càng nhiều và chủ yếu ở các phương diện văn bản học (sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu), tìm hiểu tác giả, nghiên cứu giá trị của tác phẩm,… Điều đó chứng tỏ văn học Thiền tông là mảnh đất có nhiều sức hấp dẫn đối với số đông nhà nghiên cứu Trên tinh thần kế thừa những thành quả của người đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu phong phú có liên quan để từ đó đi vào tìm hiểu một phương diện chuyên biệt của vấn đề:
Thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Như tên gọi của nó - Thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam – đề tài
này nhằm thực hiện hai nhiệm vụ:
Một là khái quát về thơ Thiền thời Trần và khái quát những lĩnh vực văn hóa tinh thần bằng cách khảo sát tài liệu, so sánh đối chiếu và rút ra những nhận định cơ bản về thơ Thiền thời Trần cũng như về văn hóa Việt Nam
Hai là, từ việc nắm vững hai vấn đề trên, chúng tôi đi vào làm rõ mối tương giao giữa thơ Thiền và văn hóa Việt Nam trong tiến trình vận động của nó
Trang 9Về phạm vi khảo sát, trước hết, đề tài được xác định là để bước đầu tìm hiểu sự tương giao giữa thơ Thiền và văn hóa Việt Nam trong quá trình vận động và phát triển Thơ Thiền nói chung và thơ Thiền thời Trần nói riêng cũng như văn hóa Việt Nam là những vấn đề phức tạp, có rất nhiều ý kiến đề cập Do đó, chúng tôi không có tham vọng chạm đến tận cùng của vấn đề mà chỉ là bước đầu khảo sát, phân tích để có cái nhìn mới cũng như cách tiếp cận mới về thơ Thiền thời Trần trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Về thơ Thiền thời Trần, chúng tôi căn cứ vào một số công trình như Thơ văn Lí Trần (tập II, quyển thượng) , Tổng tập văn học Việt Nam (tập 2, 3) và các công trình của các tác
giả như Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Công Lý, Về văn hóa, chúng tôi căn cứ vào công trình của Trần Quốc Vượng, La Văn Quán, Trần Ngọc Thêm,… bao gồm các vấn đề về con người, thiên nhiên, cách ứng xử với tự nhiên và xã hội,…
4/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Phật giáo Thiền tông là một hệ tư tưởng - triết học có ảnh hưởng sâu sắc ở nước ta trong những thế kỷ đầu kỷ nguyên tự chủ Nó góp phần không nhỏ vào những thành tựu về chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội… của một thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc - thời đại Lí - Trần - và đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là trong thơ văn thời đại ấy cũng như văn chương trung đại Việt Nam nói chung Nghiên
cứu thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam không chỉ để hiểu con người
Việt Nam trong quá khứ mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam hôm nay và mai sau Đây là một công việc cần thiết và bổ ích vì đó là một trong những cách giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thời Trần là thời đại phát triển cực thịnh trong lịch sử Việt Nam Có được điều đó, theo nhiều nhà nghiên cứu, một phần là do sự ảnh hưởng và tác động của Phật giáo Điều đó được minh chứng rõ ràng ở chỗ, thời đại nhà Trần có không ít các vị vua, quan là thiền sư hoặc thiền gia, cư sĩ, trong số đó có vua Trần Nhân Tông là người đã khai sáng thiền phái Trúc Lâm Văn học thời Trần được sản sinh ra trong bối cảnh đó Đây là giai đoạn đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của văn học viết Việt Nam, trong đó thơ Thiền được vinh
dự là một bộ phận văn học có vị trí gần như là tiên phong cho giai đoạn này với những thành tựu đáng kể Nhờ thế, nó tạo nên một tiếng nói rất riêng khó có thể tìm thấy ở các giai đoạn văn học sau Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận văn học thời Trần, trong đó đáng kể là thơ
Trang 10Thiền, có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn chương trung đại nói riêng Do đó, nghiên cứu thỏa đáng vấn đề đặt ra sẽ rất có ý nghĩa về mặt khoa học
Lâu nay, các tác phẩm thơ Thiền thời Trần cũng đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nên nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thiết thực về mặt nghiệp vụ vì sẽ góp phần vào việc giải mã những tác phẩm văn học giàu chất nhân văn, là giá trị văn hóa của dân tộc, nhưng đồng thời cũng mang tính uyên áo, không dễ lĩnh hội, từ đó giúp cho việc nghiên cứu
và giảng dạy bộ phận văn học này tốt hơn
5/ Phương hướng và phương pháp nghiên cứu:
Thơ Thiền thời Trần đến nay tuy có nhiều người quan tâm nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu đáng quý song, so với yêu cầu phát triển của xã hội nói chung và của văn học nói riêng thì vẫn còn nhiều khoảng trống để người đi sau tiếp tục tìm hiểu Với đề tài này chúng tôi muốn thực hiện một hướng tiếp cận vừa gần gũi, quen thuộc nhưng cũng khá mới
mẻ và lí thú về thơ Thiền thời Trần, qua đó góp phần làm phong phú hơn cách nhìn nhận, đánh giá về giá trị văn học của dân tộc
Khi tiến hành đề tài này, chúng tôi chọn phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh để tiếp cận và bước đầu nhìn nhận vấn đề Song song đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành vì đề tài nghiên cứu là văn học nhưng có liên quan đến văn hóa, lịch sử, xã hội học, nên cũng cần thiết sử dụng những thành tựu về phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học đó Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài là thơ Thiền – một phần của văn học Phật giáo, mà Phật giáo lại chú ý đến “tâm” và tư duy tổng hợp, trực giác, trực cảm tâm linh, nên nghiên cứu bộ phận văn học này chúng tôi cũng vận dụng phương pháp trực cảm để cảm nhận vấn đề, thấy được đặc điểm bản chất của đối tượng
6/ Cấu trúc luận văn bao gồm hai phần:
PHẦN MỞ ĐẦU:
1/ Lí do chọn đề tài
2/ Lịch sử vấn đề
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5/ Phương hướng và phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG:
Trang 11Chương 1: Một số vấn đề khái quát về văn hóa Việt Nam
Chương 2: Thiền tông Việt Nam và thơ Thiền thời Trần
Chương 3: Mối tương giao giữa thơ Thiền thời Trần và tiến trình văn hóa Việt Nam
Kết luận
Trang 12Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1/ Khái niệm “văn hóa” và “dòng chảy văn hóa”:
1.1.1/ Khái niệm văn hóa:
Văn hóa là một khái niệm mà mỗi học giả ở mỗi đất nước trong những thời kì khác
nhau đều có cách lí giải riêng Nhưng có lẽ không một học giả nào bằng lòng với khái niệm
có sẵn nên đều tự mình đưa ra một khái niệm của riêng mình, và cũng không một khái niệm nào được coi là hoàn thiện
Hơn nữa, người ta có thể nghiên cứu văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau, có người thiên
về mặt này, có người thiên về mặt kia của văn hóa, do đó họ đưa ra những định nghĩa khác
nhau về văn hóa Thí dụ: nhà ngôn ngữ học thường truy xét từ nguyên, tức là gốc từ La Tinh hay Hy lạp của từ culture phương Tây, tương đương với thuật ngữ văn hóa của ta và Trung Quốc Gốc từ La Tinh của từ văn hóa nêu bật các nghĩa vun trồng, rèn luyện, làm tăng lên về chất lượng và số lượng Phải chăng, từ đó có thể nói văn hóa (culture) bao gồm tất cả những
gì là tinh thần hay vật chất có thể và phải được vun trồng, rèn giũa, tích lũy để có một sự phát triển về lượng và về chất?
