1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

160 1,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả Dương Thu Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Hữu Tá
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG THU THỦY

QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRẦN HỮU TÁ

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại đã phát triển qua một thế kỷ với nhiều thành tựu to lớn Các thành tựu về nghiên cứu văn học sử Việt Nam đã được nhắc tới trong các bộ lịch sử văn học cũng như trong các cuốn sách chuyên khảo của cá nhân hoặc tập thể tác giả kể từ đầu thế kỷ XX đến nay Trong các cuốn sách đó, chúng ta thấy các tác giả đã cố gắng đánh giá và tổng kết các thành tựu của văn học nước nhà cả về mặt sáng tác lẫn nghiên cứu Những thành tựu về nghiên cứu như các quan điểm nghệ thuật, các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu, đã được tổng kết xen lẫn với các thành tựu về sáng tác trong cùng

giai đoạn, cùng một thời kỳ văn học Những bộ sách lịch sử văn học như Lược thảo lịch sử

văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Văn học Việt Nam (1900 - 1945) (1999) do

Phan Cự Đệ chủ biên, Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1976), Văn học Việt Nam giai

đoạn 1930 - 1945 (1981), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Những vấn đề lịch sử và lý luận)

(2004), của các tập thể tác giả, và một số cuốn sách khác như bộ sách Lược khảo văn học (1963, 1968) của Nguyễn Văn Trung, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, bộ sách Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng, Văn học sử

thời kháng Pháp 1858 - 1945 (1972) của Lê Văn Siêu, đều có đề cập ít nhiều đến thành

tựu của hoạt động nghiên cứu văn học bên cạnh các thành tựu của sáng tác văn học đầu thế

kỷ XX

Tuy nhiên, việc tổng kết riêng về lĩnh vực nghiên cứu văn học, đặc biệt là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng Những cuốn sách tổng kết riêng về lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung và đối với giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX nói riêng hầu như rất hiếm Không thoả mãn với những thành tựu của lĩnh vực nghiên cứu văn học phần lớn mới chỉ được nhắc đến bên cạnh những thành tựu về sáng tác trong các cuốn lịch sử văn học, chúng tôi cho rằng chỉ có việc nghiên cứu chuyên biệt để tổng kết riêng các thành tựu nghiên cứu văn học thì mới đánh giá được thỏa đáng hoạt động của lĩnh vực này

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” để thực hiện luận án nhằm đáp ứng phần nào mối quan

tâm về quá trình hiện đại hóa và sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu văn học trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Nghiên cứu đề tài “Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX”, chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích sau:

- Đánh giá một cách khách quan, khoa học những thành tựu và hạn chế của quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

- Nêu lên những đóng góp của hoạt động nghiên cứu văn học trong thành tựu chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

- Rút ra những bài học kinh nghiệm về quá trình hiện đại hoá văn học nhằm vận dụng vào công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay

3 Lịch sử vấn đề

Ngành nghiên cứu văn học Việt Nam thời trung đại chủ yếu thiên về xu hướng sưu tầm, bình điểm Xu hướng này mang tính chất của tiếp nhận cảm tính nhiều hơn là tư duy khoa học Chính vì vậy, mặc dù xu hướng này có ưu điểm là cung cấp cho ta những kiến thức đánh giá độc đáo về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật, nhưng nó chưa phác họa được một bức tranh văn học có hệ thống với những lý giải khoa học và biện chứng về quá trình phát triển của văn học Phải đến đầu thế kỷ XX, khi văn hoá Việt Nam có điều kiện được tiếp xúc với văn hoá phương Tây, các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam nhận thấy rằng: đổi mới phương pháp nghiên cứu văn học là một nhu cầu không thể thiếu được trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Họ bắt đầu tìm hiểu các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học của phương Tây để vận dụng vào Việt Nam Kết quả là chưa bao giờ nền văn học Việt Nam chuyển biến và phát triển mạnh mẽ như ở giai đoạn này Riêng hoạt động nghiên cứu văn học trong nửa đầu thế kỷ XX đã để lại một di sản khá phong phú và đa dạng Từ những bài nghiên cứu còn mang đậm dư âm của quan niệm cổ điển trong buổi đầu tiếp thu học thuật nước ngoài, đến những tác phẩm vận dụng phương pháp khoa học vào việc nghiên cứu các tác gia, tác phẩm, các giai đoạn văn học thời kỳ văn học…, các nhà nghiên cứu đã đóng góp không nhỏ vào quá trình hiện đại hóa văn học đương thời và đặt nền móng quan trọng cho hoạt động nghiên cứu văn học của giai đoạn sau này Tuy nhiên, cho đến nay, bên cạnh những thành tựu về sáng tác, lý luận, phê bình đang được giới nghiên cứu quan tâm, có thể nói, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về những thành tựu và hạn chế của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

Từ trước năm 1945, lĩnh vực nghiên cứu, phê bình cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu

đề cập đến Các vấn đề như quan điểm, phương pháp, thể loại, tác giả, tác phẩm đã được các

Trang 4

tác giả Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Thạch Lam, Kiều Thanh Quế, Diệu Anh Đinh Gia Trinh, Nguyễn Văn Tố… đem ra bàn bạc Toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn này đều được các nhà nghiên cứu gọi chung là: phê bình văn học Và như thế là xuất hiện một kiểu

“phê bình của phê bình” Trong Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, chúng ta thấy

tác giả đã có ý xếp riêng những nhà văn viết phê bình và nghiên cứu vào cùng một phần để đánh giá và phê bình các tác giả đó

Từ sau năm 1945 đến 1975, các bộ lịch sử văn học đều dành sự quan tâm khảo sát giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Bên cạnh phần nói về hoạt động sáng tác, các công trình đều có đề cập ít nhiều đến hoạt động nghiên cứu văn học Tuy vậy, các công trình phần lớn đều xem hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn này như là một hình thức của phê bình văn học Có thể kể những công trình tiêu biểu có đề cập đến hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học giai

đoạn nửa đầu thế kỷ XX như: Lược thảo văn học Việt Nam (tập 3, 1957, Nhóm Lê Quý Đôn soạn); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Nxb Phong trào Văn hóa, Sài Gòn, 1967) và Phê

bình văn học thế hệ 1932 - 1945 (Nxb Phong trào Văn hóa, Sài gòn, 2 tập, 1972 - 1975) của

Thanh Lãng; Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 1862 - 1945 (Nxb Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965) của Phạm Thế Ngũ, Lược khảo văn học: Nghiên cứu và phê bình văn học

(tập 3, Nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1968) của Nguyễn Văn Trung

Trong những công trình nêu trên, công trình Phê bình văn học thế hệ 1932-1945 của Thanh Lãng có tầm bao quát rộng hơn cả Trong tác phẩm này và một phần của Bảng lược

đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng đã phác họa tổng quát bức tranh nghiên cứu - phê bình

văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như: Đặc điểm của giai đoạn, Lý thuyết về phê bình,

Sự phân hóa của lực lượng cầm bút, Mười vụ án văn học, Sáu khuynh hướng phê bình; Giới thiệu và nhận định về 17 nhà phê bình Các công trình của Thanh Lãng có một đặc điểm chung là mang tính khảo cứu, mô tả và liệt kê sự kiện; cho nên chưa thể hiện rõ quá trình và những quy luật phát triển của ngành nghiên cứu văn học Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu

thế kỷ XX Đã thế, ở tập I của bộ sách Phê bình văn học thế hệ 1932, tác giả lại dành cả

chương II để phát biểu chung về phê bình văn học và giới thiệu một số trường phái phê bình của thế giới Sau đó, sang tập II, ông lại giới thiệu các trường phái của thế giới đã dẫn ở tập

I Vì vậy, ấn tượng tản mạn của bộ sách lại càng thể hiện rõ rệt Nhưng cái đáng quý của các công trình này là đã cung cấp một khối lượng tư liệu giá trị rất cần thiết cho các thế hệ nghiên cứu sau này

Trang 5

Tập 3 của bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1862 - 1945) của Phạm Thế Ngũ

là công trình biên khảo được viết một cách nghiêm túc về tình hình văn học trong khoảng thời gian từ 1862 đến 1945 Trong công trình này, Phạm Thế Ngũ chủ yếu đề cập đến thành tựu về sáng tác văn học Tuy vậy, ông cũng có dành một số trang để giới thiệu hoạt động biên khảo và phê bình giai đoạn từ 1907 đến 1932, cũng như để đánh giá cao hoạt động phê bình giai đoạn 1940 - 1945

Trong Lược khảo văn học (tập 3) sau khi đề cập qua về sự ra đời của phê bình văn học,

Nguyễn Văn Trung đã mô hình hóa các dạng hoạt động của phê bình và các loại tác gia phê bình Theo tác giả, giai đoạn này có năm quan niệm phê bình: Phê bình ấn tượng chủ quan giáo điều (Đào Duy Anh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính), Phê bình giáo khoa (Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Dương Quảng Hàm…), Phê bình luân lý (Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Hải Triều, Mộng Sơn, Thái Phỉ, Lê Thanh…), Phê bình phân tâm học (Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu), Phê bình xã hội (Hải Triều, Nguyễn Bách Khoa)

Ngoài những công trình vừa nêu, rải rác trong cuốn sách Văn học sử thời kháng Pháp

1858 - 1945 (Nxb Trí Đăng, Sài Gòn, 1972), Lê Văn Siêu có đề cập đến vấn đề biên khảo và

phê bình, cũng như có giới thiệu qua các nhà phê bình, nghiên cứu văn học như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Trương Tửu

Sau 1975, các công trình nghiên cứu về hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học giai

đoạn nửa đầu thế kỷ XX ngày càng được quan tâm Bên cạnh các bộ Lịch sử văn học Việt

Nam giai đoạn 1900 - 1930 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1981) và Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 do Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung,

Hoàng Dung biên soạn chỉ dành một số trang viết khiêm tốn về hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học so với hoạt động sáng tác, thì gần đây, chúng ta thấy có nhiều bài viết, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến thành tựu nghiên cứu và phê bình của một số nhà nghiên cứu - phê bình đã sống qua cả hai thời kỳ Luận văn thạc sĩ của

Phạm Thị Mến: Những đóng góp về mặt lý luận phê bình của Hoài Thanh trước Cách mạng

tháng Tám (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2001); luận án tiến sĩ

của Trần Hạnh Mai: Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh (Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, Hà Nội, 2000, Nxb Giáo dục, 2003); luận văn thạc sĩ của Dương Thu Thuỷ: Đóng

góp về phê bình và nghiên cứu lịch sử văn học của Trần Thanh Mại (Trường Đại học Sư

Trang 6

phạm Huế, Huế, 2004); luận văn thạc sĩ của Hồ Vi Thường: Khuynh hướng phê bình mác -

xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) (Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí

Minh, 2005)… Nghiên cứu về lý luận, phê bình những thập niên đầu thế kỷ XX phải kể đến

cuốn sách Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiến (Nxb Giáo

dục, Hà Nội, 2001) Có một công trình được tác giả cho là “công trình chuyên biệt đầu tiên tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, toàn bộ hoạt động phê bình văn học thời trước

Cách mạng” mang tên: Lịch sử phê bình văn học Việt Nam (giai đoạn đầu thế kỷ XX đến

năm 1945) của Trần Thị Việt Trung (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002) Công

trình Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) của Nguyễn Thị Thanh

Xuân (Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) cũng ra đời vào năm 2004

Lịch sử phê bình văn học Việt Nam (Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945) của Trần

Thị Việt Trung là cuốn sách nghiên cứu về phê bình văn học giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 Trong công trình này, tác giả đã nêu lên những tiền đề về lịch sử xã hội và văn hoá của phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ đến năm 1945, trong đó có đề cập đến vai trò của hoạt động báo chí, đội ngũ những nhà văn tham gia hoạt động phê bình văn học Tác giả giới thiệu diện mạo và đặc điểm của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, dựng lên một số chân dung nhà phê bình chủ yếu ở giai đoạn 1930 - 1945 như

Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều Vì vậy, theo chúng tôi, cuốn sách Lịch sử

phê bình văn học Việt Nam (Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945) của Trần Thị Việt

Trung chủ yếu đánh giá về hoạt động phê bình văn học như mục đích của tác giả đặt ra chứ chưa thể hiện rõ toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn học

Trong công trình Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Trần Mạnh Tiến

đã khái quát một cách toàn diện và có hệ thống về tình hình, đặc điểm và thành tựu lý luận phê bình văn học 30 năm đầu thế kỷ Tác giả đã nêu lên một số đặc trưng của văn học, các mối quan hệ cơ bản của văn học, tác dụng của văn học; quan niệm về tác phẩm văn học và

đề cập đến hai thể loại chính là thơ và tiểu thuyết; về phê bình văn học, Trần Mạnh Tiến nêu

ra hai khuynh hướng trong phê bình văn học đầu thế kỷ là phê bình truyền thống và phê bình

mới, giới thiệu các quan điểm cũng như những đánh giá về cuộc tranh luận Truyện Kiều giữa

những năm 20 của thế kỷ XX Tóm lại, cuốn sách trên chỉ đề cập về lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

Cũng nghiên cứu về phê bình văn học, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong công trình Phê

bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) đã khái quát sự hình thành và phát

Trang 7

triển của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời giới thiệu 12 tác giả phê bình tiêu biểu ở giai đoạn này là: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Trương Tửu -

Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế Theo tác giả, phê bình văn

học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là một nền phê bình văn học “đã có cơ sở lý luận tuy chưa hoàn chỉnh”, phê bình văn học giai đoạn này đã phát triển một cách nhanh chóng về nhiều mặt, trong đó rõ nhất là ngôn ngữ phê bình Và cuốn sách cũng tập trung đề cập đến mảng phê bình của ngành nghiên cứu văn học

