Chính vì vậy, học viên đã chọn đề tài luận văn: “Nghiên cứu xói lở bờ sông Ba đoạn qua Thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai và đề xuất các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại” với các mụ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN MINH QUẢNG
NGHIÊN CỨU XÓI LỞ BỜ SÔNG BA (ĐOẠN QUA THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI) VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
PHÕNG CHỐNG, GIẢM THIỂU THIỆT HẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐỊA CHẤT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN MINH QUẢNG
NGHIÊN CỨU XÓI LỞ BỜ SÔNG BA (ĐOẠN QUA THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI) VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
PHÕNG CHỐNG, GIẢM THIỂU THIỆT HẠI
Trang 3của các cán bộ nghiên cứu tại Viện Địa chất, đặc biệt là Đề tài “Nghiên cứu một
số dạng tai biến địa chất điển hình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên” mã số TN3.T04 (thuộc Chương trình Tây Nguyên 3) đã tạo nhiều
điều kiện thuận lợi để học viên đi thực địa khảo sát chi tiết ở khu vực nghiên cứu (KVNC) và cung cấp các tài liệu, số liệu cùng quá trình tham gia làm việc với các thành viên của đề tài
Trong khuôn khổ luận văn, mặc dù học viên đã cố gắng với khả năng của mình, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, Học viên rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các nhà khoa học
Xin chân thành cám ơn!
Học viên Nguyễn Minh Quảng
Trang 4Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC SÔNG BA ĐOẠN QUA THỊ XÃ AYUN PA 3
1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 3
1.1.2 Địa hình 4
1.1.3 Mạng lưới sông suối 5
1.1.4 Đặc điểm khí hậu 5
1.2 Đặc điểm hình thái sông Ba 6
1.3 Đặc điểm thủy văn Sông Ba 7
1.4 Địa chất 10
1.4.1 Địa tầng 10
1.4.2 Kiến trúc tân kiến tạo 16
Chương 2 LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu xói lở bờ sông 18
2.1.1 Một số vấn đề chung 18
2.1.2 Tình hình nghiên cứu tai biến XLBS 19
2.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Cách tiếp cận 21
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Chương 3 HIỆN TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY XÓI LỞ BỜ SÔNG 30
3.1 Hiện trạng xói lở bờ sông 30
3.1.1 Hiện trạng xói lở bờ sông đoạn chảy qua thị xã Ayun Pa 34
3.1.2 Hiện trạng xói lở bờ sông Ba đoạn chảy qua huyện Ia Pa 36
3.1.3 Hiện trạng xói lở bờ sông Ba đoạn chảy qua huyện Phú Thiện 38
3.2 Các yếu tố gây xói lở bờ sông 38
3.1.1 Đặc điểm thủy động lực dòng chảy 38
3.1.2 Độ uốn khúc 50
Trang 53.1.3 Phân cắt ngang 53
3.1.4 Phân cắt sâu 55
3.1.5 Yếu tố độ dốc lòng 57
3.1.6 Yếu tố đất đá cấu tạo bờ 59
3.1.7 Đặc điểm cấu trúc tân kiến tạo 67
3.1.8 Các yếu tố hoạt động nhân sinh 72
Chương 4 PHÂN VÙNG NGUY CƠ VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÕNG CHỐNG GIẢM THIỂU THIỆT HẠI 76
4.1 Nghiên cứu phân vùng nguy cơ xói lở bờ sông 76
4.2 Giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do tai biến xói lở bờ sông 83
4.2.1 Các giải pháp phi công trình 83
4.2.2 Các giải pháp công trình 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6Danh mục bảng biểu
Bảng 1.1 Đặc trưng hình thái sông Ba
Bảng 1.2 Lưu lượng trung bình các tháng trên sông Ba (trạm Củng Sơn)
Bảng 1.3 Các đặc trưng mùa kiệt trên các sông suối (trạm Củng Sơn)
Bảng 1.4 Lưu lượng của một số trận lũ đo được ở một số trạm thượng lưu sông Ba
và Ayun
Bảng 2.1: Bảng so sánh cặp thông minh
Bảng 2.2: Ma trận so sánh cặp các yếu tố phát sinh tai biến địa chất
Bảng 2.3: Thang điểm độ nhạy cảm XLBS của các yếu tố
Bảng 3.1 Bảng phân chia mực độ xói lở KVNC
Bảng 3.2 Bảng thống kê hiện trạng các cung xói lở bờ sông KVNC
Bảng 3.2 Tốc độ giới hạn của dòng nước không gây xói mòn đất đá
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả phân tích cơ lý KVNC
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp điểm số các lớp và trọng số các nhân tố gây XLBS
Bảng 4.2 Kết quả thống kê nguy cơ XLBS KVNC
Bảng 4.3 Thống kê NCXL theo từng phường xã
Trang 7Hình 3.11 Sơ đồ thành tạo các khúc uốn của sông
Hình 3.12 Sơ đồ về sự phát triển của khúc uốn sông
Hình 3.13 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố hệ số uốn khúc (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Trang 8Hình 3.14 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố độ phân cắt ngang (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 3.15 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố độ phân cắt sâu (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 3.16 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố độ dốc lòng (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 3.17 Sơ đồ đất đá tầng mặt và vị trí phân bố các loại mặt cắt KVNC
Hình 3.18 Bản đồ nguy cơ XLBS theo thành phần đất đá cấu tạo bờ (Thu nhỏ từ tỷ
lệ 1/25.000)
Hình 3.19 Sơ đồ các đới cấu trúc-tân kiến tạo KVNC
Hình 3.20 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố cấu trúc tân kiến tạo (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 3.21 Vị trí các hồ chứa trên lưu vực sông Ba KVNC
Hình 3.22 Bản đồ nguy cơ XLBS theo yếu tố cấu trúc tân kiến tạo (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 4.1 Biểu đồ thống kê giá trị chỉ số NC XL
Hình 4.2 Bản đồ NC XLBS tổng hợp được thành lập theo chỉ tiêu lựa chọn
Hình 4.3 Bản đồ phân vùng nguy cơ XLBS khu vực nghiên cứu (Thu nhỏ từ tỷ lệ 1/25.000)
Hình 4.5 Sơ đồ kiến nghị các giải pháp khoa học công nghệ chống XLBS (Thu nhỏ
từ tỷ lệ 1/25.000)
Trang 9Danh mục ảnh
Ảnh 3.1a Cung xói lở tại phường Hòa Bình (năm 2012)
Ảnh 3.1b Cung xói lở tại phường Hòa Bình (năm 2013)
Ảnh 3.2a Cung xói lở tại khu vực chùa Quý Đức (năm 2012)
Ảnh 3.2b Cung xói lở tại khu vực chùa Quý Đức (năm 2013)
Ảnh 3.3a Cung xói lở tại xã Ia Hiao, huyện Phú Thiện
Ảnh 3.3b Cung xói lở tại chùa Quý Đức, xã Ia RTôk, huyện Ia Pa
Ảnh 3.3c Cung xói lở tại phường Hoa Bình, TX Ayun Pa
Ảnh 3.3d Khảo sát lấy mẫu thạch học công trình khu vực chùa Quý Đức, xã Ia RTôk, huyện Ia Pa
Ảnh 3.4 Cung xói lở trực tiếp vào thềm bậc II, trầm tích đệ tứ có độ gắn kết
Ảnh 3.5a Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên trầm tích của hệ tầng sông Ba
Ảnh 3.5b Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên trầm tích của hệ tầng Sông Ba khu vực thượng nguồn nhánh sông Ba (bờ đối diện gần đỉnh Chư Mố)
Ảnh 3.6a Trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp trên đá phun trào hệ tầng Đơn Dương
Ảnh 3.6b Đá phun trào hệ tầng Đơn Dương
Ảnh 3.7a Khai thác cát dưới lòng sông khu vựu giáp ranh giữa huyện Phú Thiện và
TX Ayun Pa
Ảnh 3.7b Khai thác cát trên bãi khu vựu gần cầu Bến Mộng-TX Ayun Pa
Ảnh 4.1 Người dân quây quanh khu vực 5 em học sinh chết do sập vách bờ cát tại
xã Cư Đrăm, huyện Krông Bông, Đắk Lắk
Ảnh 4.2 Đoạn bờ phải đã được xây dựng kè tại TX Ayun Pa
Ảnh 4.3 Đoạn bờ ở khu vực xã Chư Mố