Theo GS Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (NXB Giáo Dục, thành phố
Hồ Chí Minh 1999), Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Theo GS.TS Lê Văn Quán trong Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam (NXB Lao Động, Hà Nội 2007), Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo, tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống, và sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa
có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán,…
Danh từ Văn hóa đầu tiên xuất hiện ở thư tịch Trung Quốc Bắt nguồn từ Lưu Hướng, đời Tây Hán: Phàm vũ chi hưng, vi bất phục dã, văn hóa bất cải, nhiên hậu gia tru (phàm
dùng vũ lực là để đối phó với kẻ không phục tùng; dùng văn hóa mà không thay đổi được thì
sau mới giết) Sau đó, Văn hóa trở thành một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu hiện
tượng văn hóa hoặc hệ thống văn hóa Nó bắt đầu phát triển ở nước Pháp vào khoảng giữa
Trang 13thế kỉ XIX, trước tiên họ đề xuất khái niệm “khoa học văn hóa”, chủ trương xây dựng độc
lập, tiến hành nghiên cứu khoa học để nói rõ sự tiến triển của văn hóa Đến đầu thế kỉ XX, các nhà văn hóa Mỹ chính thức xác lập nguyên tắc và khung Văn hóa học Như vậy, Văn hóa
là một hiện tượng lịch sử, mỗi xã hội đều có nền văn hóa thích ứng với nó và phát triển tiến lên theo đà xã hội
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nhiều nghĩa Với nghĩa rộng, văn hóa là chỉ
tổng hợp sáng tạo văn minh vật chất và văn minh tinh thần trong quá trình phát triển xã hội
loài người Về nghĩa hẹp, văn hóa chỉ hình thái ý thức và thượng tầng kiến trúc của xã hội,
tức là hình thức tổ chức và chế độ thích ứng với hình thái ý thức xã hội Do đó, nó có đặc điểm của tính lịch sử, tính truyền thống, tính dân tộc,… Chính vì vậy, trong lịch sử các thời
kì khác nhau, dân tộc khác nhau đều sáng tạo ra những nền văn hóa khác nhau
Chủ nghĩa Mác đề xuất bảy luận điểm về văn hóa như sau:
1/ Nền văn hóa của loài người bao gồm toàn bộ hoạt động sáng tạo của loài người, trong lĩnh vực vật chất và tinh thần, và thành quả của hoạt động sáng tạo ấy Nó biểu hiện một dạng thống nhất nhất định giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và xã hội Nó
là tiêu chí đặc trưng nhất cho sự phát triển lực lượng và khả năng sáng tạo của những cộng đồng người trong từng thời kì lịch sử khác nhau
2/ Nó bao gồm toàn bộ những thành quả hoạt động sáng tạo của loài người, như công
cụ, dụng cụ, máy móc, các công trình kĩ thuật, các tác phẩm văn học nghệ thuật, các chuẩn mực luật pháp và đạo đức…
3/ Chủ nghĩa Mác phân biệt lĩnh vực văn hóa vật chất và lĩnh vực văn hóa tinh thần, vai trò quyết định của văn hóa vật chất, và mối tương quan biện chứng qua lại giữa hai lĩnh vực đó
4/ Chủ nghĩa Mác nói về tính giai cấp của văn hóa Mỗi hình thái xã hội đều có nền văn hóa thích ứng của nó Tương ứng với các hình thái xã hội giai cấp đối kháng, là một nề văn hóa đầy mâu thuẫn, phát triển vô chính phủ, trong đó phải đặc biệt lưu ý bộ phận văn hóa mang tính chất tiến bộ của nhân dân, do quần chúng lao động sáng tạo ra
5/ Chủ nghĩa Mác rất trân trọng những di sản văn hóa quý báu của các thế hệ trước để lại, đồng thời tiếp thu mọi thành tựu văn hóa của thế giới, nhân loại Đó là tính kế thừa và tính quốc tế của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Trang 146/ Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có tính đại chúng Toàn dân có điều kiện và cơ hội làm văn hóa, thưởng thức văn hóa, hoạt động văn hóa Sự tiếp thu văn hóa đó có tính chất hoàn toàn tự giác, không có sự áp đặt từ bất cứ một quyền uy nào
7/ Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là một nền văn hóa dồi dào nhân tính, mục đích cứu cánh của nó là phục vụ con người tự do thật sự, phát triển hài hòa và toàn diện, với mọi năng khiếu được nảy nở và bộc lộ không hạn chế Đấy là mẫu những con người hoàn thiện mà bao thế hệ trước đây hằng mơ ước, nhưng không có điều kiện xã hội chính trị kinh tế để biến thành hiện thực Những điều kiện này đang dần dần hình thành đầy đủ trong chế độ xã hội mới ở nước ta
Trên cơ sở đó, xin tạm định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, con người với môi trường xã hội và với chính mình
1.1.2/ Khái niệm dòng chảy văn hóa:
Văn hóa là một vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan, là cách nhìn bao trùm và cách ứng xử qua những hành động thiết thực của con người với thiên nhiên và với cộng đồng con người trong xã hội Từ xưa, con người từ bậc hiền triết đến người thường đã luận bàn rất nhiều về nó, sau này chắc cũng vậy, với những hiểu biết mới, xác thực hơn, cao siêu hơn Từ quan điểm duy vật biện chứng nhìn lại lịch sử loài người, chúng ta thấy sáng tỏ vị trí, vai trò
và tác dụng của văn hóa, một chiến công biết bao quý báu của con người, sau khi thoát khỏi tiền thân của mình là con vật, vươn lên qua các chế độ xã hội, đến bước nhảy vọt từ vương quốc của sự áp bức, bóc lột đến vương quốc của giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, mà đỉnh cao là sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người Đây cũng sẽ
là đỉnh cao của phát triển văn hóa trong toàn bộ lịch sử loài người
Lịch sử dân tộc Việt Nam ta là một quá trình diễn biến những sự kiện đa dạng, hùng tráng và bi thảm, mà các nhà sử học đã, đang và sẽ nghiên cứu, bởi tất cả chưa phải đã sáng
tỏ Mà văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách anh hùng trong giữ nước
Trang 15và dựng nước Phải thấy cái chất văn hóa trong tất cả những sự kiện nói trên, nó là tinh hoa của dân tộc, của quý nhất mà ngày nay mọi người Việt Nam chúng ta tự hào là người kế thừa
và phát triển Văn hóa là kết quả, là ngọn nguồn của hành động có ý thức của con người làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Cuộc sống này có thể là vật chất, tinh thần, là trăm nghìn kinh nghiệm khác nhau ngày càng phong phú Từ đấy, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, văn hóa sẽ có mặt khắp mọi nơi, trở thành một cấp độ phát triển của bất cứ một hoạt động nào, thường được coi là có ý nghĩa tinh thần, nhưng thực ra gắn liền với cả phạm trù vật chất lẫn tinh thần
Như vậy, có thể nói, song song với sự phát triển của lịch sử dân tộc là sự phát triển của văn hóa Việt Nam Mỗi giai đoạn, thời kì lịch sử khác nhau ứng với những đặc điểm văn hóa khác nhau Hợp chung lại là một dòng chảy xuyên suốt của cả lịch sử và văn hóa của dân tộc
Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam gọi sự phát triển ấy là tiến trình
văn hóa Việt Nam và chia tiến trình ấy thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử, văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại Sáu giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây
Phạm Văn Đồng tìm hiểu sự phát triển của văn hóa trong lịch sử dân tộc và cho thấy ứng với mỗi thời kì lịch sử dân tộc là một nét văn hóa riêng Chẳng hạn như: thời vua Hùng thì thành tựu văn hóa chủ yếu là trống đồng và thời đại văn hóa Đông Sơn; thời Bắc thuộc thì tiếp biến nền văn hóa Hán là tiêu biểu; thời độc lập dân tộc có thành tựu là phát huy truyền thống văn hóa dân tộc từ xa xưa, kết hợp với việc tiếp thu và chuyển hóa thành Việt Nam những giá trị văn hóa của Nho giáo, Phật giáo và một vài học thuyết khác về chính trị, xã hội
và văn hóa ở phương Đông; thời Pháp thuộc là sự tiếp biến một số nét của văn hóa phương Tây; đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám, nền văn hóa nước ta càng khẳng định vai trò và
vị trí của mình trong lịch sử dân tộc
Sự phát triển của văn hóa còn được hiểu là sự phát triển từ văn hóa dân gian đến trung
đại, hiện đại và quá trình giao lưu quốc tế (Theo Dòng chảy văn hóa Việt Nam của
GS.VS.N.I.Culin, do GS.VS Hồ Sĩ Vịnh và PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn hóa thông tin)
Trang 16Như vậy, có thể nói, dòng chảy văn hóa là tiến trình vận động và phát triển liên tục của
một nền văn hóa, trong đó thế hệ sau kế thừa thế hệ trước và sáng tạo thêm những giá trị mới
1.2/ Các đặc trưng và chức năng của văn hóa:
1.2.1/ Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội:
Hệ thống văn hóa là một tổ chức hữu cơ; các sự kiện, hiện tượng có mối quan hệ khăng khít, chi phối và chế ước lẫn nhau Đặc trưng này giúp chúng ta phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó
Nhờ tính hệ thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Nghĩa là văn hóa góp phần làm tăng độ ổn định của xã hội, tăng sự cố kết cộng đồng, tạo sự ổn định xã hội, cung cấp cách ứng xử và tổ chức đời sống thích hợp với môi trường tự nhiên và xã hội Chính vì thế, văn hóa còn là nền tảng của xã hội
1.2.2/ Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội:
Giá trị văn hóa là những cái mà trải qua thời gian và những thăng trầm của cuộc sống
nó vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, thành có giá trị”
Có thể nói, văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Từ đó có thể phân chia các giá trị văn hóa theo các tiêu chí sau: Theo “mục đích” có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần; theo “ý nghĩa” có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ; theo “thời gian” có thể chia thành các giá trị vĩnh cữu và giá trị tạm thời; theo