Gần đây, trong cuốn Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội, 2004), Nguyễn Văn Dân cũng đã đánh giá sự đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu của một số tác giả thời trước Cách mạng như Trần Thanh Mại, Hoài Thanh và Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa, đồng thời chỉ ra những hạn chế về quan điểm phương pháp luận

của họ Nhưng đây vốn là một cuốn sách bàn về Phương pháp luận nên tác giả chỉ chủ yếu

nêu lên những đóng góp cũng như những hạn chế về phương pháp nghiên cứu của các tác giả Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám để minh họa cho vấn đề “phương pháp luận nghiên cứu văn học” chứ chưa phải là cuốn sách chuyên sâu về hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn này

Cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lý luận và lịch sử (Nxb Giáo

dục, Hà Nội, 2004) do Phan Cự Đệ chủ biên chủ yếu đề cập đến lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX Nghiên cứu lý luận, phê bình thời kỳ nửa đầu thế kỷ, Trần Đình Sử phân chia làm hai giai đoạn: Lý luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1932; Lý luận, phê bình văn học 1932- 1945 Ở giai đoạn đầu, sau khi nêu diện mạo chung của đời sống lý luận, phê bình văn học ba mươi năm đầu thế kỷ; cuộc tranh luận văn học đầu tiên mở

đầu thế kỷ: Tranh luận Truyện Kiều; tác giả đã giới thiệu những nhà nghiên cứu, phê bình

văn học đầu tiên gồm: Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Võ Liêm Sơn Sang giai đoạn từ 1932 đến 1945, Trần Đình Sử cho rằng đặc điểm chủ yếu của giai đoạn này là giai đoạn hình thành

tư tưởng mới; phủ nhận tư tưởng cũ, nổ ra nhiều cuộc tranh luận quan trọng, và đây cũng là giai đoạn hình thành lý luận văn học như là một “thể loại mới” xưa nay chưa từng có và đồng thời xuất hiện những nhà lý luận, phê bình văn học chuyên nghiệp Trần Đình Sử chia

ra sáu thể loại phê bình chủ yếu ở giai đoạn này gồm: thể bút chiến, thể phê bình tác giả, thể danh nhân truyện ký, thể phê bình khoa học hay nghiên cứu chuyên đề, thể loại bình chú, bình văn, thể loại văn học sử Ông phân chia thế hệ các nhà lý luận, phê bình văn học giai

Trang 8

đoạn 1932 - 1945 theo bốn khuynh hướng: các nhà phê bình có xu hướng tổng kết (Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan); các nhà phê bình mác-xít (Hải Triều, Đặng Thai Mai); các nhà phê bình, nghiên cứu văn học theo phương pháp khoa học (Trần Thanh Mại, Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa); các nhà văn học sử và biên khảo (Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế) Trong mỗi tác giả, Trần Đình Sử có giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu, kèm theo vài lời nhận định hết sức ngắn gọn

Chuyên luận Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên đã giới thiệu 27 bài viết về hoạt động lý luận, phê bình nửa đầu thế kỷ của các tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài, Cao Kim Lan, Trịnh Bá Đĩnh, Tôn Thảo Miên, Nguyễn Đăng Điệp, Đinh Thị Minh Hằng Cuốn sách ngoài phần mở đầu (Khái quát: Động lực lớn của lý luận - phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX) và phần kết luận (Sự phát triển tiếp nối của lý luận, phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX đến nay) có ba chương Chương một và chương hai, nghiên cứu về sự phát triển của lý luận và phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Chương

ba giới thiệu mười tác gia lý luận, phê bình văn học tiêu biểu gồm: Phan Khôi, Thiếu Sơn, Hải Triều, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trương Chính, Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa,

Lê Thanh, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai Tóm lại, nội dung chính của cuốn sách là nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945

Ngoài các cuốn sách nói trên, ta còn có thể tìm gặp những ý kiến nhận xét, đánh giá về từng tác gia, hay từng tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn này trên nhiều sách, bài báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu, nhà văn có uy tín Tuy nhiên, hầu như chưa có một cuốn sách nào tập trung khảo sát và tổng kết về quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Đây vẫn còn là một lĩnh vực cần phải bổ khuyết, và

đề tài Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX của chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp cho công việc tổng kết này

4 Giới hạn của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các công trình nghiên

cứu văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có độ lùi thời gian nhất định của các nhà nghiên cứu văn học chuyên nghiệp hoặc không chuyên Trong đó, luận án tập trung chủ yếu vào sự hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX qua những thành tựu chủ yếu, qua các phương pháp nghiên cứu và nguyên nhân dẫn đến những thành tựu đó Những vấn đề khác không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án Với yêu cầu

Trang 9

nhằm vào sự hiện đại hoá, chúng tôi sẽ tập trung vào những công trình nghiên cứu tiêu biểu,

có đóng góp về mặt đổi mới trong quan điểm lý thuyết và phương pháp thực hành

4.2 Phạm vi nghiên cứu: phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định chỉ tập trung nghiên cứu

những yếu tố nổi trội đã góp phần làm nên quá trình hiện đại hóa trong hoạt động nghiên cứu

văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX (từ năm 1900 đến năm 1945); không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các tác giả và tác phẩm xuất hiện ở giai đoạn này mà chỉ giới hạn ở phạm

vi những tác phẩm tiêu biểu nhất của những tác giả có những đóng góp cụ thể trong hoạt

động nghiên cứu văn học giai đoạn này

4.3 Giới thuyết một số khái niệm

4.3.1 Khái niệm nghiên cứu văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nghiên cứu văn học còn gọi là khoa văn học hoặc

khoa học về văn học, là khoa học nghiên cứu các quy luật và hiện tượng trong sự tồn tại và

phát triển của văn học Từ điển văn học (Bộ mới - xuất bản năm 2004) định nghĩa: Nghiên

cứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn mà đối tượng nghiên cứu là

nghệ thuật ngôn từ (văn học)

Nghiên cứu văn học, theo truyền thống, bao gồm ba bộ môn chính: Lý luận văn học, Lịch sử văn học, Phê bình văn học Trong đó, Lý luận văn học nghiên cứu những quy luật

chung của cấu trúc và sự phát triển văn học; Lịch sử văn học (còn gọi là văn học sử) lấy đối

tượng nghiên cứu là văn học quá khứ, khảo sát nó như một quá trình, hoặc khảo sát một

trong số các thời đoạn của quá trình đó; Phê bình văn học chú ý đến trạng thái hiện tại của

văn học đương thời, nó cũng chú ý lý giải văn học quá khứ từ quan điểm những vấn đề xã

hội và nghệ thuật hiện thời Ở trình độ phát triển cao và tính chuyên môn sâu, nghiên cứu

văn học là tên gọi chung cho nhiều bộ môn nghiên cứu cụ thể, tương đối độc lập, tiếp cận

cùng một đối tượng nghiên cứu là văn học từ những góc độ khác nhau

Căn cứ vào những nội hàm khái niệm vừa nêu, chúng ta thấy rằng phê bình văn học và

nghiên cứu văn học là hai bộ phận có mối quan hệ gần gũi nhưng là hai bộ phận khác nhau Phê bình văn học có tính chất khen chê những tác phẩm mang tính thời sự, kịp thời; trong

khi nghiên cứu văn học nhìn một cách toàn diện, thấy được bản chất bên trong và ngoài của đối tượng thường là đã ổn định Từ phê bình văn học chuyển sang nghiên cứu văn học chỉ là một bước đơn giản Chẳng hạn: Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, Vũ Ngọc Phan trong

Nhà văn hiện đại, nghiên cứu về những nhà văn, nhà thơ đương thời vừa có chất phê bình

nhưng giá trị nghiên cứu vẫn rõ nét vì chất khái quát của người viết Nghiên cứu văn học và

Trang 10

phê bình văn học đều phải lấy lý luận làm nền Sự phát triển mạnh mẽ của nghiên cứu nằm chung trong hệ thống nghiên cứu, lý luận, phê bình chứng tỏ nền văn học dân tộc đã phát triển tới mức toàn diện

Trên cơ sở tích hợp và tiếp biến những khái niệm nghiên cứu văn học trong các công trình đã nêu trên, chúng tôi quan niệm: hoạt động nghiên cứu văn học là quá trình xem xét,

tìm hiểu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các tác gia, tác phẩm, hiện tượng văn học quá khứ hoặc đương thời đã có độ lùi thời gian nhất định (kể cả văn học trong nước và nước ngoài)

4.3.2 Khái niệm “Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học”

Đến đầu thế kỷ XX, hiện đại hóa văn học đã trở thành một yêu cầu tất yếu của lịch sử văn học Việt Nam Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục … lúc này đã hội

đủ các yếu tố nội sinh và ngoại nhập, tạo nên các nhân tố thúc đẩy văn học phát triển theo hướng hiện đại hóa

Nói đến văn học hiện đại là nói đến văn học phát triển trong môi trường kinh tế tư bản chủ nghĩa, có sự hình thành giai cấp tư sản, giai cấp vô sản … Như vậy, khái niệm hiện đại hóa xuất hiện và được sử dụng khi con người bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản và ở mỗi lĩnh vực nó mang một nội hàm khái niệm khác nhau Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà: Hiện đại hóa trong chừng mực nhất định, nó đồng nghĩa với khái niệm phương Tây hóa, là quá trình thu nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây để có những đặc điểm của văn học phương Tây [192, tr.40]

Khái niệm hiện đại hóa văn học ở đây được sử dụng theo nghĩa phân biệt với khái niệm văn học trung đại Đó là quá trình chuyển từ loại hình văn học cũ sang loại hình văn học mới hiện đại hơn, nghĩa là, khi mà nền văn học phong kiến không còn thích ứng nữa thì yêu cầu của xã hội là phải đổi mới để thực hiện chức năng phản ánh hiện thực một cách đầy đủ và hiệu quả hơn Văn học hiện đại hóa là văn học đã thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu phản ánh xã hội mới và đáp ứng thị hiếu mới của công chúng thời điểm ấy

Như vậy, hiện đại hóa là quá trình tất yếu của một nền văn học “Nó xuất phát từ nhu cầu sáng tạo nội tại của văn học, từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi của công chúng

và từ kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc” [192, tr.40]

Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 tất nhiên

không phải một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình diễn ra liên tục không ngừng Ở

Trang 11

giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ (từ 1900 đến 1930) là bước chuẩn bị cho sự chuyển mình của văn học, trong đó mười năm cuối của giai đoạn này, công cuộc hiện đại hóa văn học đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận Giai đoạn từ 1930 đến 1945, quá trình hiện đại hóa nền văn học được đẩy lên một bước mới với nhiều cuộc cách tân văn học sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là sự ra đời các thể loại văn học mới Đến đây, sự đổi mới đã thể hiện một cách toàn diện, triệt để Nền văn học Việt Nam lúc này, nhìn tổng thể, đã mang tính hiện đại từ nội dung đến hình thức, không còn lạc điệu trong văn học của thế giới hiện đại

Đặt vào bối cảnh chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn này,

theo chúng tôi: hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học là sự thay đổi về tư duy của các

nhà nghiên cứu để từ đó có sự đổi mới trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá đối tượng một cách khách quan, khoa học và toàn

diện Đó là một quá trình diễn ra liên tục, không ngừng, khiến văn học nói chung và hoạt

động nghiên cứu văn học nói riêng dần dần mang những đặc điểm và tính chất riêng của văn học đương thời so với văn học thời trung đại

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Đây là đề tài nghiên cứu một giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam, nhằm tổng kết và đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học, do vậy, phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận án này là phương pháp nghiên cứu văn học sử Sử dụng phương pháp này đòi hỏi người thực hiện phải đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với môi trường văn hóa, xã hội, lịch sử giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời phải xem xét và khảo sát chúng trong sự vận động chung của văn học Việt Nam trong thời điểm nghiên cứu

5.2 Ngoài phương pháp chủ yếu nói trên, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp khác như sau:

- Phương pháp hệ thống loại hình được dùng để hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu, từ đó xác định vị trí và ý nghĩa của các công trình nghiên cứu Qua đó, có thể phân ra các xu hướng, trường phái để đánh giá những đóng góp của chúng về mặt lý thuyết và phương pháp

- Phương pháp lịch sử loại hình: phương pháp này cho phép chúng tôi nghiên cứu so sánh các đối tượng cùng loại trong lịch đại và đồng đại để thấy được tính hiện đại của chúng

Trang 12

Đồng thời phối hợp nhiều thao tác như: phân tích, tổng hợp, phân loại…

6 Đóng góp của luận án: hoàn thành đề tài, chúng tôi dự kiến sẽ có những đóng góp như sau:

6.1 Trình bày một bức tranh tổng thể về hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, với những điểm nhấn về tiến trình hiện đại hoá hoạt động này

6.2 Đánh giá thành tựu và hạn chế của công tác nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế

kỷ XX; rút ra được những kinh nghiệm cần thiết về phương pháp đổi mới nghiên cứu văn học; đóng góp và gợi ý cho việc soạn thảo lịch sử văn học Việt Nam hiện đại

6.3 Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy về lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 13