Ảnh 4.4 Kè bảo vệ cột điện cao thế ở vị trí bên cạnh chùa Quý Đức
Trang 10TB-ĐN -Tây Bắc- Đông Nam
TKT - Tân kiến tạo
Trang 11MỞ ĐẦU
Tình trạng xói lở bờ sông (XLBS) ở các tỉnh Tây Nguyên diễn ra ngày càng trầm trọng, để lại những hậu quả khó lường, gây nên những thiệt hại đáng kể cho sự phát triển kinh tế và gây ra những xáo trộn về mặt xã hội Sông Ba đoạn qua Thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai là nơi đã và đang xảy ra XLBS mãnh liệt Hiện tại, khu vực chùa Quý Đức của huyện Ia Pa đã bị xói lở đến tận móng chùa Chính quyền địa phương đã phải cho di dời chùa đến vị trí khác Phía bên kia bờ sông (bờ tây sông Ba) để phục vụ phát triển bền vững TX Ayun Pa, nhà nước phải chi hơn 400 tỷ đồng đề xây kè bảo vệ khoảng 8km bờ sông từ cầu Quý Đức đến cầu Bến Mộng Với dự án này nếu tính cho cả hai bên bờ sông KVNC thì số tiền lên đến hàng nghìn
tỷ đồng,… Bên cạnh đó, sự hiểu biết của người dân địa phương cũng như các cơ quan ban ngành ở đây về nguyên nhân gây xói lở còn rất hạn chế Chính quyền và người dân bên bờ Tây đổ lỗi cho bên bờ Đông khai thác cát dẫn đến xói lở và ngược lại Trong khi các công trình nghiên cứu về tai biến ở đây chủ yếu giải quyết các vấn đề liên quan đến bão, lũ lụt Chính vì vậy, học viên đã chọn đề tài luận văn:
“Nghiên cứu xói lở bờ sông Ba (đoạn qua Thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai) và đề xuất các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại” với các mục tiêu như sau:
- Làm rõ các yếu tố gây xói lở bờ sông, đánh giá nguy cơ XLBS vùng AyunPa
- Đề xuất các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do tai biến XLBS gây ra
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan các điều kiện tự nhiên, KT-XH khu vực sông Ba đoạn qua thị xã Ayun Pa
Chương 2 Lịch sử và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Hiện trạng và các yếu tố gây xói lở bờ sông
Chương 4 Phân vùng nguy cơ và các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thiệt hại
Trang 12Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Luận văn được hoàn thành tại Viện Địa chất-Viện Hàn lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam trên cơ sở kết quả hai đợt khảo sát thực địa và các số liệu, tài
liệu của Đề tài: “Nghiên cứu một số dạng tai biến địa chất điển hình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên” mã số TN3.T04 (thuộc Chương trình
Tây Nguyên 3)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI
KHU VỰC SÔNG BA ĐOẠN QUA THỊ XÃ AYUN PA
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu được giới hạn từ 108°24'20" đến 108°30'30" Kinh độ Đông và từ 13°21'30" đến 13°27'02" Vĩ độ Bắc Khu vực nghiên cứu là vùng trũng
có dạng địa hào hướng TB-ĐN thuộc trung lưu của sông Ba Đoạn sông được chọn
để nghiên cứu XLBS gồm một đoạn của nhánh sông Ayun và khoảng 20km sông
Ba đoạn chảy qua địa phận TX Ayun Pa, huyện Ia Pa (Hình 1.1)
Hình 1.1 Vị trí sông Ba đoạn qua TX Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
(Ảnh Landsat 2014)
Trang 141.1.2 Địa hình
Khu vực nghiên cứu xói lở bờ sông Ba, đoạn qua TX Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
có thể gọi theo khái niệm là “trũng Ayun Pa”- là dải địa hình trũng giữa núi được bao bọc bởi các dải núi cao xung quanh Trũng có dạng địa hào, kéo dài theo phương TB-ĐN, càng về phía ĐN trũng rộng dần, phần trung tâm là dải đồng bằng tích tụ đệ tứ được tạo nên bởi hoạt động của dòng sông Ba và các nhánh của chúng, với độ cao tuyệt đối dao động trong khoảng 150-154m, nơi thấp nhất là khu vực thôn Jứ Ama Nai (ngã ba giữa sông Ba và sông Ea Thul) Kế tiếp, từ trung tâm vùng trũng đi về hai phía ĐB và TN (ven rìa trũng) là các dải đồng bằng dạng đồi, thềm tích tụ và thềm tích tụ-bóc mòn với độ cao từ 155-170m Sau đó chuyển tiếp thẳng lên địa hình núi qua các vách hoặc sườn núi có độ dốc lớn 30-450 Địa hình KVNC
có dạng bậc thấp dần vào trung tâm
Hình 1.2: Mô hình DEM KVNC
Trang 151.1.3 Mạng lưới sông suối
Trên bình đồ phân bố hệ thống sông Ba, thì khu vực nghiên cứu (KVNC) chỉ chiếm một phần nhỏ của hệ thống sông này (phần trung lưu) Tuy nhiên, mạng lưới sông suối cũng như sự phân bố của các dạng địa hình sông (bãi bồi, thềm sông, uốn khúc sông ) ở khu vực này rất đặc thù không chỉ phản sánh những đặc trưng của cấu trúc địa hình, địa chất, hoạt động kiến tạo mà còn phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoạt động của sông với một số dạng tai biến địa chất ở đây: lũ lụt, trượt lở, XLBS và trên các khe suối nhỏ ở vùng ven rìa trũng Ayun Pa
Khu vực nghiên cứu gồm có dòng sông chính là sông Ba chảy theo phương
từ Bắc xuống Nam, sau đó chuyển sang phương TB-ĐN và nhiều sông, suối nhánh với quy mô chiều dài khác nhau nhập vào dòng chính này Phía bờ phải của Sông
Ba gồm có sông Ayun, sông Ea Rboi, sông Ea Rtô Trong đó sông Ayun là nhánh lớn hơn cả chảy theo hướng từ TB xuống ĐN, còn sông Ea Rboi và Ea Rtô nhỏ hơn chảy theo hướng á kinh tuyến từ Nam lên Bắc Phía bờ trái chỉ có nhánh sông Ea Thul là lớn hơn cả chảy theo hướng dích zắc, phần thượng nguồn chảy theo hướng á kinh tuyến từ Bắc xuống Nam, phần trung lưu theo hướng á vĩ tuyến từ Đông sang Tây và phần hạ lưu chảy theo hướng á kinh tuyến rồi nhập vào sông Ba ở cuối vùng trũng (xã Ia Tul)
Như vậy có thể thấy sông Ba ở khu vực này gồm nhiều nhánh sông chảy từ nhiều phía khác nhau (trùng với các đứt gãy kiến tạo) đổ dồn vào đây tạo nên một
hệ thống mạng sông, suối có kiểu hội tụ rất đặc trưng phản ánh tính chất hạ lún kiến tạo trong giai đoạn này Chính vì vậy khi vào mùa mưa lũ, nước từ các nơi đổ về làm mực nước dâng cao bất thường, không kịp thoát xuống dưới hạ lưu (hiện chỉ có một lối thoát rất hẹp phía TN vùng nghiên cứu) gây ngập lụt cả vùng rộng lớn
1.1.4 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu trên lưu vực sông Ba là khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu sự chi phối của địa hình một cách sâu sắc Ở phía Tây bị chặn bởi dãy núi cao Trường Sơn Ở phía Bắc, là dải núi cao phương á vĩ tuyến (dải núi Bạch Mã), Phía Nam là dải núi
Trang 16cao phương á vĩ tuyến kéo dài ra biển Phía Đông là vùng Biển Đông Với đặc thù
về vị trí địa hình của lưu vực sông Ba như vậy nên khí hậu lưu vực sông Ba mang nét đặc trưng riêng
Về mưa, lưu vực sông Ba nói riêng, dải khu vực Miền Trung nói chung có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng IX đến tháng XII, mùa khô từ tháng I đến tháng VIII Cực đại các trận mưa một ngày đêm trong khu vực thuộc loại lớn ở Việt Nam: Tại An Khê đạt 240,8mm (1987), tại Sông Hinh 674mm (1981), tại Sơn Hoà 579mm (1992), tại Sơn Thành đạt 502mm (năm 1993) và tại Tuy Hoà đạt 628
mm (năm 1993) Thời gian mưa lớn nhất và thời gian xuất hiện lũ lớn nhất trên sông có sự lệch pha không đáng kể
1.2 Đặc điểm hình thái sông Ba