“không gian” có thể chia thành giá trị cục bộ và giá trị phổ biến sự phân biệt các giá trị văn hóa cho phép ta có cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời đối với một nền văn hóa
Mỗi một dân tộc có những đặc tính giá trị văn hóa riêng của mình và chính điều này làm cho mỗi dân tộc có những sự khác biệt về văn hóa Ví dụ như các nước phương Đông chủ yếu đề cao sức mạnh tập thể, trong khi đó, Mỹ lại đề cao vai trò của cá nhân Lại có những nếp văn hóa mà ngày nay giới trẻ không dễ gì chấp nhận như việc nhuộm răng của phụ nữ Việt Nam ngày xưa, tục nối dây của dân tộc Êđê,… Có những nếp văn hóa được chấp nhận ở một nền văn hóa này nhưng lại không được chấp nhận ở một nền văn hóa khác Do
Trang 17đó, các nền văn hóa phải thường xuyên sàng lọc, điều chỉnh để chấp nhận các giá trị theo từng giai đoạn Từ đó, văn hóa thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội
Chức năng điều chỉnh xã hội nghĩa là giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường Văn hóa giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển xã hội
1.2.3/ Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp:
Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào
tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần Có thể nói, văn hóa là thành tựu của con người, do con người sáng tạo ra, phục vụ lợi ích của con người Văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử, đặc biệt, trong thời đại ngày nay, văn hóa càng khẳng định vị trí quan trọng của mình Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân, sự hưng vong của mỗi quốc gia, sự thành công hay thất bại của một chiến lược phát triển đều tùy thuộc rất nhiều vào sự nhận thức và phát triển văn hóa Trong thời đại hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, việc am hiểu nhiều nền văn hóa là vô cùng cần thiết Sẽ khó có sự thành công khi trong giao tiếp chúng ta hoàn toàn không hiểu gì về văn hóa của đối tác, thậm chí không biết gì về ngôn ngữ của họ Văn hóa gắn liền với hoạt động của con người trong xã hội và mang tính nhân sinh
Do đó, văn hóa là sợi dây nối liền và thực hiện chức năng giao tiếp giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc kia
1.2.4/ Tính lịch sử và chức năng giáo dục:
Văn hóa là sản phẩm của một quá trình được tích lũy qua nhiều thế hệ, có tính bền vững và lâu dài Văn hóa là sự tích tụ hàng ngàn năm lịch sử Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc trưng riêng biệt của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau Ở mỗi thế hệ, thời gian qua đi, những cái mới được thêm vào, những cái cũ có thể bị loại trừ để kết tinh thêm nền văn hóa truyền thống Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho một nền văn hóa của một dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tốt đẹp hơn Một nền văn hóa không bào giờ tĩnh tại và bất biến Văn hóa luôn thay đổi và rất năng động, nó luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình mới
Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu và được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn
Trang 18mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận,…
Văn hóa truyền thống thực hiện chức năng giáo dục đối với con người không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người
Từ chức năng giáo dục, văn hóa còn có chức năng đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nó
là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau
1.3/ Bản sắc văn hóa Việt Nam trong tiến trình vận động và phát triển:
Có một thời người ta phủ nhận sự hiện hữu của một nền văn minh và văn hóa Việt Nam Người ta xếp một cách đơn giản thế giới Việt Nam vào phạm vi ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc, vào phạm trù của nền văn minh Trung Quốc Thế nhưng, rồi những công trình nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh xuống chiều sâu và trong chiều dài lịch sử đã buộc giới trí thức đông và tây phải xem xét lại cái quan điểm đơn giản và phiến diện đó Một khoa học mới ra đời, khảo cổ học, với những tài liệu vật chất lấy lên từ lòng đất, đã chiếu rọi một ánh sáng mới mẻ vào quá khứ ngàn vạn năm mà trước đây còn nằm trong bóng đêm của lịch sử…
Đi sâu nghiên cứu hai nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, người ta lại biết đấy là màn dạo đầu, từ trước đây trên dưới một vạn năm, của một cuộc cách mạng nông nghiệp xảy ra trên toàn vùng Đông Nam Á có thiên nhiên phong phú và đa dạng Nơi đó, còn trước cả vùng Trung Đông vài nghìn năm, là một cái nôi trồng trọt, từ chục nghìn năm trước, đã có những cộng đồng nông nghiệp định cư, trồng cây có củ, cây ăn quả, bầu bí rau dưa, rồi sau
đó đã trồng lúa nước, cây lương thực trọng yếu của loài người Mà nông nghiệp là khởi đầu của văn minh nhân loại Một nền văn minh Đông Sơn được phát hiện, tồn tại hàng ngàn năm Trong tiến trình ấy, văn hóa Việt Nam đã cố gắng phát huy nội lực cũng như tiếp biến những tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây để tạo nên bản sắc riêng cho mình
Có thể nói, qua quá trình kế thừa, phát huy và tiếp biến văn hóa, văn hóa Việt Nam đã hình
thành một số nét bản sắc như sau:
1.3.1/ Nhận thức về vũ trụ:
Văn hóa Việt Nam nhìn nhận bản chất vũ trụ thông qua triết lí âm dương
Trang 19Trước khi khoa học thiên văn hình thành, các dân tộc trên thế giới đều lấy bản thân mình làm trung tâm, thăm dò tìm kiếm bí mật của vũ trụ trong quan hệ hiện tượng thế giới tự nhiên và con người Vũ trụ mà con người đối diện tức là bản thân tự nhiên, do đó, quan hệ giữa con người và tự nhiên là chủ đề quan trọng nhất trong nền văn hóa truyền thống phương Đông Người Việt lúc bấy giờ nặng về phương thức nhận biết vũ trụ, thường thiên về cội nguồn qua cách thức suy nghĩ, được biểu hiện trong các truyện huyền thoại, truyền thuyết Việt Nam khởi thủy từ một nước nông nghiệp lúa nước, cho nên điều cốt yếu của con người Việt Nam là thời vụ Thời vụ liên quan đến mùa màng được mất và cuộc sống con người Con người luôn mong sao cho mùa màng bội thu, gia đình đông đúc, tức là quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất - Trời Thời xưa đất rộng, thêm người thì thêm việc, tăng thu nhập, chưa phải lo thiếu ăn nên dân gian ta
thường nói Trời sinh voi, trời sinh cỏ; mặt khác, với cuộc sống định cư, việc sinh đẻ hầu như
không ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng
Người ta cũng dần dần nhận ra rằng: Đất được đồng nhất với mẹ, còn Trời được đồng nhất với cha Việc hợp nhất của hai cặp “mẹ-cha” và “đất-trời” chính là sự khái quát hóa đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lí âm dương
Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp đối lập gốc “mẹ-cha” và “đất-trời” này, người xưa đã dần dần suy ra vô số những đối lập mà, đến lượt mình, lại trở thành cơ sở để suy ra những đối lập mới Chẳng hạn, từ cặp “lạnh-nóng”, có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đông lạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương; Về phương hướng thì phương bắc lạnh thuộc âm, phương nam nóng thuộc dương; Về thời gian thì ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngày nóng thuộc dương Tiếp tục, đêm thì tối nên màu đen thuộc âm, ngày thì nắng đỏ nên màu đỏ thuộc dương…
Tuy nhiên, việc xác định bản chất âm/dương của các sự vật, hiện tượng xung quanh không phải lúc nào cũng dễ dàng Do đó, người xưa đã dần dần tìm ra những đặc điểm mang tính quy luật của triết lí âm dương Đó là: không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm; âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau - âm cực sinh dương, dương cực sinh âm
Triết lí âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người Từ hai cặp đối lập gốc “mẹ-cha” và “đất-trời”, người xưa dần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộc tính của âm dương
Trang 20Lối tư duy đó tạo nên ở người Đông Nam Á cổ đại một quan niệm lưỡng phân lưỡng hợp (= nhị nguyên) có phần chất phác và thô sơ về thế giới
Từ tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở các cặp đối lập rõ nét, người Đông Nam
Á xưa hẳn đã mở rộng ra để tìm cách xác lập bản chất âm dương cho những khái niệm, sự vật biệt lập Quá trình này cũng đã dẫn họ tới chỗ cảm nhận được tính hai mặt của âm dương
và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Ở người Việt Nam, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp bộc lộ đậm nét qua khuynh hướng cặp đôi: từ cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại Người Việt Nam còn nhận thức rõ về hai quy luật của triết lí âm
dương Những quan niệm dân gian kiểu: “Trong rủi có may, trong dở có hay, trong họa có
phúc”; “Chim sa, cá nhảy chớ mừng, Nhện sa, xà đón xin đừng có lo”… cũng là sự diễn đạt
cụ thể của quy luật “trong dương có âm” và “trong âm có dương” Những nhận thức dân gian: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất
nông nhì sĩ;… là sự diễn đạt cụ thể của quy luật “âm dương chuyển hóa”
1.3.2/ Nhận thức về con người:
Văn hóa Việt Nam nhìn nhận con người ở hai góc độ, vừa là con người tự nhiên, vừa
