Trong số đó, có nhiều đề tài nghiên cứu về Côn Đảo nhưng chủ yếu là những nghiên cứu kinh tế - xã hội, địa lý, địa chất, kiến tạo nhằm phục vụ cho công tác điều tra, đánh giá tiềm năng
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phạm Thu Hiên
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TRƯỢT LỞ DỌC TUYẾN ĐƯỜNG GIAO THÔNG
HUYỆN CÔN ĐẢO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Chu Văn Ngợi
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3i
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4
1.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi nghiên cứu 4
1.1.2 Địa hình, địa mạo 5
1.1.3 Khí hậu 6
1.1.4 Hải văn - Thủy văn 7
1.1.5 Đặc điểm địa chất 7
1.1.5.1 Địa tầng 7
1.1.5.2 Kiến tạo 10
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16
1.2.1 Dân cư 16
1.2.2 Tổ chức hành chính 17
1.2.3 Kinh tế 17
1.2.4 Giáo dục – Y tế 20
1.2.5 Cơ sở hạ tầng và mức sống dân cư 22
Trang 4ii
Chương 2.
LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Lịch sử nghiên cứu tai biến trượt lở 26
2.1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu trượt lở trên thế giới 29
2.1.2 Tình hình tai biến trượt lở ở Việt Nam [2; 11] 33
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Một số phương pháp địa chất áp dụng trong nghiên cứu tai biến trượt lở38 2.2.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá tài liệu 45
2.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 46
2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 47
2.2.5 Phương pháp đánh giá hiện trạng tai biến 49
2.2.6 Phương pháp đánh giá trọng số trong thành lập bản đồ phân vùng, dự báo trượt lở 54
Chương 3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN TRƯỢT LỞ 60
3.1 Hiện trạng trượt lở 60
3.2 Đánh giá và phân tích nguyên nhân trượt lở 66
3.2.1 Đánh giá nguy cơ trượt lở 66
3.2.2 Phân vùng tai biến và đánh giá nguyên nhân trượt lở 87
Kết luận 93
Tài liệu tham khảo 94
Trang 5iii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí địa lý và phạm vi vùng nghiên cứu 4
Hình 1.2.a Địa hình Côn Đảo mô tả trong một bức tranh do họa sĩ người Pháp vẽ vào cuối thế kỷ 19 5
Hình 1.2.b Toàn cảnh địa hình Côn Đảo chụp từ trên cao 5
Hình 1.3 Sơ đồ địa hình Côn Đảo 6
Hình 1.4 Bản đồ địa chất Côn Đảo [1] 9
Hình 1.5 Sơ đồ đứt gãy có liên quan đến khu vực nghiên cứu 11
Hình 1.6 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương TB-ĐN tại Côn Đảo 13
Hình 1.7 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương ĐB-TN tại Côn Đảo 14
Hình 1.8 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương Á Kinh Tuyến tạiCôn Đảo 14
Hình 1.9 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương Á Vỹ Tuyến tại Côn Đảo 15
Hình 1.10 Hoạt động của sóng biển tạo thành hang động quanh đảo 15
Hình 1.11 Sân bay Côn Sơn 23
Hình 1.12 Cảng Bến Đầm 23
Hình 2.1 Thảm họa trượt tại Aberfan (south Wales, Anh) năm 1966 [29] 31
Hình 2.2 Biểu đồ về số vụ trượt lở và tử vong từ năm 1975 đến 2000 ở một số quốc gia trên thế giới (Nguồn: cơ sở dữ liệu CRED) [25] 31
Hình 2.3 Hiện trạng đá đổ tại thị trấn Frank (Canada) 32
Hình 2.4 Trượt lở xảy ra tại Nova Friburgo, Brazil tháng 1 năm 2011 33
Hình 2.5 Trượt lở trên tuyến đường giao thôn tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011 33
Hình 2.6 Trươ ̣t lở taluy dương theo mă ̣t lớp ở Yên Châu 36
Hình 2.7 Trượt taluy gây ách tắc giao thông 36
Trang 6iv
Hình 2.8 Trươ ̣t đá theo mă ̣t lớp tại Mường Phăng 36
Hình 2.9 Trươ ̣t đá theo mă ̣t lớp tại đèo Tằng Quái 36
Hình 2.10 Cảnh đá trượt, đổ ở Bản Vẽ 37
Hình 2.11 Cảnh đá đổ ở mỏ Rú Mốc 37
Hình 2.12 Cảnh đổ sập đá ở mỏ Hoc Trum 37
Hình 2.13 Sườn dốc thành phần sét chủ yếu có nguy cơ sụp đổ rất nhanh chóng, đặc biệt là khi có mưa bổ sung làm bão hòa nước ở tầng cát kết phía trên (A) Khi trượt, lớp sét đóng vai trò là mặt trượt đồng thời là chất bôi trơn (B) [23] 39
Hình 2.14 Sườn dốc không có đường thoát nước 42
Hình 2.15 Sự biến đổi hệ số an toàn theo góc dốc của sườn 43
Hình 2.16 Sườn dốc có nguy cơ trượt cao khi có mặt hiện tượng tách phiến 44
Hình 2.17.Bốn kiểu trượt thường gặp và hình thái trên lưới chiếu cực đặc trưng 49
Hình 2.18 Mối quan hệ giữa đặc điểm cấu trúc của sườn dốc và phương của tuyến đường sườn dốc được cấu thành từ các dá phân lớp hoặc phân phiến tạo nên các bề mặt gián đoạn ở sườn dốc 51
Hình 2.19 Phép thử Markland đối với phá hủy phẳng sử dụng các vector độ dốc 51
Hình 2.20 Phép thử Markland đối với phá hủy dạng nêm, mỗi vòng tròn lớn vượt qua trung tâm của một tập hợp vector dốc 53
Hình 2.21 Phân tích động học đổ lở 53
Hình 2.22 Mô hình lưới chiếu phân tích đổ lở [27] 54
Hình 3.1 Sơ đồ tuyến khảo sát thực địa 61
Hình 3.2 Trượt lở xảy ra tại taluy dương trên đường từ góc Đông Nam đảo về cảng Bến Đầm 62
Hình 3.3 Điểm xảy ra trượt gần càng Bến Đầm 62
Trang 7v
Hình 3.4 Điểm trượt CD.6 với quy mô nhỏ trên đường từ Bến Đầm về trung
tâm thị trấn 63Hình 3.5 Những khối đá vụn còn lưu giữ ở mép đường sau khi xảy ra trượt 64Hình 3.6 Những khối tảng còn lưu giữ dưới chân sườn sau khi xảy ra đổ lở tại
khu vực gần sân bay Cỏ Ống 65Hình 3.7 Ảnh chụp trên mặt nằm ngang tại CĐ thể hiện trượt bằng trái 66Hình 3.8 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.1 thể hiện trên mô hình
chiếu 67Hình 3.9 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.2 thể hiện trên mô hình
chiếu 67Hình 3.10 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.3 thể hiện trên mô hình
chiếu 68Hình 3.11 Các hệ khe nứt phân cắt sườn thành các khối tảng 69Hình 3.12 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.4 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 69Hình 3.13 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.5 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 70Hình 3.14 Những mặt phá hủy làm mất tính ổn định sườn dốc 71Hình 3.15 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.6 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 71Hình 3.16 Hệ thống khe nứt phân cắt sườn thành các khối tảng lớn gây nguy