Sông Ba bắt nguồn từ núi Kon Ka Kinh chảy qua các huyện phía Đông của Gia Lai, xuống tỉnh Phú Yên rồi đổ ra Biển Đông khu vực huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên Phần thượng lưu chảy theo hướng TB-ĐN, phần trung và hạ lưu chảy theo phương á vĩ tuyến, (các đặc trưng hình thái sông Ba được thể hiện trên bảng 1.1)
Lưu vực sông Ba ở thượng nguồn nhỏ, sau đó phình ra ở phần trung lưu vực, rồi lại thu hẹp ở phần hạ lưu vực trước khi đổ ra Biển Đông Nhìn chung địa hình lưu vực sông Ba rất phức tạp được tạo ra bởi sự chia cắt của dải Trường Sơn, cao nguyên và đồng bằng, tạo nên những thung lũng sông có độ dốc lớn Độ cao bình quân lưu vực khoảng 500m Sông Ba có nhiều sông nhánh, có hơn 50 sông nhánh
có chiều dài lớn hơn 20 km, 19 sông nhánh có diện tích lưu vực lớn hơn 100 km2 Đặc biệt có 3 sông nhánh chính đó là Ayun, Krông Hnăng và sông Hinh là những nhánh sông lớn hơn cả chi phối và tác động chính đến dòng sông Ba
Trên dòng sông Ba đã có nhiều công trình thủy điện lớn mang tầm cỡ Quốc gia và đã đi vào hoạt động: Thủy điện An Khê-Ka Nak, Đak Srong, Sông Ba thượng, Đak Srông 2 và Sông Ba Hạ (trên sông Ba) Thủy điện Ayun thượng 1 và 2,
Hồ thủy lợi, thủy điện Ayunpa, (sông A Yun) Ở phần hạ lưu còn có hai công trình
Trang 17thủy điện nữa là: Thủy điện Krông Năng, thủy điện Sông Hinh và dập thủy lợi Đồng Cam đã tác động ảnh hưởng lớn đến động lực dòng chảy của dòng sông Ba
Trên bảng 1.1 cho thấy sông Ba có diện tích lưu vực thuộc loại lớn trong khu vực Tây Nguyên và khu vực Miền Trung Độ chênh cao lớn phản ánh tính phân dị địa hình cao đồng thời cũng cho thấy sông ở nhiều đoạn còn rất trẻ và đang ở giai đoạn xâm thực sâu mạnh
Bảng 1.1 Đặc trưng hình thái sông Ba
Diện tích hứng nước (km2)
Độ cao bình quân lưu vực (m)
Độ dốc bình quân lưu vực (%)
Độ rộng bình quân lưu vực (m)
Mật độ sông (km/km2)
Hệ
số uốn khúc
Đoạn sông Ba trong phạm vi nghiên cứu
KVNC chi tiết là một đoạn sông Ba chảy trong địa hình trũng khá bằng phẳng với độ cao trung bình là 155m đến 160m Trong phạm vi nghiên cứu ngoài dòng chính (sông Ba) như trên đã nói còn có 4 nhánh sông khác đổ vào, trong đó có nhánh sông Ayun là nhánh sông lớn hơn cả nằm phía bờ phải của sông Ba Phần thượng lưu của nhánh sông Ayun có công trình hồ đập thủy lợi, thủy điện lớn; Hồ, đập thủy lợi, thủy điện Ayun hạ, Thủy điện Ayun thượng 1 và 1a
1.3 Đặc điểm thủy văn Sông Ba
Do có sự khác biệt về khí hậu giữa các vùng trên lưu vực sông Ba nên đặc điểm lũ trên lưu vực sông Ba rất phức tạp, thời gian lũ thường kéo dài từ 7 đến 9 ngày, thời gian lũ lên từ 2 đến 3 ngày Trên lưu vực đỉnh lũ xuất hiện ở các sông nhánh và sông chính thường không trùng nhau; ví dụ năm 1981 đỉnh lũ xuất hiện tại
An Khê vào ngày 9/XI, tại sông Hinh 10/XI còn tại Củng Sơn là 18/XI Lũ sông Ba thuộc loại lũ lớn, các đỉnh lũ thường xuất hiện chủ yếu vào tháng X và XI, mô đun
Trang 18đỉnh lũ trung bình An Khê khoảng 920 l/skm2, tại Củng Sơn khoảng 660 l/skm2 Trên lưu vực sông Ba xuất hiện ba trận lũ lịch sử vào năm 1938, 1964 và năm 1993
Mùa kiệt trên lưu vực sông Ba kéo dài 9 tháng (Đối với vùng hạ lưu, từ tháng
1 đến tháng 9 với tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy năm và vùng thượng lưu kéo dài 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng dòng chảy chiếm 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy năm Đặc biệt vùng hạ lưu, trong năm còn có 2 thời kỳ kiệt, thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng
4, thời kỳ kiệt thứ 2 xuất hiện vào tháng 8 Hai tháng 7 và 8 lượng dòng chảy chỉ chiếm 3,2% lượng dòng chảy năm
- Lưu lượng dòng chảy
Lưu lượng dòng chảy, vào thời gian trước năm 2008 khi toàn bộ hệ thống sông Ba phần thượng lưu chưa có công trình hồ, đập lớn nào Duy nhất mới có công trình hồ đập thủy lợi Ayun Hạ hoạt động vào năm 1995 Thì lưu lượng đo được tại các trạm phụ thuộc vào lượng mưa ở phía thượng nguồn
Thống kê lưu lượng trung bình của các tháng trong nhiều năm (tính từ năm 2003) trở về trước tại trạm Củng Sơn cho thấy:
Bảng 1.2 Lưu lượng trung bình các tháng trên sông Ba (trạm Củng Sơn) m3/s [1, 8] Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TBN
Q 141 83,1 53,4 44,8 85,1 149 141 251 357 784 842 378 276
Lưu lượng lớn nhất trung bình tháng là 842 m3/s vào tháng XI nhỏ nhất là 44,8 m2/s vào tháng IV Như vậy lưu lượng nước chảy qua vùng nghiên cứu chia thành hai mùa: vào mùa khô trong khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng 7 và vào mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 12 Đồng thời sự chênh lệc giữa hai mùa cũng rất lớn (bảng 1.3, 1.4)
Lưu lượng dòng chảy, vào thời gian từ năm 2008 trở lại đây, hầu hết hệ thống hồ, đập thủy điện trên thượng lưu sông Ba đi vào hoạt động (Thủy điện An Khê-Ka Nak, TĐ Đak Srong, TĐ Sông Ba Thượng (trên dòng sông Ba), Thủy điện Ayun Pa thượng 1, 1a (trên dòng sông Ayun), thì lưu lượng dòng chảy ở đây rất
Trang 19phức tạp và phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động của các nhà máy thủy điện ở phía thượng lưu, mà cụ thể là hai nhà máy thủy điện Sông Ba Thượng và Thủy lơi, thủy điện Ayun Hạ
Bảng 1.3 Các đặc trưng mùa kiệt trên các sông suối (trạm Củng Sơn) [1, 8] Mùa kiệt Ba tháng nhỏ nhất Tháng nhỏ nhất
Tháng xuất hiện
Tháng xuất hiện
Tháng xuất hiện
118,6 9,3 28,6 I-VIII 60,4 4,72 5,47 II-IV 44,8 3,5 1,35 IV
Bảng 1.4 Lưu lượng của một số trận lũ đo được ở một số trạm
thượng lưu sông Ba và Ayun [1, 8]
Thời gian bắt đầu
Thời gian kết thúc
Thời gian xuất hiện đỉnh
Lưu lượng đỉnh lũ (m3
/s)
Pơ Mơ Rê
Trận số 1 1/11/2007
1:00 6/11/2007 19:00 11/2007 13:004 181 Trận số 2 23/11/2008
1:00 28/11/2008 1:00 25/11/2008 19:00 118 Trận số 3 26/9/2009
7:00 2/10/2009 7:00 29/9/2009 19:00 386
An Khê
Trận số 1 1/11/2007
1:00 6/11/2007 19:00 4/11/2007 19:00 1590 Trận số 2 13/10/2007
1:00 19/10/2007 19:00 17/10/2007 19:00 817 Trận số 3 21/11/2008
1:00 28/11/2008 19:00 25/11/2008 19:00 1280 Trận số 4 15/10/2009
1:00 21/10/2009 7:00 17/10/2009 19:00 594 Vào mùa kiệt thì lưu lượng dòng chảy trên sông Ba đoạn đến ngã ba sông Ba
và sông Ayun chính là lưu lượng xả ra từ nhà máy thủy điện Sông Ba thượng (khoảng 25-50 m3
/s) Trên sông Ayun là lưu lượng xả từ nhà máy thủy điện Ayun
Hạ, Còn đoạn cuối, từ ngã ba hợp lưu cửa sông Ba và Ayun thì lưu lượng là tổng của hai lưu lượng từ dòng chính sông Ba và dòng nhánh Ayun ở trên
Trang 20Vào mùa mưa, lưu lượng trên dòng sông Ba khá phức tạp ngoài lưu lượng xả
từ các nhà máy thủy điện thì lưu lượng xả tràn cũng bắt đầu hoạt động, tuy nhiên cũng chỉ tập trung và những trận mưa lớn thì lưu lượng mới tăng lên đáng kể
- Đặc điểm vận tốc dòng chảy Hiện nay các số liệu đo vận tốc tại các trạm
thủy văn rất hạn chế, nên để xác định vận tốc dòng chảy được tính toán dựa theo các thông số lưu lượng dòng chảy ở các tram, ở khu vực hồ, thủy điện và kết quả tính toán mô hình theo các phần mềm khác nhau
