1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái

67 409 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ nhiễm các loại giun đũa, giun tóc và giun móc của phụ nữ tuổi sinh sản trước và sau can thiệp ở hai huyện .... Những hậu quả tức thời hay lâu dài của tình trạng nhiễm các loại giun

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-oOo -

Trần Thị Thương

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TẨY GIUN ĐỊNH KỲ KẾT HỢP VỚI BỔ SUNG VIÊN SẮT - AXIT FOLIC CHO PHỤ NỮ TUỔI SINH SẢN Ở HAI HUYỆN

TRẤN YÊN VÀ YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-oOo -

Trần Thị Thương

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TẨY GIUN ĐỊNH KỲ KẾT HỢP VỚI BỔ SUNG VIÊN SẮT - AXIT FOLIC CHO PHỤ NỮ TUỔI SINH SẢN Ở HAI HUYỆN

TRẤN YÊN VÀ YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Động vật học

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Ngô Đức Thắng

TS Trần Anh Đức

Hà Nội - 2014

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến TS Ngô Đức Thắng, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, TS Trần Anh Đức, Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội là hai người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến PSG.TS Tạ Thị Tĩnh, Viện Sốt rét –

Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, chủ nhiệm dự án “ Phòng chống thiếu máu tại Yên Bái” đã cho phép tôi được sử dụng một phần số liệu trong dự án để hoàn thành luận văn Xin cám ơn các thầy cô giáo, anh chị và các bạn trong Bộ môn Động vật Không xương sống đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, tại Bộ môn Cám ơn các cá nhân và tập thể Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, các thầy cô trong Ban Chủ nhiệm khoa đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân yêu đã ở bên giúp đỡ, ủng hộ, động viên để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này

Học viên cao học

Trần Thị Thương

Trang 4

ii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái quát đặc điểm sinh học và dịch tễ học của giun đũa, giun tóc và

giun móc 3

1.2 Tác hại của giun đũa, giun tóc và giun móc đối với cơ thể người 7

1.3 Khái quát tình hình nhiễm giun ở Việt Nam 9

1.4 Biện pháp phòng bệnh và điều trị giun đũa, giun tóc, giun móc 14

1.5 Vai trò của sắt và mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu thiếu sắt với

tình trạng nhiễm giun 15

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM,THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4 Các chỉ tiêu đánh giá 25

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28

3.1 Tỷ lệ nhiễm các loại giun đũa, giun tóc và giun móc của phụ nữ tuổi

sinh sản trước và sau can thiệp ở hai huyện 28

3.2 Tỷ lệ thiếu máu (thiếu Hb), thiếu sắt (thiếu SF) ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và sau can thiệp ở hai huyện 38

3.3 Hiệu quả của các biện pháp tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt axit-folic hàng tuần sau can thiệp 46

KẾT LUẬN 52

KIẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân vùng nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc 10

Bảng 1.2 Phân bố sắt trong cơ thể người 15

Bảng 2.1 Phân loại cường độ nhiễm giun đường ruột theo tiêu chuẩn của WHO 26

Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm các loại giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và

sau can thiệp 29

Bảng 3.2 Cường độ nhiễm các oại giun của phụ nữ tuổi sinh sản trước và

sau can thiệp ở hai huyện 33

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và

sau can thiệp 36

Bảng 3.4 Mức độ thiếu máu trước và sau can thiệp của phụ nữ hai huyện 39

Bảng 3.5 Hàm ượng Hb trung bình trước và sau can thiệp 42

Bảng 3.6 Tỷ lệ thiếu SF huyết thanh và hàm ượng SF trung bình trước và sau

can thiệp của phụ nữ ở hai huyện 43

Bảng 3.7 Số thiếu máu có thiếu sắt trước và sau can thiệp 45

Bảng 3.8 Đánh giá hiệu quả sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun và bổ sung viên sắt hàng tuần cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện 48

Bảng 3.9 Sự thay đổi của tỷ lệ nhiễm giun móc, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu máu thiếu sắt theo thời gian sau can thiệp 49

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Trấn Yên 19

Hình 2.2 Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Yên Bình 20

Hình 2.3 Trứng giun đũa 25

Hình 2.4 Trứng giun tóc 25

Hình 2.5 Trứng giun móc 25

Hình 3.1 Tỷ lệ nhiễm các loại giun trước và sau can thiệp ở hai huyện 30

Hình 3.2 Cường độ nhiễm giun chung trước và sau can thiệp 34

Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun ở hai huyện 37

Hình 3.4 Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ ở hai huyện trước và sau can thiệp 40

Hình 3.5 Tỷ lệ thiếu Ferritin của phụ nữ ở hai huyện trước và sau can thiệp 44

Hình 3.6 Tỷ lệ thiếu máu có thiếu sắt ở hai huyện trước và sau can thiệp 45

Hình 3.7 Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu sắt và

tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt 50

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

Giun đũa, giun tóc và giun móc là các loại giun truyền qua đất gặp phổ biến

ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất à các nước đang phát triển liên quan chặt chẽ đến nghèo đói, vệ sinh môi trường thấp kém và chăm sóc Y tế còn khó khăn Tình trạng nhiễm giun truyền qua đất gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con người, thậm chí nó còn là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến tử vong Những hậu quả tức thời hay lâu dài của tình trạng nhiễm các loại giun truyền qua đất có thể gây ra cho mọi lứa tuổi và không chỉ cho một thế hệ như gây thiếu máu, thiếu dinh dưỡng, còi cọc, chậm phát triển về thể chất và trí tuệ ở trẻ em, gây thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ đặt biệt là phụ nữ tuổi sinh đẻ và đang mang thai

Việt Nam à nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu…,chính vì vậy tỷ lệ nhiễm các loại giun truyền qua đất khá phổ biến với sự khác nhau giữa các vùng, các miền và các đối tượng, cao nhất ở miền Bắc và ở nông dân trồng rau màu

Yên Bái là một tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc, cách Hà Nội 180 km có điều kiện kinh tế vẫn còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp, tình trạng vệ sinh môi trường chưa tốt: vẫn còn tập quán dùng phân tươi, không dùng bảo hộ ao động khi tiếp xúc với phân và đất…Đây à những điều kiện thuận lợi cho sự lan truyền và phát triển bệnh giun truyền qua đất Được sự tài trợ của Đại học Melbounre - Australia, năm

2005 Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (VSR – KST –CT TƯ đã hợp tác với Đại học Melbounre – Australia và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng chương trình bổ sung viên sắt– axit folic hàng tuần và tẩy giun định kỳ một năm 1 ần cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 16 đến 45 tuổi tại tỉnh Yên Bái Để đánh giá hiệu quả sau sáu năm can thiệp bằng tẩy giun với Albendazole một năm một lần và bổ sung viên

sắt-axit folic hàng tuần Chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện Trấn Yên và Yên Bình, tỉnh Yên Bái” với 3 mục tiêu sau :

Trang 9

2

1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại hai huyện Yên Bình và Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun định kỳ một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic hàng tuần

2 Xác định tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắt của phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện Yên Bình và Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun định

kỳ một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt- axit folic hàng tuần

3 Đánh giá hiệu quả sau sáu năm can thiệp bằng thuốc tẩy giun định kỳ

một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic hàng tuần

Trang 10

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát đặc điểm sinh học và dịch tễ học của giun đũa, giun tóc và giun móc

Mặc dù không thấy những vết tích gì của giun truyền qua đất trong những tầng địa chất cổ xưa và trong các hóa thạch do cấu tạo của cơ thể giun sán không bền vững, không tồn tại được lâu, nhưng vẫn có thể coi giun sán là những ký sinh trùng có lịch sử xuất hiện rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất và các sinh vật trên trái đất [34]

Đặc điểm sinh học của giun đũa, giun tóc và giun móc

Giun đũa, giun tóc và giun móc đều thuộc ngành Giun tròn (Nematoda) [1]

Giun đũa (Ascaris lumbricoides)