hiểm 72Hình 3.17 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.8 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 72Hình 3.18 Nguy cơ trượt, đổ lật và các phá hủy sườn dốc tại CD.8 73
Trang 8vi
Hình 3.19 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.10 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 74Hình 3.20 Hệ thống khe nứt phân cắt sườn thành các khối và nguy cơ trượt
theo mặt lớp 75Hình 3.19 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.12 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 75Hình 3.20 Hệ khe nứt cắm đứng vào trong có nguy cơ gây đổ lở 76Hình 3.21 Sườn bị phân cắt thành khối và có nguy cơ trượt theo mặt phá hủy 76Hình 3.24 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy CD.13 thể hiện trên mô hình
lưới chiếu 76Hình 3.25 Taluy dương bên phải và các hệ cắm đứng 77Hình 3.26 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy taluy phải CD.14 thể hiện
trên mô hình lưới chiếu 77Hình 3.27 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy taluy trái CD.14 thể hiện trên
mô hình lưới chiếu 78Hình 3.27 Taluy hai ben đường vách dốc đứng có nguy cơ trượt và đổ lở cao 79Hình 3.28 Taluy vách dốc đứng bị phân cắt chịu áp lực tải trọng lớn 79Hình 3.30 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy tại CD.15 thể hiện trên mô
hình lưới chiếu 80Hình 3.31 Nguy cơ trượt và đổ lở cao bởi các hệ thống khe nứt cắt phân bố mật
độ cao 80Hình 3.32 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy tại CD.16.1 thể hiện trên mô
hình lưới chiếu 81Hình 3.33 Hệ khe nứt cắm đứng đã từng gây đổ lật 82Hình 3.34 Taluy dốc đứng bị phân cắt thành khối lớn có nguy cơ gây đổ lật 82
Trang 9vii
Hình 3.35 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy tại CD.16.2 thể hiện trên mô
hình lưới chiếu 82Hình 3.36 Taluy dốc đứng và hệ khe nứt dốc cắm ngược hướng có nguy cơ gây
đổ lật 83Hình 3.37 Taluy dương với các hệ khe nứt thẳng đứng và hệ phân cắt cắm vào
trong bị phong hóa mạnh 83Hình 3.38 Thông số sườn dốc và các mặt phá hủy tại CD.17 thể hiện trên mô
hình lưới chiếu 84Hình 3.39 Các hệ khe nứt phân cắt sườn thành nhiều khối, phá hủy tính bền
vững của sườn dốc 84Hình 3.40 Sườn dốc bị phân cắt mạnh, áp lực tải trọng cao có khả năng đổ, lăn 85Hình 3.41 Sườn cấu tạo từ vật liệu gắn kết kém có khả năng đổ lở hoặc lăn 86Hình 3.42 Taluy âm kém bền vững có khả năng trượt hoặc sạt lở 87Hình 3.43 Đoạn taluy dương được kè giảm nguy cơ trượt trên tuyến đường
giao thông Côn Đảo 89Hình 3.44 Sơ đồ hiện trạng trượt lở dọc tuyến đường giao thông trên huyện
Côn Đảo 90Hình 3.45 Sơ đồ phân bố nguy cơ các kiểu trượt lở dọc tuyến đường huyên
Côn Đảo 91Hình 3.46 Sơ đồ phân vùng nguy cơ tai biến trượt lở dọc tuyến đường giao
thông huyện Côn Đảo 92
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 16
Bảng 1.2 Thay đổi dân số trung bình qua các năm (Đ/v: người) 16
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt 18
Bảng 1.4 Diện tích lúa cả năm (ha) (tính đến 2013) 18
Bảng 1.5 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành (Tỷ đồng) 19
Bảng 1.6 Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành (Tỷ đồng) 19
Bảng 1.7 Tổng hợp số trường mầm non, số giáo viên và học sinh trường mầm non (Đ/v: Trường) 21
Bảng 1.8 Tổng hợp số trường trung học năm học 2013 - 2014 21
Bảng 1.9 Cơ sở vất chất y tế 21
Bảng 2.1 Những kích cỡ hạt ứng với giá trị góc ma sát cho những loại đá có thành phần không đồng nhất (Branton 1973 ; Jaeger and Cook 1976) [20] 40
Bảng 2.2 Giá trị góc ma sát của một số loại đá (theo Hoek và Bray, 1981) [23] 40
Bảng 2.3 Giá trị góc ma sát của một số loại đá thu được từ thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, Andre Johan Geertsema, 2003 [22] 41
Bảng 2.4 Tổng hợp thang điểm đánh giá các yếu tố gây trượt [21] 55
Bảng 2.5 Thang điểm chi tiết đánh giá các yếu tố gây trượt [21] 56
Bảng 2.6 Thang điểm phân vùng đới trượt [21] 59
Bảng 3.1 Bảng phân hạng mức độ nguy cơ tai biến cho tuyến đường giao thông 87
Trang 11ix
Lời cảm ơn
Học viên xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN đã tạo điều kiện môi trường học tập và nghiên cứu nghiêm túc, hiệu quả cho học viên
Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Chu Văn Ngợi đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban chủ nhiệm khoa Địa chất, các thầy
cô trong khoa và các thầy cô phụ trách sau Đại học đã dành thời gian và tâm huyết
để truyền đạt kiến thức và tinh thần đam mê nghiên cứu khoa học cho mỗi học viên, đồng thời hỗ trợ học viên trong công tác hoàn thành hồ sơ thạc sĩ đúng thời hạn quy định
Trang 12Mặt khác, quần đảo Côn Đảo với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp được ví như một viên ngọc sáng trong khu vực Tìm hiểu kỹ hơn về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử, con người nơi đây càng thấy quần đảo là một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam Tháng 11 năm 2014, Vườn Quốc gia Côn Đảo chính thức được công nhận là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế,
do tổ chức Công ước Ramsar trao tặng Đây là khu Ramsar thứ 6 và đồng thời là khu Ramsar biển đầu tiên của Việt Nam Với nhiều thắng cảnh đẹp, rừng nguyên sinh với hệ động - thực vật phong phú, đa dạng, đặc biệt là động - thực vật ven biển, các bãi biển đẹp và môi trường trong lành, Côn Đảo có khả năng phát triển tốt loại hình du lịch cảnh quan, du lịch sinh thái
Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ những di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng gắn liền với trang sử hào hùng của dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đóng vai trò quan trọng trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam Bởi vậy, Côn Đảo còn có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa – lịch sử Hiện nay, Côn Đảo đang dần trở thành một điểm đến thu hút khách tham quan cả trong nước và thế giới
Hội tụ đầy đủ những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, di tích lịch sử văn hóa cùng những ưu thế về vị trí địa lý, Côn Đảo có tiềm năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển và du lịch
Trang 132
Với mục tiêu phát triển kinh tế mũi nhọn là du lịch – dịch vụ, những yêu cầu
về cảnh quan, chất lượng môi trường, an ninh xã hội, chất lượng cơ sở hạ tầng, phải được đảm bảo và hoàn thiện
Những năm gần đây, các nghiên cứu khoa học địa chất, môi trường, trong khu vực Biển Đông nói chung và lãnh hải Việt Nam nói riêng đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới Trong số đó, có nhiều đề tài nghiên cứu về Côn Đảo nhưng chủ yếu là những nghiên cứu kinh tế -
xã hội, địa lý, địa chất, kiến tạo nhằm phục vụ cho công tác điều tra, đánh giá tiềm năng du lịch hoặc khai thác khoáng sản, dầu khí Một số ít đề tài có liên quan tới bảo vệ môi trường hay bảo tồn đa dạng sinh học
Vấn đề đảm bảo an toàn giao thông và bảo vệ cảnh quan bờ biển có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng và phát triển Côn Đảo theo hướng bền vững Trong khi
đó, đặc thù về giao thông trên Côn Đảo là chỉ có một con đường duy nhất khéo dài khoảng trên 20km từ sân bay Côn Sơn qua trung tâm huyện tới cảng Bến Đầm Tuyến đường từ sân bay và cảng về trung tâm nhỏ và hẹp, chạy dọc men theo sườn núi, sát mép biển, với taluy dương và taluy âm phần lớn dốc đứng Qua tìm hiểu, học viên được biết, các đề tài nghiên cứu về tai biến địa chất tại đây còn rất hạn chế
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu,
đánh giá các nguyên nhân gây trượt lở dọc tuyến đường giao thông huyện Côn Đảo”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ vai trò các yếu tố địa chất ảnh hưởng đến trượt lở
- Xác định được các nguyên nhân gây trượt lở dọc tuyến đường giao thông huyện Côn Đảo
- Đề xuất được các giải pháp giảm thiểu tai biến dọc các tuyến đường giao thông
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu trượt lở dọc tuyến đường giao thông trên huyện Côn Đảo
Trang 143
4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đã tập trung thực hiên những nội dung chủ yếu sau:
+ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc địa chất khu vực Côn Đảo
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của phương cấu trúc và hướng đổ của đá trong quan hệ với sườn dốc
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các phá hủy kiến tạo (đứt gãy và khe nứt) trong quan hệ với sườn dốc
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa địa hình, thành tạo địa chất và các phá hủy kiến tạo đến trượt lở
+ Đánh giá hoạt động nhân sinh trên Côn Đảo
Từ đó phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm cấu trúc địa chất, địa hình – địa mạo, hoạt động kiến tạo và hoạt động nhân sinh với các yếu tố là nguyên nhân gây
ra tai biến trượt lở
+ Làm sáng tỏ nguyên nhân gây ra tai biến trượt lở tại khu vực nghiên cứu,
đề xuất các biện pháp giảm thiểu tai biến
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 2 Lịch sử và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Phân tích, đánh giá nguyên nhân gây trượt lở
Trang 154
Chương 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi nghiên cứu
Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vùng biển phía Đông Nam nước ta, có tọa độ 8o
36‟ đến 8o48‟ vĩ độ Bắc và 106o30‟ đến 106o48‟ kinh độ Đông, cách Vũng Tàu 97 hải lý, cách mũi Cà Mau 100 hải lý; có tổng diện tích 76km2 gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ (nếu kể cả hai hòn Trứng Lớn và Trứng Nhỏ, cách
xa Côn Đảo khoảng 55 km về phía tây nam, thì quần đảo có 16 hòn đảo) Lớn nhất Côn Đảo là đảo Côn Sơn, có tọa độ khoảng 8°40′57″B - 106°36′26″Đ, diện tích khoảng 51,520 km2, chiếm 2/3 diện tích toàn quần đảo Đảo lớn thứ hai là Hòn Bảy Cạnh, với diện tích khoảng 5,500 km2, nằm ở phía đông nam Côn Đảo Xếp thứ ba
là Hòn Bà hay Côn Lôn Nhỏ, với diện tích 5,450 km2, nằm về phía tây nam Côn Đảo Lớn thứ tư là Hòn Cau, có diện tích 1,800 km2 Các hòn còn lại đều có diện tích nhỏ hơn 1 km2
(Hình 1)
Hình 1.1 Vị trí địa lý và phạm vi vùng nghiên cứu
Trang 165
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Côn Đảo nhìn từ trên cao có dáng vẻ của một con gấu, với thân chính
phương ĐB-TN, chân vươn theo phương TB-ĐN (Hình 1.1) Côn đảo được hình thành do sự phun trào magma nên dạng địa hình phổ biến là núi cao hiểm trở (Hình
1.3) Đỉnh cao nhất là Núi Thánh Giá, nằm về phía tây nam của đảo, với độ cao
577m và các đỉnh xung quanh cũng có độ cao trên 450m, đỉnh núi Chúa là một thung lũng với độ cao khoảng 120m, đây cũng là con đường bộ thuận tiện nhất để đi
từ phía Đông sang phía Tây đảo Tuy nhiên trên đảo Côn Sơn vẫn xuất hiện một vài khu vực tương đối bằng phẳng Phần thấp là một vùng đồng bằng phân dị, với chủ yếu là các bậc địa hình khá rõ, có thể coi như các bậc thềm biển cổ, phổ biến ở mực
độ cao 10m và 2-4 m Các bậc thềm này còn ít được nghiên cứu Bậc 2-4 mét tạo nên một không gian khá rộng lớn và đẹp, nơi thị trấn Côn Đảo tọa lạc (hình 1.2.a & 1.2.b) Thềm này bị phức tạp hóa bởi các doi cát và các đầm hồ sát chân núi Chúng song song với địa hình chính, tạo nên các kiến trúc xu thế uốn cong quay lưng về phía chân núi Bậc địa hình 10 mét, thường bị cắt sẻ hoặc bị che lấp bởi các thành tạo sườn tích, và thành tạo phong thành Ở sườn núi nhiều nơi quan sát được các khối sườn tích lớn, chúng là đơn vị địa mạo chuyển tiếp giữa thềm biển và vách núi cao