Chương 1 - NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM

1.1 Những tiền đề lịch sử - xã hội

1.1.1 Quá trình xâm lăng của thực dân Pháp và những chuyển biến về thể chế chính trị

1.1.1.1 Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo hiệu cuộc xâm

lược chính thức nước ta Tính từ khi đồn Kỳ Hòa thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông (1862) rồi chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), cho đến hòa ước Patenôtre (1884) thì Việt Nam hoàn toàn mất hết độc lập chủ quyền Từ đó đã dẫn đến nhiều chuyển biến cực kỳ quan trọng trong xã hội: nước Việt Nam phong kiến nông nghiệp trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến với hai tầng áp bức: thực dân Pháp và vua quan, địa chủ phong kiến Chính biến cố trọng đại này đã làm biến đổi sâu xa mọi phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật, của đất nước ta

Ngay sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nam Kỳ đã không ngừng đứng lên chống Pháp, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực… Trong hoàn cảnh bấy giờ, tuyệt đại đa số nhân dân không hợp tác với chính quyền địch Có nhiều nơi, người dân tự tay đốt nhà cửa, vườn tược Những người không có điều kiện đi theo nghĩa quân thì họ cũng “tị địa”

ra khỏi “đất quỷ” (vùng đất bị Pháp chiếm - Dương Thu Thủy)

Tuy nhiên, các phong trào kháng Pháp lần lượt đi vào bế tắc, thất bại Năm 1896, với

sự tuẫn tiết của Phan Đình Phùng, phong trào chống Pháp dưới lá cờ Cần Vương rầm rộ suốt mấy mươi năm nổ ra ở hầu hết các tỉnh đã chấm dứt Như vậy đến lúc này, về căn bản, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc “bình định” Việt Nam về mặt quân sự, và trên cơ sở đó,

họ đã có thể bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung

Chính sách khai thác thuộc địa về kinh tế được thực hiện một cách triệt để như độc chiếm thị trường, mua rẻ nông phẩm; độc quyền ngoại thương và các ngành kinh doanh quan trọng (khai mỏ, giao thông, làm muối, nấu rượu, thuốc phiện,…) Độc quyền ngân hàng đầu tư vào các ngành có lợi cho việc vơ vét tài nguyên, hàng hóa để xuất khẩu

Với mục đích biến Việt Nam trở thành một bộ phận của “Pháp quốc hải ngoại”, thực dân Pháp đã đầu tư với tốc độ nhanh, qui mô lớn vào các ngành kinh tế ở Việt Nam Theo thống kê: chỉ trong vòng 6 năm (1924 - 1929), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là

Trang 14

vào Việt Nam, lên khoảng 4 tỷ phrăng (Lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục năm 2008) Trong đó, vốn đầu tư vào nông nghiệp, chủ yếu là cho đồn điền cao su Diện tích trồng cao

su được mở rộng, nhiều đồn điền cao su xuất hiện như: đồn điền cao su Cam Tiêm, đồn điền cao su Phú Riềng Pháp còn mở rộng một số ngành công nghiệp như: dệt, muối, xay sát… Các nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy cưa Bến Thủy … lần lượt ra đời Nhà máy dệt Nam Định được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng cấp để trở thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn quốc với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối Tư bản Pháp rất coi trọng đến việc khai thác mỏ, trước hết là than Công

ty than Hòn Gai thành lập năm 1888, một năm sau tổng sản lượng than ở Đông Dương đã lên tới 260.000 tấn Từ năm 1890 đến 1904 các công trình khai thác than càng được đẩy mạnh Ngoài than, các cơ sở khai thác thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), bạc ở Ngân Sơn (Bắc Cạn), vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam)… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến

độ khai thác Giao thông vận tải, đã được thực dân Pháp đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay

được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật Ngoài các tuyến đường sắt ở miền Nam, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt như Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm Đường

bộ cũng tiếp tục được xây dựng Nếu như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại Vì thế, cùng với các hải cảng đã xây dựng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất như cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến Thủy Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để

Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng quyền thống trị về chính trị để duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ của chế độ phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột sưu thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt để thực hiện công cuộc khai thác tại thuộc địa và xuất khẩu lao động sang Pháp Kết quả của các chính sách ấy là nền kinh tế cổ xưa bị phân giải, lưu thông hàng hóa phát triển, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản Thực dân Pháp biến Việt Nam từ một nước đang theo chế độ “quân chủ” thành một nước theo chế độ “thực dân nửa phong kiến”

1.1.1.2 Sau khi đặt xong bộ máy chính quyền ở Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu thực

hiện âm mưu và chính sách Pháp hóa đối với dân tộc ta Với chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia Việt Nam ra làm ba kỳ riêng biệt (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) Mỗi kỳ có một

Trang 15

chính sách luật lệ riêng, trong đó Nam Kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với những nét riêng về chính trị, kinh tế, xã hội rộng, thoáng hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ Pháp tăng cường tuyển mộ lính và khai thác kinh tế thuộc địa, lập nhiều đồn điền ở Nam Bộ, xây dựng cảng Sài Gòn, mở đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ, lập nhiều công xưởng như đóng tàu, nhà máy xay lúa ở Sài Gòn, Chợ Lớn… Những cơ sở kinh tế ban đầu này khiến nền kinh tế Nam Kỳ phát triển mạnh mẽ, tạo độ chênh lớn giữa ba miền Bắc - Trung - Nam

Cùng với những chính sách về kinh tế, thực dân Pháp còn tiến hành nhiều chủ trương

và biện pháp chính trị vừa mang tính chất cải lương vừa thể hiện sự giả dối bịp bợm, nhằm mục đích củng cố quyền vị thống trị của chúng Chẳng hạn: thành lập các Viện dân biểu Bắc

Kỳ, Trung Kỳ Các phòng thương mại và canh nông của những thành phố lớn được mở rộng

cho người Việt tham gia Năm 1928, thực dân Pháp lập ra Đại hội đồng Kinh tế Tài chính

Đông Dương với tư cách là cơ quan tư vấn về vấn đề kinh tế, tài chính trong Liên bang Đông

Dương Ở khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành "cải lương hương chính” nhằm từng bước can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó Mặc dù, trên nguyên tắc, công cuộc “cải lương hương chính” vẫn chấp nhận cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng trong một chừng mực nào đó thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu can thiệp trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ máy làng xã Song song đó, chúng đẩy mạnh chính sách văn hóa ngu dân và tư tưởng nô dịch đối với quần chúng nhân dân Chúng mở nhiều nhà tù hơn trường học, chúng bắt học sinh từ 18 tuổi trở lên ở các trường tư thục phải đóng thuế thân để hạn chế việc học tập của con em tầng lớp nghèo Chính quyền thực dân cấm nhân dân ta đọc và lưu hành những tác phẩm có nội dung, tư tưởng tiến bộ Trước thế chiến thứ II, do phong trào đấu tranh của quần chúng, chế

độ kiểm duyệt của thực dân Pháp có lúc được nới lỏng, nhưng từ khi đại chiến thế giới lần thứ II sắp bùng nổ, lệnh kiểm duyệt của chúng trở nên gắt gao hơn Mặt khác, chúng cho du nhập những sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy của phương Tây vào Việt Nam Chúng lại không ngừng rêu rao quan điểm: thực dân Pháp sang Việt Nam với sứ mệnh đem ngọn đuốc văn minh của nước mẹ Đại Pháp sang truyền bá cho nhân dân Việt Nam Và để đạt được mục đích, chúng chủ trương mị dân như: chính sách “Pháp - Việt đề huề”; phát động các phong trào “Âu hoá”, “Vui vẻ trẻ trung” ở khắp các thành thị để mê hoặc và ru ngủ lớp thanh

niên mới lớn Song song với các chủ trương mị dân này, thực dân Pháp còn xây dựng và thiết

lập hệ thống giáo dục, trong đó, tiếng Pháp đã lấn át tiếng mẹ đẻ Mục đích của chương trình

Trang 16

này là nhằm đào tạo ra những con người phục vụ cho chính quyền thực dân Tuy nhiên, trong các trường Pháp - Việt, học sinh, sinh viên Việt Nam cũng có điều kiện tiếp thu được một phần nền văn hóa tiến bộ của phương Tây

Có thể thấy rằng, với công cuộc khai thác về kinh tế, việc áp đặt về chính trị, thực hiện chính sách ngu dân cực kỳ thâm độc; chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành khiến đời sống nhân dân ta, đặc biệt là nông dân lâm vào cơ cực Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, đối với tình hình trì trệ lâu đời của xã hội phong kiến Việt Nam, quá trình khai thác thuộc địa, việc thiết lập hệ thống chính trị mới của thực dân Pháp ở nước ta về khách quan đã mang đến những biến đổi lớn lao làm cho mọi hoạt động của xã hội Việt Nam đều thay đổi trong

đó có văn học nghệ thuật nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng

1.1.2 Những biến động lớn của xã hội

Như đã trình bày, chính quá trình khai thác thuộc địa ngày một mở rộng cùng với việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số đô thị lớn như Hải Phòng, Vinh,

Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… đã làm cho sự phân hóa giai cấp diễn ra vô cùng sâu sắc

và nhanh chóng làm xuất hiện nhiều giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội Trước hết là sự xuất hiện của giai cấp tư sản Đây là những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất có qui mô lớn, nhỏ khác nhau tùy theo sự thành đạt Do điều kiện kinh doanh, giai cấp tư sản Việt Nam tự phân thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc

Tư sản mại bản là những nhà đại lý cho tư bản nước ngoài, những tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản Pháp hoặc có quan hệ buôn bán với nước ngoài Tư sản dân tộc có mặt trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế Lực lượng này đáng lẽ ra phải đóng vai trò “ông chủ” mới của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, nhưng thực tế vừa mới ra đời đã bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế yếu Vì thế, để tồn tại và phát triển, bộ phận này thường liên kết với nhau trong kinh doanh và do đó nhìn chung họ có tinh thần dân tộc

Tiếp đến là sự hình thành giai cấp công nhân Đây chính là con đẻ của giai cấp nông dân nhưng đã bị tước đoạt hết ruộng đất, bị bần cùng hóa, phải từ giã ruộng vườn kéo nhau

ra thành thị để bán sức lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng Dù bị bóc lột nặng nề nhưng về cơ bản, họ có thu nhập ổn định nên có nhu cầu hưởng thụ văn hóa Đó cũng là lý do để hoạt động văn học đổi mới và phát triển

Cuối cùng là sự xuất hiện của giai cấp tiểu tư sản Chính quá trình khai thác thuộc địa,

sự xuất hiện hệ thống thành thị kiểu phương Tây và nền giáo dục mới ra đời đã làm cho lực

Trang 17

lượng này ngày càng trở nên đông đảo Trong khi đó, ở nông thôn giai cấp địa chủ không những không bị thu hẹp mà trái lại được phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa Và sau lũy tre xanh vẫn là một vòng tròn khép kín, tù đọng đè nặng, làm cho đời sống của người nông dân sống nơi “bùn lầy nước đọng” ngày càng bị bần cùng hóa

Trong các giai cấp và tầng lớp mới xuất hiện này, có thể thấy, tầng lớp trí thức tiểu tư sản giữ một vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa nói chung và văn học nói riêng Tầng lớp này, tuy có hoàn cảnh xuất thân không giống nhau: trí thức (học sinh, sinh viên), tiểu thương (những người buôn bán nhỏ), thợ thủ công, nhưng về cơ bản, họ sống ở các đô thị, có nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi Họ có điều kiện để học hành, để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội Chính tầng lớp này và cuộc sống đô thị đã làm nảy sinh những nhu cầu mới về hưởng thụ văn hóa khác với nhu cầu của con người dưới chế độ phong kiến Họ cần cập nhật thông tin, vì thế báo chí ra đời; cần cập nhật tác phẩm vì thế xuất bản phát triển Văn học nghệ thuật trở thành hàng hóa, vì vậy xuất hiện ngành kinh doanh hàng hóa văn học bao gồm những người kinh doanh và viết văn Đời sống văn học hình thành nên một đội ngũ tác gia mới - những nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề và với nghề Chính họ là những người quyết định sự phát triển của nền văn học mới Từ đây: người ta quan niệm việc cầm bút viết văn như một chuyên môn của một số trí thức nhằm hướng đạo xã hội, phụng sự nghệ thuật, trong xã hội xuất hiện tầng lớp nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề viết văn, thậm chí “Vợ dại con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ một ngọn bút” (Giấc mộng con)

Nhìn chung, chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Paul Doumer và lần thứ hai của Albert Sarraut (trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918) là nhân tố chính làm chuyển biến sâu sắc cơ cấu xã hội Việt Nam Lúc bấy giờ, nền kinh tế phong kiến

bị phân giải, người nông dân bị bần cùng hoá Do quá trình khai thác thuộc địa ngày càng được đẩy mạnh nên từ Nam chí Bắc, những trung tâm kinh tế, văn hoá của xã hội thực dân nửa phong kiến đã mọc lên Sự ra đời của thành thị đã làm xuất hiện nhiều tầng lớp xã hội mới như: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, dân nghèo thành thị…), công nhân như đã nói ở trên Cùng với sự phát triển của các đô thị, số thị dân cũng tăng nhanh Trong quá trình sinh tồn, thị dân đã tạo ra một lối sống riêng, tập quán riêng, vừa kế thừa những giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng có những nét khác với lối sống của nông dân Hệ thống thành

Trang 18

thị phát triển, thị dân ngày càng đông đúc là những tiền đề, những điều kiện để tiếp nhận văn hóa phương Tây và thúc đẩy nền văn học nhanh chóng hiện đại hóa trong đó có hoạt động nghiên cứu văn học