Loài A lumbricoides là loài giun lớn ký sinh ở ruột người, không có môi

trung [1] Giun đũa trưởng thành có màu trắng sữa hoặc hơi hồng, con cái có kích thước 20-25cm x 0,5-0,6cm, con đực có kích thước 15-17cm x 3-4 cm Cơ thể chia thành ba phần : Đầu, thân và đuôi Bên trong cơ thể giun trưởng thành có cơ quan tiêu hóa: ba môi phía đầu giun đũa là bộ phận định hướng, hướng giun đến những vùng có thức ăn Tiếp theo môi giun là một ống tiêu hóa bao gồm thực quản, ruột, hậu môn, giúp giun đũa có khả năng hút chất dinh dưỡng của ruột người Cơ quan sinh dục của giun đũa cái gồm: tử cung, hai ống dẫn trứng, buồng trứng và hai vòi trứng Hai vòi trứng gần đến lỗ sinh dục thì tập trung thành âm đạo và đổ ra lỗ sinh dục cái ở một phần ba trước của thân giun Cơ quan sinh dục đực là một ống tinh hoàn gồm một ống nhỏ, cuộn như cuộn len dần dần ống này to dần ên, à nơi chứa tinh trùng, để đưa ra ỗ phụt tinh ở lỗ hậu môn, ngoài ra còn có hai gai sinh dục chìa

ra ngoài dùng để cố định giun cái trong lúc giao hợp Cơ quan tuần hoàn, bài tiết của giun đũa rất đơn giản [2]

Trang 11

cơ thể Thời gian sống của giun đũa trưởng thành ở người khoảng 12-18 tháng Để hoàn thành vòng đời của mình trong cơ thể người, giun đũa mất 60-75 ngày [2]

Giun tóc (Trichuris trichiura)

Giun tóc thuộc bộ Trichinelloidae, họ Trichuridae, giống Trichuris

Loài T trichiura, có giun tóc trưởng thành hình ống có màu trắng hay hồng

nhạt, kích thước con cái dài 35-50mm, con đực dài 30-45mm Cơ thể chia làm hai phần rõ rệt là phần đầu thì nhỏ như sợi tóc và phần đuôi thì phình to ra, con đực có một gai sinh dục và có bao gai sinh dục [2]

Trứng giun tóc màu vàng, có hình thể đặc biệt giống như quả cau bổ dọc, có nút ở hai đầu, vỏ dày [1]

Giun tóc ký sinh ở đại tràng, chủ yếu là ở manh tràng nhưng có thể ký sinh ở trực tràng Khi ký sinh chúng cắm đầu vào niêm mạc ruột để hút máu và giữ nguyên

vị trí ổn định trong lòng ruột [2]

Giun tóc trưởng thành giao hợp, con cái đẻ trứng trong lòng ruột, trứng theo phân ra môi trường ngoài Giun tóc có khả năng sinh sản thấp hơn giun đũa : Mỗi ngày một con giun tóc cái có thể đẻ được 2000 trứng [3]

Vòng đời của giun tóc cũng thuộc kiểu đơn giản như giun đũa nhưng ấu trùng không chu du qua gan, phổi, tim mà di chuyển xuống manh tràng để ký sinh

cố định [1, 2] Có lẽ vì thế mà vòng đời của giun tóc chỉ khoảng một tháng, đời sống của giun tóc trong cơ thể vật chủ khoảng 5-6 năm [2]

Giun móc ( Ancylostoma duodenale và Necator americanus)

Giun móc (Ancylostoma duodenale ) và giun mỏ (Necator americanus) thuộc

bộ Strongyloidae, họ Ancylostomidae, giống Ancylosides Hai loài này có thể phân

Trang 12

Giun móc ký sinh ở tá tràng, trường hợp nhiễm nhiều giun, giun có thể ký sinh ở đoạn đầu ruột non, khi ký sinh chúng ngoạm vào niêm mạc ruột để hút máu

và chống lại nhu động ruột [2]

Trứng giun móc hình bầu dục, vỏ mỏng trong suốt, nhân chia thành nhiều phần [2]

Giun đực và giun cái trưởng thành giao hợp, con cái đẻ trứng, trứng theo phân ra môi trường ngoài Mỗi ngày một con giun móc cái có thể đẻ được 9.000-30.000 trứng

Cũng giống như giun đũa và giun tóc, vòng đời của giun móc đơn giản nhưng giun móc và giun mỏ có thể lây nhiễm qua da Thời gian để hoàn thành một vòng đời của giun móc là 5-7 tuần, trong cơ thể vật chủ giun mỏ tồn tại 5-7 năm còn giun móc là 10-15 năm [2]

Dịch tễ học bệnh giun đũa, giun tóc, giun móc

Trứng giun đũa, giun tóc, giun móc không có khả năng phát triển trong cơ thể người thành giun trưởng thành, muốn lây truyền được chúng phải có một giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh Các điều kiện thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của trứng giun ở ngoại cảnh là: nhiệt độ, độ ẩm, oxy, độ pH của đất…[22]

Nhiệt độ thích hợp cho trứng giun phát triển là 24 – 30oC Với nhiệt độ này, đối với trứng giun đũa, sau 12 - 15 ngày; đối với trứng giun tóc sau 17- 30 ngày, tỷ

lệ trứng có ấu trùng lên tới 90%; riêng với trứng giun móc chỉ sau 24 giờ trứng đã phát triển thành ấu trùng Nếu nhiệt độ thấp thì thời gian phát triển kéo dài, có khi tới vài tháng và tỷ lệ trứng hỏng cao, nhiệt độ càng cao tỷ lệ trứng hỏng càng nhiều

Trang 13

Độ ẩm từ 80% trở ên à điều kiện tốt cho trứng giun phát triển Chất đất cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của ấu trùng giun như: đất cát, vùng ven biển, hầm

mỏ và các đường hầm nơi mà nhiệt độ và độ ẩm cao à nơi rất thuận lợi cho ấu trùng, trứng giun móc phát triển [3, 5, 12, 13]

Căn cứ vào chu kỳ của giun thì người là vật chủ duy nhất, trứng và ấu trùng giun sẽ không còn sau một thời gian nếu không được bổ sung thêm mầm bệnh Từ môi trường ấu trùng giun có vào được cơ thể người hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố iên quan đến đời sống sinh hoạt của con người Tỷ lệ người nhiễm sẽ giảm đi rất nhiều nếu như không bị tái nhiễm vì giun chỉ sống ở ruột người một thời gian nhất định [13, 16, 17, 36, 37] Vậy những điều kiện góp phần ảnh hưởng vào quá trình trên là do quản ý phân người chưa chặt chẽ:

+ Việc sử dụng phân người àm phân bón chưa được xử lý

+ Sử dụng hố xí không hợp vệ sinh: hố xí thùng, hố xí một ngăn…

+ Thói quen phóng uế bừa bãi ra môi trường xung quanh

+ Không sử dụng bảo hộ ao động: không đi găng tay khi dùng phân bón ruộng, hoa màu…

Qua điều tra sự ô nhiễm trứng giun ở ngoại cảnh: từ 75% - 100% mẫu đất có trứng giun, 60% - 80% mẫu rau có trứng giun [16, 26, 27], không những thế nguồn trứng còn có ngay trong bụi bặm [16] Tỷ lệ đất nhiễm trứng giun ở đất tại Bắc Giang là: 60% đối với trứng giun đũa, 5,2% đối với trứng giun móc Tại Quảng Ninh: ở ngoại thành 1,6 trứng giun móc/10g đất, ở gần hố xí 4 trứng giun móc/10g đất Ở trung du 1 trứng giun móc /580g đất Đối với trứng giun móc ở nước giếng là 55,5% mẫu nước có trứng giun móc và 1 trứng giun móc/1,7 ít nước giếng đất [22]

Trang 14

7

1.2 Tác hại của giun đũa, giun tóc và giun móc đối với cơ thể người

Tác hại của giun đũa

Nhiễm giun đũa có thể không có biểu hiện triệu chứng hoặc có biểu hiện triệu trứng âm sàng cũng khác nhau tùy từng trường hợp: có trường hợp nhiễm nhiều giun nhưng biểu hiện lâm sàng nhẹ, có trường hợp chỉ nhiễm ít nhưng triệu chứng lâm sàng rất rầm rộ, thậm chí phải nghĩ đến cấp cứu Tác hại của giun đũa theo giai đoạn phát triển của giun: Giai đoạn ấu trùng, giai đoạn giun trưởng thành [2]