Hình 1.2.a Địa hình Côn Đảo mô tả trong
một bức tranh do họa sĩ người Pháp vẽ vào
cuối thế kỷ 19
Hình 1.2.b Toàn cảnh địa hình Côn Đảo chụp từ trên cao (Nguồn: Internet)
Trang 176
Hình 1.3 Sơ đồ địa hình Côn Đảo
Cư dân trên quần đảo từ xưa chủ yếu tập trung ở hai làng An Hải và Cỏ Ống trên Côn Đảo Đó cũng chính là các thềm biển cổ Holocen trung rộng nhất ở Côn Đảo Ngày nay còn có các điểm dân cư khác đó là khu vực Bến Đầm ở phía tây nam (cảng mới) và Bãi Đá Dốc ở phía đông bắc (khu resort) của Côn Đảo
1.1.3 Khí hậu
Do nằm ở vị trí cận xích đạo, Côn Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa và khô rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Do xung quanh là biển, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên độ ẩm cao, chế độ khí hậu ôn hòa hơn so với đất liền Nhiệt độ trung bình năm 26oC, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,3oC (tháng 5), tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất 25,3oC (tháng 1) Lượng mưa trung bình ở Côn Đảo là 2200mm/năm, số ngày mưa trung bình là 166 ngày/năm
Hướng gió chủ đạo của Côn Đảo trong mùa mưa là gió Tây, mùa khô là gió Tây Bắc, Đông Bắc Đặc biệt gió Đông Bắc trong mùa khô mạnh, có khi tới cấp 6, cấp 7 mà người dân nơi đây gọi là gió chướng
Trang 187
1.1.4 Hải văn - Thủy văn
Quần đảo Côn Đảo nằm ở vùng giao nhau giữa luồng hải lưu ấm từ phía nam
và luồng hải lưu lạnh từ phía bắc Nhiệt độ nước biển từ 25 oC đến 29,2o
C
Địa hình Côn Đảo chủ yếu là núi đồi, không có sông rạch, chỉ có khoảng 60 con suối ngắn, nhỏ chảy tạm thời vào mùa mưa Ngoài ra còn có một số hồ, chủ yếu
là hồ nước mặn và một số đầm lầy nước lợ phía sau các đê cát tại khu trung tâm Do
đó nước ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu ở Côn Đảo dùng cho sinh hoạt cũng như các hoạt động kinh tế Điểm đặc biệt là chỉ cần khoan sâu từ 10-20m là có thể tìm thấy các mạch nước ngầm, thậm chí ngay bên cạnh bờ biển Ước tính có thể khai thác được 18,4 triệu m3 nước ngọt trong thung lũng đảo Côn Sơn trong 1 năm Ở Côn Đảo, chỉ có đảo Côn Sơn và Hòn Cau có nước ngọt Ngoài ra ở đây có hồ chứa nước Quang Trung khá lớn (20ha) cung cấp nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế
1.1.5 Đặc điểm địa chất
Trên bình đồ địa chất khu vực, Côn Đảo nằm trên miền vỏ chuyển tiếp giữa vỏ lục địa và vỏ đại dương, thuộc đới nâng Côn Sơn, đóng vai trò kiến trúc phân tách bồn Kainozoi Cửu Long và Nam Côn Sơn Mỗi hoạt động của từng đơn vị địa chất này đều ít nhiều có ảnh hưởng đến khu vực Côn Đảo Theo những tài liệu thu thập được, các đơn vị địa chất này có thể được mô tả như sau:
1.1.5.1 Địa tầng
Vùng Côn Đảo bao gồm 16 đảo trong đó Côn Sơn là đảo lớn nhất, chúng phân bố trong phạm vi đới nâng Côn Sơn Đới nâng Côn Sơn trong Kainozoi là ranh giới giữa hai bồn Cửu Long và Nam Côn Sơn và phân bố kéo dài theo phương ĐB-TN, được cấu tạo chủ yếu từ đá magma (phức hệ Định Quán -J3 dq 1, phức
hệ Đèo Cả K dc 3 và hệ tầng Nha Trang Knt)
Phức hệ Định Quán, pha 1 (-J 3 dq 1) phân bố ở phần đông bắc đảo Côn
Sơn, chiếm ½ diện tích đảo Đá thuộc phức hệ Định Quán gồm diorit horblen biotit, diorit thạch anh pyroxen horblen, gabro-diorit Nhìn chung, đá dập vỡ yếu, thường
bị phân cắt ra các khối tảng lớn (dọc bờ biển tại Bãi Đầm Trầu)
Trang 198
Hệ tầng Nha Trang (K nt) gồm đá phun trào ryolit và tuf phân bố ở tây
nam đảo Côn Sơn và một số đảo khác (Hòn Bà, Hòn Trác, Hòn Tài, Hòn Bãi Cạnh, Hòn Cau, Hòn Tre ) Đá thuộc hệ tầng Nha Trang với bề dày 130m bị dập vỡ mạnh, tạo ra các đới vỡ vụn ở Mũi Cá Mập Trong hệ tầng Nha Trang ghi nhận nhiều đới xiết trượt
Phức hệ Đèo Cả (K dc) gồm các đá granit biotit phân bố chủ yếu trên đảo
Côn Sơn Ngoài ra phức hệ này còn phân bố với diện tích nhỏ ở một số đảo nhỏ (Hòn Trọc, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Trứng Lớn, Hòn Trứng Nhỏ và Hòn Bãi Cạnh) Đá thuộc phức hệ Đèo Cả bị dập vỡ, phân cắt mạnh
Ngoài các thành tạo trước Kainozoi, tại vùng Côn Đảo còn có các thành tạo Pliocen - Đệ tứ với bề dầy mỏng, gồm hệ tầng Biển Đông phân bố ở đáy biển, xung quanh đảo cấu tạo từ cát, bột, sét phân lớp nằm ngang, còn trên đảo gặp hệ tầng Hậu Giang (Q22 hg) và trầm tích biển (Q22-3) Hệ tầng Hậu Giang trên đảo Côn Sơn chủ yếu là cát phân bố ở Trung tâm Côn Đảo, ở sân bay Cỏ Ống Ngoài ra ở một vài nơi, chạy áp sát chân núi hệ tầng Hậu Giang tạo nên các đê cát cao 5 - 6m Trầm tích biển (Q22-3) phân bố ở các bãi biển ở Vịnh Côn Sơn, Vịnh Đông Bắc và Bãi
Đầm Trầu (Hình 1.4)
Trang 209
Hình 1.4 Bản đồ địa chất Côn Đảo [1]
Trang 21Đới nâng Côn Sơn có dạng một phức nếp lồi phát triển kéo dài theo phương Đông Bắc, chủ yếu cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào trung tính, axit thuộc
đá núi lửa rìa đông lục địa châu Á tuổi Mesozoi muộn [1]
+ Đứt gãy
Trong phạm vi vùng nghiên cứu, các đứt gãy liên quan phát triển theo cả 4
phương: TB-ĐN, Á Kinh tuyến, ĐB-TN, Á Vỹ tuyến; được phân bố như sau: (Hình
1.5)
Trang 2211
Hình 1.5 Sơ đồ đứt gãy có liên quan đến khu vực nghiên cứu (theo Phùng Văn Phách, Cao Đình Triều, Trần Tuấn Dũng, Phạm Huy Long)
- Đới đứt gãy Sông Hậu
Đới đứt gãy có phương TB-ĐN, được thể hiện như ranh giới phân chia vi mảng Đông Dương và Sunda vào Kainozoi Đứt gãy này kéo dài trên 1000km từ Bắc Rangoon qua Phnom Penh dọc Sông Hậu đến tận Đông Bắc Côn Đảo Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy có thể đạt tới 50-60km với phương cắm về phía Đông Bắc
Đứt gãy này hoạt động mạnh vào Kainozoi sớm và có hướng dịch trượt bằng phải Nhưng trong Kainozoi muộn có dấu hiệu chuyển trượt bằng trái Cự ly dịch chuyển trái lớn hơn nhiều so với dịch chuyển phải Cự ly dịch chuyển đứng của đứt gãy trên 1000m