là con người xã hội Bởi lẽ cuộc sống nông nghiệp khiến con người gắn bó hơn với thiên nhiên, cho nên, con người và vũ trụ được xem là nằm trong một thể thống nhất, cho nên, vũ trụ làm sao con người làm vậy – con người là một “tiểu vũ trụ”, từ đó suy ra rằng các mô hình nhận thức đúng với vũ trụ sẽ đúng cho lĩnh vực con người Trong vũ trụ có âm dương, con người cũng vậy; vũ trụ cấu trúc theo ngũ hành, con người cũng thế Theo quan hệ trên dưới, từ ngực trở lên là phần dương, từ bụng trở xuống là phần âm; trán là dương, cằm là âm;
mu bàn tay, mu bàn chân là dương; lòng bàn tay, lòng bàn chân là âm Theo quan hệ trước sau, bụng là phần âm, lưng là phần dương; mặt trước cẳng chân là dương, bụng chân phía sau là âm Cứ như vậy, có thể phân biệt âm dương tới từng bộ phận cơ thể Xuất phát từ sự gắn bó mật thiết của con người nông nghiệp với thiên nhiên, từ tư tưởng coi con người và vũ trụ nằm trong một thể thống nhất, người xưa đã áp dụng các mô hình nhận thức về vũ trụ vào việc lí giải không chỉ cấu tạo và hoạt động của con người sinh vật, mà cả cho lĩnh vực con người xã hội Do nhìn thấy mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên (vũ trụ), người xưa không chỉ đưa những kết quả nhận thức về vũ trụ áp dụng vào xem xét con người, mà còn ngược lại, lấy con người làm trung tâm để xem xét đánh giá tự nhiên Chính nhờ lối tư duy âm dương từ trong máu thịt mà người Việt Nam có được triết lí sống quân bình: Trong
Trang 21cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm dương trong
cơ thể và hài hòa với môi trường thiên nhiên… Triết lí quân bình âm dương được vận dụng không chỉ cho người sống mà ngay cả cho người chết Chính triết lí quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt một khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh sống:
“Ra đi gặp vịt cũng lùa Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”
Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, mỗi chặng đường là một nét văn hóa riêng, một bản sắc riêng và nhận thức riêng về vai trò, vị trí của con người Nhưng nhìn chung, đó là những con người năng động, sáng tạo, cầu tiến,… Sự ra đời của trống đồng Đông Sơn, mở ra một thời đại văn hóa Đông Sơn, đã minh chứng cho điều đó Cái trống đồng và văn hóa Đông Sơn gợi cho chúng ta một xã hội đã đạt tới một trình độ phát triển về nhiều mặt Những bức tranh khắc trên mặt trống đồng gợi cho chúng ta một cuộc sống khá đa dạng về
cả vật chất lẫn tinh thần Một điều nữa, việc xây dựng thành Cổ Loa là một kì công về nhiều mặt Nó chứng tỏ đất nước vững vàng, nhiều ngành nghề đã có sự phát triển đáng kể, trong
đó, công lao lớn nhất là thuộc về con người – những con người sáng tạo và biết sáng tạo
Từ xưa đến nay, người Việt Nam rất nhạy cảm với cái mới, cái hay, cái cần thiết cho mình trong cuộc sống để phát triển Song, nhạy cảm với cái mới từ bốn phương hoàn toàn không có nghĩa là người Việt chấp nhận tất cả, không có sự phân biệt cái tốt và cái xấu, cái thích hợp và cái không thích hợp Đây cũng là một sự nhạy cảm Thậm chí, người Việt Nam còn có ý thức biến cái mình chấp nhận thành cái của mình, tiêu hóa nó và làm giàu thêm cái vốn sẵn có của dân tộc Chẳng hạn như, người Việt Nam tiếp thu một cách có chọn lọc nền văn hóa người Hán, nền văn hóa phương Tây,… và Việt hóa chúng đi cho phù hợp với tình hình đất nước, nhu cầu thời đại và bản sắc của dân tộc
Người Việt Nam vốn rất ham học và có nhiều người học giỏi, có khi là rất giỏi Nguyễn
Trãi nói “nước ta là một nước văn hiến”, điều đó có nghĩa là trọng học vấn, trọng người có
học, trọng nhân tài Bởi, đó là những của quý không gì thay thế được của một đất nước, một dân tộc
Đất nước Việt Nam trải qua hơn bốn ngàn năm giữ nước và dựng nước với biết bao biến cố, thăng trầm đã hun đúc nên truyền thống yêu nước tốt đẹp trong con người Việt Nam Từ bà Trưng, bà Triệu đến các thời đại Đinh, Lê, Lí, Trần, Lê,…đã đóng dấu son vào
Trang 22lịch sử nước nhà Những người anh hùng ấy không chỉ có lòng nồng nàn yêu nước mà còn
giương cao ngọn cờ nhân nghĩa - “đem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân để thay
cường bạo” Kế thừa truyền thống ấy của dân tộc, thế kỉ XX, người Việt Nam đã anh dũng
chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mĩ, làm nên những chiến công vang dội, góp phần vào công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới Lịch sử và văn hóa Việt Nam ghi nhận những tên tuổi vàng son trong các thời đại của dân tộc, từ Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi…, các vị minh quân như Lí Thái Tông, Lí Thánh Tông, Lí Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Nguyễn Huệ…, mãi cho đến thế kỉ XX với các tên tuổi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Hồ Chí Minh… và bên cạnh đó là những con người vô danh đã âm thầm hiến đời mình cho non sông, đất nước góp phần xây dựng nên một Việt Nam hùng cường, làm cho những thế hệ
đi sau có thể tự hào mà thốt lên:
“…Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
(Đất Nước – Nguyễn Đình Thi)
Thấm đẫm trong từng tấc đất ngày nay là biết bao xương máu của cha ông thuở xưa, những con người kiên cường bất khuất, khi có giặc xâm lăng thì sẵn sàng xả thân đem lại hòa bình cho đất nước; khi hòa bình thì không ngừng học tập, sáng tạo và sống an nhiên tự tại
Nhìn tổng quát, lịch sử lâu dài của Việt Nam trên một địa bàn địa lí ngày một rộng lớn, trải qua biết bao biến cố là sự chứng minh hùng hồn về sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, sự bền vững bên trong và sức đề kháng của nó để tự bảo vệ và phát triển không ngừng Mọi sự kiện lịch sử đều qua đi, song con người và cộng đồng người vẫn tồn tại và lớn lên với những giá trị văn hóa quý báu của mình Đây là di sản tốt đẹp nhất mà các thế hệ đi sau cần phải giữ gìn
1.3.3/ Khả năng ứng biến
GS Cao Xuân Huy khi bàn về bản lĩnh – bản sắc của dân tộc và văn hóa Việt Nam đã
đưa ra một hình ảnh – biểu tượng là Nước Sau khi phân tích biểu tượng này, GS Trần Quốc
Trang 23Vượng đã đưa ra khái niệm “khả năng ứng biến” (Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm,
NXB Văn học, Hà Nội – 2003)
Với cái nhìn sinh thái – nhân văn, một đặc điểm nổi bật của tự nhiên Việt Nam là tính chất bán đảo: nước Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, lại chiếm trọn phần đông của bán đảo ấy nên tính chất bán đảo càng nổi trội Nước Việt lại là một nước thiên về nông nghiệp, làm ruộng, trồng lúa thì mối bận tâm hàng đầu cũng là nước Do đó, tâm thức người Việt, từ rất sớm và xuyên suốt thời gian không thể không bận lòng vì nước Thế cho nên, người Việt không thể không học hỏi nơi nước cái tấm lòng cởi mở, hồn nhiên, thô phác, nguyên sơ
Nước là một chất lỏng, có đặc tính linh động và sinh động, không cố định cứng nhắc
nơi một hình dạng nào Nước không câu nệ hình thức, nhưng không vì thế mà đánh mất bản chất của mình
Dân gian ta có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” Tròn hay dài chỉ là hình thức, cái
chính là nước vẫn giữ được bản chất, nó không bị tha hóa, vong thân để trở thành chính cái bầu, chính vỏ quả bầu hay chính cái ống Cũng như người Việt cổ đại thời Đông Sơn đóng
khố và mặc váy, người Việt trung đại và cận đại mặc cái “quần ta” mà chính ra là cái quần
Tàu được thích nghi và cải biến, và người Việt hiện đại mặc “quần phăng”, quần Âu, thậm chí cả “quần bò” nữa,… ấy thế mà, về cơ bản, người Việt vẫn không đánh mất cái bản chất
ta, không vì sự thay đổi y phục mà bị Hoa hóa, Pháp hóa hay Mĩ hóa Quả có thật “người đẹp
vì lụa…” song giá trị nhân văn Việt Nam vẫn ở chỗ “cái nết đánh chết cái đẹp”
Mái nhà Việt Nam cũng trải qua biết bao lần biến đổi, từ mái nhà Đông Sơn – nhà sàn
mái võng cong hình thuyền được chạm khắc trên trống đồng đến nếp nhà tranh dựng trên nền đất bằng – mà mô hình đất nung của nó được tìm thấy nơi nhiều ngôi mộ cổ thời Bắc thuộc – đến những ngôi nhà cao tầng, những dinh thự và biệt thự kiểu Âu - Mĩ trong các đô thị Việt Nam hiện đại Song, tinh thần ngôn ngữ kiến trúc Việt Nam cổ truyền vẫn là cái hướng nhà
và giá trị đạo đức truyền thống của người Việt vẫn là “rộng nhà không bằng rộng bụng”, “ăn
hết nhiều chứ ở hết mấy” và cài chính là “đường ăn nết ở”, cái thế ứng xử về ăn và về ở, với
ta và với mọi người
Nước, qua quá trình nghiệm sinh và nội tâm hóa của người Việt Nam, có lòng đại lượng
khoan dung Nó thu nhận vào lòng tất cả nhưng cuối cùng vẫn giữ được bản chất riêng của
Trang 24nó Tự mình, nước biết gạn đục khơi trong như là người Việt Nam vậy Tiến sĩ H.R.Ferraye
cho rằng nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam là tính cách “không chối từ” của nó Thực ra, nó chỉ có một sự chối từ, đó là sự đồng hóa cưỡng bức Còn lại, nó tìm cách dung hòa và hội
nhập mọi sở đắc văn hóa, của Hoa, của Ấn, của Nam đảo, của Âu-Tây… cả ngôn từ và kĩ thuật, cả tôn giáo và nghệ thuật,… Giới ngôn ngữ học có thể tìm được trong từ vựng tiếng Việt những từ vựng cơ bản gốc Môn-Khơme, những từ liên quan đến nghề nông trồng lúa gốc Tày-Thái, những từ liên quan đến cá mú và biển khơi hải đảo gốc Mã-Lai, những từ gốc Tạng-Miến, biết bao từ vựng triết lí và đạo lí gốc Hoa, từ của Phật giáo gốc Ấn, từ kĩ thuật học hiện đại gốc Âu Tây Nhưng tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, duyên dáng và trong sáng Ngắm nhìn dòng chảy, người Việt Nam không thấy gì mềm mại như nước, nó vấp phải bao nhiêu vật cản song vẫn tự tìm lấy đường đi về biển Dõi theo suốt chiều dài lịch sử, biết bao nhiêu đế chế, thực dân, đế quốc đã muốn cản ngăn sự phát triển của Việt Nam Nhưng