Trong giai đoạn chu du, ấu trùng giun đũa gây tổn thương những cơ quan, tổ chức mà ấu trùng đi qua, biểu hiện rõ ở phổi, gây hội chứng Loeffler Tại phổi, ấu trùng gây tổn thương phế nang làm chảy máu, đồng thời gây viêm, dị ứng…biểu hiện lâm sàng à ho khan, đau ngực, xảy ra ở ngày thứ 7 đến ngày thứ 10 [1, 34]

Giun đũa trưởng thành trực tiếp chiếm chất dinh dưỡng, gây rối loạn chuyển hóa và tác động cơ học gây nên biến chứng ngoại khoa nguy hiểm như tắc ruột, giun chui ống mật, viêm tắc ruột thừa, tắc ống tụy Trẻ em bị nhiễm giun đũa gây suy dinh dưỡng cao hơn à nhóm không bị nhiễm giun đũa (49% so với 32%) [1, 22]

Tác hại của giun tóc

Khi ký sinh, giun tóc cắm sâu phần đầu vào niêm mạc ruột làm tổn thương

và viêm niêm mạc ruột Nếu người bệnh bị nhiễm nhẹ chỉ thấy đau bụng, buồn nôn, khó tiêu, táo bón Theo Đỗ Dương Thái (1974), kiểm tra những người nhiễm giun tóc mức độ 200 trứng/1g phân không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, mức độ >

500 trứng/1g phân mới có những triệu chứng, chứng tỏ có tổn thương có thể bệnh học rõ ràng Những trường hợp nhiễm trên 20.000 trứng/1g phân có hội chứng lỵ nghiêm trọng Nếu người bị nhiễm nặng và kéo dài có thể có hiện tượng thiếu máu hoặc sa trực tràng [1, 34]

Trang 15

8

Giun tóc trực tiếp hút máu, đồng thời nơi ký sinh thường thấy hoại tử niêm mạc, rỉ máu Mỗi ngày một con giun tóc hút 0,005 ml máu [1, 34] Theo Đỗ Dương Thái và nnk (1974), nghiên cứu ở trẻ em nhiễm giun tóc thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ

em là 7,7% và tỷ lệ thiếu máu có thể lên tới 38,3% khi bị nhiễm giun tóc [34]

Tác hại của giun móc

Khi ấu trùng xuyên qua da, tại chỗ da này có sự tăng tiết men Hyaluronidase gây nên hiện tượng mẩn đỏ, ngứa Đó à hiện tượng viêm da, dân gian gọi là bệnh

“đất ăn chân” Bệnh thường diễn biến từ 3-5 ngày rồi hết, có thể kéo dài đến 2 tuần [3, 22]

Giun móc trưởng thành dùng răng ngoạm vào niêm mạc ruột để hút máu, đồng thời gây chảy máu tại nơi giun hút bám àm mất một khối ượng máu đáng kể [25] Như vậy hậu quả nghiêm trọng nhất của giun móc là gây thiếu máu Thiếu máu do giun móc chiếm 30% trong các thiếu máu nói chung, là thiếu máu từ từ vì quá trình gây bệnh kéo dài (mãn tính), gây thiếu máu nhược sắc: hồng cầu nhỏ, hồng cầu không đều [41, 42] Bệnh giun móc từ âu đã được biết đến là nguyên nhân gây mất máu tại ruột non dẫn tới tình trạng thiếu máu thiếu sắt và suy dinh dưỡng Thiếu máu thiếu sắt do giun móc ở mức độ trung bình và nặng được coi là bệnh do giun móc [51]

Nếu số ượng giun móc trên 500 con sẽ thiếu máu nặng Sự mất máu dẫn đến giảm thể tích của hồng cầu, thiếu sắt và rối loạn về tuần hoàn Nghiên cứu khả năng hút máu của giun móc khi ký sinh ở người, kết quả của các tác giả đều thấy

A duodenale hút máu nhiều hơn N americanus Theo Adams (1984) và Caberera

(1987) thì giun A duodenale hút 0,16- 0,34ml máu /1 ngày /1 con; N americanus

hút 0,03- 0,05ml máu /1 ngày /1 con [4, 46] Theo Trần Xuân Mai (1995) và Trần

Xuân Mai (1999) thì A duodenale hút 0,14 – 0,26 ml máu/1 ngày /1 con,

N americanus hút 0,02 – 0,07 ml máu/1 ngày /1 con Rouche (1984) có nhận xét,

với những người nhiễm 500 con giun móc mỗi ngày có thể mất từ 40-80ml máu Lượng máu mất này là yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mất máu của người bệnh

Trang 16

9

[1, 22, 23] Nếu cường độ nhiễm 2000 trứng /1g phân tương đương 80 con giun,

ượng sắt mất đi ở ruột và phân à 1,3mg đối với N americanus và 2,7mg đối với

A duodenale [1, 23, 50] Người bị nhiễm giun móc có bị thiếu máu hay không còn

phụ thuộc vào một số yếu tố: số ượng giun, thời gian nhiễm bệnh, các dự trữ sắt trong cơ thể, chế độ sắt nạp vào, sự hấp thu và các nhu cầu sắt sinh lý

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề (1995) trên 478 người bị nhiễm giun móc (từ 02-70 tuổi) chúng tôi thấy: 74,6% trường hợp có số ượng hồng cầu giảm; 3,4% hematocrit giảm, 12,3% sắt huyết thanh giảm, 76,1% trường hợp bạch cầu axit tăng Hemog obin (Hb) giảm ở người nhiễm giun móc nhẹ là 51,3% Hàm ượng Hb trung bình 9,7g /d Người nhiễm giun móc nặng 91% giảm Hb, hàm ượng Hb trung bình là 8,8g /dl [10]

Thiếu máu do giun móc không những giảm Hb, giảm sắt mà còn giảm protein, giảm Vitamin A, B1, B2

Như vậy, tác hại do giun đũa, giun tóc và giun móc đều rất nguy hiểm và nguy hiểm nhất, đáng quan tâm nhất là tác hại của giun móc vì giun móc gây thiếu máu Thiếu máu trong bệnh giun móc có 3 nguyên nhân:

- Giun móc hút máu trung bình 0,2ml máu /1 ngày /1 con

- Giun móc tiết ra chất độc ức chế cơ quan tạo huyết

- Giun móc tiết ra chất chống đông máu, chính vì vậy tại nơi giun móc hút

máu máu vẫn tiếp tục chảy sau khi giun móc đã nhả ra

1.3 Khái quát tình hình nhiễm giun ở Việt Nam

Theo WHO (2006) ở Việt Nam có trên 65 triệu người nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc, bệnh phổ biến khắp 64 tỉnh thành trên toàn quốc Với tỷ lệ nhiễm ở miền Bắc nhiễm cao hơn miền Trung và miền Nam, tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất

và sau đó đến nhiễm giun tóc và tỷ lệ nhiễm giun móc thấp hơn cả Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm giun móc ở miền Trung lại cao hơn tỷ lệ nhiễm giun móc ở miền Bắc và miền Nam [59]

Trang 17

10

Bảng 1.1 Phân vùng nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc tại Việt Nam

Tình hình nhiễm giun đũa: Tỷ ệ nhiễm giun đũa phân bố không đều: miền

Bắc cao hơn miền Nam (80-95% so với 45-60%), ở vùng đồng bằng cao hơn miền núi và vùng ven biển (80-95% so với 38,4% - 12,5%) Tỷ ệ nhiễm giun đũa ở nông dân tỉnh Quảng Ninh à 92,31% [6], tỷ ệ này ở Yên Bái năm 1999 à 89,34% [33],