Trang 2312
- Đới đứt gãy vách dốc Đông Việt Nam
Đới đứt gãy có phương Á Kinh tuyến, kéo dài 1600km từ đảo Hải Nam đến Natuna và có thể kéo dài tiếp đến đảo Java (Indonesia)
Trong bình đồ cấu trúc Kainozoi hiện nay, đứt gãy này đóng vai trò phân khối kiến trúc lãnh thổ Việt Nam, nó tách phần lục địa và thềm lục địa khỏi phần trung tâm Biển Đông
Đứt gãy này hoạt động mạnh vào Kainozoi sớm, đặc biệt vào Eocen (60-40 triệu năm) với đặc điểm dịch trượt bằng phải ở phần Nam và bằng trái
Paleocen-ở phần Bắc do ảnh hưPaleocen-ởng của đới tách giãn Biển Đông Vào Miocen giữa-Pliocen, đứt gãy hầu như không hoạt động; song vào Holocen, đứt gãy lại hoạt động trở lại kèm theo phun trào bazan
Sau khi có sự dịch chuyển qua đứt gãy Tuy Hòa, đứt gãy vách dốc Đông Việt Nam dường như bị tách làm hai nhánh: nhánh thứ nhất chạy dọc theo ranh giới
bể Cửu Long và Nam Côn Sơn theo phương ĐB-TN và vòng về bể Malai-Thổ Chu (Đứt gãy Hòn Tro-Cảnh Dương); Nhánh thứ hai chạy dọc theo kinh tuyến 109º xuống phía Nam, đến vỹ tuyến 6º thì bị gián đoạn bởi các đứt gãy bậc nhỏ hơn [4]
- Đứt gãy Minh Hải - Thuận Hải
Đới đứt gãy có phương ĐB-TN, kéo dài 270km dọc rìa thềm lục địa Phú Khánh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau
Trong bình đồ kiến trúc hiện nay, đứt gãy này đóng vai trò phân miền cấu trúc miền vỏ lục địa Nam Việt Nam và miền vỏ chuyển tiếp Tây Biển Đông, đồng thời là ranh giới Tây Bắc của bồn Cửu Long trong Kainozoi sớm Vào Kainozoi muộn đứt gãy đóng vai trò phân đới thềm lục địa và khối nâng Côn Sơn Về phía Đông Bắc, đứt gãy bị giới hạn bởi đứt gãy vách dốc Đông Việt Nam, phía Tây Nam
bị giới hạn bởi đứt gãy Ba Tháp (Three Pagoda) Theo tài liệu trọng lực, đứt gãy này có phương cắm về Tây Bắc với góc cắm khoảng 70-75º theo dõi được trong các thành tạo Kainozoi hạ
Trang 2413
- Đứt gãy Nam Côn Sơn - Phú Quý
Đới đứt gãy có phương ĐB-TN, độ dài 450km từ Tây Nam Côn Đảo đến đảo Phú Quý Đứt gãy Nam Côn Sơn - Phú Quý đóng vai trò là ranh giới bể Cửu Long phía Tây Bắc và đới nâng Côn Sơn phía Đông Nam Theo tài liệu trọng lực, đứt gãy dịch trượt nghịch-bằng trái với phương cắm về phía Tây Bắc
- Đứt gãy Côn Sơn - Nam Côn Sơn
Đới đứt gãy có phương Á Vỹ tuyến, dài trên 110km, gồm một loạt đứt gãy cùng phương, dịch trượt bằng phải Đối với các đứt gãy ở phía Bắc, phương cắm về hướng Bắc; trong khi các đứt gãy ở phía Nam có phương cắm về hướng Nam
Trên ảnh viễn thám từ Google Map, chúng ta có thể thấy rõ các hệ thống đứt gãy-khe nứt phát triển theo cả bốn phương
- Tây Bắc – Đông Nam
Hình 1.6 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương TB-ĐN tại Côn Đảo
(Google Map)
Trang 2514
- Đông Bắc – Tây Nam
Hình 1.7 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương ĐB-TN tại Côn Đảo
(Google Map)
- Á Kinh tuyến
Hình 1.8 Hệ thống đứt gãy-khe nứt kiến tạo phương Á Kinh Tuyến tại Côn Đảo
(Google Map)
Trang 26bờ biển hiểm trở Hoạt động của sóng biển nhiều khi tách hẳn các khối đá ra khỏi
đảo, hay tạo thành các hang động, hàm ếch (Hình 1.10)
Hình 1.10 Hoạt động của sóng biển tạo thành hang động quanh đảo
Kết hợp với những khảo sát cụ thể tại Côn Đảo càng chứng minh được rõ sự tương phản trên Các khe nứt theo phương Á Kinh tuyến và Á Vỹ tuyến chỉ xuất hiện đơn lẻ, nằm xen kẽ các đới khe nứt phương TB-ĐN và ĐB-TN
Trang 2716
Ngoài ra, các đứt gãy tại hai bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn cũng
vô cùng đa dạng và sinh động Hai bể này đều là bể tách giãn nội lực Do đó, lực nén ép từ hai bể này lên đới nâng Côn Sơn nói chung và Côn Đảo nói riêng cũng là một yếu tố tạo nên sự phức tạp và đa dạng trong khu vực nghiên cứu
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của để tài học viên không đi sâu vào phân tích chi tiết các hoạt động kiến tạo mà chú trọng đánh giá những ảnh hưởng tới đặc điểm cấu trúc địa chất khu vực có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới tai biến trượt lở tại khu vực
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1 Dân cư
Dân số huyện Côn Đảo nhìn chung không cao, mật độ dân cư trung bình, có tăng nhẹ theo từng năm (Bảng 1.1 & 1.2)
Trước năm 1975 cư dân trên Côn Đảo là các gia đình của các công chức của
chế độ chính quyền Sài Gòn trước đây giám sát các tù nhân chiến tranh và chính trị
Đến nay, phần lớn dân là dân nhập cư
Dân cư tập trung chủ yếu ở đảo Côn Sơn - đây cũng là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của huyện Côn Đảo
Bảng 1.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013
Bảng 1.2 Thay đổi dân số trung bình qua các năm (Đ/v: người)
Thành phần dân tộc: Kinh: chiếm 98,1%; Khơme chiếm 1,7%; Êđê chiếm 0,1% và Tày chiếm 0,1%
Lao động: Trong 5500 người, Côn Đảo có 3901 người trong độ tuồi lao động
Trang 2817
(chiếm 70,93%), trong đó: công viên chức Chính phủ (60%), nông dân (20%), cung cấp các dịch vụ (17%) và ngư dân (3%); số người chưa tới tuổi lao động là 1420 người (chiếm 25,87%) ; số người quá tuổi lao động 179 người (chiếm 3,2%)
1.2.2 Tổ chức hành chính
Đảo Côn Sơn, đảo chính của huyện Côn Đảo gồm 3 khu vực:
- Khu vực Cỏ Ống – nằm ở phía Bắc đảo bao gồm sân bay, căn cứ quân sự
và một làng nhỏ
- Thị trấn Côn Đảo là khu trung tâm của đảo và là khu trung tâm hành chính
và thương mại Ở đây tập trung phần lớn các khu dân cư, các cơ sở vật chất du lịch
và phần lớn các di tích lịch sử như các nhà tù và tượng đài; cung cấp nguồn nước sạch và các phương tiện cho các tàu đánh cá
- Khu bến Đầm là làng cá, cảng thương mại của Côn Đảo
Về hành chính, hiện nay Côn Đảo là một huyện, có chính quyền một cấp, thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bao gồm 10 khu dân cư Ở đây phần lớn cái gì cũng chỉ có một: Một chợ, một cây xăng, một trường mẫu giáo, một trường THCS mang tên Võ Thị Sáu