1.2 Tiền đề văn hóa - văn học

1.2.1 Công cụ biểu đạt mới

Đầu thế kỷ XX, cùng với những biến đổi về lịch sử - xã hội, đời sống văn hoá cũng có những nét mới đáng kể Yếu tố đầu tiên quan trọng, tác động tích cực đến sự phát triển của văn học nói chung và hoạt động nghiên cứu văn học nói riêng giai đoạn này là sự phổ biến

chữ quốc ngữ

Như đã biết, chữ quốc ngữ là thứ chữ được các giáo sĩ phương Tây cùng các trí thức Việt Nam xây dựng từ thế kỷ XVII để ghi âm tiếng Việt với mục đích là truyền đạo Thiên Chúa Từ khi nước ta thành thuộc địa, chính quyền thực dân đã bỏ ra nhiều tiền của, công sức và cả biện pháp hành chính, kinh tế cưỡng bức nhân dân ta học chữ quốc ngữ Trong nghị định ngày 6 - 4 - 1878, thực dân Pháp đã đặt ra yêu cầu: “Kể từ ngày 1 - 1 - 1882 không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai trong tình trạng không viết được chữ quốc ngữ” [79,tr.33] Đồng thời, để khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, thực dân Pháp cũng đã dùng những chính sách đãi ngộ như: miễn thuế thân, miễn tạp dịch và thưởng hậu hĩnh đối với công chức, nhân viên, các quan tòa, sĩ quan phụ trách việc chỉ huy binh lính và dân chúng mọi địa hạt nếu họ tích cực học chữ quốc ngữ [79,tr.34] Mặt khác, thực dân Pháp cũng đã

“Không ngần ngại phát những trợ cấp lúc ban đầu từ 50 đến 100 quan cho những làng nào viết được các công văn bằng chữ quốc ngữ” (Thông tư ngày 28 - 10 - 1874) Ngoài ra, trong các trường Pháp - Việt, cùng với việc học tiếng Pháp là chính, thực dân Pháp còn bắt buộc học chữ quốc ngữ và chữ Hán Và trong kỳ thi Hương (1906), cũng có qui định một phần thi luận chữ Việt (quốc ngữ) Mục đích của người Pháp ở đây là muốn đem chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm, cách ly nhân dân Việt Nam khỏi truyền thống văn hoá dân tộc, cũng như khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, và trước mắt chặt đứt ảnh hưởng của giới sĩ phu

đối với nhân dân để dễ dàng thống trị nước ta

Đối với nhân dân ta, trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XIX, ngày càng có nhiều người hơn theo học chữ quốc ngữ, thế nhưng nhìn chung, thứ văn tự này vẫn ít được tín nhiệm, bởi nó

bị xem là thứ chữ của “quân cướp nước” nên không dễ dàng thay thế được chữ Hán - Nôm

Trang 19

Dù vậy, cùng với sự phát triển của đô thị và sự xuất hiện của nhiều tầng lớp xã hội mới, chữ quốc ngữ từng bước được công chúng làm quen và thực sự được thừa nhận vào thập niên đầu của thế kỷ XX Riêng đối với các sĩ phu Việt Nam, lúc đầu, họ xem chữ quốc ngữ là sản phẩm và công cụ cai trị của quân xâm lăng nên không tiếp nhận Đến đầu thế kỷ XX, các nhà Nho yêu nước và duy tân nhận rõ ưu thế dễ đọc, dễ viết của chữ quốc ngữ nên đã chuyển từ thái độ phản ứng sang nhiệt tình cổ động, hô hào học và dùng chữ quốc ngữ

“Trước hết phải học ngay quốc ngữ Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau;

Chữ ta, ta phải thuộc làu, Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài, Sẵn cơ sở để khai tâm trí

(Thơ Đông Kinh nghĩa thục)

hay “Một đằng thì mất mấy năm trời để đi học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn không có công hiệu, một đằng thì chỉ mất không tới sáu tháng là học ngay được văn tự của

tiếng mình Vậy thì không thể không theo chữ nước ta” (Văn minh tân học sách - 1904) Sự

truyền bá chữ quốc ngữ qua các phong trào Minh Tân (ở Nam Bộ), phong trào Đông Kinh nghĩa thục (ở Bắc Bộ) vào những năm 1907 - 1908 đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng khiến thứ chữ này dần dần được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong sự tiếp thu của nhiều tầng lớp nhân dân Ngay nhà Nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là người kiên quyết không hợp tác với Pháp nhưng lại có ý thức tiếp nhận chữ quốc ngữ khi đồng ý cho con gái là

Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh, sau này là chủ bút tờ Nữ giới chung - tờ báo nữ giới

đầu tiên tại Việt Nam, cũng là tờ báo có chủ trương truyền bá chữ quốc ngữ) học chữ quốc ngữ Các phong trào duy tân này là động lực của bước đầu hiện đại hóa văn học Việt Nam, không những trên hình thức mà cả trong chiều sâu tư tưởng của văn chương

Chữ quốc ngữ cũng ảnh hưởng tích cực và phần nào mang tính quyết định đến sự ra đời

và phát triển của nền văn xuôi nước ta Với sự phát triển nhanh chóng, chữ quốc ngữ đã khiến câu văn xuôi tiếng Việt có nhiều đổi mới, đồng thời việc sáng tác văn chương bằng quốc ngữ cũng giúp cho chữ quốc ngữ ngày càng diễn đạt tinh tế hơn cuộc sống, tâm tư tình cảm của con người Góp công đầu trong việc đổi mới này phải kể đến các học giả như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Trọng Quản ở miền Nam, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn ở miền Bắc Trong số này, người có công đầu tiên là Trương Vĩnh Ký (1837-1898) - nhà bác học biết nhiều thứ

Trang 20

tiếng nhưng vẫn dành tâm huyết cho việc phiên âm các văn bản văn chương cổ điển và biên

soạn văn học dân gian bằng chữ quốc ngữ như Truyện Kiều (1875), Đại Nam quốc sử diễn

ca (1887), Lục súc tranh công (1889), Phan Trần truyện (1889), Lục Vân Tiên truyện

(1889)

Có thể thấy rằng, sau hàng nghìn năm bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc và tiếp biến nền giáo dục khoa cử Trung Hoa, người Việt Nam đã mượn chữ Hán làm công cụ diễn đạt nhận thức cũng như tâm tư tình cảm của mình qua các trang viết (sáng tác, nghiên cứu, thi cử ) Tuy nhiên, chữ Hán chỉ được tiếp nhận bởi những tầng lớp quan lại trong hệ thống triều đình phong kiến Việt Nam, đại đa số người bình dân Việt Nam không thể tiếp cận được văn bản chữ Hán Đến khi ý thức độc lập dân tộc thực sự được khôi phục thì chữ Nôm ra đời, nhưng chữ Nôm lại dựa trên cơ sở của chữ Hán, và vì vậy, dù rất có ý thức độc lập tự chủ, chữ Nôm vẫn là một loại chữ khó học Chính vì thế, chữ quốc ngữ La-tinh đã thực sự trở thành một thứ chữ viết dễ học và dễ đọc Nó đã phát triển nhanh chóng và thật sự thuyết phục trước nhu cầu biết đọc và biết viết của người Việt Thông qua các nhà văn Tây học, chữ quốc ngữ đã thật sự trở thành công cụ diễn đạt hữu hiệu nhằm phản ánh cuộc sống và tâm tư, tình cảm con người Việt Nam, được sử dụng phổ biến và đưa văn học đến gần với người đọc Chính vì thế, nó trở thành một công cụ, một phương tiện quyết định để chuyển tải văn hóa, văn học phương Tây thâm nhập vào đời sống văn học Việt Nam, giúp văn học dân tộc từng bước tiệm cận với dòng chảy chung của văn chương thế giới Có thể khẳng định, chữ quốc ngữ La-tinh là một trong những nhân tố quyết định góp phần vào quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam nói chung và quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học nói riêng

1.2.2 Nền giáo dục mới

Năm 938, với chiến công hiển hách của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến Nền giáo dục phong kiến được hình thành và phát triển Trải qua 10 thế kỷ, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến qua các triều đại cơ bản là giống nhau Chẳng hạn: nội dung dạy và học từ lớp ở thôn xã đến các trường ở lộ,

phủ, kinh đô đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa; các triều đại Lý, Trần, Lê,

Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) về cơ bản là giống nhau… Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc … có danh tiếng cùng những thế hệ trí thức giữ vai

Trang 21

trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.Ngay khi nắm chính quyền ở Việt Nam, bên cạnh những hoạt động về chính trị và kinh tế, thực dân Pháp cũng chú ý đến việc truyền bá văn hóa Pháp, hạn chế ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong đời sống người dân Việt Nam Vì vậy, một trong những việc đầu tiên của người Pháp lúc này là phải thay thế nền giáo dục phong kiến bằng một hệ thống giáo dục mới nhằm phục vụ cho guồng máy cai trị Cho nên, khi vừa chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp lập tức khai tử nền giáo dục Nho học Kỳ thi Hương bị xóa bỏ ở Nam Kỳ sớm nhất (1864) Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm Ất Mão (1915),

và ở Huế năm Mậu Ngọ (1918) Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội cuối cùng vào năm Kỷ Mùi (1919) ở Huế.

Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ Trên tinh thần ấy, trước tiên thực dân Pháp dựng lên những cơ sở văn hóa để truyền bá chữ Pháp và thiết lập các trường đào tạo thông ngôn Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp

Khi xây dựng nền giáo dục mới nhằm thay thế dần lối học khoa cử của Nho gia, thực dân Pháp đã hướng giáo dục vào mục đích đào tạo lớp người thừa hành chính sách xâm lược của mình ở Việt Nam và cả Đông Dương, tiếp đến là truyền bá tư tưởng Pháp, và cuối cùng

là nhằm vào mục đích mị dân Để đạt được mục đích này, hệ thống giáo dục của thực dân

Pháp đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh cho phù hợp với thực tế ở đất nước thuộc địa Hệ thống giáo dục này được gọi là giáo dục Pháp - Việt Trong nền giáo dục Pháp - Việt, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính được dùng để trao đổi trong lớp học Chỉ ở ba lớp đầu cấp tiểu học là được dùng tiếng Việt, còn các lớp, bậc học sau đó, tiếng Việt chỉ còn được học như một phụ ngữ

Hệ thống giáo dục Pháp - Việt được chia làm hai phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp (đại học) Chương trình giáo dục phổ thông Pháp - Việt có ba bậc với 13 năm Bậc Tiểu học 6 năm Học hết chương trình tiểu học, học sinh được thi bằng Tiểu học yếu lược hay Sơ đẳng tiểu học Bậc trung học phổ thông 4 năm, học xong được thi bằng

Trang 22

Cao đẳng tiểu học (còn gọi là bằng Thành chung) Bậc Trung học chuyên khoa gồm 3 năm, học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú tài phần thứ nhất Có bằng Tú tài thứ nhất rồi, học xong năm thứ ba được thi lấy bằng Tú tài toàn phần

Sau khi có bằng Tú tài toàn phần, người học sẽ được thi tuyển vào các trường cao đẳng chuyên nghiệp (đại học) Pháp - Việt Nhưng, như đã trình bày, mục đích của thực dân Pháp

mở các trường Pháp - Việt là nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị của chúng,

vì vậy, hệ thống các trường được thành lập không nhiều và số lượng tuyển sinh hằng năm rất hạn chế Một số trường cao đẳng được thành lập lúc bấy giờ có thể kể như: Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Canh Nông, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Cao đẳng Y khoa Đông Dương (sau đổi thành Đại học Y khoa), Cao đẳng Luật (sau đó cũng đổi thành Đại học Luật) Và đây chính là những nơi đào tạo ra đội ngũ trí thức cấp cao, đưa nền học vấn Việt Nam lúc bấy giờ phát triển Trong các trường Pháp - Việt, họ đã được tiếp xúc trực tiếp với những tri thức văn hóa khoa học hiện đại của phương Tây, đặc biệt là của Pháp Hơn thế nữa,

họ đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc những tư tưởng mới về văn học, triết học và xã hội của phương Tây hiện đại Số lượng sinh viên, học sinh có bằng tú tài, tốt nghiệp cao đẳng, đại học ở các trường Pháp - Việt ngày càng đông Phần lớn trí thức Tây học đều hướng vào những nghề tương đối tự do như làm thầy giáo, làm báo, hoạt động khoa học kỹ thuật,… Trong số này, một số người đã đi vào con đường sáng tác văn chương và nghiên cứu văn học, trở thành một đội ngũ tác gia tân học thay thế dần đội ngũ tác gia cựu học, chẳng hạn:

Lê Thước, Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Dương Quảng Hàm (tốt nghiệp cao đẳng sư phạm), Phạm Huy Thông (tốt nghiệp đại học ở Paris), Phạm Quỳnh (tốt nghiệp Trường Thông ngôn), Huy Cận (tốt nghiệp Cao đẳng Canh nông), Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan,…(đều qua bậc tú tài) và tự nâng cao trình độ bằng con đường tự học

Trong quá trình học tập ở các trường Pháp - Việt, những trí thức Tây học đã được tiếp thu một khối lượng kiến thức cơ bản về lịch sử, văn hóa, văn học của các nước phương Tây, nhất là của Pháp, trong đó có cả các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vì thế trên phương diện lý thuyết họ là những người chịu ảnh hưởng rõ những lý thuyết nghiên cứu của phương Tây Chẳng hạn: rất dễ nhận thấy sự ảnh hưởng của phương pháp trực giác, phương pháp tiểu sử, phương pháp xã hội học, phương pháp xã hội học mác-xít…trong những công trình của các nhà nghiên cứu giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX như: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc

Phan, Trần Thanh Mại, Hải Triều, Đặng Thai Mai… Đặc biệt do việc sử dụng cuốn Lịch sử

văn học Pháp (1894) của Gustave Lanson (1857 - 1934) làm sách giáo khoa về văn học Pháp