Việt Nam có câu “nước chảy đá mòn” Hàng ngàn năm nay, người Việt Nam ta biết lấy nhu
để thắng cương, yếu để chống mạnh, ít để địch nhiều… và chính đó là bản sắc Việt Nam Giữa lúc vận nước nghìn cân treo sợi tóc đầu năm 1946, Bác Hồ đi Tây trao lại tờ cẩm nang
“dĩ bất biến, ứng vạn biến” Yếu tố quan trọng là con người, là tấm lòng trung trinh bất biến:
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ”
Luận về bản sắc văn hóa Việt Nam, một học giả Mĩ ví Việt Nam như một cây gậy nhìn
bề ngoài thấy phủ một lớp sơn tây (sơn dầu) mỏng, cạo lớp sơn ấy đi vẫn còn thấy phủ một lớp sơn (sơn then, sơn mài) có phần dày hơn, song cạo tiếp lớp sơn tàu ấy nữa, thì lộ ra cốt lõi gậy tre đực Việt Nam Cây tre và gậy tre là biểu tượng của Việt Nam cổ truyền Từ cây tre thời Phù Đổng Thiên Vương đánh tan giặc Ân cứu nước đến cây gậy tầm vông thời đại
Hồ Chí Minh:
“Thù nầy ghi nhớ còn sâu
Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què”
Tre không chỉ có thể uốn, hun làm gậy cứng, mà còn có thể chẻ ra đan nón ba tầm, làm
lạt Mà lạt mềm buộc chặt Lại một khía cạnh triết lí nữa về cương nhu, về khả năng ứng biến trước mọi hoàn cảnh
Trang 25Người ta bảo văn hóa là một hệ chuẩn mực, mật mã, giá trị, biểu tượng Với con người,
không chỉ có một “thế giới thực” mà còn có thể sáng tạo ra một “thế giới các biểu tượng” mô
phỏng rồi dẫn dắt trở lại hiện thực Một biểu tượng kì vĩ đặc sắc của dân tộc và văn hóa Việt
Nam là con rồng Không biết từ bao giờ rồng đã xuất hiện trong ý thức của người Việt và trở thành biểu tượng của cội nguồn dân tộc: Con Rồng cháu Tiên, con Hồng cháu Lạc… Kinh
thành Đại Việt thời phục hưng văn hóa (Lí – Trần) được mang một cái tên độc đáo không hề
có ở bất cứ nơi đâu: Thành phố rồng bay (Thăng Long) Và văn hóa Đại Việt thời đó cũng
được mệnh danh là văn hóa Thăng Long
Rồng, cũng như nước, có đặc trưng nổi bật là khả năng ứng biến như người Việt Nam
vậy Nó có nhiều trạng thái, hay đúng hơn là thích nghi với nhiều trạng thái: ở dưới nước, nó giữ bầu nước của thiên hạ; nó có thể xuất hiện trên đất, trên đầm lầy như một điềm báo tốt đẹp; nó có thể bay cao trên trời, vùng vẫy trong mây gây mưa tưới nhuần đồng ruộng Nói theo triết lí âm dương thì cái thể (bản chất) và cái dụng (chức năng) của rồng có thể là âm (dưới nước) mà cũng có thể là dương (trên trời)
Rồng là loại giỏi thích nghi, rất huyền thoại mà cũng rất là thực Con Rồng cháu Tiên cũng là một dân tộc giỏi thích nghi, trải qua những thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ
nước, luôn luôn cố gắng thích nghi tối ưu và tối đa với tự nhiên trong làm ăn sinh sống (tùy
thời mà làm mùa, tùy thế đất và chất đất mà bố trí cây trồng,…), cũng như tìm cách thích
nghi với hoàn cảnh khi đánh giặc… Tất cả đã làm nên bản chất Việt Nam – khả năng ứng
biến linh hoạt và năng động
Trang 26Chương 2: THIỀN TÔNG VIỆT NAM VÀ THƠ THIỀN THỜI TRẦN
2.1/ Thiền tông Việt Nam và triều đại nhà Trần:
2.1.1/ Thiền tông Việt Nam:
Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, “Ðạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ
nguyên Tây lịch Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật Giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên
Vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, khuynh hướng Phật Giáo đại thừa đã nẩy nở tại Ấn Ðộ, và vào đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch, các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông Nam Ấn Ðộ dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo truyền bá vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật Đại thừa; chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị tăng sĩ đi theo với các thương thuyền về Ðông Nam Á Trung tâm Phật Giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn
Ðộ tới bằng đường biển, đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý Ðạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Ðộ truyền sang trực tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống”
Thiền học Việt Nam khởi đầu bằng Khương Tăng Hội vào đầu thế kỷ thứ ba Sách Cao
Tăng Truyện nói rằng ông đến Kiến Nghiệp thủ đô nước Ngô (nay là Nam Kinh) vào năm
Xích Ô thứ mười, tức là năm 247 Ông mất vào năm 280, niên hiệu Thái Khương nguyên niên đời nhà Tấn Như vậy ông đã ở trên đất Trung Hoa 33 năm Thiền học đối với Tăng Hội không phải chỉ là những phương pháp hành đạo mà còn có cả một căn bản triết học về tâm
học Tăng Hội định nghĩa “tâm” là "không có hình, không có tiếng, không có trước, không có
sau, thâm diệu, vi tế, không có tóc tơ hình thức: Phạm Thiên, Ðế Thích và tiên thánh cũng không thấy rõ được; những hạt giống của tâm khi thì ẩn khi thì hiện, cái này hóa sinh thành cái kia, người phàm không thể thấy được; đó gọi là ấm" Tăng Hội nói tiếp "người hành giả
đã chứng đắc được phép An Ban, thì tâm bừng sáng, dùng cái sáng ấy để quán chiếu thì không gì tối tăm mà không thấy " (tựa kinh An Ban Thủ Ý) Chính vì ảnh hưởng sâu đậm
của giáo lý không và chân như của Đại thừa mà Tăng Hội đã diễn tả về tâm như sau trong
bài kinh An Ban Thủ Ý: "Tâm không hình sắc, không có âm thanh, không có tiền hậu; tâm
thâm sâu vi tế không tóc tơ hình tướng, cho nên Phạm Thiên, Ðế Thích và các tiên thánh khác cũng không thể thấy được; kẻ phàm tục không thể thấy được sự hóa sinh từ hình thức
Trang 27này sang hình thức khác của các chủng tử khi thì minh hiển khi thì trầm mặc trong tâm Ðó gọi là "ấm" vậy” (Tâm vô hình vô thanh, vô hậu tiền, thâm vi tế hảo, hình vô ti phát, Phạm
Thích tiên thánh sở bất năng chiếu; minh mặc chủng tử, thử hóa sinh hồ bỉ, phi phàm sở đồ,
vị chi ấm giả) Trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý, Tăng Hội nói: "Tâm ấy thâm sâu và vi
diệu, không chút tóc tơ hình tướng cả đến Phạm Thiên, Ðế Thích và các bậc tiên thánh cũng không thấy rõ được sự hóa sinh của các hạt giống ẩn tàng trong ấy " Như vậy là Tăng Hội
đã chịu ảnh hưởng không những tư tưởng Bát Nhã mà còn tư tưởng duy thức nữa Mà tư
tưởng duy thức ở thời này chưa được hệ thống hóa: chính kinh Lăng Già (Lankavatara) mà
Bồ Ðề Ðạt Ma trao cho Huệ Khả (vào khoảng đầu thế kỷ thứ sáu) cũng chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ thứ tư
Theo Thiền Uyển Tập Anh, “Thiền Sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi là dòng Bà La Môn, gốc ở
Nam Thiên Trúc, vân du qua Trung Hoa; vào năm Nhâm ngọ (562) niên hiệu Ðại Kiến thứ sáu nhà Trần thì đến Trường An Vào năm 574 sau khi Phật giáo bị Võ Ðế đàn áp, ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam)” “Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã nghe lời tổ Tăng Xán xuống phương Nam hành đạo và do đó đã dịch các kinh Tượng Ðầu và Nghiệp Báo Sai Biệt tại chùa Chế Chi ở Quảng Châu và sau khi tới chùa Pháp Vân ở làng Cổ Châu, Long Biên, mới bắt đầu dịch
kinh Tổng Trì Thiền Uyển Tập Anh nói rõ rằng ông đến chùa Pháp Vân vào tháng Ba năm
Giáp dần (594) thì tịch Thời gian ông lưu trú tại Việt Nam như vậy là mười bốn năm.Thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi bắt nguồn từ tư tưởng Bát Nhã, Tam Luận và Hoa Nghiêm, có khuynh hướng thiên vọng về Mật Giáo, theo tinh thần bất lập văn tự nhưng vẫn chú trọng sự nghiên cứu kinh luận, chủ trương thực tại siêu việt không hữu, chú trọng việc truyền thụ tâm
ấn, có khuynh hướng nhập thế giúp dân và biết sử dụng các thuật phong thủy sấm vĩ” Thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi hầu như chỉ chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Ấn Ðộ mà ít chịu ảnh hưởng Trung Hoa Ðây là một thiền phái rất có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật Giáo vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ
Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa
sang Việt Nam từ đó một thiền phái khác được thành lập mang tên thiền phái Vô Ngôn Thông Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, họ Trịnh, xuất gia tu học tại chùa Song Lâm ở
Vũ Châu Tính tình trầm lặng, ít nói, nhưng lại thông minh, cái gì cũng mau biểu biết cho
nên thời nhân đã tặng hiệu là Vô Ngôn Thông Sách Cao tăng truyền đăng lục (Tam tập) của
Trang 28Thông Tuệ đời Tống gọi ông là Thông thiền sư Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đường Ðường (năm 820) Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu qua Việt Nam, ở lại chùa Kiến Sơ, làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) Ðây là một ngôi chùa mới được thành lập, ở đó có một vị tăng tên là Ðức Lập trú trì Vô Ngôn Thông cư trú chùa Kiến Sơ, ngoài hai bữa cơm cháo thì dành hết thì giờ vào việc thiền tọa, xây mặt vào vách, không nói năng gì Nhiều năm trôi qua như thế, ít ai để ý đến ông: duy chỉ có Lập Ðức thấy phong thái đặc biệt của ông hết lòng chăm sóc Do sự gần gũi này mà Lập Ðức tiếp nhận được tông chỉ màu nhiệm của Vô Ngôn Thông, được ông đổi tên cho là Cảm Thành và truyền cho tâm pháp Ông tịch vào năm 826; thời gian cư trú tại chùa Kiến Sơ chỉ có sáu năm
Như vậy, Thiền tông Việt Nam là sự hòa hợp của ba nguồn du nhập: Phật giáo Đại thừa