+ Tại khu vực đập thủy điện Sông Ba Hạ, trước khi đóng các cửa van tích nước, kết quả đo lưu lượng ngày 21 tháng 4 năm 2008 là 50m3/s Diện tích mặt cắt ướt qua khu vục này chính là hai cửa van của nhà máy với diện tích là 60m2 Như vậy vận tốc dòng chảy ở đây là Vtb = 0,83m/s
Đây cũng chính là vận tốc dòng chảy vào mùa nước kiệt nhất
Tại Trạm Ayunpa, lưu lượng dòng chảy từ năm 2008 trở lại đây cũng rất nhỏ, lớn nhất vào mùa mưa nhưng cũng chỉ có một vài trận lưu lượng đạt tới 1000
m3/s, còn lại dao động từ 500-800m3/s với vận tóc tương ứng khoảng 1,25-2,0 m/s Vào mùa khô thì thấp hơn rất nhiều dao động từ 60-100m3/s vì vậy vận tốc trung bình cũng chỉ vào khoảng 0,15-0,25m/s
1.4 Địa chất
Theo các tài liệu bản đồ địa chất và khoáng sản tờ Tuy Hòa và tờ An Khê tỉ
lệ 1:200 000 và theo các tài liệu phân tích của Phan Đông Pha (Luận án Tiến sĩ) [9] Cho thấy các thành tạo địa chất ở đây chủ yếu là các thành tạo Kainozoi Ngoài ra,
có đá phun trào của hệ tầng Đơn Dương
1.4.1 Địa tầng
Hệ tầng Đơn Dương (K2đđ): Lộ ra ở phía ĐN vùng nghiên cứu và ở ngọn
núi sót Chư Mố Thành phần chủ yếu là đá đacit, ryođacit, ryolit và tuf xen kẹp cuội kết đa khoáng, aglomerat, tuf với xi măng là phun trào felsit
Hệ tầng Sông Ba (N23sb): Trầm tích của hệ tầng Sông Ba nằm lót đáy ở trung
tâm bồn trũng Ayunpa và nằm phủ trực tiếp lên trên các thành tạo địa chất trước
Trang 21KZ thuộc hệ tầng Đơn Dương (K2 đd) hoặc các phức hệ magma xâm nhập có tuổi
khác nhau và còn lộ ra không liên tục trên bề mặt, ở ven rìa vùng trùng trũng, lộ ra nhiều nhất ở phía TB và một ít ở phía ĐN dưới dạng đồi hoặc các mảng đồi thấp Thành phần gồm 2 tập, từ dưới lên như sau:
- Tập 1: Xen kẽ dạng nhịp giữa cuội kết các cỡ hạt với sạn kết và cát kết có chứa các thấu kính sét bột màu xám trắng, xám xanh xen ít xám nâu ở các mặt cắt ven rìa chuyển sang các thành tạo cát kết chứa các ổ và thấu kính cát thô xen kẽ với sét- bột kết, sét kết màu xám xanh và các lớp than nâu ở trung tâm vùng trũng
- Tập 2: Nằm chuyển tiếp từ từ trên trầm tích tập dưới Tập bao gồm các đá cát sạn kết chứa các thấu kính cuội kết, cát kết, cát bột kết, sét kết xen kẽ các lớp than nâu phân bố dạng nhịp Đá có màu xám trắng chuyển lên xám xanh, xám vàng
và loang lổ vàng nâu ở cuối một số nhịp Càng lên trên thành phần mịn trong nhịp càng dày, nhiều nơi chứa các lớp sét than và các thấu kính than nâu Đá gắn kết trung bình đến yếu
Dọc theo dòng sông Ba, các thành tạo đá của hệ tầng Sông Ba cũng phát hiện thấy ở các bờ sông bị các lớp trầm tích Đệ tứ mỏng phủ lên (như ở bờ phải sông đoạn hạ lưu cầu Bến Mộng) và khu vực ngã ba suối Ea Thul và sông Ba
Hệ Đệ tứ Thống Pleistocen
Phụ thống Pleistocen dưới- giữa
Trầm tích sông (aQ11-2): Trầm tích sông tuổi Pleistocen sớm- giữa phân bố ở ven rìa thung lũng sông Ba
Kiểu mặt cắt này phân bố rộng rãi tại trũng Ayun Pa Mặt cắt đầy đủ không được bảo tồn, đa số bị xâm thực chỉ sót lại phần cuội cơ sở Khối lượng mặt cắt tương ứng với “Tầng Xạ Thu (aQ12 xt)” của Trần Tính hoặc “Hệ tầng Xạ Thu (aQ11-2 xt)”
của Trương Khắc Vi đã mô tả trước đây Mặt cắt chung từ dưới lên có 3 tập sau:
-khoáng vật chủ yếu là thạch anh, mảnh đá và rất ít fenspat Hàm lượng (%): Cuội
Trang 22sạn sỏi= 73,95-90,25; cát= 25,88-9,94; bột sét= 0,15-0,01 Md= 4,14-8,2mm; So= 1,68-2,12 Lớp cuội sạn phủ lên các lớp cát kết, bột kết hệ tầng Sông Ba Dày 0,8-1,5m
- Tập giữa: Sạn sỏi, cát màu xám nâu, đôi chổ bị laterit hóa gắn kết cứng chắc Hàm lượng (%): Sạn sỏi= 55,63-75,34; cát= 45,02-14,16; bột= 0,31-9,15 Thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, mảnh vụn đá và rất ít fenspat; Md= 2,24-5,64mm; So= 2,21-1,97 Khoáng vật nặng giàu ilmenit Dày 0,1-0,4m
- Tập trên: Cát, bột lẫn sạn sỏi gắn kết chặt, màu vàng nâu loang lổ Hàm lượng (%): Sạn sỏi= 9,8-14,27; cát= 97,67-95,24; bột= 0,52-1,5 Thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, mảnh vụn đá và rất ít fenspat Md= 0,52-0,65mm; So= 2,38 Dày 0,5-1m
Trầm tích sông tuổi Pleistocen sớm- giữa cấu tạo nên thềm sông bậc IV, phân bố trên độ cao tương đối 60-65m của hệ thống sông Ba và bị thềm sông bậc III phân cắt tạo bậc rõ Trầm tích sông phủ lên các hệ tầng Sông Ba và bề mặt vỏ phong hoá đá gốc trước KZ và bị phủ bởi trầm tích sông tuổi trẻ hơn
Phụ thống Pleistocen giữa-trên
Trầm tích sông (aQ1 2-3 )
Trầm tích sông tuổi Pleistocen giữa-muộn phân bố dọc theo các thung lũng
sông Ba và có khối lượng tương đương với “Tầng Ma Múc (aQ12-3mm)” của Trần Tính hoặc “Hệ tầng Ma Múc (aQ12-3 1mm)” của Trương Khắc Vi
- Tập dưới: Sạn sỏi, cát màu vàng, bở rời, đáy chứa cuội tảng ryolit Hàm lượng (%): Sạn sỏi= 34,8; cát= 59,1; bột sét= 7,95 Thành phần khoáng vật (%): Thạch anh= 64,61; fenspat= 13,01; mảnh đá + sét= 6,1; khoáng vật nặng= 0,04 Md= 1,45mm; So= 2,04, Sk= 0,71; Ro= 0,27 Lớp sạn sỏi này phủ bất chỉnh hợp trên cát kết của trầm tích thuộc hệ tầng Sông Ba (Ảnh 3) Dày 4,4m
- Tập giữa: Sạn sỏi, cát xen kẽ các lớp cát bột dạng phân nhịp màu loang lổ tím, đỏ, vàng Lớp sạn sỏi có đặc điểm thạch học: Hàm lượng (%): Sạn sỏi= 25,7-55,45; cát= 41,15-66,35; bột sét= 3,4-7,75; thành phần khoáng vật (%): Thạch anh=
Trang 2364,61-75,4; fenspat= 6,9-13,1; mảnh đá + sét= 17,7-24,38; khoáng vật nặng= 0,57 Md= 1,45-2,25mm; So= 1,54-1,71; Sk= 0,08-0,68; Ro= 0,3 Dày 8,1m
0,02 Tập trên: Bột cát màu xám vàng, gắn kết yếu Hàm lượng bột ≈ 70%; cát ≈
30% Dày 1,5m Bột cát của tập trên chứa rất ít các dạng BTPH: Gleichenia sp., Osmunda sp., Selaginella sp., Taxodium sp., Cycas sp., Betula sp., khả năng định
tuổi kém Hàm lượng khoáng vật nặng rất ít; gồm: Ilmenit, cromspinel, magnetit, rutil,
Trầm tích sông cấu tạo nên thềm xâm thực tích tụ bậc III, độ cao tương đối
đỏ trắng
Mắt cắt chung từ dưới lên gồm 3 tập:
- Tập dưới: Cuội tảng, sạn sỏi chứa tectit màu trắng đục nâu vàng, nén chặt,
bị laterit hoá yếu Cuội tảng đa thành phần, kích thước 1-40cm, tròn cạnh Một vài nơi các lớp cuội tảng xen kẹp với sạn sỏi, cát bột có dạng phân nhịp hoặc xen kẹp lớp sét bột pha cát màu vàng nâu loang lổ Hàm lượng (%): Cuội, tảng, sạn sỏi= 51,24-65,2; cát= 48,53-25,05; bột sét= 0,23-9,75;
- Tập trên: Cát bộ
Trầm tích sông (aQ 2 1-2 )- Trầm tích sông (aQ 2 1-2 ) cấu thành thềm bậc I với độ
cao tương đối 6-9m phân bố dọc thung lũng Thành phần thạch học gồm: Cuội, sạn
sỏi, cát bột, sét loang lổ hoặc xám nâu, xám trắng
Trang 24Mặt cắt chung từ dưới lên gồm 3 tập:
- -0,5 Thành phần khoáng vật (%): Thạch anh
So= 1,75; Sk= 0,95
- Tập trên: Cát
Trầm tích sông- đầm lầy (abQ2 3 )
Trầm tích sông- đầm lầy Holocen trên có diện phân bố nhỏ ở phía tây bắc vùng nghiên cứu Mặt cắt trầm tích gồm cát sạn, cát sét, sét bột màu xám, xám đen chứa mùn thực vật chưa hóa than hoàn toàn; đôi nơi tạo thành các thấu kính than bùn Dày 1-5m Hàm lượng (%): Cát= 4,6-6,3; bột sét= 93,7-95,4 Md= 0,004-0,002mm; So= 7,389-13,56
Trang 25thường phân bố ở ven rìa các trũng Thành phần vật liệu là sản phẩm phong hoá cơ học của đá gốc, độ chọn lọc và mài tròn rất kém