Trang 23

trong các trường trung học Pháp - Việt đã khiến cho phương pháp lịch sử và so sánh mà Lanson áp dụng vào công việc nghiên cứu văn học, đã có một ảnh hưởng nổi bật ở Việt Nam Có thể nói, sự tiếp thu một cách nhanh nhạy có chọn lọc và vận dụng khá thành công những phương pháp nghiên cứu hiện đại của Phương Tây (từ phương pháp trực giác cho đến phương pháp xã hội học mác-xít) là một trong những điều kiện quan trọng dẫn đến quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học trong giai đoạn này

Tất nhiên, ai cũng nhận thức được rằng: việc đưa hệ thống giáo dục phương Tây vào Việt Nam là nhằm mục đích áp đặt nền giáo dục của chủ nghĩa thực dân trong âm mưu đồng hóa người Việt; song, khi mọi việc đã lùi về quá khứ, với cách nhìn nhận khách quan khoa học, có thể nói: chính nền giáo dục ấy đã góp phần chuyển tải những tri thức khoa học mọi mặt của phương Tây vào Việt Nam, đẩy lùi lối giáo dục nặng nề lý thuyết theo khuôn mẫu của nền giáo dục khuôn phép, khoa cử, quan phương thiếu sáng tạo dưới sự thống trị của những trang sách thánh hiền Người Việt có câu “trong họa có phúc”, có lẽ ở bình diện nhìn nhận này, phải công bằng mà nói rằng: nền giáo dục mới từ phương Tây áp đặt vào nước ta như một công cụ đồng hóa, trên thực tế đã trở thành một luồng gió mới giúp cho nền giáo dục dân tộc có điều kiện biến đổi và tiếp thu cả hệ thống lý thuyết và kiến thức khoa học cụ thể, để nhận thức và áp dụng những tri thức mới mẻ vào cuộc sống Riêng trong lĩnh vực văn học, nó đã góp phần vào việc biến đổi tư duy nghiên cứu văn học của thế hệ những trí thức trẻ

1.2.3 Nền văn học mới

Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc cả về tư tưởng, loại thể, chữ viết Lúc bấy giờ, văn học chính thống do nhà Nho viết, sinh hoạt văn chương chỉ thu hẹp trong giới trí thức Nho

sĩ Tác phẩm văn học cũng chưa được phổ biến rộng rãi mà chủ yếu là sáng tác cho cá nhân, bạn bè Viết văn chưa phải là một nghề, tác phẩm văn chương chủ yếu là món ăn tinh thần cao cấp của tầng lớp trí thức quý tộc Văn chương mang tính quy phạm với niêm luật chặt chẽ, đề tài, nhân vật, cốt truyện đều nằm trong hệ thống ước lệ

Sang đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những biến động đáng kể, nhiều đô thị mọc lên, nhiều tầng lớp xã hội mới xuất hiện Những tầng lớp mới này có nhu cầu văn hoá thẩm

mỹ mới, đòi hỏi một thứ văn chương mới Cùng với những biến động xã hội, hoạt động văn hoá có những yếu tố mới như: sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, báo chí, in ấn, dịch thuật Đây chính là những điều kiện cơ bản thúc đẩy nền văn học mới ra đời và phát triển để nhanh

Trang 24

chóng hiện đại hóa

1.2.3.1 Khi văn học Việt Nam đi vào quỹ đạo cận hiện đại, văn xuôi phát triển trước hết

và phát triển khá nhanh Cuối thế kỷ XIX, một số tác phẩm văn xuôi đơn giản xuất hiện như:

Chuyện đời xưa (1866), Chuyện khôi hài, Kiếp phong trần (1882), Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (1866) của Huỳnh Tịnh Của Nhưng cái

mốc đánh dấu sự hình thành văn xuôi hiện đại Việt Nam có thể tính từ khi Nguyễn Trọng

Quản cho xuất bản Truyện thầy Lazarô Phiền năm 1887 Đây là cuốn truyện quốc ngữ đầu

tiên của văn học Việt Nam đã có những cách tân, tuy nhiên tính tiên phong của Nguyễn Trọng Quản đã không được tiếp nối, bởi “Truyện thầy Lazarô Phiền chỉ là một con chim lạc

từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại Bởi lẽ đó, nó nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỷ XIX, không riêng gì Nam Kì mà ở cả Việt Nam” [44,tr.303] Sau Nguyễn Trọng Quản, mãi đến những năm 20, với sự xuất hiện của Nguyễn

Bá Học, Phạm Duy Tốn (ở miền Bắc), truyện ngắn quốc ngữ hiện đại mới thực sự được khẳng định Đọc tác phẩm của hai ông, ta thấy hiện lên cái thực tại đen tối, xấu xa của xã hội đương thời Mặc dù, truyện của hai ông chỉ mới là “những truyện thoát ly hẳn được cái khuôn sáo của truyện Tàu, chưa thể coi là những đoản thiên tiểu thuyết tả chân được” [139,tr.120], nhưng hai ông đã có công khai phá, đặt nền móng cho truyện ngắn Việt Nam hiện đại Tiếp đây về sau, truyện ngắn Việt Nam phát triển càng phong phú về nội dung, đa dạng về phong cách và bút pháp Những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Tô Hoài, Nam Cao đã làm nên những đỉnh cao về truyện ngắn

1.2.3.2 Thể loại tiểu thuyết ở nước ta xuất hiện muộn Mãi đến đầu thế kỷ XIX với sự

xuất hiện Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, nước ta mới có tác phẩm quy mô,

tầm cỡ xứng đáng gọi là tiểu thuyết Tuy nhiên, xét về nhiều mặt, nó vẫn thuộc phạm trù tiểu

thuyết phương Đông Sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự biến đổi của xã hội, đời sống văn hoá của con người ngày càng cao, yếu tố đời tư ngày càng được chú ý Người ta muốn đọc những tác phẩm mô tả cuộc sống thực tại với mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời để soi chiếu vào mình, để tìm cho mình cách ứng xử, cách sống Đó chính là điều kiện cho tiểu thuyết ra đời và phát triển

Tiểu thuyết buổi đầu xuất hiện trước tiên ở Nam Bộ với các tác giả và tác phẩm tiêu

biểu như: Trần Thiên Trung (Hoàng Tố Anh hàm oan - 1910), Trương Duy Toản (Phan Yên

ngoại sử - 1910)… Tuy nhiên, đây chỉ là những thử nghiệm bước đầu, dung lượng tác phẩm

còn ngắn, chất lượng nghệ thuật chưa cao Đến Nguyễn Chánh Sắt (Nghĩa hiệp kỳ duyên -

Trang 25

1919), Phú Đức (Châu về Hiệp Phố - 1926), đặc biệt là Hồ Biểu Chánh với một loạt tác phẩm: Ai làm được (viết 1912 - xuất bản 1922), Chúa Tàu Kim Quy (viết năm 1913 - xuất bản 1922), Cay đắng mùi đời (1922)…, thì tiểu thuyết quốc ngữ đã có bước vận động và có

những cách tân rõ rệt: ngày càng đa dạng về thể tài, khuynh hướng, nghệ thuật diễn đạt, giọng điệu; ngôn ngữ phong phú và gần gũi hơn với độc giả Trong số này, Hồ Biểu Chánh

là tiểu thuyết gia tiêu biểu của Nam Bộ đầu thế kỷ XX được độc giả quan tâm, bởi tác phẩm của ông đã đáp ứng được yêu cầu tâm lý của người đọc Nam Bộ lúc này: trọng nghĩa, thương người, thủy chung, thẳng thắn… Đóng góp đáng chú ý của Hồ Biểu Chánh trong tiểu thuyết buổi đầu là đưa vào tác phẩm những cảnh trí, con người và lối sống của mọi tầng lớp nhân dân Nam Bộ Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh vẫn chưa thoát khỏi bố cục chương hồi, nội dung

dù phản ánh khía cạnh nào của cuộc sống, bàn về vấn đề gì của xã hội cũng không ngoài vấn

đề đạo lý: khuyên lành tránh dữ, tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện; cho nên cách kết truyện bao giờ cũng có hậu Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mang đậm tính bình dân, giàu thực tế nhưng chưa đạt tính chuẩn mực của ngôn ngữ văn chương Tóm lại, tiểu thuyết Nam Bộ dù xuất hiện sớm, nhưng chưa có những đột phá đáng kể, nên ảnh hưởng chủ yếu chỉ tỏa lan ở Nam Kỳ

Ở miền Bắc, tiểu thuyết ra đời muộn hơn nhưng dần vươn lên vị trí dẫn đầu Trong số

các tác phẩm xuất hiện lúc bấy giờ như: Giấc mộng con - 1917, Giấc mộng lớn - 1929 (Tản Đà); Cành lê điểm tuyết - 1921, Cuộc tang thương - 1923 (Đặng Trần Phất); Kim Anh lệ sử -

1925 (Trọng Khiêm); Quả dưa đỏ - 1925 (Nguyễn Trọng Thuật); Tố Tâm - 1925 (Hoàng Ngọc Phách)… thì Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách được chú ý đặc biệt bởi nó đã gây một

tiếng vang lớn “như một trái bom nổ giữa khung trời tình cảm”, vừa xuất hiện đã tạo ra một

làn sóng dư luận khắp cả nước “Từ Bắc đến Nam không ai không biết đến Tố Tâm” Với Tố

Tâm, Hoàng Ngọc Phách được xem là cây bút tiên phong mở đường cho trào lưu lãng mạn

trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ Tố Tâm được coi là cuốn tiểu thuyết báo hiệu bước

phát triển mới của loại hình văn xuôi tự sự Từ đây về sau, tiểu thuyết Việt Nam càng phát triển nhanh với những phong cách hiện đại của các nhà tiểu thuyết trong nhóm Tự lực văn đoàn cũng như các cây bút tiểu thuyết thuộc trào lưu hiện thực: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất

Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…

1.2.3.3 Nghiên cứu quá trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ không thể không đề cập đến

sự hình thành và phát triển của thể loại phóng sự Như đã trình bày, xã hội Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là một xã hội đầy biến động Để kịp thời ghi nhận và phản ánh

Trang 26

trung thực, nhanh chóng những vấn đề cấp thiết của cuộc sống, một thể loại văn mới ra đời

và phát triển mạnh: thể phóng sự Đây là một thể văn báo chí, có tính tư liệu, nhằm điều tra

sự thật, ghi lại những điều mắt thấy, tai nghe và bình luận; sau đó được các nhà văn sử dụng như một thể loại văn học Vũ Ngọc Phan xem phóng sự là “đứa con đầu lòng của nghề báo chí”, bởi phần lớn các phóng sự đến được với bạn đọc đều qua con đường báo chí Tuy nhiên, nếu phóng sự chỉ thuần túy ở dạng báo chí thì tuổi thọ của nó thường không cao Những thiên phóng sự lớn vượt qua được sự sàng lọc của thời gian còn nhờ vào một yếu tố quan trọng là chất văn học Đấy là những thiên phóng sự không chỉ có chức năng thông tin, phát hiện mà còn đậm sắc thái trữ tình Người đọc không chỉ thấy sự kiện mà còn thấy vấn đề; không chỉ thấy những phiến đoạn khác nhau của đời sống mà còn đến được thế giới nội tâm, hiểu được hoàn cảnh của nhân vật…

Nội dung phóng sự giai đoạn này tập trung vào hai mảng đề tài chính: phóng sự về đời

sống sinh hoạt ở đô thị: Tôi kéo xe, Đêm sông Hương (Tam Lang), Cạm bẫy người, Cơm

thầy cơm cô, Lục xì… (Vũ Trọng Phụng); Thanh niên trụy lạc, Chợ phiên đi tới đâu (Nguyễn

Đình Lạp), Hà Nội lầm than, Làm tiền (Trọng Lang)…; phóng sự về đời sống sinh hoạt ở nông thôn: Làm dân, Xôi thịt (Trọng Lang); Việc làng, Dao cầu thuyền tán, Tập án cái đình (Ngô Tất Tố); Một huyện ăn tết (Vũ Trọng Phụng); Bùn lầy nước đọng (Hoàng Đạo)…

Ngoài ra, còn có các phóng sự về đời sống cực khổ, tàn nhẫn của nhà tù thực dân, các phóng

sự về văn hóa, xã hội, phong tục của Việt Nam… Một số tác phẩm về mảng đề tài này như:

Ngục Kontum của Lê Văn Hiến; Đảo Côn Lôn của Nguyễn Đức Chính; Khám lớn Sài Gòn

của Phan Văn Hùm; Một cuộc hành hương ở Hà Tiên của Huỳnh Văn Chính… Dù viết về

mảng đề tài nào, phóng sự cũng đều tập trung miêu tả thực trạng đen tối của xã hội đương thời một cách khách quan, chân thực Và không chỉ là mô tả, trong khi điều tra sự việc, các tác giả phóng sự đã chỉ ra được nguyên nhân, cũng như đề xuất một số biện pháp nhằm giải quyết sự việc Ngoài những đóng góp về mặt nội dung xã hội, phóng sự cũng có những đặc sắc về mặt nghệ thuật có thể kể như: nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ… Với những giá trị nội dung và nghệ thuật của một thể loại văn học mới - “sinh sau đẻ muộn” (từ năm 1930), phóng sự đã khẳng định được mình khi có những đóng góp không nhỏ vào bức tranh chung của văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX trong quá trình hiện đại hoá Những cây bút phóng sự đáng chú ý là: Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Ngô Tất Tố, Trọng Lang, Nguyễn Đình Lạp… Trong số này, Vũ Trọng Phụng được coi là “ông vua phóng sự Bắc Kì”