1.2.3 Kinh tế
Huyện Côn Đảo có tiềm năng thế mạnh để phát triển du lịch, khai thác chế biến hải sản, phát triển cảng biển, dịch vụ dịch vụ dầu khí và hàng hải Có 3 ngành kinh tế chính:
Dịch vụ - Du lịch chiếm 57,66%
Công nghiệp và xây dựng chiếm 24,99%
Nông – lâm – ngư chiếm 17,35%
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 2005)
Tính đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng phát triển du lịch và dịch vụ, cụ thể là:
Dịch vụ 71,63% - tăng 13.97%
Công nghiệp 20,20% - giảm nhẹ 4.79%
Nông nghiệp 8,27% - giảm 9.08%
Trang 2918
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm khoảng 16%, GDP bình quân đầu người đạt 965 USD Ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 33,7%; khách du lịch đến năm 2010 khoảng từ 200 – 250.000 người/năm
+ Nông Nghiệp
Thu nhập từ chăn nuôi và trồng trọt ở Côn Đảo chỉ bằng một nửa so với ngành nuôi trông và đánh bắt hải sản Những năm gần đây, xu hướng thu nhập từ trồng trọt giảm đáng kể Đặc biệt từ năm 2012 huyện đã không còn đầu tư quỹ đất cho trồng trọt và cây lương thực một phần do năng suất không cao và phần khác là chuyển hướng đầu tư sang những những ngành thu lại nguồn lợi cao hơn Bởi vậy, nguồn lương thực cung cấp cho cư dân trên đảo hoàn toàn vận chuyển từ đất liền Cũng chính vì lý do đó mà vai trò của ngành giao thông vận tải càng trở nên quan trọng hơn (Bảng 1.3, 1.4)
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt
Bảng 1.4 Diện tích lúa cả năm (ha) (tính đến 2013)
Trang 3019
+ Lâm nghiệp
Thu nhập từ lâm nghiệp ổn định qua các năm Tuy nhiên, cơ cấu có xu hướng giảm nhẹ phù hợp với định hướng phát triển của huyện nhằm đảm bảo cho Côn Đảo bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên, đẩy mạnh phát triển du lịch (Bảng 1.5)
Bảng 1.5 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành (Tỷ đồng)
Bảng 1.6 Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành (Tỷ đồng)
+ Du lịch - Dịch vụ
Côn Đảo hiện nay là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam, được nhiều
du khách đánh giá là điểm đến của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên, lịch sử với các chương trình du lịch hấp dẫn
Các hoạt động du lịch trên Côn đảo chủ yếu là tham quan các di tích lịch sử văn hóa như: hệ thống nhà tù và các hệ động thực vật đa dạng của vườn Quốc Gia Côn Đảo Phần lớn các hoạt động đều diễn ra trên đảo Côn Sơn, còn lại diễn ra trên
Trang 3120
các bãi biển ở hòn Bảy Cạnh và Hòn Bà Các sản phẩm du lịch tiêu biểu bao gồm:
- Du lịch tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái rừng - biển
- Du lịch thể thao, leo núi, tắm biển
- Du lịch tham quan các di tích lịch sử cách mạng
- Du lịch nghỉ dưỡng và tham quan thắng cảnh
Theo báo cáo của UBND huyện Côn Đảo, vai trò kinh tế du lịch đang được nâng cao Tốc độ tăng trưởng bình quân khách du lịch từ 2011-2014 đạt 18,41%/năm; hoạt động thương mại, dịch vụ từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển;
hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp ngày càng nhiều, chất lượng nâng cao; các dịch vụ gián tiếp cho du lịch như thương mại, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng đều có bước phát triển
Theo Ban quản lý các khu du lịch huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, tính đến tháng 9 năm 2014, huyện Côn Đảo đã đón gần 80.000 lượt khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng, tăng 14,98% so với cùng kỳ năm 2013
Trong đó, có 16.593 lượt khách quốc tế, chiếm hơn 20% tổng số lượt khách đến Côn Đảo Tổng doanh thu từ du lịch, dịch vụ trong 9 tháng đạt gần 277 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu từ đón khách quốc tế là 102 tỷ đồng
Được biết, lượng khách quốc tế đến huyện Côn Đảo tăng cao so với cùng kỳ năm 2013 là do công tác xúc tiến, quảng bá du lịch về Côn Đảo được thực hiện ở một số kênh truyền hình và tạp chí du lịch nước ngoài, đồng thời, các cơ sở kinh doanh du lịch luôn nâng cấp cơ sở vật chất, phương thức đón tiếp, phục vụ
1.2.4 Giáo dục – Y tế
Trên địa bàn huyện, đầu tư về giáo dục được quan tâm Về y tế, do huyện đảo Côn Đảo xa so với trung tâm nên những yêu cầu về vật chất đáp ứng nhu cầu cho người dân chỉ ở mức cơ bản Huyện có chế độ ưu tiên đặc biệt về dịch vụ hàng không chuyên chở đối với những trường hợp khám chữa bệnh, cấp cứu nghiêm trọng Tuy nhiên điều đó vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định Đặc biệt với hướng phát triển của huyện là du lịch, để thu hút được nhiều du khách thì vấn đề
Trang 32Bảng 1.8 Tổng hợp số trường trung học năm học 2013 - 2014
Tổng Trường tiểu học Số trường THCS Trường THPT
Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm vacxin 98%
Trang 3322
1.2.5 Cơ sở hạ tầng và mức sống dân cư
Mức sống dân cư và tình hình an ninh xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung trong đó bao gồm cả huyện Côn Đảo ở mức cao, và được cải thiện đáng kể qua từng năm ở trên cả khu vực thành thị và nông thôn
- Hàng không: sân bay Cổ Ống thực hiện mỗi ngày 1 chuyến bay từ thành
phố Hồ Chí Minh đến Côn Đảo và ngược lại, mỗi chuyến vận chuyển được khoảng
60 – 70 hành khách
Hiện tại, Công ty Dịch vụ Hàng không Việt Nam (VASCO) thực hiện lịch bay 6 chuyến 1 tuần tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo Thông thường các chuyến bay cất hạ cánh vào buổi sáng trừ ngày thứ 7 VASCO hiện đang sử dụng máy bay ATR-72, 64 hành khách trên tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo Mặc dù vậy, các chuyến bay luôn kín chỗ bởi các hành khách thường xuyên, những người sống ở trên đất liền tới Côn Đảo để làm việc và ngược lại, gây nhiều khó khăn cho khách du lịch Hiện nay, việc tổ chức các đoàn tour lớn tới Côn Đảo còn khó khăn do nhiều lý do và một trong những lý do đó là giá vé khứ hồi thành phố