Trang 26nhỏ.-Tập trên: Sét pha màu nâu vàng chứa sạn sỏi Hàm lượng sét bột= 30-50%, cát= 30-40%, sạn sỏi= 15-20%
Các thành tạo này thường phủ lên trên bề mặt phong hoá đá gốc trước Đệ tứ
1.4.2 Kiến trúc tân kiến tạo
Trũng Ayun Pa, chiếm một phần nhỏ thuộc đới địa hào Sông Ba Hoạt động kiến tạo trũng Ayun Pa liên quan và phụ thuộc và hoạt động kiến tạo của đới đứt gãy Sông Ba Hoạt động của đới đứt gãy Sông Ba đóng vai trò quan trọng trong lịch
sử hình thành bình đồ kiến trúc KZ khu vực Đới đứt gãy hoạt động đã phá huỷ địa khối Kon Tum, một khối cố kết tiền Cambri, góp phần hình thành bình đồ kiến trúc mới dọc đới đứt gãy Sông Ba nói riêng, khu vực Nam Trung Bộ nói chung Trên bình đồ cấu trúc KZ Nam Trung Bộ, đới đứt gãy Sông Ba là ranh giới của khối kiến trúc Gia Lai-Kon Tum và khối kiến trúc Đắk Lắk [9, 10]
Trong tân kiến tạo, trũng Ayun Pa hoạt động theo hai pha chính: Pha sớm (Miocen-Pliocen sớm), Hoạt động sụt lún dạng bậc tạo nên một địa hào sâu kéo dài theo phương TB-ĐN với hai bên trũng (phía ĐB và TN) là các hệ thống đứt gãy thuận lớn cùng phương khống chế trũng này, và trong trũng được lấp đầy bởi các thành tạo trầm tích lục địa tuổi Neogen Pha muộn (Pliocen-Đệ tứ), một phần, hoạt động kiến tạo vẫn mang tính chất kế thừa, tiếp tục sụt lún dạng địa hào và được lấp đầy bởi các trầm tích Đệ tứ bở rời Hoạt động của sông, trong đó sông Ia Yun chịu
sự chi phối và khống chế của trũng dạng địa hào này Mặt khác, hàng loạt các hệ thống đứt gãy trẻ phương á kinh tuyến phát triển cắt xẻ vào trũng được hình thành trước và đã tạo nên hàng loạt các trũng tích tụ đệ tứ phương Á kinh tuyến Dòng sông Ba phần thượng lưu nằm trong kiểu trũng á kinh tuyến này Hệ thống các đứt gãy phương á kinh tuyến không chỉ cắt xẻ các thành tạo Neogen ở trong trũng và còn cắt xẻ sâu vào các thành tạo cổ hơn (thành tạo của hệ tầng Đơn Dương và các phức hệ macma xâm nhập) và đã mở rộng trũng Ayun Pa, rõ nhất là ở phía ĐN của trũng, chiều rộng đạt tới 20km, trong khi đó ở phía TB chỉ vào khoảng 10-15km, làm cho hình thái của trũng Ayun Pa không chỉ là trũng dạng địa hào phương TB-
ĐN mà còn xuất hiện thêm các trũng dạng địa hào phương á kinh tuyến Sự hoạt
Trang 27động kiến tạo của pha muộn hơn (Pliocen-Đệ tứ) còn được chứng minh bởi sự xuất hiện các hoạt động phun trào Bazan tuổi N2-Q1 của hệ tầng Túc Trưng phân bố rộng rãi ở phía TB của KVNC
Như vậy có thể thấy rõ, hoạt động kiến tạo ở khu vực Ayun Pa đã ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của sông, suối lớn trong khu vực Ở nửa phần TB của vùng trũng, đới kiến trúc dạng địa hào phương TB-ĐN đã khống chế và chi phối hoàn toàn hoạt động của sông Ayun, các thành tạo địa hình lòng sông (các bãi bồi, thềm sông) và phân bố của chúng, cũng như hoạt động uốn khúc lòng sông, đều nằm gọn trong dải trũng dạng địa hào này và gần như không vượt ra khỏi phạm vi của trũng Trong khi đó ở nửa phần phía nam hoạt động của dòng sông Ba, một phần chịu sự chi phối của các kiến trúc phương TB-ĐN (đoạn từ ngã ba sông Ba với sông Ayun-về phía hạ lưu đến ngã ba sông Ea Thul với sông Ba), một phần chịu sự chi phối bởi các kiến trúc phương á kinh tuyến (đoạn từ Đak Cha đến ngã ba sông
Ba với sông Ayun Chính sự chi phối của các kiến trúc này mà dòng sông Ba có sự uốn khúc dị thường cũng như sự đổi hướng dòng chảy đột ngột (ở phía đông TX Ayun Pa)
Trang 28
Chương 2 LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu xói lở bờ sông
2.1.1 Một số vấn đề chung
- Tai biến địa chất (Geo Hazard): Hiện nay, các nhà khoa học đều thống
nhất nhận định rằng, tai biến địa chất (TBĐC) là các hiểm hoạ thiên nhiên vô cùng nguy hiểm đối với con người và môi trường sống Do vậy, định nghĩa TBĐC được các nhà khoa học trên thế giới chấp nhận: “Tai biến địa chất là các quá trình (hiện tượng) địa chất hoặc có liên quan đến địa chất xuất hiện tự nhiên hoặc do con người gây ra, gây nguy hiểm hoặc có tiềm năng gây nguy hiểm cho tính mạng và tài sản của con người và môi trường” [2, 15, 16] Công trình này đề cập đến tai biến XLBS,
là một trong những dạng TBĐC nguy hiểm, gây tổn thất cho đời sống của con người
- Khoanh vùng nguy cơ XLBS là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong nghiên cứu phòng tránh giảm nhẹ thiên tai Bản đồ khoanh vùng nguy cơ XLBS (hay còn gọi là bản đồ nguy cơ XLBS) được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về các yếu tố gây ra XLBS Việc khoanh vẽ các khu vực hiện thời chưa bị tác động của XLBS được dựa trên giả định rằng, XLBS trong tương lai sẽ phát sinh trong cùng một điều kiện với XLBS đã xảy ra trước đó Tuỳ theo từng khu vực cụ thể, trong những mức độ nghiên cứu nhất định, các nhà nghiên cứu chọn lựa những thông tin cần thiết để phục vụ cho các nghiên cứu của mình Do đó, độ chính xác, độ tin cậy của bản đồ nguy cơ XLBS tăng lên khi tất cả các yếu tố gây nên XLBS được tính đến Vai trò của các yếu tố tác động phát sinh XLBS được thể hiện thông qua việc xây dựng bản đồ nguy cơ XLBS thành phần trên cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng XLBS trên từng lớp thông tin của từng yếu tố phát sinh XLBS Bản đồ khoanh vùng nguy cơ XLBS các tỉnh Tây Nguyên được xây dựng trên cơ sở tích hợp các bản đồ nguy cơ XLBS thành phần bằng phân tích không gian trong môi trường GIS
- Bản đồ nguy cơ XLBS (hay còn gọi là bản đồ dự báo XLBS) giúp người ta
thấy trước được sự phát triển của tai biến XLBS trong tương lai, giúp trả lời câu hỏi
Trang 29"Ở đâu?" "Khi nào?" và "Với độ nguy hiểm nào?" Bản đồ nguy cơ XLBS có thể trả lời các câu hỏi nói trên đến từng vị trí cụ thể với mức độ chi tiết và chính xác, phụ thuộc vào tỷ lệ của bản đồ Bản đồ nguy cơ XLBS là cơ sở không thể thiếu để xây dựng các bản đồ chuyên ngành phục vụ quy hoạch phát triển bền vững KT-XH và bảo vệ môi trường ở mỗi địa phương
2.1.2 Tình hình nghiên cứu tai biến xói lở bờ sông
Tai biến XLBS đã và đang là mối nguy hiểm cho đời sống của con người ở nhiều nước trên thế giới Những nước có địa hình phân dị mạnh mẽ, cấu trúc địa chất, kiến tạo hiện đại phức tạp, lại nằm trong những miền khí hậu có mưa nhiều, cường độ lớn, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, các nước ở khu vực Alpơ, Bắc
Mỹ, Nam Mỹ là những nước thường xuyên xảy ra tai biến địa chất nói chung, XLBS nói riêng Nhận thức được mối hiểm hoạ này, hầu hết các nước như: Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc đã tập trung nghiên cứu dự báo tai biến XLBS, đưa ra các giải pháp phòng chống, phòng tránh, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do chúng gây ra, mang lại hiệu quả thiết thực cho đời sống của con người Do đó, những nghiên cứu về tai biến XLBS ở các nước nói trên đã đạt được những thành tựu to lớn, thực sự đã làm giảm nhẹ và phòng tránh tai biến có hiệu quả