Trang 27

Cùng với phóng sự, tùy bút, bút ký giai đoạn này cũng phát triển, tuy nhiên số lượng tác phẩm cũng như tác giả không nhiều Viết về thể loại tùy bút xuất sắc nhất phải kể đến Nguyễn Tuân Ngoài ra, có thể kể một số tác giả tuy không thật chuyên nhưng cũng để lại

một số tác phẩm thành công như: Thạch Lam (Hà Nội băm sáu phố phường), Xuân Diệu

(Trường Ca)…

1.2.3.4 Thơ ca là một thể loại truyền thống đã khẳng định vị trí trong văn học trung đại

Việt Nam, tuy vậy, trong tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế

kỷ XX, nó cũng đòi hỏi phải có những cách tân mạnh mẽ, đòi hỏi thay đổi cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật để phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ đương thời Ai cũng biết, thi ca trung đại quan niệm thơ là để nói chí, để di dưỡng tinh thần, giữ gìn phong hoá, khuyên điều thiện, răn điều ác, thơ là công cụ giáo dục con người thì đến giai đoạn này, các nhà thơ yêu cầu

và khẳng định cái tôi cá nhân với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó trong tác phẩm Nếu thơ ca trung đại nặng về điển phạm thì thơ ca hiện đại chú trọng đến việc diễn đạt tinh

tế tâm hồn, cảnh vật và con người với những cảm nhận riêng độc đáo, giàu cảm xúc, giọng điệu Các nhà thơ đã cố gắng ghi lại những đường nét, màu sắc, những vui buồn của cuộc đời, của cá nhân vào trong tác phẩm với tất cả sự phong phú, đa dạng của cuộc sống, con người đương thời

Ngôn ngữ thơ cũng đổi mới không ngừng, từ Hán Việt ít đi, từ thuần Việt tăng lên Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của đời sống phong phú, sinh động Nếu thơ cũ tình cảm được thể hiện theo khuôn phép, thì “Thơ Mới” tình cảm được thể hiện say sưa, nồng nhiệt hơn, cho nên, các nhà “Thơ Mới” phải không ngừng học tập, tiếp thu, cải biến, thay đổi cấu trúc của câu thơ, sử dụng từ ngữ sáng tạo và gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày mới có thể thể hiện đúng những tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình Thể thơ cũng có những cách tân, từ những hình thức cổ điển như lục bát, song thất lục bát, Đường luật…; sau đó, các nhà “Thơ Mới” học tập thơ Pháp sáng tạo ra những bài thơ tự do, thơ văn xuôi với vận luật, câu thơ, dòng thơ… đổi mới đáng kể “Thơ Mới” khác thơ cũ ở chỗ không hạn định về số câu trong một bài thơ và số chữ trong một câu thơ; một bài thơ có thể có những câu dài ngắn khác nhau xếp đặt không theo một thứ tự nào, các câu trong bài thơ có thể đặt liên tiếp nhau từ đầu đến cuối hay phân phối ra thành những khổ thơ khác nhau; cách hiệp vần trong “Thơ Mới” cũng khác thơ cũ ở chỗ: thường hiệp vần ở cuối câu Về âm thanh, nếu thơ cũ quy định

vị trí các tiếng bằng trắc trong câu, thì trong câu “Thơ Mới”, thi gia được tự do phân phối các tiếng bằng trắc cho phù hợp với tình ý trong câu thơ Tóm lại, so với văn xuôi, việc hiện

Trang 28

đại hoá thơ muộn hơn nhưng khi xuất hiện đã đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là phong trào “Thơ Mới” Mỗi bước phát triển của “Thơ Mới” đều để lại những tên tuổi lớn, từ những nhà thơ trong buổi giao thời như Tản Đà, Trần Tuấn Khải… đến những đỉnh cao chói lọi như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính “Thơ Mới” thực

sự đã giải phóng “cái Tôi cá nhân” khỏi bút pháp ước lệ khắt khe và có tính chất phi ngã của

hệ thống thi pháp cổ Các nhà “Thơ Mới” với quan niệm thẩm mỹ mới đã khám phá ra thế giới muôn màu của đời sống, cũng như thế giới phong phú, tinh vi của nội tâm con người nên đã tạo ra những tác phẩm xuất sắc

Nhắc đến hoạt động sáng tác thi ca đầu thế kỷ XX không thể không nhắc đến dòng thơ

ca yêu nước và cách mạng Thơ ca yêu nước, mà tiêu biểu là những sáng tác mang đậm dấu

ấn tuyên truyền chính trị của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh dù vẫn sáng tác theo thể thơ Đường luật của thơ ca trung đại, tuy nhiên, nội dung thể hiện thì đã có những bước chuyển đổi rõ nét Hơi thở của cuộc sống hiện đại đã phả vào thơ và trở thành linh hồn nghệ thuật trong những sáng tác của hai nhà chí sĩ này Nó hoàn toàn khác với lối thơ thù tạc, ngâm vịnh về cảnh sắc thiên nhiên, về ân sủng của các đấng quân vương của những “kẻ sĩ” phong kiến Còn dòng thơ ca cách mạng, mà tiêu biểu là Tố Hữu, Sóng Hồng, Trần Huy Liệu, Xuân Thủy… về hình thức đã vận động theo hướng đổi mới, cách tân, song đã có sự chuyển biến về nội dung phản ánh, góp phần cùng Thơ Mới thúc đẩy quá trình hiện đại hóa

văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Như vậy, cùng với Thơ Mới, thơ ca yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX đã thực sự góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Và với những đổi mới đáng kể về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, thơ ca Việt Nam chính thức bước sang kỷ nguyên hiện đại và được dịp phát huy thế mạnh chưa từng có trong diễn đạt muôn mặt của cuộc sống cùng tâm tư, tình cảm đa dạng, phức tạp của con người

1.2.3.5 Sự ra đời của kịch nói, một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới du nhập từ

phương Tây đã cho thấy quá trình hiện đại hoá ngày càng được mở rộng, đẩy tới của văn học

Việt Nam Cái mốc đánh dấu sự ra đời của kịch nói là vở Chén thuốc độc (1921) của Vũ Đình Long Tiếp sau đó, hàng loạt những vở kịch được sáng tác và trình diễn: Tòa án lương

tâm (1923), Đàn bà mới (1944) của Vũ Đình Long; Uyên ương (1927), Hoàng Mộng Điệp

(1928), Hai tối tân hôn (1929), Nghệ sĩ hồn (1932), Kinh Kha (1934), Kim tiền (1938), Ông

ký Cóp (1938) của Vi Huyền Đắc; Bạn và vợ (1927) của Nguyễn Hữu Kim; Chàng ngốc

(1930), Ông Tây An Nam (1931) của Nam Xương; Ghen (1937), Những bức thư tình (1937),

Trang 29

Mơ hoa (1941), Ngã ba (1943) của Đoàn Phú Tứ; Vũ Như Tô (1943), Cột đồng Mã Viện

(1944) của Nguyễn Huy Tưởng… Quá trình vận động của kịch nói diễn ra ở nhiều cấp độ: chủ đề tư tưởng, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ…

Trước hết, về đối tượng thể hiện Nếu như tuồng, chèo chỉ có hai loại nhân vật: trung và nịnh, chính và lệch - là những “con người chức năng trong xã hội luân thường”, thì nhân vật kịch nói đa dạng hơn, phong phú hơn: từ một thầy thông, thầy ký, cậu bồi, đến một “Cô đầu Yến” hay cả những “Ông Tây An Nam” Trong tuồng, chèo, tâm trạng nhân vật được khắc họa thông qua hành động, sự việc với những thủ pháp nghệ thuật mang tính ước lệ cao, thì tâm trạng của nhân vật kịch nói mang tính đời thường và gần gũi với cuộc sống hơn, được thể hiện trong sự thống nhất giữa hành động kịch và diễn biến tâm lý sâu sắc trong quan hệ với cuộc sống

Về nghệ thuật thể hiện; ngôn ngữ kịch nói là ngôn ngữ văn xuôi (nói) khác với ngôn ngữ thơ (ca) của tuồng, chèo Nhờ sử dụng ngôn ngữ văn xuôi nên sức tả, sức tái hiện cuộc

sống của kịch nói phong phú, đa dạng hơn Về chủ đề tư tưởng; nếu như Chén thuốc độc,

Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long, Bạn và vợ của Nguyễn Hữu Kim, Ông Tây An Nam

của Nam Xương là những vở kịch mở đầu chưa thoát khỏi cái luân lý cổ truyền Á Đông; các nhà văn nói thay nhân vật hơi nhiều, yếu tố ngẫu nhiên bị lạm dụng nên xung đột kịch bị

gượng ép, thì sang Kim tiền, Ông ký Cóp của Vi Huyền Đắc, nghệ thuật kịch đã đạt mức trình độ cao, các nhân vật đã có những nét riêng, tự nhiên, tâm lý sâu sắc Đến Ngã ba,

Những bức thư tình, kịch hầu như không có ngoại cảnh, tình tiết nữa mà nhường sân khấu

cho cái Tôi độc chiếm Nhân vật kịch là những con người đang Âu hoá, mang tư tưởng tự do,

phóng khoáng nhưng rất Việt Nam Các vở kịch Ngã ba, Những bức thư tình đầy chất thơ

mộng, đầy ý tưởng lãng mạn, cộng với một nghệ thuật xuất sắc đã đưa kịch nói vươn đến nghệ thuật hiện đại của thế kỷ XX và nhanh chóng hòa nhập vào quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong giai đoạn này

1.2.3.6 Nghiên cứu văn học cũng như phê bình văn học ra đời sau hoạt động sáng tác

văn học Hay nói khác đi, có sáng tác văn học mới có hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học Trong lịch sử văn học, sáng tác văn học, phê bình văn học đều ra đời từ rất xa xưa nhưng chưa thành lĩnh vực hoạt động chuyên biệt Mãi đến khi văn chương trở thành một thứ

“hàng hoá”, nghề viết văn trở thành một nghề kiếm sống, đặc biệt là khi nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ của độc giả trở thành thường xuyên và cấp thiết hơn thì lúc bấy giờ phê bình văn học và văn học trở thành những lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù

Trang 30

Như ta biết, cũng như hoạt động sáng tác, phê bình văn học gắn liền với hoạt động báo chí Tuy nhiên, ở giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1913 dù báo chí có xuất hiện nhưng nhìn chung hoạt động phê bình văn học vẫn trong tình trạng thưa thớt, vắng vẻ Một phần là do chủ trương của các báo, mặt khác, ta thấy xã hội Việt Nam lúc này người đọc báo còn rất ít lại cũng chưa quen với những bài viết phê bình mà chủ yếu là thưởng thức các sáng tác văn học ngày càng sinh động và phong phú hơn

Sang những năm từ 1913 đến 1930, hàng loạt hiện tượng văn học xuất hiện như: các tạp chí thiên về nghiên cứu, biên khảo ra đời thay thế cho mục nghiên cứu, biên khảo ở các tờ báo hàng ngày; sự xuất hiện của văn xuôi; sự thưởng thức văn chương của độc giả cũng linh hoạt, đa dạng hơn; việc tiếp xúc với văn học phương Tây đã đi bằng con đường trực tiếp chứ không gián tiếp như trước kia đã giúp cho đời sống văn học càng phong phú hơn

Phê bình văn học, ở giai đoạn này có xuất hiện, tuy nhiên chỉ lác đác vài bài, chủ yếu là những lời giới thiệu sách, những bài giảng cổ văn, kim văn, những bài khảo cứu có kèm những lời lạm bình của một số học giả có tiếng lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm

Quỳnh, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, Tản Đà trên các tờ Đông Dương tạp chí, Trung

Bắc tân văn, Hữu Thanh, Phụ nữ tân văn, Nam Phong tạp chí Đây là giai đoạn hình thành

của phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam Trần Thị Việt Trung khảo sát tờ Nam Phong tạp

chí đã kết luận: “Với 210 số báo trong suốt 17 năm tồn tại của mình, “Nam Phong tạp chí”

đã là một bằng chứng tiêu biểu cho việc phê bình đang dần trở thành một hoạt động xã hội đặc thù, một bộ môn không thể thiếu được trong nền văn học hiện đại của nước ta hồi những năm 20 - 30 của thế kỷ” [199,tr.45] Hơn nữa, các bài phê bình trên các báo lúc bấy giờ đều viết theo lối cổ, do các nhà Hán học phụ trách, cho nên từ ngôn ngữ, giọng điệu, đến tư tưởng thẩm mỹ của người bình, ta thấy rất rõ vẫn còn đậm nét của lối phê bình xưa cũ Đó là những đoạn văn phê bình có tiêu đề: “Lời bàn của người dịch”, “Lạm bàn” sau mỗi bài thơ hoặc bài văn dịch của họ Bên cạnh đó, trên báo chí cũng xuất hiện ngày càng nhiều hơn những bài phê bình theo lối mới của một số các học giả theo phái Tây học Đó là các bài

“Giới thiệu sách mới”, giới thiệu “Văn mới và bình luận”, những bài bàn về học thuật, bàn

về các vấn đề văn học Tuy nhiên, với số lượng bài phê bình còn rất hạn chế, cộng với phần lớn các bài phê bình chưa đủ sức tách ra khỏi lối “văn nghị luận nói” nói chung, nên khó có thể chỉ ra đội ngũ các nhà phê bình thực sự, phê bình chuyên nghiệp

Từ sau những năm 1930, phê bình văn học theo nghĩa hiện đại thực sự khẳng định sự có mặt của mình trong đời sống văn học dân tộc bằng những hoạt động sôi nổi, với sự xuất hiện