có xu hướng Thiền học từ Nam Ấn Độ trực tiếp truyền sang khoảng thế kỉ thứ II; Thiền tông
Ấn Độ qua Trung Quốc truyền sang với Tì-ni-đa-lưu-chi ở thế kỉ VI; và Thiền tông Trung Hoa từ Trung Quốc truyền sang với Vô Ngôn Thông ở thế kỉ thứ IX
Đến đầu thế kỉ XI, triều đại nhà Lý lên nắm quyền đất nước đã thật sự mở ra một kỷ nguyên Đại Việt hùng mạnh và phát triển rực rỡ kéo dài đến gần cuối triều Trần - thế kỉ XIV Phát huy truyền thống dân tộc, chưa đầy trăm năm sau ngày độc lập, nước ta đã ba lần đánh thắng quân Tống, rồi sau đó ba lần đẩy lùi đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh từng thôn tính gần trọn Châu Á và nửa Châu Âu Điều này đã làm cho cán cân ngoại giao giữa Đại Việt với phương Bắc luôn được giữ thế cân bằng Tốc độ phát triển này còn thấy ở lĩnh vực kinh tế, văn hóa… Nhưng quan trọng hơn cả là hình ảnh con người ở thời đại này, đó là những con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng và trong sáng tuyệt vời Họ được xem là tinh thần của thời đại mà đời sau khó có thể bắt gặp lại được Nhờ những con người đó mới có được thời
đại phong kiến cực thịnh có một không hai trong lịch sử dân tộc này
Bởi vậy, đây được xem là thời đại của sự phục hưng và tinh thần nhân văn cao đẹp Hàng loạt các tư tưởng phát triển nở rộ trong đó Thiền tông là một trào lưu tư tưởng có thể được xem là đặc biệt phát triển so với Tịnh độ tông, Mật tông - ba tông phái chính ở Việt
Nam trong giai đoạn này
Thiền Tông Việt Nam thời Lý Trần là sự dung hợp giữa Thiền Tông Ấn Độ có pha lẫn ảnh hưởng Mật Tông, Tịnh độ tông cùng những tín ngưỡng dân gian bản địa với Thiền Tông Trung Hoa trong đó có ảnh hưởng của Nho và Lão Trang để phù hợp thực tiễn và mang tính đại chúng Bên cạnh đó, nó vẫn mang những tư tưởng chỉ có ở Việt Nam trong những điều
Trang 29kiện sống của riêng mình như vừa nhập thế chống xâm lăng vừa tu tập thiền, chủ trương tam giáo đồng nguyên để vận dụng hết được những tinh hoa của mỗi hệ tư tưởng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đại chúng hóa Thiền tông để mọi người có thể tiếp thu
được lối sống nhân văn cao đẹp
Thiền Tông Lý Trần được đặt trong một hoàn cảnh đất nước đòi hỏi phải hành động tích cực, từ hành động chiến đấu chống ngoại xâm đến hành động giúp dân sống an vui, no
ấm Thời đại đó đòi hỏi người làm vua phải đưa đất nước tiến lên phía trước nếu không sẽ rơi vào tụt hậu và bị tiêu diệt, và các thiền gia cũng là những công dân Đại Việt càng ý thức được sâu sắc của ý chí “chân không diệu hữu” đầy tính biện chứng trong việc phát triển đất
nước và phát triển Thiền Tông Việt Nam đầy khí sắc
Quan điểm “phật tại tâm”, mỗi chúng sinh đều có “phật tính” với chủ trương mỗi con người tự quay về thắp lên ngọn đuốc của chính mình, không cần tìm bên ngoài đã tạo nên cho con người thời đại một bản lĩnh tự tin đặc biệt Bản lĩnh này là đỉnh cao của tinh thần nhân văn thời đại Và nhờ bản lĩnh tự tin này mà con người Đại Việt thời đó đã không sợ bất
cứ thế lực ngoại xâm dù có lớn mạnh đến thế nào và cũng không mặc cảm trước vị thế là một
đất nước nhỏ bé mới giành được độc lập, đang xây dựng một quốc gia tự cường, tự chủ
Mặt khác tư tưởng dân chủ, nhân đạo truyền thống của dân tộc đã bắt gặp tinh thần bác
ái trên cơ sở cái nhìn bình đẳng vô sai biệt đối với vạn vật và tinh thần “vô ngã” của Phật giáo Thiền Tông Có “vô ngã” (quên đi cái cá nhân mình) mới thương dân tựa con mình như
Lý Thánh Tông, mới có thể “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình” như Trần Thái Tông, dễ dàng từ bỏ ngai vàng để nhường ngôi lại cho người em khi người này đến tuổi lớn khôn như Trần Minh Tông, làm tướng vì an nguy quốc gia sẵn sàng dẹp bỏ tự ái cá nhân, làm hòa với người từng hiềm khích như Trần Quốc Tuấn, làm bà hoàng - quyền thống lĩnh tam cung mà luôn giỡ đức, chăm nuôi yêu dấu coi các phi tần như con đẻ của mình như Bảo
Từ Thái hậu
Quả thật, tinh thần “vô ngã” của Phật giáo Thiền Tông đã đem lại những phẩm chất thanh cao cho con người thời đại: Nhân ái, bao dung, cởi mở và tự tin, làm việc tận tụy hết
mình vì dân, vì nước nhưng vô cầu, vô ngại, coi công danh phú quý tựa phù vân…
Bên cạnh những nét riêng như đã nói, Phật giáo Thiền Tông Lí Trần còn mang những tôn chỉ chung của Thiền Tông đó là “Phá chấp” (cởi bỏ mọi sự vướng mắc và câu chấp, phân
Trang 30biệt “nhị nguyên”), “Đốn ngộ” (kiến tính bằng con đường trực giác, ngay tức khắc), Tâm truyền (truyền giảng trực tiếp từ tâm đến tâm, không thông qua ngôn ngữ, kinh sách) Điều
này được cô đúc trong bài kệ sau :
“Giáo ngoại biệt truyền,
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm, Kiến tính thành phật.”
Dịch nghĩa:
Đứng ngoài mọi giáo lý, có cách truyền đạo riêng biệt
Không dựa vào chữ nghĩa, sách vở
Chỉ thẳng vào lòng người
Để thấy được tự tính là thành Phật – tức bậc giác ngộ
Với tôn chỉ truyền đạo như vậy, Thiền Tông thật sự đã làm cho con người trở nên thanh cao hơn, biết tự phản tỉnh bằng nội lực chính mình để trở thành nguời giác ngộ, đạt đạo Tuy nhiên, chủ trương này của Thiền Tông cũng đã ít nhiều làm hạn chế đi một nền văn chương đáng lẽ phong phú hơn nhiều Bởi các bài thơ, kệ do các nhà sư làm ra chỉ để nói lên chỗ sở đắc nhất, rất ít ỏi về ngôn từ, thường truyền đạt lại lúc sắp tịch
Sang đời Trần nổi bật sự xuất hiện của phái Thiền Trúc Lâm – một Thiền phái Việt Nam Những vị tổ của Thiền phái này đã dám từ bỏ ngôi cao tìm về với đạo Chẳng phải là
họ muốn được yên ổn cho bản thân, tìm quên hay là trốn đời, lánh tục mà họ muốn tìm con đường giải thoát cho chúng sinh Đó là các vị vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, ngay trong lúc đất nước yên ổn, thái bình đã lên Yên Tử để tìm con đường tu chứng Các vị vua này xem ngôi vua như là “chiếc giày rách” có thể vứt bỏ bất kì lúc nào Trần Thái Tông, ông
vua đầu nhà Trần cũng đồng thời là nhà Thiền học lỗi lạc với trước tác Khóa hư lục chứa
những tư tưởng nền tảng cho Thiền tông Việt Nam về sau Đặc biệt, Trần Nhân Tông tức Điều Ngự giác hoàng hay Trúc Lâm đầu đà là người chính thức khai sáng và là đệ nhất tổ của Thiền phái Trúc Lâm Tuệ Trung thượng sĩ, thầy học của Trúc Lâm sơ tổ, một thiền gia với tư tưởng đặc biệt phóng khoáng, mới mẻ, có thể xem như đại biểu cho Thiền phong Việt Nam đời Trần Thiền tông đời Trần kế thừa Thiền tông đời Lí, dung hòa cả Thiền và Tịnh
Trang 31độ, cả đốn ngộ và tiệm ngộ; truyền đạo vừa bằng công án hiểm hóc vừa bằng sự diễn giảng
tỏ rõ và chí thiết phần nào đi ra ngoài truyền thống “vô ngôn” của Thiền
Phật giáo thời Trần khác hẳn Phật giáo các thời khác ở chỗ các vị vua cũng chính là các Phật tử, thậm chí tự đứng ra thành lập giáo hội Phật giáo thống nhất trong cả nước Điều đó
có nghĩa là các vị vua đã rất có ý thức chọn Phật giáo làm quốc giáo cho dân tộc mình, thấy
từ hệ tư tưởng này có sự phù hợp với tâm lí, đạo lí con người Đại Việt và những yếu tố đó có thể làm cho dân tộc Đại Việt phát triển khởi sắc, lớn mạnh không thua kém các nước lân bang
2.1.2/ Triều đại nhà Trần:
Là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam kéo dài 175 năm, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý Thời gian đầu, dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, Đại Việt phát triển thịnh vượng và đầy khí sắc nhưng từ giữa đời Trần trở đi tình hình chính sự ngày càng sa sút, vua chỉ lo ăn chơi, quan lại lộng quyền;
và triều đại chấm dứt khi vua Thiếu Đế, mới có 5 tuổi, bị ép thoái vị vào năm 1400 để
nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng là 175 năm
Đại Việt ở vào thời Trần là một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ và thống nhất Đấu tranh chống kẻ thù xâm lược; đấu tranh chống mọi sự chia rẽ nội bộ nhằm sớm đạt được một
sự thống nhất, đoàn kết các lực lượng dân tộc để tạo nên một sức mạnh hùng hậu là yêu cầu bức xúc của thời đại Chính vì thế mà mới có một Hội nghị Bình Than (1282), Hội nghị Diên Hồng (1285) với tiếng hô đồng thanh vang dội non sông “quyết đánh”, để làm nên những chiến công lừng lẫy với ba lần quét sạch quân xâm lược Nguyên Mông
Đây còn là thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước Trong vòng ba mươi năm (1258 – 1288) đất nước liên tục ba lần bị ngoại xâm Kinh thành Thăng Long ba lần bị giặc chiếm đóng và tàn phá Chiến tranh vừa kết thúc hòa bình vừa lập lại, triều đình đã động viên nhân dân phục hồi kinh tế, phát triển văn hóa một cách toàn diện trên cơ sở tinh thần độc lập mạnh mẽ và một ý thức tự hào dân tộc sâu sắc Chữ Nôm thời này đã được sử dụng để sáng tác – một biểu hiện của ý thức độc lập dân tộc Kho tàng thần thoại và truyện cổ dân gian cũng đã được sưu tầm, tập hợp thành sách Việc học hành thi cử, so với thời Lí, giờ đây đã đi vào quy củ và được chính quy hóa Nhà nước đã mở các khoa thi theo định kì và đặt ra các học vị chính thức trong thi cử
Trang 32Nhà Trần bắt đầu xây dựng và củng cố chính quyền So với thời Lí thì xã hội lúc này phát triển hơn Chính quyền vững vàng, năng động đã tạo ra sự thống nhất và ổn định cho đất nước trong một thời gian khá dài Chế độ thái thượng hoàng góp phần hạn chế sự độc đoán của vua đương quyền Bộ máy hành chính theo xu hướng tập trung quyền lực vào tay triều đình Tình trạng cát cứ ngày càng bị thu hẹp Đại Việt thực sự trở thành một quốc gia vững mạnh, giành được thế chủ động trên mặt trận ngoại giao đối với các nước lân bang, đặc biệt là Trung Hoa