Trang 18

11

ở Thái Bình à 93,1- 94,3% [43] Tỷ ệ nhiễm iên quan đến tuổi và nghề nghiệp: ứa tuổi nhiễm cao nhất à trẻ em từ 5-9 tuổi, nông dân tiếp xúc với phân, đất có tỷ ệ nhiễm cao hơn người àm nghề khác Nguyên nhân à do ở đồng bằng miền Bắc 90% nông dân sử dụng phân tươi để bón úa và hoa màu Tuy tỷ ệ nhiễm cao nhưng cường độ nhiễm chủ yếu à nhiễm nhẹ và không có sự khác nhau về tỷ ệ nhiễm giữa nam và nữ [1, 9, 39]

Tình hình nhiễm giun tóc: Ở những vùng có bệnh giun đũa đều có bệnh

giun tóc, ở Việt Nam có tỷ ệ nhiễm giun tóc: 71-81% ở đồng bằng, ở vùng núi có

tỷ ệ nhiễm thấp hơn Tỷ ệ nhiễm ở miền Bắc à 30-81% còn ở miền Trung và miền Nam tỷ ệ nhiễm thấp hơn [35] Tỷ ệ nhiễm giun tóc ở nông dân Quảng Ninh (1998) là 42,47% [6], tỷ ệ này ở Yên Bái à 50,45% [30], ở Thái Bình à 79,8-80,7% [43] Theo điều tra của VSR – KST – CT TƯ (1998), thì tỷ ệ nhiễm giun tóc cao đứng sau giun đũa [18]

Tình hình nhiễm giun móc: Theo WHO, Việt Nam được xếp vào vùng ưu hành giun móc Qua điều tra những năm gần đây thấy rằng phân bố bệnh giun móc

ở Việt Nam có những đặc điểm khái quát sau:

Tỷ lệ nhiễm giun móc khá cao, đứng hàng thứ hai sau giun đũa: từ 81 – 83%, Phạm Tử Dương (1957): từ 32,1- 53,3%, Viện SR – KST – CT TƯ (1960 – 1970)

và 30 – 40% Phạm Văn Thân (1967 – 1972) [3] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Kim và nnk (1998), qua 500.000 mẫu phân cho thấy miền Bắc: vùng đồng bằng nhiễm: 3-60%, vùng trung du nhiễm: 58 - 64%, vùng núi nhiễm: 61% và ven biển nhiễm: 67% Miền Trung: vùng đồng bằng nhiễm: 36%, miền núi nhiễm: 66%, ven biển nhiễm: 69% và Tây Nguyên nhiễm: 47% Miền Nam: đồng bằng nhiễm: 52%, ven biển nhiễm: 68% [18, 40]

Cường độ nhiễm giun móc nhìn chung không cao, đa số ở các vùng điều tra,

số trứng trung bình/1g phân dưới 1000 trứng [18, 40]

Sự phân bố tỷ lệ nhiễm giun ở các vùng khác nhau à do điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện vệ sinh canh tác ở từng vùng khác nhau Theo nghiên

Trang 19

12

cứu của Nguyễn Văn Chương (2013), tại 4 tỉnh miền Trung – Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăk Lăk) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc chung của 4 điểm nghiên cứu là 20,88%; tuy nhiên tỷ lệ nhiễm giun móc ở điểm Ea Kênh, huyện

K rông Pách chiếm tỷ cao nhất 27,31%, thấp nhất à Điện Thọ, tỉnh Quảng Nam (12,25%) Theo kết quả ngiên cứu của Ngô Thị Tâm (2005), tại huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk tỷ lệ nhiễm giun móc là 52,7%, nghiên cứu của Thân Trọng Quang (2009) cũng ở cộng động dân tộc Ê đê tại Đăk Lăk à 37,2%; nghiên cứu của Trần Quang Phục (2006) tại xã Tiền Yên ( Hoài Đức – tỉnh Hà Tây) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc là 53,5% [7, 25, 29, 31]

Nghề nghiệp ảnh hưởng lớn đến nhiễm giun móc: nông dân có tỷ lệ nhiễm cao hơn ngư dân (76% so với 55%) Vùng trồng rau màu có tỷ lệ nhiễm cao hơn vùng trồng lúa (69% so với 22%), nông thôn cao hơn thành thị, công nhân mỏ than cao hơn các nghề khác [23]

Nhiễm giun móc liên quan rõ rệt với tuổi: tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng dần theo tuổi, trẻ em nhiễm thấp hơn người lớn (44% so với 64%), do người lớn phải

ao động nhiều, tiếp xúc nhiều với phân và đất,…[5]

Liên quan với giới tính: tỷ lệ nhiễm ở nữ cao hơn nam, nhưng sự khác biệt này chỉ có ở người lớn thuộc độ tuổi ao động, đặc biệt phụ nữ ở những vùng nông thôn phổ biến dùng phân tươi trong canh tác có tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun cao hơn nam so với các vùng không dùng phân tươi bón cây trồng [33] Theo kết quả nghiên cứu của Cao Bá Lợi và nnk (2011), trên phụ nữ ở ba nông trường chè tỉnh Phú Thọ tỷ lệ nhiễm giun móc chung à 49,4% Trong đó nông trường Phú Sơn

à 45,3%, nông trường Thanh Niên à 50,3% và nông trường Tân Phú – P Long là 52,0% [21] Còn theo nghiên cứu của Đỗ Trung Dũng (2011), trên phụ nữ độ tuổi sinh sản từ 15 đến 45 tuổi thì tỷ lệ nhiễm giun móc của phụ nữ tuổi sinh sản ở tỉnh Sơn La à 63%, tỉnh Tây Ninh là 45,6% [8] Theo nghiên cứu của Hán Đình Trọng (2011), tại bốn xã của Lào Cai thì tỷ lệ nhiễm giun móc của phụ nữ tuổi sinh sản (từ 20 đến 25 tuổi) là 42,12% [44]

Trang 20

13

Nhiễm giun móc thường phối hợp nhiễm với các loại giun khác (50 -70%)

Tỷ lệ và cường độ tái nhiễm giun móc thấp hơn giun đũa và giun tóc, biến động của bệnh giun móc vẫn giữ tính chất khu trú ở từng địa phương, song có xu hướng giảm

ở nhiều vùng do thói quen đi giầy hoặc dép ngày càng nhiều hơn [1]

Mùa nhiễm: qua xét nghiệm đất tìm ấu trùng giun móc vào các tháng trong năm ở miền Bắc thấy tháng 4 và tháng 7 có khả năng nhiễm cao nhất [1, 2]

Tình hình nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc tại Yên Bái

Tại Yên Bái, theo điều tra của VSR-KST-CT TƯ (1999), tỷ lệ nhiễm giun móc là 51,56% Điều tra đánh giá sau điều trị tại Lục Yên (Yên Bái) cho thấy tỷ lệ nhiễm giảm tới 82,3% (từ 59% xuống 10,6%) và cường độ nhiễm giảm 100% ở các trường hợp nhiễm trung bình và nặng, 60,3% (từ 26,7 xuống 10,6%) ở các trường hợp nhẹ

Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Phú và nnk (2011), thì tỷ lệ nhiễm giun móc của người dân xã Phù Nham, huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái năm 2007 à 29,6% Trong khi đó tỷ lệ nhiễm giun móc theo giới lên tới 57,9% với cường độ nhiễm chủ yếu là nhẹ 93,2% [24]

Tại hai huyện Trấn Yên và Yên Bình của tỉnh Yên Bái đến thời điểm nghiên cứu chưa có một cuộc điều tra nào về tỷ ệ nhiễm giun, nhưng với các điều kiện sau: Hai huyện nằm trong vùng khí hậu phía đông của tỉnh Yên Bái nơi chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc, mưa nhiều về cả số ngày và ượng mưa Mưa phùn kéo dài, nhiệt độ trung bình hàng năm 21- 28oC, ượng mưa bình quân 1.800-2000mm/năm, độ ẩm trung bình năm đạt 80% - 89%/năm Thích hợp phát triển cây nông nghiệp; ương thực, thực phẩm; cây công nghiệp, cây ăn quả, chè, cà phê; thuỷ sản những điều kiện địa ý và khí hậu này rất phù hợp với điều kiện phát triển ở ngoại cảnh của ấu trùng giun nhất à ấu trùng giun móc