Trang 31

hàng loạt cây bút phê bình chuyên nghiệp với những cuốn sách phê bình và rất nhiều bài phê bình đăng trên các báo và tạp chí lúc bấy giờ Điều đáng lưu ý nhất, đó là lực lượng phê bình ngày càng được bổ sung với các cây bút phê bình trẻ và có trình độ Vì vậy, không chỉ số lượng các bài phê bình tăng gấp bội trên các báo và tạp chí, mà chất lượng các bài phê bình cũng được nâng cao Điều này thể hiện qua việc nhiều tờ báo đương thời có hẳn một chuyên mục đọc sách, phê bình văn học chuyên đăng tải các bài phê bình văn học Chẳng hạn như

trên các tờ: Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật, Phong hóa, Ngày nay,

Tao đàn, Tràng an, Hà Nội báo

Với tư cách là sự “tự ý thức” của văn học thời kì hiện đại, phê bình trong giai đoạn này cũng phát triển với một tốc độ khá mau lẹ Ngoài chức năng đánh giá, thẩm bình các giá trị văn chương, phê bình còn đóng vai trò phát ngôn tư tưởng cho các trào lưu, các khuynh hướng văn học khác nhau, đồng thời là người tổ chức, định hướng cho sự ra đời, tồn tại và phát triển các trào lưu, các khuynh hướng văn học thời đó Có thể nói, từ 1930 trở đi, phê bình văn học đã dần khu biệt thành một bộ môn độc lập không còn tình trạng đồng nhất với thể văn nghị luận nói chung, hay công việc của một nhà văn học sử, một người làm hợp tuyển, hay một người viết hồi ký văn học như giai đoạn trước đó Phê bình đã trở thành một hiện tượng xã hội đặc thù, ngày càng trở nên quen thuộc hơn đối với đời sống văn học nước nhà Các hình thức hoạt động của phê bình ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn Trên báo chí xuất hiện một cách liên tục các bài phê bình với nhiều giọng điệu, nhiều dạng vẻ, nhiều cách thức khác nhau Với một không khí tương đối dân chủ, các nhà phê bình với những trường phái khác nhau đua nhau lên tiếng thông qua việc phê bình các tác phẩm văn học đương thời nhằm phát biểu, tuyên truyền những quan điểm nghệ thuật, quan điểm văn chương và cả những quan điểm chính trị Vì vậy, trong đời sống văn hoá đương thời, đã xảy

ra khá nhiều cuộc tranh luận về văn học nghệ thuật nói chung, giữa các nhà phê bình thuộc các trường phái khác nhau Chẳng hạn, cuộc tranh luận giữa hai phái: “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” (1935-1939) giữa Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều với Hải Triều, Hải Khách, Lâm Mộng Quang ; cuộc tranh luận về vấn đề: “Dâm hay không dâm” trong văn chương Vũ Trọng Phụng, giữa tác giả với Thái Phỉ và Nhất Chi Mai (1936) Hoặc cuộc tranh luận về thơ Hàn Mặc Tử giữa Trần Thanh Mại với Quách Tấn (1942)

Chuyển sang những năm 1940 - 1945, phê bình vẫn tiếp tục phát triển và vươn tới “độ chín” của nó Tuy nhiên, sau khi đã trải qua những năm tháng hoạt động sôi nổi, ồ ạt của thời

Trang 32

kì “Mặt trận Dân chủ” thì hoạt động phê bình đã chủ động chuyển sang một phương thức hoạt động khác, thầm lặng hơn nhưng cũng sâu lắng và chắc chắn hơn do chế độ kiểm duyệt của chính quyền ngày càng trở nên khe khắt Biểu hiện cụ thể là, nếu như trước kia các nhà phê bình thường viết bài in trên báo thì nay đã im lặng hoặc chuyển sang viết các công trình tổng kết, đánh giá giai đoạn văn học vừa qua Qua khảo sát, chúng ta thấy có cả một phong

trào viết về những công trình như vậy, chẳng hạn: Theo dòng (1941) của Thạch Lam; Ba

mươi năm văn học (1941) của Mộc Khuê; Cuốn sổ Văn học (1944) của Lê Thanh

Như vậy, sau gần nửa thế kỷ khẳng định sự có mặt, cùng với hoạt động sáng tác, hoạt động phê bình ngày càng sôi nổi (phê bình những tác phẩm, tác giả, hiện tượng văn học cụ thể) và đã tác động tích cực đến giới nghiên cứu văn học, góp phần rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX trong đó có hoạt động nghiên cứu văn học

Có thể nói, dưới tác động của bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa…của nửa đầu thế kỷ XX, đời sống trầm lắng của xã hội Việt Nam nông nghiệp và phong kiến đã có nhiều biến động đáng kể Cùng với những đổi thay về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục; nền văn học mới trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với văn học phương Tây đã nhanh chóng thay đổi

và từng bước hội nhập để sau đó, tạo nên một bước ngoặt lớn trong sự chuyển biến và cách tân so với văn học quá khứ Đó là sự xuất hiện hàng loạt các trào lưu sáng tác, khuynh hướng sáng tác kéo theo sự ra đời của nhiều thể loại văn học mới: Thơ Mới, tiểu thuyết, phóng sự,

… được sáng tác bởi một đội ngũ nhà văn trí thức Tây học với cái tôi bản lĩnh tạo nên sự đa giọng điệu, đa phong cách trong sự nghiệp sáng tác khác xa với sự đơn điệu khuôn mẫu, quan phương của văn chương trung đại… Như vậy, bên cạnh những cách tân táo bạo trong hoạt động sáng tác thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn; sự xuất hiện của kịch - một thể loại hoàn toàn du nhập từ phương Tây; hoạt động lý luận, phê bình văn học ra đời và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận… đã thúc đẩy văn học Việt Nam nhanh chóng hiện đại hoá để hòa nhập vào văn học thế giới trong đó có hoạt động nghiên cứu văn học

1.2.4 Hoạt động dịch thuật

Cùng với việc thưởng thức văn phẩm trong nước, để giúp độc giả kịp nắm bắt được những quan niệm, tư tưởng học thuật cũng như những danh tác của văn học nước ngoài, dịch thuật phát triển mạnh mẽ Lịch sử dịch thuật ở nước ta bắt đầu dưới triều đại Hồ Quý Ly với

bộ Tứ Thư được dịch từ chữ Hán ra chữ Nôm, hoặc sau này như trường hợp dịch Chinh phụ

ngâm cũng từ chữ Hán ra chữ Nôm Nhưng dịch thuật chính thức trở thành hoạt động

Trang 33

chuyên môn là vào thời điểm sau khi chữ quốc ngữ xuất hiện Dịch thuật ra đời có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình hiện đại hoá văn học Trước hết, thông qua các văn bản dịch thuật, các dịch giả cũng như độc giả được tiếp cận những kiến thức mới về văn học cổ kim Đông Tây, những trào lưu văn học, triết học thế giới hiện đại Việc tiếp thu kiến thức ấy giúp các nhà văn thay đổi cách cảm, cách nghĩ; học tập được các thể loại mới, các phương pháp nghiên cứu mới ; độc giả văn học được tiếp xúc và làm quen với những sáng tác của văn học nước ngoài, từ đó thay đổi dần thị hiếu thẩm mỹ để tiếp nhận những tác phẩm văn chương thuộc nhiều thể loại văn học khác nhau mà trước đó trong đời sống văn học chưa từng có

Kể từ khi bản dịch Pháp văn ra quốc ngữ sớm nhất là Truyện Phan Sa dịch ra quốc ngữ

(1884) của Trương Minh Ký ra đời, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn không đầy 20 năm, dường như một phần khá lớn tinh hoa văn học Pháp - chứ chưa phải của phương Tây - thuộc

đủ mọi thể loại được chuyển sang quốc ngữ Về kịch có thể kể : Trưởng giả học làm sang,

Giả đạo đức, Người bệnh tưởng, Người biển lận của Molière, Tuồng Lôi Xích, Tuồng Hòa Lạc của Corneille Về tiểu thuyết: Telemac phiêu lưu ký (Fenelon), Truyện ba người ngự lâm pháo thủ (A Dumas), Những kẻ khốn nạn (V.Hugo), Truyện Miếng da lừa (H.de

Balzac), Về truyện ngắn: dịch nhiều truyện của G de Maupassant, P Loti, A France, Về thơ: dịch thơ của A Musset, Lamartine, La Fontaine, V.Hugo, Baudelaire Đặc biệt, trường

hợp Phạm Quỳnh với các bài: Thơ là gì?, Nghệ thuật viết tiểu thuyết, Nghệ thuật viết kịch là

những bài viết đầu tiên giới thiệu những khái niệm sơ đẳng về những thể loại nòng cốt của văn học hiện đại Và “những bài viết này, trên một phương diện nhất định, có thể coi là một hình thức dịch thuật đặc thù bởi lẽ trong những bài này, mô thức chung mà ông Phạm sử dụng là tổng thuật những ý kiến liên quan đến vấn đề cần bàn có và phổ biến trong văn học Pháp, sau đó kết hợp với những nhận xét, kiến giải, phán đoán riêng mình để rút ra bài học cho văn học Việt Nam” [79,tr.215]

Việc dịch thuật từ chữ Hán sang chữ Nôm các trước tác nổi tiếng của Trung Hoa tuy chưa nhiều nhưng đã có ở nước ta từ lâu, nhưng có thể nói rằng, chỉ với sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, thì hoạt động dịch thuật mới phát triển rầm rộ Lúc này, các giá trị của văn học

Trung Hoa về thơ, cùng với tiểu thuyết từ Tam quốc chí, Đông Chu liệt quốc, Chinh Đông,

Chinh Tây, cho đến Nhạc Phi, Mạnh Lệ Quân đã được độc giả đương thời đón nhận qua

các bản dịch của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Chánh Sắt,

Trang 34

Những bài dịch thuật liên tục được in trên các báo, được xuất bản thành sách và phổ biến rộng rãi Đi đầu trong việc dịch thuật, giới thiệu văn học phương Tây mà chủ yếu văn

học Pháp là hai tờ Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917) và tủ sách Âu Tây

tư tưởng (1928)

Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của dịch thuật những năm đầu thế kỷ XX đã giúp người đọc làm quen với những thể loại văn học của nước ngoài như: kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ (thơ trữ tình, thơ ngụ ngôn), đã tạo nên những tiền đề, cả về kinh nghiệm sáng tác lẫn tâm lý tiếp nhận cho sự hình thành các thể loại văn chương mới của văn học nước nhà Dịch thuật ra đời vừa tạo điều kiện cho báo chí và xuất bản phát triển, vừa góp phần làm phong phú thêm từ ngữ tiếng Việt Văn học dịch cũng có đóng góp to lớn trong việc chuẩn bị chất liệu ngôn từ cho sự ra đời của văn học mới Dịch thuật xuất hiện và phát triển là một trong những nhân tố quan trọng có tác động lớn đến quá trình hiện đại hoá văn học nói chung

và hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nói riêng trong giai đoạn này

Tóm lại, trong bối cảnh văn hoá, văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như vừa trình bày, quá trình giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây dù không thật thuận lợi nhưng cũng đã phát triển ở cả bề rộng lẫn bề sâu Hầu hết các văn nghệ sĩ đều thông thạo tiếng Pháp, họ đủ điều kiện tiếp thu một cách trực tiếp qua “kênh” ngôn ngữ chính thức toàn bộ các tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây với một hệ thống giáo dục mới, với phương tiện chữ viết mới (chữ quốc ngữ) thể hiện trên những tác phẩm báo chí và dịch thuật Công việc giao lưu đó đến lúc này đã đạt tới độ chín muồi để có thể đưa đến những hệ quả quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học, thúc đẩy văn học Việt Nam bước sang một trang mới Đó chính là những nguyên nhân khiến nghiên cứu văn học với tư cách là một hoạt động chuyên môn từng bước định hình, phát triển và nhanh chóng hiện đại hóa để hòa nhập vào quỹ đạo chung của quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam giai đoạn này

1.3 Tiền đề vật chất - kỹ thuật

1.3.1 Báo chí

Một thành tố quan trọng góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình hiện đại hoá văn học (trong đó có hoạt động nghiên cứu văn học) đó là sự ra đời của báo chí Báo chí xuất hiện là một trong những tín hiệu của xã hội hiện đại, bởi đây là nơi có thể công khai trao đổi, bàn luận, thông tin những vấn đề về chính trị, văn hoá, xã hội trong và ngoài nước Ở Việt Nam, trước khi thực dân Pháp xâm lược, nước ta chưa có một tờ báo nào Nhưng sau

Trang 35

khi Nam Kỳ trở thành thuộc địa của chính quyền thực dân, người Pháp đã xuất bản tờ báo

đầu tiên Công báo của cuộc viễn chinh ở Nam Kỳ (1861) bằng chữ Hán và chữ Pháp để đăng

các nghị định, quyết định, thông báo của quân đội Pháp về hoạt động của họ và những mệnh lệnh ban hành cho người bản xứ Nhưng cái mốc đánh dấu sự ra đời của báo chí quốc ngữ tại