Ngay từ những năm 1989-1990, Trung Quốc đã thiết lập Atlas Phòng trị tai biến địa chất [16] Đây là một công trình đồ sộ với quy mô lớn, phản ánh đầy đủ những nội dung chủ yếu về nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển, khoanh vùng cảnh báo nguy cơ của từng loại tai biến, để cho mọi người dân có thể hiểu, nắm rõ nguyên nhân, quy luật phát sinh, phát triển và tính nguy hại của từng loại tai biến, từ
đó nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai
Như vậy, trong điều kiện khoa học và kỹ thuật phát triển ngày càng mạnh
mẽ, nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại, tập trung nguồn lực cho nghiên cứu phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra; không chỉ nghiên cứu khoanh vùng cảnh báo nguy cơ, đánh giá nguy cơ thiệt hại, nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật đã tiến tới dự báo diễn biến tai biến trong không gian và theo thời gian, phòng chống, phòng tránh tai biến đạt hiệu
Trang 30quả cao Mạng lưới cảnh báo tự động diễn biến của những tai biến địa chất nguy hiểm đã được lắp đặt ở nhiều nơi, giúp cho người dân phòng tránh tai biến kịp thời, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất
Trên thế giới, các nước Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản đã áp dụng phương tiện khoa học và kỹ thuật hiện đại, tập trung nguồn lực cho nghiên cứu phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra Công tác dự báo diễn biến tai biến trong không gian và theo thời gian được chú trọng đầu tư nghiên cứu, do đó, các giải pháp
áp dụng phòng chống, phòng tránh tai biến đạt hiệu quả cao Một loạt các mạng lưới cảnh báo tự động diễn biến của những tai biến địa chất nguy hiểm đã được thiết lập
ở những nơi có nguy cơ cao, giúp cho người dân phòng tránh tai biến kịp thời, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất
Ở nước ta, mặc dù trong những năm gần đây Chính phủ và nhiều Bộ, Ngành quan tâm nghiên cứu vấn đề này, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế nhất định Tuỳ thuộc vào chuyên môn sâu và nguồn tài liệu hiện có mà mỗi nhà nghiên cứu lại
có phương pháp tiếp cận riêng Do điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, phần lớn các công trình nghiên cứu tai biến địa chất nói chung, XLBS nói riêng mới chỉ tập trung ở vùng lãnh thổ rộng lớn: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và cả nước; thể hiện trên các bản đồ tỷ lệ nhỏ: 1/1.000.000 và 1/500.000,
do đó, việc ứng dụng vào thực tiễn còn hạn chế
Những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu chi tiết và riêng biệt về tai biến XLBS Trong đó, tác giả Đỗ Quang Thiên [11] và Phạm Tích Xuân [13] và một số khác cũng đã áp dụng phương pháp đánh giá các nhân tố tác động đến quá trình XLBS cho khu vực nghiên cức của mình Đỗ Quang Thiên đã quan trắc nhiều năm để phân chia hiên trạng XLBS thành 3 mực dựa vào vận tốc xói lở trung bình năm Đây có lẽ là công trình đầu tiên phân chia hiện trạng ra các xói lở khác nhau Cũng trong công trình của mình tác giả đã phân chia ra các kiểu XLBS dựa vào các đặc điểm địa hình, hình thái sông và hướng gió
Công trình nghiên cứu của Bùi Văn Thơm [12] là một công trình khá chi tiết
về các nhân tố gây XLBS Cách tính toán thủy động lực có thể không đi trực tiếp
Trang 31như các tác giả khác chuyên sâu về thủy văn Tuy nhiên, với hiện trạng số liệu thực
có thì đó là một phương án tốt được Học viên chọn để thực hiện Luân văn,
Đối với các tỉnh Tây Nguyên, vấn đề này lại càng có nhiều bất cập, tồn tại do chưa được đầu tư nghiên cứu chi tiết về vấn đề này Các phân tích đánh giá hiện tượng mới chỉ mang tính thống kê ở các vị trí xảy ra và những thiệt hại đi kèm Phân tích đánh giá vai trò của các yếu tố tác động phát sinh tai biến còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống, do đó, kết quả khoanh vùng nguy cơ tai biến còn hạn chế, các giải pháp phòng tránh còn mang tính tổng thể, chưa cụ thể cho từng đối tượng diễn ra trên địa bàn Các giải pháp công trình áp dụng nhỏ lẻ thiếu tính đồng bộ, mới chỉ mang tính chất khắc phục, tháo gỡ hậu quả thiệt hại trước mắt Chưa có cơ
sở khoa học chắc chắn để xây dựng chiến lược phòng chống, phòng tránh lâu dài, phục vụ cho phát triển bền vững KT-XH của địa phương Hơn nữa, tai biến XLBS ngày càng diễn ra phức tạp, khó kiểm soát, đang gây sức ép lớn đối với các cấp chính quyền địa phương Việc đề phòng và ứng phó khi tai biến xảy ra gặp nhiều khó khăn, lúng túng Hậu quả tai biến XLBS gây ra vẫn khá nặng nề
Sông Ba đoạn qua TX Ayun Pa gần như chưa có công trình nghiên cứu nào
về tai biến XLBS Trong khi, hàng năm XLBS cướp đi hàng nghìn ha đất canh tác, nhiều hộ dân sống ven sông phải di rời, nhiều công trình hư hại Có những công trình mang ý nghĩa tâm linh như ngôi chùa Quý Đức cũng phải ri rời do XLBS đã
ăn sâu vào tận móng chùa Để phát triển TX Ayun Pa, Chính phủ đã phải bỏ ra hơn
400 tỷ đồng để kè khoảng 8km bờ sông từ cầu Quý Đức đến cầu Bến Mộng Trong khi, người dân hai bên bờ sông đỗ lỗi cho việc khai thác cát bừa bài gây ra xói lở
2.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cách tiếp cận
Xói lở bờ sông là quá trình địa chất động lực, hình thành và phát triển trong bối cảnh tác động của nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh Do vậy, để đánh giá hiện trạng, khoanh vùng cảnh báo nguy cơ XLBS làm cơ sở đề xuất các giải pháp phòng chống giảm thiểu thiệt hại cần phải có cách tiếp cận đúng đắn trên quan điểm của địa chất học hiện đại
Trang 32- Tiếp cận trực tiếp: các biểu hiện XLBS là một thực thể hiện hình ngay trên
bề mặt Chính vì vậy, việc trực tiếp khảo sát, đo vẽ chi tiết ngoài thực địa xác định các thông số cơ bản về hiện trạng XLBS, xác định các yếu tố tác động phát sinh là
cơ sở quan trọng trong nghiên cứu đánh giá hiện trạng, khoanh vùng cảnh báo nguy
cơ và đề xuất giải pháp phòng tránh tai biến XLBS
Trên cơ sở điều tra khảo sát đo vẽ chi tiết ngoài thực địa các đặc trưng về vị trí chiều dài cung xói, độ cao vách xói, kiều XLBS, hướng dòng chảy, mô tả lấy mẫu đất đá, đặc điểm các yếu tố gây XLBS (thạch học cất tạo bờ, độ uốn khúc, ) dọc hai bên bờ sông, cho phép đánh giá quy mô, cường độ, tần xuất và vai trò của từng yếu tố trong phát sinh tai biến XLBS
- Tiếp cận hệ thống: XLBS là sản phẩm tác động tương hỗ của các yếu tố nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh Tai biến XLBS được nghiên cứu trong công trình này chủ yếu phát sinh do yếu tố động lực dòng chảy, sự uốn khúc của sông, yếu tố thạch học cấu tạo bờ, đứt gãy hoạt động và yếu tố hoạt động nhân sinh, XLBS được hình thành và phát triển trong một hệ thống mở, chịu sự tác động tương tác của các yếu tố thành phần Mỗi yếu tố thành phần có tính đặc thù, mức độ tác động phát sinh XLBS khác nhau Trên cơ sở đánh giá hiện trạng tai biến và đối sánh với mỗi yếu tố trong
hệ thống mở đó, cho phép tiến hành đánh giá nguy cơ tai biến theo các yếu tố thành phần và tiến tới khoanh vùng cảnh báo nguy cơ tai biến XLBS