Tại đây, theo thống kê về nhân khẩu học cho thấy đời sống nhân dân còn khá nghèo, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông, trình độ học vấn thấp Điều kiện vệ sinh thấp kém: Tỷ lệ hố xí tự hoại trên hộ dân thấp Đa số vẫn dùng những hố xí

Trang 21

14

kiểu cũ như hố xí thùng, hố xí một ngăn hoặc phóng uế bừa bãi ra ngoài môi trường Trong khi đó người dân vẫn còn thói quen sử dụng phân tươi để bón ruộng, cây trồng Không có các phương tiện bảo hộ ao động khi làm việc như ủng hay găng tay cao su

1.4 Biện pháp phòng bệnh và điều trị giun đũa, giun tóc, giun móc

Biện pháp phòng bệnh

Cả ba oại giun đũa, giun tóc, giun móc đều à những giun truyền qua đất nên phòng chống các oại giun này dựa trên các nguyên tắc sau: tiến hành trên quy mô rộng, toàn dân toàn diện hoặc tập trung cho đối tượng có nguy cơ nhiễm cao đó à trẻ em và phụ nữ tuổi sinh sản, và phải tiến hành điều trị định kỳ trong năm [1, 2,

20, 28, 32]

Chống tái nhiễm trứng giun ở ngoại cảnh: quản lý phân chặt chẽ, xây dựng

hố xí đúng cách; không dùng phân tươi để bón cây, hoa màu; ăn uống vệ sinh [1, 2]

Chú ý đến vấn đề bảo hộ ao động như đi ủng, găng tay khi ao động có tiết xúc với phân và đất [28]

Biện pháp điều trị bệnh

Nguyên tắc điều trị: điều trị thuốc tẩy giun đặc hiệu phải kết hợp với cải tạo môi trường để tránh tái nhiễm và giảm dần tỷ lệ mắc giun Sử dụng thuốc tẩy giun đúng thời gian, đúng iều ượng nhằm tẩy được giun và an toàn sức khỏe của con người, chống tái nhiễm Trong khi chọn thuốc tẩy giun, phải ưu tiên thuốc ít độc, giá thành rẻ, có tác dụng với nhiều loại giun và thuốc có thể sản xuất trong nước nhưng vẫn đảm bảo chất ượng và hiệu quả [1, 32]

Các thuốc điều trị đặc hiệu bệnh giun truyền qua đất: Mebendazol 500mg/liều duy nhất, Albendazol 400 mg/liều duy nhất, Pyrantel pamoat 10mg/kg/ngày x 3 ngày [32]

Riêng đối với giun móc vì tác hại của nó là gây thiếu máu thiết sắt, do vậy khi uống thuốc tẩy giun nên kết hợp với uống viên sắt [1]

Trang 22

Bảng 1.2 Phân bố sắt trong cơ thể người

Trang 23

16

trung bình có chứa khoảng 10-15 mg sắt Chỉ có khoảng 5-10% sắt trong ượng sắt nói trên được cơ thể hấp thu (tỷ lệ này có thể tăng ên đến 20-30% trong trường hợp thiếu sắt hoặc tăng nhu cầu sử dụng sắt như ở phụ nữ có thai) Tỷ lệ này dao động

từ khoảng dưới 5% với thức ăn thực vật, đến 16-22% đối với thịt Khoảng hai phần

ba ượng sắt trong cơ thể chứa trong Hb (≈ 2500mg) Ferritin (SF) là dạng dự trữ thực thụ, dễ hòa tan trong nước và dễ huy động để tạo hồng cầu), và hemosiderin (hemosiderin thực chất là dạng sắt ứ đọng, không hòa tan, không dùng để tạo HEM được) trong hệ liên võng nội mô tại gan, lách, tuỷ xương Sắt được dự trữ chủ yếu trong SF, là một protein có cấu trúc đa phân tử, trọng ượng 480kDa, chứa trung bình khoảng 2500 nguyên tử sắt dưới dạng hydroxit sắt III SF có khuynh hướng hình thành các oligomer ổn định Khi hiện diện quá nhiều trong tế bào của cơ quan

dự trữ, nó có khuynh hướng cô đặc lại hình thành hemosiderin Còn lại một ượng sắt nhỏ có trong thành phần các men có chứa sắt như cytochrome, cata ase, peroxidase ., trong myoglobin của cơ và gắn với protein vận chuyển sắt là transferrin Do tỷ lệ khác nhau này mà khi cơ thể thiếu sắt trước tiên sẽ ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp Hb và ượng sắt dự trữ còn sắt có trong các men của tế bào thường chỉ giảm trong các trường hợp thiếu sắt nặng [49]

Thiếu máu, được định nghĩa khi hàm ượng Hb trong máu thấp Thiếu máu

do mất máu hoặc suy giảm hình thành Hb

Thiếu máu thiếu sắt là hội chứng thiếu máu thường gặp, đây à thiếu máu hồng cầu nhược sắc Hồng cầu là một tế bào không nhân Thành phần hóa học chính trong nguyên sinh chất của hồng cầu chứa nước và Hb (là thành phần cơ bản chiếm một phần ba trọng ượng hồng cầu) Hb cấu tạo bởi globin và heme Globin bao gồm các chuỗi polypeptide do các axit amin cấu tạo nên Heme là một chất protoporphyrin kết hợp với nguyên tử sắt có hóa trị 2 (Fe2+) Chính vì vậy, thiếu máu thiếu sắt là thiếu sắt để tạo nên Hb Biểu hiện đầu tiên của thiếu máu thiếu sắt

là SF huyết thanh giảm, dẫn đến giảm sắt dự trữ

Chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt được xác định khi có cả thiếu Hb và thiếu sắt,

sự có mặt này được xác định bằng cách đo hàm ượng SF và Hb [54] SF huyết

Trang 24

17

thanh là chỉ số quan trọng, khá nhạy để đánh giá tình trạng sắt Mức SF trong huyết thanh phản ánh dự trữ sắt trong cơ thể Ở người bình thường hàm ượng SF huyết thanh là 70µg/l ở nam và 35µg/l ở nữ Định ượng SF là xét nghiệm có giá trị nhất

vì hàm ượng SF thấp phản ánh giai đoạn sớm của thiếu sắt và xét nghiệm này cũng đặc hiệu nhất cho thiếu sắt của cơ thể Hàm ượng SF bắt đầu giảm ngay tại giai đoạn đầu của thiếu máu nếu do thiếu sắt Tuy nhiên, SF có thể tăng cao do ảnh hưởng của một số yếu tố, đặc biệt khi bị viêm nhiễm, hàm ượng SF cao không có nghĩa à tình trạng sắt tốt Để xác định nhiễm trùng cấp, người ta đo chỉ số protein phản ứng và để xác định nhiễm trùng mạn, đo chỉ số alpha-1 glucoprotein Hiện nay ngưỡng của SF trong máu chưa quy định rõ ràng, tuy nhiên SF <30 µg/l được coi là

dự trữ sắt thấp, khi SF <15µg/l được coi là cạn kiệt dự trữ sắt Một người có hàm ượng SF <12µg/l thì hầu như bị thiếu sắt [54, 58] Chỉ số SF huyết thanh và Hb cũng được sử dụng để chẩn đoán thiếu sắt Nếu cả hai chỉ số đều giảm là thiếu máu

do thiếu sắt, SF giảm và Hb à có nguy cơ thiếu sắt SF bình thường và Hb giảm là thiếu máu không do thiếu sắt [52, 54, 56, 57] Nếu cơ thể bị thiếu máu, cơ thể sẽ không thu nhận đủ oxy do đó sẽ có cảm giác mệt mỏi, bồn chồn, đau đầu, hơi thở ngắn, tim đập nhanh, sức khỏe sút kém ảnh hưởng đến các công việc và sinh hoạt hàng ngày và các triệu chứng này phụ thuộc vào mức độ thiếu máu