Về kinh tế, Dưới thời Trần đã xuất hiện những sở hữu đất đai rất lớn, đó là những điền trang của quý tộc và quan lại Nhà Trần khuyến khích việc khẩn hoang, đặt ra chức Đồn điền chánh sứ và phó sứ để phụ trách việc khẩn hoang Vua Trần Thánh Tông chủ trương cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu tập dân nghèo đi khai khẩn các vùng đất ven biển Nhờ vậy mà những điền trang hoặc thái ấp rộng lớn đã xuất hiện Như thái ấp của Trần Hưng Đạo
ở Nam Định hoặc điền trang của nhà sư Pháp Loa, đệ nhị tổ phái thiền Trúc Lâm Nhà sư này có đến khoảng 15.000 đệ tử, 1000 tá điền và gần 2000 mẫu ruộng
Công việc đê điều cũng được các vua đầu đời Trần chăm sóc, các chức Hà đê phó chánh sứ được đặt ra dưới triều vua Trần Thái Tông đã đưa công việc bảo vệ đê điều vào quy
củ Năm 1244, đê Đĩnh Nhĩ (đê Quai Vạc) được đắp dọc theo hai bên bờ sông Hồng, ngăn được nước lũ cho các đồn điền ven sông Nhà Trần còn ra lệnh bồi thường cho nông dân nếu
đê đắp lấn vào ruộng của dân Hàng năm, vào tháng giêng quan Hà đê phải đốc thúc việc bồi đắp các đê đập cho đến mùa hè thì phải xong Vào mùa mưa lở, quan phải thân hành đi kiểm tra tình hình đê điều và khi hữu sự thì bất phân giàu nghèo, già trẻ ai ai đều phải tham gia việc bảo vệ đê
Công thương nghiệp đã có những bước phát triển mới Kinh đô Thăng Long có vùng phụ cận, có chợ, có phố xá và các phường thủ công Buôn bán được mở rộng trao đổi với nước ngoài Hải cảng cho tàu buôn nước ngoài đến là Vân Đồn, các tàu buôn từ Trung Quốc
và các nước Đông Nam á tấp nập ra vào thương cảng này
Trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông, nền kinh tế nước nhà bị chựng lại Kinh thành Thăng Long bị quân thù chiếm đóng ba lần Nhiều công trình kiến trúc bị thiêu hủy, nhiều làng xóm bị phá hoại Sau chiến tranh, nền kinh tế được phục hồi nhanh chóng Kinh thành được xây dựng lại, chùa chiền mọc lên
Trang 33Văn hóa thời Trần khởi sắc ở nhiều mặt và đã lưu lại nhiều nét riêng của thời đại Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng đời sống con người thời này rất mạnh mẽ Đạo Phật với một hệ thống chùa chiền, sư sãi rộng lớn khắp cả nước đã góp phần không nhỏ trong việc củng cố ý thức đoàn kết dân tộc Thế lực, vị trí của các nhà sư trong xã hội này rất lớn Các nhà tu hành theo phái Thiền tông không những có những hiểu biết về Phật, mà các kiến thức khác cũng rất uyên bác Đối với nhân dân, thiền sư vừa là thầy dạy học, thầy thuốc, vừa là những người coi sóc về đời sống tinh thần
Vua Trần Thái Tông là một nhà nghiên cứu uyên thâm về Phật học, khi làm Thái Thượng hoàng, đã chú tâm nghiên cứu lý thuyết nhà Phật và theo một số học giả ông là tác
giả của tác phẩm cảo luận Thiền học "Khóa hư lục" Tác phẩm "Khóa hư lục" vẫn còn lưu
truyền cho đến ngày nay và đã được dịch nhiều lần ra chữ Quốc ngữ Trong tác phẩm này nêu lên thuyết tu hành là để diệt khổ chứ không phải vất bỏ cuộc đời để đi tu
Người sáng lập ra phái Trúc Lâm Yên Tử, phái thiền của Việt Nam, là vị vua thứ ba của nhà Trần tức là Trần Nhân Tông Là người đã oanh liệt thống lĩnh toàn quân và dân đánh
thắng hai lần xâm lược của nhà Nguyên, đã áp dụng những chính sách "nới sức dân" khi còn
tại vị, đến khi nhường ngai vàng cho con trai, người đã đi chu du khắp nơi rồi lên ở tu hẳn trên núi Yên Tử, lấy pháp danh là Trúc Lâm đại đầu đà Trần Nhân Tông viết rất nhiều tác phẩm Phật học nhưng phần nhiều đã thất truyền Với lý thuyết đề cao thái độ hướng tâm, đi
tìm sự giác ngộ bằng cái tâm tĩnh lặng của chính mình – "Phật tại tâm" – chứ không cần gò
bó khư khư theo khuôn phép giáo điều nào, nhà vua đã để lại một ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển đạo Phật và thời Trần
Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm là Thiền sư Pháp Loa Nhân vật này có một uy quyền đặc biệt, có cả hàng ngàn đệ tử, sở hữu gần hai ngàn mẫu ruộng và đã cho đúc ba ngàn bức tượng Phật Đó là một hiện tượng không bình thường mà chỉ có thể giải thích được bằng
sự cực thịnh của Phật giáo
Có thể nói, dưới ảnh hưởng của các vị vua phật tử và các nhà thiền sư thời ấy, Phật giáo
đã đạt đến mức phát triển huy hoàng của một tôn giáo, nếu không muốn nói rằng Phật giáo
đã trở thành như quốc giáo vậy
Nhưng đến cuối đời Trần, Phật giáo bị lạm dụng và bị pha tạp nhiều yếu tố mê tín, dị đoan Đồng thời, số tăng sĩ thất học tăng lên, nhiều tệ nạn xảy ra Các vua Trần Hiển Tông
Trang 34và Trần Thuận Tông phải mở các kỳ thi sát hạch kiến thức Phật học cho họ, để bắt các tăng
sĩ thất học, giả danh, phải hoàn tục Như thế, vào cuối đời Trần, Phật giáo không những tự bản thân bị suy yếu đi mà còn bị Nho giáo tấn công để chiếm địa vị ưu thế trong xã hội
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của bộ máy Nhà nước, nhà Trần mở rộng nền giáo dục
và thi cử Nho học Tầng lớp nho sĩ xuất hiện trong xã hội ngày càng nhiều
Bên cạnh sự phong phú của đời sống tư tưởng, văn học nghệ thuật, giáo dục thi cử, sử học, y học, thiên văn học, quân sự, thời Trần cũng rất phát triển Nhìn chung, văn hóa thời Trần có một bước phát triển đáng kể so với thời Lí
2.2/ Tình hình văn học thời Trần và thơ Thiền thời Trần:
Nguyên của nhân dân ta được thể hiện khá đậm nét Tiêu biểu cho tinh thần ấy là “Hịch
tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn Bài hịch đã viết từ 700 năm trước nhưng tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" vẫn còn làm rung động bao người ngày nay
Ở thời Trần, khí thế tự hào dân tộc nổi lên trong các bài thơ chiến thắng:
“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình nghi nỗ lực Vạn cổ thử giang san”
(Tụng giá hoàn kinh sư – Trần Quang Khải)
(Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu)
Hay:
“Bạch đầu quân sĩ tại
Trang 35Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”
(Xuân nhật yết Chiêu lăng – Trần Nhân Tông)
(Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong)
Hay trong lúc tạm thời rút vào Thanh – Nghệ để bảo toàn lực lượng, Trần Nhân Tông
đã đề vào đuôi thuyền hai câu thơ sáng chói niềm tin:
“Cối kê cựu sự quân tu kí
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”
(Cối kê việc cũ ngươi nên nhớ Hoan Diễn còn kia chục vạn binh)
Có lẽ vị vua trẻ muốn nhắc nhở những người đang có ý lung lay, thất vọng rằng hãy tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc, thất bại không nản, gian nan không lùi Có như thế thì mới
hi vọng ca khúc khải hoàn Cái chí khí của dân tộc là ở chỗ đó Trong cuộc kháng chiến một mất một còn ấy, hình ảnh đoàn quân Đại Việt nổi trội lên với những chiến công hiển hách rất đáng tự hào:
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)
Năm 1288, đợt xâm lượt lần ba của quân Nguyên – Mông bị đánh bại Trong lễ hiến phù ở Chiêu Lăng, thấy các chân ngựa đá cũng lấm bùn, vua Trần Nhân Tông cảm khái mà ngâm hai câu thơ:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(Xã tắc hai phen bon ngựa đá Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Trang 36Cuộc kháng chiến gian khổ đã tôi luyện ý chí chiến đấu và tinh thần đoàn kết toàn dân
Vì vậy mà chiến thắng Hàm Tử - Chương Dương không phải là duy nhất Trần Hưng Đạo đã
đúc kết tinh thần quật cường dân tộc trong “Hịch tướng sĩ”:
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa, chỉ
căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu trăm thân này phơi ngoài nội
cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”
Bên cạnh những áng thơ văn nồng cháy nhiệt tình yêu nước, còn có phong trào làm thơ
ca ngợi cảnh thái bình, sự yên vui trong cuộc sống, thể hiện niềm lạc quan yêu đời của con người thời này Sau những ngày chiến tranh ác liệt, con người lại thấy lòng mình lắng xuống, dịu đi trước cảnh thôn quê yên ả, nên thơ:
“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lí quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền.”
(Thiên Trường vãn vọng – Trần Nhân Tông)
(Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng, Bóng chiều như có, thoắt dường không
Mục đồng thổi sáo trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)
Bên cạnh những bài thơ, phú ca ngợi sự giàu có, trù phú của đất nước còn có rất nhiều
bài mô tả cảnh đẹp của non sông gấm vóc như Dục Thúy Sơn, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, hay Linh Sơn tạp hứng của Chu An:
“Vạn điệp thương sơn thốc họa bình,
Tà dương đảo quải bán khê minh
Lục la kinh lí vô nhân đáo, Sơn hạc đề yên thời nhất thanh.”
(Núi xanh trùng điệp tựa như tranh, Khe núi chiều nay ráng nửa mình
Lối đi rậm rạp không người đến, Hạc núi kêu lành khi khói lên)
Trang 37Ngoài ra, văn học thời Trần còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Thiền tông
Nếu như nhà Lí có thơ nhà Phật với những bài kệ nổi tiếng thì ở thời Trần có Khóa hư lục của Trần Thái Tông, Đoạn sách lục của Pháp Loa, thơ, ca, phú, ngữ lục của Tuệ Trung, Trần
Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Những tác phẩm trên hoặc bàn về lẽ huyền diệu của đạo Phật, hoặc ca ngợi cảnh nhàn tản không màng công danh, không vướng bụi trần của những tâm hồn thanh thản:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền.”