Hồ Chí Minh – Côn Đảo khá cao (Hình 1.11)
- Đường thủy: Hiện đảo có 2 tàu là Côn Đảo 9 và Côn Đảo 10 chạy tuyến
Vũng Tàu - Côn Đảo và ngược lại Mỗi tàu chạy mỗi ngày một chuyến Mỗi chuyến khoản được 200 hành khách
Cảng Bến Đầm là cảng lớn của Côn Đảo Cảng này dùng để phục vụ nghề
cá, hành khách và các hoạt động chuyên chở hàng hóa Công suất hàng năm của Cảng Bến Đầm đạt khoảng 5000 tàu thuyền và được công nhận là 1 chi nhánh của cảng quốc tế Vũng Tàu Ngoài Cảng Bến Đầm, còn có 1 cầu tàu tại Vịnh Côn Sơn
Trang 3423
gần thị trấn Côn Đảo – cầu tàu 914 - Cầu tàu này chủ yếu được sử dụng cho các dịch vụ du lịch như tàu đưa khách tới các đảo ngoài khơi để tham quan, lặn biển và
các tàu cá của người dân địa phương (Hình 1.12)
- Đường bộ: tổng chiều dài của hệ thống đường bộ trên Đảo xấp xỉ 85km
Trục đường chính chạy từ sân bay Cỏ Ống (nằm ở phía Bắc của đảo Côn Sơn) tới Cảng Bến Đầm (nằm ở phía Nam) chạy qua thị trấn Côn Đảo Gần đây huyện Côn Đảo đã nâng cấp hệ thống đường xá cũng như các phương tiện vận tải biển và tăng lịch xe đón tiễn khách tới sân bay Hầu hết khách du lịch thuê xe đạp hoặc xe máy
để đi lại trên đảo Hệ thống giao thông kết nối khá tốt các khu du lịch chính và có thể coi là đáp ứng được các nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai
Hình 1.11 Sân bay Côn Sơn Hình 1.12 Cảng Bến Đầm
+ Điện
Hiện nay điện được cấp cho đảo Côn Sơn bởi 2 máy phát chạy dầu diezel với tổng công suất 4,7 Mê ga Oát, đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện hiện nay trên đảo ước tính khoảng 1,2 Mê ga Oát Các khu vực dân cư sinh sống tại Côn Đảo đều được sử dụng điện, với giá điện trung bình là 900 đồng/ kW Tuy nhiên, các máy điện tại Côn Đảo khá cũ kỹ nên việc cấp điện không ổn định, có thể ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng điện cho du lịch trong tương lai
Trước hàng loạt dự án về du lịch, để đáp ứng nhu cầu về năng lượng điện tăng đột biến trong thời gian tới Mới đây, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp thuận đề nghị của một tập đoàn Thuỵ Sĩ về việc triển khai nghiên cứu và chuẩn bị các thủ tục để thực hiện lập dự án điện gió, công suất 7 MW cho huyện Côn Đảo
Trang 3524
Theo kế hoạch xây dựng nhà máy điện gió công suất 7MW tại Côn Đảo do tập đoàn Aerogie.plus (Thụy Sỹ) phác thảo, vốn đầu tư ước tính khoảng 19 triệu đô la Mỹ
Và vào đầu tháng 08/2008 vừa rồi Bộ Công thương vừa quyết định sẽ triển khai các
dự án đầu tư phát triển năng lượng tái tạo (Diezel – Gió – Mặt trời) tại các huyện đảo trong cả nước Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong 4 huyện đảo được chọn Mục tiêu của dự án là thúc đẩy phát triển kinh tế, cung cấp nguồn năng lượng đầy đủ, đáng tin cậy Tổng nguồn vốn của dự án vào khoảng 65,5 triệu USD, trong đó vốn ODA là 60 triệu USD, hỗ trợ vốn ODA không hoàn lại là 2,5 triệu USD, vốn đối ứng của các tỉnh là 3 triệu USD Thời gian thực hiện từ năm
2009 đến 2013
+ Nước
Nước sinh hoạt và sản xuất trên đảo Côn Sơn chủ yếu được cấp từ hai nguồn: nước ngầm và nước trên mặt Các đảo ngoài khơi chủ yếu sử dụng nước mưa hoặc nước đưa từ đảo Côn Sơn sang Theo nghiên cứu, khả năng cấp nước từ nguồn nước trên mặt và nước ngầm trên đảo có thể đạt 5000 m3/ngày Tuy nhiên hiện tại chỉ mới khai thác được 2000 m3/ngày trong đó tiêu thụ hết 1816m3/ngày, bao gồm cả
550 m3/ngày cấp cho sản xuất đá để phục vụ nghề cá Nhu cầu sử dụng nước của khách du lịch thường cao hơn nhiều so với nhu cầu của người dân địa phương, vì vậy việc cung cấp nước sạch cũng sẽ gây trở ngại lớn cho phát triển du lịch trong tương lai tại Côn Đảo
+ Thông tin liên lạc
Côn Đảo đã được phủ sóng điện thoại và chất lượng sử dụng rất tốt Hiện có
3 mạng điện thoại di động phủ sóng là Vinaphone, Mobiphone và Viettel Ngoài ra
có mạng cố định không dây của Viettel Cuối tháng 8/2007 Côn Đảo đã kết nối Internet tốc độ cao ASDL Ngoài ra, Côn Đảo còn có đài phát thanh và truyền hình
+ Môi trường
Không có hệ thống xử lý nước thải tập trung trên Côn Đảo Nước thải từ các nguồn thường được thu về hệ thống thoát nước dọc theo đường lộ và đổ trực tiếp xuống biển mà không được xử lý Các doanh nghiệp sản xuất địa phương không có
Trang 3625
đủ nguồn lực để xây dựng các phương tiện xử lý nước thải của riêng họ
Trong những năm gần đây toàn huyện Côn Đảo thu gom 2400 tấn chất thải rắn hàng năm Các nguồn thải chính là sinh hoạt gia đình và sản xuất công nghiệp Mặc dù huyện có thu gom rác nhưng việc xử lý vẫn được coi là 1 vấn đề môi trường hầu hết các hộ gia đình đang sử dụng các hệ thống tự hoại chất lượng thấp đối với phân người và các chất thải rắn Đối với các hộ gia đình nông thôn thì chất thải thường được tái sử dụng tại đồng ruộng Hơn nữa không có sự phân loại các chất thải độc hại và vì vậy đáng lo ngại về những ảnh hưởng của chúng tới những nguồn nước ngầm, sức khỏe cộng đồng và các tài nguyên thiên nhiên của huyện
Trang 3726
Chương 2
LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Lịch sử nghiên cứu tai biến trượt lở
Trên thế giới, những nghiên cứu tai biến địa chất được đầu tư rất sớm, nhiều phương pháp khoa học tiên tiến đã được áp dụng vào công tác dự báo nguy cơ thảm họa trong đó có trượt lở đất đá
Năm 1776 Coulomb đã đưa ra phương trình đầu tiên về cường độ chống cắt của đất
Năm 1862 Rankine đã nhận thấy sức kháng trên mặt trượt trong một khối đất một phần từ ma sát, một phần từ lực dính giữa các hạt, tuy nhiên theo thời gian, ảnh hưởng của lực dính dần dần tiêu tan do các quá trình cơ học, do vậy độ ổn định lâu dài của mái dốc là do ma sát quyết định Rankine cũng là người đầu tiên nêu nguyên
lý áp lực đất chủ động và bị động