Điều tra toàn quốc về tình trạng thiếu máu trên 7 vùng sinh thái khác nhau thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai nhiễm giun (đũa, tóc, móc) à 52,7%, phụ nữ không có thai nhiễm giun à 42,7% Giun móc à nguyên nhân àm tăng nguy cơ thiếu máu ở các đối tượng thiếu dinh dưỡng trong cộng đồng Nhiễm giun móc gây thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ độ tuổi sinh sản thuộc hầu hết các nước đang phát triển, thiếu máu thiếu sắt iên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao ở mẹ và trẻ được sinh ra Phụ nữ và trẻ em à đối tượng có dự trữ sắt thấp nhất do đó họ có thể

bị ảnh hưởng nhiều nhất khi bị mất máu mãn tính có thể là kết quả của việc bị nhiễm giun móc Nhiễm giun móc được coi là vấn đề lớn nhất đe dọa đến sức khỏe của phụ nữ trưởng thành và phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, ảnh hưởng tới thời kỳ mang thai vì một trong những tác hại do giun móc gây ra là chảy máu mãn tính Đối với

Trang 25

18

phụ nữ tuổi sinh sản thiếu máu trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con cái họ Tình trạng thiếu máu do thiếu sắt trong thời kỳ thai nghén có thể gây nên đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh [15]

Nghiên cứu của Nguyen PH và nnk (2006), cho thấy nhiễm giun móc là yếu tố thực sự có iên quan đến thiếu máu, cứ 1000 trứng giun/1g phân tăng ên thì ượng Hemoglobin sẽ giảm đi 2,4g/ Có nghiên cứu lại cho rằng chỉ cần nhiễm giun móc nhẹ à đã xuất hiện dấu hiệu thiếu máu Đối với những trường hợp nhiễm nặng và trung bình thì hầu như đều có thiếu máu và sau điều trị giun móc thì tình trạng thiếu máu được cải thiện [53]

Như vậy, do tác hại mà các loài giun gây ra đặc biệt là tác hại do giun móc gây thiếu máu rất nguy hiểm đối với mọi đối tượng, nhất là phụ nữ tuổi sinh sản Chính vì thế phòng chống thiếu máu cho phụ nữ tuổi sinh sản do bị nhiễm giun là rất cần thiết trước khi họ bước vào thiên chức làm mẹ, để con họ sinh ra phát triển khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần

Trang 26

19

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Tại 2 huyện Trấn Yên và Yên Bình của tỉnh Yên Bái

Hình 2.1 Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Trấn Yên

Trang 27

20

Hình 2.2 Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Yên Bình

Trong điều tra ban đầu mỗi huyện được chọn ngẫu nhiên 9 xã, do đó hai huyện có tổng cộng à 18 xã được đưa vào điều tra

Huyện Trấn Yên chọn ngẫu nhiên được 9 xã đó à: Hòa Cuông, Hợp Minh, Hưng Thịnh, Minh Quân, Quy Mông, Việt Cường, Việt Hồng, Việt Thành, Thị Trấn

Cổ Phúc

Huyện Yên Bình chọn ngẫu nhiên được 9 xã sau: Cẩm Ân, Đại Đồng, Đại Minh, Tân Nguyên, Vũ Linh, Yên Bình, Yên Thành, Thị trấn Thác Bà, Thị trấn Yên Bình

Trang 28

21

Thời gian nghiên cứu:

Thời gian thực hiện nghiên cứu này là tháng 7/2012 đến tháng 12/2014

Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả của biện pháp tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic hàng tuần, luận văn này còn tham khảo và sử dụng số liệu của dự án “Phòng chống thiếu máu tại Yên Bái”, tại các thời điểm: tháng 11/2005, tháng 5/2006, tháng 11/2006, tháng 6/2008, tháng 6/2011

2.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tất cả số phụ nữ tuổi sinh sản từ 16 – 45 trong danh

sách điều tra ban đầu bị nhiễm giun và các loài giun đũa, giun tóc và giun móc

Cỡ mẫu:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho điều tra xác định một tỷ lệ trong quần thể:

Trong đó:

 n: Số người cần nghiên cứu

 P: Tỷ lệ thiếu máu ước tính (trong trường hợp này do chưa có các điều tra trước về tỷ lệ thiếu máu ở nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại Yên Bái, nên chúng tôi lấy p = 50%, để được cỡ mẫu tối đa)

 Q: Tỷ lệ người không mắc bệnh tại điểm nghiên cứu Q = 1 - P

  : Xác suất sai lệch trong nghiên cứu hay khoảng sai lệch giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) với tỷ lệ thực của quần thể nghiên cứu (p) Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn  = 0,05

 : Mức ý nghĩa thống kê của điều tra nghiên cứu, trong nghiên cứu này  được xác định 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%

 Z/2 : Giá trị thu được từ bảng Z ứng với giá trị  được chọn là 95% nên giá trị của Z/2 = 1,96

P x Q

n = Z2

2

Trang 29

22

Chúng tôi tính được n = 384

- Đợt điều tra ban đầu (trước can thiệp): có 374 phụ nữ tham gia

- Đợt điều tra cuối (sau 6 năm can thiệp): có 292 phụ nữ tham gia

Số điều tra ở đợt cuối giảm đi do có một số phụ nữ lấy chồng chuyển địa phương khác, một số đi àm ở xa không có mặt tại địa phương ở thời điểm điều tra

Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng: Với tổng số mẫu 384 chia cho 18 xã theo tỷ lệ dân cư của từng xã

Đơn vị mẫu: Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 16 – 45 tuổi

+ Để chọn xã: Mỗi huyện chọn 9 xã theo phương pháp ngẫu nhiên (lập danh sách các xã trong huyện và bốc thăm chọn ngẫu nhiên 9 xã)

+ Mỗi xã chọn 3 thôn: Trong mỗi xã lập danh sách các thôn và bốc thăm chọn ngẫu nhiên 3 thôn

+ Trong mỗi thôn: Lập danh sách phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 16 –

45 tuổi và lấy ngẫu nhiên theo phương pháp chọn mẫu hệ thống để đủ số mẫu đã được tính cho xã

Tiêu chuẩn chọn mẫu:

- Tự nguyện tham gia

- Có tên trong danh sách điều tra ban đầu (11/2005)

- Không mắc các bệnh lý về máu và các bệnh cấp tính khác

- Không mang thai và đang cho con bú Trong đợt điều tra của nghiên cứu này (7/2012), chúng tôi đã có danh sách các xã, thôn và tên, tuổi của phụ nữ đã được tham gia từ lần điều tra ban đầu (11/2005) Do có một số phụ nữ đã ấy chồng chuyển đi nơi khác, một số đi àm xa không có mặt tại địa phương tại thời điểm điều tra vì vậy chúng tôi chỉ thu được mẫu của 292 phụ nữ tham gia điều tra xét nghiệm

Trang 30

23

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu:

Trong nghiên cứu này lần này chúng tôi đánh giá hiệu quả của thuốc tẩy giun

và hiệu quả bố sung viên sắt vào tháng 7/2012 nên chúng tôi dùng phương pháp

“nghiên cứu cắt ngang mô tả”:

- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc của phụ

nữ độ tuổi sinh sản ở hai huyện nghiên cứu tại thời điểm đầu của dự án (11/2005) và tại thời điểm cuối (7/2012) sau sáu năm can thiệp

- Xác định tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt qua các chỉ số Hb và SF của phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện nghiên cứu tại thời điểm trước can thiệp (11/2005) và sau can thiệp (7/2012)

Tất cả phụ nữ có tên trong danh sách đều được uống thuốc tẩy giun định kỳ

và bổ sung viên sắt nên chúng tôi dùng phương pháp nghiên cứu thứ hai là “Nghiên cứu can thiệp cộng đồng”:

- Đối với thuốc tẩy giun chúng tôi dùng Alberzadol 500mg liều duy nhất, cứ một năm một lần chị em phụ nữ được uống một liều/một lần và đều được các cán bộ Y tế hướng dẫn, theo dõi

- Đối với việc dùng viên sắt-axit folic chúng tôi phát thuốc hàng tuần cho chị em Mỗi một tuần một phụ nữ uống 01 viên duy nhất và cũng được sự hướng dẫn và theo dõi của cán bộ Y tế