Việt Nam là sự xuất hiện của tờ Gia Định báo năm 1865 ở Sài Gòn Theo Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) thì từ ngày xuất hiện, báo chí nước ta trải qua ba thời kỳ

biến hoá để trở thành một nền báo chí thực sự phát triển trước 1945

Ở thời kỳ đầu, có các tờ báo: Gia Định báo (1865), Đại Nam đồng văn nhật báo (1892) Sang đầu thế kỷ XX, một số tờ báo khác tiếp tục xuất hiện như: Nông cổ mín đàm (1901), Nhật báo tỉnh (1905) viết bằng chữ quốc ngữ, Đại Việt tân báo (1905), Đăng cổ tùng

báo (1907) viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Nho Báo chí thời kỳ này ngoài một ít tin tức về

chuyên ngành như kinh tế, thương nghiệp, công nghiệp thì mục đích chính là thông tin trong

xứ và ban bố các mệnh lệnh của Chính phủ Thời kỳ tiếp theo, báo chí xuất bản nhiều hơn,

bên cạnh các tờ nhật báo như: Trung Bắc tân văn (1915), Thực nghiệp dân báo (1920), Tiếng

Dân (1927) còn có thêm các tờ tạp chí như: Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917), Hữu Thanh tạp chí (1921), An Nam tạp chí (1926), Phụ nữ tân văn (1929), Phụ

nữ thời đàm (1930), Văn học tạp chí (1932), Phong hoá tuần báo (1932), Khoa học phổ thông (1934), Ngày nay (1935) Ở thời kỳ này, báo chí dù là nhật báo hay tạp chí đều thiên

về mặt văn chương Trên các báo có những mục như: văn uyển, dịch Hán văn, dịch Pháp

văn, dịch tiểu thuyết Tàu và Pháp, thậm chí có những tờ còn xuất hiện cả một phụ trương về

văn chương Đến thời kỳ cuối, kể từ khi chính phủ đương thời bãi bỏ lệnh kiểm duyệt báo chí viết bằng quốc ngữ (1935) thì báo chí xuất hiện ngày càng nhiều và đã có những đổi mới đáng kể: tin tức ngắn gọn, kịp thời, nội dung không chỉ là thông báo tin tức và chuyên khảo

về nghệ thuật mà còn tuyên truyền về chính trị, xã hội

Khảo sát hoạt động báo chí, ta thấy, tuy báo chí xuất hiện ở miền Nam sớm hơn ở miền Bắc, nhưng miền Bắc báo chí phát triển nhanh hơn và chuyển dần từ báo chí hỗn tạp sang báo chí có tính chuyên ngành, tạo điều kiện cho sự phát triển chuyên sâu các lĩnh vực văn

hoá, khoa học Chẳng hạn: năm 1919 có Học báo, 1923 có Vệ nông báo, 1928 có Tạp chí

Kịch trường, 1929 có Nông công thương báo, 1931 có Pháp viện tạp chí Riêng về văn học, Nam Phong tạp chí là nơi đăng tải nhiều bài chuyên khảo về văn học đáng quan tâm như: Khảo về diễn kịch, Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh; Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết của Trúc Hà đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng cho

Trang 36

lý luận và phê bình văn học

Báo chí xuất hiện cũng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển chữ quốc ngữ Nó là nơi các tác giả văn nghệ buổi đầu làm quen với cách viết hiện đại, tư duy hiện đại Báo chí là nơi các nhà văn, nhà thơ, nhà báo rèn luyện câu văn, trau dồi ngòi bút của mình qua những bài viết, bài dịch thuật Báo chí cũng là địa điểm để thể nghiệm những thể loại văn học mới như: thơ, văn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học Đối với độc giả, báo chí là món ăn tinh thần không thể thiếu cho nhiều tầng lớp nhân dân Báo chí là phương tiện

để giúp độc giả thay đổi thị hiếu thẩm mỹ, làm quen với kiểu văn chương mới

Như vậy, báo chí mặc dù là một hình thức văn hoá ngoại nhập, chịu sự chi phối của chính phủ đương thời, với mục đích là tuyên truyền chính sách «pháp trị» của chủ nghĩa thực dân và nhà nước phong kiến lệ thuộc, nhưng bằng sức mạnh nội lực của nền tảng văn hóa dân tộc, bằng ý thức tự tôn dân tộc, trí thức nước ta đã biết tận dụng nó để giao lưu và bảo tồn những giá trị văn hoá, văn học nước nhà cũng như để đổi mới và xây dựng một nền văn học mới Chính vì lẽ đó, chức năng tuyên truyền, phổ biến thông tin của hoạt động báo chí đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, sự phát triển của đời sống văn học trong quá trình hội nhập và phát triển ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

nó đã trở thành “món ăn bình dân phổ biến” của rất nhiều đối tượng trong xã hội Vì vậy, số lượng người đọc sách báo ngày càng đông, và để đáp ứng kịp thời nhu cầu của họ, nhiều nhà

in, nhà xuất bản hằng năm đã in ấn hàng trăm văn phẩm đủ mọi thể loại để tung ra thị trường Mặt khác, khi sách báo phát hành được công chúng tìm đọc thì viết văn thực sự trở thành một nghề kiếm sống trong xã hội, vì vậy, đòi hỏi nhà văn phải đầu tư nhiều hơn cho tác phẩm để thu hút độc giả Lúc này, trên văn đàn, đội ngũ nhà văn ngày càng hùng hậu, đã cho ra đời nhiều tác phẩm phong phú, đa dạng về cả hình thức lẫn nội dung, cả về số lượng

Trang 37

về sự phát triển về mặt vật chất kỹ thuật để nhanh chóng in ấn, phát hành, phổ biến tác phẩm văn học đến công chúng thì hoạt động sáng tác văn học cũng chỉ đáp ứng những phút giây thù tạc vịnh cảnh, vịnh tình Nghề văn cũng chỉ mang tính chất nghiệp dư và hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam cũng quẩn quanh trong lối bình phẩm văn chương tri kỷ, tri

âm, cảm tính và thiếu khách quan Vì vậy, hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là một quá trình mang tính tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu hội nhập với thế giới

Cũng cần nói thêm rằng: Sau cuộc hội nhập lần thứ nhất kéo dài hàng ngàn năm với phương Đông - chủ yếu với Trung Hoa, chính cuộc hội nhập văn hóa lần thứ hai với phương Tây đã tạo nên những biến động to lớn về văn hóa, xã hội Ở đây, cần nhìn nhận rõ vai trò của các chính sách của thực dân Pháp nhằm làm thay đổi xã hội Việt Nam để khẳng định vai trò «tiên tiến» của họ so với chế độ phong kiến trước đây Mục đích của người Pháp là muốn biến Việt Nam thành một bộ phận của Pháp quốc hải ngoại để mở rộng cương vực, biến người Việt thành những công dân Pháp hạng hai da vàng (cũng như người Pháp da đen ở Châu Phi), vì vậy, họ đã tiến hành một số biện pháp: cải cách về giáo dục, đầu tư về kinh tế

Trang 38

Tuy nhiên, họ chỉ thực thi đổi mới trong «sự dè dặt của mưu đồ» nhằm thể hiện ý thức «khai hóa», hạn chế phong trào đấu tranh của nhân dân ta, nên thực ra, tỉ lệ người Việt được đi học, biết chữ không nhiều, trí thức cao cấp càng ít hơn Nhưng giờ đây nhìn nhận một cách khách quan có thể nói: những gì mà giới trí thức Tây học tiếp nhận được cùng với những yếu

tố nội sinh của nền tảng văn hóa dân tộc, nhân dân ta nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng

đã làm biến đổi nền văn học dân tộc, đưa văn học Việt Nam bước sang một trang mới và nhanh chóng hiện đại hóa Trong quá trình ấy không chỉ hoạt động sáng tác phát triển mà lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học cũng vậy Vì thế cần xác định lại mục tiêu mà luận án này quan tâm là: Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

Trang 39

Chương 2 - NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Nghiên cứu văn học ra đời một cách tự nhiên theo yêu cầu của đời sống văn học Ở thời

cổ đại, người ta đã bàn đến các chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ của văn học, từ thế

kỷ thứ IV trước Công nguyên, nhà triết học Hi Lạp Arixtôt đã bàn nhiều đến những vấn đề

văn học nghệ thuật Đến thế kỷ XVII, tác phẩm Nghệ thuật thơ ca của N.Boileau (Pháp)

được coi là tập đại thành các tri thức lí luận về văn học, thi pháp học Châu Âu theo tinh thần quy phạm… Cùng với sự phát triển của văn học, nhu cầu tìm kiếm cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học ngày càng nhiều và vì thế, nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học lần lượt xuất hiện Tuy nhiên, nghiên cứu văn học được xem như là một khoa học thì chỉ bắt đầu

từ nửa đầu thế kỷ XIX (ở châu Âu), ở Việt Nam mãi đầu thế kỷ XX mới có các công trình văn học sử Nói như vậy để chúng ta thấy rằng, nghiên cứu văn học với tư cách là một hoạt động chuyên môn ở nước ta chỉ mới hình thành vào đầu thế kỷ XX, cho nên, trong những thập niên đầu, nghiên cứu văn học còn chịu nhiều ảnh hưởng của phương pháp nghiên cứu thời trung đại Mãi đến những năm 30 về sau, trong quá trình giao lưu, hội nhập với văn hóa, văn học phương Tây và trước yêu cầu đổi mới nền văn học, các trí thức nước ta mới có điều kiện tiếp cận và học hỏi các phương pháp nghiên cứu mới của văn học phương Tây để áp

dụng vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam Vì vậy, khi tìm hiểu Quá trình hiện đại hóa

hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi cũng xuất

phát từ những những công trình nghiên cứu còn mang đậm dấu ấn của phương pháp nghiên cứu văn học trung đại xuất hiện những năm đầu thế kỷ dần đến những công trình tiếp thu phương pháp khoa học phương Tây, mà đặc biệt là giai đoạn 1930-1945 để thấy rằng: hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một quá trình diễn ra

mang tính tất yếu trước đòi hỏi của nhu cầu mới trong đời sống tinh thần của con người 2.1 Giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX

2.1.1 Ảnh hưởng của quan niệm cổ điển trong hoạt động nghiên cứu văn học

Hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn này mở đầu bằng việc xuất hiện rất nhiều các tác phẩm biên khảo Nhận xét về tình hình nghiên cứu văn học ở những thập niên

này, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) cho rằng: đây là

giai đoạn “phồn thịnh về biên khảo”, với đủ các loại như: biên khảo về triết học, sử học, văn học Trong biên khảo văn học, các nhà biên khảo đặc biệt hướng vào văn học cổ Việt Nam,

Trang 40

nhất là văn chương Nôm; từ sao lục, dịch thuật - phiên âm, hiệu đính, chú giải, phê bình; sưu tập và khảo luận tổng quát về thể cách, nghệ thuật, lịch sử… Một số công trình khảo cứu,

sưu tập có giá trị có thể kể như Việt Hán văn khảo (1918) của Phan Kế Bính, Văn chương thi

phú An Nam (1923) của Hà Ngọc Cẩn, Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa (1925) của Lê Thành

Ý, Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước,

Văn đàn bảo giám (1928) của Trần Trung Viên… Tìm hiểu các công trình biên khảo, nghiên

cứu tác phẩm văn chương trong giai đoạn này, ta thấy, đa số các công trình còn mang tính khái quát, sơ lược; cách nhận định, đánh giá đều không vượt khỏi khuôn khổ ngữ văn học cổ điển; các tác giả còn chịu nhiều ảnh hưởng của quan niệm văn chương thời trung đại ở chỗ thiên về đánh giá, phẩm bình nhiều hơn là phân tích, giải thích các hiện tượng văn học; nhà biên khảo chỉ cần biết tới văn bản với những thần cú, nhãn tự; mà chưa lưu tâm đúng mức

đến những quan hệ xã hội phức tạp đã sản sinh ra tác phẩm Chẳng hạn trong Việt Hán văn

khảo của Phan Kế Bính, khi nghiên cứu tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trấn Quốc Tuấn, ông

nhận xét: “Xem bài Hịch của Hưng Đạo Vương truyền cho các tướng, nhời nhẽ rất kích thiết, bao nhiêu lòng khảng khái trung nghĩa bày tỏ ra cả trên một mảnh giấy làm cho lòng người

cảm động mà giữ vững được giang sơn nhà Trần”; hoặc qua Hịch tướng sĩ “… thấy được sức mạnh của văn chương tiền bối” Nhận xét bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang

Khải, ông cho: “Câu ấy nhời vắn tắt mà ý nhị thì nhiều, có kém gì thơ Đường” Tìm hiểu về

Truyện Kiều, Phan Kế Bính đặc biệt chú ý đến sáng tạo nghệ thuật và cách sử dụng từ ngữ

của Nguyễn Du Ông khẳng định: “Văn lục bát hay nhất không có truyện gì hay bằng Kim - Vân - Kiều (…) Xem toàn quyển truyện, không có một tiếng nào là tiếng đục, không một câu nào là câu non Giọng văn nhẹ nhàng, ý tứ lưu loát, tá dụng những điển tích cũng tài, mà nhất là những chỗ tả cảnh, tả tình, tình cảnh nào như vẽ ra tình cảnh ấy” [131,tr.170] Ông khen Nguyễn Du: “Tả đến người nào hợp với khẩu khí và tính tình của người ấy mới lại khéo tay (…) Nói rút lại thì trong toàn thiên, chữ nào cũng êm, chữ nào cũng thoát, đoạn nào cũng dồi dào ý tứ, tả đến tinh thần, nhời thì nhẹ nhàng mà ý tứ thì bát ngát, càng đọc càng thấy hay, càng nghe càng thấy thú, không khi nào chán được, thiệt là văn chương tuyệt

phẩm của nước Nam ta” [131,tr.172]

Công trình Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) bàn

về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ này dù chưa đủ căn cứ để xác định là một cuốn sách nghiên cứu, phê bình văn học, nhưng ông Lê Thước được giới nghiên cứu văn học trước đây, như Thanh Lãng chẳng hạn, coi là “người đầu tiên đi hẳn vào địa hạt phê

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w