(Cư trần lạc đạo phú – Trần Nhân Tông)
(Chốn trần vui đạo hãy tùy duyên, Đói bụng thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà sẵn báu tìm đâu nữa, Trước cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền)
Tư tưởng “vô ngã” cộng với tinh thần bình đẳng của đạo Phật đã tạo ra những con người tuy sống trong cuộc đời, làm việc đời mà vẫn trọn đạo, luôn tự tin vào chính mình, không bao giờ khiếp sợ hay cầu cạnh một thế lực siêu phàm nào
Nhắc đến văn học thời Trần cũng không thể không kể đến một thành tựu lớn là sự ra đời của văn học viết bằng chữ Nôm với những tác gia tiên phong là Nguyễn Thuyên, Trần Nhân Tông, Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Hồ Quý Ly… mà phần lớn tác phẩm, rất tiếc, đến nay
đã bị thất truyền Cuối thời Trần, tình hình đất nước tuy có xấu đi, nhưng vẫn không suy giảm cái hào khí của buổi ban đầu
Nhìn chung thơ văn thời Trần có tính đa diện hơn so với thời Lí cả về hình thức cũng như nội dung
2.2.2/ Những thành tựu nổi bật của thơ Thiền thời Trần:
Bộ phận không nhỏ trong văn học Lý Trần là thơ ca ảnh hưởng triết lý Phật giáo Thiền tông, thường gọi là thơ thiền Xét về mặt chức năng, thơ Thiền Lí Trần bao gồm hai loại: Loại thơ đích thực và loại kệ trình bày triết lí uyên áo của Phật giáo nhưng cũng đồng thời là những bài thơ về tự nhiên và cuộc sống đầy hình ảnh, màu sắc, âm thanh và giàu sắc thái
Trang 38nghệ thuật Có hiện tượng này là do tính chất giảng truyền đặc biệt của Thiền cũng như tính khoáng đạt của giáo lí Thiền Tông và của các nhà thơ Thiền Nói chung các thiền sư Lí Trần
đều tỏ ra rất sở trường trong việc hình tượng hóa các giáo lí của đạo Phật
Trong kinh phật thường dùng lối văn xuôi xen lẫn văn vần Sau một đoạn văn xuôi, dùng một bài văn vần để thuật lại và gói ghém ý đã nói Bài văn vần đó gọi là kệ Kệ chính là nơi tập trung những quan niệm, tín điều cơ bản của đạo Phật Do đó, kệ thường được trau chuốt để ngâm được, hát được cho dễ nhớ và truyền bá Cũng do đó kệ thường là bộ phận có
nhiều giá trị văn học nhất trong văn học Trong các sách Phật giáo Lí Trần như Thiền uyển
tập anh, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Khóa hư lục…còn ghi lại một số bài kệ khá hay
Thậm chí đôi bài, nếu chúng ta thêm vào một số đầu đề thì sẽ đúng là thơ chứ không phải là
kệ
Theo các nhà nghiên cứu, thơ Thiền Lí Trần có ba nội dung cơ bản Một là trực tiếp
giảng về yếu chỉ Thiền Tông, tức những bài kệ như đã nói ở trên, ví dụ Thị tịch của Ngộ Ân,
Cáo tật thị chúng của Mãn Giác… Hai là, gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền Tông qua
những hình ảnh trong thiên nhiên và cuộc sống hàng ngày với cách nói ẩn dụ, nghịch ngữ,
như các bài Tham đồ hiển quyết của Viên Chiếu, Ngữ lục vấn đáp môn hạ của Trần Thái Tông, Đối cơ của Tuệ Trung… Ba là, bày tỏ cảm xúc mang ý vị Thiền trước cái đẹp của
thiên nhiên, con người, cuộc sống, hoặc bày tỏ trạng thái tâm tư đã giác ngộ chân lý, miêu tả
cái đẹp vi diệu của thế giới bên trong con người, như các bài Kí Thanh Phong am tăng Đức
Sơn của Trần Thái Tông, Độc Phật sư đại minh lục hữu cảm của Trần Thánh Tông, Nguyệt
của Trần Nhân Tông, Giới am ngâm của Trần Minh Tông, Tảo thu của Huyền Quang…
2.2.2.1/ Con người thời Trần với nhiều dáng vẻ khác nhau:
Nhìn lại thơ Thiền đời Lí Trần, ta thấy vấn đề con người và nhân sinh quan Phật giáo là yếu tố đầu tiên và cũng là trung tâm trong thế giới nghệ thuật bài thơ Xoay quanh vấn đề
này có khá nhiều ý kiến Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thơ Thiền – Những nẻo đường tu chứng
và giải thoát, đề cập đến ý nghĩa sâu xa của tu chứng và giải thoát Theo đó, tác giả soi chiếu
con người trong thơ thiền từ góc độ “ngã”: “Ở các bài thơ – kệ của các Thiền sư tàng trữ
trong Thiền uyển tập anh, có khi họ đặt mình ở ngôi thứ nhất như ngộ ngã, kiến ngã, cầu ngã, vấn ngã, bỉ ngã, ngã bản, ngã hữu…hoặc có khi sử dụng hình thức chủ ngữ ẩn, song đều để chỉ các phương thức tu chứng và giải thoát của chính con người”… Tác giả Lê Thị
Ngọc Hạnh trong luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng giải thoát trong thơ thiền
Trang 39thời Lí Trần (2003) đã nêu ra các cặp đối sánh như sau: 1- Con người nhân văn/con người và
Phật tính thường hữu trong tâm, 2- Con người tự do cá nhân/con người vô ngã, 3 – Con
người trần tục/con người đời-đạo Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận Thơ thiền Việt
Nam – Những vấn đề nghệ thuật và tư tưởng, lại chia hình ảnh con người trong thơ thiền ra
làm hai loại lớn: Con người Phật giáo và con người cá nhân Trong con người Phật giáo có bốn tiểu loại: 1 – Con người tự do, 2- Con người vô ngã, 3 – Con người vô ngôn, 4 – Con
người vũ trụ Tác giả còn nhận định: “Con người thường được nói tới trong thơ Thiền là con
người siêu việt, có bản lĩnh, có nghị lực và sức mạnh, có thể tự mình giác ngộ chân lí”, “Thơ thiền quả là sự bộc lộ một cách kiên nhẫn và thuyết phục cho sức sống, cho khả năng sống, cho niềm vui sống của con người” Còn Đoàn Thị Thu Vân trong bài viết Vấn đề con người trong văn học thời đại Lí-Trần đã phân loại bốn biểu hiện của con người nghệ thuật trong
thơ Thiền Lý - Trần là: 1 – Con người tự do, 2- Con người vô ngã, 3 – Con người vô ý, 4 – Con người vô ngôn Như vậy, vấn đề con người là vấn đề quan trọng của thơ Thiền Lí Trần Đặc biệt, là ở thời Trần – thời đại hưng thịnh nhất với những con người tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc Con người thời Trần đã từng bước kế thừa toàn bộ sự nghiệp tư tưởng thời Lí
và phát triển lên một bước mới Trong khí thế hào hùng của văn hóa Đại Việt, hình ảnh con người đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng và trong sáng được xem như nét đẹp tiêu biểu của tinh thần thời đại
Bên cạnh những vần thơ hào hùng ca ngợi chiến thắng oanh liệt của nhà Trần, chúng ta bắt gặp những vần thơ mang đậm triết lí của nhà Phật chứa đựng những tư tưởng nhân văn sâu sắc về con người Đó là con người hướng nội để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp người,
sự tồn tại của đời người
Trần Thái Tông thì luôn trăn trở về thân phận con người, ngẫm nghiệm và cảm nhận con người bằng nhiều hình ảnh khác nhau Và suy cho cùng, theo nhà thơ thì con người sống
trên cõi trần là tạm bợ - “là cát bụi rồi cũng sẽ trở về cùng cát bụi” Từ đó, nhà thơ cảm
thương cho số kiếp con người, khuyên con người đừng vì sự hữu hạn của đời người mà sống hoài, sống phí Cần ý thức được thế giới thực tại là vô thường, đầy biến động và không ngừng thay đổi, hiểu được quy luật tự nhiên của trời đất, nói như Tuệ Trung:
“Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh
Đông lưu phó hải khởi hồi ba”
(Thế thái hư huyễn - Tuệ Trung)
Trang 40(Mặt trăng phương tây đã chìm xuống bầu không thì
bóng trăng khó quay trở lại Dòng nước chảy về đông đã ra tới biển thì sóng nước
há có thể trở về?)
Con người thời này, do đó, biết vượt khỏi cái chấp vào không hay có để đạt đến một
cuộc sống bình dị, ý nghĩa, tránh lãng phí cuộc đời vào những điều vô bổ Từ đó, có thể mặc
sức tung hoành mà không sợ rơi vào có hoặc không như Tuệ Trung Thượng sĩ trong Phật
tâm ca:
“Hành diệc thiền, tọa diệc thiền
Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên”
(Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền Trong lửa lò hồng một đóa sen) Đóa sen này là biểu tượng cho cái gì hằng thường bất diệt, vượt lên trên luật sinh diệt của cõi trần Lò lửa gợi cho chúng ta nghĩ đến cái lò tạo hóa – nơi nhào nặn sinh hóa ra vạn vật Như vậy, cái tâm của con người đã giác ngộ là hư không tịch tĩnh nên không bụi nào bám được cũng như không có lửa nào thiêu đốt được nó Nó đã hòa đồng cùng với bản thể, không sinh không diệt – người đạt đạo có thể tự tại an nhiên trong bất kì hoàn cảnh nào, không còn phụ thuộc hay sợ hãi về điều gì
Trần Thánh Tông thì nói về sự thể nghiệm chân lí cuộc đời của chính bản thân mình:
“Tứ thập niên dư nhất phiến thành,
Lao quan khiêu xuất vạn trùng quynh
Động như không cốc phong xao hưởng, Tĩnh nhược hàn đàm nguyệt lậu minh
Cú lý ngũ huyền thân thấu đắc,
Lộ đầu thập tự nhậm tung hoành
Hoặc nhân vấn ngã hà tiêu tức, Vân tại thanh thiên, thủy tại bình.”
(Độc “Phật sự đại minh lục” hữu cảm - Trần Thánh Tông)
(Hơn bốn mươi năm đã tu vẹn được một tấm lòng,
Đã nhảy ra khỏi vạn tầng cửa tù ngục