Thu thập số liệu qua 03 kỹ thuật xét nghiệm:

Mỗi một phụ nữ đều được làm 3 xét nghiệm, trong đó có hai xét nghiệm máu

và một xét nghiệm phân, các xét nghiệm chỉ làm một lần không lặp lại:

Lấy máu mao mạch đầu ngón tay định lượng Hb

Dùng bông cồn 70o sát trùng đầu ngón tay định lấy máu, chờ khô rồi chích máu, chích nhanh, mạnh, dứt khoát, lau bỏ giọt máu đầu Đưa cuvet vào đầu giọt máu chờ giọt máu tràn ra hết vòng tròn thì dừng lại đưa ngay vào máy định ượng hemoglobin (Hb) tại chỗ bằng máy HemoCue 201 của Thụy Điển

Trang 31

24

Lấy máu tĩnh mạch định lượng SF huyết thanh

Chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt được xác định khi có cả thiếu Hb và thiếu SF,

sự có mặt này được xác định bằng cách đo nồng độ SF SF huyết thanh là chỉ số quan trọng, khá nhạy để đánh giá tình trạng sắt Mức SF trong huyết thanh phản ánh

dự trữ sắt trong cơ thể Định ượng SF là xét nghiệm có giá trị nhất vì hàm ượng SF thấp phản ánh giai đoạn sớm của thiếu sắt và xét nghiệm này cũng đặc hiệu nhất cho thiếu sắt của cơ thể Trong nghiên cứu này, để đánh giá tình trạng thiếu sắt chúng tôi định ượng SF trên máy sinh hóa tự động Cobas 6000 của Roche/Hitachi tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Bạch Mai

Dùng bông cồn 70o sát trùng nơi định lấy máu (tĩnh mạch cánh tay), chờ khô rồi dùng bơm tiêm ấy khoảng 3m máu tĩnh mạch cho vào ống nghiệm không chống đông, y tâm tách ấy huyết thanh định ượng SF trên máy sinh hóa tự động Cobas tại Khoa Sinh hóa Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội

Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun bằng xét nghiệm phân theo phương pháp Kato – Katz

Nguyên tắc:

Kỹ thuật này dùng để đếm số ượng trứng trong phân hay còn gọi là kỹ thuật

định ượng trứng Dùng để đánh giá các chỉ số trong nghiên cứu (cường độ nhiễm giun sán đồng thời kỹ thuật này còn dùng để đánh giá kết quả của thuốc điều trị - trước và sau điều trị)

Dụng cụ và hóa chất

- Miếng bìa hình chữ nhật kích thước 30 x 40 x 1,37; ở giữa có một lỗ tròn đường kính 6mm, ưới lọc, giấy lọc tròn, que xét nghiệm (que tre, que nhựa), lọ đựng phân (lọ nhựa, lọ thủy tinh), bút viết kính, lam kính (phiến kính), giấy Cellophan nhuộm màu dùng trong kỹ thuật Kato, bình đựng dung dịch sát trùng, kính hiển vi

Kỹ thuật tiến hành theo quy trình:

- Lấy mẫu phân xét nghiệm đặt trên giấy lọc Đậy miếng ưới lọc mẫu phân, dùng que ép miệng ưới lọc để phân lọt ên qua ưới lọc

Trang 32

25

- Miếng bìa hình chữ nhật được đặt trên lam kính có nhãn

- Dùng que gạt phân đã ọc trên ưới đưa sang ỗ của miếng bìa hình chữ nhật sao cho đầy lỗ

- Nhấc nhẹ miếng bìa ra khỏi phiến kính như vậy còn lại khối phân trên lam kính Phủ giấy Ce ophan đã nhuộm màu lên mẫu phân

- Dùng một nút cao su ép lên mặt giấy để dàn phân đều, sao cho mặt giấy tương đối phẳng nhẵn

- Sau đó đem soi dưới kính hiển vi (vật kính 10 hoặc 40)

Phân biệt hình các loại trứng giun đũa, trứng giun tóc và trứng giun móc dựa vào hình dạng, vỏ, kích thước, nhân:

Hình 2.3 Trứng giun đũa Hình 2.4 Trứng giun tóc 2.5 Trứng giun móc

Trang 33

26

Tỷ lệ nhiễm từng loại giun, nhiễm phối hợp với các loài giun đũa, giun tóc, giun móc

Đánh giá cường độ nhiễm giun theo bảng 2.1

Bảng 2.1 Phân loại cường độ nhiễm giun ruột đường tính bằng số trứng/g

phân theo tiêu chuẩn của WHO năm 1999

Loại giun

Nhiễm nhẹ (số trứng/g phân)

Nhiễm trung bình (số trứng/g phân)

Nhiễm nặng (số trứng/g phân)

Đánh giá tình trạng thiếu sắt qua chỉ số SF [39]:

- Hàm ượng SF huyết thanh dưới 15 µg/l

Đánh giá hiệu quả sau 6 năm can thiệp:

Trong đó :