- Tiếp cận lịch sử: trong lịch sử địa chất, tai biến địa chất thường diễn ra với tần xuất, quy mô khác nhau Từ những số liệu thống kê ghi nhận trong quá khứ, kết quả khảo sát thực địa các cung XLBS các giai đoạn trước kia cho phép nhận dạng sự xuất hiện và diễn biến của chúng trong và khả năng xuất hiện trong tương lai Do đó, căn cứ vào những tài liệu lịch sử và những kết quả khảo sát hiện trạng XLBS cho phép xác lập sự phân bố, diễn biến và quá trình phát triển của chúng
- Tiếp cận liên ngành: hậu quả của tai biến đã tác động trực tiếp đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Do đó, để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác hiện trạng, các yếu tố tác động phát sinh cũng như hậu quả mà tai biến gây ra, đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu liên ngành: Địa mạo,
Trang 33Địa chất, Khí tượng Thủy văn, Giao thông, Thủy lợi, Các cơ sở dữ liệu của các ngành, lĩnh vực nói trên cho ta có một cách nhìn đầy đủ, tổng quan về hiện trạng và vai trò của các yếu tố tác động phát sinh tai biến địa chất Trên cơ sở đó, cho phép đánh giá vai trò của những yếu tố chính, yếu tố trực tiếp, yếu tố gián tiếp trong phát sinh, phát triển tai biến trên toàn vùng nghiên cứu Từ đó giúp cho việc khoanh vùng cảnh báo nguy cơ, đi đến dự báo tai biến có độ tin cậy và phòng tránh chúng đạt được hiệu quả cao
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Ở một số nước tiên tiến (Nga, Trung Quốc, Mỹ), trên cơ sở nghiên cứu TBĐC, họ đã tổng kết kinh nghiệm, xác lập được hệ phương pháp chuẩn về nghiên cứu TBĐC cho nước mình Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu đánh giá TBĐC là vấn
đề phức tạp Vận dụng kết quả nghiên cứu của các nước tiên tiến, với kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm trong lĩnh vực này, triển khai nhiều đề tài nghiên cứu TBĐC ở nước ta, GS Nguyễn Trọng Yêm đã tổng kết, đưa ra hệ phương pháp nghiên cứu TBĐC kết hợp truyền thống và hiện đại tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với điều kiện hiện tại [14, 15] Thực tiễn đã và đang diễn ra, tuỳ từng KVNC, các nhà khoa học Việt Nam áp dụng hệ các phương pháp nghiên cứu cụ thể theo những mục tiêu đặt ra Trong nghiên cứu đánh giá tai biến XLBS ở sông Ba đoạn qua TX Ayun Pa, tác giả lựa chọn hệ phương pháp nghiên cứu được ứng dụng rộng rải ở Việt Nam để triển khai nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Điều tra, khảo sát nghiên cứu chi tiết ngoài thực địa cho phép thu thập các số liệu về hiện trạng, sơ bộ đánh giá nguyên nhân phát sinh và những thiệt hại do tai biến XLBS gây ra trên địa bàn nghiên cứu Ngoài việc điều tra thu thập các thông tin về các vị trí, quy mô, tình hình thiệt hại do các điểm XLBS đã gây ra trong thời gian trước đây; ngoài thực địa, điểm XLBS được đo vẽ chi tiết, xác định các đặc trưng về vị trí (toạ độ địa lý), kích thước (chiều dài, rộng, sâu của cung xói lở), phân loại, thời gian xuất hiện và thiệt hại do tai biến gây ra Khảo sát đánh giá vai trò của từng yếu tố tác động phát sinh tai biến ở từng vị trí XLBS, cung xói lở cụ thể Đó là
Trang 34những tài liệu quan trọng làm cơ sở để phân tích tổng hợp, khoanh vùng cảnh báo nguy cơ XLBS đạt độ tin cậy và chính xác cao Mặt khác, ngoài thực địa cần điều tra các giải pháp khắc phục hậu quả, xem xét các giải pháp phòng chống XLBS đã được áp dụng, mức độ và hiệu quả của chúng
- Phương pháp phân tích ảnh viễn thám và bản đồ
Viễn thám là phương pháp mới và hiện đại, được ứng dụng để nghiên cứu TBĐC nhờ áp dụng các tiến bộ mới nhất của công nghệ thông tin Phương pháp phân tích viễn thám sẽ là chủ đạo, hỗ trợ đắc lực việc giải quyết các nội dung nghiên cứu tai biến Bề mặt Trái Đất thể hiện đầy đủ, rõ nét trên các dữ liệu ảnh viễn thám: tai biến XLBS, địa hình, địa chất và những thiệt hại về KT-XH của con người Chính vì vậy, giải đoán ảnh vệ tinh bằng mắt thường trên cơ sở các dấu hiệu trực tiếp: tôn màu, sắc màu, hoa văn,… và các dấu hiệu gián tiếp: thực vật, thuỷ văn,…; đồng thời bằng phân tích ảnh số trên cơ sở phần mềm chuyên dụng và bằng phương pháp tổ hợp màu cho phép nhận dạng tai biến XLBS diễn ra trên bề mặt Trái đất cũng như các yếu tố tác động phát sinh tai biến Phân tích ảnh viễn thám đa thời gian cho phép nhận dạng lịch sử hiện trạng XLBS diễn ra trên bề mặt Trái đất,
từ đó cho phép xác lập quy luật, diễn biến và dự báo tai biến làm cơ sở đề xuất các giải pháp phòng tránh, phòng chống trượt lở đất một cách hợp lý
Như vậy, phân tích, xử lý các dữ liệu ảnh viễn thám trong nghiên cứu địa chất nói chung và tai biến XLBS nói riêng không những cho nhiều tài liệu quý mà còn có hiệu quả cao Sử dụng kỹ thuật phân tích ảnh viễn thám không chỉ cho phép xác định vị trí, quy mô XLBS Mà còn cho phép xác định đặc điểm của các yếu tố tác động phát sinh XLBS như: địa mạo, uốn khúc, hướng dòng,… Trong công trình này, tập thể tác giả đã sử dụng ảnh Landsat 2014 và bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 (năm 2000) để nghiên cứu đánh giá hiện trạng tai biến XLBS ở KVNC
- Các phương pháp nghiên cứu, đo đạc và phân tích chuyên ngành
Các phương pháp nghiên cứu, đo đạc và phân tích chuyên ngành được ứng dụng chủ yếu trong việc xác định các yếu tố tác động đến quá trình XLBS Phương pháp phân tích trắc lượng hình thái địa hình, địa chất xác định yếu tố động lực nội,
Trang 35ngoại sinh, đánh giá vai trò của chúng trong phát sinh các tai biến được sử dụng bổ trợ cho nghiên cứu đánh giá yếu tố tác động phát sinh XLBS được chiết xuất từ ảnh viễn thám và bản đồ địa hình tỷ lệ lớn Phương pháp phân tích trắc lượng hình thái địa hình và các biến dạng địa mạo cho phép đánh giá vai trò của các yếu tố địa mạo, tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại phát sinh tai biến XLBS Các phương pháp phân tích biến dạng địa mạo, địa chất trẻ cho phép xác định các đới nứt nẻ, đứt gẫy hoạt động trên thực địa đối sánh với phân tích giải đoán ảnh viễn thám Từ đó cho phép đánh giá vai trò của yếu tố này trong phát sinh tai biến XLBS
Phân tích các đặc địa chất thạch học công trình (độ dính kết, độ cứng của các nhóm đất đá), thủy động lực (tốc độ dòng chảy, hướng dòng chảy), độ uốn khúc, phân cắt ngang, phân cắt sâu,… làm cơ sở đánh giá vai trò của từng yếu tố gây tai biến XLBS
Các phương pháp phân tích xử lý thống kê hiện trạng XLBS đối với từng yếu
tố phát sinh XLBS cho phép xác định vai trò của từng yếu tố trong tổng thể các yếu
tố phát sinh tai biến XLBS Ứng dụng phương pháp thống kê xây dựng những biểu
đồ của các chuỗi số liệu thống kê hiện trạng nhằm tìm ra tính quy luật khi đối sánh với diễn biến của tai biến XLBS theo thời gian
Như vậy, nhóm các phương pháp phân tích chuyên ngành này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu tai biến XLBS Như đã nêu ở trên, tai biến XLBS hình thành và phát triển do tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh và nhân sinh