Năm 1912, sau khi các khối trượt lớn xảy ra ở cảng Gothemburg (Thụy Điển), chính phủ Thụy Điển đã triệu tập một Ủy ban Địa kỹ thuật để xác định nguyên nhân trượt nhằm đề ra các giải pháp xử lý Tuy nhiên các kết quả rút ra từ các nghiên cứu này khá hạn chế Năm 1916, hai kỹ sư người Thụy Sĩ và là Petlerson
và Hultin đã xây dựng phương pháp dung khối lượng riêng đẩy nổi của đất, nhưng chưa xét đến áp lực lỗ rỗng và ứng suất hiệu quả Hellon đề nghị dung cường độ chống cắt không thoát nươc của đất khi tính toán
Trang 3827
Năm 1918, Fellenius đã kết hợp ý tưởng của Hellon và phương pháp Petterson và Hultin thành phương pháp Su – phương pháp phân tích cường độ chống cắt không thoát nước ( = 0)
Năm 1920 Terzeaghi đã đưa ra nguyên lý cường độ chống cắt hiệu quả và mối quan hệ của áp lực nước lỗ rỗng u với sức chống cắt f :
f = c‟ + (n – u)tg‟ Năm 1930 đến 1935, Jurgenson và Casagrande đã đóng góp lớn cho sự phát triển các phương pháp thí nghiệm nén ba trục như cố kết không thoát nước CU, cố kết thoát nước CD, không cố kết thoát nước UU góp phần hiểu thêm về ứng suất hiệu quả trong đất
Năm 1936, trong Hội nghị khoa học quốc tế về cơ học đất và nền móng ở trường Đại học Havard (Mỹ), (Terzaghi đã đề nghị có thể dung phương pháp ứng suất hiệu quả c‟ và ‟ hay ứng suất tổng thể để tính ổn định mái dốc)
Năm 1937, Hvorslev đề nghị sử dụng các thôn số để tính ổn định mái dốc và gọi là các thông số Hvorslev Các thông số có ảnh hưởng rất lớn ở Châu Âu
Năm 1952, Bishop đưa ra phương trình và phương pháp ổn định mái dốc đơn giản
Năm 1952 – 1953, Taylor đưa ra phương pháp gần giống Bishop nhưng có xét đến lực tương tác giữa các mảnh của khối trượt
Năm 1953, tại Hội nghị khoa học quốc tế Cơ học đất và nền móng lần thứ
ba, Skempton đã nhấn mạnh sự khác nhau giữa ổn định lâu dài và ổn định mái dốc ngay sau khi xây dựng
Năm 1957, Skempton và cộng sự đã tìm ra rằng đối với phân tích ổn định lâu dài thì lực dính nên lấy bằng 0 và mái dốc ổn định đối với đất sét London khoảng
10o
Năm 1963 Skempton đã thảo luận sự khác nhau giữa đất sét cứng nguyên dạng và đất sét nứt nẻ và lý do vì sao lực dính hiệu quả giảm về 0 theo thời gian Ông cũng đã đưa ra lý do triệt tiêu lực dính tại thời điểm trượt là cường độ chống cắt không được huy động, hết trên toàn mặt phá hoại tại thời điểm trượt [25]
Trang 3928
Trượt lở là loại hình tai biến phổ biến do đó nghiên cứu trượt lở là vấn đề được đặc biệt quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới Cho đến nay, có rất nhiều phương pháp nghiên cứu mới mang tính định lượng, độ chính xác cao và trên cơ sở khoa học nền tảng là địa chất học, các nhà khoa học còn áp dụng những thành tựu trong khoa học công nghệ, xã hội để kết hợp nghiên cứu về lĩnh vực này Bởi vậy, ở nhiều nơi trên thế giới, những ứng dụng nhằm giảm thiểu tai biến trượt lở được thực hiện rất tốt Đáng kể là mô hình nghiên cứu trượt lở điển hình của trường ITC ở Mehico được xây dựng trên quan điểm tiếp cận địa lý, địa mạo Mô hình SINMAP được xây dựng theo quan điểm địa chất công trình hay phương pháp viễn thám và GIS trong nghiên cứu trượt lở hiện nay cũng đã trở nên rất phổ biến Những phương pháp này được giới thiệu chi tiết về cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thí điểm ở nhiều vùng trên thế giới Từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, khi những công trình ứng dụng hệ thông tin địa lý bắt đầu được sử dụng để nghiên cứu tai biến và trượt đất,
có nhiều mô hình xây dựng trên nền GIS để phân tích và cảnh báo tai biến được hình thành phát triển
Bên cạnh đó, các chương trình Bồi dưỡng và Phát triển Năng lực Quốc tế cho các quốc gia đang phát triển nhằm ứng phó với địa tai biến thông qua dự án hợp tác trong khoa học, xây dựng, cũng là một giải pháp có tính cộng đồng cao Việt Nam cũng là một nước tích cực trong các hoạt động hợp tác khoa học quốc tế đặc biệt trong đó có nghiên cứu tai biến trượt lở
Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ được chú trọng trong khoảng 15 năm trở lại đây khi thảm họa thiên tai xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng gia tăng, đặc biệt là các tỉnh miền núi Ủy ban Quốc gia về phòng chống tai biến đã được thành lập từ nhiều năm nay và cơ quan chuyên về nghiên cứu phòng chống tai biến thiên nhiên (DMU) do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý đã tiến hành rất nhiều đề án nghiên cứu và tổ chức nhiều hội nghị khoa học với nội dung nghiên cứu
về trượt lở
Các công trình nghiên cứu theo hướng áp dụng công nghệ viễn thám - GIS
về trượt lở đất đá ở Việt Nam đã có nhiều tác giả thực hiện, kết quả thu được là các
Trang 402.1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu trượt lở trên thế giới
Xây dựng và khai thác công trình trong những khu vực phổ biến có nhiều khả năng phát sinh ra trượt là một vấn đề phức tạp Kinh nghiệm lâu đời cho thấy: trượt là một hiện tượng địa chất khủng khiếp và thường có quy mô lớn Trong từng khu vực, trượt làm biến đổi hẳn địa hình mặt đất, hủy diệt nhiều hoa lợi ở trên đó, làm mất ổn định công trình, thành phố, kể cả phá hủy hoàn toàn, gây ra tai họa về người và thiệt hại về của cải rất lớn Trong lịch sử phát triển loài người đã xảy ra
các thảm hoạ gây bởi trượt lở đất đá Một số trường hợp có thể kể đến như sau:
Hiện tượng trượt xảy ra tại thung lũng sông Piave (Italia) năm 1963, gần đập vòm Vayont (một trong những đập vòm cao nhất thế giới thời điểm ấy) Khối trượt lớn với khối lượng 240 triệu m3 Tốc độ dịch chuyển của khối trượt từ 15 đến 30m/s Quá trình trượt chỉ kéo dài chưa đến 7 phút, ở hạ lưu đập, thiệt hại kéo theo
vô cùng lớn Các thành phố Lonjerone, Pirago, Villinanova, Rivalta và Fax đều bị cuốn đi Gần 3000 người chết Hiện tượng trượt này đã gây ra nhiều chấn động lớn
mà ngay cả Áo và Bỉ cũng ghi nhận được Nguyên nhân trượt được xác định sau đó