- HSHQ: Hệ số hiệu quả

- P1: Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu trước can thiệp

- P2: Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu sau can thiệp

P1 – P2

HSHQ = x 100

P1

Ngày đăng: 12/07/2015, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Ký sinh trùng- Đại học Y Hà Nội (2001), “Giun đũa, giun tóc, giun móc”, Ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr.127-152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun đũa, giun tóc, giun móc”, "Ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn Ký sinh trùng- Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2001
2. Bộ môn ký sinh trùng - Đại học Y Hà Nội ( 2006), Bài giảng ký sinh trùng Y học, Nhà xuất bản Y học tr.73-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ký sinh trùng Y học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học tr.73-100
3. Bộ môn sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng – Học viện Quân Y (1998), “Phương pháp xác định số ượng trứng giun ở phân”, Kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng y học, Hà Nội, tr.73-74 và 93-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định số ượng trứng giun ở phân”, "Kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng y học
Tác giả: Bộ môn sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng – Học viện Quân Y
Năm: 1998
4. Cabrea B.D. (1987), “Các kỹ thuật xét nghiệm thường quy và đặc biệt”, Hội thảo về phòng chống một số bệnh giun sán chủ yếu ở Việt Nam, Bộ Y tế/WHO, Hà Nội (15- 21/10/1987), tr.20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỹ thuật xét nghiệm thường quy và đặc biệt”, "Hội thảo về phòng chống một số bệnh giun sán chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Cabrea B.D
Năm: 1987
5. Lê Đình Công (1998), “Tình hình bệnh giun sán hiện nay và dự án phòng chống các bệnh giun sán ở Việt Nam”, Tài liệu tập huấn đánh giá dịch tễ học và phòng chống các bệnh giun sán, Hà Nội (tháng 10/1998), tr.14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh giun sán hiện nay và dự án phòng chống các bệnh giun sán ở Việt Nam”, "Tài liệu tập huấn đánh giá dịch tễ học và phòng chống các bệnh giun sán
Tác giả: Lê Đình Công
Năm: 1998
6. Cấn Thị Cúc và nnk (1998), “Tình hình nhiễm giun đũa, tóc, móc trong nhân dân làm nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh điều tra năm 1995 – 1996”, Thông tin phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƢ, (2), tr.72-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun đũa, tóc, móc trong nhân dân làm nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh điều tra năm 1995 – 1996”, "Thông tin phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Tác giả: Cấn Thị Cúc và nnk
Năm: 1998
7. Nguyễn Văn Chương (2013), “Tình hình nhiễm giun móc/mỏ và hiệu quả điều trị của Albendazol và Mebendazole tại bốn điểm của bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăk Lăk”, Tạp chí phòng chống các bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƢ, số 4-2013, tr.4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun móc/mỏ và hiệu quả điều trị của Albendazol và Mebendazole tại bốn điểm của bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăk Lăk”, "Tạp chí phòng chống các bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Năm: 2013
8. Đỗ Trung Dũng (2011), “Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản tại một số điểm của Lào, Campuchia và Việt Nam”, CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học, VSR- KST- CT TƢ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.64-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh sản tại một số điểm của Lào, Campuchia và Việt Nam”, "CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học
Tác giả: Đỗ Trung Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
9. Dự án phòng chống giun sán (1998), Tài liệu tập huấn đặc điểm dịch tễ, bệnh học, điều trị và kỹ thuật chẩn đoán trong phòng chống một số bệnh giun sán chính ở Việt Nam (tài liệu dành cho cán bộ Y tế tuyến tỉnh), Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn đặc điểm dịch tễ, bệnh học, điều trị và kỹ thuật chẩn đoán trong phòng chống một số bệnh giun sán chính ở Việt Nam (tài liệu dành cho cán bộ Y tế tuyến tỉnh)
Tác giả: Dự án phòng chống giun sán
Năm: 1998
10. Nguyễn Văn Đề (1995), Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun móc và hiệu quả một số thuốc điều trị giun móc ở ba vùng canh tác thuộc huyện đồng bằng miền Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Khoa học Y dƣợc, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun móc và hiệu quả một số thuốc điều trị giun móc ở ba vùng canh tác thuộc huyện đồng bằng miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đề
Năm: 1995
11. Đinh Thị Phương Hoa (2013), Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu và hiệu quả bổ sung viên sắt hàng tuần ở phụ nữ 20 -35 tuổi tại huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sỹ Dinh Dƣỡng, Viện Dinh Dƣỡng Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu và hiệu quả bổ sung viên sắt hàng tuần ở phụ nữ 20 -35 tuổi tại huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Đinh Thị Phương Hoa
Năm: 2013
13. Nguyễn Mạnh Hùng, “Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006-2010 phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011- 2015”, CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học, VSR- KST- CT TƢ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006-2010 phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán 2011-2015”, "CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
14. Nguyễn Văn Khá và nnk (2007), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm giun sán đường ruột ở 3 tỉnh Tây Nguyên. Thử nghiệm giải pháp can thiệp ở một số địa bàn”, Kỷ yếu công trình NCKH 2001-2006, VSR- KST-CT Quy Nhơn, Nhà xuất bản Y học,tr.424 - 431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm giun sán đường ruột ở 3 tỉnh Tây Nguyên. Thử nghiệm giải pháp can thiệp ở một số địa bàn”, "Kỷ yếu công trình NCKH 2001-2006
Tác giả: Nguyễn Văn Khá và nnk
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
15. Nguyễn Công Khẩn và nnk (2000), “Bổ sung sắt hàng tuần cho phụ nữ 15- 35 tuổi, một giải pháp bổ sung dự phòng có hiệu quả và có thể áp dụng mở rộng”, Tạp chí Y học Thực hành, số 5, tr.381 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung sắt hàng tuần cho phụ nữ 15- 35 tuổi, một giải pháp bổ sung dự phòng có hiệu quả và có thể áp dụng mở rộng”, "Tạp chí Y học Thực hành, số 5
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn và nnk
Năm: 2000
16. Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- côn trùng trung ƣơng về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán điều trị và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam”, Hội thảo quốc gia phòng chống các bệnh giun sán 1998- 2000 và đến 2000, Hà Nội, 7- 8 tháng 7 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- côn trùng trung ƣơng về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán điều trị và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam”, "Hội thảo quốc gia phòng chống các bệnh giun sán 1998- 2000 và đến 2000
Tác giả: Hoàng Thị Kim và nnk
Năm: 1998
17. Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng trung ƣơng về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán, điều trị và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam", Thông tin phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƢ, (2), tr.9-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng trung ƣơng về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán, điều trị và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Kim và nnk
Năm: 1998
18. Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “ Tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam và hiệu quả một số biện pháp phòng chống”, Phương pháp xét nghiệm phân chẩn đoán của các bệnh giun sán”, Tài liệu tập huấn: “ Đánh giá dịch tễ học và phòng chống các bệnh giun sán”, Viện SR-KST-CT TƢ, Hà Nội/WHO, tr.26-30 và 49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam và hiệu quả một số biện pháp phòng chống”, Phương pháp xét nghiệm phân chẩn đoán của các bệnh giun sán”, "Tài liệu tập huấn: “ Đánh giá dịch tễ học và phòng chống các bệnh giun sán
Tác giả: Hoàng Thị Kim và nnk
Năm: 1998
19. Hoàng Thị Kim và nnk (2003), “Thí điểm phòng chống các bệnh giun truyền qua đất cho học sinh một trường tiểu học Ninh Bình năm 1999-2000”, Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR-KST-CT TƢ, Hà Nội, số 4, tr.74-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí điểm phòng chống các bệnh giun truyền qua đất cho học sinh một trường tiểu học Ninh Bình năm 1999-2000”, "Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Tác giả: Hoàng Thị Kim và nnk
Năm: 2003
20. Phạm Trung Kiên (2003), Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng đến bệnh tiêu chảy và nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng Hà Nam, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng đến bệnh tiêu chảy và nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng Hà Nam
Tác giả: Phạm Trung Kiên
Năm: 2003
21. Cao Bá Lợi (2011), “ Một số đặc điểm nhiễm giun móc/mỏ và thiếu máu do thiếu ferritin ở nữ công nhân ba nông trường chè tỉnh Phú Thọ và hiệu quả can thiệp điều trị đặc hiệu 2007 – 2009” CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học, VSR- KST-CT TƢ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.37-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm nhiễm giun móc/mỏ và thiếu máu do thiếu ferritin ở nữ công nhân ba nông trường chè tỉnh Phú Thọ và hiệu quả can thiệp điều trị đặc hiệu 2007 – 2009” "CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học
Tác giả: Cao Bá Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Trấn Yên - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 2.1. Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Trấn Yên (Trang 26)
Hình 2.2. Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Yên Bình - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 2.2. Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Yên Bình (Trang 27)
Hình 2.3. Trứng giun đũa  Hình 2.4. Trứng giun tóc  2.5. Trứng giun móc - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 2.3. Trứng giun đũa Hình 2.4. Trứng giun tóc 2.5. Trứng giun móc (Trang 32)
Hình 3.1. Tỷ lệ nhiễm các loại giun trước và sau can thiệp ở hai huyện - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.1. Tỷ lệ nhiễm các loại giun trước và sau can thiệp ở hai huyện (Trang 37)
Hình 3.2. Tỷ lệ % mức độ nhiễm giun chung trước và sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.2. Tỷ lệ % mức độ nhiễm giun chung trước và sau can thiệp (Trang 41)
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun tính chung ở hai huyện - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun tính chung ở hai huyện (Trang 44)
Bảng 3.4. Mức độ thiếu máu (Hb) trước và sau can thiệp của phụ nữ - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.4. Mức độ thiếu máu (Hb) trước và sau can thiệp của phụ nữ (Trang 46)
Hình 3.4. Tỷ lệ thiếu máu ở hai huyện trước và sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.4. Tỷ lệ thiếu máu ở hai huyện trước và sau can thiệp (Trang 47)
Bảng  3.5. Hàm lượng Hb trung bình trước và sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
ng 3.5. Hàm lượng Hb trung bình trước và sau can thiệp (Trang 49)
Bảng 3.6. Tỷ lệ thiếu SF và hàm lượng SF trung bình trước và sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.6. Tỷ lệ thiếu SF và hàm lượng SF trung bình trước và sau can thiệp (Trang 50)
Hình 3.5. Tỷ lệ % số người thiếu SF ở hai huyện trước và sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.5. Tỷ lệ % số người thiếu SF ở hai huyện trước và sau can thiệp (Trang 51)
Bảng 3.7. Số thiếu máu có thiếu sắt (thiếu Hb và thiếu SF) trước và - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.7. Số thiếu máu có thiếu sắt (thiếu Hb và thiếu SF) trước và (Trang 52)
Bảng 3.9. Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, thiếu Hb, thiếu SF và thiếu cả Hb - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Bảng 3.9. Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, thiếu Hb, thiếu SF và thiếu cả Hb (Trang 56)
Hình 3.7. Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu sắt và - Nghiên cứu hiệu quả của việc tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt   axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện trấn yên và yên bình, tỉnh yên bái
Hình 3.7. Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu sắt và (Trang 57)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w