Do đó, để làm sáng tỏ vai trò của từng yếu tố tác động phát sinh tai biến XLBS cần phải áp dụng các phương pháp phân tích địa mạo, địa chất, kiến tạo
- Phương pháp phân tích đánh giá tai biến
Đây là phương pháp quan trọng quyết định thành công của đề tài Việc tổng hợp xử lý số liệu được thực hiện dựa vào một số phần mềm áp dụng hiệu quả trong phân tích đánh giá TBĐC nói chung, XLBS nói riêng như: Mapinfow, Ilwis, GIS, Các số liệu đầu vào là các kết quả nghiên cứu giải đoán ảnh viễn thám, điều tra khảo sát thực địa, phân tích tổng hợp các yếu tố tiềm ẩn phát sinh tai biến Các tài
Trang 36liệu sử dụng là các bản đồ, ảnh viễn thám ở tỷ lệ phù hợp và được thực hiện trong những năm gần đây
Hiện nay, trong đánh giá nguy cơ TBĐC nói chung, XLBS nói riêng, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận theo hướng mô hình hoá các quá trình gây tai biến
Mô hình tất định (deterministic) là một dạng mô hình dựa trên phân tích bản chất
vật lý của quá trình gây tai biến và điều kiện địa kỹ thuật của KVNC Với mô hình này, quá trình gây tai biến là quá trình vật lý, với các lực tác động làm phá vỡ trạng thái cân bằng Mô hình này giúp đánh giá khả năng gây tai biến Mô hình thống kê
là dạng mô hình được xây dựng dựa hoàn toàn vào phân tích thống kê về mặt toán học các điểm đã xảy ra tai biến Có hai nhóm phân tích thống kê: nhị biến (hồi quy tuyến tính, phân tích tách biệt) và đa biến (chỉ số thông kê, xác suất, trọng số, chứng
cứ, độ lệch chuẩn) Mô hình này giúp đánh giá xác xuất xảy ra tai biến, hoặc nguy
cơ tai biến Mô hình suy nghiệm là dạng mô hình dựa trên phân tích về các nhân tố
có thể gây ảnh hưởng tới tai biến, các chuyên gia đánh giá vai trò của các nhân tố ảnh hưởng thông qua quá trình cho trọng số Mô hình này đánh giá nguy cơ tai biến theo công thức [16, 18]:
Trong đó : H - là chỉ số nhậy cảm với XLBS, Wj - là trọng số của yếu
tố thứ j, Xij - là giá trị của lớp thứ i trong yếu tố gây trượt j
Phương pháp so sánh cặp thông minh của Saaty (1994) được ứng dụng để nghiên cứu khoanh vùng nguy cơ TBĐC nói chung, XLBS nói riêng Trong đó nội dung chủ yếu là đánh giá vai trò của từng yếu tố trong mối quan hệ phát sinh TBĐC, được thể hiện bằng cách cho điểm và tính trọng số Độ nhạy cảm tai biến (Suceptibility map) được xác lập trên cơ sở phân tích đánh giá các yếu tố nguyên nhân sinh tai biến Bản đồ nhạy cảm tai biến là kết quả của sự tích hợp các bản đồ nhạy cảm thành phần và tuân thủ theo công thức nêu trên Bản đồ nguy cơ tai biến (Hazard map) được tạo lập từ kết quả phân tích không gian và thực hiện trong môi trường GIS
Trang 37Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển XLBS có vai trò và tầm quan trọng khác nhau, vì thế, vấn đề quan trọng là đánh giá đúng tầm quan trọng khác nhau đó và chọn được những nhân tố có tầm quan trọng hàng đầu Việc đánh giá một cách định lượng tầm quan trọng của các nhân tố khác nhau trong tập hợp các nhân tố quyết định sự phát triển của XLBS thường thông qua việc xác định trọng số của các nhân tố, dựa vào thống kê các kết quả đo đạc, phân tích thành phần kiến trúc của các nhân tố và vào nhận thức của chuyên gia Ngày nay, để đánh giá trọng số của các nhân tố một cách phù hợp hơn, chính xác hơn, người ta thường
dùng phương pháp phân tích cấp bậc (Anatycal Hiearchy Process - AHP) của Saaty
dựa trên nguyên tắc so sánh giữa các cặp nhân tố mà thường được gọi là “so sánh cặp thông minh” [18]
Phương pháp Saaty dựa vào sự so sánh giữa 2 nhân tố theo nguyên tắc là nếu nhân tố A quan trọng hơn nhân tố B thì A/B>1 và ngược lại, A kém quan trọng hơn
B thì A/B<1 Đương nhiên, nếu A và B quan trọng như nhau thì A/B=1 Và mức độ quan trọng của A so với B càng tăng khi tỷ số A/B càng lớn Và ngược lại, đương nhiên, nếu tỷ số A/B càng nhỏ thì mức độ quan trọng của A so với B càng giảm Saaty đưa ra thang tỷ lệ lý thú cho một “cặp so sánh thông minh” (Bảng 2.1) [18]
Từ những so sánh cặp các yếu tố tác động phát sinh XLBS cho thấy vai trò của từng cặp yếu tố với nhau, từng yếu tố trong tổng thể các yếu tố phát sinh tai biến Từ đây cho phép đánh giá yếu tố nào có vai trò quyết định, yếu tố nào có vai trò ở mức độ nhất định và yếu tố nào có vai trò không rõ ràng trong phát sinh tai biến địa chất nói chung, XLBS nói riêng
Kém quan trọng hơn
Quan trọng bằng nhau
Quan trọng hơn
Quan trọng hơn nhiều
Quan trọng hơn rất nhiều
Quan trọng hơn rất rất nhiều
Trang 38Trên nguyên tắc so sánh nói trên, người ta xây dựng ma trận các cặp so sánh
Và từ ma trận này, theo Vector nguyên lí Eigen tính được một “tập hợp các trọng số phù hợp nhất” Có thể hình dung phương pháp “So sánh cặp thông minh” qua ví dụ sau đây (5 yếu tố với các điểm tương ứng 1, 3, 5, 7, 9):
Cho các nhân tố tác động phát sinh tai biến: A, B, C, D, E và xây dựng ma trận so sánh cặp (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Ma trận so sánh cặp các yếu tố phát sinh tai biến địa chất
đã sử dụng nguyên lý của sự phân hóa về ngữ nghĩa: một đầu của thang điểm này được gán với đại lượng định tính và đầu kia nhận một đại lượng định tính nghịch đảo (Bảng 2.3)
Bảng 2.3: Thang điểm độ nhạy cảm XLBS của các yếu tố Nhậy cảm 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 -10 Không nhậy cảm Phân tích độ nhạy cảm tai biến của yếu tố thành phần (nguy cơ XLBS theo từng yếu tố phát sinh) dựa trên cơ sở đánh giá mối tương quan yếu tố tác động phát sinh tai biến với hiện trạng phân bố XLBS Phân tích so sánh cặp được ứng dụng nhằm xác định vai trò của từng yếu tố thể hiện bằng trọng số của nó trong tổng thể
Trang 39các yếu tố tác động phát sinh XLBS Trên cơ sở đó cho phép xây dựng các bản đồ nguy cơ XLBS thành phần Bản đồ nguy cơ XLBS là tổng hợp các bản đồ nguy cơ thành phần Phương pháp này được ứng dụng để xây dựng bản đồ nguy cơ XLBS KVNC
Trang 40Chương 3 HIỆN TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY XÓI LỞ BỜ SÔNG
3.1 Hiện trạng xói lở bờ sông
Hiện trạng xói lở bờ sông được xây dựng trên cơ sở phân chia mức độ xói lở thành 3 mức: mạnh, trung bình, yếu dựa vào sự đánh giá tổng hợp hai đặc điểm xói
lở của khu vực Ayun Pa (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Bảng phân chia mức độ xói lở KVNC
Mức độ xói lở Thông số
Chiều dài cung xói lở Tần suất xói lở
(Có thể xảy ra vào mưa lũ) Không xói lở (Bờ đá
Ở đây tần suất xói lở được hiểu là sự thường xuyên hay không thường xuyên
bị xói lở của bờ sông Ví dụ ở KVNC các cung bờ lõm dòng nước luôn chảy thẳng vào chân bờ gây xói lở thường xuyên Còn tại các cung bờ lồi được cấu tạo bời các trầm tích bở rời, gắn kết yếu Khi dòng cạn (mùa khô) bờ được ngăn cách với dòng nước bởi các bãi cuội sỏi sạn Vì vậy không xảy ra xói lở Tuy nhiên, vào mùa mưa,
lũ bão dòng nước dâng cao, động lực lớn có thể gây xói lở tại các cung bờ lồi này Tại các cung có tần suất xói lở không thường xuyên này được xếp vào mức xói lở yếu